All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Trong cõi mộng

“Thầy của chúng tôi thường ngủ trưa,” một học trò của Soyen Shaku kể lại. “Đám con nit tụi tôi hỏi tại sao thầy ngủ trưa và thầy nói: ‘Thầy vào cõi mộng để gặp các bậc thánh hiền như Khổng Tử làm.’ Khi Khổng Tử ngủ, ngài mơ đến các thánh nhân xa xưa và sau đó kể lại cho học trò.

Ngày nọ trời rất nóng cho nên vài đứa chúng tôi ngủ trưa. Thầy mắng tụi tôi. ‘Tụi con đến cõi mộng để gặp các thánh nhân xa xưa như Khổng Tử làm,’ chúng tôi giải thích. ‘Vậy các thánh nhân nói gì?’ Thầy tra vấn. Một đứa trong bọn chúng tôi trả lời: ‘Tụi con đến cõi mộng và gặp các thánh nhân và hỏi họ có phải thầy của chúng con đến đây mỗi trưa, nhưng họ nói là họ chẳng bao giờ thấy ai như vậy cả.’”
.

Bình:

• Soyen Shaku là thiền sư đầu tiên quảng bá Thiền tại Mỹ, mà chúng ta đã nói đến trong bài Quả Tim Tôi Cháy Như Lửa.

• “Cõi mộng” là “cõi chủ quan” ở trong đầu mình. Mình nói thế nào—dù là nói thật hay nói dối—thì cũng chỉ có mình biết điều mình nói; mọi người khác nghe thì nghe vậy, nhưng chẳng cách nào kiểm chứng.

Và người khác vào cõi mộng của họ, thì họ lại chỉ thấy điều họ thấy, chẳng phải điều ta thấy, và họ có kể lại—thật hay dối—thì ta cũng chỉ biết nghe chứ chẳng làm gì được.

Nghĩa là, trong cõi mộng ai muốn nói gì thì nói, và chẳng cách nào chúng ta hiểu nhau, gặp nhau, đồng ý với nhau, thấy cùng một điều như nhau. Và chẳng đối thoại gì với nhau được.

• Đời là cõi mộng

Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào, ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán
(Kinh Kim Cang)

Tất cả những gì có
Như mộng ảo bọt ảnh
Như sưong cũng như điện
Cứ như vậy mà suy niệm
(TĐH dịch nghĩa)

Cho nên, tất cả những gì ta thấy trong “cõi mộng đời” đều rất chủ quan, chỉ ta thấy ta biết, chẳng nói với nhau được.

Cho nên, không thể giải thích cho nhau được, huống hồ “cãi nhau để cho ra chân lý.”

Mỗi người phải tự tìm thấy chân lý cho chính mình. Chẳng truyền chân lý cho nhau được.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

In Dreamland

“Our schoolmaster used to take a nap every afternoon,” related a disciple of Soyen Shaku. “We children asked him why he did it and he told us: ‘I go to dreamland to meet the old sages just as Confucius did.’ When Confucius slept, he would dream of ancient sages and later tell his followers about them.

“It was extremely hot one day so some of us took a nap. Our schoolmaster scolded us. ‘We went to dreamland to meet the ancient sages the same as Confucius did,’ we explained. ‘What was the message from those sages?’ our schoolmaster demanded. One of us replied: ‘We went to dreamland and met the sages and asked them if our schoolmaster came there every afternoon, but they said they had never seen any such fellow.'”

# 40

All I ask of you – Bóng ma trong nhà hát

Chào các bạn,

Phantom of the Opera (Bóng Ma Trong Nhà Hát) là nhạc kịch trình diễn lâu năm nhất trên sân khấu nhạc kịch Mỹ Broadway, và là nguồn doanh thu lớn nhất trong các tác phẩm nghệ thuật giải trí của mọi thời đại.

Đây là một tiểu thuyết do văn sĩ Pháp Gaston Leroux viết năm 1909. Tiểu thuyết này không được nổi tiếng lắm vào thời đó. Trong hầu hết thế kỷ 20, dù thỉnh thoảng được tái bản, nó cũng chỉ nằm trong bóng tối, dù là năm 1925 được đóng thành phim. Continue reading All I ask of you – Bóng ma trong nhà hát

Ngủ ngày

Thiền sư Soyen Shaku qua đời năm sáu mươi mốt tuổi. Làm tròn sự nghiệp đời mình, thiền sư để lại một giáo huấn phong phú hơn hẳn giáo huấn của nhiều thiền sư khác. Học trò của thiền sư thường ngủ ngày giữa mùa hè, và dù là thiền sư bỏ qua việc này, thiền sư vẫn không bao giờ phí phạm một giây phút.

