Kỳ 5 : Phép thuật kì bí của tộc người trên đỉnh Trường Sơn
TP – Đã hơn 50 năm được tìm thấy và gia nhập cộng đồng các dân tộc Việt Nam, nhưng tộc người Rục ở xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa (Quảng Bình) vẫn mang trong mình những nét riêng có, bí ẩn cần được khám phá và bảo tồn.
| Góc mới bản Rục bây giờ. |
Hoài niệm hang đá
Cuối năm 1959, Bộ đội Biên phòng Cà Xèng đóng tại Thượng Hóa, huyện Minh Hóa, trong một lần tuần tra đã phát hiện một nhóm “người rừng” nhút nhát, người không mảnh vải che thân, leo trèo vách đá, chuyền cành nhanh như thú hoang.
Sau nhiều tháng tiếp cận, những chiến sỹ Biên phòng đã vận động được họ rời hang đá về định cư ở thung lũng Rục Làn, thuộc xã Thượng Hóa. Và từ đây tộc người Rục được biết đến như là người em út trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Đến đầu năm 2013, sau hơn 50 năm hòa nhập cộng đồng, tộc người Rục được quốc tế đưa vào danh sách 10 bộ lạc còn nhiều điều bí ẩn nhất thế giới.
Theo ông Đinh Thanh Dự, Nhà nghiên cứu văn hóa các tộc người ở Quảng Bình, gần hết một đời người bỏ công nghiên cứu nhiều tộc người trên địa bàn, nhưng với người Rục vẫn còn nhiều điều bí ẩn đối với bản thân ông và các nhà khoa học đã từng nghiên cứu về họ. Nay tuổi già, sức yếu không cho phép ông có những chuyến điền dã, nhưng ông vẫn luôn đau đáu về những gì còn dang dở với người Rục.
| Những đứa trẻ người Rục. |
Ông Dự khẳng định, bản thân người Rục không có họ, không có tộc danh, là một tộc người chậm phát triển nên vẫn đậm nét người Việt cổ. Vì họ sinh sống ở những hang đá, mà theo phương ngữ “rục” có nghĩa là hang đá có nước chảy qua nên các tộc người khác gán ghép cho họ là người Rục. Qua nghiên cứu về nhân chủng học, ngôn ngữ của người Rục, các nhà khoa học đã ghép tộc người Rục vào nhóm dân tộc Chứt ở Quảng Bình cùng với Sách, Mày, Mã Liềng, A Rem…
Trước khi rời hang đá, người Rục có 109 người, sống tách biệt, không tiếp xúc với thế giới bên ngoài, gặp người lạ là trốn chạy. Cuộc sống người Rục hoàn toàn dựa vào tự nhiên. Họ chỉ quen leo trèo cây, thoăn thoắt trên các triền núi cao ngất để săn bắt chim thú, hái lượm, đào củ ráy, củ mài. Không mặc quần áo, nam nữ đều búi tóc đằng sau, che mình bằng vỏ cây sui, khi màn đêm buông xuống, họ cùng nhau tìm đến hang đá trú ngụ và thường ngủ ngồi.
| Vợ chồng ông Cao Chơn vẫn thích ở hoang. |
Sau hơn 50 năm rời hang đá, nhưng vợ chồng ông Cao Chơn và Cao Thị Bim (hơn 80 tuổi) vẫn giữ nguyên nếp sống nguyên thủy của mình. Mặc dù đã được Nhà nước xây nhà, cấp đất trồng trọt nhưng ông bà không ở nhà mà thường xuyên chuyền hang đá để ở. Hai vợ chồng già vẫn nếp cũ, ngày săn bắt hái lượm, tối về hang ngủ ngồi mặc cho con cháu, chính quyền vận động.
Trưởng bản Mò O Ồ Ồ, anh Cao Văn Đàn (39 tuổi) cho biết, không chỉ ông bà Cao Chơn mà gần 500 người Rục hiện nay thi thoảng vẫn nhớ hang đá. Mặc dù có nhà cửa, nhưng cứ đến mùa rẫy nhiều gia đình vẫn dắt díu nhau vào hang sinh sống có khi vài ba tháng mới về…
Phép thuật kỳ bí
Theo ông Đinh Thanh Dự, hiện trong cộng đồng người Rục vẫn còn tồn tại hai dạng phép thuật rất bí hiểm mà các tộc người khác không có, đó là: Thuật thổi thắt, thổi mở và thuật hấp hơi. Trong những lần điền dã, ông Dự đã từng chứng kiến sự linh nghiệm của hai phép thuật này, nhưng cố công nghiên cứu về nó thì không thể. Vì người Rục xem đó là sự linh thiêng, không thể tiết lộ cho người ngoài.
| Về phong tục ngủ ngồi, Cao Văn Đàn nói mình thế hệ sinh ở nhà nên không rõ lắm, nhưng có lẽ do nền đá cứng nếu nằm thì đau lưng. Với lại, xưa người Rục nhút nhát nên ngồi để dễ cơ động (chạy trốn) khi gặp người lạ và những mối đe dọa khác. |
Ông Dự cho biết: Thuật thổi thắt, thổi mở của người Rục là dùng bùa chú thổi vào người phụ nữ để sinh hoạt vợ chồng không có con (gọi là thổi thắt); còn khi cần có con cũng dùng bùa chú để thổi vào người phụ nữ (gọi là thổi mở). Ngoài ra, người Rục còn có thuật hấp hơi để tránh thú dữ. Mỗi khi vào rừng, người Rục chỉ cần đọc câu thần chú thì dù có hổ, báo, voi rừng cũng không dám đến gần để tấn công. Điều này qua thực tế, dù sống chốn thâm sơn cùng cốc, nhưng chưa ai ghi nhận người Rục bị mãnh thú tấn công.
Ông Dự kể, trong một lần cùng Tiến sỹ, nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Võ Xuân Trang điền dã để tìm hiểu những phép thuật của người Rục, ông Trang đã suýt mất mạng do muốn thử uy lực của thuật hấp hơi. Đó là lần vào rừng với một già làng người Rục, mặc dù đã được cảnh báo là phải luôn đi trước, cách xa 5m mà không được đi sau lưng già làng người Rục (lúc đó đã đọc thần chú sử dụng thuật hấp hơi). Nhưng bất ngờ ông Trang cố tình tụt lại sau và ngay tức thì ông ngã vật ra đất, co giật và hộc máu. Già làng người Rục phải quay lại, lẩm bẩm câu gì đó và ông Trang trở lại bình thường.
| Thầy Ràng Cao Ống diễn lại thuật thổi thắt, thổi mở. |
Trưởng bản Mò O Ồ Ồ, Cao Văn Đàn cho biết, những phép thuật nói trên nay không còn phổ biến trong cộng đồng người Rục, nhưng những thầy Ràng (dạng thầy Mo) vẫn còn lưu giữ. Anh Đàn cùng hai chiến sĩ Biên phòng dẫn chúng tôi tới nhà một thầy Ràng có tên Cao Ống. Ông năm nay đã 80 tuổi, ốm yếu, không đi lại được nhưng vẫn còn khá minh mẫn. Sau một hồi thuyết phục, ông cũng đồng ý diễn lại các động tác trong thuật thổi thắt thổi mở. Những dụng cụ để ngay góc nhà, thế nhưng không ai dám đến lấy, vì sợ.
