Tag Archives: Văn

Giấc Mộng

Vườn lan của ông Trần mấy hôm nay không hiểu tại sao lá cứ rũ xuống. Ông lo lắng vô cùng, nhất là gần đến ngày giao hàng cho khách chơi xuân.

Buồn bực, ông Trần lên phản nằm vắt tay lên trán suy nghĩ rồi thiếp đi lúc nào không biết. Bỗng một làn gió nhẹ thổi tới, hương thơm dịu dàng cùng một thiếu nữ xinh đẹp y phục mầu hồng phấn mỉm cười cúi chào rồi vòng tay thưa:

– Tiểu nữ là sứ giả Phi Điệp, xin chuyển lời chào của Tứ Đại mỹ nhân trong vương quốc Hoa Lan và xin kính mời ông tới hội kiến.

Ông Trần vội vàng sửa sang y phục, vừa mừng, vừa lo, vừa hiếu kỳ theo chân Phi Điệp sứ giả. Nàng dìu ông lướt đi, chẳng mấy chốc đã tới một khu vườn như chốn địa đàng, khắp nơi đủ các loại lan quí khoe sắc đua hương. Chính giữa khu vườn là một đài cao kết bằng muôn vàn các loại hoa thơm cỏ quí. Bốn nàng tiên, mặt hoa da phấn đã chờ ông từ bao giờ. Sứ giả Phi Điệp cúi chào rồi giới thiệu với ông Trần:

– Nàng tiên y phục vàng mơ, quí phái, dáng điệu như vừa từ vũ hội quần tiên bước ra là Hòang Vũ. Nàng tiên xiêm y xanh ngọc kiêu xa là Thanh Lan. Nàng tiên trang phục tím đen, sang trọng thầm kín kia là Mặc Lan. Nàng thứ tư xiêm y vàng đậm, cao sang là Cẩm Tố.
Bốn nàng tiên mời ông Trần ngồi trên đôn cỏ. Sau khi mời ông cạn chén nước thơm vốn là những giọt sương mai đậu trên những cánh hoa lan, nàng Hoàng Vũ nhẹ nhàng nói:

– Từ lâu chị em chúng tôi đã biết tiếng ông Trần là người sành hoa, hoa lan do ông chăm sóc như được thổi hồn, thêm hương, thêm sắc.

Bốn nàng tiên nhìn nhau mỉm cười ý nhị, nàng Thanh Lan tiếp lời:

– Hôm nay chị em chúng tôi mạn phép mời ông tới đây, trước hết để tỏ lòng biết ơn của họ nhà lan và cũng xin được mạo muội giãi bầy đôi điều gan ruột: Hình như lâu nay do mải mê việc kinh doanh hoa lan, nên ông Trần có đôi chút lơi lỏng trong việc chăm chút cho chị em nhà lan dưới đó..?

Ông Trần nhột nhạt cả người, mồ hôi ướt đầm lưng áo. Đúng là lúc đầu bán đi những dò lan ông từng phải bỏ biết bao công sức và cả cái tâm vào đó, ông cứ ngơ ngẩn như đánh mất một kỷ vật vô cùng quí báu. Lâu nay khi thị trường hoa lan mở rộng, nhu cầu của giới chơi lan ngày càng nhiều, ông làm hàng loạt kiếm lời. Càng bán được nhiều, lợi tức càng lắm, ông coi hoa lan như phương tiện làm giàu, chứ không coi như những tác phẩm nghệ thuật như tiêu chí ông đề ra lúc mới vào nghề. Đôi khi ông không giấu được nụ cười mãn nguyện trước chồng tiền ngày một dầy lên. Đặc biệt là lâu nay khi phong trào chơi lan rừng rộ lên, ông tổ chức hẳn một đường dây khai thác. Khi nghe cánh sơn tràng nói đến việc để lấy được một dò lan quí, họ phải chặt hạ cả một cây cổ thụ mấy người ôm. Ông biết một cây cổ thụ đổ xuống đã là một điều xót xa, nhưng đau xót hơn là cả mấy chục cây khác cũng bị gẫy gục. Xong ông chặc lưỡi hít hà nuối tiếc đôi chút rồi lại bị những dò lan tuyệt mỹ và nguồn lợi khổng lồ mê hoặc nên quên đi tất cả…

Tiếng nàng Mặc Lan như gió thoảng:

– Chúng tôi vẫn biết ông Trần là người có tâm, mong ông đối xử với họ nhà Lan chúng tôi bằng cái tài cái tâm của một nghệ nhân chân chính. Mỗi dò lan khi đưa ra thị trường phải như một tác phẩm nghệ thuật làm đẹp cho đời, góp phần hướng con người tới những giá trị đích thực của Chân – Thiện – Mỹ, nâng đỡ con người vượt lên những vướng bụi của cõi tục.

Nàng Cẩm Tố thâm trầm:

– Chị em chúng tôi xin tặng ông Trần cánh lan này, gọi là chút kỷ niệm của lần tri ngộ.
Rồi nàng nhẹ nhàng đặt vào tay ông Trần một cánh hoa lạ, mong manh và trong suốt như pha lê, hương thơm ngào ngạt. Ông Trần vừa đón lấy, cánh hoa chợt tan biến trên tay, bàn tay chợt ấm nóng lên như có dòng điện nhẹ lan tới từng tế bào cơ thể…

Ông Trần giật mình tỉnh giấc, hồ nghi sờ nắn đôi tay, đâu đây vẫn vương mùi hương thoát tục. Ông rảo bước ra vườn. Trăng sáng vằng vặc. Ông Trần nhẹ tay vuốt những chiếc lá lan đã ngả vàng, lạ chưa, những chiếc lá bỗng trở nên xanh biếc.

Ông Trần nghe như có tiếng phập phồng thỏang hơi thở nhẹ, có tiếng lách tách của những chồi non đang khẽ cựa mình, có tiếng thầm thì rạo rực của những nụ lan hé nở… những âm thanh quen thuộc thuở nào đã từng làm xao động trái tim ông.

Ông khoan khoái mỉm cười hít một hơi căng đầy lồng ngực. Cả vườn lan lá động rì rào, những chiếc lá rung rinh sáng ngời ánh bạc, hương thơm nhẹ nhàng tinh khiết lan tỏa khắp khu vườn.

Một mùa xuân mới đã về!


Trần Vân Hạc

Hãy kiêu hãnh và tự do, như những chú gà rừng

    Tôi là chúa tể của chính tôi…
    (Benjamin Franklin)

Anh bạn 18 tuổi mấy hôm nay đang lên tiếng đòi tự do: được mua xe mới để tự lái đi học thay vì để ba đưa đón hoặc đón xe bus, được đóng cửa phòng khi tiếp bạn thay vì mở cửa như mẹ quy định, được thỉnh thoảng ngủ đêm lại nhà trọ của bạn cùng lớp khi có liên hoan thay vì phải về nhà trước mười rưỡi tối…

Bạn nói với tôi rằng thật quá “oải” với sự bảo bọc của cha mẹ. Thậm chí, mỗi lần cắt tóc bạn đều phải theo ba đến tiệm quen. Trong câu chuyện, bạn thú nhận rằng, cho đến tận hôm nay, bạn chưa bao giờ tự xúc cơm vào chén của mình. Đó là việc của mẹ, bà, hoặc cô giúp việc. Bạn chỉ việc bưng tô cơm đã xúc sẵn lên ngồi trước ti vi và ăn.

Đến năm mười bốn tuổi tôi vẫn chưa tự xếp quần áo cho mình. Tất cả đều là việc của mẹ. Giặt, phơi, xếp, ủi, treo lên móc. Mỗi sáng, tôi chỉ việc mặc những chiếc áo rất thẳng thớm tinh tươm để đến trường. Cho đến một ngày nọ mẹ đi vắng, và trời trưa đang nắng bỗng lắc rắc vài hạt mưa. Không cách nào khác, tôi phải làm. Lấy quần áo từ sào phơi, ôm vào phòng. Tôi chợt nhận ra quần áo vừa lấy từ sào xuống thật là thơm, một mùi hương mới mẻ, lạ lẫm, thanh sạch, “nóng giòn”. Mùi của nắng. Và lần đầu tiên trong đời, tôi ngồi xuống bên đống quần áo, lóng ngóng, bắt đầu xếp từng cái một.

Tôi chỉ muốn nói rằng …những ví dụ đó không hoàn toàn là những việc nhỏ nhặt.

Khi không tự làm điều gì đó cho bản thân – chẳng hạn như việc xúc cơm, với bạn, hay việc xếp quần áo, với tôi – ta có thể tận hưởng cảm giác thoải mái của sự bảo bọc (hay lười biếng), nhưng đồng thời, chúng ta cũng đang đánh mất dần – từng chút – một điều rất có ý nghĩa với đời mình: bản năng độc lập.

Bản năng mạnh mẽ nhất của con người là học lấy những kỹ năng sống nhằm tự tồn tại. Vừa lọt lòng mẹ, chúng ta khóc oe oe đòi sữa, vì “con khóc mẹ mới cho bú”. Không có ai dạy cả, Rồi ba tháng biết lẫy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò biết đi…Rồi nhảy cú nhảy đầu tiên. Ngã cú ngã đầu tiên…Cha mẹ đứng quanh vỗ tay cổ vũ, khen ngợi. Nhưng chính chúng ta, dù bé nhỏ, mong manh như vậy, khi mới vài tháng tuổi đã tự mình làm nên những kỳ tích.

Hãy nhớ lại lúc bé thơ. Khi nào mẹ cho bạn cầm kéo cắt hình chiếc lá: đó là khi mẹ tin rằng bạn có thể cầm kéo mà không tự cắt vào tay mình. Ba mẹ không bế ẵm ta nữa, nếu ta đã biết đi, muốn tự đi một mình và quan trọng nhất là khiến ba mẹ tin rằng ta có thể tự đi một mình, biết vịn vào ghế, biết tự đứng dậy được khi vấp ngã. Có bao giờ bạn tự hỏi: tại sao cha mẹ có thể thả tay ra cho bạn đứng chựng khi bạn mới mười tháng tuổi, mà vẫn xúc cơm cho bạn khi đã mười tám tuổi. Nếu mẹ có thể xúc cơm cho bạn thì có gì lạ đâu nếu ba không yên tâm để bạn lái xe một mình…

Nếu chúng ta không chứng tỏ được rằng mình có thể tự làm, người khác sẽ tin rằng chúng ta không thể tự làm. Nếu bạn không tự làm được điều dễ dàng, cớ sao tôi phải tin rằng bạn có đủ trách nhiệm và nhận thức để làm điều khó hơn?

Trang Tử nói: “Gà rừng trong đầm cỏ đi mười bước mới nhặt được một hạt thức ăn, đi trăm bước mới uống được một ngụm nước. Nhưng chúng không mong cầu được sống trong lồng” Chúng ta có giống được những con gà rừng không? Nếu chúng ta vì ưa thích thóc gạo bày sẵn mà chịu chui vào chiếc lồng. Rồi từ sau những song tre đó, chúng ta đòi trả tự do?

Từ xúc cơm, xếp quần áo, sách vở, đến chọn trường, chọn nghề, tìm việc, kiếm sống, chọn chồng chọn vợ, chọn tương lai… Chúng ta sẽ quá quen với việc được sắp sẵn. Chúng ta ưa làm việc đã được người khác lên kế hoạch hơn là tự mình vạch ra kế hoạch. Chúng ta chuộng thói quen hơn sáng tạo. Chúng ta chỉ vui khi có người tâng bốc, chỉ hết buồn nếu có người an ủi vuốt ve. Chúng ta thậm chí không muốn tự phân biệt sai đúng trừ khi có người làm thay. Chúng ta không thể làm chủ đời mình. Cứ như vậy, chúng ta đánh mất bản năng của gà rừng và biến thành con chim trong lồng lúc nào không biết nữa. Thậm chí, một con chim trong rất nhiều lớp lồng.

Như vậy đó, anh bạn! Không ai lấy mất tự do của chúng ta, chỉ có chúng ta tự nguyện đánh mất nó, thay vì cố gắng giữ lấy nó. Chúng ta, ở tuổi mười tám, thỉnh thoảng kêu gào rằng tại sao cha mẹ lấy hết tự do của con, mà quên rằng chính mình đã đánh mất tự do – từng chút một – từ lâu lắm. Khi được ai đó làm thay một việc nhỏ, và chúng ta chấp nhận việc ấy như điều hiển nhiên, nghĩa là chúng ta đã tự đan thêm một song tre cho chiếc lồng đời mình.

Tác giả Robert Fulghum từng trở thành best seller với một cuốn sách có tựa đề thú vị “Tất cả những gì tôi cần phải biết tôi đều được học ở nhà trẻ”. Đó là những nguyên tắc sống: chia sẻ, chơi công bằng, không đánh bạn, để đồ đạc vào chỗ cũ, không lấy những gì không phải của mình, dọn dẹp những gì bạn bày ra, nói xin lỗi khi làm tổn thương ai đó, rửa tay trước khi ăn, học một ít, suy nghĩ một ít, vẽ và hát và nhảy múa và chơi và làm việc một ít mỗi ngày, ngủ trưa, có ý thức về những điều kỳ diệu, cây cối và các con vật đều chết – và chúng ta cũng vậy, từ đầu tiên và quan trọng nhất cần phải học: quan sát.

Hãy đếm xem: 100 chữ. Những gì cần phải học chỉ như vậy. Chúng ta được học ở nhà trẻ nhưng đã đánh rơi dần trong quá trình lớn lên. Cũng như khi sinh ra, ta đã có sẵn bản năng độc lập nhưng lại đánh mất nó trong quá trình sống. Không có bản năng độc lập, chúng ta không thể nắm giữ được tự do. Nghĩa là trước khi đòi tự do, bạn phải tìm lại bản năng độc lập của mình.

Mọi thứ đơn giản hơn chúng ta tưởng. Thậm chí có thể nói rằng cuộc đời này rất giống một nụ hôn, nó có thể tệ hơn, hay tuyệt hơn nụ hôn trước đó, nó có thể khiến bạn hạnh phúc, cũng có thể làm bạn vỡ mộng, nó có thể khiến bạn nhận ra mình yêu, hay nhận ra mình hoàn toàn không yêu. Nó chứa đựng những bí mật mà bạn chỉ khám phá được sau khi đã hoàn thành.

Hãy tự mình hoàn thành, và bạn có thể nói bạn là chúa tể của chính mình. Như những chú gà rừng.

Hãy luôn luôn kiêu hãnh và tự do như những chú gà rừng.

Đông Vy và Phạm Công Luận

Chiếc bánh chưng

Mùng bốn tết, cả nhà đang ngồi quanh chiếc bàn ăn. Bà mẹ gắp ào chén con gái một miếng bánh chưng, cô bé vùng vằng :

_ Con đã ớn quá rồi mà mẹ cứ bắt con ăn mãi.
_ Này, lớn thêm một tuổi nữa rồi đấy nhá, nhõng nhẽo không sợ người ta cười cho à ?

Nhìn miếng bánh với vẻ chán chường, cô bé còn đang lưỡng lự thì ngòai cửa chợt xuất hiện một bà già ăn xin, tay dắt theo một đứa bé khỏang 4, 5 tuổi lò dò bước vào, cất giọng van xin :

_ Xin các ông các bà làm phúc cho bà cháu tôi đồng lẻ sống qua ngày …xin các ông các bà…
_ Thôi đi đi, gớm, mới đầu năm đã vào quấy rồi.

Ông chủ nhà xua tay nói. Đứa con trai ngồi gần đấy, thấy đứa trẻ tội nghiệp thì móc túi lấy ra tờ tiền lẻ bỏ vào cái nón rách của bà già. Bà già cúi đầu cảm ơn, nhưng đáng lẽ bà đi ra ngay thì bà lại đứng lại nhìn sựng lên bàn ăn. Miếng bánh chưng đập vào mắt bà. Đôi mắt hấp hem lộ rõ vẻ thèm muốn. Bà già ngập ngừng, do dự, nhìn lại đứa cháu đang bấu vào gấu áo, bà thu hết can đảm nói :

_ Cho tôi …xin một miếng bánh chưng, có được không ạ ?

Bà mẹ gắt tóang lên :

_ Cái bà này hay quá nhỉ, đã cho tiền rồi còn lải nhải gì nữa.