Ngủ trưa ở Nhật

Khi thiền sư chỉ mới 12 tuổi, người đã học triết lý thiền Thiên Thai. Vào một ngày hè, trời nóng bức đến nỗi cậu bé Soyen duỗi thẳng chân và ngủ trong khi thầy mình ra ngoài.

Ba tiếng đồng hồ trôi qua, cậu bé Soyen bỗng nhiên tỉnh giấc, nghe thầy đang bước vào, nhưng trễ quá rồi. Cậu đang nằm dài ra đó, chắn ngang cửa.

“Thầy xin lỗi, thầy xin lỗi,” thầy của Soyen thì thầm, bước rón rén qua người Soyen, như thể Soyen là một người khách quý. Kể từ đó, Soyen không bao giờ ngủ trưa nữa.
.

Bình:

• Ngủ trưa là thói quen tại các xứ nóng. Buổi trưa, nhất là trưa hè, trời oi bức đến nỗi mọi người mọi vật đều thấy mệt mỏi và cần nghỉ. Ở Tây Ban Nha (Spain) và các nước có ảnh hưởng Tây Ban Nha ở Nam Mỹ, giấc ngủ trưa gọi là “siesta.”

Theo bài này, ngủ trưa được các thiền sư xem như là phí phạm thời gian. Điều này có lẽ hợp lý với các thiền sư, nhưng đối với nông dân phải làm việc ngoài trời, thì ngủ trưa có lẽ là giúp nông dân làm việc tốt hơn. (Xin đọc thêm về 7 Nguyên Tắc Cho Giấc Ngủ Trưa).

(Thực ra tựa đề bài này nên là “Ngủ trưa” thì đúng hơn là “Ngủ ngày”. Trong văn hóa Việt, ngủ trưa thì được, ngủ ngày thì không. Tuy nhiên, vì bản chính tiếng Anh viết là Daytime, chúng ta dịch là “Ngủ ngày” để tôn trọng bản chính. Nếu là ngủ trưc thì tiếng Anh nên là “noon nap” hay “afternoon nap”.)

• Điểm chính của bài này là Soyen không phí phạm thời gian, hay ảnh hưởng của thầy của cậu bé Soyen trên cách sống của cậu trong suốt cuộc đời?

Cả thầy của Soyen và Soyen đều tôn trọng giấc ngủ trưa của người khác, vì cả hai biết rằng đó cũng là chuyện tự nhiên và thông thường. Cho nên, ngủ trưa không được xem là chuyện xấu, hay lười biếng, dù là các thiền sư có thể nghĩ rằng không ngủ trưa thì vẫn hơn.

Điểm chính là, thầy Soyen xin lỗi cậu học trò 12 tuổi là đã phá giấc ngủ của cậu. Thầy xin lỗi học trò là chuyện hầu như chẳng bao giờ xảy ra ở phương đông, nơi mà thầy tát tai trò là chuyện thường ngày. Ở đây, thầy xin lỗi học trò, mà lại là học trò nhỏ xíu, đang ngủ trưa trong giờ học, tức là làm chuyện chẳng nên làm (dù đó chỉ là bản năng tự nhiên).

Thái độ cực kỳ khiêm tốn của thầy, và cực kỳ tôn trọng học trò của thầy, gây ấn tượng quá lớn trên Soyen, đến nỗi cậu không bao giờ ngủ trưa nữa (để thầy không bao giờ phải xin lỗi cậu lần nữa).

Và Soyen cũng rất tôn trọng [giấc ngủ của] học trò sau nầy như thầy đã tôn trọng mình.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Sleeping in the Daytime

The master Soyen Shaku passed from this world when he was sixty-one years of age. Fulfilling his life’s work, he left a great teaching, far richer than that of most Zen masters. His pupils used to sleep in the daytime during midsummer, and while he overlooked this he himself never wasted a minute.

When he was but twelve years old he was already studying Tendai philosophical speculation. One summer day the air had been so sultry that little Soyen stretched his legs and went to sleep while his teacher was away.

Three hours passed when, suddenly waking, he heard his master enter, but it was too late. There he lay, sprawled across the doorway.

“I beg your pardon, I beg your pardon,” his teacher whispered, stepping carefully over Soyen’s body as if it were that of some distinguished guest. After this, Soyen never slept again in the afternoon.

#39

Mở rộng tư duy

Chào các bạn,

Trong bài Đặt Nền Móng Cho Cường Thịnh, chúng ta có nói là muốn đặt nền tảng cường thịnh cho đất nước, chúng ta cần hai điều: Một là trái tim nhân ái, xem mọi người là anh em từ một mẹ trăm con. Hai là mở rộng tư duy để mở rộng trí tuệ.