Mãi sau ông Cao Ngọc Ên là em trai của thầy Ràng Cao Ống sang mới dám mang các dụng cụ ra và tự tay ông sắp xếp như một buổi lễ thổi thắt, thổi mở. Dụng cụ gồm: hai ống nứa, một dài (1m), một ngắn (0,5m), một phiến đá nhỉnh hơn hai bàn tay ghép lại, một cái bát đựng nước, một cái đựng hoa. Ông Ên nói, còn thiếu sáp ong làm nến, hương và sợi tóc, hoặc sợi chỉ để vào bát nước.
Thầy Ràng Cao Ống ngồi xổm trên giường, hai tay cầm hai ống nứa cà phần đầu nhọn vào phiến đá phát ra âm thanh trầm bổng. Cùng lúc, ông đọc thần chú có vần điệu như hát theo giai điệu từ hai ống nứa. Vừa đọc, ông vừa thổi hơi vào bát nước. Theo thông lệ, chừng 30 phút sẽ đưa bát nước có sợi tóc, hoặc sợi chỉ cho người phụ nữ muốn thắt không sinh nở uống và sẽ hiệu nghiệm.
Ông Cao Ống cho biết, thổi mở cũng ở dạng này, nhưng bài chú sẽ có nội dung khác. Ông còn có thể thổi chữa bệnh đứt tay, chân, chảy máu, rắn độc cắn… và mỗi dạng bệnh tật có những câu chú khác nhau. Ngoài thuật hấp hơi để tránh thú dữ cho riêng mình, ông có thể dùng phép thuật vẽ một vòng tròn cho nhiều người ngồi trong đó để chống lại thú dữ. Tuy nhiên, khi hỏi về nội dung các câu chú, và nhờ dịch sang tiếng phổ thông thì ông lắc đầu: “Đó là điều thiêng và tối kỵ của người Rục, không thể để người ngoài biết được”.
(Còn nữa)
Hoài Nam
Kỳ 4: Tộc người ‘mang thiên mệnh chiến binh’
TP – Tự nhận mình là anh cả, được sinh ra để trở thành những chiến binh bảo vệ cương vực của Tổ quốc và nguồn nước cho muôn loài, nên từ xa xưa, người Mày ở Quảng Bình thường sống nơi khởi đầu nguồn nước, tách biệt với thế giới xung quanh…
Truyền thuyết núi Cu Lôông
Tộc người Mày hiện có khoảng 1.000 nhân khẩu, sống chủ yếu ở miền biên viễn, ẩn mình dưới dãy núi Giăng Màn hùng vĩ, thuộc hai xã Dân Hóa và Trọng Hóa, huyện Minh Hóa, Quảng Bình. “Mày” theo tiếng bản địa có nghĩa là đầu nguồn con nước, thuộc nhóm người Chứt, trong hệ gia đình của các tộc người Rục, Sách, Khùa.
| Sau hai mùa rẫy từ khi về bản mới, nhiều gia đình người Mày bước đầu đã tự chủ được lương thực . |
Theo truyền thuyết, người Mày, là anh cả của các tộc người khác, thậm chí cả người Kinh ở dưới xuôi. Chuyện kể rằng: Ngày xưa trời làm lũ lụt, núi non ngập hết, duy nhất ngọn núi khổng lồ của thần Cu Lôông (người của trời) là không bị ngập. Nước lũ cuốn trôi nhà cửa, cây cối, con người và mọi vật đều chết hết. Trong cơn đại hồng thủy ấy, có hai anh em (một trai, một gái) nhờ lấy cây ó làm bè, trôi dạt đến núi Cu Lôông mà sống sót.
Nước rút, hai anh em ở lại núi của thần Cu Lôông làm ăn sinh sống. Có ông Bụt hiện lên khuyên hai anh em lấy nhau để nối dõi loài người nhưng họ không chịu. Một buổi sáng, người em quét nhà, người anh ngồi ăn trầu, vô tình vứt bã trầu vào đùi em gái. Chỗ bã trầu dính sinh ra một trứng, trứng sinh ra ba người con. Anh cả là người Mày, em kế là người Nguồn và em út là người Kinh.
“Người Mày của miềng (mình) tin rằng, sự vi diệu của miếng bã trầu là nhờ vào tài ba thần núi Cu Lôông. Thần núi Cu Lôông đã sinh tổ tiên người Mày, chỉ cho nơi ăn, chốn ở, dạy cách làm ăn, giết dã thú, chống giặc ngoại xâm để tồn tại, nên người Mày thờ phụng thần núi Cu Lôông cho đến nay” – già làng Hồ Xếp nói.
| Người Mày ngày nay vẫn giữ được phong thái của một chiến binh trong truyền thuyết. |
Theo sự phân công của thần Cu Lôông, người Mày là anh cả nên phải sống ở miền biên viễn, đầu nguồn nước để bảo vệ lãnh thổ, cũng như bảo vệ nguồn nước – nơi khởi nguồn của sự sống muôn loài.
| Nhà nghiên cứu văn hóa các tộc người ở Quảng Bình, Đinh Thanh Dự cho rằng: Theo truyền thuyết, người Mày rất thiện chiến, biết cách bố phòng, cũng như sử dụng vũ khí điêu luyện. Bằng chứng là ngày nay, so với các tộc người khác trong vùng, việc đi săn của người Mày luôn đạt hiệu quả cao hơn nhờ vào sự tinh xảo của các loại vũ khí tự tạo. |
Với trách nhiệm cao cả ấy, người Mày thường xuyên bị kẻ thù vây đánh, cướp bóc. Thủ lĩnh người Mày nhờ đến thần núi Cu Lôông. Thần Cu Lôông hiện về bảo rằng: Muốn thắng giặc phải chọn ngọn đồi độc lập giữa thung lũng, bốn bề núi cao dựng đứng, biến nó thành pháo đài để chống giặc ngoại xâm. Thần Cu Lôông còn chỉ cho thủ lĩnh người Mày cái cây có chất độc, cách làm ná, cung tên, lấy ong rừng đánh đuổi kẻ thù, kỹ thuật bẫy lao, bẫy chông ba khía…
Những trận đánh kinh thiên động địa diễn ra sau đó khiến quân giặc kinh hồn bạt vía. Từ đó người Mày trở thành những chiến binh thực thụ, tạo dựng niềm tin cũng như sự kính nể của các tộc người anh em khác.
Không chỉ xem mình là chiến binh có thiên mệnh bảo vệ bờ cõi quốc gia, mà người Mày còn nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ nguồn nước cho muôn loài. Từ xưa đến nay, người Mày rất quý nước, nhất là nước đầu nguồn. Họ có một lễ hội chia nước cho từng hộ gia đình vào cuối năm và trong các phong tục thờ cúng của người Mày bao giờ cũng có một bát nước.