Bà già cúi mặt, lủi thủi bước đi, nắm tay đứa cháu đang cố ngoái lại nhìn miếng bánh chưng với vẻ thèm thuồng, nó nhệu nhạo :

_ Bà ơi ! Cháu đói…

Bà nó đưa tay quệt nước mắt, khẽ nói :

_ Ráng đi con, xin thêm được vài đồng nữa rồi bà mua bánh cho con ăn nhá.

Thằng bé lẽo đẽo di theo, tay vẫn bíu lấy cái gấu áo vá víu của bà nó.

Trong bàn ăn, cô bé buông đôi đũa xuống đứng dậy. Bà mẹ sửng sốt :

_ Sao chưa ăn đã đứng dậy rồi ?

Cô bé trả lời gọn lỏn :

_ Con không muốn ăn nữa.

Bà mẹ bực tức :

_ Người ta còn không có mà ăn, đây thừa mứa thế này thì không ăn

Cô bé nhìn vào mắt mẹ, hỏi gặng :

_ Mình thừa mứa thế sao mẹ không cho người ta được một miếng ?
_ Mày….

Cô bé cầm chiếc bánh chưng đi vòng hết phố nọ qua phố kia, đôi mắt dõi vào từng ngóc ngách các vỉa hè, cố tìm cho ra bà cụ già bà đứa trẻ hôm qua. Mồ hôi tuôn dài trên gương mặt ửng hồng vì nắng. Lần đầu tiên trong đời, cô bé mới thấy hết được ý nghĩa của chiếc bánh chưng trong ngày tết. Trước đây cô bé từng nghe người lớn nói :

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh

Và năm nào mẹ cũng gói bánh chưng, vừa gói vừa nói với các con đang quây quần chung quanh :

_ Tết mà không có cái bánh chưng thì không ra ngày tết.

Vậy mà có những người không có thịt mỡ, cũng chẳng dưa hành. Cây nêu tràng pháo lại càng xa vời hơn nữa, và không có cả đến một miếng bánh chưng, thế thì còn đâu là ngày tết. Hình ảnh còm cõi, nhẫn nhục và thiểu não của hai bà cháu ăn mày, khiến cô bé cảm thấy như chính mình có tội. Cái tội bất công của cộng đồng nhân lọai. Và chính điều đó đã thôi thúc cô bé, buộc mình phải tìm cho được họ, để được đặt vào tay bà lão ấy chiếc bánh chưng với một lời xin lỗi. Nhưng chân thì đã mỏi rã ra rồi, sức nóng của trời nắng chang chang khiến cô bé cảm thấy rất mệt và khát khô cổ. Nhưng cô bé vẫn đi, cô vẫn hy vọng là sẽ tìm thấy. Đến một ngã tư, vừa quẹo qua đầu phố, cô bé thấy ngay một đám đông vây quanh sự việc gì đó. Tò mò, cô bé cũng ghé vào xem. Bỗng cô bé kêu lên một tiếng :

_ Trời…

Trên nền đất, trước hiên của một ngôi nhà đóng kín cửa, bà lão ăn mày nằm co quắp, hai tay ôm bụng trong tư thế gập người. Bên cạnh bà là đứa trẻ đang lê lết với tiếng khóc kêu khàn đục :

_ Bà ơi…ch..áu…đ…ói…

Như vô thức, cô bé quỳ xuống trước mặt bà lão đã lìa cõi thế ấy, đặt trước bà cái bánh chưng, và vẫn như vô thức, cô cầm một nén nhang đốt sẵn ở đó cắm vào chiếc bánh, đôi môi run rẩy mấp máy, cô bé bỗng bật khóc và vụt bỏ chạy như bị ma đuổi. Nén nhang trên chiếc bánh vẫn đều đều nhả từng sợi khói mỏng…

Đàm Lan

Hương sắc rừng xuân Tây Bắc

Núi ngàn Tây Bắc mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng, đầy bí ẩn và đam mê, quyến rũ. Song mùa xuân có một vẻ đẹp không mùa nào có được. Trên nền xanh non mướt mát căng đầy nhựa sống, là những sắc mầu tinh khôi, hài hòa đến tuyệt đỉnh của các loại hoa rừng, mà mỗi sắc mầu, mỗi hương thơm như thấm đẫm, tan hòa trong thiên nhiên, trong mỗi bản mường, trên muôn sắc mầu thổ cẩm tay búp măng rừng thêu dệt, trên sắc má đào thơm thơm thiếu nữ và trong ánh mắt cười lung linh của người già, trẻ nhỏ, đơn sơ mộc mạc thế thôi nhưng say đắm lạ kỳ.

Tây Bắc núi non trùng điệp. Khi nàng xuân khoác tấm áo choàng như sương như khói nương ánh bình minh lướt trên đỉnh núi, lòng thung, bàn tay dịu hiền, ấm áp như bàn tay thân thương của bà, của mẹ, của em chạm vào vạn vật. Đất bỗng chuyển mình trong cồn cào sinh nở, những rừng cây thu mình lại tránh cái giá rét của mùa đông giá như thoáng ngỡ ngàng rồi bừng tỉnh e ấp những chồi xanh, những dòng suối đang nhẹ nhàng róc rách thì thầm bản tình ca mùa đông, bỗng reo vui ngời muôn ánh bạc, trên những cành cây xù xì thô ráp chợt hé muôn nụ xuân, ngơ ngác trước sự hoàn sinh diệu kỳ của vạn vật, rồi đua nhau bừng nở những bông hoa đầy hương sắc chào xuân mới.

Xuân Tây Bắc ngàn thứ hoa rừng, những hoa lê, hoa mận, hoa đào, hoa ban, hoa chuối, hoa dó, các loại lan rừng… những loài hoa có tên và không tên. Khắp núi ngàn như được dát bằng một tấm thảm nhung gấm ngồn ngộn sắc mầu, ngây ngất hương thơm, hôi hổi một sức sống diệu kỳ bất tận. Mỗi làn gió xuân nhẹ thổi, muôn sắc mầu lại hân hoan, nao nức trong những đợt sóng xanh reo vui đuổi nhau xa tít tắp. Những bông hoa dập dờn, thấp thoáng như muôn ngọn lửa ấm áp. Nếu hoa lê, hoa mận, hoa ban, hoa dó… trắng đến nao lòng, thì hoa đào phớt hồng lại như gợi bao nỗi niềm về một mùa hò hẹn. Mùa hoa mận đến sớm nhưng thật là độc đáo, vừa mới chiều qua đấy thôi, những nụ hoa còn e ấp, chúm chím nét cười duyên trên cao nguyên Mộc Châu (Sơn La), Bắc Hà (Lào Cai)… cho lòng người cứ thấp thỏm đợi chờ, vậy mà sáng xuân nay đã mênh mông một mầu trắng đến nghiêng cả đất trời.

Cái khoảng khắc diệu kỳ đến nao lòng ấy để lại trong ta một ấn tượng khó phai. Chỉ một bước chân mà cái khoảng cách của hai mùa Đông – Xuân bỗng trở thành gần gũi. Còn sắc hồng phơn phớt của hoa đào Tây Bắc lại như một thông điệp của mùa xuân. Đào Tây Bắc không rực rỡ kiêu sa, nhưng lại đi vào chiều sâu của không gian và thời gian và tình người đằm lắng. Những cánh hoa đơn hồng nhạt, dung dị, mà không kém phần thanh cao ấy chuyên chở cả mối tình bất tử. Người xưa đã dùng dòng máu từ trái tim yêu nhuộm thắm những bông hoa trên tấm thổ cẩm dệt bằng khát vọng một tình yêu trắng trong chung thủy mãi hồng trên khắp non ngàn và trái tim của người Tây Bắc.

Người Mông Tây Bắc còn gọi hoa này là “Tớ Dảy”, người Mông có câu:“Làm mùa xem hoa tớ dảy /Xây lứa đôi xem bàn tay”. Hội chơi núi đầu xuân – “Sài sán”, từng đôi trai gái Mông ô hồng nghiêng chao, đôi mắt huyền tình tứ, sắc hoa đào hồng trên má thắm, tiếng khèn, đàn môi, kèn lá thổn thức cả rừng xuân. Du khách chỉ một lần được chiêm ngưỡng hoa đào Tây Bắc chắc sẽ không khỏi trầm trồ thán phục vẻ đẹp dung dị nhưng thánh thiện ấy, để rồi ký ức cứ ùa về rộn rã trong nhịp vó ngựa của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ gửi nhành đào báo tiệp tới Ngọc Hân công chúa và cứ tự hỏi: Có phải tự ngàn xưa hồn thiêng dân tộc đã hòa trong sắc hoa đào, nên những cánh hoa đào rơi như những giọt nước mắt hồng, khi quân giặc treo và bắn người anh hùng nhỏ tuổi Vừ A Dính vì không chịu chỉ nơi ở của du kích, cùng những hạt mầm của cây đào Tô Hiệu xanh biếc trên đá xám nhà giam đã bừng nở những mùa xuân bất diệt cho dân tộc?

Nếu hoa đào được coi là hoàng hậu của mùa xuân, thì hoa ban lại được coi là hoa của tình yêu, của lòng hiếu thảo. Người Thái Tây Bắc có bao nhiêu câu chuyện tình về hoa ban, câu chuyện nào cũng thấm đẫm một khát vọng về tự do hôn nhân và tình yêu đôi lứa. “Hoa ban nở thành người con gái Thái” – (Dân ca Thái), mỗi bông hoa năm cánh trắng ngần tỏa hương thơm dịu như búp tay em, trên nền lá xanh trung trinh hình tim hai nửa. Có phải vậy không mà từ bàn tay em gọi lúa lên xanh, gọi ngô mẩy hạt, bông ngời sắc trắng, hóa thân trong muôn sắc mầu thổ cẩm, đến những dòng suối già nua trầm tư kia mỗi khi tay em hồn nhiên khỏa nước, bỗng thổn thức một trái tim yêu trẻ trung cháy bỏng một ước mơ hạnh phúc vẹn tròn.

Trong Hội hái hoa ban, những đôi người yêu nhau gửi gắm bao ước nguyện trong mỗi nhành hoa trao nhau: “Hoa ban nở, hoa ban tàn/ Tình ta đẹp như hoa ban/ Còn dài lâu thì như hoa nào /Hỡi người ta yêu…”. “Đôi ta yêu nhau không tính mùa ban nở/ Không thấy ngày ban tàn/ Mãi mãi như mùa ban bắt đầu, ngày ta yêu nhau”, “Trăm năm ngắm ban nở vẫn còn ngắm mãi. Mỗi mùa ban lại thêm trẻ, không già” (tình ca Thái). Cũng vì vậy người Mông Tây Bắc gọi hoa ban là: ‘Pà lầu”, pà là hoa, lầu là già, xuân về, ngắm hoa ban người già thấy lòng trẻ lại. Giữa mênh mông rạo rực chồi non lộc biếc của đại ngàn ngút ngát, từng chùm hoa ban trắng bồng bềnh như áng mây trên đầu núi, bâng khuâng trong không trung rồi ùa xuống các lòng thung và ngời trên tận những đỉnh núi chọc trời, sáng bừng từng nếp nhà, bản nhỏ. Hoa ban từ lâu gắn bó với đất và người Tây Bắc và được xem là biểu tượng của Tây Bắc.

Tây Bắc còn bao nhiêu loại hoa rừng: Hoa dó mang một hương sắc riêng như một cung bậc tinh tế trong bản hòa tấu sắc mầu, dịu dàng trong câu si, câu lượn: “Hoa dó giục đàn ông vào rừng lấy củi/ Giục đàn bà vào rừng lấy lá dong/ Giục mọi nhà khẩn trương cày, bừa, cấy lúa/ Khắp nơi nhộn nhịp tưng bừng”. “Bên suối, bên nương hoa dó thả từng chùm/ Như những bàn tay trắng xinh vẫy gọi/ Hoa khoác vai nhau soi mình bên suối/ Hương ngọt ngào dưới trăng/ Có chiều xuân gió khẽ đu cành/ Cả rừng dó lao xao ca hát”. Chính vì vậy, tết đến xuân về, trên mâm cúng tổ tiên của người Tày không thể thiếu đĩa hoa dó. Rồi một bông hoa chuối đỏ rực trong đại ngàn xanh, mỗi con gió dập dờn, bông hoa lửa lập lòe, bập bùng như trái tim đỏ thắm, hoa gạo thắp lửa đỏ trời, hoa dã quỳ vàng rực ven đường, hoa cải trắng làm duyên bên triền nương và còn bao loại lan rừng kiêu sa, tiên cách… tất cả như được một bàn tay tuyệt vời vẽ vờn trên lụa, thực mà sao cứ như mơ.

Mùa xuân trên mọi nẻo đường Tây Bắc, du khách được thỏa thích ngắm những bông hoa rừng đủ loại, gợi nhớ, gợi thương. Hương hoa thấm đẫm trong từng ngọn gió, thơm trong tiếng khèn thanh thoát vút cao, ngọt ngào trong tiếng hát ai thiết tha, nồng cháy trong tiếng đàn môi thầm thì gọi bạn, ngây ngất đam mê trong làn tóc ai náo nức hội xòe. Những đàn bướm hàng ngàn con dập dờn trong vũ điệu giao duyên, những chú ong say hương mùa mật ngọt, những tiếng chim gọi bạn cặp đôi xanh trong vòm lá…

Hương sắc rừng xuân Tây Bắc ấy chân thật, tự nhiên, đồng hành và tự lúc nào đã ăn sâu vào tiềm thức người dân Tây Bắc, trở thành một phần không thể thiếu, mỗi độ xuân về lại náo nức hồi hộp đợi chờ như lời hẹn hò với một mối tình thuở hoa niên. Còn với những người con xa xứ, tình yêu, nỗi nhớ với hương sắc rừng xuân Tây Bắc thật khó mà đặt tên, cứ dư ba, đau đáu day dứt khôn cùng trong ký ức và khát khao một cuộc hành hương về cội.

Xuân 2010
Trần Vân Hạc

Tìm về núi cũ xem mai nở

Cam Ranh quê tôi là đất mai, là một phần của rừng mai Phước Hải (Khánh Hoà) xưa, kéo dài từ Nha Trang đến Cà Ná, nay đã bị thu hẹp khá nhiều. Tháng Chạp, mai biển nở bạt ngàn cả một vùng cát trắng Thủy Triều. Làm sao không rung động khi đứng trước phong cảnh hoang sơ, một bên là biển, một bên là cát trắng, và trên những cồn nhỏ ở giữa, là mai vàng nở rực.

Lần đầu tiên ăn Tết ở Sài Gòn, tôi rất lạ khi thấy người ta cắm mai mà không cần đốt gốc, chỉ hai ba cành mai rừng nhỏ, cắm vào một cái bình sứ rất đẹp, đã được lau bóng lưỡng từ mấy hôm trước…Chưa bao giờ tôi nghĩ mai có thể được cắm một cách dễ dàng và đơn giản như những loài hoa khác. Ở quê tôi, những cành mai chặt về phải được đốt gốc trên lửa nóng, để giữ lại nguồn nhựa sống cho mai, nuôi những đoá hoa còn ươm nụ. Nếu không đốt kỹ, có khi, cả hoa lẫn nụ đều gục đầu héo rũ ngay vào ngày mồng Một.

Đến nhà ông chú, thấy hai ba người đang lui cui khiêng một chậu mai kiểng lớn vào nhà. Đây là cây mai chưng từ mấy năm nay, do một người bạn tặng, giá vài triệu đồng, hết Tết thì gửi cho mấy vườn mai, 28 Tết năm sau người ta lại đem tới. Mất có trăm ngàn mà khoẻ re. Tết vẫn cứ có mai chưng, hoa lá đầy đủ, ra hoa đúng độ, lại chẳng cần bận tâm gì đến chuyện chăm sóc. Và lặt lá mai trở thành một khái niệm hết sức xa vời. Tiện thật đấy, nhưng sao tôi vẫn thấy thiêu thiếu một chút tình…

Những đứa trẻ như tôi ngày xưa háo hức theo cha đi chặt mai, vượt đầm Thủy Triều ra đến cồn từ sang sớm để chọn cho được cây mai “có thế” nhất, hoa đều nhất. Khi trở về thì mặt trời đứng bóng, bọn trẻ giành vác cành mai lùm xùm những cành, bước từng bước khó khăn theo chân cha đi trên vùng cát mênh mông. Dưới cái nắng ấm vàng rực rỡ của miền Trung những ngày giáp Tết, những hạt cát trắng loá, lấp lánh một màu trắng tinh khôi sạch sẽ. Những cơn gió thổi nhẹ qua lại xoá tan hết dấu chân người, trả lại vẻ hoang sơ và thanh tịnh rất hợp với mai. Nhớ đến run người những khoảnh khắc đó, khi mỏi chân dừng lại, hít một hơi sâu làn không khí đầy ắp gió biển, trong trẻo và thanh sạch vô cùng, ngoái nhìn trước sau chỉ thấy một màu cát trắng, chợt nhớ Hàn Dũ xưa kia lúc “đạp tuyết tầm mai”, chắc cũng chỉ hạnh phúc và đầy rung cảm như ta ngày nay “đạp cát tầm mai” là cùng!