Điều thứ nhất, xem mọi người như anh em thì chẳng có gì là khó hiểu và khó làm cả. Trong anh em không có thù hằn và từ “kẻ thù” không có trong tự điển anh em. Điều này ta đã học lúc 5, 6 tuổi với bài học sử k‎ý đầu tiên về mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân. Các quý vị không muốn thực hành điều này, vì “Nhưng mà…” hay “Tại vì…” thì đành chịu. Thiếu gì người trên thế giới biết chuyện phải làm mà vẫn làm ngược lại, như là hút thuốc, nghiện rượu, chửi thề… Đời mà! Continue reading Mở rộng tư duy

Amazing Grace – Ân Điển Diệu Kỳ

Chào các bạn,

Đầu năm chúng ta thường cám ơn Trời Đất: Lễ Đàn Nam Giao ở cổ thành Huế, lễ cúng đầu năm tại mỗi gia đình. Tại phương tây, bản nhạc tạ ơn số một trong thế giới Tây phương là Amazing Grace.

Trong vòng hai trăm năm qua, Amazing Grace là một trong những bản nhạc phổ thông nhất trong thế giới nói tiếng Anh, một trong những thánh ca phổ thông nhất của Thiên Chúa Giáo (Christianithy), và là thánh ca hát thường xuyên nhất trong các nhà thờ tin lành (Protestant). Tuy vậy, đã có nhiều khi bản nhạc này chiếm hạng cao trong các danh mục nhạc phổ thông (ngoài nhà thờ) được yêu thích. Continue reading Amazing Grace – Ân Điển Diệu Kỳ

Sự nghiệp của Gisho

Gisho được truyền giới ni cô khi cô chỉ mới 10 tuổi. Cô được huấn luyện cũng như các sư nam. Khi cô được 16 tuổi, cô đi khắp nơi tim học với mọi thiền sư.

Cô học với Unzan ba năm, sáu năm với Gukei, nhưng không nắm được trí tuệ sáng suốt. Cuối cùng cô đến với thiền sư Inzan.

Inzan chẳng đối xử với cô khác với các thiền sinh nam tí nào. Thiền sư la mắng cô như sấm động. Ông trói buộc ni cô đủ cách để đánh thức bản chất bên trong của ni cô.

Gisho học với thiền sư Inzan mười ba năm, rồi ni cô tìm được cái cô đang tìm.

Để ca ngợi ni cô, Inzan làm một bài thơ:

    Ni cô này học mười ba năm với tôi
    Chiều tối cô quán chiếu công án thâm sâu
    Sáng ra lại vùi đầu vào công án khác
    Ni cô Hoa Tetsuma đã hơn tất cả, trừ Gisho.
    Và kể từ Mujaku chẳng ai thật như Gisho!
    Nhưng vẫn còn nhiều cửa cô phải đi qua
    Cô còn phải chịu nhiều đấm từ bàn tay sắt của tôi

Sau khi Gisho đã giác ngộ, ni cô đến tỉnh Banshu, lập thiền viện và dạy hai trăm ni cô khác cho đến khi cô qua đời vào tháng 8 năm nọ.
.
Bình:

• Gisho đi tu năm 10 tuổi. Học với nhiều thầy, kể cả ba thầy lớn từ năm 16 tuổi, trong vòng 22 năm, chịu đủ mọi la mắng xỉ vả, để được giác ngộ, vào năm 38 tuổi. Tức là muốn nắm được chân l‎ý nhà Phật không phải là chuyện dễ, cần cố công kiên trì nhiều năm.

(1) Một phần lý do là vì trí tuệ Phật gia bao hàm l‎ý luận thâm sâu, đến mức vượt cả lý luận.

(2) Một phần là do cái “tâm” của hành giả đã mất “cái tôi” đến mức nào, nhưng cùng lúc lại vững tin vào chính mình đến mức nào. Đây là một điều nghe như đối nghịch, nhưng người thực hành thì biết là không. Cái tôi của ta càng mất đi, ta lại càng tăng tự tin.

(3) Một phần là do chín muồi nhờ trực nghiệm cuộc đời. (Có nhiều điều mình đọc năm học triết 18 tuổi, đến năm 40 tuổi mới bắt đầu hiểu hơi rõ rõ).

• Các thiền sư lúc nào cũng nhẹ nhàng thong thả với mọi người, trừ học trò của mình. Nhiều đại sư xử với học trò rất dữ dằn.

