Chào các bạn,
Giữa điệu Tennessee Waltz, cô gái giới thiệu bạn của mình cho người yêu, và khi họ đang khiêu vũ, cô đã mất đi người yêu của cô giữa điệu Tennessee Waltz tuyệt đẹp.
Tại gì đây? Tại người yêu cô? Tại bạn cô? Hay tại điệu Tennessee Waltz cứ xoay tròn mãi?
Bản “Tennessee Waltz” được sáng tác bởi Redd Stewart và Pee Wee King vào năm 1947 kể về câu chuyện “xoay tròn” đó.
Hôm đó, Pee Wee King đang lái chiếc xe truck và nghe radio, khi anh đang nghe “Kentucky Waltz” của Bill Monroe. Anh nghĩ, cũng cần có một bản Waltz cho bang Tennessee nữa, và anh bắt đầu nghĩ về lời nhạc. Anh lấy thứ duy nhất anh có thể viết được vào lúc đó, những que điêm để viết nên những lời nhạc đầu tiên. Sau đó, cùng với sự giúp đỡ của ca sĩ Redd Stewart, bài hát đã được hoàn thành.
Tennessee Waltz được thu âm bởi rất nhiều nghệ sĩ, trong đó nổi tiếng nhất là bản thu âm của Patti Page vào năm 1950, bán được hàng triệu bản và một trong những bản thu âm bán chạy nhất thể kỷ 20. Bài hát đứng đầu danh sách bán chạy nhất của tạp chí Billboard 13 tuần liên tiếp vào năm 1950.
Sự phổ biến của Tennessee Waltz khiến bài hát được chọn làm một bài hát chính thức của tiểu bang Tennessee vào năm 1965.
Tại sao Tennessee Waltz đẹp, lãng mạn và xao xuyến quá vậy? Câu chuyện tình yêu? Giai điệu đẹp của bài hát? Điệu Van xơ? Theo mình, còn một yếu tố nữa, đó chính là tiểu bang Tennesee mà bài hát hát về, một tiểu bang hoang vu vắng vẻ với cánh đồng bao la và đường chân trời trải dài ở vùng Mid West của Mỹ, như Mù Căng Chải đối với Việt Nam. Ở nơi đó, giai điệu Van xơ thật đẹp và lãng mạn.
Dưới đây là hai video bài hát. Video thứ nhất do Patti Page biểu diễn vào năm 1950 và video thứ hai do Eva Cassidy biểu diễn. Lời nhạc theo sau video.
Chúc các bạn một ngày nhẹ nhàng,
Hiển.
The Tennessee Waltz by Patti Page (1950)
.
Tennessee Waltz by Eva Cassidy
.
Tennessee Waltz
by Redd Stewart and Pee Wee King
I was waltzing with my darlin’ to the Tennesse waltz
when an old friend I happened to see.
I introduced him to my loved one,
and while they were waltzing
my friend stole my sweet-heart from me.
I remember the night and the Tennessee waltz.
Now I know just how much I have lost.
Yes I lost my little darlin’ the night
they were playing the beautiful Tennessee waltz.
I was waltzing with my darlin’ to the Tennesse waltz
when an old friend I happened to see.
I introduced him to my loved one,
and while they were waltzing
my friend stole my sweet-heart from me.
I remember the night and the Tennessee waltz.
Now I know just how much I have lost.
Yes I lost my little darlin’ the night
they were playing the beautiful Tennessee waltz.
Anh Jack trở về nhà sau khi vui vẻ với các chiến hữu sau một buổi tối ở khu phố da đen.
Hit the road, Jack!
Chị vợ ở nhà đang mong. Cái anh này, đi chơi sao mãi giờ này mới về tới nhà? Tiền đâu? Lo cho vợ con đi chứ? Tôi soạn sẵn một list dài những công việc mà sao anh mãi vẫn chưa làm!
Lại còn đi chơi bù khú! Ồ, vậy anh biến đi cho khuất mắt. “Hit the road Jack”, anh biến ra ngoài đường đi, và đừng trở lại nữa. 🙂
Lục đục là chuyện bình thường ở nhiều gia đình, nhưng rõ ràng hơn trong cộng đồng người da đen, nơi có nhiều khó khăn về kinh tế. Người phụ nữ có tính cách mạnh mẽ, và anh chồng đáng thương mải chơi và thiếu trách nhiệm.
“Hit the Road Jack” hát về cảnh đời thường đó bằng giai điệu rhythm and blues hài hước và phấn khích. Cười vui trên vấn đề để các ông chồng có trách nhiệm hơn, và các bà vợ đỡ nhe răng 🙂
“Hit the Road Jack” được sáng tác bởi nhạc sĩ Percy Mayfield và thu âm bởi ca sĩ, nghệ sĩ piano Ray Charles. Bài hát đứng ở vị trí số 1 trong hai tuần liền trên Billboard Hot 100 năm 1961, và xếp hạng thứ 377 trong danh sách 500 bài hát vĩ đại nhất của mọi thời đại của tạp chí Rolling Stone.
Bài hát chạy ra ngoài đường và vào các sân chơi. Trên nhiều sân hockey và bóng bầu dục của Mỹ, vài câu đầu của bài hát “Hit the road, Jack and don’t you come back no more, no more, no more, no more” được chơi mỗi khi một cầu thủ phạm luật và phải đứng ra ngoài. 🙂
Trong những cuộc chạy việt dã, chuyến đi du lịch, bắt đầu làm một cái gì mới, thuật ngữ “Hit the road Jack” hay được dùng rộng rãi. Bảo đi chứ gì? Đi đây 🙂
Dưới đây, sau lời nhạc Hit the Road Jack, là các video trình diễn của Ray Charles và Eric Clapton.
Chúc các bạn khỏe và vui,
Hiển.
.
Hit the road Jack
(Hit the road Jack and don’t you come back no more, no more, no more, no more.)
(Hit the road Jack and don’t you come back no more.)
What you say?
(Hit the road Jack and don’t you come back no more, no more, no more, no more.)
(Hit the road Jack and don’t you come back no more.)
Woah Woman, oh woman, don’t treat me so mean,
You’re the meanest old woman that I’ve ever seen.
I guess if you say so
I have to pack ma things and go. (That’s right)
(Hit the road Jack and don’t you come back no more, no more, no more, no more.)
(Hit the road Jack and don’t you come back no more.)
What you say?
(Hit the road Jack and don’t you come back no more, no more, no more, no more.)
(Hit the road Jack and don’t you come back no more.)
well baby, listen baby, don’t ya treat me this-a way
Cause I’ll be back on my feet some day.
(Don’t care if you do ’cause it’s understood)
(you ain’t got no money you just ain’t no good.)
Well, I guess if you say so
I’d have to pack my things and go. (That’s right)
(Hit the road Jack and don’t you come back no more, no more, no more, no more.)
(Hit the road Jack and don’t you come back no more.)
What you say?