Nước trong các lễ hội thờ cúng thường được lấy về từ nơi tận cùng của suối nguồn. Người đi lấy nước bao giờ cũng là những bậc cao niên được trọng vọng nhất của tộc người Mày. Họ phải chay tịnh trước đó 3 ngày, lên đường từ khi gà gáy canh ba. Nước lấy về, sau khi làm các nghi lễ sẽ được chia từng bát cho các hộ gia đình trong bản mang về đặt lên bàn thờ cho đến lễ chia nước lần sau.
Tìm thấy vùng đất trong truyền thuyết
Theo truyền thuyết được dẫn ở trên, thần Cu Lôông đã chỉ cho tổ tiên của họ, nơi sinh sống phải là một thung lũng có ngọn đồi độc lập, bốn bề núi cao bao bọc, nước chảy bốn mùa nhằm dễ bề công, thủ trước sự hung hãn của quân thù và dã thú.
Người Mày vốn định cư ở Tà Vờng, Tà Dong, đó là nơi khởi nguồn của con suối Hong Uông Trì Huồi, một trong những dòng suối đầu tiên khởi phát đổ ra sông Gianh. Tuy nhiên, vùng đất “có ngọn đồi độc lập” đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của thần Cu Lôông đã chỉ dạy vẫn là trong mơ của bao thế hệ người Mày.
| Bản mới trong mơ theo truyền thuyết của người Mày về một ngọn đồi độc lập. |
Năm 2010, Đồn Biên phòng Ra Mai được giao nhiệm vụ xây dựng một bản mới cho người Mày để tránh núi lở. Tuy nhiên với truyền thống người Mày, họ không bao giờ rời bỏ quê hương bản quán. “Tôi không đi đâu hết/Tôi ở núi rừng cha mẹ đã sinh ra tôi/ Núi rừng này cha mẹ đã nuôi tôi/ Dễ kiếm ăn con cá con ốc/ Tôi không đi đâu hết/ Không bỏ núi rừng tôi/ Núi rừng tôi dễ kiếm ăn/ Dễ kiếm sản vật/ Tôi nghèo, có rừng quê tôi giàu/ Tôi không tham rừng của họ/ Đi rừng của họ khó kiếm ăn” – Lời bài hát của người Mày thường hát vào những ngày lễ tết thể hiện rất rõ điều đó.
Như ông Đinh Thanh Dự thú nhận: Để di chuyển được người Mày rời quê hương, bản quán còn khó hơn lên trời. Họ chỉ có thể đi khi nơi ở mới phải là vùng đất lý tưởng trong truyền thuyết của họ.
Một cuộc tìm kiếm vùng đất mới cho người Mày do Đồn Biên phòng Ra Mai đảm trách tưởng chừng như vô vọng. Thượng tá Lê Văn Thuận, Chính trị viên Đồn Biên phòng Ra Mai nhớ lại: Nơi người Mày sinh sống không chỉ nguy hiểm do sạt núi, lở đất mỗi mùa mưa lũ, mà đường sá đi lại chỉ là những lối mòn, đất đai canh tác không có. Ban đầu bộ đội biên phòng đến đặt vấn đề hầu hết người Mày không chịu đi. Tuy nhiên sau một thời gian kiên trì vận động họ cũng đồng ý nhưng với điều kiện: Nơi ở mới phải là vùng đất của thần Cu Lôông đã chỉ dạy cho tổ tiên người Mày.
| Nếu không có bộ đội nhiệt tình, kiên trì thì tự người Mày khó mà tìm ra vùng đất của thần Cu Lôông đã chỉ dạy. Đây đúng là điều thiêng hiện về.
Già làng Hồ Xếp |
Sau nhiều tháng trời, những chiến sỹ biên phòng của đồn Ra Mai cùng với các bô lão của người Mày đạp hết rừng này qua núi nọ, nhưng vùng đất nào người Mày cũng lắc đầu vì “cái bụng không ưng”. Sốt rét rừng, sên vắt đã quật ngã không ít chiến sỹ biên phòng của đồn Ra Mai. Với quyết tâm phải giúp người Mày thoát cảnh sống cơ cực hiện tại, các kỹ thuật trắc địa hiện đại được bộ đội biên phòng áp dụng, rồi cả lễ vật cầu khấn thần Cu Lôông chỉ cho vùng đất mới cũng được già làng người Mày thực hiện. Rồi cũng đến lúc tất cả vỡ òa trước ngọn đồi Mơ Leeng, ẩn mình dưới điệp trùng núi rừng thuộc dãy Giăng Màn.
Nằm ẩn mình trong trùng điệp núi rừng, ngọn đồi Mơ Leeng nổi lên giữa một thung lũng rộng lớn, đất đai màu mỡ và kế bên là những thác nước trắng xóa đổ xuống từ đỉnh núi cao. Một bản người Mày mới được các chiến sỹ Đồn Biên phòng Ra Mai đảm trách xây dựng. Từ nhà cửa, đường đi, lối lại, đất đai canh tác đều theo phong tục, tập quán của người Mày.
Tháng 10 năm 2011, 22 ngôi nhà mới đầu tiên của người Mày được hoàn thành. Những cư dân của bản mới được chia đất canh tác, hỗ trợ gạo cơm và nhiều vật dụng sinh hoạt gia đình. Ngồi trong ngôi nhà sàn kiên cố, nhìn lên thác Mơ Leeng trắng như dải lụa giữa màu xanh ngút mắt của cây rừng, già làng Hồ Xếp mãn nguyện: “Người Mày miềng cảm ơn bộ đội lắm. Nếu không có bộ đội nhiệt tình, kiên trì thì tự người Mày khó mà tìm ra vùng đất của thần Cu Lôông đã chỉ dạy. Đây đúng là điều thiêng hiện về”.
Về bản mới, người Mày xin vẫn được giữ nguyên tên cũ là bản Dộ, là nơi chôn rau, cắt rốn bao đời nay của họ. Trưởng bản Hồ Khiên tin tưởng, người Mày sẽ nhanh chóng thoát nghèo nơi vùng đất mới. “Ở đây có đất đai màu mỡ, nước khe đầy cá. Mới hai mùa rẫy mà nhiều gia đình đã đầy ắp ngô, sắn, có thể tự chủ được lương thực rồi. Miềng tin con cháu người Mày sau này sẽ phát triển và giàu có thôi” – Hồ Khiên vui mừng nói.
Rời bản Dộ, nghe văng vẳng tiếng ru con của người mẹ Mày: “Con gái ơi/ Bình minh sớm dậy/ Cuốc đất trồng chuối/ Trồng sắn, trồng khoai/ Và trồng mía ngọt/ Mà trồng gai thơm/ Cho bố được vui/ Cho mẹ được nhờ/ Con ơi, này con ơi”.