Ấy vậy mà cái hạnh phúc khi gặp mai của người “tầm mai” cũng chưa so được cái hạnh phúc gặp mai bất chợt. Không biết bây giờ còn bao nhiêu người của lớp Báo chí A-K97 nhớ ngày “dụ dỗ” được thầy chủ nhiệm đi chơi tận thác Mai (Đồng Nai). Cả nhóm cứ đi mãi, vượt qua sông La Ngà, con đường xuyên rừng chập choạng buổi chiều tối ngoằn nghèo dẫn vào thác. Đêm đó, tuổi 20 ngẫu hứng và bốc đồng nên vừa lội suối vừa ngắm trăng, rồi nằm dài trên đá mà hát cho nhau nghe đến sáng. Để mai dậy mắt ai nấy đỏ kè, loạng choạng lái xe trở về mà đầu óc dường như còn chưa tỉnh. Chợt tất cả đột ngột dừng xe sững sờ khi bắt gặp bên rừng mấy bụi mai nở sớm, màu vàng mơ nhẹ nhàng, và mong manh quá trong làn sương sớm còn ướp đầy mùi nhựa cây và hương thảo mộc. Trong suốt những năm tháng ở đại học, tôi chưa bao giờ cảm thấy yêu bạn bè mình đến thế, trong giây phút cùng lặng thinh không nói nên lời cạnh những bụi mai bên rừng. Khi trong trái tim mỗi người dường như có một niềm vui sướng và xúc động như nhau.

Hình như mai đẹp nhất không phải khi được đặt trong bình sang chậu đẹp. Ở Cam Ranh, xã được xếp loại “vùng sâu vùng xa” nhất có lẽ là Cam Hiệp, nơi học trò muốn đi học phải lội bộ cả chục cây số. Nhóm bạn rủ nhau đi thăm cô giáo cũ ở vùng này, loanh quanh cả ngày chợt nhận ra ở đây nhà nào cũng có vài ba cây mai núi trước sân, bình thản nở ngay cạnh những vách nhà xù xì rơm khô trộn đất. Buổi chiều trên đường về bỗng gặp cảnh thần tiên. Một ngôi nhà gỗ giản dị, Một khung cửa sổ mở ra vườn. Một cô gái nhỏ tóc buông dài chống cằm nhìn ra sân. Tất cả, là cái nền cho một cây mai vàng, có thể gọi là cổ thụ, gốc to, rễ lồi, thân xù xì những nhánh lớn như cây ổi, lác đác những lá xanh to, cao gần bốn mét, đang nở hoa rực rỡ ở độ mãn khai nhất ngay bên ngoài cửa sổ. Không hiểu sao, sắc vàng của mai trong buổi chiều tà lại buồn đến vậy, hay tại đôi mắt trong đen rất đẹp của cô gái ấy thoáng nét u sầu. Hai chàng trai trong nhóm không dời chân được, đánh bạo bước vào nhà xin… uống nước. Cô gái ngượng ngùng trốn ra nhà sau, chỉ có ông chủ nhà niềm nở mời trà khách lạ. Kể rằng khi cha ông đến dựng nhà trên mảnh đất này thì cây mai đã ở đó, mùa xanh lá không ai để ý đấy là mai. Đến mùa đông, nó tự rụng lá rồi trổ hoa vào mùa xuân. Không ai lặt lá, cây lớn quá hơi đâu mà lặt. Nên mai tự nhiên nở, có năm sớm, năm muộn. Một tay lái ở Nha Trang tình cờ thấy, mê mẩn, dụ dỗ ông già cho bứng luôn gốc đem về thành phố bán, bộn tiền lắm. Nhưng ông chắc nịch :“Mấy anh coi, không có cây mai đó nhà tui còn gì. Nó chính là cái tinh thần của gia đình này từ mấy chục năm nay!”…

Những năm sau có bận mấy, nhóm bạn cũng trở lại căn nhà ấy vào ngày mồng Năm. Cô gái đã lấy chồng, chỉ còn người cha và cậu em trai. Trở lại, như chàng Thôi Hộ, chỉ để ngồi uống trà nơi cái bàn gỗ thấp đơn sơ, hỏi thăm như bâng quơ về cô gái và say sưa ngắm khung cảnh thần tiên như tranh vẽ bên ngoài cửa sổ, nơi những đoá hoàng mai nở rực khắp vòm bên những chiếc chồi xanh.

Tết này ở Sài Gòn, thêm một cái Tết xa quê, lại thèm quá một ngày được “Tìm về núi cũ xem mai nở. Mộng bén ngàn xa hạc điểm canh” (thơ Quách Tấn)

Đông Vy

Tết Kinh

Thuở nhỏ, được nắm váy mẹ đi ăn Tết nhà ông Tỵ người Kinh ở dưới Từ Tâm, sướng không gì bằng. Vậy mà năm đó mẹ không cho đi. Không biết sao nữa. Năm ngoái mẹ còn dẫn đi mà. Đi, vừa được bữa no nê, vừa có tiền lì xì với lại được quà bánh xách về.

Từ năm 1961, cha hết làm ruộng ở Hiếu Thiện – Palau quê ngoại, mà về Caklaing làm ăn. Ông Tỵ dân Từ Tâm, có mấy đám ruộng Gađak cho cha làm rẽ. Ruộng gò khó theo nước, chỉ mỗi đất tốt nên sau vụ lúa người ta có thể gieo đậu. Cha làm hai vụ. Ngoài vụ chính, cha tranh thủ vài đám ruộng cạnh bờ sông làm chiêm. Lúa bareng (lúa chiêm, dường như xuất phát điểm từ Champa) hạt màu nâu vàng, nhỏ và khá thơm, chỉ cần ba tháng là thu hoạch được. Giống này năng suất rất thấp, có thể nói thấp nhất trong các loại giống. Lại gieo trái vụ, nên cần canh me chim chóc. Nhưng được cái là nó giúp cứu đói ngắn ngày. Sau khi gặt chiêm, cha gieo giống ba trăng, để kịp với vài đám gieo lúa mùa khác.

Ông Tỵ là giáo viên làng, say xỉn suốt. Mỗi lần ông có việc (hay nổi hứng) ghé qua nhà là mỗi lần dáng ông lảo đảo. Vậy mà ông cứ đòi. Mẹ phải chạy ra quán Bà Hai đong xị rượu gạo cho ông ăn cơm với cha. Cha hiền từ, ít nói. Cũng không rượu chè. Thế là có mỗi ông lai rai. Và nói. Đúng là một cực hình.

– Thế nào tết này anh chị cũng phải xuống tui. Ông Phó uống với tui chén rượu chi. Ông kéo dài chữ “chi” cuối câu rất ư là Từ Tâm.

Tôi chỉ mong có thế. Nhớ là dường như cha chưa lần đi Tết ông. Có mỗi mẹ. Kèm theo tôi với anh Đạm. Nhưng lần này mẹ đổi ý. Không hiểu sao. Chỉ nhớ là mẹ không cho đi. Rất dứt khoát. Tôi khóc, chạy theo ôm tảng đá to trước cổng nằm giữa đường nhà bà Cò, lăn lộn. Thằng này chăng dai, không dễ bảo như anh nó – mẹ hay bảo thế. Chắc không có áo mới. Mà không áo mới làm sao mà đi ăn Tết. Mấy đứa bạn được mẹ dắt đi kìa, tôi thì không. Tại sao không mua áo mới trước đó? Có lẽ tôi đã làm dữ lắm, nên cuối cùng, mẹ cũng chiều. Không dép cũng được, miễn là có áo mới. Mẹ mượn của ai đó.

*

Ở thị xã Phan Rang, người ta biết đến Tết khi dưới bãi sông Dinh ở cầu Đạo Long cắm đầy mấy trăm cây mai rừng do lính cộng hòa chặt trên núi chất lên chiếc GMC chạy thẳng vào phố. Chiến tranh mất an ninh, nên họ độc quyền. Gọi là bù lỗ, cũng hay.

Với sắp nhỏ chúng tôi, khi có đợt rét của gió bấc tới, đồng lúa vãn mùa, lũ trâu được thả bừa trên mênh mông cánh đồng đầy rạ. Là Tết đến.

– Ông bà người đằng quê thế mà thiêng, mẹ nói khi gió cứ vần làm cho bà khó giê hết đống lúa. Khiến trời đứng gió cho con cháu họ dựng nêu ấy mà.
– Năm sau mẹ sẽ lặp lại chính câu đó cho mà xem, tôi bảo anh Đạm.

Đó là mùa mai vạn thọ vàng rực núi đồi. Cả rừng mai vạn thọ. Kéo dài từ cánh rừng làng Văn Lâm sang tận khu rừng Vĩnh Hảo. Lên trên nữa là mai núi. Cũng bạt ngàn. Kể rằng, bên cạnh suối thiên nhiên, khi xưa chính Chế Mân cho trồng thả hai loại mai này để cùng công chúa Huyền Trân du xuân. Nhưng ông vua hào hoa này đã chẳng hưởng thụ được hơn một mùa mai, rồi đi biệt. Mang theo luôn bí ẩn cuộc tình đẹp nhưng đầy éo le vào đêm mờ lịch sử.

Ông đi, nhưng rừng mai ở lại. Ở lại cho đến cuối những năm tám mươi của thế kỉ thứ XX, khi kế hoạch triệt phá rừng đã hoàn tất, thì cây mai cuối cùng cũng làm cuộc chia li không hẹn ngày về.

Còn thuở học Pô-Klong, Tết – tôi ít khi về quê, mà tình nguyện ở lại Kí túc xá. Chúng tôi ăn Tết kiểu khác. Tuổi học sinh, quậy thì khỏi nói rồi. Hết giờ trực, hai ông anh lớp trên rủ tôi vào phố cà phê, không quên bảo tôi mang theo cái túi xách. Mãi mười giờ mới về. Anh Tr. kêu nhỏ: Trạm đứng đây chờ anh nhé. Anh chạy biến đi, mang về nải chuối, hộp bánh qui, miếng cốm,… Rồi cứ tiếp tục thế. Dọc đường bao nhiêu là đồ cúng! Anh lại bảo tôi chờ. Tôi hỏi anh:

– Không sợ ư?
– Ma ăn rồi mà, không sao đâu. Anh trấn an tôi.
– Nhưng đồ ma…!
– Chăm vẫn ăn đồ padơng đám ma đấy thôi. Nhưng ma Kinh không sao đâu, họ xơi nhanh lắm. Thế là đến lượt mình…

Về đến Kí túc xá thì túi xách tôi mang đã đầy cứng.

*

Bên cạnh Ramưwan (tức Ramadan) của người Chăm Bàni hay Hồi giáo cũ, Katê là Tết chung của cộng đồng Chăm, là dĩ nhiên rồi. Đầu tháng Bảy Chăm lịch, Chăm lên tháp cúng tế trời đất, ông bà tổ tiên. Rồi kéo nhau về làng ăn Tết. Nhưng từ lâu lắm rồi, người Chăm vẫn cứ xem Tết, cả Ramưwan, Nguyên đán,… tất tần tật đều là Tết của mình. Lạ, tôn giáo Chăm, Bàlamôn giáo, một tôn giáo rất cổ, tưởng khép kín, không ngờ lại rất mở. Văn hoá dân tộc Chăm cũng thế. Hãy tưởng tượng dân tộc cư trú dọc miền duyên hải Trung bộ nhìn mở ra biển Đông, suốt mười mấy thế kỉ.

Nói sang chuyện thờ cúng. Trước tiên ngay thế kỉ thứ II, Chăm xem Ppo Inư Nưgar – Bà Thiên Y Ana là người tạo lập xứ sở. Vị trí thờ phượng luôn được đặt ở hàng đầu. Sau đó, thế kỉ XIV, khi Hồi giáo nhập địa Champa, vị trí này được nhường lại cho Allah. Chăm coi Ngài là đấng sáng tạo vũ trụ, trong khi Ppo Nưgar chỉ được xem như người tạo lập xứ sở. Ai nhất thì tôi thứ nhì!

Trong các cuộc lễ, tôn giáo Bàlamôn Chăm mở ngõ cúng bái cả các vị thánh trong Kura-ưn (Koran). Rồi khi có xung đột ý hệ tôn giáo Hồi – Bàlamôn trong lịch sử, Chăm hóa giải và hòa giải bằng sáng tạo ra một giáo phái mới: Mưdwơn, phục vụ cho cả hai phía: Chăm Bàlamôn và cả Chăm Bàni. Vui vẻ.

Trong lễ lớn là Ramưwan (tháng Chín chay tịnh), hình ảnh mở đẹp nhất của tôn giáo-tín ngưỡng Chăm có lẽ là từng đoàn cô gái Chăm Bàlamôn đội ciet bánh trái cúng dường nhà Chùa Hồi giáo (sang mưgik). Thành kính và trang trọng. Các dịp lễ gia tộc khác cũng thế, Chăm Bàlamôn luôn mời các vị thầy Acar về tận nhà hành lễ. Lạ!
Lạ mà đẹp.
Với người Kinh – xen cư hay cộng cư trong khu vực có cộng đồng Chăm sinh sống – cũng vậy. Tết Nguyên đán gần như được người Chăm coi như Tết của mình, dù lâu nay người dân quê Chăm chưa xem nó là Tết chung cả dân tộc Việt Nam. Đây chỉ là hành xử rất ư tự phát, một tự phát có nguồn gốc từ ý thức (hay vô thức cộng đồng) rất mở của văn hóa Chăm suốt quá trình lịch sử, tồn tại mãi đến hôm nay. Người Chăm đội giạ nếp, cặp gà qua ăn Tết Kinh cùng hay khác làng có quan hệ quen biết hoặc làm ăn buôn bán. Ăn Tết đã đời rồi còn có quà bánh mang về nữa. Nhất là sắp trẻ, cũng háo hức đón Tết. Mừng dựng nêu, đốt pháo – xưa; hoặc đạp xe xuống phố, qua khu vui chơi giải trí – nay. Tết như có thêm ngày hội. Còn với người lớn, mùa Tết nhằm ngày vụ vừa xong nên người ta cũng không tiếc nhau lời chúc, quà tặng.

Chúng tôi nói đùa nhau Chăm hân hạnh đón đến bốn cái Tết mỗi năm là vậy.

*

Thế hệ trẻ con chúng tôi hưởng sái tinh thần mở ấy.

Lạ là tôi chưa lần nào thấy cha đi Tết. Cha ít được vui như mẹ, dù cha rất vô tư, mẹ hay la cha thế. Cha luôn ngủ ngon để hôm sau ra đồng sớm. Cha không văn nghệ, mẹ thì ưa nói chữ. Mẹ khoe mẹ học sáng. Khi có chuyện mắng chị Hai, mẹ thích đem vụ học sáng ấy ra dạy. Dân quê Chăm thuở đó ai biết chữ quốc ngữ đâu. Mãi đến thời Ngô Đình Diệm, ngoài vụ cấm Chăm mặc váy với vài thứ phong tục tập quán dân tộc, ông còn lệnh buộc tất cả công dân tối phải xách đèn theo lớp bình dân học vụ. Mẹ nói mẹ học
sáng nhất lớp.