Thực ra thì ngày nay cũng thế thôi. Ở cấp giáo dục thấp cho mọi người, các vị thầy lúc nào cũng vuốt ve khuyến khích. Nhưng ở mức thượng đẳng, mức học để làm thầy thiên hạ, thì đó là giáo dục elite, nhằm đào tạo một lớp lãnh đạo rất nhỏ. Người học trò ở mức này thực ra cũng đã là thầy, và phải đủ sức chịu đựng kỹ luật thép, để thành “thép đã tôi thế đấy”, nếu không thì xìu xìu ển ển như cọng bún, chẳng lãnh đạo ai được cả.

Trong các công ty (hay nhà nước) cũng thế. Ở cấp cao, chẳng ai vuốt ve ai cả, mà mọi người đòi hỏi nhau phải chịu được kỹ luật thép để đạt được phẩm chất cao nhất.

Và kỹ luật thép đó thực ra cũng chỉ là để đòi hỏi ta đánh mất cái tôi của mình.

• Và giác ngộ cũng có nhiều cấp. Giác ngộ tầng thấp thì vẫn còn nhiều gian khổ tiếp tục trí tuệ thâm sâu hơn. Luôn luôn phải học thêm hậu tiến sĩ. 🙂

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Gisho’s Work

Gisho was ordained as a nun when she was ten years old. She received training just as the little boys did. When she reached the age of sixteen she traveled from one Zen master to another, studying with them all.

She remained three years with Unzan, six years with Gukei, but was unable to obtained a clear vision. At last she went to the master Inzan.

Inzan showed her no distinction at all on account of her sex. He scolded her like a thunderstorm. He cuffed her to awaken her inner nature.

Gisho remained with Inzan thirteen years, and then she found that which she was seeking!

In her honor, Inzan wrote a poem:

    This nun studied thirteen years under my guidance.
    In the evening she considered the deepest koans,
    In the morning she was wrapped in other koans.
    The Chinese nun Tetsuma surpassed all before her,
    And since Mujaku none has been so genuine as this Gisho!
    Yet there are many more gates for her to pass through.
    She should receive still more blows from my iron fist.

After Gisho was enlightened she went to the province of Banshu, started her own Zen temple, and taught two hundred other nuns until she passed away one year in the month of August.

# 38

Try to remember – Hãy cố nhớ

Hãy cố nhớ loại tháng chín
Khi đời trôi chậm và, ôi, rất dịu dàng.
Hãy cố nhớ loại tháng chín
Khi cỏ xanh và hạt lúa chín vàng.
Hãy cố nhớ loại tháng chín
Khi bạn là anh chàng hiền hậu và khờ khạo.
Hãy cố nhớ, và nếu bạn nhớ,
Thì đi theo.

Đi theo…

Hãy cố nhớ khi cuộc đời thật hiền dịu
Nên không ai khóc, ngoại trừ cây liễu.
Hãy cố nhớ khi cuộc đời thật hiền dịu
Nên giấc mơ đặt nằm bên gối.
Hãy cố nhớ khi cuộc đời thật hiền dịu
Nên tình yêu là viên than hồng sắp cuộn thành biển cả.
Hãy cố nhớ, và nếu bạn nhớ,
Thì đi theo.

Đi theo…

Tận trong tháng chạp, thật hay để nhớ,
Dù  bạn biết tuyết sẽ đến.
Tận trong tháng chạp, thật hay để nhớ,
Không đau nhưng quả tim vẫn trống vắng.
Tận trong tháng chạp, thật hay để nhớ,
Lửa tháng chín làm ta hiền dịu.
Tận trong tháng chạp, quả tim chúng ta nên nhớ
Và đi theo.

(TĐH dịch)

Try to remember

Try to remember the kind of September
When life was slow and oh, so mellow.
Try to remember the kind of September
When grass was green and grain was yellow.
Try to remember the kind of September
When you were a tender and callow fellow.
Try to remember, and if you remember,
Then follow.

Follow, follow, follow, follow, follow,
Follow, follow, follow, follow.

Try to remember when life was so tender
That no one wept except the willow.
Try to remember when life was so tender
That dreams were kept beside your pillow.
Try to remember when life was so tender
That love was an ember about to billow.
Try to remember, and if you remember,
Then follow.

Follow, follow, follow, follow, follow,
Follow, follow, follow, follow.

Follow, follow, follow, follow, follow,
Follow, follow, follow, follow.

Follow, follow, follow, follow, follow,
Follow, follow, follow, follow.

Deep in December, it’s nice to remember,
Although you know the snow will follow.
Deep in December, it’s nice to remember,
Without a hurt the heart is hollow.
Deep in December, it’s nice to remember,
The fire of September that made us mellow.
Deep in December, our hearts should remember
And follow.