(Còn nữa)
Hoài Nam
Wow! Cảm ơn Thu Hương nhiều hể, xem xong những link em gởi chị trở thành chuyên gia về văn hóa của các sắc tộc thiều số mất thôi Hương hể 😀
Matta Xuân Lành
LikeLike
Em gửi chị link 8 bài của báo Thanh Niên, Những tập tục kỳ lạ. Và em thấy hình như chuỗi bài này vẫn chưa hết đâu ạ.
Những tập tục kỳ lạ: Gieo quẻ đặt tên
Những tập tục kỳ lạ – Kỳ 2: Đâm tay xử án
Những tập tục kỳ lạ – Kỳ 3: Ám ảnh ma làng
Những tập tục kỳ lạ – Kỳ 4: Nói chuyện bằng “mật ngữ”
Những tập tục kỳ lạ – Kỳ 5: Muốn được chồng phải đi chặt củi
Những tập tục kỳ lạ – Kỳ 6: Phạt vạ trai gái quan hệ bất chính
Những tập tục kỳ lạ – Kỳ 7: Rừng ma và thiên táng
Những tập tục kỳ lạ -Kỳ 8: Muốn vượt cạn phải… vào rừng
Em Hương,
LikeLike
Hi Thu Hương
Đúng là trong cuộc sống của anh em đồng bào các sắc tộc thiểu số còn rất nhiểu điều mình không hề nghĩ đến không biết để nghĩ đến
Như bài Thu Hương giới thiệu ở trên mình biết mỗi lễ hội đâm trâu vì cũng đã có lần mình tham dự ơ Gia Lai còn những nhưng phong tục tập quán khác thì không hề biết là có sự tồn tại của nó 😀
Cảm ơn Thu Hương nhiều nhé 🙂
Matta Xuân Lành
LikeLike
Hi chị Lành,
Còn nhiều điều chưa biết về các dân tộc anh em chúng ta quá chị hể?! 🙂
Em gửi chị và cả nhà các bài trong chuỗi Ký sự này ạ:
Bài 1: Huyền thoại mùa săn máu
TP – Khi đường Hồ Chí Minh rải nhựa phẳng lỳ xẻ dọc dãy Trường Sơn cũng chính là lúc ánh sáng văn minh soi rọi khắp bản làng biên giới. Thế nhưng, lẫn khuất đâu đây giữa đại ngàn, vẫn còn đó những câu chuyện kỳ bí của các tộc người.
Những câu chuyện mãi không phai bởi đó là đời sống tâm linh gắn với sự thăng trầm của những tộc người ấy.
Một trong những câu chuyện ly kỳ nhất giữa đại ngàn Trường Sơn chính là huyền thoại săn máu của tộc người Cơ tu. Cho đến tận bây giờ, vẫn chưa có một nghiên cứu chính xác nào có thể xác định nguồn gốc thật sự của người Cơ tu cũng như tín ngưỡng săn máu xuất phát từ đâu. Vì thế, những câu chuyện xa xăm bên bếp lửa của các già làng hay những tiếng hò reo, những ánh mắt cuồng nhiệt của người Cơ tu trong lễ hội đâm trâu càng làm tục săn máu trở nên huyền ảo.
Khi không còn săn máu người, tộc Cơ tu sẽ phải săn máu bằng lễ đâm trâu
Những trận chiến kinh hoàng
“Tôi đã giết hơn trăm người. Và đâm hai mươi lần lao tôi vào mỗi thân xác Lao của tôi dài, gỗ lao thì dẻo…”
Đó là những câu thơ mà anh lính viễn chinh người Pháp Le Pichon viết trong cuốn “Những người săn máu” đăng trên tạp chí Những người bạn Huế năm 1938. Le Pichon đặt tên cho nó là Bài ca của người chiến binh.
“Những người săn máu” của Le Pichon theo đánh giá không phải cuốn chuyên sâu nghiên cứu văn hóa, nhưng dẫu sao vẫn là những câu chuyện được ghi bằng mắt thấy tai nghe. Chỉ có điều, ông mở đầu bằng việc quy kết người Ka tu (đúng ra là Cơ tu) là tộc người man rợ, chuyên đi săn đầu người, lấy máu là sự thích thú trong cơn cuồng loạn của một tộc người nguyên thủy thì chắc chắn đó là một nhận xét phiến diện. Ít nhất đối với những già làng đầu bạc, trải qua hàng chục biến thiên của núi rừng.
Những lời kể của các già làng giữa đại ngàn Trường Sơn cùng với căn cứ tư liệu để lại, tục săn máu hay còn gọi “giặc mùa” là những chuyến săn đầu, sát hại lẫn nhau giữa các tộc người hoặc các làng (chủ yếu là người Cơ tu săn máu các bộ tộc khác) để thỏa mãn những khao khát tâm linh của họ. Một trong những trận chiến kinh hoàng nhất đó là vào năm 1952.
Trận “giặc mùa” (tên gọi của người Cơ tu đối với tục săn máu) kinh hoàng giữa người Ve ở làng Đăk Nông (Đăk Glei, Kon Tum) và người Cơ tu ở làng Pà Tôi (Nam Giang, Quảng Nam).
Máu – sợi dây giữ người với thần linh
Chuyện kể, làng Pà Tôi một buổi trưa tháng 2/1952 có hai người khách lạ từ làng Ve đến buôn bán trao đổi. Hai người này nghỉ ở nhà Gươl của làng, vô tình để lộ trong ta lét (gùi) những chông tre, đầu mác. Thực hư của những vũ khí này chưa biết để làm gì, nhưng già làng Pà Tôi phải họp khẩn trai tráng.
Tất cả đều cho rằng hai người này giả dạng khách để tới làng săn đầu. Một quyết định tàn nhẫn được đưa ra: lấy đầu hai người này trước. Trai tráng bí mật đóng cửa làng, reo mừng chiến thắng, dâng những chén máu lên Giàng trong niềm thích thú.
Nhưng cũng ngay sau đó, nỗi sợ hãi trả thù khiến người trong làng sống không yên. Trai tráng bắt đầu dựng chông rào làng, chuẩn bị cho một cuộc chiến sinh tồn. Tộc người Ve ở làng Đăk Nông khi hay tin người làng đã bị “giặc mùa”, họ đầy căm phẫn.
Vợ của người bị giết tuyên bố: Phải trả thù, đàn ông trong làng quyết phải lấy lại danh dự cho người chết. Nếu không, họ nên cởi khố cho đàn bà mặc và để đàn bà trả thù. Tự ái ngút trời, hàng chục tráng niên người Ve kéo xuống Pà Tôi nhưng vấp phải sự chống trả quyết liệt.
Không săn máu được người làng Pà Tôi, tộc người Ve đã xuống tay sát hại một lúc 6 người ở một bản lân cận là Tà Col. Cuộc sát hại này như một tiếng nổ dây chuyền khiến cả một dãy rừng già rung động. Người Cơ tu bản Tà Col lập tức mài giáo mác chuẩn bị đi “đòi nợ”. Riêng tộc người Ve ở bản Đăk Nông cũng chưa thỏa mãn cơn khát máu bởi họ chưa thể lấy được đầu của chiến binh làng Pà Tôi nên tiếp tục kéo xuống.