Sau này khi có gia đình, quen biết và kết thân với nhiều bạn bè Kinh đủ lứa tuổi, tôi nhiều dịp Tết Kinh. Ông Thả ở Hải Sơn bạn vong niên tôi thuở nhà tôi làm rau muống xuống xóm biển nhờ ông sắm thuyền thúng. Mười năm và mãi lúc này, tình cảm hai bên vẫn khắng khít. Rồi ông Mười – Long Bình, bạn và là sư phụ câu của tôi. Ông với đứa con trai mỗi sáng sớm vác cần câu lội khắp mấy vùng sông nước mà mấy bạn tôi đùa không khác gì thầy trò Don Quichotte! Đi Tết mấy nhà này thì khỏi nói: ngon, no và vui vẻ.

Đấy là nói Tết nhà quê. Tết thành phố thì khác.

Ba mươi năm sau, tôi đèo Hani trên chiếc xe đạp cà tàng hơn mươi cây số qua ăn Tết nhà ông bạn tại Bình Chánh. Vẫn mâm cỗ đầy, hấp dẫn nhưng, chủ nhà chỉ dọn lên mà không mời khách. Lạ quá. Năm trước đó, tại nhà bạn văn ở Bình Thạnh “ăn Tết” cũng hệt vậy. Anh chỉ đãi vài chung rượu (rượu Tây, dĩ nhiên) với ít bánh mứt. Cả lời chúc tụng nữa. Ngoài ra: không gì cả! Bụng đói meo. Lẽ nào mình nhắc vở. Bà xã liếc mình mấy lượt, cười nhăn nhó.

Hay Tết ở thành phố nó thế? Hèn gì, Tết là mọi người đổ xô về quê.

Cứ nhớ cái Tết nhà quê. Có dựng nêu, có ngồi canh xoong bánh tét,… Và nhất là, có rất nhiều màu áo mới.

Inrasara (Trong Những mảnh đời chắp vá)

Ba Đào

Ngôi nhà tôi cần tìm nằm sâu trong một ngõ nhỏ, hai bên đường mướt xanh những tán lá, mùi hương thoang thoảng của hoa và quả chín như ướp vào mũi, cho tôi một cảm giác thật dễ chịu, một cảm giác nhẹ nhàng thư thái. Một khoảng không gian bình yên, tĩnh lặng, tách biệt khỏi khu đô thị ồn ào náo nhiệt tiếng xe cộ gần như suốt ngày đêm chỉ độ mươi cây số là cùng. Phải chăng vì thế mà Trọng Đình chọn làm chốn lui về ? Một cái tin bất ngờ gây nhiều tranh cãi trong giới anh em “bán chữ” chúng tôi. Một cặp từ vừa có tính khôi hài vừa có tính tự trào mà vui miệng chúng tôi tự gán cho cái nghiệp của mình. Có người cho là châm biếm, mỉa mai, cũng được, có sao đâu khi một vấn đề có thể nhìn từ nhiều góc độ, cũng như chuyện của anh Trọng Đình vậy. Những thông tin từ nhiều phía không làm tôi bận tâm là mấy, vì thừa hiểu tính hành lang của nó, điều chủ yếu là nguyên do của những thông tin. Trọng Đình là bậc đàn anh của lớp trẻ chúng tôi, nều muốn tôn xưng hơn nữa thì phải gọi anh là “Thầy”, nhưng anh không thích danh xưng này, nghe vừa xa cách vừa kiêu mạn. Vốn theo đuổi cái nghiệp gian nan này từ nhỏ, anh đã phải trải qua không biết bao là trở ngại. Ai cũng biết, nghệ sĩ là người chỉ muốn sống cho cái đẹp, chỉ muốn góp hết sức mình cho những giá trị tinh thần của cuộc sống, và chính vì thế gần như đối lập hoàn toàn với kinh tế, mặc dầu vẫn luôn phải phụ thuộc vào nó. Cái nghiệp văn chương lại là thứ đeo đẳng bám riết như nợ nần, người cầm bút cứ muốn trải hết lòng mình ra giấy, bởi cuộc sống chung quanh luôn có những điều trăn trở. Đó là tâm tư của những người cầm bút chân chính. Trọng Đình là một người như thế. Văn và báo chiếm cả hai tay, cuộc sống gia đình không mấy khi dư dả, nhưng nếu ai bảo đổi cây bút để lấy một thứ có giá trị vật chất thì không bao giờ. Anh thường nói “Văn chương là chiếc cầu nối tình người. Chúng ta đem rao bán cái nhân tình, thì chúng ta phải biết biểu thị cái nhân tình của chính chúng ta trước đã. Đừng có viết một đàng, xử sự một nẻo. Tất cả sẽ chỉ là sự vô nghĩa, sáo rỗng khi bản thân chúng ta không là một thực nghiệm. Viết – Trước hết là Sống đã”. Đại loại là những lời rất tâm rất tình của anh mỗi khi có dịp trò chuyện với chúng tôi. Một vài tay trong số chúng tôi có được chút tên tuổi ngày nay là cũng nhờ công dìu dắt của anh. Và quả thật, anh không hề có sự mưu cầu hay tư lợi những cái được cho mình. Dù lớn hay nhỏ, anh đều muốn có sự minh bạch, thẳng thắn, vì thế mà người ưa anh cũng nhiều, người ghét anh cũng lắm. Chẳng sao cả, ở đời chuyện yêu ghét là thường tình, chỉ cần mình không thẹn với lương tâm là đủ. Vậy đó, thế mà không hiểu sao, sau một chuyến công tác dài ngày ở Hà Nội về, tôi nghe nói anh tuyên bố gác bút. Rõ là một điều khó tin, nếu không phải là thật , thì ai ? và vì lý do gì mà tung ra cái tin ấy ? Còn nếu là thật, thì phải có chuyện gì ghê gớm nghiêm trọng lắm xảy ra, anh mới có một động thái gay gắt như vây. Bởi nếu phải từ bỏ một niềm đam mê đã thấm lậm vào tận máu thịt, thì chẳng khác nào người ta phải từ bỏ cuộc sống của mình.

Muốn rõ đầu đuôi, chỉ có một cách tìm gặp anh, xem anh có dốc bầu tâm sự. Tôi lại càng nghĩ ngợi hơn nữa khi hỏi toà soạn nơi anh làm việc, thì nghe nói anh vắng mặt cả nửa tháng nay rồi. Đến chỗ nhà anh vẫn ở thì họ bảo anh đã dọn đi. Chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra cả. Tìm hỏi lung tung, cuối cùng tôi nghe được, hình như gia đình anh chuyển về khu này. Hình như cũng được, ít ra cũng có một mấu chốt. Hỏi thăm mấy người tôi mới đến trước ngôi nhà nho nhỏ này. Gọi là nho nhỏ vì nó lọt thỏm giữa mấy cái nhà xây cao ráo đẹp đẽ bên cạnh. Một ngôi nhà ván, lợp tôn, loại nhà phổ biến của những người có thu nhập thấp. Không biết có phải…

Còn đang nghiêng ngó, tôi chợt giật mình vì một tiếng sủa oăng oắc, chú khuyển bé mình mà lớn họng, dường như chú muốn tỏ rõ cái oai phong của chủ nhà, bốn chân choãi ra lấy thế, cái mõm cứ chõ thẳng vào mặt khách chả biết lịch sự là gì. Tôi bật cười, con vật cũng biết ra trò khẩu khí nữa là. Thoáng thấy bóng người đi ra, tôi reo thầm trong cổ họng “Đúng rồi” Còn lẫn vào đâu được cái dáng ôm ốm, ngăm ngăm cao vừa phải. Anh chợt cười rộng miệng khi nhận ra tôi :

_ A , Phố hả ? Về bao giờ thế ?
_ Em về mấy ngày rồi, hỏi thăm mãi mới tìm được anh ở đây.
_ Ừ anh mới chuyển về đây, còn nhiều anh em chưa biết. Vào đi, sao chuyến đi gặt hái được nhiều chứ ?
_ Dạ cũng gọi là có cái để bày mâm dọn chén.
_ Chà, ghê nhỉ. Chú đi cũng cả tháng đấy nhỉ ?
_ Vâng, hơn mấy ngày anh ạ.

Tôi theo chân anh vào nhà, gian nhà không bao lớn, một phòng khách, một phòng ngủ và bếp, nhưng trông gọn ghẽ, giản dị. Anh chỉ bộ bàn ghế mây :

_ Ngồi đấy đi, đợi anh một tí. Lương ơi, đi mua cho bố cút rượu đi con.
_ Thôi anh ạ, em có đem về cho anh chai Lệ Mật đây.
_ Thứ đó để uống lúc khác, bây giờ uống rượu nút lá chuối khô thú hơn.

Nghĩa là cuộc rượu chiều nay ít nhất cũng kéo dài đến tối, không sao , đó lại là điều tôi đang muốn. Anh đi xuống bếp, tôi ngồi lại ngắm quanh. Trên hai vách tường đối diện nhau là hai bức tranh cũng có sắc độ tương phản nhưng trông lại rất hòa hợp. Một là cảnh một dãy núi cao với những lô xô bóng cây to rậm rạp, điểm thêm những dáng chim đang sải cánh, một là giữa đại dương mênh mông, một con tàu với cột khói to phăm phăm rẽ sóng, lác đác trong khối màu xanh ngăn ngắt là lấm chấm những hình đầu cá, đuôi cá. Cả hai bức tranh đều biểu thị một sự mạnh mẽ, hùng vĩ và khoáng đạt. Thiên nhiên luôn đem đến cho con người những cảm giác có ích. Hẳn bất kỳ ai đứng trước khung cảnh này cũng đều dậy lên trong mình một xúc cảm mạnh mẽ vững chãi.

Những đồ vật khác trong gian phòng đều được kê xếp gọn ghẽ hợp lý, chừa ra một khoảng không gian đủ để tạo được một cảm giác hít thở nhẹ nhõm.

Anh đi lên với cái khay trên tay, hai cái ly nhỏ, hai đôi đũa, một cái đĩa và một chén con. Thằng bé Lương cũng vừa về tới, tôi đứng lên đón những thứ mà hai bố con đang mang đến. Anh đổ ra đĩa gói gỏi mít, và túi nước chấm ra cái chén con. Vừa làm anh vừa nói :

_ Cao lương mỹ vị ngon đến thế nào thì mình không biết, chứ tớ là tớ mê những món ăn dân dã này nhất. Vừa hợp khẩu vị, vừa hợp cả túi mình.
_ Anh không thấy khối món dân dã giờ trở thành đặc sản cao cấp ở những nhà hàng đó sao. Dân dã nhưng nó mang đậm phong vị người mình, thực ra miếng ngon đâu ở chỗ đắt tiền, chỉ là khi ta ăn ta cảm thấy nó ngon, vì nó hợp với khẩu vị mình, chứ có đắt mấy mà mình không cảm thấy ngon thì cũng bằng vô nhghĩa.
_ Ừ, chú nói phải. Nhưng có một điều thật vô lý là, đôi khi dù người ta không cảm thấy ngon, nhưng cũng bỏ hàng đống tiền ra mà mua nó, rồi cuối cùng đổ tháo cả đi.
_ Đó đâu phải là người ta mua cho mình một món ăn, họ đang mua một ý đồ , một mục đích khác đó chứ. Và khi đổ đi thì họ cũng chẳng biết tiếc đâu, bởi vì thứ nhất là họ không phải mua nó bằng chính đồng tiền mồ hôi nuớc mắt, thứ hai là khi họ đã đạt được điều họ muốn qua lối dẫn của nó thì coi như nó đã hoàn thành nhiệm vụ rồi, tiếc làm chi cho hao ca lo.

Anh cười hà hà :

_ Dạo này chú mày cũng miệng lưỡi ghê nhỉ.
_ Người ta chỉ đi có một ngày đàng, đã có thể học được cả sàng khôn, huống là em đi ngược đi xuôi quanh năm suốt tháng lại không nhét được tí gì vào cái hộp sọ này thì chết dấp đi cho rồi.
_ Nào nâng ly cạn cho một buổi chiều lý thú, nào…

Chạm nhẹ hai cái ly, tôi nhấp một ngụm, ngậm ngậm một chút ở đầu lưỡi để nghe vị cay nồng, thấm đậm lan dần xuống cổ, làm thêm ngụm nữa, hết một ly, tôi nghe nóng ra hết cả người, cảm giác bao mạch máu mình đang giãn nở và tuần hoàn. Tôi khà một tiếng khoan khoái :

_ Đúng là “Cố sanh vi đắc” (Thực chất vẫn tốt hơn)
_ Anh đã nói mà, ba cái rượu đóng chai vớ vẩn sao qua được thứ này. Nhà này họ nấu rượu mấy đời rồi, thuần gạo, không pha phách gì cả. Lúc đầu nghe giới thiệu, anh chưa tin, sau uống thử, quả đúng thế nên nghiện luôn.
_ Những nơi sản xuất nhỏ lẻ mà giữ được uy tín lâu dài vậy là rất hiếm, nói không phải vơ cả chứ nhiều người chỉ đầu voi đuôi chuột, làm gì cũng chỉ được lúc đầu, có tiếng rồi lại ham lãi lớn đâm làm ẩu.
_ Hạng người ấy là hạng nông nổi, ăn xổi ở thì, bất kỳ một hoạt động nào trong xã hội, nếu muốn tồn tại lâu dài đều phải cần có uy tín. Làm mất uy tín cũng có nghĩa là tự hại chính mình. Lại uổng cả bao công sức gây dựng.
_ Đáng buồn là ở chỗ thường có rất nhiều người chỉ nghĩ đến cái lợi nhất thời, có thôi thì cũng đã vơ đẫy một mớ rồi.
_ Chính những ý nghĩ hạn hẹp ấy mà nhiều khi ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả một cộng đồng. Hiện nay đất nước đang đẩy mạnh tiến trình hội nhập, chỉ cần một thành phần nào đó không biết giữ chữ tín là có thể làm chậm bước tiến của cả dân tộc.
_ Mình nói thế, một số người cứ cho là mình đao to búa lớn, thổi phồng vấn đề, chứ họ đâu có nghĩ mọi sự đều bắt nguồn từ những nhỏ nhặt nhất. À mà thôi, bây giờ không nói chuyện thiên hạ nữa, nói chuyện mình đi anh.

Tôi đột ngột chuyển đề tài khi chợt nhớ ra mục đích chính của mình. Anh gắp một gắp gỏi vào bát tôi rồi cười khà :

_ Thì cứ từ từ đã, có người rồi khắc có ta, từ chuyện thiên hạ đến chuyện nhà có xa xôi gì.
_ Nghe bọn họ nói đông tây lung tung cả, em sốt ruột chẳng biết thực hư ra sao. Anh cho em biết đi, chuyện xảy ra thế nào.
Anh cười kiểu không tròn vành môi :
_ Mình thấp cơ kém cánh, không đủ tài đối chọi với thiên hạ thì lo tìm đường tìm nẻo mà cuốn xéo đi chứ sao.
_ Này cái giọng mát mẻ, thẽ thọt như dao giấu lưỡi ở đâu ra đấy, đem đổi kiểu “xung hổ xổ toẹt” lấy nó à ?
_ Ngẫm mới thấy mình dại, vô cùng dại khi cứ mang phơi hết ruột ra. đã chẳng lấy lòng được ông to bà lớn nào lại dễ bị ăn đòn, cứ thơn thớt mà ăn người lại hóa hay.
_ Anh tưởng muốn mà được à, cha mẹ sinh ra cái thân ta, ông trời ghép cho ta cái tính cách, có hay có dở thì cũng chết rứa rồi, thay mô được . Mà thế mới là mình chứ.
_ Nhưng người ta khôn nên biết liệu thế mà đi với ma với bụt. Mình thì chẳng biết quẹo cua thế nào, cứ thẳng thừng thừng mà bước, có khi đâm sầm vào đá rồi mới biết đau.
_ Ở đời biết thế nào là khôn là dại hở anh ? Nhiều khi cứ tưởng mình khôn lắm, đến chừng cái trí khôn nó đột nhiên thức giấc mới biết mình đã từng ngu ngốc đến thế nào. Mà anh coi em là ma hay bụt, sao lại nói cái giọng ấy ?
_ Cái loại như chú mày mới là đáng sợ đấy “Rành rành thì ra bụt, thậm thụt lại ra ma”

Tôi bật cười, biết anh đang mượn tôi để ám chỉ ai đấy :

_ Ừ thôi, bụt bụt ma ma gì cũng được, anh kể tiếp đi.

