TP – Gần 100 đoàn viên thanh niên tử nạn. Họ hy sinh với vẹn nguyên tinh thần tình nguyện, với khí thế “đâu khó có thanh niên”. Và hơn 1/3 thế kỷ qua, nỗi đau còn đó.
Nhưng dường như sự hy sinh của những đoàn viên thanh niên hừng hực sức trẻ bị lãng quên…? Còn lại chăng là đau đáu nỗi đau của những người thân vọng về một niềm an ủi tinh thần xa thẳm…?
Bài 1: Đại tang trên công trường thủy lợi
12 giờ 5 phút, ngày 3/1/1978 (tức ngày 24/12 năm Đinh Ty). Một tiếng nổ lớn vang lên trên công trường thủy lợi cống Hiệp Hòa. Trong giây lát khoảng hơn 100 đoàn viên thanh niên bị đất đá vùi lấp. Tai nạn khủng khiếp chưa từng có đã làm rúng động cả tỉnh Nghệ Tĩnh lúc bấy giờ.

Khí thế lao động tập thể trên công trình thủy lợi Hiệp Hòa ngày ấy Ảnh tư liệu.
35 năm đã qua, sau thảm họa ấy, ai còn, ai mất, ai nhớ, ai quên? Tôi về nơi 98 đoàn viên thanh niên đã hy sinh, gặp gỡ nhiều nhân chứng, lật lại tài liệu để rồi bàng hoàng nhận thấy sự kiện sập cống Hiệp Hòa còn rất nhiều câu chuyện không thể bị khuất lấp, còn nỗi đau và những hy sinh không thể bị lãng quên…
Công trường rộn tiếng ca
Ông Phan Văn Hợi – nguyên Bí thư Huyện Đoàn Thanh Chương- Tổng đội trưởng Tổng đội Thanh niên tình nguyện xây dựng quê hương huyện Thanh Chương (gọi tắt là Tổng đội Thanh Chương) kể cho tôi nghe về vụ sập cống Hiệp Hòa với một trí nhớ như thể sự kiện này vừa mới xảy ra hôm qua.
“Ngày đó, đất nước vừa thống nhất được 3 năm, tỉnh Nghệ Tĩnh chủ trương chuyển khí thế 3 sẵn sàng thời chiến sang phong trào xây dựng XHCN trên quê hương. Tỉnh huy động lực lượng đoàn viên, thanh niên tình nguyện đào đắp kênh mương, hoàn chỉnh hệ thống thủy nông.
Ngày 26/6/1976 Tổng đội Thanh Chương ra đời với khoảng 2.200 đoàn viên thanh niên (còn gọi là lực lượng 202). Những thanh niên ấy với “đôi gióng bata và chiếc sọt đi cùng năm tháng” đã làm nên những công trình thủy lợi rất lớn như hồ Kẻ Gỗ, Vách Bắc…Sau khi hoàn thành một số công trình, Tổng đội Thanh Chương được điều lên huyện Đô Lương, tham gia cải tạo cống Hiệp Hòa”.
|
Cống Hiệp Hòa – nằm trên hệ thống nông giang dẫn nước từ Bara Đô Lương tưới tiêu cho những cánh đồng các huyện Đô Lương, Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu. Nếu không có hệ thống kênh đào dẫn nước từ sông Lam này, thì dải đất ven biển Diễn – Yên- Quỳnh (vựa lúa của Nghệ Tĩnh) sẽ trở nên khô cằn, nhiễm mặn, khó có thể canh tác được.
Cống Hiệp Hòa được xây dựng từ thời Pháp, nhưng trải qua thời gian bị lắng cặn và chiến tranh tàn phá, lưu lượng nước qua đây không đủ để tưới tiêu cho Diễn – Yên – Quỳnh nên phải mở rộng cống.
Lúc bấy giờ cống có 3 ống dài 50m được san phẳng phía trên để qua lại. Đoàn viên, thanh niên tình nguyện sẽ phải moi, nạo vét cống cũ, chỗ sâu nhất, để làm cống mới. Khoảng cách từ đáy cống lên mép trên chênh nhau tới 80 mét, nhìn cứ sâu hun hút. Một khối lượng đất mướn khổng lồ được đào và chuyển lên trên bằng thang và hệ thống dây kéo.
Từ xa nhìn lại, người ở công trường đông như kiến cỏ. Những chàng trai, cô gái đang độ tuổi mười tám đôi mươi hăng say lao động với hào khí: “Mo cơm quả cà, với tấm lòng người cộng sản, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội”.
Năm tháng ấy, Nghệ Tĩnh – quê hương của khẩu khí: “Thay trời đổi đất, sắp xếp lại giang sơn” sống những ngày hừng hực khí thế lao động tập thể. Đoàn viên thanh niên đến với công trình thủy lợi cống Hiệp Hòa từ khắp miền quê xứ Nghệ, bằng sức trẻ và lửa nhiệt tình. Họ tình nguyện tới nơi phải lao động nặng nhọc, nguy hiểm, ăn uống kham khổ và không màng được trả công điểm gì.
Tinh thần ấy đã phả vào trong bài hát: “Trên công trường rộn tiếng ca” trong đó có những câu: “Đôi bồ câu đang bay về hướng, anh và em đi ra nơi công trường. Gió lộng trời xanh chim hót hoa đưa hương, Với cả tình ta nâng bước ta lên đường”. Ngày ấy công trường cống Hiệp Hòa “rộn tiếng ca”. Cho đến 12 giờ 5 phút, ngày 3/1/1978…
Cạn khô nước mắt
Nhắc tới ngày này, ông Phan Văn Hợi nói vết thương lòng ông mãi đau nhức không thể nào liền sẹo. “Công trường nằm giữa hai bên núi, đào xuống lớp bề mặt toàn đá, nhưng khi xuống sâu thì địa chất xấu, đất lỏng. Tôi đi khảo sát thấy đất ở các cọc lở xuống, cống có thể bị sập. Tôi bảo phải thổi còi để ngừng làm việc và anh chị em phải ra khỏi cống ngay. Chưa kịp thổi còi thì một tiếng “rầm”, mặt đất rung chuyển. Một khối lượng đất đá khổng lồ từ núi đổ ụp xuống.
![]() |
| Bà Đặng Thị Cầm, ông Phan Văn Hợi, ông Đinh Văn Miên, bùi ngùi kể lại thảm họa sập cống Hiệp Hòa. |
Tiếng kêu cứu, tiếng người chạy, tiếng la hét xen trong tiếng khóc xé lòng. Cả công trường chỉ có một chiếc điện thoại. Hỗn loạn. Một tiếng sau ông Phan Văn Hợi mới gọi được điện báo tin cho UBND huyện Thanh Chương…?Lãnh đạo tỉnh Nghệ Tĩnh biết tin sớm hơn. Chủ tịch tỉnh Trương Kiện cùng nhiều cán bộ chủ chốt lập tức lên đường tới hiện trường. Lực lượng quân đội, công an được điều động khẩn cấp tới cống Hiệp Hòa cứu hộ. Nhưng đi tới nơi cũng phải mất cả giờ đồng hồ trong khi những người đang bị vùi lấp dưới đống đất đá chỉ có vài phút để tìm sự sống.