Lần này, sau nhiều đêm rình rập và những trận chiến kinh hoàng, họ lấy được 2 đầu của dân bản Pà Tôi. Trận chiến săn máu trả thù cứ thế tiếp diễn giữa những bản làng, giữa những tộc người. Thời gian này, đêm cũng như ngày, xung quanh bản làng Pà Tôi và Tà Col không một bóng người, đêm đêm, các chiến binh rình mò bên những gốc cây, lăm lăm mác nhọn. Trận chiến nguy cơ kéo dài dai dẳng khiến chính quyền huyện Giằng (Nam Giang ngày nay) buộc phải ra tay.
Một đoàn cán bộ và lực lượng vũ trang lên Đăk Nông xin giảng hòa. Mặc dù vậy, làng Đăk Nông bấy giờ như một vùng cấm, bất kể ai là người lạ vào đều bị giết. Bất đắc dĩ, đoàn hòa giải phải ở tạm bản Đăk Xal gần đó.
Chưa yên, nghe tin người Cơ tu ở bản Đăk Xal, dân Đăk Nông lại đưa giáo mác đến lấy đầu cán bộ. Rất may, già Niu – một người nói ai cũng phải nghe, đã ra tay can thiệp. Sau những thương thuyết vô cùng vất vả, với uy tín của già Niu, dân làng Đăk Nông đồng ý cho A Khớp và Bắp Ngo – hai người trực tiếp lấy đầu dân Pà Tôi về chịu tội với điều kiện phải đảm bảo tính mạng.
Sau đúng một tháng thuyết phục và phải nhờ rất nhiều già làng cùng giải thích, dân làng Pà Tôi mới chịu bỏ qua. Một lễ hội tắm máu dê và trâu diễn ra ngay sau đó, lễ hội được cho là lớn nhất thời bấy giờ ở vùng cao Quảng Nam, chính thức đánh dấu kết cho tập tục săn máu tồn tại từ thuở sơ khai.
Sau trận chiến kinh hoàng giữa tộc người Cơ tu và người Ve ở huyện Giằng, thời gian sau đó tục săn máu có giảm. Tuy nhiên, theo già làng A lăng Avel (bản Tà Làng), những trận săn máu theo mùa vẫn tồn tại đến tận thập kỷ 90. Rồi sau đó dần dần mất hẳn. Già làng A lăng Avel – người Cơ tu đầu tiên làm nhà tránh lũ nay đã 90, tóc bạc như cước chính là nhân chứng sống của những mùa săn máu huyền thoại…
Luật săn máu
Già làng A lăng Avel kể, từ thời của ông, săn máu đã được xem là chuyện không hay ho gì, bởi thế, săn máu chỉ là sản phẩm của thuở sơ khai, mông muội. Sau này, máu người dần dần được thay bằng máu dê, máu trâu mà tiêu biểu nhất vẫn là lễ hội đâm trâu.
Già làng A lăng Avel với những chiến lợi phẩm là nanh vuốt sau nhiều lần đi săn máu
“Sống giữa rừng, nhưng săn máu không phải là luật rừng, nó có quy định hẳn hoi” – già A lăng Avel kể. Nếu giữa hai làng, hai bộ tộc có nợ săn máu (thường gọi là tục đầu tôi) với nhau, cuộc săn máu luôn diễn ra vô cùng quyết liệt. Những trận chiến diễn ra dai dẳng, thường xuyên với những lần mai phục, những nhát phóng lao chí mạng, sau đó cắt đầu lấy máu. Nhưng mùa săn máu giữa hai làng không được kéo dài quá 2 tháng, nếu cả hai vẫn chưa giết được nhau.
Như một quy định ngầm, hai làng, hai bộ tộc sẽ tạm ngừng mùa săn và cũng thời gian này sang năm bắt đầu trở lại. Bên này lấy 2 đầu của người làng này thì chắc chắn bên kia cũng phải đòi nợ đúng 2 đầu. Tất cả đều chính xác, không ai dám vi phạm bởi một nỗi sợ hãi mơ hồ. Vì thế, khi người Ve giết hại một lúc 6 người ở một bản khác, gần như chấn động cả một vùng rừng núi. Với người Cơ tu, đó là một sự vi phạm không bao giờ có thể tha thứ được.
“Lúc đầu là tâm linh, nhưng sau này, oán thù chồng chất, săn máu đã vượt ra khỏi những luật lệ tế thần” – già Avel kể. Già Avel đeo trên cổ sợi dây với hơn 20 chiếc nanh cọp và lợn rừng. Đó là biểu tượng của sức mạnh và chiến thắng trong mỗi lần đi săn. “Lòng kiêu hãnh của đàn ông Cơ tu bây giờ không phải là săn máu người mà là giết được mãnh thú, đem thực phẩm về cho vợ con” – Avel nói.
Ông Briu Pố (xã Lăng – Tây Giang) giải thích, tục săn máu hay săn đầu người nguyên thuở ban đầu hoàn toàn là do tâm linh. Máu như là một sợi dây liên kết giữa người với thần linh. Máu tiếp thêm sức mạnh, hóa giải những tai ương và đen đủi. Có máu cúng Giàng, mùa màng tươi tốt, dịch bệnh được đẩy lùi. Sau này, săn máu khiến con người say máu giữa oán thù. Bây giờ, máu vẫn là thứ liên kết tâm linh, nhưng không phải là máu người nữa…
Còn tiếp
Nam Cường
Bài 2: Rừng ma và phố thị giữa đại ngàn
> Huyền thoại mùa săn máu
> Người Cơ tu qua sông thiêng
TP – Rừng ma – câu chuyện ngỡ đã thành quá vãng với đồng bào dân tộc Cơ Tu, Vân Kiều hay Tà Ôi giữa đại ngàn Trường Sơn vùng Quảng Nam đến Quảng Bình, nhưng dẫu ánh sáng văn minh soi rọi đến từng ngõ ngách, bản làng biên ải thì rừng ma vẫn là nỗi ám ảnh dai dẳng…
Khu núi đá – rừng ma ở bản Tà Rùng (Hướng Hóa – Quảng Trị)
Kỳ bí rừng ma
Rừng ma theo nhiều chuyên gia nghiên cứu văn hóa dân tộc Cơ Tu, Vân Kiều hay Xê Đăng hiểu là một khu rừng cấm của bản làng, nơi đó chôn người chết bằng những chiếc quan tài bằng thân cây. Đầu người chết luôn hướng về phía bản để hồn ma không còn được quay về. Theo tục lệ, sau khi đã được chia phần chiêng ché và của nả để trên thân quan tài cho đến khi bỏ cửa mả (khoảng 1 năm) thì không còn ai quan tâm đến người chết nữa. Bởi thế, linh hồn người chết hoàn toàn về với thần linh. Đó là câu chuyện của những người chết “tốt”, còn đối với những cái chết “xấu”, chỉ ngay sau khi chôn và chia phần, người sống đã quay lưng hẳn, coi khu rừng bỏ quan tài là nơi đại kỵ.