(Hit the road Jack and don’t you come back no more, no more, no more, no more.)
(Hit the road Jack and don’t you come back no more.)
well!!
(don’t you come back no more.)
you must be joking?
(don’t you come back no more.)
what you trying to do to me?
(don’t you come back no more.)
i came to talk it over
(don’t you come back no more.)
i thaught we had a better understanding
(don’t you come back no more.)
oh baby dont be so chicken
(don’t you come back no more.)
you dont want to see me cry x2
(don’t you come back no more.)
oh baby it isnt fair
ooh yeahh
“Tôi biết những năm 1960s trở lại” (I know the sixties is back), chị Judy Collins nói như vậy tại đại hội nhạc kỷ niệm 50 năm Newport Folk Festival cuối tháng 8 năm 2009 vừa rồi (1959-2009).
“Những giai điệu như thế này” rồi chị ngẫu hứng hát:
Where Have All The Flowers Gone, Long Time Passing?
where Have All The Flowers Gone, Long Time Ago?
where Have All The Flowers Gone?
gone To Young Girls, Every One!
when Will They Ever Learn, When Will They Ever Learn?
Những lời hát đó ở trong bài “Where have all the flowers gone?” nổi tiếng của nhạc sĩ Pete Seeger sáng tác vào năm 1961, một bài hát kêu gọi cho hòa bình, một bài hát của sự hoài niệm những vẻ đẹp trong tâm khảm.
Pete Seeger tìm thấy cảm hứng cho bài hát từ quyển sổ ghi những chép tay của anh từ tác phẩm “Sông Đông êm đềm’ của Mikhail Sholokhov: “Đâu rồi những bông hoa? những cô gái đã nhặt chúng. Đâu rồi những cô gái? Họ lấy chồng hết rồi. Đâu rồi những chàng trai? Họ đều trong quân đội”.
Anh thiếp ngủ, rồi một lời nhạc bỗng hiện ra “long time passing” nói về một nỗi hoài niệm. Anh thêm câu hát “When will they ever learn?”, một câu hỏi thường trực của người trí thức trước thời cuộc, “Khi nào người ta mới tỉnh ngộ ra được?”
Bông hoa, cô gái, chàng trai trong lời bài hát lặp đi lặp lại theo chu kỳ nhắc nhở con người về hòa bình “cô gái nhặt bông hoa, chàng trai tìm cô gái, chàng trai ra trận và nằm lại trong ngôi mộ, phủ bởi những bông hoa”
Bài hát được thu âm đầu tiên bởi nhóm Peter, Paul and Mary; sau đó rất nhiều nhóm nhạc thu âm bài hát này như The Kingston Trio, Joan Baez và nhiều nghệ sĩ khác.
Cách đây khoảng 2 tuần, mình hỏi anh bạn Ken là nên chọn bài hát nào để giới thiệu cho ĐCN nhỉ, ann Ken nói sao không giới thiệu bài này nhỉ, anh nói thêm là ca sĩ nữ của nhóm Peter, Paul and Mary, chị Mary Travers mới mất thứ 7 tuần trước. R.I.P chị Mary.
Sau lời bài hát dưới đây là 3 video, video thứ nhất của nhóm Peter, Paul and Mary hát để tưởng niệm cho ca sĩ Mary Travers, video thứ hai do chị Joan Baez hát trong lễ trao giải thưởng cho nhạc sĩ Peter Seeger vào năm 1994, video thứ ba do Peter Seeger và Arlo Guthrie (con của nhạc sĩ Woodie Gurthie) biểu diễn.
Chúc các bạn một ngày đẹp,
Hiển.
.
Where Have All The Flowers Gone?
written by Pete Seeger
Where Have All The Flowers Gone, Long Time Passing?
where Have All The Flowers Gone, Long Time Ago?
where Have All The Flowers Gone?
gone To Young Girls, Every One!
when Will They Ever Learn, When Will They Ever Learn?
where Have All The Young Girls Gone, Long Time Passing?
where Have All The Young Girls Gone, Long Time Ago?
where Have All The Young Girls Gone?
gone To Young Men, Every One!
when Will They Ever Learn, When Will They Ever Learn?
where Have All The Young Men Gone, Long Time Passing?
where Have All The Young Men Gone, Long Time Ago?
where Have All The Young Men Gone?
gone To Soldiers, Every One!
when Will They Ever Learn, When Will They Ever Learn?
and Where Have All The Soldiers Gone, Long Time Passing?
where Have All The Soldiers Gone, A Long Time Ago?
where Have All The Soldiers Gone?
gone To Graveyards, Every One!
when Will They Ever Learn, When Will They Ever Learn?
and Where Have All The Graveyards Gone, Long Time Passing?
where Have All The Graveyards Gone, Long Time Ago?
where Have All The Graveyards Gone?
gone To Flowers, Every One!
when Will They Ever Learn, Oh When Will They Ever Learn?
Mary Travers (1936-2009) RIP -Peter, Paul & Mary – Where Have All The Flowers Gone?
“How Great Thou Art” đứng thứ hai trong những bản thánh ca được yêu thích nhất của mọi thời đại, sau bản “Amazing Grace”.
Lời nhạc “How great thou art” dựa trên bài thơ tiếng Thụy Điển do Carl Gustav Boberg viết vào năm 1885.
Hôm đó, Carl Boberg và vài người bạn đang trở về nhà ở Monsteras từ Kronoback, nơi ông và các bạn mới dự lễ nhà thờ. Thiên nhiên đang đẹp đỉnh điểm buổi chiều hôm đó. Đột nhiên, một trận sấm rền vang và ánh chớp xẹt ngang tầng trời. Cơn gió mạnh quét qua những cánh đồng và thổi tung lên một trận bão những hạt lúa. Một trận mưa rào trong trẻo, và chỉ phút chốc sau cơn bão, cầu vồng xuất hiện.
Khi Boberg về tới nhà, ông mở cửa sổ và thấy vịnh Monsteras như một tấm gương trước mặt… âm thanh tiếng chuông nhà thờ vào buổi tối yên lặng….
Đó là những cảm hứng làm nên bài thơ nguyên thủy của Boberg.
Sau đó, bài thơ được phối hợp với một giai điệu dân ca cổ Thụy Điển thành bài hát và được trình diễn đầu tiên vào năm 1888.
Bản thánh ca sau đó được dịch sang tiếng Đức (1907), tiếng Nga (1912), tiếng Anh (1925), tiếng Tây Ban Nha, Romani, Việt Nam và nhiều ngôn ngữ khác.
Toàn bộ bài hát là sự ngỡ ngàng, khiêm tốn và yêu kính Thượng Đế sâu thẳm trong chúa Giê Su.
Theo sau lời hát dưới đây là ba video của bài hát do Crystal Lewis, Anne Murray, Carrie Underwood trình diễn.
Chúc các bạn một ngày khiêm tốn,
Hiển.
. .