Trong bóng tối nhá nhem của chiều tà, ông Đinh Văn Miên, xã Cát Văn, huyện Thanh Chương – nguyên y tá phụ trách Tổng đội 202 không nén nổi cảm xúc khi nhớ về thời khắc kinh hoàng ấy: “Lúc ấy cả công trường nghỉ thay ca và ăn trưa. Cống sập nghe như tiếng bom. Tôi đang đứng trên cầu thấy cả 14 chiếc thang bắc từ dưới cống lên đều bị lấp. Có thang 7 người chết cùng một chỗ. Chúng tôi lao vào cứu hộ.
Nhiều người bị đất đá lấp kín đầu, chết vẫn đang trong tư thế quang gánh trên vai. Một số thanh niên bị đất ngập ngang ngực, ngang cổ nhưng đã chết ngạt. Đưa lên không cấp cứu được nữa.
Chúng tôi moi đất đá để cứu hộ từ 12h30 đến 20 giờ 30 vẫn chưa hết xác chết. Khi mang xác lên phải kiểm tra xem trong túi áo quần và trên cơ thể của người chết có gì không để thống kê và bảo vệ. Chỉ có hai cô gái đeo hoa tai vàng. Nhiều người mặt mũi biến dạng, thâm tím rất khó nhận ra. Một số hấp hối rồi cũng qua đời”.
| Rốt cuộc, những người mất tích đã tìm được xác. Số người chết trong vụ sập cống Hiệp Hòa khiến cả tỉnh Nghệ Tĩnh nhức buốt: 98 người. Trong số đó hầu hết là đoàn viên thanh niên đang tuổi mười tám đôi mươi. Một số vừa nhận giấy báo trúng tuyển đại học. Một số sắp làm đám cưới. |
Bà Đặng Thị Cầm ở xã Cát Văn- đội viên phụ trách nấu cơm cho công trường- ngày ấy mới 18 tuổi, giờ đây đã ngoài năm mươi – nhưng vẫn nhớ như in cảnh tượng hôm đấy: “Tôi gánh cơm ra công trường cho anh chị em ăn trưa. Gọi là cơm trưa mà chỉ có những nắm mì bột, không xốp, thấp nước lạnh luộc trôi, chúng tôi gọi là “chuông xe đạp”.
Một số người ngồi ăn ngay dưới lòng cống. Nhiều người vẫn chưa chịu dừng tay, tiếp tục làm. Cống sập. Khi đưa thi thể lên, một số vẫn còn chưa nuốt hết miếng bánh mì trong miệng. Đau quá, thương thắt ruột”, bà Cầm khóc nức nở.
Hôm ấy, bà Đặng Thị Cầm đã dùng tấm ván cốp pha để xác lên để gánh. Tấm ván nhỏ so với thi thể nên nhiều khi gánh được một đoạn thi thể bị rơi xuống. Bà Cầm lại đưa xác lên ván rồi gánh tiếp.
Chính quyền và quân đội đã huy động hai chiếc xe thùng chở cồn và nước ra hiện trường để tắm rửa khâm liệm cho các nạn nhân. Không gian ngập mùi cồn xen lẫn mùi nước lá thơm. Bà Cầm tự tay tắm rửa cho những người xấu số. Hơn 80 thi thể được đặt thành bãi dọc hai bên bờ sông… ?
Hồi đó không có bán sẵn quan tài. Thợ mộc ở địa phương được huy động đến cấp tốc đóng quan tài. Mỗi người sau khi khâm liệm, mặc một bộ đồ bảo hộ lao động mới và đưa vào quan tài cùng mảnh giấy ghi tên tuổi quê quán. Dân Đô Lương ào tới, dân Thanh Chương kéo sang. Một số gào khóc lật ván quan tài để tìm người thân. Lực lượng bảo vệ phải ngăn dân tiến vào hiện trường để công tác cứu hộ được thuận lợi.
Trong số 94 thanh niên tử nạn của huyện Thanh Chương, xã Cát Văn thiệt hại nặng nhất: 37 người chết. Hôm ấy, bà Giản Thị Lưu, xã Cát Văn đang ở nhà thì nghe tiếng “rầm” vọng tới. Linh cảm người mẹ mách bảo cống Hiệp Hòa có chuyện. Con gái bà- chị Nguyễn Thị Huệ đang lao động bên đó. Rồi mọi ngả đường của xã Cát Văn nhao nhắc, tiếng khóc như ri. Bà Lưu khóc từ đầu nhà tới cuối nhà. Cậu học trò cấp 3 Nguyễn Đức Kiếm đã trèo lên xe ben để sang hiện trường xem có chị gái Nguyễn Thị Huệ có còn sống. Kiếm sang đến nơi thấy bạt ngàn nón lá, khăn mùi xoa và dép.
Chị Huệ được cứu thoát dù đất đã lấp tới gần thắt lưng. Nhưng hàng xóm của Huệ, chị Nguyễn Thị Thanh lại không có được may mắn đó. Cả xã Cát Văn trùm lên không khí tang tóc. Rú Đụn của xã sau một đêm đã có 37 ngôi mộ mang vòng hoa trắng.
Công tác cứu hộ vẫn tiếp tục. Tiểu đoàn 1 công binh của Tỉnh đội Nghệ Tĩnh, tiểu đoàn 25 trung đoàn 414 trực thuộc quân khu 4 được điều tới. Ngày thứ hai, ngày thứ ba, một số người mất tích vẫn chưa được tìm thấy. Cho đến bây giờ, nhiều người vẫn nhớ câu chuyện một chiếc nón lá cứ bay đi bay lại gần cống Hiệp Hòa, rồi luẩn quẩn mãi một vị trí. Có mách bảo chăng? Đội cứu hộ đào xuống vị trí chiếc nón và tìm thấy thi thể của cô gái Nguyễn Thị Tài.
Ngày ấy, trong tang tóc, có một nhà báo đã lặng đi khi người yêu của mình bị vùi dưới cống. Nhà báo ấy nay tóc đã hoa râm, nhưng vẫn nguyên vẹn thương đau khi kể cho tôi nghe chuyện tình bi tráng của mình ….
(Còn nữa)
Phùng Nguyên
Bài 2: Cứu hộ bằng những bàn tay trần tứa máu
TP – Chuyện tình đẹp giũa nhà báo trẻ và cô gái 18 tuổi thẫm đấm nước mắt khi cô gái bị chôn vùi dưới cống Hiệp Hòa. Sau 35 năm trôi qua, nhà báo ấy vẫn nhớ những gì xẩy ra như một thước phim quay chậm và dự định sẽ làm một bộ phim tài liệu về ngày bi hùng ấy…
| Nhà báo Trần Công Bình hồi tưởng lại chuyện tình bi tráng trên công trình thủy lợi cống Hiệp Hòa. |
Ông Trần Công Bình – Trưởng phòng Biên tập – Thông tin Điện tử- Đài phát thanh và Truyền hình Nghệ An ngày ấy hãy còn là một phóng viên trẻ của Đài phát thanh Nghệ Tĩnh được cử lên đặc trách viết bản tin cho công trường cống Hiệp Hòa. Bình phơi phới lên công trường, ngoài nhiệm vụ chung còn có niềm vui được gần người yêu.