Trọng Đình sửa lại thế ngồi, nét mặt anh nghiêm hẳn lại :

_ Anh hỏi chú, nếu để được tồn tại mà phải bẻ cong ngòi nút, chú có làm được không ?
_ Không, dứt khoát là không ? Thà bỏ bút, chứ không bẻ bút.
Tôi nói ngay, anh gật gù rồi tiếp :

_ Vừa rồi anh có làm cái phóng sự, phóng sự này đã ngốn rất nhiều thời gian truy tìm tư liệu của anh , mà mức độ thì không thể xem nhẹ. Nó lại đụng chạm đến một số tai mặt. Thế nhưng nó được lệnh đình in, với lý do lấp lửng “Có đôi chỗ cần xem lại”. Lúc đầu anh chưa nghĩ là nó có vấn đề, sau nhận được gợi ý là nên sửa sang lại một chút, mà những điểm phải sửa lại là những chi tiết then chốt của sự vụ. Anh nhất quyết không chịu. Ngay sau đó, nhận được vài cú phôn hăm dọa, đồng thời hứa hẹn một con số đáng kể. Đương nhiên những chiêu thức đó không có tác dụng với anh . Cuối cùng, cũng có kẻ ra mặt lăm le một cái mũ trên đầu.Còn lạ gì tiếng Việt mình phong phú và giàu có, một chữ hai ba nghĩa, hoặc hai ba chữ một nghĩa, khi đã cố tình thì đánh lệch ý chính của nó đi chẳng khó khăn gì. Tất nhiên là anh phải phản ứng, chúng nhân đó ghép anh vào thế, hòng gây sức ép để ỉm chuyện kia đi. Cậy thế cậy quyền, đập bàn vỗ ghế, Đáng nói nhất là trong đó có những tên tuổi xưa nay vẫn tự cho mình là dân trí thức. Thế mà chẳng phân biệt được đúng sai thế nào.
_ Anh à, trí thức cũng năm bảy đường trí thức, có thứ trí thức vay, văn hóa mượn, bằng cấp mua, đâu cứ phải dán cái mác trí thức vào là đã thành người hiểu biết đâu. Anh có lạ gì cái loại ấy.

_ Đúng chẳng lạ gì, nhưng nó lại có cơ hội trèo lên đầu lên cổ mình mới ức chứ. Anh cũng chẳng chịu thua đâu, khi cái phóng sự ấy chình ình trên mặt một tờ báo khác, thì cũng là lúc anh nhận quyết định thôi việc. Thừa biết đó là việc sẽ đến, anh cũng chẳng tiếc nuối gì một nơi không thuộc về mình. Muốn thì chẳng thiếu gì cách. Chứ vì miếng sống mà phải khom lưng cho bọn làm đủ cách để có được “ghế trên ngồi tót…” rồi ra “sỗ sàng” với mình thì không được.

Đến đây thì tôi đã hiểu tính chất của câu chuyện là gì. Buồn cho cái lề thói người đời, sao họ lắm thủ đoạn để mưu cầu lợi lộc, để che giấu bưng bít những xấu xa bỉ ổi của mình thế nhỉ ?

_ Đó là một vấn nạn không chỉ ở một góc một khóm nào anh ạ, anh thấy không,cứ vụ nào đưa ra tòa là toàn bao nhiêu tỷ lòi ra. Mà đã không tư cách, không thực lực, thì lại giỏi lẹo lươn bao biện. Không biết đến bao giờ mới hết được cái bọn làm nghèo đất nước ấy.
_ Giá như trên sân cỏ ấy nhỉ, có một ông trọng tài công minh, hai thẻ vàng là thành thẻ đỏ để mà tiêu trừ những loại sâu mọt ấy đi. Miệng thì thơn thớt “Vị nghệ thuật, vị nhân sinh” nhưng tuồng một lũ vị kỷ cả.
_ Thì nghệ thuật của chúng là ở chỗ đó đó. Khờ khạo như anh em mình sao biết cách thụi vào lưng nhau mà mặt cứ tươi như hoa được. Nhưng mà anh yên tâm đi, luật đời cũng công bằng lắm, có sự trừng phạt cả đấy. Đừng tưởng cứ nuốt trôi họng là tha hồ vênh vang, không đâu, ăn một nhả mười, thậm chí là trăm là ngàn nữa kia. Mà đã đến lúc nhả thì tận cùng vận hạn, có hối cũng chẳng kịp nữa. Mình cứ chịu khó sống khờ sống ngốc đi anh ạ, để con cháu mình còn được yên thân mà hưởng phước, chứ cứ khôn ngoan cho lắm vào rồi đời sau phải gánh bao nghiệp oan trái, tội cho chúng nó.
_ Chú mày giỏi, hôm nay anh mơi công nhận là chú mày giỏi. Nào cạn chứ.

Đợi cho men rượu tan trong cổ họng, tôi mới tiếp :

_ Nói đến vấn nạn của xã hội thì không bao giờ dứt được, kiểu này nó đẻ ra kiểu khác, kiểu sau bao giờ cũng tinh vi hơn kiểu trước, mình không làm được gì nhiều thì cũng phải cố góp chút công sức mà phanh phui mà ngăn chận, chứ đừng lùi bước anh ạ.
_ Ai bảo chú là anh lùi bước ?
_ Em nghe họ bảo anh tuyên bố gác bút !
_ Chú tin à ?
_ Không tin thì em mới tìm gặp anh cho được đấy chứ.
_ Anh mà bỏ bút thì chú mày cũng đi tu.

Tôi cười nhẹ nhõm :

_ Có thế chứ. Nhưng mà anh tưởng đi tu là yên thân à, không đâu , đó cũng là một tiểu xã hội, cũng không thiếu những thói tật thường tình đâu, cơ bản vẫn là do khí chất của con người thôi anh ạ.
_ Chuyện trâu lành trâu ngã ấy mà, kể gì. Hơi đâu mà nệ cái dư luận. Có một sự trùng lặp là, cũng trong thời điểm đó thì anh lo mua cái nhà này, bao năm rồi chung chạ trong gia đình, chật hẹp tù túng, chắt bóp, tom góp cũng tàm tạm một chút này, không bì được với ai, nhưng là cái chốn của riêng mình là tốt rồi.
_ Em thấy khung cảnh ở đây cũng dễ chịu. Chúc mừng anh.
_ Nào , mừng thì phải cạn chứ.

Tiếng thủy tinh va vào nhau nghe vui tai, anh tợp xong một ngụm thì đổi giọng nghê nga “Nghiêng vai vì nghiệp ba đào. Ba đào mấy cũng…chứ ư bôn đào…thì à không…a…”

Cả hai chúng tôi cùng cười vang. Vừa lúc ấy vợ anh về, chị vui vẻ góp :

_ Hai anh em có gì mà cười vui thế ?

Đàm Lan

Viết cho những mảnh ký ức cuối năm…

Đó là một buổi chiều cuối năm, sau khi dọn dẹp xong nhà cửa, tôi ngồi trước máy tính nghe Lillian Bùi, một cô gái người Việt sống ở Mỹ có khuôn mặt bầu bĩnh, ôm cây đàn ghi ta và hát trên Youtube bài hát do cô tự viết lời và phổ nhạc.

You can’t go back to childhood
The road doesn’t go that way
It’s overgrown with brush and woods
The gates are locked, decayed…

(Tạm dịch:
Anh chẳng thể nào về lại ấu thơ đâu
Con đường không dẫn về phía ấy
Giữa um tùm bụi rậm và rừng cây
Cánh cổng xưa khóa kín rồi, đổ nát)

Giọng hát và giai điệu mộc mạc ấy ngay lập tức đưa tôi về những ngày xưa. Phải, cô gái ạ, tuổi thơ của chúng ta chỉ đến một lần trong đời. Và từ đó trở đi, ta sẽ nhớ về nó mãi, nhớ về nó rất nhiều lần trong suốt quãng đời còn lại. Tôi biết mình chẳng thể quay lại nữa, nhưng xin đừng ngăn cản tôi nhớ nhung.

Những ngày xưa tươi đẹp đã đi qua. Những điều gần gũi như cái chợ gần xóm cũ, mùi của những cọng rau ngày còn bé, thiên nhiên trong trẻo chung quanh và cả mối tình thơ dại nào đó. Nó dệt nên tuổi thơ của ta.

Cuộc đời của chúng ta cơ hồ được ghép bởi những mảnh ký ức. Chính thế, những mảnh ký ức vỡ làm nên đời ta. Những kỷ niệm êm đềm và thơm ngát như ngọn gió mùa xuân thổi qua thềm nhà buổi chiều xa xưa nào. Một mối tình dang dở. Một nụ hôn chưa kịp trao. Cái nắm tay vội vàng. Một sai lầm không thể cứu vãn. Một tổn thương ta gây ra cho ai đó, hoặc ai đó gây ra cho ta. Những mảnh vỡ của ký ức, đôi khi nhọn hoắt, đôi khi nát vụn…vẫn trở về với tôi hoài vào những chiều cuối năm.

Khoảng khắc đó, tôi có thói quen ngồi xuống một nơi yên tĩnh, và nhâm nhi “chiếc bánh Madeleine”(*) của đời mình, và cố lắp lại những mảnh vỡ đó…Chiếc bánh Madeleine của bạn là gì? Điều gì có thể đưa bạn trở lại ngày xưa? Với tôi đó là món ăn mẹ nấu như hồi bé thơ. Cuốn album cũ. Con đường cũ. Người bạn cũ. Một món đồ chơi cũ…

Tôi quen một người bạn. Anh thường ra phố Lê Công Kiều mua đồ cổ. Thật ra anh chẳng mua thứ gì đắt đỏ vì anh không có nhiều tiền. Anh chỉ mua những chiếc tô gấm chiết yêu vẽ xanh trắng. Anh chất từng chồng trong phòng mình. Tôi những tưởng anh mê lắm. Nhưng không, anh mua vì nhớ mẹ. Anh mua vì lúc anh còn nhỏ, gia đình còn nghèo, mẹ anh được ai đó tặng cho hai cái tô gấm và mấy cái chén sứ xanh trắng. Mẹ anh quý lắm. Anh nhớ, chỉ những ngày Tết, mẹ mới cho hai anh em anh ăn cháo gà trong chiếc tô gấm trong bữa cơm ngày Ba mươi.

Rồi chiến tranh. Những món đồ sứ ít ỏi đó mẹ anh không giữ được. Và bà tiếc mãi, tiếc mãi…cho đến ngày ra đi. Anh nhớ mẹ, anh nhớ những buổi tối giao thừa sau khi dọn dẹp xong, anh ngồi nép bên mình mẹ nhìn mẹ anh lau sạch những chiếc chén xanh trắng tinh xảo và trầm trồ mãi. Và từ đó, dành dụm số tiền lương còm, anh mê mải tìm mua lại chút tuổi thơ xưa.

Tôi vẫn sống ở nơi mình từng sinh ra. Nhưng những hình ảnh cũ xưa đã không còn nữa. Cái giếng nước cũ. Hàng rào bông bụp đỏ. Tôi nhớ chúng. Những trái táo gai chua và xanh hái trên cây trong cái sân nhỏ trước nhà ở Phú Nhuận. Những trái mận từ nhà hàng xóm. Đôi khi, tôi nhớ tuổi thơ nên đi bộ ra đầu hẻm. Ngôi nhà đóng kín cửa. Tôi bấm chuông xin vào, chỉ để nhón chân lên hái một chùm mận. Bà cụ mỉm cười. Tôi cũng mỉm cười. Đôi khi, tôi đứng lại bên một bức tường, và nhặt lên một trái mận rơi. Những trái mận trong vườn, trái hồng nhạt và nhỏ, thật nhiều hạt. Tôi nhớ những cái hạt của trái mận biết bao nhiêu. Cuộc đời lạ lùng đến thế, chỉ là những hạt mận, vậy mà cơ hồ không còn thấy được bao nhiêu nữa. Nói gì bãi bể nương dâu…

Đôi lúc, tôi tin rằng dăm khoảnh khắc tìm lại tuổi thơ trong những ngày năm cùng tháng tận ấy đã trao lại cho tôi nguồn năng lượng mạnh mẽ, đến nỗi có thể giúp tôi vượt qua rất nhiều ngày khó khăn của thời gian còn lại trong một năm.

Cũng như những khoảnh khắc ta cuống quýt trở về nhà để đón Giao thừa vậy… Đó là thời khắc ta biết mình sắp mất một cái gì đó mơ hồ. Cái cảm giác ấy thật hoang mang. Đầy tiếc nuối, đầy hy vọng và cũng đầy nghi ngại. Tôi vẫn nghĩ về thời khắc giao thừa giống như một cánh cửa thời gian. Lật qua, lật lại. Đứng ở đó, ngay trước bàn thờ ông Thiên. Cỗ máy thời gian sẽ đưa ta đến một nơi khác. Biết đâu là ngày xưa…

Về nhà đi em. Sắp giao thừa rồi đó…Nhiều người bảo rằng chỉ thực sự thấy được không khí ngày Tết khi về ngôi nhà của mình dù nó có nhỏ bé thế nào…Về nhà đi. Ngồi xuống chiếc ghế ấm cúng thân quen này và nhâm nhi một “chiếc bánh Madeleine”. Rồi giao thừa sẽ đưa ta trở về tuổi thơ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, nhưng vừa đủ để xoa dịu những tổn thương của chính ta. Để tha thứ cho những lỗi lầm của ta. Để làm thanh sạch trái tim ta lần nữa. Để tìm lại bình yên.

Nếu bạn không cảm thấy bình yên khi nhớ về thời thơ ấu, thì chẳng có tháng ngày nào nữa trong cuộc đời bạn có thể cảm thấy bình yên.

Đông Vy và Phạm Công Luận

(*)Madeleine là loại bánh bông lan mềm hình con sò xuất xứ từ Pháp, nhẹ, xốp, có vị béo thơm. Trong tác phẩm “Đi Tìm Thời Gian Đánh Mất” , Marcel Proust kể lại một buổi chiều đông rét mướt, khi bị nhuốm lạnh, tác giả nhấp một ngụm nước trà hòa với những mảnh vụn của một chiếc bánh “madeleine” để sưởi ấm người. Và hương vị của chiếc bánh thuở ấu thời đã đột ngột đánh thức những ký ức và cảm xúc thầm kín, đưa ông trở về quá khứ đi “tìm thời gian đánh mất”

Cho hay là giống hữu tình

Ca dao là bằng chứng thuyết phục về đời sống tình cảm phong phú của người bình dân. Có thể điểm danh điểm diện một số phương diện tình cảm đó.
Là nhân hậu ân tình.
Là thương cảm sẻ chia
Là nặng tình nặng nghĩa.
Và được xem như là thống soái trong ứng xử tình cảm bình dân là rất mực thủy chung.

Như cây đa chờ mãi khách bộ hành.
Như bến vắng chờ con thuyền rong ruổi

Và trong ta dậy lên một cảm thương trân quí cho những vẻ đẹp truyền thống.

Và như một phản xạ có điều kiện, người ta thường khước từ những vỉa tình cảm trái
ngược. Người ta thế, và tôi cũng thế.

Ấy vậy mà có một ngày tâm trí tôi cứ tưng tửng, tưng tửng, ấy là khi tư tưởng mô phạm vững chãi trong tôi chạm nảy lửa vào một câu ca dao dị dạng:

Đa tình thì vướng nợ tình
Trách người đã vậy, trách mình sao đang

Ô hay! Cái môi trường đã giáo dục chọn lọc cái tình thủy chung, đã tỉa sửa bằng hết những gì tà vạy lại ngang nhiên nảy nòi ông ổng một câu hát đa tình. Mà hấp dẫn và cám dỗ đáo để. Mà cam đoan rằng bất cứ cái người hiện đại nào cũng gặp mình trong cái tình ca dao ngót chừng vài trăm niên kỉ ấy.

Tôi cũng nghênh ngang nhận mình là giống đa tình (!) nên lại càng đồng cảm mà trân trọng lắm. Rồi băn khoăn dò tìm xem cái giống tình đi lạc đi loài ấy có kịp mọc lên thành vườn thành vỉa trong vườn ca dao xưa không.

Thật bất ngờ, cái mà tôi gặp được nếu không là phổ biến thì cũng đã không chịu dấu mình đơn lẻ.

Này là lời trách cứ người bắt cá hai tay:

Đa tình chi rứa hở trăng
Nửa treo núi nọ, nửa giằng sông kia.