Le Pichon trong cuốn “Những người săn máu” lại có một cách nhìn khác về rừng ma của tộc người Cơ Tu. “Hồn ma của những người chết xấu bị đày tới những nơi đáng sợ nhất trong rừng để trở thành những hồn ma tội nghiệp, những hồn ma chỉ có thể trở lại kiếp người khi đầu thai thành một trong những kẻ độc ác. Thần ác ở khắp mọi nơi…”. Còn với những người tốt, thường có cái chết tốt, đã có thần linh hộ mệnh. Nhưng ngay khi thần linh cũng nổi giận thì lúc đó là thời khắc báo hiệu một giai đoạn kinh hoàng. Tộc người Cơ Tu, vì thế phải làm thần nguôi giận. Và cách duy nhất là máu. Và đó cũng chính là cội nguồn sâu xa của tục săn máu (chúng tôi đã đề cập ở kỳ trước). Già Bhriu Pố (xã Lăng, Tây Giang) kể, tập tục chôn người chết của tộc người Cơ Tu khác hẳn với người Kinh hay các tộc khác. Khi đưa người chết ra khỏi nhà, những tráng niên khỏe mạnh khiêng người chết theo hướng chân đi trước, đầu ra sau. Đầu luôn hướng về phía Tây, phía Mặt trời lặn. Khi chôn cũng thế, đầu hướng về phía Mặt trời lặn. “Làm như thế để linh hồn người chết theo mặt trời mà lặn sang thế giới bên kia, không còn về quấy nhiễu người làng nữa”. Cũng vì nỗi sợ linh hồn người chết, khu chôn cất đối với các bản làng Cơ Tu luôn là nơi đại kỵ. Thanh niên trai tráng dẫu khỏe mạnh, thường xuyên kiêu hãnh về sự can đảm và gan dạ nhưng với họ, khu rừng ma vẫn là chốn không thể đụng đến. “Đó là câu chuyện xa xưa, câu chuyện của vài chục năm trước, còn bây giờ, rừng ma không còn ám ảnh quá nhiều nữa” – già Bhriu Pố nói.
Với người tốt, khi chết được sống trong những quan tài đẹp như thế này
Với người dân tộc Vân Kiều ở vùng biên giới Việt Lào huyện Hướng Hóa (Quảng Trị) thì khác, rừng ma còn nguyên nỗi sợ hãi, như một lời nguyền khó giải trong câu chuyện bên bếp lửa hằng đêm.
Bản Tà Rùng (xã biên giới Hướng Việt) tháng 4 vừa rồi không chỉ rúng động bởi thảm án Hồ Văn Công (người trong bản) giết 5 phu trầm mà còn cách Hồ Văn Công và Hồ Văn Thành chạy trốn vào rừng ma. Pí Mai – một người già ở Tà Rùng kể, khu rừng ma với vách núi đá dựng đứng không chỉ là nơi chôn cất người chết mà đó còn là khu đại kỵ với những hiện tượng lạ. “Khu rừng đó với những hòn đá lạ, thân cây to, nhiều hang đá. Đó là nơi thần linh trú ngụ, động đến có thể bị trừng phạt” – Pí Mai mơ hồ giải thích.
Thượng tá Lê Quang Công – Trưởng phòng CSHS CA Quảng Trị kể, vì nhiệm vụ, anh em bất chấp đó là rừng ma hay rừng gì, quyết bắt được tội phạm về quy án. Nhưng cũng phải xét một điều, thứ nhất vì nhạy cảm, thứ hai là bởi quen thuộc địa hình nên bắt buộc phải có chiến sĩ biên phòng là người Vân Kiều dẫn đường. “Họ là người Vân Kiều, họ phải vượt qua nỗi ám ảnh, cần phải hiểu rằng, những con ma thật đang lẩn trốn chứ không phải linh hồn nào cả”.
Phố thị đại ngàn và minh triết Cơ tu
“Bất đáo khu 7 phi hảo hán” – câu cửa miệng từ thưở trước, khi Tây Giang còn thuộc huyện Hiên với 4 xã vùng biên giới hoàn toàn cách trở. Bình thường đường lên khu 7 đã khó, nhưng đến mùa mưa, đến việc đi bộ cũng là nỗi kinh hoàng. Bởi thế, đời sống của đồng bào Cơ Tu ở Gary, Tr’Hy, Axan và Ch’Ơm luôn nằm trong vòng huyền bí. Bí thư Huyện ủy Tây Giang Bhriu Liếc (cũng là một người ở khu 7) kể, mặc dù đời sống còn quá nhiều khó khăn do xa xôi cách trở, nhưng kỳ lạ thay, giữa đại ngàn Trường Sơn, vẫn có những bản làng no ấm, sạch sẽ văn minh mà ít nơi bì kịp. Bản Agrih được ví như quận 1 TPHCM giữa đại ngàn khu 7 bởi sự trù phú và sầm uất. Trưởng bản Alăng Đươi kể, khi bốn mùa đủ gạo ba trăng, dân tình ấm no thì nỗi sợ hãi mơ hồ về rừng ma cũng dần dần biến mất. Agrih quanh năm chưa bao giờ đói, trâu bò gà lợn đầy chuồng. Người dân ở đây chưa bao giờ động vào một cây gỗ quý. Ai muốn gỗ làm nhà, tự động báo cáo trưởng bản, trai tráng giúp sức, chỉ chọn những loại gỗ tầm tầm, hạn chế hết sức việc phá rừng.
Bản Aur – nơi được Bí thư Huyện ủy Tây Giang gọi là “Singapore giữa rừng già” nằm cheo leo trên núi. Cách đây mấy năm, phóng viên Tiền Phong mất nguyên cả ngày đi bộ, vượt qua những vách núi dựng đứng mới đến được làng. Giờ đây, bản Aur mới lại dời lên một ngọn núi khác, cũng ngay bên dòng A Vương (Tây Giang), nhưng cao hơn, khó tới hơn và lại chứa đựng những câu chuyện thần bí hơn. Già làng A lăng Zèng giải thích, cuộc sống ở làng cũ không có gì phải chê, dân làng trỉa bắp trồng ngô làm rẫy, xuống suối bắt cá, gà thả trong sân, kinh tế đủ đầy. Nhưng già vẫn quyết định cùng trai tráng trong bản tìm vị trí mới, cao hơn, gần với Giàng hơn để tìm sự che chở của thần linh. Aur là bản làng của một tộc người Cơ Tu lưu vong từ nơi này qua nơi khác. Thời gian trước, họ sống trong sự vô thừa nhận của chính quyền Tây Giang và Nam Đông (Thừa Thiên- Huế). Một điểm rất đặc biệt là bản Aur không hề tồn tại rừng ma. “Không phải Aur bỏ tập tục người xưa, vẫn chôn người chết trong một khu rừng, vẫn quay đầu về hướng mặt trời lặn, nhưng trong tiềm thức người làng Aur, ma không còn tồn tại nữa” – Cụ bà A lăng Thảo giải thích.