How Great Thou Art
O Lord my God, When I in awesome wonder,
Consider all the worlds Thy Hands have made;
I see the stars, I hear the rolling thunder,
Thy power throughout the universe displayed.
Then sings my soul, My Saviour God, to Thee,
How great Thou art, How great Thou art.
Then sings my soul, My Saviour God, to Thee,
How great Thou art, How great Thou art!
When through the woods, and forest glades I wander,
And hear the birds sing sweetly in the trees.
When I look down, from lofty mountain grandeur
And see the brook, and feel the gentle breeze.
Then sings my soul, My Saviour God, to Thee,
How great Thou art, How great Thou art.
Then sings my soul, My Saviour God, to Thee,
How great Thou art, How great Thou art!
And when I think, that God, His Son not sparing;
Sent Him to die, I scarce can take it in;
That on the Cross, my burden gladly bearing,
He bled and died to take away my sin.
Then sings my soul, My Saviour God, to Thee,
How great Thou art, How great Thou art.
Then sings my soul, My Saviour God, to Thee,
How great Thou art, How great Thou art!
When Christ shall come, with shout of acclamation,
And take me home, what joy shall fill my heart.
Then I shall bow, in humble adoration,
And then proclaim: “My God, how great Thou art!”
Then sings my soul, My Saviour God, to Thee,
How great Thou art, How great Thou art.
Then sings my soul, My Saviour God, to Thee,
How great Thou art, How great Thou art!
Anh David trở về nhà một buổi chiều vào thời suy thoái. Mất việc, kinh tế ẩm iu. Bao nhiêu thứ phải lo. Sáng hôm sau anh có vẻ như không mỉm được cười.
Chị Mary có chuyện đau buồn cá nhân khó nói.
Nhưng, con đường đầy ánh sáng vẫn ở phía trước. Anh David và chị Mary sẽ bước trên con đường đầy nắng ấy chứ? Bước tiếp chứ? Sẽ làm gì tiếp đây?
Anh David và chị Mary sẽ bước tiếp và vui được trở lại chứ? Anh chị sẽ chấp nhận được thực tế – trút đi được một gánh nặng, và bắt đầu nhìn vào con đường phía trước chứ?
Anh chị bước tiếp, nhìn về con đường phía xa xa và bắt đầu nghĩ là nên làm gì tiếp. Anh chị thấy vui hơn, và muốn làm gì đó. Con đường cũng vui lên vì có anh chị cùng bước. 🙂
Bài hát “Don’t stop’ của nhóm Fleetwood Mac dưới đây, viết bởi thành viên Christine McVie hát về buổi sáng ngày hôm sau đó. Bài hát nằm trong album nổi tiếng Rumours của nhóm vào năm 1977 và chỉ riêng bài hát, xếp thứ hạng 3 trong Billboard singles charts.
“Don’t stop” hát về cảm xúc của chị Christine McVie sau khi chia tay với chồng và cũng là tay guitar bass của nhóm, anh John McVie sau 8 năm chung sống. Thật khó, nhưng dễ chịu hơn khi bắt đầu có ý nghĩ ‘ngày hôm qua qua rồi’.
Đầu những năm 1992, kinh tế Mỹ suy thoái. Ứng cử viên Bill Clinton đã dùng bài hát ‘Don’t stop’ làm bài hát chủ để của cuộc vận động tranh cử tổng thống Mỹ.
Bill Clinton, với sự lạc quan tỏa nắng, đã khơi nguồn cảm hứng và giúp phục hồi nền kinh tế Mỹ những năm 1990s.
Chúc các bạn một ngày tươi hồng,
Hiển.
.
Don’t stop
Written by Fleetwood Mac-Christine McVie
If you wake up and dont want to smile,
If it takes just a little while,
Open your eyes and look at the day,
Youll see things in a different way.
Dont stop, thinking about tomorrow,
Dont stop, it’ll soon be here,
It’ll be, better than before,
Yesterdays gone, yesterdays gone.
Why not think about times to come,
And not about the things that youve done,
If your life was bad to you,
Just think what tomorrow will do.
Dont stop, thinking about tomorrow,
Dont stop, itll soon be here,
Itll be, better than before,
Yesterdays gone, yesterdays gone.
All I want is to see you smile,
If it takes just a little while,
I know you dont believe that its true,
I never meant any harm to you.
Dont stop, thinking about tomorrow,
Dont stop, itll soon be here,
Itll be, better than before,
Yesterdays gone, yesterdays gone.
Cao lộ I-95 ở New York đường xá rất đông. Những chiếc xe đang lao đi.
Những chiếc xe đó đang đi đâu? Những người trong xe, họ là ai? Họ đang nghĩ ngợi điều gì?
Xe tải to, chắc anh tài làm việc vất vả và lái xe đường trường lắm đây. Anh đang chở hàng cho hãng lương thực nào vậy? Anh lái xe từ Florida lên tận New York phải không?
Chiếc mercedes thật cáu cạnh, chắc anh tài nhà giàu đây. Thời buổi kinh tế khó khăn này, không biết anh có phải lo nghĩ nhiều đến việc đóng tiền trả góp hàng tháng cho chiếc xe không nữa?
Xe gia đình thật to, chắc anh chị có mấy cháu bé vui lắm. Anh chị chắc làm việc cũng cực lắm. Nhưng cuối tuần cả nhà đi chơi công viên thì vui nhỉ 🙂
Xe hơi cũ dán tấm đề can màu xanh lục: “Let peace begins with me” và “We need a department of peace”. Anh bạn này chắc đang tu học đây, hay đấy 🙂
Nắng mùa thu thật đẹp. Ánh nắng vàng dịu trải đều khắp cao lộ, hai hàng cây bên đường, tràn qua các xe ô tô, xen vào giữa sự ùn tắc của xe cộ.
Đoạn pháp thoại “Bố Thí không điều kiện” của Thiền sư Thích Minh Niệm đang bàn luận về chủ đề bố thí của nhà Phật thật tuyệt diệu, bao quanh câu chuyện về ông lão mù ăn xin vào một ngày đẹp trời, như ngày hôm nay.
Mình chợt tỉnh cơn mơ.
Phim ngắn 4 phút sau đây, ‘The story of a sign” đạt giải nhất liên hoan phim Cannes năm 2008 kể về câu chuyện ông lão mù đó.
Câu chuyện về một tấm biển
Một ngày mùa hè nắng rất đẹp ở châu Âu.
Trên một quảng trường đầy nắng, tiếng guitar, tiếng chim hót, những con bồ câu chạy tung tăng, trẻ em đang chơi đùa thật vui.
Ông lão mù ngồi trên vỉa hè ăn xin. Cạnh ông có tấm biển với hàng chữ “Hãy từ bi, tôi bị mù” (Have compassion, I am blind).
Cả buổi sáng, những người đi qua không thấy ông. Ông không nhận được đồng xu nào cả.