Không hẹn mà gặp, người yêu Bình – cô gái Giản Thị Lam cùng làng ở xã Cát Văn cũng tình nguyện đến nơi này, y như lời bài hát: “Bởi chúng mình thương bao nhiêu mảnh đất cằn, mà đời không ngại đào mấy con kênh”. Tình yêu đôi trẻ ấy được nhen lên trong những đêm hẹn hò ở làng quê và lại càng nồng thắm hơn khi đến với công trường. Họ ngầm thi đua với nhau và cùng ước hẹn… Bình cứ 30 phút lại phát một bản tin trên đài phát thanh của công trường. Lam hăng say đào và gánh đất ở những nơi sâu nhất, khó khăn nhất. Gặp nhau lần nào cũng vội. Nhưng chỉ cần nhìn vào mắt nhau cũng đủ dịu lại một ngày vất vả và tiếp thêm năng lượng tình yêu” .
Thấy người yêu làm việc gian khổ quá, Bình thương, bảo: “Hay là em lên trạm xá công trường làm cho đỡ mệt?”. Lam cười: “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng cả, phần gian khó dành cho ai? Với lại em làm cùng chúng bạn vui lắm”. Cứ thế, công trường rộn tiếng ca.
Cho đến trưa ngày 3/1/1978 Bình đi thực tế, nhìn thấy lòng cống sao mong manh như vỏ trứng rỗng ruột. Bình linh tính có điều gì không hay sắp xẩy ra, dù cứ 30 phút nhà báo trẻ này lại phát một bản tin về an toàn lao động. Bản tin do ban chỉ huy công trường chuyển những thông điệp khiến tất cả yên tâm làm việc. Nhưng cống của Pháp xây từ những năm 30 khi chắn nước lại để khô ráo bên trong, bỗng trở nên ọp ẹp…
“Tôi vừa ở dưới đáy cống sâu 80m lên, chưa kịp ăn cơm bỗng nghe tiếng “rầm”. Tiếng nổ to nhưng không giòn vì có cả tiếng nước trong đó. Tôi lao đến hiện trường thấy cả núi đất đá đổ ập xuống vùi lấp hàng trăm con người đang làm việc phía dưới. Trong đó có cả Lam người yêu tôi…”.
Người đàn ông tóc muối tiêu lặng đi trong giây lát. Hình như ký ức đau đớn ngày ấy lại ùa về. Trưa ấy, Bình đã lao đến, dùng đôi bàn tay mình cào đất đá để cứu Lam và những người khác. Tay vừa cào xuống đất được vài phân có khi đã gặp mái tóc của người xấu số. Nhiều người bị lấp chỉ bởi một lớp đất mỏng tang. Vì thế không ai dám dùng cào cuốc để đào xuống mà phải dùng tay để cứu hộ… Lam còn sống không? Bình gọi thầm và dùng tay cào đất đến tóe máu mà vẫn không tìm thấy người yêu.
“Lúc ấy nếu có truyền hình trực tiếp sẽ chấn động thế giới. Những người bị lấp ngang ngực, ngang cổ kêu la thảm thiết. Nhiều xác chết được đưa lên tím tái. Tôi quên cả cơn đói, cứ dùng tay trần bới đất cứu người, tìm Lam. Lúc ấy giữa cái chung và cái riêng lẫn lộn, không thể nào phân định được”, nhà báo Trần Công Bình nhớ lại.
Người yêu trong quan tài số 7
![]() |
| Những cô gái ngày ấy đến với công trường thủy lợi theo tinh thần: “Bởi chúng mình thương bao nhiêu mảnh đất cằn, mà đời không ngại đào mấy con kênh”. (ảnh mang tính minh họa). |
Đội cứu hộ tìm thấy Lam dưới lớp đất đá, mặt úp vào chiếc nón lá. Chiếc nón lá có quai màu đỏ – Bình không bao giờ quên. Nụ cười của Lam mới đó thôi, Bình còn thấy lấp loáng dưới chiếc nón lá quai màu đỏ ấy, vậy mà vụt tắt vĩnh viễn.
Ông Sửa – bố của Lam nghe tin cống Hiệp Hòa sập đã cầm bồ cào chạy từ xã Cát Văn sang. Biết con gái đã chết, trong cơn hoảng loạn ông đòi lao vào: “Cào mặt chỉ huy công trường”. Bình đến bên ông, can ngăn: “Bác cứ bình tĩnh để họ xử lý”. Ông Sửa trân trối, chết lặng.
Nén đau thương, phóng viên trẻ Trần Công Bình đã cùng với đại diện của huyện đội và 4 đại diện của xã Cát Văn xác định nhân thân, tên tuổi của những đoàn viên thanh niên trong xã để khâm liệm cho vào quan tài. Mỗi quan tài đều được đánh số. Lam số 7. Tay Bình run lên khi ghi con số đó.
| “Nhiều người bị vùi lấp chỉ bởi một lớp đất mỏng tang. Vì thế không ai dám dùng cào cuốc để đào xuống mà phải dùng tay để cứu hộ…”Ông Trần Công Bình |
37 thi thể của những chàng trai cô gái xã Cát Văn nằm đó, hầu hết đều chưa có người yêu. Quang – cô gái đẹp nhất công trường nhưng lại có hoàn cảnh éo le: Bố mất sớm, em gái bị tật nguyền. Khi bỏ quần áo để tắm rửa khâm liệm, người con gái mười tám tuổi này đẹp như thiên thần. Đẹp đến nỗi người ta không nỡ mặc quần áo mới vào. Quang nằm đó, không hề bầm tím, xây xát, như đang ngủ say, vẻ đẹp không nhuốm màu tục lụy khiến ai nhìn cũng xót xa, rơi nước mắt. Thi thể của cô gái này được đưa vào quan tài cuối cùng.
Công trường không còn rộn tiếng ca. Loa phóng thanh loan báo chung chung có hàng trăm người thiệt mạng. Thông tin được công khai chứ không bị bưng bít như đồn thổi. Nhưng phóng viên Trần Công Bình đã về quê để vĩnh biệt người yêu.
37 chiếc quan tài được chở về kho đội xã Cát Văn lúc 3 giờ sáng. Rồi một đám tang tập thể dài cả cây số trên rú Đụn. Bình đứng ở bên này đường, nhìn sang rú Đụn, cách nhau có một đoạn mà chân không bước nổi. Hình như lúc đó anh mới có thể khóc.
Nhà báo Trần Công Bình tâm sự: “Cái chết của người yêu trở thành một bước ngoặt trong cuộc đời tôi. Nếu Lam không chết, chắc chắn chúng tôi sẽ làm đám cưới. Nhưng Lam mất đi, tôi đau buồn khôn nguôi, nhưng vẫn làm việc cho đến khi tòa án xử người chịu trách nhiệm về vụ sập cống Hiệp Hòa. Năm 1979 tôi đi học Đại học ở Hà Nội. Sau cái chết của Lam, gia đình Lam cũng suy sụp.
Bố Lam vốn là bộ đội đặc công nhưng đã kiệt quệ cả sức khỏe và tinh thần vì sự ra đi đột ngột của con gái yêu. Ông vốn đã hơi lãng tai, nhưng sau cái chết Lam, ông điếc hẳn. Dường như tiếng nổ kinh hoàng khi cống Hiệp Hòa sập luôn dội vào tâm khảm ông, liền theo tin đau xót ấy, người chiến sỹ đặc công đã mất đi thính giác. Người con trai của ông là thương binh nhưng cũng chật vật làm chế độ, khiến hoàn cảnh gia đình càng thêm bi đát. Sau vụ sập cống anh Bình vẫn thường về thăm gia đình Lam, nhiều lúc đứng lặng nhìn ảnh người yêu trên bàn thờ. Lam mãi mãi tuổi 18.