Music: Harvey Schmidt
Lyrics: Tom Jones

Try to Remember là bản nhạc đầu tiên của vở ca kịch hài hước The Fantasticks. Bản nhạc do Harvey Schmidt viết nhạc và Tom Jones viết lời.

Try to Remember ra mắt lần đầu tiên với Jerry Orbach hát trong vở kịch trên sân khấu Broadway.

Bản này đứng đầu Billboard Hot 100 năm 1965 ba lần với ba ca sĩ Ed Ames, Roger Williams, và ban The Brothers Four.

Năm 1975 Gladys Knight dùng lời của Try to Remember để nói lời giới thiệu trước khi hát The Way We Were của Barbra Streisand và biến nó thành một international hit. Bản nhạc lên hạng 11 trên bảng Hot 100.

Harry Balefonte đã thu âm Try to Remember nhiều lần, và Nana Mouskouri đã thu âm với 3 thứ tiếng: Đức, Pháp và Ý.

July Andrews hát trên show TV đặc biệt của cô.

Try to Remember cũng đã được dùng trong soundtrack của phim The Man Who Fell to Earth và phin City of Glass của Hồng Kông.

Sau đây mời các bạn nghe:

1.  Jeery Orbach trên Broadway (1960)

2.  Harry Belefonte

3.  Julie Andrews

4.  Nana Mouskouri và Harry Balefonte

5.  The Brothers Four

6.  Gladys Knight “Try To Remember/The Way We Were” (1980)

The Fantasticks (Broadway) – Try To Remember (Jerry Orbach) 1960

.

Harry Belafonte – Try to Remember (There is so much to remember of Harry Belafonte’s life in the entertainment industry. Enjoy some special moments with Danny Kaye, Nat King Cole and Dinah Shore).

.

The Julie Andrews Show “Try to Remember” (Julie sings from her NBC television special).

.

Nana Mouskouri và Harry Belafonte – Try to Remember

.

The Brothers Four ~ Try to Remember (1965)

.

Gladys Knight “Try To Remember/The Way We Were” (1980)

Ấn hành kinh sách

Tetsugen, một người sùng mộ Thiền ở Nhật, quyết định sẽ ấn hành kinh sách, vào thời kinh sách chỉ có bằng tiếng Hán. Sách phải in với những khối khắc gỗ, bảy ngàn bản in một lần, tốn rất nhiều công sức.

Tetsugen bắt đầu đi khắp nơi và quyên góp tiền bạc. Vài người ủng hộ cho vài trăm đồng vàng, nhưng thường thì Tetsugen chỉ nhận được vài xu lẻ. Ông cám ơn mỗi người bố thí với lòng tri ân như nhau. Sau mười năm Tetsugen đã có đủ tiền để bắt đầu in.

Nhưng vào lúc đó Sông Uji gây lụt lội. Nạn đói theo sau. Tetsugen dùng tiền đã quyên góp cho sách để giúp mọi người khỏi chết đói. Rồi ông lại bắt đầu quyên góp tiền.

Bảy năm sau một trận dịch lan khắp nước. Tetsugen lại dùng tiền quyên góp, để giúp mọi người.

Ông lại quyên góp tiền lần thứ ba, và sau 20 năm ước mơ của ông thành hiện thực. Những khối gỗ khắc in những bản kinh đầu tiên ngày nay còn trưng bày trong tu viện Obaku ở Kyoto.

Người Nhật dạy con cái họ là Tetsugen in ba bộ kinh, và hai bộ đầu vô hình vượt trội hơn cả bộ cuối cùng.
.

Bình

• Tetsugen cám ơn người cho trăm đồng vàng và người cho vài xu lẻ “vói lòng tri ân như nhau.”

• In kinh sách không quan trọng bằng cứu người.

• Sách in sớm hay muộn cũng không chết chóc ai, người đói người bệnh mà không cứu ngay thì chết. Thời tính ấn định ưu tiên lúc này.

• Việc gì cần phải làm thì làm, đừng nhắm mắt mù quáng theo đúng “kế hoạch”. “Kế hoạch được sinh ra để được điều chỉnh.” (Plan is made to be changed).

• 37 năm để hoàn thành tâm nguyện in một bộ kinh. Nhẫn.

Trần Đình Hoành dịch và bình

.

Publishing the Sutras

Tetsugen, a devotee of Zen in Japan, decided to publish the sutras, which at that time were available only in Chinese. The books were to be printed with wood blocks in an edition of seven thousand copies, a tremendous undertaking.