Đích thị là mày đa tình rồi nhé!

Rồi sau hai đơn vị đại diện chính danh đầy can đảm ấy là đôi nét đồng dạng, tuy chưa kịp chính danh, tuy còn núp bóng dấu mình.

Là cái đèo bòng:

Anh đà có vợ thời thôi
Đèo bòng chi lắm tội trời ai mang!

Lời trách không khỏi giấu một chút nao nao. Và lời đáp cũng táo tợn nghệ sĩ:
Vì cam cho quýt đèo bòng
Vì em nhan sắc cho lòng nhớ thương.
Đáng chú ý là đôi ba lời hát ghẹo, khó có thể khen ở cái tình chung thủy, vậy mà đâu chỉ một hai lần đôi ba người ngâm nga thích thú.

Chanh chua quýt ngọt bòng the
Thấy em còn nhỏ anh ve để dành.

*
Yêu em từ thuở trong nôi
Em nằm em khóc anh ngồi anh ru.

Có lẽ cái chuyện những câu hát đa tình này manh nha từ hồi người viết phải trao đổi với học trò về một ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm:

Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân
Đất nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi
Biết quí công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre mà đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu.

( Trích trường ca “ Mặt đường khát vọng”)

Và kết luận bắt buộc cho các lời giảng của các nhà giáo rằng đó là nhân dân thủy chung ( Yêu em từ thuở trong nôi ), quí trọng tình nghĩa ( quí công cầm vàng ), và quyết liệt dữ dội với kẻ thù ( đi trả thù mà không sợ dài lâu ).

Tôi băn khoăn mãi. Chao ôi, yêu em từ thuở trong nôi là thủy chung ư? Một thủy chung thật tội lỗi, đáng bỏ tù từ sáu tháng đến ba năm! Có chăng là cái đa mang được nói quá lên một chút. Vậy sao lại cứ cố tình gán ghép cái đa tình thành cái chung tình?

Phải chăng vì trong thẩm định đạo đức thì cái đa tình là cái phi chuẩn mực cần phê phán mà cái chung tình là phẩm chất đáng tuyên dương? Và vì vậy nên lộng giả thành chơn, và cái câu ca kia nghiễm nhiên được phong tặng cho cái phẩm chất mình không có, và bù lại bị tước đi cái mình vốn có.

Đành rằng thủy chung là phẩm chất , nhưng sự lên án thái quá với những đa mang là có nên chăng?

Hãy xem thái độ của người bình dân, với cái đa tình, họ ít nhiều trách móc, mà chưa có lời kết tội! Thì trách người đã vậy trách mình sao đang ( sao đành ) mà!

Nghe cứ như một khoan dung tòng phạm!

Và tôi âm thầm xem cái ý táo bạo kia cũng là phẩm chất của những người làm ra ca dao.
Chung tình là phẩm chất của nhân dân.
Mà đa tình là phẩm chất của nhân dân nghệ sĩ!
Nói thế tôi đâm lo quá! Khéo không khách quan, khéo lại bào hao bào chữa cho mình!
Mà may thay, lúc bí đàng bí lối, sắp đánh nước bài liều, lại vớ đâu được một tứ khá hay của một nhà thơ có tên tuổi:

Xem qua truyện cổ nước mình
Rất nhân hậu, lại đa tình đa mang.

Đó là kết luận của Phan Thị Thanh Nhàn. Thôi thì mời chị Nhàn đi trước gánh búa rìu dư luận, ai bảo chị liều lĩnh dám bảo dân ta đa tình đa mang trước!

Lại còn có một nhà thơ nữa, còn liều hơn cả chị Nhàn, khi dám tự nhận mình đích thị đa tình:

Anh đa tình nên cứ muốn lần theo
Xấu hổ gì đâu mà anh dấu diếm
Em muốn làm dâu thì em ở lại…

Phạm Ngọc Cảnh

Yên chí về quan điểm rồi tôi nhé!
Quả là người không biết điều khi thân mình còn chạy tội chưa xong lại lăm le đi nài nỉ gỡ tội cho người khác. Song quả thật tôi có ý đó.Rằng:

Những người làm ra những câu ca dao mộc mạc ấy họ thật nhiều phẩm chất.
Bậy một cái là họ cũng rất đa tình.

Thôi thì vì những cái được kia mà thể tất cho họ cái phần còn khuất tất!


NGUYỄN TẤN ÁI

Xưa ơi

Chiếc xe đang ngon trớn băng băng, đột nhiên rì lại, cứ như có người đằng sau lôi vậy. Sao thế nhỉ ? Lục bục thêm vài tiếng máy nữa rồi tắt hẳn, lại trở chứng rồi. Chắc phải có sự cố gì đây, chứ con chiến mã xưa nay vẫn ngoan ngõan lắm mà. Thuộc lọai cối 86 đời cuối, một thời “kim vàng giọt lệ” lẫy lừng đấy chứ. Đến giờ đã có hơn 10 năm đường trường rong ruổi, nó vẫn chưa hành chủ nó bao giờ, chỉ lặt vặt những lốp ruột, đèn đóm chút thôi, cho dù chẳng được sự chăm sóc của chủ là mấy, thì nó vẫn tận tụy hết khả năng có thể. Có những khuya lơ khuya lắc, chủ nó mải hoang đàng mà buông bỏ đến tận trăng cao mới vỗ yên đạp máy, nó vẫn thầm lặng vượt bao kilomet đường dài mà đem chủ nó về tận chốn yên lành. Hết xăng ? Không phải, mới đổ đầy mà, thôi rồi, nhớt, đích thị, quá cữ thay cả nửa tháng rồi, tiêu, không khéo lột dên đúp-pê rồi quá. Cái cần đạp cứ trượt đi đây này. Làm sao đây nhỉ ? còn phải một đọan xa nữa mới đến chỗ sửa xe quen . Mấy việc này không giao vào tay người lạ được, tuy rằng chưa chắc người quen là đã ưu đãi phần giá cả, nhưng quan trọng là không phải lo chuyện “luộc” phụ tùng, nhất là máy móc từ ngày xuất xưởng đến nay chưa mở ra lần nào.

Mấy anh xe thồ vè vè “xe sao thế ?” “sự cố rồi” “có cần đẩy không ?” “chắc phải vậy thôi , nhờ…” “10 nghìn”. A, lại ngây thơ nữa, đâu ra chữ “nhờ”, ừ mà cũng tốt, còn hơn dắt bộ, cứ dịch vụ hóa cho khỏi bận tâm ơn huệ,“được thôi”. Ro ..ro ..ro ..ro, buồn cười, lần đầu tiên đi nhờ chân người khác, cũng hay hay, xong, sòng phẳng, cảm ơn.

Đúng mà, có sai đâu. Nhìn từng mảnh phụ tùng rã ra từ bụng xe, tôi thở ra ngán ngẩm, thế là phải tốn mất một mớ tiền, một mớ thời gian, cho chừa cái tội hay quên, thay nhớt được từ tuần trước thì có đâu sự thể này. Mà thôi, chuyện gì đã xảy ra rồi mà cứ ngồi nghĩ giá như nó chưa xảy ra thì chỉ tổ nhức đầu. Hãy đi theo diễn tiến của nó, và hãy rán giữ lại một chút gì từ nó, vậy thôi. Cái đầu nó có to tát gì lắm đâu mà bắt nó chứa nhiều thế, thỉnh thỏang cũng phải có một ngày chệch đường ray chứ, không thì mòn mất. Vấn đề là bây giờ phải mượn một cái ghế, mà là ghế tựa cơ, dự báo là phải đến 5,6 tiếng đồng hồ nhão nhề gân cốt, ôi cha cha… Thế mới có cơ hội ngắm đường ngắm phố, ngắm kẻ qua người lại.

Từ ngày rời khỏi cái chốn ngược xuôi khói bụi này, có mấy khi thưởng thức lại hương vị đặc trưng của nó. Cây xanh giờ cũng khá nhiều, con mắt có dịu hơn, nhà cửa cao tầng cũng nhiều , con mắt cũng chật hơn, xe cộ qua lại cũng nhiều, con mắt có mỏi hơn. Bỗng tiếng trống trường bùng bùng, đổ ào ra đường lớp lớp quần xanh áo trắng, tiếng cười khanh khách, tiếng réo gọi nhau, tiếng trêu đùa, chọc ghẹo nhộn nhã cả một quãng đường. Sực nhìn ngôi trường, tôi một khắc ngẩn ra, đó cũng là ngôi trường ngày xưa tôi đã học chứ đâu. Không phải trí nhớ tôi tồi đến thế, mà vì ngôi trường ngày xưa là những lớp học bằng gỗ ván, đã trải qua không biết mấy mươi mùa mưa nắng, để chúng tôi thường nghịch những đốm tròn nhảy nhót trên bàn học, để nép sát vào nhau né gịot mưa dột từ trên mái lỗ chỗ. Từ lúc nào tôi không rõ, ngôi trường đã được xây lại, khang trang, đẹp đẽ. Hai tầng lầu cùng những cây to rợp bóng đã làm biến mất cái hình dáng ọp ẹp, cũ kỹ của trường xưa. Sự phát hiện nhóm lên trong tôi những hồi ức. Một thóang điểm những gương mặt các thầy cô, những gương mặt bạn bè, mà bây giờ chắc cũng không dễ gì nhận ra nhau.

Chợt tôi nghe đau nhói một bên tay, nhìn sực lại, thì ra cảm xúc đã dẫn dắt tôi hòa theo những đừa trẻ vừa tan trường, khiến tôi lơ ngơ trong dạt dào xưa cũ, khiến tôi va vào tay lái của một chiếc honda. “Xin lỗi” Đúng là lỗi của tôi mà, cả gương mặt người ngồi trên xe cùng tôi bỗng nghệch ra “Trọng phải không ?” “Lan phải không ?” Cuộc gặp gỡ đột ngột làm chóang mất một phần đường để giật mình khi nghe “Sao lại nói chuyện giữa đường thế hả ?” Trọng vội lừa lựa bánh xe vào lề. “Trời ơi ! Lâu quá rồi nha”. “Ừ, quá lâu rồi, vậy mà vẫn nhận ra nhau ngay”. “Sao lại không ? Có đến rụng răng bạc tóc vẫn nhận ra mà .” “Lan đi đâu mà ngơ ngơ vậy ?” “Lan đang sửa xe bên kia, bỗng nhận ra đây là trường cũ của mình, tự nhiên mà ngơ ngẩn thế đấy” Trọng nhìn lại ngôi trường “Ừ đúng rồi, bây giờ nó khác quá, có vẻ xa lạ quá” “Mình kiếm quán cà phê ngồi chút đi. Trọng có bận việc gì không ?” Trọng nhìn đồng hồ rồi hỏi lại “Lan sửa xe bao giờ mới xong ?” “Chắc là lâu lắm” “Giờ cũng trưa rồi, về nhà mình đi” “Có tiện không ?” “Có gì mà không tiện, có hai vợ chồng mình với hai đứa nhỏ chứ mấy”. Ừ, vậy cũng được”

Quay lại dặn dò vài câu cho thợ rồi tôi ngồi lên xe Trọng .Vợ Trọng lộ rõ vẻ luống cuống khi bỗng nhiên chồng đưa về một người khách khác giới. Không đợi vợ hỏi, Trọng cười giới thiệu luôn “Đây là chị Lan, bạn học cũ của anh đó, còn đây là vợ mình” Tôi chào xã giao rồi tiếp “Trọng ngày xưa là lớp phó của tụi chị đó em” “Chà, cũng ra vẻ quan chức ghê chị hả ?” “Thì bây giờ không quan à ? Quan to nữa ấy chữ” “Xí quan được thì mẹ con em cũng có phận nhờ, suốt ngày làm long tong cho thiện hạ mà quan với ai” “Thì quan ở mỗi cái nhà này cũng đã tốt lắm rồi chớ bộ” Nghe vợ chồng Trọng nói tôi vừa cười vừa đưa mắt nhìn quanh. Gia cảnh bày ra một mức sống khá kiệm tặn. Ngôi nhà gỗ, có vẻ xem xem trường cũ của chúng tôi ngày xưa, đồ đạc cũng không nhiều nhặn sang cả gì, chỉ gọi là đáp ứng một phần tiện nghi sinh họat.

Vợ Trọng hơi lúng túng khi bê mâm cơm đặt lên cái chiếu đã trải giữa nhà. “Chị thông cảm…” “Ồ không, em đừng ngại, nhà chị thì cũng chỉ thế này thôi mà” “Thật hả chị ?” “Thật đấy, lúc nào em đến nhà chị mà xem .” Trọng xoa tay ngồi xuống “Bạn bè gặp bữa, có gì dùng đó nghe”. “Trọng không biết chứ, lúc nãy mà không gặp Trọng chắc mình thành dân cà lơ phất phơ mất rồi. Phải chờ đến 5,6 tiếng đồng hồ mới xong xe mà” “Nói vậy là bữa nay mình làm ơn làm phước cứu giúp người giữa đàng đó nha” Tôi cười, thấy vợ Trọng để xuống cạnh mâm một cái chai có nước màu trắng đục, rồi nói như phân bua “Ảnh quen rồi chị bữa nào ăn cũng phải có vài ly” “Thì lao động suốt ngày mà, phải có nó để giải mỏi chớ” “Em cho chị xin cái ly” Cả hai vợ chồng nhìn tôi “Thiệt đó, mình cũng sơ sơ được chút ít, bữa nay bạn cũ gặp nhau phải cụng chứ” “Hay, hay quá, vậy là mình có đồng minh rồi, lấy thêm cái ly đi em” “Thời buổi bây giờ mà, phụ nữ biết tới khỏan này đâu phải là lạ” Nói xong, tôi bật cười tự lập lại “Thời buổi…hay chứ nhỉ ! Chỉ hai chữ lửng lơ thế thôi mà người ta cho phép mình khác đi nhiều quá” “Thì mỗi thế hệ đi qua, đời sồng con người lại có thêm một vài thay đổi, cứ ngẫm mình ngày xưa với lũ nhóc tì này bây giờ mà xem, khắc hẳn nhau” “Chúng nó bây giờ khôn hơn chúng mình ngày xưa nhiều, có nhiều thứ để học mà cũng có nhiều thứ để hư, đâu có ngơ ngơ ngáo ngáo như tụi mình ngày đó đâu” “Ngơ ngáo vậy chứ mà mới lớp 9 đã có người biết yêu rồi đó nghe” Nghe Trọng nhắc, tôi phì cười “Yêu cái khi gì, chẳng qua chỉ là thích nhau một chút thôi” “Giờ Giang làm gì hè ?” Nghe nói kinh doanh gì ở Sài Gòn ấy, mà hình như anh chàng hai vợ đó” “Vậy hả ? Cũng đúng thôi, hắn bảnh trai quá mà, không tham uổng. Trọng có biết mình nhớ nhất chuyện gì của thời đi học không ?” “Thời đó thì thiếu gì thứ để nhớ” “Mình nhớ nhất là ngày đầu bước chân vào lớp 9 ấy” “À … nhớ rồi, Trọng cũng nhớ rất rõ hôm ấy” Kỷ niệm đưa chúng tôi về một ngày…

Phải nói rõ về nguồn gốc câu chuyện thì mới rõ vì sao kỷ niệm lại sống lâu trong lòng chúng tôi thế. Đó là vào năm lớp 8, một cô giáo bộ môn bỏ tiết chính của lớp tôi để dạy phụ đạo cho lớp bên cạnh, thế cũng chẳng sao, bởi được nghỉ một tiết thì chúng tôi thích lắm rồi, nhưng cái nòi không học thì phải chơi, mà chơi thì làm sao trật tự được, thế là cô giáo ấy sang mắng chúng tôi, lại còn phê vào sổ đầu bài một điểm O to tướng với lý do lớp không biết tự quản gây mất trật tự chung, ảnh hưởng sự học tập của lớp khác. Oan thì phải ức, vì một điểm O ấy sẽ làm giảm điểm thi đua của lớp với tòan trường, lại thêm bị bêu tên dưới cột cờ vào ngày đầu tuần nữa chứ. Không chịu được việc oan uổng đó, chúng tôi lên tiếng đòi công bằng, to mồm nhất phải kể tôi và anh bạn lớp trưởng. Đã thế, tên cô giáo là Mão, thông minh quá nên cứ thấy cô ở đâu là tôi lại kêu meo meo. Kết quả của sự thông minh đó là tôi ở lại lớp với điểm kém hạnh kiểm, lẽ ra lớp trưởng Võ Tí Hon (Tên thật đấy, không phải do tôi sáng tác đâu, dù anh bạn ấy cao nhất lớp) cũng ở lại lớp với tôi, nhưng sự việc được cho là cán sự lớp thì phải bảo vệ quyền lợi chung. Chỉ có tôi là phải chịu ấm ức.