Từ đó đến nay, ông Bình chưa một lần đủ can đảm quay lại nơi công trường ngày ấy. Đi rất nhiều, nhưng ông sợ chạm phải vùng đất ấy, bởi nó chạm phải nỗi đau không thể nguôi ngoai. Nhưng khi tuổi đã xế chiều và vụ thảm họa cống Hiệp Hòa đang dần chìm vào quên lãng, nhà báo Trần Công Bình đang dự định sẽ làm một phóng sự tài liệu về sự kiện lịch sử này. Tôi nghĩ chắc phóng sự tài liệu ấy sẽ có bài hát “Công trường rộn tiếng ca” và chi tiết chiếc nón lá quai đỏ.
Những người thoát chết hy hữu
Bên cạnh những người xấu số, còn đó những thanh niên may mắn thoát chết hy hữu trong tai nạn kinh hoàng này. Ông Đặng Anh Dũng – Phó Bí thư thường trực huyện ủy huyện Thanh Chương nhớ lại: “Em gái tôi bị vùi cả tiếng đồng hồ. May mắn thay những người dân, chủ nhà trọ, khi nghe tin dữ, họ ra cứu hộ. Em tôi ngất lịm, sau đó được đưa về bệnh viện Đô Lương điều trị trong hai tuần, được bồi dưỡng một cân đường, hai hộp sữa. Bình phục, nó về học Cao đẳng Sư phạm… dăm năm nữa, nó nghỉ hưu. Tôi vẫn hay nói với nó: Em bây giờ sống một ngày là lãi một ngày”.
Thầy giáo Phạm Bá Tiến, hiệu trưởng trường PTTH Thanh Chương 3 : “Anh ruột tôi may mắn rời khỏi Hiệp Hòa hai ngày trước đó để về Buôn Ma Thuột học CĐSP, đang tá túc ở Vinh để chờ tàu. Trước đó, cha tôi nhận được giấy báo của anh tôi, đã tức tốc lên đường xin Ban chỉ huy công trường cho anh về đi học. Vui anh vui em, anh tôi định không đi. Lúc đó, cha tôi đã đạp xe trở về. Nhưng khi ông mới đi được vài trăm mét thì anh chạy theo bảo cho con về Buôn Ma Thuột với. Nếu ở lại chắc anh tôi chết, vì tổ của anh sau đó đã bị đất đá vùi lấp dưới cống. Lại có trường hợp, tôi có thằng bạn nối khố có cái mũ cối ông chú cho. Khi ngã, nó sấp mặt vào mũ cối. May còn khoảng không khí ít ỏi đó để thở mà thoát chết”.
Sau tai nạn, người Tổng chỉ huy công trình cống Hiệp Hòa đã bị tuyên án tù. 35 năm sau tôi tìm gặp lại ông và những câu hỏi nhức nhối về vụ sập cống cũng được sáng tỏ.
| Gia đình không có một tấm ảnh của Lam để thờ. Nhưng Bình lại giữ được tấm ảnh chân dung mà người yêu tặng mình. Bình nhường lại tấm ảnh cho bố Lam để làm ảnh thờ. Nhưng hình ảnh người yêu của mối tình đầu ấy thì mãi vẫn tinh khôi trong ký ức của anh phóng viên trẻ ngày nào, giờ chỉ còn vài năm nữa đến tuổi nghỉ hưu. |
Phùng Nguyên
Bài 3: Gặp Tổng chỉ huy thi công cống Hiệp Hòa ngày ấy
TP – Vì sao một công trình lớn như cống Hiệp Hòa lại mong manh và dễ đổ sập xuống cướp đi mạng sống của cả gần trăm người? Ai phải chịu trách nhiệm về thảm họa này?
Ngày đó, khi mộ của 98 thanh niên chết thảm vừa xanh cỏ, một phiên tòa xử những người có trách nhiệm trong vụ sập cống Hiệp Hòa được mở và kỹ sư Hồ Như Hồng – Tổng chỉ huy đã bị kết án 6 năm tù giam (ông thụ án 3 năm và được đặc xá). Từ đó, rất ít người biết thông tin về người kỹ sư từng được coi là linh hồn của những công trình thủy điện lớn của tỉnh Nghệ Tĩnh này. Sau nhiều ngày tìm kiếm, tôi đã biết được địa chỉ của ông Hồ Như Hồng và cuộc gặp bất ngờ đã mở ra nhiều thông tin về thảm họa lịch sử ấy….
![]() |
| Kỹ sư Hồ Như Hồng ngày ấy và bây giờ. |
Ông Hồ Như Hồng đang sống một ngôi làng nổi tiếng có nhiều danh nhân bậc nhất Việt Nam: Làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông cũng nổi danh ở làng này, nên khi tới đây ai cũng có thể dẫn tôi tới nhà. Ngôi nhà ngói có kiến trúc cổ xưa, tôi ngạc nhiên khi thấy tấm biển: “Nhà thuốc Đông y gia truyền Hồ Như Hồng”. Sau 30 năm, người dân ở đây biết tới ông là một lương y chứ chẳng mấy ai còn nhớ ông là kỹ sư phải chịu trách nhiệm chính trong vụ sập cống Hiệp Hòa.
Ông Hồng tóc đã bạc, gương mặt khắc khổ vẫn toát lên vẻ thân thiện khi tôi đề cập tới câu chuyện cống Hiệp Hòa. Kể về câu chuyện ấy, dường như có một nỗi đau sâu kín và những ký ức về thảm họa ấy dội về:
“Tôi đang làm giảng viên Đại học Thủy lợi thì tỉnh Nghệ Tĩnh xin về. Từ đó, tất cả các công trình trọng điểm của tỉnh tôi đều tham gia. Hồi chiến tranh chống Mỹ tôi trực tiếp chỉ huy công trình Bara Nam Đàn, rồi tham gia làm các công trình Vách Bắc, hồ Kẻ Gỗ. Công trình Đại thủy nông Đô Lương, trong đó có cống Hiệp Hòa, mang tầm cỡ thế giới với chiều dài của kênh đào lên tới 530 km, kênh chính dài 53 km, tưới tiêu cho 37 vạn hecta. Nếu không có hệ thống kênh này thì ba huyện Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu gần như không trồng được lúa, dân chắc phải ăn khoai lang vì ở đây địa hình trên thì thiếu nước ngọt dưới lại nhiễm mặn. Có thể nói con kênh này nắm giữ sự sống của cả tỉnh, không chỉ có ý nghĩa về thủy lợi mà cả nước sinh hoạt. Cống Hiệp Hòa nằm trong hệ thống Bara Đô Lương. Vì vai trò quan trọng của nó mà trở thành trọng điểm ném bom của Mỹ. Mỹ đã ném 91 quả bom vào cống Hiệp Hòa, làm sập cống dài 30m.”.
Lưu lượng nước qua cống Hiệp Hòa lúc ấy chỉ đạt 18m3/s. Ít ra cũng phải đạt 30m3/s mới đủ tưới tiêu cho 37 vạn hecta đất nông nghiệp. Chủ tịch tỉnh Trương Kiện lúc đó đã cho vời kỹ sư Hồ Như Hồng đến làm Trưởng ban công trình hoàn chỉnh hệ thống Đô Lương, trong đó trọng điểm là khơi thông cống, tu bổ Hiệp Hòa. Để kịp có nước cho vụ chiêm xuân, tỉnh đã huy động một lực lượng lớn trên 5 vạn người cùng hầu hết các xe cơ giới trên địa bàn thực hiện mục tiêu đó.