Tetsugen began by traveling and collecting donations for this purpose. A few sympathizers would give him a hundred pieces of gold, but most of the time he received only small coins. He thanked each donor with equal gratitude. After ten years Tetsugen had enough money to begin his task.

It happened that at that time the Uji River overflowed. Famine followed. Tetsugen took the funds he had collected for the books and spent them to save others from starvation. Then he began again his work of collecting.

Several years afterwards an epidemic spread over the country. Tetsugen again gave away what he had collected, to help his people.

For a third time he started his work, and after twenty years his wish was fulfilled. The printing blocks which produced the first edition of sutras can be seen today in the Obaku monastery in Kyoto.

The Japanese tell their children that Tetsugen made three sets of sutras, and that the first two invisible sets surpass even the last.

# 37

Năm Dần nghe nhạc Cọp

Chào các bạn,

Đầu năm Dần, hãy cùng nghe vài bản nhạc Cọp nổi tiếng.

1. Eye of the Tiger của ban Survivor.
2. Tiger Mountain Peasant Song, cùa Fleet Foxes, do ban First Aid Kit, hai cô bé tài năng người Thụy Điển, trình diến.
3. What do tiger dream of?, một bản nhạc trong phim hài hước The Hangover.

Lời mỗi bản nhạc theo sau video.

Nếu bạn nào có link về nhạc Cọp của các nước, vui lòng gởi link đến để chúng ta cùng nghe. 🙂 Cám ơn rất nhiều 🙂

Chúc các bạn một ngày vui!

Hoành
.

1. Survivor – Eye Of The Tiger (Official video clip)

Risin’ up, back on the street
Did my time, took my chances
Went the distance, now I’m back on my feet
Just a man and his will to survive

So many times, it happens too fast
You change your passion for glory
Don’t lose your grip on the dreams of the past
You must fight just to keep them alive

Chorus:
It’s the eye of the tiger, it’s the cream of the fight
Risin’ up to the challenge of our rival
And the last known survivor stalks his prey in the night
And he’s watchin’ us all in the eye of the tiger

Face to face, out in the heat
Hangin’ tough, stayin’ hungry
They stack the odds ’til we take to the street
For we kill with the skill to survive

chorus

Risin’ up, straight to the top
Have the guts, got the glory
Went the distance, now I’m not gonna stop
Just a man and his will to survive

chorus

The eye of the tiger (repeats out)…
.

2. Fleet Foxes – Tiger Mountain Peasant Song (Cover) – First Aid Kit

Wanderers this morning came by
Where did they go
Graceful in the morning light
To banner fair
To follow you softly
In the cold mountain air

Through the forest
Down to your grave
Where the birds wait
And the tall grasses wave
They do not
know you anymore

Dear shadow alive and well
How can the body die
You tell me everything
Anything true

In the town one morning I went
Staggering through premonitions of my death
I don’t see anybody that dear to me

Dear shadow alive and well
How can the body die
You tell me everything
Anything true

Jesse
I don’t know what I have done
I’m turning myself to a demon
I don’t know what I have done
I’m turning myself to a demon

.

3. The Hangover – Stu’s Song (What do tigers dream of?)

What do tigers dreams of?
When they take a little tiger snooze
Do they dream of mauling zebras
Or Hallie Barry in her catwoman suit

Don’t you worry your pretty striped head
Were gonna get you back to Tyson and your cozy tiger bed
And then were gonna find our best friend Doug
And then were gonna give him a best friend hug
Doug Doug Oh Doug Doug Dougie Doug Doug

but if hes been murdered by crystal meth tweekers…then were shit out of luck.

Phân Giờ Tấc Ngọc


Một lãnh chúa hỏi Takuan, một thiền sư, làm thế nào để dùng thời gian. Lãnh chúa cảm thấy ngày của mình quá dài, ở trong khách sảnh cả ngày và ngồi cứng ngắc để nhận lễ viếng từ những người khác.

Takuan viết tám chữ Hán và trao cho lãnh chúa:

Không hai hôm nay
Phân giờ tấc ngọc

(Hôm nay không đến hai lần
Mỗi phút là một viên ngọc vô cùng qu‎ý)

Bình:

* Vậy thì câu trả lời là gì?

Thưa: Sử dụng thời giờ vào điều gì mà mình cảm thấy đáng tốn một viên ngọc quý cho mỗi phút.

Mỗi người có ưu tiên khác nhau–học, chơi với con cái, đi dạo, làm việc gì đó… Đừng làm gì mà mình cảm thấy phí thời giờ.

Cuộc đời quá ngắn để lãng phí thời gian vào những việc mà mình không thấy đáng làm.