A lăng Zèng nói không bao giờ người làng Aur được bán chiêng ché
A lăng Zèng nói chuyện như người Kinh, hút tẩu thuốc bằng đồng và vô cùng minh triết khi nhắc chuyện đóng quan tài đưa tiễn người qua đời. “Chỉ riêng bản Aur mới có những quy định mà ít bản khác có được. Ví dụ dùng nước sạch, xả rác, quan hệ yêu đương. Đặc biệt là người ở bản không bao giờ được mang chum ché cổ đi bán. Chính vì thế, dẫu Aur trên đỉnh trời chót vót, giới lái buôn đồ cổ vẫn tìm đến nhưng đành chịu về không”. Già làng A lăng Avel sống thôn Tà Làng, một bản nằm dưới chân núi A Vương, còn ở trên kia là Aur, kể: Nếu người tốt chết, quan tài bằng thân cây là loại gỗ tốt như lim hoặc pơmu, với người xấu, người dân trong bản quyết định đó là loại cây bình thường, dễ mối mọt và mau phân hủy. Chiếc quan tài như một ngôi nhà, một sự nhận biết về phẩm giá, nhân cách của con người. “Với người Cơ Tu, người chết nhưng linh hồn vẫn còn sống, bởi thế chiếc quan tài là vô cùng quan trọng. Làm thế không phải hạ thấp người chết, bởi ai rồi cũng trở về cát bụi, nhưng nhìn vào quan tài, người đang sống sẽ tự răn mình. Khi chết đi, nếu sống tốt sẽ nằm trong gỗ tốt”. Đôi mắt của già đầu bạc Avel nheo lại nhìn vào ngọn lửa. Tôi hiểu, đó là minh triết của người Cơ Tu.
Điện đường trường trạm, nông thôn mới ùa về nơi miền biên ải khiến Tây Trường Sơn như lột xác chuyển mình. Văn hóa Cơ tu có thể mai một, nhưng những ám ảnh săn máu, rừng ma như vẫn còn lẩn khuất đâu đây. Họ can đảm, kiêu hãnh và minh triết trong cả cái chết. Và chắc chắn họ không man di mọi rợ như kết luận về chữ Katu của Le Pichon. Cơ Tu- hiểu đúng chỉ là tộc người sống đầu nguồn nước…
(Còn tiếp)
Nam Cường
Bài 3: Huyền bí ‘Chiêng ché’ của người Cơ tu
> Rừng ma và phố thị giữa đại ngàn
> Huyền thoại mùa săn máu
TP – Ở kỳ trước, tôi đã kể về già làng A lăng Zèng ở bản Aur mù sương, người giữ gìn chiêng ché, cổ vật của bản như giữ mạng sống của mình. Với người Cơ tu, chiêng ché thiêng liêng còn hơn cả tài sản. Nó là linh hồn của núi, bổn mạng của người chết lẫn người sống…
Trẻ em Cơ tu bây giờ vẫn được truyền niềm tin bất diệt vào linh hồn của núi. Ảnh: Nam Cường
Bản Aur nằm ở non cao, quanh năm mây phủ, đường lên hiểm trở nhưng giới buôn bán cổ vật không chịu từ bỏ. Kể từ ngày lập làng, mấy lần lái buôn chiêng ché vạch rừng tìm đến, cuối cùng lắc đầu về không. Như một hương ước không thành văn, câu chuyện ma mị về chiêng ché truyền từ đời trước đến đời sau, mãi không phai trong tâm trí.
Cụ bà A lăng Navy ngồi trên giường, nheo nheo đôi mắt già nua nhìn chúng tôi như khẳng định, ở thế giới này vẫn còn những tộc người khác, những người Kinh ăn mặc, nói năng khác với người Cơ tu mình. Gần 100 tuổi, trong đầu cụ bà này là cả một pho truyện về rừng núi âm u, về đại ngàn Trường Sơn thăm thẳm.
Nguyên cớ gì bản không cho phép bán chiêng ché, khi giới săn lùng cổ vật từng chồng cả mấy cây vàng, chồng cả chiếc xe Dream 2 của những năm thập niên 1990 cho một chiếc ché? Ở Aur, nhà nào cũng có những hàng chiêng ché cổ, cái nào cũng quý, niên đại hàng trăm năm và là độc bản.
Cụ bà A lăng Navy hiền hậu: Đến tận ngày nay, tiền cũng chưa phải là thứ quan trọng của người làng, xe máy lại càng không. Bao đời nay, thứ giúp làng Aur dịch chuyển từ nơi này qua nơi khác chính là đôi chân. Kỳ lạ thay, những chiếc ché, chiêng cổ trải qua hàng trăm năm theo biến thiên của bản làng, vẫn mãi gắn bó. “Đó là một sự huyền bí linh thiêng đến tận hôm nay không ai giải thích được” – cụ Navy nhớ lại.
Cái ngày cụ bà Navy ra đời, sống tuổi niên thiếu là một nơi đâu đó tận trong rừng thẳm, rất xa. Ngày đó cụ Navy đã thấy trong nhà mình, ngôi nhà sàn đơn sơ đầy ắp ché. Và người làng cũng ngày ngày tự mày mò đúc ché, làm chiêng. Tất cả đều làm bằng tay, khắc tranh thủy mặc, vẽ rồng. Nếu là đồ độc bản, có niên đại hàng trăm năm, các bức tranh trên những chiếc ché của người Aur hoặc một vài bản làng xa xôi Cơ tu không bao giờ nổi mà chìm vào bên trong.
Càng để lâu, nước màu càng sáng bóng. Gõ lên nghe những tiếng coong coong vọng như tiếng chuông chùa giữa đại ngàn. A lăng Zèng kể, mỗi lần làm xong một chiếc ché, nghệ nhân của làng dùng dao, cắt một ít máu của mình ở tay hòa chung với rượu và tắm rửa sạch sẽ cho ché. Thời gian làm mất mấy tháng mới xong, sau đó 3 ngày, cả bản bắt đầu làm lễ cúng chiếc ché. Nếu không, đó cũng chỉ là một vật vô tri.
Trai bản vào rừng, săn lùng mãnh thú mang về, cắt máu vào từng chiếc bát cổ. Ché được đặt giữa nhà Gươl, già làng bắt đầu cúng. Thần linh nghe lời khẩn cầu của dân làng, thông qua những bát máu và xác mãnh thú nóng hôi hổi bắt đầu nhập vào.
Mổ bụng mãnh thú để cúng thần ché
Già Navy nhớ lại một câu chuyện rợn người, cách đây hơn 80 năm. Ngày đó, bản Aur chỉ gần 20 hộ, còn Navy mới 15 tuổi. Vào một ngày, khi hoàn thành xong chiếc ché, một chàng trai người trong bản không ương bướng không chịu nghe lời già làng, không chịu cúng Giàng.
Anh ta khỏe mạnh, là niềm kiêu hãnh của bộ tộc, thường xuyên đem mãnh thú về cho dân làng. Những ngày gần sáng, nếu trước cửa nhà của cô gái nào nghe tiếng hú của anh ta và những chiếc đầu mãnh thú để ở bậu cửa, đó là một niềm hạnh phúc.