Giữa trưa, một anh thương gia trẻ ăn mặc sang trọng đi qua ông lão. Anh đang đi vội vã tới một cuộc hẹn, nhưng anh chợt dừng lại. Anh nhìn ông, và tấm biển. Anh không bỏ đồng xu nào vào chiếc can thiếc cho ông. Nhưng thay vào đó, anh lấy ra một chiếc bút đắt tiền và viết gì đó vào mặt bên kia của tấm biển.
Anh lật ngược tấm biển lại, vỗ vai chào ông lão và bước đi tiếp tới cuộc hẹn của anh.
Chiều đến, bỗng nhiên mọi người, trẻ và già, bỏ đầy các đồng xu vào chiếc can của ông già. Và chiếc can phút chốc đầy tràn.
Khi ông lão đang mò mẫm nhặt những đồng xu, ông nghe thấy tiếng bước chân quen thuộc của anh thương gia trở lại từ cuộc hẹn của anh. Anh cũng dừng lại và vỗ vai ông lão.
Ông lão hỏi: “Anh làm gì với tấm biển của tôi vậy?” Anh thương gia trả lời: “Tôi viết cũng nội dung đó thôi, nhưng dùng từ khác đi”.
Anh đã viết: ‘Hôm nay là một ngày thật đẹp, nhưng tôi không thể thấy được”. (“Today is a beautiful day but I cannot see it”).
Hai cách diễn đạt đó có giống nhau không?
Cách diễn tả của anh thanh niên đã có tác dụng như thế nào?
Một người qua đường hôm đó đang nghĩ gì?
Ông lão có đáng được nhận được sự từ bi không? Tại sao?
Thế nào là bố thí, và tại sao nên bố thí?
Ta với người có khác gì nhau không?
Nếu ta không thấy người, liệu ta có thật thấy chính ta?
Bạn có cảm nghĩ gì về câu chuyện? Hãy cùng chia sẻ nhé 🙂
Hãy nhấc đi tấm màn
ngăn cách con
với Thiên Đường sau màn
Hãy làm mới ý nghĩ của con,
đầy sợ hãi, phán đoán, và những ảo tưởng
của thế giới
Làm mới trái tim của con
đang nặng nề đau đớn bởi quá khứ
Làm mới những hy vọng của con
thường xuyên bị nghiến nát
Gửi thiên thần, Chúa ơi,
tới ngồi với con và bước đi với con
và thì thầm vào tai con
Hãy cho con
ở đây cho Chúa
và ở đây với Chúa
và nhìn thấy Chúa trong mọi điều
Hãy giúp con nhìn thấy cuộc đời vô tội.
AMEN.
.
Dear God,
Please lift the veil
that separate me
from the Heaven which lay beyond
Renew my thoughts
so full of fear and judgment and the illusions
of the world
Renew my heart
so burdened by the sorrows of the past
Renew my hopes
So often squelched
Send angels, God,
to sit with me and walk with me
and whisper in my ears.
May I be
here for You
and here with You
and see You in all things
Please help me see the innocence of life.
Hãy lấy đi
Những gánh nặng con mang,
và trả lời
những câu hỏi ám ảnh con.
Hãy tiết lộ cho con
Mục đích của đời con
Lý do của đau đớn của con
và sự huyền bí của kế hoạch của Chúa.
Amen
.
Dear God,
Please take from me
The burdens I carry,
and answer
the questions that haunt me.
Please reveal to me
the purpose of my life,
the reasons for my pain
and the mystery of Your plan.
Do more than belong: participate.
Do more than care: help.
Do more than believe: practice.
Do more than be fair: be kind.
Do more than forgive: forget.
Do more than dream: work.
Trước chúng ta là một bãi đất khô cằn tại một làng ở Kenya, châu Phi, cách đây 33 năm.
Những người đàn ông Kenya sống manh mún làm ăn nhỏ, trong những bộ lạc khác nhau, dưới một chính quyền Kenya hà khắc và tham nhũng cực độ, có rất nhiều người dưới mức nghèo khổ và hỗn loạn.
Chẳng có gì nhiều ở đó, thỉnh thoảng mọi người xô xát vì những thứ lặt vặt, tranh đấu nhau vì không đủ ăn và tài nguyên để sống. Người này hơn thì người kia thiệt.
Các bạn nghĩ sao, nếu giữa bãi đất khô cằn kia bỗng mọc lên những cây xanh, cung cấp lương thực và bóng cây xanh mát cho cả làng?
Cải thiện đất bị xói mòn? Cung cấp không khí để thở? Cung cấp gỗ để làm củi?
Làm mát dịu những con người nóng tính, tác động đến hòa bình cho khu vực?
Ai nghĩ đến việc này? Ai sẽ làm những việc này?
Năm 1976, một người phụ nữ bản địa tên là Wangari Maathai hàng ngày bước chân đi trên mảnh đất khô cằn ở Kenya đó.
Tên chị Wangari Maathai nghe có quen không nhỉ? 🙂
Chị bắt đầu trồng cây.
Chị thành lập phong trào những người dân cùng trồng cây. Phong trào Green Belt Movement ở Kenya.
Chị dẫn dắt phong trào liên tục. Phong trào Green Belt Movement đã trồng được hơn 40 triệu cây trải khắp đất nước Kenya cho tới nay.
Phong trào phát triển thành Pan Africa Green Belt Network, cả châu Phi cùng trồng cây, và giúp những đất nước ở các châu lục khác trồng cây.
Khơi nguồn cảm hứng từ chị, chương trình môi trường của liên hợp quốc vận động phong trào trồng hàng tỉ cây xanh. Kế hoạch là nội trong năm 2009, trồng 7 tỉ cây xanh.
“The billion tree campaign enters a second wave
Together, let’s plant 7 billion trees by the end of 2009!”
(website của Liên Hợp Quốc)
Hành động của chị suốt hơn 30 năm được kính trọng khắp thể giới và đã đem đến cho chị thật nhiều niềm vui.
Nhận giải Nobel Hòa Bình năm 2004
Năm 2004, chị nhận giải Nobel về Hòa Bình.
Hôm nay, chúng ta cùng tìm hiểu về chị Wangari cùng phong trào Green Belt nhé.
Wangari Maathai – Cảm hứng và hành động
Chị Wangari sinh năm 1940 giữa vùng cao nguyên của Kenya, vào thời mà sự thiếu hụt hoàn toàn thức ăn rất hiểm khi xảy ra. Chị nhớ và yêu tuổi thơ chị với đất đai xanh tươi và màu mỡ, với “những mùa thật thường xuyên đến nỗi mà bạn có thể hầu như đoán chắc chắn được mùa mưa ngâu sẽ đến vào giữa tháng ba”.
Vào cuối thời thuộc địa ở Đông Phi, năm 1959, chị là một trong 300 sinh viên Kenya được chọn qua Mỹ học đại học theo học bổng của quỹ Joseph F. Kennedy. Chị học chuyên về sinh học. Chị theo học tiếp thạc sĩ về sinh học và sau đó trở lại Kenya làm nghiên cứu ở trường đại học Naibori.