Khí thế lao động càng khẩn trương khi có tin Tổng Bí thư Lê Duẩn sắp vào Nghệ Tĩnh và sẽ lên thăm công trình cống Hiệp Hòa. Cũng vì sự kiện này mà ngày 28/11/1977, Tỉnh ủy đã điện kỹ sư Hồ Như Hồng về Vinh để báo cáo tiến độ. Đêm ngày 2/1/1978, Hồ Như Hồng quay lại công trường thấy nước đã tràn vào móng cống. Bức tường dài 180m ngăn phía trên cống đã làm xong 150m, còn 30m, ông Hồng dặn kỹ sư Trần Nhương (chỉ huy công trường cống Hiệp Hòa): Khi nào thật an toàn thì đổ bêtông. (Nếu như bức tường 180m hoàn thiện sớm thì không thể xảy ra tai nạn được, theo ông Hồng).
Sự nuối tiếc lẫn đau đớn chạy trên gương mặt già nua của ông, khi kể cho tôi nghe về ngày kinh hoàng ấy: “ Tối hôm đó, tôi làm việc tới 4 giờ sáng mới về lán. Sáng định mệnh 3/1/1978, 8 giờ đã thấy anh em đổ bê tông. 11 giờ tôi từ Bara Đô Lương trở về thấy anh em đổ bê tông gần xong, tôi phấn khởi mặc bộ quần áo bảo hộ lao động để xuống cống kiểm tra, phát hiện thấy một đường nứt trên cống từ thời Mỹ ném bom nhưng theo tôi không đáng ngại lắm. Tôi ra khỏi cống lúc 12h kém10 phút. Dẫu đã giữa trưa nhưng hai đơn vị Thanh Chương và Quỳnh Lưu xung phong ở lại làm việc. Cuối cùng, Quỳnh Lưu về trước, Thanh Chương ở lại. Tôi ra bảo hậu cần cấp thêm cho anh em bánh mì. Tôi vừa đi được 100m thì nghe tiếng “Rầm”. Cống sập. Lúc ấy tôi ngất đi”.
| Bài học này phải trả giá bằng mạng sống của cả trăm thanh niên, chỉ nghĩ tới điều này cũng đủ làm tôi chết lặng .Ông Hồ Như Hồng |

Tôi hỏi: “Là chỉ huy, lúc ấy cống sập, ông ngất có phải vì lo trách nhiệm?”. Ông Hồng lắc đầu: “Lúc ấy nghĩ tới hàng trăm người đang làm việc dưới miệng cống, tôi xót thương quá, chứ tôi không ngại trách nhiệm”. “Ông là kỹ sư giỏi, có nhiều năm làm công trình thủy lợi, theo ông vì sao cống Hiệp Hòa bị sập, phải chăng vì coi thường yếu tố kỹ thuật như thời ấy vẫn có câu: Chỉ cần vật tư, không cần kỹ sư?”; ông lắc đầu: “ Khi làm công trình, về lý thuyết phải làm trong điều kiện địa chất đồng chất, nhưng ở đây đất bị nhàu nát, càng đào xuống càng nhão, không lường được. Khâu khảo sát thiết kế không được coi trọng. Bình thường đất ôm chặt lấy cống, nhưng khi đào đất để hở cống, cống lại không có cốt thép nên bị sập… Bài học này phải trả giá bằng mạng sống của cả trăm thanh niên, chỉ nghĩ tới điều này cũng đủ làm tôi chết lặng”.
Nhìn ông lúc này tôi có thể hình dung ra gương mặt kỹ sư Hồ Như Hồng khi cống sập. Ngất đi, nhưng khi tỉnh lại, kỹ sư Hồ Như Hồng đã thể hiện bản lĩnh của một người tổng chỉ huy. Ngay chiều hôm đó, đài BBC của Anh đưa tin tai nạn sập cống ở miền Trung Việt Nam làm 400 người thiệt mạng, trong khi con số thực tế là 93 người tử vong tại chỗ (không kể 5 người chết vì bị thương nặng sau đó). Hồ Như Hồng bàn với Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Sỹ Quế cho công bố thông tin số nạn nhân tử nạn.
Có vị lãnh đạo muốn an táng những người thiệt mạng ngay tại công trường, nhưng ông Hồng kiên quyết phản đối vì nếu chôn cất ở đây thì thân nhân sẽ đến khóc than, không khí tang thương sẽ rất khó hoàn thành được công trình.
Lúc đó cái rét mùa đông đang độ tê tái, tỉnh Nghệ Tĩnh cấp cho Hồ Như Hồng khoảng 100 cái chăn bông để đi thăm hỏi động viên những gia đình có con em chết trong vụ tai nạn. Theo logic thông thường, đến nhà những người ấy vào thời điểm họ vừa mất người thân sẽ nguy hiểm cho kỹ sư Hồng. Nhưng ông vẫn mang chăn đi lại nhận được sự thông cảm từ phía gia đình người bị nạn. Xã Thanh Liên, nơi ông Hồng từng làm công trình đập Cầu Điền đã cử người tới động viên người kỹ sư này.
Sau thảm họa cống Hiệp Hòa ai phải chịu trách nhiệm? Trung ương Đảng tổ chức một cuộc họp với sự chủ trì của Ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Duy Trinh, tham dự cuộc họp có ông Phạm Hùng, ông Tố Hữu, ông Song Hào, ông Nguyễn Thọ Chân – Bộ trưởng Bộ LĐTB&XH, ông Nguyễn Thanh Bình, Bộ trưởng Bộ Thủy lợi. Ban đầu ông Nguyễn Thọ Chân nêu quan điểm: Cách chức và tước bằng của kỹ sư Hồ NhưHồng. Ông Tố Hữu lên tiếng: “Có rất nhiều người không làm gì thì lý lịch rất trong sạch, còn có làm có sai, bằng kỹ sư là điều kiện để anh Hồng làm việc, tước đi có nên không?”. Ông Song Hào phát biểu: “Xét động cơ làm chương trình này có đúng chủ trương không. Tôi nghĩ là đúng, nhưng cách thực hiện đã chủ quan”.
Cuối cùng, cuộc họp đi đến kết luận: Khiển trách Bộ trưởng Bộ Thủy lợi, Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ Tĩnh, cách chức Trưởng ban công trình hoàn chỉnh hệ thống thuỷ lợi Đô Lương kiêm Trưởng phòng Xây dựng cơ bản của Ty Thủy lợi, hạ một bậc kỹ sư của Hồ Như Hồng (lúc đó ông Hồng kỹ sư bậc 3).
Ít lâu sau Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào thăm tỉnh Nghệ Tĩnh, nghe báo cáo về thảm họa cống Hiệp Hòa đã thốt lên một câu có lẽ đúng cho mọi thời: “Nhiệt tình cộng với ngu dốt bằng phá hoại”.
Sau đó hai tháng, ông Trường Chinh lúc đó là chủ tịch Quốc hội đã điện Chủ tịch tỉnh Trương Kiện ra Hà Nội cho biết, một số bà con ở xã Cát Văn gửi thư ra Quốc hội yêu cầu xử lý vụ cống Hiệp Hòa bằng pháp luật. Sau đó Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định thể hiện một số quan điểm: Vụ sập cống Hiệp Hòa phải được xử lí bằng pháp luật để thể hiện sự nghiêm minh, đề cao tinh thần trách nhiệm; đề cao tinh thần làm việc tôn trọng khoa học, kỹ thuật.