Navy là cô gái được hưởng niềm hạnh phúc đó. Nhưng niềm vui của cô gái trẻ chưa kịp tận hưởng thì tai ương ập đến, cũng bởi chàng trai làm ché, săn được mãnh thú nhưng không chịu dâng máu lên thần linh. Năm đó, trời mưa dầm dề quanh năm suốt tháng, xen vào là những cơn mưa như thác đổ đại ngàn khiến Trường Sơn trở nên u tịch.
Người làng bó gối, còn chàng trai vẫn quyết vào rừng. Và rồi, xác chàng trai được tìm thấy ở bìa rừng, mất đầu, máu ri rỉ chảy. “Thần trút giận” – A lăng Navy đến tận bây giờ vẫn còn thảng thốt. Và rồi cứ như một đại họa lây lan, hằng năm sau đó, cứ đến mùa mưa, thêm một chàng trai khỏe mạnh ra đi, vẫn là những cái chết thương tâm rùng rợn, đầu mất, ri rỉ máu.
“Khoảng 4 người như thế, người làng phải làm lễ cúng to. Lễ vật là 4 chiếc đầu mãnh thú thì thần mới nguôi giận”. Kể từ đó, chiếc ché mà chồng của Navy làm ra mới bắt đầu có linh hồn. Kỳ lạ thay, năm sau đó làng được mùa, Aur như sống trong lễ hội triền miên. Mấy chục năm sau, ngày dời làng, A lăng Navy chỉ mang theo chiếc ché và một vài vật dụng. Trên đường đi, Navy trượt ngã lăn xuống suối, ché vỡ tan tành. Kết thúc một câu chuyện ly kỳ.
Sau này, khi A lăng Navy lấy chồng khác, gia tài vẫn luôn đầy ắp những chiếc ché cổ, như một kỷ niệm về người đàn ông đầu đời, một chiến binh săn máu thiện nghệ.
“Bây giờ không ai làm ché nữa, toàn bộ chiêng ché ở Aur đều có từ xa xưa, nhưng cứ đến mùa mưa, người làng lại làm lễ cúng, giết một con thú, dâng máu cho Giàng”.
Aur cách đây mấy năm tôi lên ở làng cũ, sống lưng chừng trời, nhưng khi lên lại lần thứ 2, họ đã ở hẳn trên một đỉnh núi cao. Ngày tôi trở lại cũng là một ngày mưa tầm tã. Đúng buổi sáng, người làng giết một con lợn rừng. A lăng Zèng giải thích, phải lọc toàn bộ lòng, tim gan để mãnh thú được sạch sẽ thơm tho. Sau khi cắt đầu, mãnh thú được dâng lên Giàng. Sau khi mổ bụng con lợn thì bắt đầu quy trình khép kín ở nhà Gươl, người ngoài không được phép tham gia.
“Có những thứ quý hơn tiền, đó là niềm tin tuyệt đối vào những vật tưởng chừng vô tri, bởi chiêng ché có linh hồn, có thần linh trú ngụ. Người ở bản Aur hiền hòa, sống dựa vào rừng núi linh thiêng nên sẽ không bao giờ phản bội thần, niềm tin này truyền đời mãi mãi, cho con cháu” – A lăng Navy nói như tự sự.
A lăng Linh có hẳn một phòng cho chiêng ché
Bản Aur là một địa chỉ quen thuộc của “tay chơi phố núi” A lăng Linh, người mấy chục năm nay chuyên sưu tầm cổ vật, chiêng ché, hiện sống ở thị trấn Prao (Đông Giang – Quảng Nam). Dù quý ché hơn cả mạng người, nhưng A lăng Linh chưa bao giờ đem được chiến lợi phẩm về nhà.
Người đàn ông này hơn 35 năm nay lặn lội khắp nẻo rừng già, chỉ mong thỏa niềm vui tìm chiêng ché độc bản. Mấy cặp ché Rồng, Thượng Thủy, Hoa giấy ở bản Aur đối với anh chỉ là niềm mơ ước. Gia tài của A lăng Linh giờ đây dễ có đến mấy tỷ, một con số khủng đối với dân nghèo Cơ tu. Tất cả của anh đều là độc bản, là nỗi thèm khát của giới buôn cổ vật.
“10 năm trước, tôi chỉ như người đi buôn cổ vật, chiêng ché, đưa về nhà rồi cất đó. Nhưng một lần, lên tận Gary mua được ché cổ. Sau khi đem về vì nhà chật nên để ché dưới đất. Đêm đó, giấc ngủ của tôi toàn thấy những chuyện kinh hoàng, như kiểu thần linh nổi giận trách mắng.
Thời gian sau đó, tôi đau lên ốm xuống, nương rẫy, mùa vụ thất bát, trâu bò trong nhà tự nhiên lăn đùng ra chết. Hoảng quá, tôi lên lại miền biên giới Gary, được già làng kể cho, đó là ché thiêng, thần linh giận dữ vì dám để ché dưới đất. Sau đận đó, tôi cúng một con dê và mấy con gà. Đập nhà cũ làm nhà mới, dành nguyên một phòng để chiêng ché, hạn nặng mới qua”.
Thực hư chưa biết thế nào, nhưng A lăng Linh sau trận ốm đã ra tận Huế, bỏ tiền đóng một bộ quần áo thêu rồng tinh tươm, cứ 4 giờ sáng thức dậy, tắm rửa sạch sẽ, xức rượu thơm và thắp hương khấn vái thần chiêng ché.
“Tôi không bao giờ bán lại những thứ độc bản. Mơ ước của tôi là làm một bảo tàng chiêng ché cho người Cơ tu, đó là linh hồn của rừng núi. Là thứ hiển hiện thường ngày trong nhà, trong sinh hoạt, nếp nghĩ của người Cơ tu” – A lăng Linh tâm sự. Bí thư huyện ủy Tây Giang Bhriu Liếc lắc đầu khi tôi hỏi, có con số thống kê chiêng ché cổ nào không.
“Thống kê là điều đại kỵ, ai lại tính số cho niềm tin bất diệt vào tâm linh của bà con bao giờ. Dẫu cho phố thị văn minh đến khắp bản làng, dẫu tranh nứa được thay bằng mái tôn, bóng điện thế đèn dầu, bia thay rượu tàvạt thì chiêng ché mãi mãi là linh hồn của núi”.
(Còn nữa)
Nam Cường
LikeLike
Mình thật thích khi đọc bài này, chung quanh còn biết bao điều bí ẩn diệu kỳ nơi những anh em sắc tộc thiểu số.
Có những điều mình ngỡ chỉ còn có trong những chuyện cổ tích những huyền thoai được dựng nên
Để làm cho cuộc sống của các em tuổi thần tiên thêm thi vị chứ không ngờ vẫn có vẫn tồn tại trong xã hội chúng ta đang sống 😀
Matta Xuân Lành
LikeLike