Năm 1971, chị là người Đông Phi đầu tiên nhận bằng tiến sĩ ở đại học Naibori ở Kenya.
Ngoài làm công việc nghiên cứu, chị làm tình nguyện cho các tổ chức dân sự vào đầu những năm 1970s ở Kenya – Hội chữ thập đỏ Kenya, Chủ tịch của Environment Liaison Centre và mở rộng sự liên kết giữa các tổ chức dân sự với các chương trình của liên hợp quốc, Hội đồng quốc gia về phụ nữ ở Kenya.
Qua nhiều vị trí làm tình nguyện như vậy, chị Wangari hiểu rằng cội rễ của hầu hết các vấn đề ở Kenya là do suy thoái về môi trường. Chị hiểu rằng các chính phủ nước ngoài và chính phủ Kenya rất hư hỏng, họ khai thác kinh tế bừa bãi chẳng quan tâm đến nhu cầu của người dân, cũng như vấn đề về tăng dân số. Một chút cảm xúc cá nhân, chị nhận thấy những mùa mưa ngâu trong tuổi thơ yêu dấu của chị không còn đều như trước.
Năm 1977, chị giới thiệu với Hội phụ nữ Kenya về ý tưởng cộng đồng trồng cây.
Tiền để cho sứ mệnh chị đưa ra rất đơn giản: ở Kenya và ngay cả nhiều nước trên thế giới ngày nay, đất đai bị xói mòn bởi sự phá hủy rừng. Ít đất đai có nghĩa là vụ mùa nghèo nàn hơn. Nghèo nàn hơn dẫn đến đói nghèo. Đói nghèo dẫn đến bất ổn về chính trị và bạo loạn. Hơn nữa, những khí thải carbon từ những nhà máy công nghiệp tạo ra ô nhiễm môi trường. Trong cả hai trường hợp, Green là câu trả lời. Trồng cây để hấp thụ khí thải carbon và chống xói mòn đất.
Đầu ra của phong trào trồng cây sẽ rất có lợi? Tại sao? Chữa lành cho môi trường và tạo việc làm cho người dân – những người phụ nữ. Ở hầu hết khắp châu Phi, đàn ông nắm giữ của cải và phụ nữ trông nom gia đình và trồng trọt. Và phụ nữ cũng là người gánh chịu hậu quả đầu tiên vì các vấn đề về môi trường. Tạo việc làm cho những người phụ nữ cho họ có thu nhập tốt hơn, giúp gia đình và chữa lành cho quê hương.
Thật là một ý tưởng đơn giản và mạnh mẽ!
Green Belt có những ngày tháng khó khăn. Bởi lẽ, đối với những người nghèo, họ đã tin rằng bởi họ nghèo, họ không chỉ thiếu tư bản, mà cả kiến thức và kỹ năng để đối mặt với những thử thách của họ. Những người nghèo đã quá quen với suy nghĩ rằng giải pháp cho những vấn đề của họ phải đến từ “bên ngoài”. Họ không thế thấy được những vấn đề vĩ mô.
Để hỗ trợ cộng đồng hiểu được những liên hệ, Green Belt đã tạo ra chương trình giáo dục người dân, trong đó, người dân nhận ra vấn đề của họ, các nguyên nhân, và những giải pháp có thể. Sau đó, họ liên kết những hành động của cá nhân họ với những vấn đề họ thấy được ở môi trường và xã hội.
Trong quá trình đó, những người tham gia khám phá ra rằng họ phải ra một phần của giải pháp. Họ nhận ra năng lực của mình. Họ nhận ra năng lực chưa khai phá của họ và được tiếp năng lực để vượt qua sự ì ạch và hành động. Họ nhận ra rằng họ chính là những người làm vườn và người hưởng lợi từ chính môi trường nuôi dưỡng họ.
Tất cả những cộng đồng nhỏ như nhà thờ, trường học, khu chợ, bộ lạc đã nhận ra rằng, trong khi thật cần thiết để bắt chính phủ của họ có trách nhiệm, điều cũng thật quan trọng, mà còn quan trọng hơn trong đất nước Kenya nghèo đói là, trong quan hệ của những người dân bình thường với nhau, họ làm gương bằng những giá trị lãnh đạo mà họ mong muốn thấy ở chính những người lãnh đạo của họ, có nghĩa là công lý, trung thực và đáng tin tưởng.
Mặc dù lúc đầu hoạt đồng trồng cây không nói gì đến vấn đề dân chủ và hòa bình, rất sớm sau đó, câu chuyện rõ như dưới ánh sáng mặt trời là việc quản lý môi trường có trách nhiệm không thể xảy ra được nếu không có “không gian mang tính dân chủ”. Do đó, cây xanh trở thành một biểu tượng của sự tranh đấu cho dân chủ ở Kenya. Những người dân bình thường được huy động để thách thức sự lạm dụng quyền lực, tham nhũng và quản lý môi trường cẩu thả.
Qua phong trào Green Belt, hàng ngàn người dân hàng ngày cầy ruộng lên nương được huy động và tiếp năng lượng để hành động và tác động tới thay đổi. Họ đã học được cách vượt qua nỗi sợ hãi và cảm giác tuyệt vọng và hành động để bảo vệ quyền lợi của họ.
Có những ngày tháng khó khăn, khi chị Wangari bị bắt, bỏ tù và đánh đập khi phong trào trồng cây từ người dân cày của chị chạm vào sự tham nhũng và lạm dụng quyền lực của chính phủ. Nhưng, cám ơn Chúa, chị vượt qua tất cả.
Theo thời gian, cây xanh đã trở thành biểu tượng của hòa bình và giải quyết mâu thuẫn, đặc biệt là mâu thuẫn sắc tộc ở Kenya, khi phong trào Green Betl dùng “cây xanh hòa bình” để giải quyết mâu thuẫn giữa các cộng đồng. Trong suốt quá trình viết lại hiến pháp Kenya, những “cây xanh hòa bình’ tương tự cũng được trồng khắp các vùng của đất nước để phát triển văn hóa hòa bình. Dùng cây xanh để giữ hòa bình cũng là tập tục lâu đời của Châu Phi.
Vào năm 2002, sự can đảm, kiên tâm, kiên nhẫn và cam kết cao của những thành viên của phong trào Green Belt, và những tổ chức dân sự khác, và công chúng Kenya đã đem đến cuối cùng sự chuyển tiếp hòa bình của đất nước Kenya thành một đất nước dân chủ trong thực tế, và tạo ra nền tảng cho một xã hội ổn định.
Chị được bầu vào quốc hội của Kenya và hiện nay chị phục vụ ở vị trí phó bộ trưởng về môi trường, tài nguyên thiên nhiên và cuộc sống hoang dã.