Ngay sau đó, 56 người có trách nhiệm liên quan tới vụ sập cống Hiệp Hòa được mời đến lấy khẩu cung. Kỹ sư Hồ Như Hồng là người cuối cùng, người thứ 56.
Tháng 10/1980, phiên tòa diễn ra ở Hội trường thị trấn Đô Lương, cách không xa nơi sập cống. Rất đông người nhà những người tử nạn và bà con trong tỉnh kéo nhau đến theo dõi phiên tòa. Hội trường không đủ chỗ, phiên tòa được tường thuật trực tiếp bằng loa phát thanh. Điều lạ là, phiên toà không có vành móng ngựa, bị cáo không mặc áo tù.
Nhiều người dân thắc mắc vì sao một chủ trương lớn của tỉnh, một thảm họa làm chết 98 người mà chỉ có người phải đứng trước tòa gồm ông Đào Nhiệm – Phó Ty Thủy lợi; ông Hồ Như Hồng và ông Trần Nhương – Trưởng tiểu ban công trình cống Hiệp Hòa?
Hiếm có phiên tòa nào mà cả dân và bị cáo đều khóc khi cáo trạng được đọc lên.
Tòa tuyên án Hồ Như Hồng 6 năm tù. Sự nghiệp của người kỹ sư 41 tuổi coi như kết thúc. Nhưng ngay sau khi ra tù, ông vẫn được tỉnh tin tưởng mời làm một số công trình thủy lợi. Hồ Như Hồng làm nốt công trình ở huyện Quỳnh Lưu rồi về quê tiếp nối nghề thuốc đông y gia truyền của cha ông.
Có nhiều người dân đang chờ ông bắt bệnh, mắt ông ngấn nước: “Mình sống đến từng này tuổi là lãi lắm rồi, chỉ xót thương cho những nam nữ thanh niên tử nạn khi tuổi đôi mươi phơi phới. Giờ còn ai nhớ họ?…
(Còn nữa)
Phùng Nguyên
Bài cuối: Ai nhớ, ai quên?
TP – Tôi tìm đến cống Hiệp Hòa vào một trưa nắng xứ Nghệ như đổ lửa. Dù rất gần thị trấn Đô Lương, nhưng phải tìm, phải hỏi mãi mới đến được. Hình như sự lãng quên đã phủ kín nơi này.
| Cống Hiệp Hòa hôm nay như chưa hề có tai nạn thảm khốc làm 98 thanh niên thiệt mạng. Ảnh: P.N. |
Lãng quên…
Giờ ngọ, bóng nắng thẳng đứng, tôi nhìn rõ cống trên con kênh đào. Đó là một dải bê tông nổi lên trên mặt nước dài quãng 30m, phần cuối bị vỡ một mảng lớn, để lộ lòng cống sâu hoắm bên trong. Phía trên, một khối bê tông chắn ngang con kênh, có những tấm sắt dùng để đóng và mở nước. Nằm giữa hai bên núi, cống vô danh trong quên lãng. Không một tấm biển, không một tấm bia. Như chưa từng có 98 thanh niên đã tử nạn ở đây. Chính nơi này. Như chưa từng có thảm họa rúng động nhân tâm. Như chưa từng có công trường rộn tiếng ca rồi công trường trĩu nặng nỗi đau và chứa chan, nước mắt. Chỉ dòng nước vẫn mải miết chảy, bê tông phủ rêu phong dày mãi theo thời gian. Hai bên núi, cảm giác như cỏ xanh một màu “Đạm Tiên” (chữ của nhà thơ Chế Lan Viên).
Trưa nắng mà sao tôi lại lạnh buốt sống lưng khi muốn thắp một nén nhang cho những người đã ngã xuống 35 năm trước mà không biết cắm hương vào đâu. Phía bên kia đường, có ngôi nhà nhỏ và một cô gái bước ra chào. Mới hay, đây là nơi làm việc của Cụm quản lý thủy nông Hiệp Hòa. Cô gái tên Nguyễn Thị Nhớ. Thầy giáo Phạm Bá Tiến, hiệu trưởng trường PTTH Thanh Chương 3, đồng hành với tôi, thốt lên: “Ở nơi bị lãng quên này lại có một cô gái tên là Nhớ!”.
Nhớ tâm sự: “Em cũng mới về đây làm. Trước đây bố mẹ em cũng làm ở Cụm thủy nông này, bây giờ về hưu rồi. Ở đây hiu quạnh lắm, xung quanh không có nhà dân. Thương 98 thanh niên tử nạn khi làm cống này mà không có một nơi để thắp hương, Cụm quản lý thủy nông Hiệp Hòa đã làm cái miếu nhỏ bên đường”.
Nhớ dẫn chúng tôi tới cái miếu bé xíu nằm chơ vơ khuất lấp bên núi. Chúng tôi thắp hương, trong cái nắng quá ngọ. Khói hương lẩn quất. Nắng trưa nhuốm màu u tịch.
Có những chuyện thực hư, hàng năm tại khu vực này có tới hàng chục vụ chết đuối và nhảy cầu tự tử xảy ra. Nhưng lạ thay thân xác của các nạn nhân trôi dạt về xuôi đều mắc kẹt trong cống Hiệp Hòa vài ba ngày. Rồi chuyện cô bé Huệ nào đó đi đến đây bỗng ngẩn ngơ, anh ngư phủ phải nhập viện vì bị thôi miên trước vẻ đẹp của ma nữ tắm tiên…Những câu chuyện ấy khiến nhiều người sợ hãi tránh xa khu vực này.
Đêm. Chỉ có mỗi mình Nhớ trong ngôi nhà sát cống. Có lúc 0 giờ cô gái này phải ra cống mở nước hoặc đóng nước. Nhớ kể: “Em không sợ vì nếu có linh hồn các cô chú sẽ phù hộ cho em. Một lần em rơi xuống cống, nước sâu và chảy xiết nhưng em giác thấy như có bàn tay nâng đỡ mình lên bờ, giúp em thoát chết. Nếu có gì đáng sợ ở đây, thì đó là sự quên lãng những người đã chết để làm nên công trình thủy lợi này”.
![]() |
| Bằng ghi công của tỉnh Nghệ Tĩnh gọi những thanh niên tử nạn trong khi đang xây cống Hiệp Hòa là “hy sinh trong sự nghiệp xây dựng quê hương Xô viết Nghệ Tĩnh”. |
Nhớ nói về sự quên khiến tôi cứ mãi mông lung ám ảnh.
Ông Nguyễn Tất Thành – Chủ tịch huyện Đô Lương- nơi diễn ra sự kiện sập cống Hiệp Hòa, lại nói thêm vào sự quên ấy: “Trang sử của huyện, không biết vô tình hay hữu ý, người chấp bút không có một câu một dòng nào về Cống Hiệp Hòa. Kể cả đau thương lẫn tự hào? đoàn thanh niên đến các tổ chức xã hội, thậm chí cả tổ chức nhân đạo từ thiện đều không nhớ.