* Takuan Sōhō (Trạch Am Tông Bành, 澤庵宗彭), 1573-1645, là một vị Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, dòng Nam Phố Thiệu Minh (ja. nampo jōmyō). Sư không những là một vị Thiền sư lỗi lạc, tinh thông kinh điển mà còn là một nghệ sĩ trứ danh, một thi hào với những tác phẩm còn được nhắc đến ngày nay.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Inch Time Foot Gem

A lord asked Takuan, a Zen teacher, to suggest how he might pass the time. He felt his days very long attending his office and sitting stiffly to receive the homage of others.

Takuan wrote eight Chinese characters and gave them to the man:

Not twice this day
Inch time foot gem.

(This day will not come again.
Each minute is worth a priceless gem)

# 32

Đầu năm mở bút: Đặt nền móng cường thịnh

Chào các bạn,

Tết nhà ta có tục đầu năm khai bút, mình gọi là đầu năm mở bút, tưởng tượng đến bút máy mực (fountain pen) có nắp đậy, phải mở nắp mới viết được. Nếu là bút nguyên tử (ballpoint pen), thì phải là đầu năm bấm bút. Nếu nói theo người miền nam, thì phải là đầu năm mở viết hay đầu năm bấm viết. Và vào thời @ thì lại là đầu năm mở computer, hay đầu năm mở máy. Nói thế để phong phú hóa tiếng Việt, thêm vài từ mới cho một chuyện cũ. 🙂

Nhưng, dù viết là chuyện cũ, thì điều gì viết đầu năm cũng thường là chuyện mới. 🙂  Nhân dịp đầu năm mình muốn chia sẻ với các bạn một điều có ảnh hưởng rất lớn đến tư duy và hành xử của mình trong nhiều năm nay. Đó là: Chúng ta phải đặt nền móng để Việt Nam trở thành cường quốc trên thế giới.

Tại sao phải thành cường quốc? Continue reading Đầu năm mở bút: Đặt nền móng cường thịnh

Nguồn gốc Ngày Valentine

Chào các bạn,

Hôm nay là Ngày Tình Yêu, đồng thời là mồng một Tết Nguyên Đán. Wow, đây là cơ hội rất hiếm trong đời!

Chúc các bạn một năm mới tràn đầy tình yêu nồng nàn, hoa hồng đỏ thắm, và kẹo so-cô-la dịu ngọt. 🙂

Và ít bị gai hồng đâm chảy máu. 🙂

Và nếu có bị gai đâm thì cũng thấy vui vẻ yêu đời 🙂 vì như thế còn vạn lần hơn là không có gai đâm 🙂

Ngày Valentine (Valentine’s Day, còn gọi là Saint Valentine’s Day, Ngày Lễ Tình Yêu hay Ngày Lễ Tình Nhân) là ngày dành cho tình yêu đôi lứa.

Ngày này nguyên thủy là Ngày Lễ Thánh Valentine, được Giáo Hoàng Gelasius I ấn định vào năm 496, là ngày 14 tháng 2 hàng năm. Có vài truyền thuyết khác nhau về Thánh Valentine:

Thiệp Valentine 1887

* Valentine thành Rome là một linh mục ở Rome, tử vì đạo năm 269, và được chôn cất trên con lộ Via Flaminia (ở phía bắc Rome, nối liền Rome và Ariminum). Xương thánh của Valentine ngày nay ở Thánh đường Thánh Praxed ở Rome, và Thánh đường Carmelite trên đường Whitefriar Street ở Dublin, Ireland.

* Valentine thành Terni là giám mục của Interamna (Terni ngày nay), nhậm chức vào khoảng năm 197, và tử vì đạo trong thời giáo hội bị bách hại dưới tay Hoàng Đế Aurelian. Giám mục cũng được chôn trên con lộ Via Flaminia, nhưng tại một nơi khác nơi chôn cất Valentine thành Rome. Xương thánh của giám mục ngày nay ở Vương cung Thánh đường Thánh Valentine ở Terni (Basilica di San Valentino).

* Tự điển bách khoa công giáo còn nhắc đến một Valentine, tử vì đạo ở Phi Châu.

Thiệp Valentine 1910-1920

Trong các thay đổi về Lịch Các Ngày Lễ Các Thánh năm 1969, ngày lễ Thánh Valentine 14 tháng 2 được đưa ra khỏi lịch các ngày lễ chung của giáo hội, và chuyển vào mục các ngày lễ thánh địa phương, với lý do: “Dù ký ức về Thánh Valentine rất cổ, ngày lễ Thánh Valentine được chuyển vào lịch đặc biệt của địa phương vì chúng ta chẳng biết gì về Thánh Valentine, ngoại trừ việc ngài được chôn cất trên con lộ Via Flaminia ngày 14 tháng 2.”