Trong hơn 30 năm phong trào Green Belt hoạt động, những hoạt động tàn phá môi trường vẫn tiếp tục không ngưng nghỉ.
Chị Wangari, nhóm Green Belt và những nhà môi trường kêu gọi, rằng nhân loại cần chuyển đổi lối tư duy, dừng lại việc đe họa hệ thống duy trì sự sống của hành tinh này. Chúng ta được kêu gọi, để giúp Mẹ Đất chữa lành vết thương của mẹ, và trong quá trình đó, chữa lành vết thương của chính chúng ta – thật ra là vậy, để ôm lấy tạo vật trong toàn bộ sự đa dạng, vẻ đẹp và kỳ diệu của nó.
Điều này sẽ xảy ra nếu chúng ta nhìn thấy sự cần thiết để làm sống lại cảm giác thuộc về của chúng ta về một gia đình lớn hơn.
Hội đồng Nobel ở Na Uy đã thách thức thế giới mở rộng hơn sự hiểu biết về Hòa bình: chẳng thể có hòa bình nếu không có phát triển đồng đều, và chẳng thế có phát triển mà không có sự quản lý bền vững về môi trường trong một không gian dân chủ và hòa bình. Suy thay đổi tư duy này là một ý tưởng mà thời gian của nó đến rồi đó. Chị Wangari chia sẻ như vậy ở Hội đồng giải Nobel.
Những năm gần đây, chị đi khắp thế giới để nói chuyện chia sẻ những kinh nghiệm của chị và giúp đỡ cho phong trào hòa bình và môi trường ở các đất nước đang phát triển và phát triển.
Sẽ chẳng thể đủ để nói hết về chị Wangari, người phụ nữ của niềm cảm hứng bất tận này. Các bạn có thể tìm hiểu thêm về chị ở trang web của Green Belt Movement: http://greenbeltmovement.org/
Hay tìm kiếm tên chị “wangari maathai” qua một cỗ máy tìm kiếm Internet.
Ở đây, mình chia sẻ với các bạn cảm xúc của chị khi nhận được giải Nobel: Những cây Hy vọng
Giải Nobel đã cho tôi một cơ hội để bàn luận về những vấn đề mà tôi đã làm 30 năm qua. Tôi đã nói liên tục cho tới khi tôi khản cả giọng. Nó (giải Nobel) cũng đã cho tôi cơ hội để nói tới một khán giả rộng lớn hơn. Điều này tôi thấy thật rất tuyệt vời. Những người Kenya đã thực sự rất hạnh phúc, từ chủ tịch nước tới những người dân làng. Mọi người thực sự thực sự hạnh phúc. Tôi thấy thật khó có thể xử lý với những cảm xúc này, vậy tôi vội vã lấy một cái cây, đào một cái lỗ, và trồng nó. Tôi nghĩ quan trọng là chúng ta không cân bằng một cây xanh như là một cây xanh cho hòa bình. Điều tôi muốn mọi người hiểu là cây xanh là một biểu tượng. Rất nhiều cuộc chiến tranh chúng mà chúng ta đang tranh đấu trên hành tinh ngày hôm nay liên quan tới tài nguyên thiên nhiên. Cuộc vận động (Green Belt) cố gắng tiếp năng lực cho các cơ sở địa phương, người phụ nữ, và mọi người trong cộng đồng để làm điều gì đó với môi trường. Cây xanh đối với tôi là hy vọng, nó là tương lai. Khi tôi nhìn thấy một cây xanh, tôi nhìn thấy sự hứa hẹn. Nó bắt đầu bằng một cái hạt. Cuối cùng nó trở thành một cái cây to. Nó trở thành một hệ sinh thái trong chính nó. Nó là nhà cho những sinh vật. Nó là biểu tượng của nhiều thứ. Một cái cây là mọi thứ đối với tôi.
.
Trees of Hope
The Nobel Prize gives me an opportunity to discuss these issues that I have been working on for 30 years. I have been talking until I am hoarse. It has also given me the opportunity to speak to a large audience of people. This I find very very wonderful. Kenyans were really happy, from the president to the people in the villages. Everyone was really, really happy. I found it very difficult to deal with those emotions, so I hurried to get a tree, dug a hole, and planted it. I think it is important for us not to equate the tree as a tree to peace. What I would like people to understand [is] the tree is a symbol. A lot of wars that we are fighting on the planet today have to do with these national resources. The campaign tries to empower the grass roots, women, then every person in the community to do something about their environment. The tree for me is hope, it is the future. When I look at the tree I see promise. It starts from a seed. Eventually it becomes a huge tree. It becomes an ecosystem in itself. It is a home for other species. It is a symbol of many things. A tree is everything to me.
Lời kết
Khi chị Wangari Maathai chia sẻ những kinh nghiệm của chị ở Bảo tàng Tự Do, thành phố Chicago, Mỹ tháng Tư vừa rồi, điều kinh ngạc nhất từ khán giả không chỉ là sự cảm thông sâu sắc của những người đặt câu hỏi, mà bởi con số kinh ngạc của những câu hỏi bắt đầu với “Tôi có thể làm gì để giúp đỡ?” (What can I do to help?) và “Chị có lời khuyên nào cho một ai đó muốn thuộc về phong trào hơn” (What advice would you give someone who wants to get more involved?) – không chỉ sự đa dạng về màu da và văn hóa, mà cả độ tuổi. Những gia đình, trẻ em, người lớn tuổi – họ đều đến nghe những chia sẻ đầy cảm hứng từ chị.
Chúng ta sẽ làm gì để tiếp thêm sức cho “tinh thần xanh” ở Việt Nam?
Chúng ta sẽ làm gì để tiếp thêm sức cho Hà Nội Xanh, Nhiệt Huyết, Làm Việc Tốt và các nhóm dân sự khác?
Tất cả công việc chị Wangari Maathai làm đều bắt nguồn từ tình yêu và niềm cam kết vô hạn của chị cho sứ mệnh. Khi chị nhìn thấy bãi đất cằn khô, chị thấy một rừng cây xanh. Khi chị nhìn thấy sự chết chóc và héo tàn, chị thổi làn gió sự sống vào khoảng không. Khi chị nghe thấy âm thanh của xung đột, chị hát lên thứ âm nhạc của hòa bình.
Bạn sẽ thổi làn gió gì vào một khoảng không khô cằn?
Chủ nhật tuần vừa rồi, ngày 6/9/2009 mình có dịp được đến thăm vùng Gettysburg ở tiểu bang Pennsylvania, Mỹ. Mình đến thăm nghĩa trang tưởng niệm cuộc nội chiến của Mỹ và lịch sử của thị trấn Gettysburg, nơi tổng thống Abraham Lincoln đọc bản diễn văn lịch sử Gettysburg Address. Đọt Chuối Non cũng đã đăng bản diễn văn Gettysburg. Mình post lại bài diễn văn đó cuối phần mình viết ở đây.