Thân nhân của những người đã tử nạn bây giờ sống như thế nào cũng không ai biết. Tôi cho rằng, những đoàn viên thanh niên ấy đã hy sinh khi đang làm nhiệm vụ xây dựng quê hương. Về bản chất, chẳng khác gì sự hy sinh của những cô gái ở Truông Bồn hay ngã ba Đồng Lộc. Không thể coi cái chết của họ như một tai nạn lao động”.
| Tri ân các bậc tiền bối đã ngã xuống trên công trình xây dựng cống Hiệp Hòa, một cách để giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Tỉnh Đoàn cũng đã nhận được một số kiến nghị, đang giao cho Huyện Đoàn Thanh Chương hoàn thiện các hồ sơ thủ tục để trình các cấp xem xét xây dựng một số công trình tưởng niệm. (Anh Nguyễn Đình Hùng, UV BCH T.Ư Đoàn, Tỉnh ủy viên, Bí thư Tỉnh Đoàn Nghệ An) |
Ông Đặng Anh Dũng, Phó Bí thư Thường trực huyện ủy huyện Thanh Chương ngậm ngùi cho tôi hay sự kiện ở Thanh Chương sập cống Hiệp Hòa có lẽ giờ chỉ còn những người trong cuộc hay thân nhân của 98 thanh niên đã tử nạn là còn nhớ đến.
Ông Đặng Anh Dũng vẫn nhớ rõ vì em gái mình đã từng thoát chết trong gang tấc ở cống Hiệp Hòa và xã Cát Văn quê ông có tới 37 thanh niên vĩnh viễn lấp tuổi thanh xuân của mình trong bùn đất.
Những năm sau đó, Tết đến không ai nỡ đốt pháo và cho đến bây giờ ở xã Cát Văn ngày sập cống Hiệp Hòa trở thành ngày giỗ chung của nhiều gia đình. Ngày ấy, xã Cát Văn thiệt hại nặng nhất nên tỉnh đầu tư cho một trạm bơm “đền ơn đáp nghĩa”. Lực lượng thực hiện trạm bơm ấy vẫn là thanh niên tình nguyện và một đoàn viên đã chết khi đang thi công. Rú Đụn lại thêm một ngôi mộ mới.
Sau khi những thanh niên ấy mất đi, gia đình họ chỉ nhận được trợ cấp 360.000 đồng/tháng theo chế độ 202. Ông Nguyễn Đức Thị, người có con ruột và cháu ruột chết trong vụ sập cống Hiệp Hòa giọng trĩu buồn: “Chế độ 202 là dành cho người tàn tật, cô đơn, quả phụ. Tại sao tôi lại nằm trong diện này?”.
Ông Thị nâng tấm bằng ghi công đã bị thời gian làm cho hoai mục, nhưng tôi vẫn nhìn rõ những dòng này: “Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ Tĩnh ghi công đồng chí Nguyễn Thị Tài, quê quán xã Cát Văn, huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ Tĩnh đã hy sinh trong sự nghiệp xây dựng quê hương Xô-viết Nghệ Tĩnh…”
Ông Thị cay đắng: “Bằng ghi công của tỉnh đã dùng từ hy sinh đối với những thanh niên tử nạn trong vụ sập cống Hiệp Hòa. Đã là hy sinh thì con cháu tôi phải được công nhận liệt sỹ, tại sao tôi lại hưởng chế độ dành cho người tàn tật, cô đơn, quả phụ?”
Xứng danh liệt sỹ
Ông Hồ Như Hồng – Trưởng ban công trình hoàn thiện hệ thống Đô Lương năm 1978, người đã chịu trách nhiệm trong vụ sập cống Hiệp Hòa nhớ lại: “Sau khi 98 thanh niên tử nạn, tôi được biết lãnh đạo tỉnh Nghệ Tĩnh có bàn là có công nhận họ là liệt sỹ và có đưa vào nghĩa trang liệt sỹ hay không. Nhưng rồi sau đó tôi không thấy nhắc đến nữa. Tôi nghĩ rằng làm công trình thủy lợi đầy khó khăn, nguy hiểm cũng như một cuộc chiến chống đói nghèo cho quê hương và đã có mất mát hy sinh, những người thanh niên ấy xứng đáng được công nhận là liệt sỹ”.
![]() |
| Miếu nhỏ hiu quạnh bên núi mà Cụm quản lý thủy nông Hiệp Hòa dựng lên để thắp hương 98 thanh niên đã hy sinh khi xây dựng cống Hiệp Hòa. |
Thầy giáo Phạm Bá Tiến nói: “Có xã như xã Thanh Liên đã đưa các anh chị tử nạn vào nghĩa trang liệt sỹ xã. Xã Phong Thịnh đã mai táng các anh chị ở phía sau UBND xã, nghĩ rằng họ sẽ được công nhận liệt sỹ. Nhưng họ đã không được công nhận liệt sỹ. Ở Thanh Liên, người ta phải dời hài mộ con em mình về nghĩa trang khác”.
Ông Gian Tư Ngộ – Chủ tịch xã Cát Văn cho hay: “Đã có lúc chính quyền địa phương muốn quy tập mộ của những người đã tử nạn trong vụ sập cống vào nghĩa trang liệt sỹ xã, nhưng có nhiều ý kiến khác nhau nên đành thôi”.
Ông Phan Văn Hợi – nguyên Tổng đội trưởng Tổng đội thanh niên xung phong xây dựng quê hương, lặng nhìn về phía xa xăm: “Cứ nghĩ về những đội viên của mình tôi không khỏi bùi ngùi vì họ lao động trên công trường XHCN, hy sinh mà chưa được công nhận liệt sỹ, thậm chí một nhà bia tưởng niệm cũng chẳng có. Những công trình lớn như thủy điện Hòa Bình đều có nhà bia tưởng niệm, tại sao cống Hiệp Hòa lại không?”.
Tôi nhớ lời ông Nguyễn Hoàng Thông (xóm 7) xã Cát Văn, có con gái và người thân đã nhận giấy báo thi đại học, nhưng chưa kịp đi đã tử nạn ở cống Hiệp Hòa: “Ngày lễ tết muốn lên Hiệp Hòa thắp nén hương cho vong hồn con, cháu cũng không biết thắp vào đâu, chứ nói gì đến chế độ liệt sỹ”.
Ông Nguyễn Hữu Miệu – nguyên trưởng công an huyện Thanh Chương bày tỏ: “Nhiều cán bộ lão thành từng kiến nghị phải xây dựng công trình tưởng niệm ghi danh những thanh niên đã mất trong vụ sập cống, nhưng không hiểu sao chẳng có hồi âm?”.
Sao không có hồi âm? Cho đến hôm nay, công trình thủy lợi cống Hiệp Hòa đang phát huy tác dụng to lớn, tưới tiêu cho những cánh đồng Diễn – Yên – Quỳnh. Ông Đặng Anh Dũng, Phó Bí thư thường trực huyện ủy Thanh Chương cảm khái: “Trong hạt gạo ta ăn hôm nay, có một phần xương thịt của họ! Bi hùng và đớn đau”.
Nhưng vì sao ngay cả một tấm biển ghi tên những người đã mất, mộc mạc, đơn sơ thôi cũng chẳng có, nói gì đến tượng đồng, bia đá?
Ông Nguyễn Tất Thành, Chủ tịch huyện Đô Lương khẳng định: “Sự kiện xẩy ra đã hơn 30 năm, bây giờ không bàn đúng sai nữa. Tri ân dù muộn còn hơn vô ơn. Bây giờ lập bia tưởng niệm cần phải có một cơ quan nhà nước đứng ra làm chủ sự, huyện Đô Lương sẽ phối hợp tích cực và chịu trách nhiệm về mặt bằng”.