Cũng cần nói thêm là ngày đó đi học tôi thường chống hai cái nạng, vốn tôi bị sốt bại liệt từ nhỏ, nhờ vào đặc điểm này mà tôi nổi bật giữa tòan trường, được miễn giảm mọi thứ lao động, miễn luôn cả giờ thể dục. Thêm một chi tiết nữa là không ít các cậu bạn khác lớp bị ăn đòn của tôi. Trong lớp tôi, chẳng ai chế giễu sự khuyết tật của tôi cả, nhưng những bạn khác lớp, mà chỉ là các bạn nam, cứ đi ngang trước mặt tôi là ẹo ẹo theo dáng đi của tôi, miệng còn “xi cà gue, xi cà gue”.Tức quá nên tôi phải trả đòn, mặt cứ tỉnh bơ như không, đợi cho các chàng đi đến đúng tầm, tôi giơ nạng vụt cho một cái, kêu trời kêu đất rồi chạy mất, không nữa thì táng cho một cú đá từ cái mũi giày cứng như sắt, lọai giày tật có nẹp sắt cao đến gối. Cũng có lúc thì một số bạn nam cùng lớp tỏ ra bênh vực cho tôi, sau thì hết, chẳng còn ai dám chọc ghẹo tôi nữa. Trở lại chuyện tôi bị lưu ban, vừa buồn vừa nhớ bạn, tôi thường chống nạng đên bên cửa sổ lớp 9 của các bạn tôi mà nhìn vào, không ít các thầy cô quàng tay, ôm tôi dìu về lớp 8. Sau đó, nhà trường xem xét lại sự thể , cộng thêm tác động của hội phụ huynh học sinh, tôi được đưa lên lớp 9 sau một tháng. Hôm ấy, tôi bước chân vào lớp giữa tràng vỗ tay cùng tiếng hò reo của tất cả các bạn hình như lúc ấy tôi rưng rưng nước mắt thì phải.

Nhưng chuyện chưa dừng ở đó. Tiết học đầu tiên với tôi ở lớp 9 ấy là tiết tóan, sau khi giảng một lúc, cô giáo bảo rút ra định nghĩa, tôi lập tức giơ tay, cũng muốn thử sức học của tôi, nên cô giáo chỉ tôi, tôi đứng dậy và đưa ra một định nghĩa chính xác. Trọng đã vỗ tay rất to, vì Trọng giỏi tóan nhất lớp, vì thế mà anh chàng được bầu là lớp phó học tập, còn tôi, thiên về văn hơn, tóan cũng không đến nỗi nào, xong do chưa nắm được kiến thức từ đầu năm mà tôi lại giải đáp đúng, nên Trọng vỗ tay tán thưởng là thế.

Kỷ niệm khiến chúng tôi dạt dào, hai cái ly khẽ cụng vào nhau, chất men nồng thấm sâu vào cổ, vào gan ruột, càng nóng hơn bởi một cảm xúc bồi hồi. Tôi nhìn mái tóc lưa thưa mây trắng của Trọng rồi cười buồn “Bạn tôi ơi ! Xưa bạn giỏi những bài tóan trên trang giấy, sao nay bạn không giỏi những bài tóan cuộc đời ?” Trọng cũng cười buồn “Bởi những bài tóan cuộc dời chúng mình đâu có được học, những đáp số lại gần như không theo một logich hay một lập trình có sẵn. Còn Lan ?” Tôi bảo tôi cũng in được vài quyển sách, Trọng cụng ly chúc mừng “Vậy là bạn cũng đã trở thành một phù thủy trong trò chơi chữ nghĩa đấy nhỉ ?” “Nhưng phù thủy này cũng không ít lần vướng phải cái lưới pháp thuật của chính mình, để rồi cũng thua đến trắng tay” “Trắng tay ?” “Ừ, là bởi cũng như bạn, mình chỉ có thể tô vẽ mọi điều tốt đẹp trên trang giấy, nhiều khi vịn vào nó để đi qua những xót xa trần trụi tình đời”.

Trầm ngâm nhìn nhau, trầm ngâm nhớ về một quãng đời đẹp đẽ, và trầm ngâm nhắc lại từng cái tên, có cái còn gần, có cái đã xa, rất xa, xa tận bên trời Tây tít tắp, cũng có cái còn xa hơn, xa đến mịt mờ mây khói. Có cái cửa nhà mặt phố tinh tươm, có cái ngõ cùng đường hẹp, có cái ọp ẹp tềnh tòang. Có cái hồng hào đầy đặn, có cái tóp teo xương xẩu, có cái âm thầm sau song sắt. Chẳng cái nào còn xa xăm mây trắng, trong veo ánh nhìn. Là bởi chiếc kim thời gian chẳng bao giờ đứng lại. Cho hôm nay qua mau, cho ngày mai trông ngóng, cho hôm qua chỉ còn là nuối tiếc. Mỗi khi gặp lại một người xưa cũ , lại có dịp điểm mặt thời gian, lại có dịp u hòai ký ức. Để gọi lại những lời sâu tâm cảm, để thấy mình vẫn còn đây đó những bâng khuâng. Chợt mỉm cười “Nào cạn”.

Đêm về, cuộn mình trong mảnh chăn đơn, nghe ràn rạt gió đùa trên mái, sắt se lòng, nhủ thầm hai tiếng “Xưa ơi !”.

Đàm Lan

Chuyện bên hồ Thiên Thảo

Vùng hồ Thiên Thảo đẹp nỗi tiếng với làn nước xanh màu ngọc bích quanh năm soi bóng mây trời với đủ loại cây từ cổ thụ uy nghi đến dây leo ẻo lả, từ cây cho trái ngọt ngào đến cây đơm bông muôn màu thơm ngát. Tất cả mọc chen vào nhau tưởng lộn xộn mà kỳ thực theo một trật tự nghiêm ngặt nương vào nhau, che chắn cho nhau, nhường nhau vị thế để mọi chủng loại đều có thể đón nhận được sự bao la của trời và sâu xa của đất nhờ đó chúng tồn tại, sinh sôi nảy nở. Quần thể thực vật đó ôm trọn khu vực rộng lớn quanh hồ tạo vẻ thơ mộng cho Thiên Thảo đồng thời là nơi trú ngụ lý tưởng của muông thú từ hươu nai đĩnh đạc đến kiến mối nhỏ nhắn lăng xăng .

Chọn mé hồ nơi giống môn dại chen chúc là họ hàng nhà Ếch nhái , Ểnh ương Chúng thích hát ca nhưng biết giọng mình không thanh tao trong trẻo nên chỉ cất tiếng trong mưa mong tiếng mưa át đi hợp âm quái dị phát ra từ cổ họng ngắn chũn. Cũng thích ngâm nga có họ hàng nhà Dế và Ve Sầu. Nhưng Ve Sầu khôn lanh thoát được lòng đất nơi chúng khổ luyện bao năm để có đôi cánh trong suốt kiêu sa là vút lên tìm đến những cây cao – nơi lý tưởng để chúng cất tiếng ngợi ca niềm hạnh phúc được thoát xác- nhường hốc cây bụi cỏ cho Mèn cho Trũi. Biết mình sẽ thăng hoa cho tình yêu trong ngày trời đổ cơn giông, bằng một vũ hội cực kỳ lãng mạn khiến lân bang thán phục, họ nhà Mối đã chấp nhận trú ngụ tận nơi tối tăm ăn sâu lòng đất. Thích đào hang trổ ngách nên ở không xa lãnh địa họ nhà mối bao nhiêu là Kiến Đen Kiến Càng dành cây có lá to cho Kiến Vàng dễ bề làm tổ. Bướm thì khỏi kể. Nhờ đôi cách rực rỡ bay lượn nhịp nhàng tạo vẻ đẹp cho vùng hồ nên chúng có đặc quyền ở nơi nào chúng thích, tất nhiên cây là nơi chúng ưa chuộng nhất. Nhưng đây là loài điệu đà lãng tử. Chúng hay mở hội mùa. Từng đàn. Từng đàn .Trắng, đen, vàng, biếc rợp trời , tuỳ loại mà chọn mùa mở hội . Với chúng, đâu cũng có thể ghé lại nên chúng chẳng cần nhọc công làm nhà, cứ nhởn nhơ nhẹ nhõm. Cần mẫn siêng năng là giống Ong. Đố thấy chúng chơi bao giờ. Lúc nào những con vật nhanh nhẹn này cũng bận rộn, lúc nào cũng mang vác. Nhà chúng tít trên cao chỉ Ong Đất mới học cách làm nhà của Mối cùng Kiến Đen là láng giềng chí cốt . Cào Cào Châu Chấu tìm cỏ tranh hoặc cỏ năn cỏ lác .

Đấy là chỉ nói các sinh vật nhỏ thuộc giống lưỡng cư hoặc loài côn trùng Thiên đàng của các loại thú lớn là phía trên cao của sườn đồi và xa hơn nữa. Và đương nhiên xứ sở của các loài tôm cá là lòng hồ thăm thẳm. Câu chuyện này không liên quan trực tiếp đến chúng nên dành lại lúc khác sẽ cặn kẽ.

*


Cư dân vùng hồ sống rất hoà ái thuận thảo. Khi bình minh vươn đôi tay dịu dàng đánh thức vô vàn hạt sương ngái ngủ trên cành lá khiến chúng bừng thức toả vẻ rạng rỡ mê hồn thì cũng là lúc hoa chuẩn bị xoè cánh, trái khoác lên người sắc màu tươi nhất để chào đón những người bạn biết bay, biết chạy nhảy, biết hát ca. Những cư dân trầm lặng nhất như ốc sên, cuốn chiếu cũng được giành ưu ái không kém. Muôn loài ngẩng mặt đón nguồn sống vô tận từ những tia nắng ấm áp, nghe sinh khí từ ẩm ướt đất nâu len vào cơ thể. Và khi màn đêm buông điệu ru êm ái, vùng hồ đắm trong giấc mơ kỳ thú ngọt ngào.\

Mỗi giống mỗi loài có lãnh địa riêng, có thể gần nhau nhưng không bao giờ xâm hại nơi ở của nhau . Mỗi giống có tập tính, lối sống, cách phát triển giống nòi không giống nhau nhưng không bao giờ tiêu diệt nhau. Tiếng ve ngày hè, giọng ễnh ương đêm mưa dầm. Bướm lượn trời nắng, mối bay ngày dông. Kiến tha mồi bằng răng, ong tài tình ôm phấn hoa đã gom thành hạt tròn bằng hai chân sau dài ngoẳng. Chúng chấp nhận nhau, qua lại với nhau, cùng vui vẻ tồn taị, cùng biểu lộ đặc trưng riêng tạo sự phong phú đa dạng cho Thiên Thảo.

Cuộc sống tưởng sẽ mãi êm đềm tươi vui như thế nào ngờ buổi tối nọ xuất hiện trong tấm áo choàng sặc sỡ với gương mặt vô hình một gã có tên là ÁC. Ác bay lượn chui rúc xoi mói mọi chốn . Lấy cớ viếng thăm lập mối quan hệ lâu dài Ác ở lại từng lãnh địa mỗi nơi vài ba hôm không chừa một góc nhỏ nào ở ven hồ Thiên Thảo, tỉ tê những gì không rõ rồi mất hút.

Sau chuyến viếng thăm không hẹn trước này của Ác mối giây tình cảm giữa các cư dân bắt đầu lỏng lẻo. Thoạt tiên là họ nhà kiến lên tiếng bài xích thói ca hát của ve sầu. Theo kiến ve sầu là loài hư hỏng, chỉ biết ra rả suốt ngày không chịu chắt chiu dành dụm như họ nhà nó và cao giọng báo cho ve sầu biết rằng từ nay đừng hòng mượn chác gì của họ nhà kiến dù chỉ là một chút thức ăn ngày giáp hạt. Ve sầu thì chê bai giọng ồm ộp của ếch, tiếng kéo đàn trèo trẹo của cóc và chẫu chàng , chế nhạo vẻ thô mộc từ làn da đến hình dáng, kiểu đi của họ hàng nhà này. Mối cất giọng thoá mạ ong đất với lý do là ong đất xâm phạm quyền sỡ hữu trí tuệ về kiến trúc nhà ở của giòng giống tài hoa nhà mối. Châu chấu cào cào mỉa mai ốc sên chậm chạp không đi bằng chân mà lại bị bằng mồm, rằng ốc là loài ngớ ngẩn đi đâu cũng cõng nhà theo. Đến cả cùng họ hàng như dế mèn, dế trũi cũng khích bác nhau. Dế mèn chê dế trũi cục mịch quê mùa. Dế trũi cũng chẳng vừa, cho rằng mèn là thứ ba hoa khoác lác. Tội nghiệp nhất là bướm. Bộ cánh đỏm dáng và thói lãng tử – đề tài cho những bài ca – đã trở thành đối tượng cho những lời chỉ trích gay gắt của phần lớn cư dân vùng hồ.

Sự hòa ái không còn nữa thay vào đó không khí u ám bao phủ các loài . Sau những đợt chê bai công kích nhau từng loài náu kín trong vùng cư trú của mình không giao du như trước. Nếu chạm mặt nhau đâu đó, nhẹ nhàng thì chúng sẽ hoặc dè bỉu hoặc tảng lờ không quen biết, trầm trọng hơn nữa là xô xát bươu đầu mẻ trán. Tệ hại nhất là lén tiêu diệt thế hệ kế tục đang say ngủ trong vỏ trứng mỏng manh.

Phiền muộn trước tình trạng này, những tia nắng thôi không nhảy nhót mỗi bình minh lên. Sương vì thế cũng không long lanh nữa. Những hạt mưa mát dịu ít khi ghé lại khiến mặt đất khát khô, nứt nẻ. Thiên Thảo mất đi vẻ sống động, phai nhạt màu xanh vốn có trước đây.

*


Dưới lòng hồ yên ngủ từ hàng triệu năm một con thuỷ quái vốn là con cháu nhà trời bị trừng phạt bằng phép thuật của Ngọc Hoàng với lời nguyền là nó sẽ tỉnh giấc khi không khí quanh vùng hồ đượm mùi của Ác.

Việc gì đến đã đến. Một ngày nọ – không lâu lắm kể từ ngày gã áo chòang sặc sỡ ghé lại vùng hồ, thuỷ quái tỉnh giấc khẽ cựa mình. “ Thật dễ chịu”, nó thốt lên trước khi khoái trá vùng vẫy, hào hứng gào rú bằng tất cả sức lực bị kìm nén bấy lâu . Nó những tưởng sẽ được bay vọt lên khỏi lòng hồ, múa lượn giữa bao la , tung tăng giữa muôn loài cho bõ hàng triệu năm bị giam hãm. Nó những tưởng sẽ lại được hung hăng láo xược thực hiện các hành vi kinh thiên động địa của mình cho thoả tính ngông ngạo bấy lâu bị kiềm toả. Nào ngờ lời nguyền của Ngọc Hòang chỉ dừng ở TỈNH GIẤC chứ không phải TỰ DO. Vì thế sau phút vùng vẫy thuỷ quái đành bất lực bó tay chịu trở lại nép sâu lòng hồ với trái tim hậm hực, oán trách Ngọc Hoàng gấp vạn lần vì lời nguyền – theo nó là vô cùng thâm độc của ngài. Phải chi nó cứ ngủ yên, không có khoảnh khắc diệu kỳ vừa nếm trải. Phải chi nó không thể cay đắng nhận ra rằng dẫu con cháu nhà trời ngông ngạo nhiều quyền phép cũng chỉ là nhãi con trước uy lực của CÔNG LÝ. Gieo họa phải gặp họa. Nó cay đắng công nhận qui luật này và thiếp giấc trừng phạt.

Chỉ vậy thôi.