Hôm nay mình muốn giới thiệu với các bạn bài hát “The Night They Drove Old Dixie Down” (“Đêm Họ Cán Bẹp Dixie Xa Cũ”) – bài hát nói về những ngày cuối cùng của trận nội chiến Nam – Bắc, hậu quả và tình cảm sau cuộc chiến tranh. Dixie là tên cúng cơm của phần đất miền nam, các tiểu bang miền Nam nước Mỹ, thất trận trong cuộc chiến. Bài hát được tạp chí Rolling Stone bình là “bài hát đem đến một cảm giác con người tràn ngập về lịch sử” vào tháng 10 năm 1969. Báo nhạc Rolling Stone xếp bài hát này hạng 249 trong 500 Bài hát hay nhất trong mọi thời đại.
Tổng thống Lincoln tại Gettysburg
Bài hát được sáng tác bởi nhạc sĩ người Canada Robbie Robertson và được thu âm bản đầu tiên bởi “The Band” năm 1969. Sau đó Joan Baez hát bài hát này và đó là bản thu âm thành công nhất tới nay, đạt tới thứ hạng 3 trong bảng xếp hạng Billboard Hot 100 ở Mỹ năm 1971.
Bài hát hát về một người lính quân phía Nam tên là Virgil Caine phục vụ trên chuyến tàu Danvill bảo vệ thủ phủ miền nam ở Richmond, Virginia và gặp sức tấn công của quân ở phía bắc lãnh đạo bởi tướng Robert E. Lee.
Miền Nam bị thua. Và người miền Nam nước Mỹ đau buồn và có những phản ứng lẫn lộn vì lý tưởng khác với miền Bắc. Ở miền Bắc, Lincoln không chấp nhận một quốc gia “nửa nô lệ, nửa tự do” và miền Nam chấp nhận điều đó.
Chiến tranh để lại bao hậu quả thật nặng nề. Ở Gettysburg hậu quả là nặng nề nhất vì trận chiến đấu ác liệt nhất đã diễn ra ở đó. Gettysburg được coi là bước ngoặt của cuộc chiến tranh, diễn ra từ mùng 1 tới mùng 3 tháng 7 năm 1963, nơi 160,000 lính Mỹ đánh nhau trên một thị trấn gồm 2,400 dân thường.
Luật sư 32 tuổi David Wills ở Gettysburg lúc đó đã chứng kiến tất cả những tang thương của cuộc chiến tranh. Một tấm biển trong ngôi nhà tưởng niệm David Wills có dòng chữ:
“Sau cuộc chiến, Gettysburg trở thành một bệnh viện và nhà xác khổng lồ: những người lính chết và bị thương vượt quá số dân thường 11 lần”.
Ngay sau cuộc chiến ở Gettysburg, David Wills đã đề nghị ý tưởng về khu đất làm Nghĩa trang tưởng niệm Tử sĩ chiến tranh cho thống đốc của bang Pennsylvania lúc đó là Andrew Gregg Curtin.
Nhà của luật sư David Wills
Ông Wills sau đó đã được ủy quyền để mua khu đất làm nghĩa trang bằng tiền của chính quyền liên bang.
David Wills đã thiết kế ra buổi lễ để tôn vinh những người chiến sĩ Mỹ trong cuộc nội chiến. Tổng thống Abraham Lincoln, theo lời mời, đã tới làm khách ở nhà ông Wills một buổi tối, nơi Lincoln hoàn thành phiên bản cuối cùng của bản diễn văn Gettysburg, hôm 18/11/1863, hôm trước của buổi lễ Gettysburg vào 19/11/1863.
David Wills dàn dựng buổi lễ với 2 tiếng diễn văn dành cho thượng nghị sĩ Edward Everett phát biểu và sau đó khoảng mấy phút để tổng thống Lincoln “nói vài lời” (“few appropriate remarks”).
Ai ngờ đâu, bài phát biển 10-câu 2-phút Gettysburg Address của Lincoln ngay lập tức đi sâu vào lịch sử và nói lên tất cả tinh thần của cuộc chiến và khát vọng của người dân Mỹ cũng như mọi dân tộc trên thế giới.
Sau đây là bài Diễn văn Gettysburg Address của tổng thống Lincoln.
Tiếp theo sau là lời bài ca “The Night They Drove Old Dixie Down”, song ngữ Anh trước Việt sau. Trong bản dịch có thêm vài lời giải thich [để trong ngoặc như thế này].
Và sau đó là 2 videos: Video đầu là Joan Baez trình bày bản nhạc, video thứ hai do ban nhạc The Band trình bày.
Diễn văn Gettysburg của Tổng thống Lincoln
Gettysburg, Pennsylvania
Tháng 11, ngày 19, năm 1863
Tám mươi bẩy năm về trước, cha ông chúng ta đem đến trên lục địa này, một quốc gia mới, thai nghén trong Tự Do, và dâng hiến cho nguyên ly’ rằng mọi người được sinh ra bình đẳng.
Bây giờ chúng ta đang ở trong một cuộc nội chiến lớn, thử nghiệm xem quốc gia đó, hay bất kỳ quốc gia nào khác, thai nghén như vậy và dâng hiến như vậy, có thể tồn tại lâu dài. Chúng ta gặp nhau trên một bãi chiến trường lớn của cuộc chiến tranh đó. Chúng ta đã đến để hiến dâng một phần của bãi chiến trường này làm nơi an nghỉ cuối cùng cho những người hy sinh đời mình ở đây để tổ quốc có thể sống. Thật là thích hợp và thỏa đáng để chúng ta làm thế.
Nhưng, ở một ý nghĩa rộng lớn hơn, chúng ta không thể dâng hiến – chúng ta không thể thánh hóa – chúng ta không thể linh thiêng hóa – bãi đất này. Những người anh dũng, đang sống cũng như đã chết, những người đã đấu tranh ở đây, đã thánh hóa mảnh đất này, cao xa hơn năng lực yếu kém của chúng ta có thể thêm hay bớt điều gì. Thế giới không để y’, và không nhớ được lâu điều chúng ta nói ở đây, nhưng thế giới không bao giờ quên được điều các anh hùng đã làm ở đây. Chúng ta, những người còn đang sống, nên được dâng hiến ở đây cho công việc còn dang dở mà những người liệt sĩ nơi đây đã oanh liệt tiến đẩy cho đến mức này. Chúng ta nên được dâng hiến ở đây cho nhiệm vụ to lớn còn lại trước chúng ta – từ tay những anh hùng liệt sĩ, chúng ta chấp nhận hiến thân nhiều hơn cho sự nghiệp họ đã hiến thân, đến mức thành tâm tối hậu– chúng ta quyết tâm không để những người chết ở đây chết đi vô ích – quốc gia này, trong Chúa, sẽ tái sinh trong tự do—và chính phú của dân, do dân và vì dân sẽ không biến mất trên trái đất này.
.