Ông Đặng Anh Dũng cho rằng, nên lấy ngày truyền thống thanh niên xung phong để tưởng niệm những đoàn viên thanh niên tình nguyện đã hy sinh khi đang xây cống Hiệp Hòa và xây đài tưởng niệm họ.
![]() |
| Chị Nguyễn Thị Nhớ thắp hương cho những linh hồn đang bị lãng quên. |
Thời gian đã lùi xa nhưng sự lãng quên cũng không thể trùm phủ kín cống Hiệp Hòa. Người dân vẫn nhớ, vẫn tri ân, vẫn đắng đót nỗi niềm về 98 thanh niên ngày ấy. Khi đi thực tế, tìm tư liệu viết loạt bài này, tôi cảm nhận tượng đài của họ đã được tạc vào lòng người dân xứ Nghệ. Nhưng, khiêm nhường thôi, cần một tấm biển ghi công ở nơi họ đã ngã xuống và ít ra, tùng tiệm lắm cũng phải có một nơi trang trọng để người dân đến viếng có chỗ khói hương, chứ không phải là cái miếu bé xíu nằm khuất trong núi. Làm việc ấy, cho người đã ngã xuống và trên hết cho lớp lớp thanh niên đang hiến dâng sức trẻ tình nguyện khắp mọi miền đất nước.
Phùng Nguyên






Tri ân Hiệp Hòa !!!
LikeLike
Cám ơn ý tưởng của anh Hoành. Tôi sắp sửa về quê dự lễ kỷ niệm Trường THPH Thanh Chương 3 vào ngày 15/11/2015 này. Tôi sẽ cùng các bạn bàn thêm, có cả anh Dũng (ở huyện ủy) anh Tiến (C3 Thanh chương 3), những người cũng muốn làm gì đó cho các bạn đỡ quạnh quẽ.
LikeLike
Cảm ơn anh Kim Định đã chia sẻ thông tin.
Mình nghĩ rằng việc đầu tiên nên làm là có được danh sách của 98 liệt sĩ đã tử nạn. Và gửi danh sách đó đến vài nơi, như phóng viên Phùng Nguyên của báo TP, người viết loạt bài này, và Đọt Chuối Non để thông tin cho nhiều người hơn.
Thứ hai là các anh chị ở địa phương như anh Kim Định và một số người khác có thân nhân và bạn bè bị nạn như thầy giáo Phạm Bá Tiến, Ô. Đặng Anh Dũng, nhà báo Trần Công Bình… lập một hội như là “Hội tưởng niệm các liệt sĩ Công Trường Cống Hiệp Hòa” chẳng hạn. Khi có nhiều người ngồi lại, tự nhiên mọi người sẽ biết nên làm gì. (Chúng ta cứ gọi các bạn đã hy sinh là liệt sĩ, chứ không cần cơ quan nào phải phong chức liệt sĩ cho các bạn).
Nói chung là các bạn ở địa phương hãy tự động làm việc Chỉ cần MỘT HAI người kiên trì thúc đẩy mọi người cùng làm việc thì điều gì cũng xong.
Mến,
Hoành
LikeLike
Tôi và Nguyễn Nhật Bình, thuộc Tiểu đoàn 3, trung đoàn 414 năm đó có tham gia cải tạo cống Hiệp Hòa. Chúng tôi hàng ngày nổ mìn phá đá ở đoạn cứng nhất để thanh niên đội 202 thu dọn. Nhiều thanh niên này từ nhiều xã của Thanh Chương, trong đó có từ Cát Văn quê tôi. Đó là các bạn cùng trang lứa, nhiều bạn vừa mới tốt nghiệp cùng lớp 10C, cấp 3 Thanh chương 3 với tôi. Đêm đến, chúng tôi vẫn gặp nhau chuyện trò sau ngày lao động vất vả. Trước ngày xảy ra thảm họa khoảng 1 tuần, tôi được điều lên lắp cầu phao ở Bãi Lim, Tân kỳ ( nghe thông báo là để đón ông Lê Duẩn và thăm), còn Bình được cử đi học đại học, nên không chứng kiến trực tiếp vụ việc. Cùng lớp tôi có 4 bạn: Nguyễn Thị Minh, Nguyễn Thị Ngoạt, Nguyễn Thị Kim và Nguyễn Thị Tài đã bị tử nạn. Không rõ, chuyện cái nón cứ quanh quẩn gần chỗ Nguyễn Thị Tài như kể trên có phải là bạn tôi không. 37 quan tài để tại kho đội 3, trước cửa nhà tôi và một ô vuông chôn cất các bạn ở Rú Đụn vẫn còn làm tôi đau đáu. Trước đây, mỗi khi có dịp về quê, tôi thường đến thăm các bạn ở Rú Đụn. Sau này gia đình họ đưa về dòng họ riêng nên không còn làm việc đó được. Làm gì đây, để các bạn ấy được ghi ơn?
LikeLike
Tại sao những mất mát đau thương đó không được ghi công ?
Ngày mai là ngày giỗ chung của toàn thể nạn nhân cống Hiệp Hòa trong đó có chú ruột của mình. Mong linh hồn chú yên nghỉ,
Con không mong muốn được nhà nước trợ cấp cho thân nhân người đã mất. Con chỉ mong tên chú và các đồng đội khác của chú được tôn vinh, được nhớ đến để tiếp nối sức trẻ cho thanh niên. Xứng đáng với những gì mà thế hệ trước đã hi sinh.
LikeLike
Sao không ai làm một bài thơ về những anh hùng trẻ này, để mình djch sang tiếng Anh và ghi vào bia đá như những cô gái Đồng Lộc nhỉ. Ít ra đó là cách kể truyện cho hậu thế.
LikeLike
Ngày ấy tôi còn quá nhỏ, nhưng trong hồi ức cũng còn nhớ được cảnh tang thương của người dân xã Cát Văn. Sân kho đội 3 lúc bấy giờ là những quan tài trong đó là các o, các chú đã ra đi ở cái tuổi thanh xuân đầy nhiệt huyết. Trời mưa rả rích hoà lẫn với nước mắt của cha, mẹ và người thân. Mong sao sự cống hiến và hy sinh của các o, các chú làm cho cây đời mãi xanh nhưng dòng đời đừng mãi chảy mà hãy lắng đọng lại những tình cảm tôn kính và tri ân. Xin thắp nén tâm nhang về cùng o, chú!
LikeLike
Cám ơn Thu Hương.
LikeLike
Qua lời ông Đặng Anh Dũng, Phó Bí thư thường trực huyện ủy Thanh Chương cảm khái:“Trong hạt gạo ta ăn hôm nay, có một phần xương thịt của họ! Bi hùng và đớn đau”
Vẫn biết và ý thức như vậy nhưng vì sao ngay cả một tấm biển ghi tên những người đã mất, mộc mạc, đơn sơ thôi cũng chẳng có?
Mình thiết nghĩ những người lãnh đạo cũng như mỗi người chúng ta phải biết phát huy tinh thần “Uống nước nhớ nguồn” để các thế hệ nối tiếp noi theo gìn giữ và phát huy như một di sản.
Matta Xuân Lành
LikeLike