Chẳng có một chi tiết lãng mạn yêu đương nào liên hệ đến 3 truyền thuyết tử vì đạo này cả.

Thời xưa, ở Rome có ngày lễ nữ thần Juno vào ngày 13-14 tháng 2. Juno là nữ thần bảo vệ tổ quốc của Rome. Juno là tên Hy Lạp, ở Rome Juno được gọi là Regina. Juno cùng chồng là Jupiter (thần cao nhất của các thần), và con là thần Minerva, bộ ba được tôn thờ ở Juno Capitolina ở Rome.

Rome còn có lễ Lupercania từ ngày 13 đến 15 tháng 2, ca ngợi sự sinh sản phong phú. Vào ngày này nam nữ tìm đến với nhau trong lễ hội qua tục bốc thăm.

Giáo Hoàng Gelasius I xóa bỏ Lupercalia, là lễ của ngoại đạo.

Một số người đặt giả thuyết là giáo hội thành lập ngày Valentine để thế vào ngày lễ Juno và Lupercalia của truyền thống ngoại đạo.

Truyền thống lãng mạn về ngày Thánh Valentine bắt đầu với bài thơ Parlement of Foules (1382) của thi sĩ Geoffrey Chaucer của Anh:

Geoffrey Chaucer, họa sĩ Thomas Occleve (1412)

For this was on seynt Volantynys day
Whan euery bryd comyth there to chese his make.

[“For this was sent on Valentine’s Day, when every bird cometh there to choose his mate.”]

Vì đây đã được gửi ngày Valentine, khi mọi chim chóc đến đó tìm bạn tình.

Các độc giả của Chaucer nghĩ là Chaucer nói vể ngày Thánh Valentine 14 tháng 2. Nhưng đây là sự hiểu lầm lớn trong văn học. Bài thơ của Chaucer nói về hôn nhân giữa Vua Richard II của Anh quốc và Công Nương Anne của Bohemia. Hiệp ước giữa hai nước nói về hôn nhân này được ký vào ngày 2 tháng 5 năm 1381. (8 tháng sau đó họ làm đám cưới, lúc cả hai chỉ mới 15 tuổi).

Và trong lịch lễ thánh, ngày 2 tháng 5 là ngày lễ Thánh Valentine thành Genoa. Thánh này là giám mục của thành Genoa, chết vào khoảng năm 307, và chẳng liên hệ gì đến Thánh Valentine của ngày 14 tháng 2.

Tuy vậy, vì ảnh hưởng lớn của Geoffrey Chaucer trên văn học tiếng Anh, các văn thi sĩ khắp nơi sau đó bắt đầu ca tụng, một cách lầm lẫn, ngày Thánh Valentine 14 tháng 2 là ngày của tình yêu lãng mạn. Và đương nhiên chuyện đời là, khi mọi người đều làm điều gì thì điều đó được chấp nhận là đúng. 🙂

Thiệp Valentine, Victorian

* Ngày nay, chẳng biết từ đâu đến, chúng ta lại có thêm một truyền thuyết mới về Thánh Valentine. Theo thuyết này, Valentine là một linh mục không vâng lệnh của Hoàng Đế Claudius II cấm thanh niên lấy vợ và cấm linh mục cử hành hôn lễ cho thanh niên, vì Hoàng Đế muốn nhiều thanh niên độc thân đi lính. Tuy vậy, linh mục Valentine chống lại lệnh Hoàng Đế và cứ tiếp tục cử hành hôn lễ lén lút cho các cặp tình nhân.

Hoàng Đế biết được và xử tử Valentine. Trước giờ hành quyết Valentine còn gửi được một tấm “thiệp Valentine” đầu tiên trong lịch sử đến–hoặc là người yêu của linh mục (thời đó linh mục có thể có vợ), hoặc là con gái của người quản ngục mà Valentine đã gặp và chữa bệnh–và ký tên “From your Valentine” (“Từ Valentine của em”).

Truyền thống “thiệp Valentine” bắt đầu từ đó.

Các công ty buôn bán ngày nay rất thích dùng truyền thuyết mới, có tính tiếp thị cao này.

Vào ngày Valentine, các đôi tình nhân tặng nhau thiệp Valentine với các lời lẽ dấu ái lãng mạn, tặng hoa hồng, kẹo Chocolate, mời nhau đi khiêu vũ, ăn tối dưới ánh đèn cầy, xem phim…

TĐH