The Night They Drove Old Dixie Down
Lyrics: Robbie Robertson
Music: Robbie Robertson
Virgil Caine is the name and I served on the Danville train
‘Til Stoneman’s cavalry came and tore up the tracks again
In the winter of sixty-five
We were hungry just barely alive
By May tenth Richmond had fell
It was a time I remember oh so well
Chorus:
The night they drove old Dixie down
And the bells were ringing
The night they drove old Dixie down
And the people were singing, they went
La la la la la la, la la la la la la la la, la
Like my father before me I will work the land
And like my brother above me who took a rebel stand
He was just eighteen, proud and brave
When a Yankee laid him in his grave
I swear by the mud below my feet
You can’t raise a Cain back up when he’s in defeat
[chorus]
Back with my wife in Tennessee when one day she called to me
Virgil, quick come see, there goes Robert E Lee
Now I don’t mind choppin’ wood
And I don’t care if the money’s no good
You take what you need and you keep the rest
But they should never have taken the very best
[chorus]
.
Đêm họ cán bẹp Dixie xưa cũ
Virgil Caine là tên tôi và tôi phục vụ trong tuyến xe lửa Danville
Đến khi kỵ binh của đám Người Thời Đồ Đá đến và phá hủy đường sắt lần nữa.
Mùa đông 65 [1865]
Chúng tôi đói và sống rất mong manh
Đến 10 tháng 5 thì Richmond [thủ phủ của Nam quân]đã mất
Đó là thời gian tôi nhớ rất rõ
Điệp khúc:
Đêm họ cán bẹp Dixie [miền Nam] xưa cũ
Chuông kêu vang lừng
Đêm họ cán bẹp Dixie xưa cũ
Và mọi người ca hát, họ ca
La la la la la la, la la la la la la la la, la
Như ba tôi trước tôi, tôi sẽ cày bừa
Và như anh tôi trên tôi đã thành phiến loạn
Anh chỉ 18, hào hùng và can đảm
Khi Bắc quân bỏ anh vào mộ
Tôi thề trên vũng bùn dưới chân tôi
Bạn không thể làm người họ Caine đứng dậy khi đã thất trận
[Điệp khúc]
Trở về với vợ ở Tennessee, một ngày nọ nàng gọi tôi
Virgil, nhanh lên ra xem, [tướng] Robert E. Lee [của Bắc quân] đó
Tôi không ngại chặt củi
Và tôi không quan tâm nếu không có đủ tiền
Bạn lấy bao nhiêu bạn cần và để lại phần kia
Nhưng họ đã không nên lấy hết những gì tinh túy nhất
Con gửi cho Chúa buổi tối này.
Hãy gửi thiên thần tới quanh căn nhà của con,
chiếc giường của con,
con cái của con,
tình yêu của con,
và tất cả mọi người.
Hãy gửi thiên thần đi khắp thế giới tối hôm nay,
để chữa lành người ốm
và thức tỉnh người chết.
Hãy để phép lạ
thay thế cho đau đớn
trong tất cả chúng con.
Hãy đặt tay Chúa lên mắt của chúng con,
để cuối cùng
chúng con có thể nhìn thấy.
AMEN.
.
Dear God,
I give to you this night.
Post angles round my home,
my bed,
my children,
my loves,
and everyone.
Send angles through the world tonight,
to heal the sick
and awaken the dead.
Let miracles
replace the pain
in all of us.
Lay your hands on our eyes,
that we might see
at last
AMEN.
Hôm nay mình rất vui giới thiệu với các bạn bài viết “Đi xe đạp, tại sao không?” của anh Ngô Xuân Trường.
Anh Trường hiện nay đang học sau đại học tại trường đại học Leipzig, cộng hòa liên bang Đức.
Đồng thời, anh là người sáng lập và quản lý của nhóm Hà Nội Xanh – “Hành động vì môi trường Hà Nội” nhằm kêu gọi và xắn tay áo thực hiện các hành động cụ thể để làm Hà Nội xanh, sạch, đẹp trước sức ép của phát triển và sự vô ý thức của người dân.
Nhóm Hà Nội Xanh mới thành lập nên cần rất nhiều sự giúp đỡ, chúng ta hãy giang tay, làm những gì có thể, vì môi trường chung cùng Hà Nội Xanh.
Chúc các bạn một ngày ý thức môi trường,
Hiển.
.
Đi xe đạp, tại sao không?
Tại nơi tôi sống, cũng như tại rất nhiều thành phố khác ở châu Âu, xe đạp là phương tiện đi lại chính của sinh viên, học sinh và thanh niên nói chung. Nhân viên công sở cũng hay đạp xe đi làm nếu như chỗ làm cách nơi ở không quá xa. Hầu như ai cũng có ô tô, nhưng tranh thủ đi xe đạp được lúc nào, họ sẽ đi lúc ấy. Ở nhiều thành phố, người ta vạch riêng một con đường cho xe đạp, bên cạnh làn đường dành cho ô tô và người đi bộ.
Tôi nhớ có một lần chúng tôi than vãn về chuyện giữa hai tiết học nghỉ có 30 phút mà phải di chuyển từ một giảng đường nọ sang giảng đường kia cách nhau 3,4 km. Ông giáo sư cười haha, nói “Già như tôi mà vẫn có thể đạp xe chéo thành phố trong 30 phút, anh chị đừng có kêu!”. Quả thực là các thầy cô dạy tôi đa số đều đạp xe hoặc đi bộ đi làm, mặc dù thu nhập của họ rất cao.
Ở đây khi bạn đạp xe ngoài đường, chẳng ai coi bạn là nghèo. Bản thân những người đạp xe ra đường đều rất thích thú và tự hào với việc họ làm. Họ đã ngồi trong công sở kín bưng cả ngày trời, sau đó lại phải chui vào trong cái hộp thiếc di động nữa thì thật là tội nghiệp. Nhất là những hôm trời đẹp, từng đoàn từng đoàn người nối đuôi nhau qua các con phố.
Các thành phố của VN thực ra không lớn, vì người người sống chen chúc nhau. Tôi tin rằng nếu như có đường riêng cho xe đạp (và người ta chịu đạp xe) thì tốc độ di chuyển có lẽ không thua gì xe máy, nếu không muốn nói là hơn. Đạp xe thì không có gì lợi bằng, vừa khỏe, vừa rẻ, vừa tiết kiệm xăng, vừa giảm khói bụi cho thành phố, đỡ phải nhập khẩu xe cộ, xăng dầu, giảm thâm hụt thương mại vv
Cứ thử tưởng tượng người ta bỏ hết xe máy và ô tô trong nội đô, chuyển sang dùng xe đạp và tàu điện, chúng ta sẽ có một thành phố trong veo.
Tôi nghĩ ở phương Tây toàn đi ô tô xịn mà họ còn bỏ để đi xe đạp được, thì vứt cái xe máy còm ở nhà để đạp xe ra đường thì có gì khó khăn đâu nhỉ?