*


Nào ngờ khoảnh khắc cựa mình của loài thuỷ quái đã gieo tai hoạ cho cư dân ven hồ. Tấm lưng dài muôn trượng, to khủng khiếp của nó vẫy vùng làm nước trong hồ khiếp hãi buông tay. Một con sóng cao chưa từng có hung dữ khác thường cấu thành từ những cánh tay nước buông xuống chịu trận tung vọt lên cao tràn lấn vùng hồ và ngẫu nhiên quét sạch cuốn sạch những gì mới đây là tươi xanh mới đây là sức sống.
Mặt hồ lại trở về vẻ yên lắng.

*

Không ai biết tại vương quốc Nước đang âm thầm diễn ra một cuộc nhận tội của các thành viên vì đà kém cỏi buông tay vô tình thành trợ thủ gieo tai ương tang tóc. Và trên Cõi Cao Xanh, Ngọc Hoàng cũng đang vô cùng ân hận. Không ngờ hình phạt giành cho kẻ có tội lại gây đau thương cho người vô tội. Phải chi ngài cứ thẳng tay trừng trị kẻ hư hỏng cậy quyền cậy thế đừng ve vuốt bằng cách buông lời nguyền ngỡ là cao kiến ấy, tưởng chỉ để nghịch tôn nghịch tử thấm thía lẽ đời hơn. Nào ngờ …

Thiên Thảo đổ nát. Thiên Thảo điêu tàn. Xác muôn loài phơi trắng đất. Tất cả còn lưu nét kinh hoàng qua dáng cách từ bỏ trần thế. Bên xác cư dân ven hồ có cả xác cá tôm vương vãi. Xú uế nồng nặc. Thuở hồng hoang đã quay trở về đây. Biết đến bao giờ mới được thấy lại cảnh ong bướm bay lượn. Biết đến bao giờ mới được nghe lại giọng ễnh ương vang vọng đêm đông hay ve ngân ra rả ngày hè. Biết đến bao giờ…

*

Sáng hôm sau Tia nắng phát hiện thấy một dáng vóc nhỏ nhắn trong sắc áo thiên thanh đang lúi húi tìm kiếm trong đống đổ nát . Không giấu được mừng rỡ cũng không nén nỗi tò mò, Tia nắng rủ chị rủ em theo dõi. Thì ra vóc dáng xinh xắn ấy là của một người con gái. THIỆN – tên của nàng được in, được khắc trên vầng trán, nét mày, đôi má và nhất là trong ánh mắt dịu dàng mà ấm áp. Nàng đang bạo dạn nhưng hết sức nhẹ nhàng lật giở từng thi thể, bới tung những gãy đổ vùi lấp với hy vọng may ra tìm thấy người sống sót .

Và nàng đã không lầm .
Luôn có những bất ngờ trong cuộc sống .
Rất nhiều cư dân trẻ có, già có được tìm thấy vẫn đang thoi thóp. Mừng rỡ, nàng kêu lên . Tiếng kêu trong trẻo đầy ắp niềm vui của nàng đánh thức, tập hợp quanh nàng các thành viên sống gần hoặc xa Thiên Thảo không bị ảnh hưởng của tai hoạ. Cùng nhau tìm kiếm , cùng nhau cứu thương cứu đói cứu khát họ tất bật suốt nhiều ngày không ngừng nghỉ.Giữa họ và nàng, giữa họ với nhau hình thành mối dây khắng khít. Quên đẳng cấp thứ bậc; quên tuổi tác; quên cả những bất hoà từng đã xảy ra, tất cả chỉ vì nỗ lực cứu các cư dân sống sót, tạo dựng lại nhà cửa đem lại nguồn sống cho Thiên Thảo.

Điều đáng mừng là các họ hàng cư dân ven hồ đều may mắn có người sống sót. Mấy chú nhái bén ngơ ngác, vài cô cậu dế mèn mỏi mệt, mối chúa không hề hấn gì do trú sâu trong thâm cung. Ong, kiến, bướm, châu chấu, cào cào loài nào cũng lần lượt được tìm thấy năm bảy sinh linh. Và kỳ diệu thay từ vố số trứng không bị vùi dập, không bị cuốn phăng nở ra bao nhiêu là cư dân thơ dại yêú ớt.

THIỆN vui lắm. Các bạn mới – cộng sự của nàng cũng vui không kém. Nhưng nỗi lo cũng đầy ắp. Ngoài mối lo về cái ăn nơi ở, họ càng bận bịu hơn với việc chăm sóc lũ trẻ thiếu bố mẹ khi mà mối hiểm nguy phát sinh từ hậu hoạ luôn rình rập. Họ giành tất cả sức lực cho cuộc hồi sinh vĩ đại. Một hội nghị lớn tìm cách vô hiệu hóa thuỷ quái được tổ chức và Ngọc Hoàng đã chấp thuận thỉnh cầu xử thuỷ quái vĩnh viễn ngủ, giải lời nguyền trước đây.

*


Lại nói về ÁC.
Sau chuyến viếng thăm đen tối dạo nọ; bấm quẻ biết đã đến lúc, ÁC hối hả quay lại Thiên Thảo. Khoái trá trước một vùng tang tóc, nó cất tiếng cười man rợ tự tán dương mình. Đám cư dân quanh hồ quả thực ngờ nghệch tin những lời tỉ tê bịa đặt đến nỗi đánh đổi hoà khí hạnh phúc lấy tai hoạ. Từ đây nó đã có đất sống. Nó không phải chui nhủi tận xó xỉnh hôi hám tối tăm. Say sưa với chiến thắng , nó liệng một vòng quanh hồ hú gào khoái trá. Chợt nó xây xẩm. Chuyện gì kia ? Chúng nó- lũ ong bướm châu chấu cào cào đã bị vùi, bị cuốn sạch rồi sao đang xúm xít bên nhau thân ái dường kia. Chúng không công kích chê bai rủa sả nhau nữa sao? Hay đây là linh hồn của chúng hiện về tố cáo nó, hỏi tội nó. ÁC căng mắt và nó giật mình khi thấy dáng dấp thanh tú của THIỆN hiện ra giữa đám đông thân ái ấy. “Thì ra là vậy”. Nó nhủ thầm và tìm cách đối phó . Vừa lúc đó THỊỆN ngẩng nhìn lên. Ánh mắt cuả nàng chạm phải gương mặt vô hình gớm ghiếc của ÁC khiến nó bủn rủn, đánh rơi tấm áo choàng sặc sỡ – bùa hộ mạng, thần hộ thân của nó . ÁC hốt hoảng ngã xuống từ cao tít. Thân hình ốm o trở lại nguyên dạng là con rít khổng lồ với vô vàn đôi chân gớm ghiếc. Nó xấu hổ lẩn nhanh vào cõi tăm tối.

Khúc vĩ thanh.

Sự sống sẽ hồi phục. Thiên Thảo tìm lại được vẻ thơ mộng ngày xưa , muôn loài sẽ hát ca bay lượn nhảy nhót trong không khí thuận thảo hoà ái. Những gì đã xảy ra sẽ chỉ là vết thương trong lòng các cư dân sống sót nhưng lại là bài học nhớ đời về sự mông muội, về cách nhận biết bản chất xấu xa ẩn trong lớp áo đẹp đẽ . Họ sẽ đời đời tri ân, nâng niu sùng bái THIỆN, tôn nàng làm ĐẤNG CỨU RỖI. Họ sẽ hợp lực xua đuổi tiêu diệt ÁC – kẻ gieo tai hoạ, không cho nó tồn tại trên thế gian này nữa.

Và điều chắc chắn là họ sẽ kể cho các thế hệ con cháu tiếp nối câu chuyện cổ tích mà chính họ là nhân vật bằng giọng than thở của ễnh ương, ngân nga của ve sầu, nỉ non của dế trong những ngày hè sáng lán hoặc đêm đông lạnh giá với sự hiện hữu của THIỆN -cô gái nhỏ nhắn gan dạ dịu dàng và nhân ái trong chiếc áo xanh thanh thoát.

Tôn Nữ Ngọc Hoa 2005

Sắc Xuân

Tôi vốn dĩ rất ấn tượng với màu hoa trắng. Bất cứ loài hoa nào mang màu trắng cũng đều cho tôi một cảm giác nhẹ nhàng thanh thóat, bâng khuâng. Niềm cảm xúc đó khiến tôi chưa một lần bỏ qua dịp sở hữu hay chiêm ngưỡng nó. Đặc biệt là hoa hồng trắng. Thật đáng buồn khi màu hoa thánh thiện ấy lại mong manh vô cùng. Hoa trắng luôn có tuổi thọ thấp hơn những lòai hoa mang các sắc màu khác. Có lẽ đó là một quy luật hiển nhiên khi sự thanh khiết, thánh thiện thường không thể tồntại lâu trong thế giới cuộc đời. Mặc dù vậy, tôi vẫn rất yêu màu hoa trắng, một màu hoa bất diệt.

Chắc chắn rằng không một ai trong đời lại chưa một lần đi dạo chợ hoa ngày tết. Một bức tranh hội tụ tòan cảnh sắc thiên nhiên. Bức tranh đã cho ta một sự cảm xúc sâu sắc, khi được đắm mình trong chiếc thảm rực rỡ và ngào ngạt hương thơm. Và khi đã lạc vào chốn thiên thai tại thế ấy, thì không ai gìm nổi nỗi xúc động đang đưa tâm hồn mình bay bổng giữa vườn xuân. Như đã thành thói quen, chưa năm nào tôi từ chối nổi cái thú di dạo chợ hoa ngày tết, ngoại trừ những trường hợp bất khả kháng. Cũng như lúc này, tôi đang chìm giữa biển sắc, nhuưng vốn trung thành với ấn tượng, tôi vẫn ném tia nhìn xục xạo khắp các ngõ ngách cua những khóm hoa. Khốn nỗi, màu hoa tôi yêu lại rất hiếm hoi trong những ngày này. Vì người ta quan niệm rằng : đầu năm không nên chưng hoa trắng trong nhà, không khéo lại trắng cả năm thì khổ. Dù sao tôi vẫn không bỏ cuộc khi chưa ra khỏi khu chợ hoa. Hơn nữa, chẳng dại gì, khi cả năm mới có được một lần ngắm hoa thỏa thích lại không mất tiền. Đang tiếp tục với cuộc thưởng ngọan, tôi bỗng nghe có tiếng trầm trồ :

_ Ồ, cành mai đẹp quá !

Nhìn về phía phát ra tíếng nói, một cô gái trong bộ quần áo lam lũ, chân đi đôi ủng với nửa phần bùn đất, đang ngây người dán mắt vào một cành mai gần đó. Tôi bất giác nhìn theo và cũng thầm công nhận : cành mai thật tuyệt. Sự phân chia cân đối của các nhánh cành cùng với những chùm nụ như phụ kín, lác đác trong số nụ ấy là ánh vàng của vài cánh hoa nở vội. Có lẽ những cánh hoa ấy đang háo hức tung ra giữa thanh thiên chiếc áo xuân rực rỡ. Dù rất ít tình cảm với màu vàng ( vì tôi nghe nói màu vàng là màu phản bội ) nhưng tôi buộc phải công nhận một điều : Thượng dế đã rất có lý khi chọn màu vàng của hoa mai làm biểu tượng của mùa xuân. Thử tượng tưởng xem, khi những ngày đầu năm, căn nhà như sáng hẳn lên với một cành mai đang rũ tung sắc vàng ra tứ phía. Và cái ánh sắc chói lòa ấy dễ đem đến cho con người ta nguồn hy vọng vào một cuộc sống no đủ, sung túc. Không biết có phải màu vàng ấy trùng với màu của một thứ kim lọai có giá trị rất cao, và là màu của một thảm lúa vàng trong mùa bội thu. Dẫu sao thì hoa mai không thể thiếu trong mùa xuân. Có điều, số phận cành mai tuyệt đẹp kia sẽ thuộc về ai thì tùy thuộc vào sự quyết định của người đang tạm là chủ nó. Lẽ đương hiên nó sẽ không thuộc về tôi hay cô gái đang sững sờ trước vẻ huy hòang của nó kia. Cô gái đã dợm bước đi, lại chợt dừng lại, trong mắt cô, một ánh nhìn khao khát đến nao lòng. Cái nhìn ấy gây cho tôi một niềm hòai cảm. Một sự thúc đẩy vô hình nào đó, khiến tôi đuổi theo cô gái. Khi đã bắt kịp cô, tôi mở lời bắt chuyện :

_ Cành mai ấy đẹp quá cô nhỉ ?

Nhìn tôi với một thóang ngạc nhiên nhưng rồi cô gái cũng gật đầu :

_ Vâng ! Đó là cành mai đẹp nhất từ trước giờ tôi đã thấy.
_ Thế sao cô không tìm cách sở hữu nó ?

Cô gái mỉm một nụ cười buồn :

_ Tôi làm sao có được diễm phúc đó hở anh ?

Vẫn biết đó là câu trả lời mà tôi đã ước đóan, nhưng chẳng qua chỉ là cái cớ để làm quen. Chuyển đề tài, tôi lân la :

_ Chắc cô đi sắm tết ?
_ Tôi đi ngắm tết thì đúng hơn.

Bật cười vì lối chuyển ngữ sát sườn của cô gái, cô chợt nhìn tôi vẻ lạ lẫm, như nhìn một gã ngớ ngẩn. Tôi nhận ra sự vô ý của mình, vội nói :

_ Xin lỗi cô, tôi cười là vì dường như tôi đang có bạn đồng hành.
_ Bạn đồng hành ? Ồ thế thì anh đã nhầm rồi, tôi đang rất bận.
_ Thì tôi cũng có rảnh rỗi đâu.
_ Không rảnh rỗi ? vậy sao anh lại có thời gian đi vớ vẩn thế này ?
_ Là vì…tôi đang bận…bận làm quen ấy mà.

Cô gái vỡ lẽ phì cười, rồi bằng một thái độ ẩn ý, cô nói :

_ Tôi có cảm giác như đang nói chuyện với người ngòai hành tinh vậy ?

Tôi sựng lại, nhìn từ ngực đến chân, trừ cái mặt vì tôi không đem theo cái gương. Tôi có gì khác với mọi người đâu nhỉ ? Vậy không lẽ cái mặt tôi giống người ngòai hành tinh lắm sao ? Thấy tôi ngơ ngác, cô gái lại cười :

_ Anh giống như người ngồi dưới gốc cây đa trên mặt trăng ấy.

Ái chà, cô ta cũng đáo đẻ đấy chứ, nhưng tôi cũng kịp trả đũa ngay :

_ Ồ cô nói đúng dấy, vì tôi đang đi cạnh Hằng Nga mà.

Cô gái khẽ “hứ” một tiếng và quay ngóăt đi, nhưng tôi đã kịp nhì thấy một ráng hồng lan trên má cô. Tôi bỗng cười, và cô cũng bật cười. Môt lần nữa xin cảm ơn Thượng đế khi Ngài đã sáng tạo ra nụ cười, vì chính nụ cười đã góp phần chuyển tiếp thái độ rất hiệu quả. Hai chúng tôi đã tự nhiên hơn Và rồi qua câu chuyện tôi đuợc biết. Cô gái là chị của bảy đứa em. Một tình cảnh thường thấy trong các gia đình ở nông thôn. Đó là sự thiếu hụt, khó khăn trong cuộc sống hàng ngày. Với một mảnh vườn rau trên diện tích hơn ba sào, chỉ đủ để đánh đổi từ những giọt mồ hôi mặc đất lấy từng hạt gạo nuôi sống bấy nhiêu con người đã là khó nhọc, thì lẽ đương nhiên khó mà sắm sửa một cái tết cho ra trò. Cô gái ngùi ngùi nói thêm :

_ Đã bao năm rồi, mẹ tôi chỉ ước có một cành mai thật đẹp cho vui nhà, nhưng rồi năm nào cũng như năm nào, mẹ tôi lại lui cui ra vườn cắt vài nhành hoa có sẵn, và nói vui rằng : Không có mai rừng thì ta chưng mai nhà vậy.

Ngang qua một quầy bán tranh và lịch, tôi lướt mắt và bắt gặp một sắc vàng đổ xòa trên một khung tranh. Tôi nói vội với cô gái :

_ Cô đứng đây chờ tôi tí nhé.

Rồi không đợi cô gái kịp trả lời, tôi len vào hỏi giá tờ tranh. Ít phút sau, trước khi tờ tranh được cuộn lại, tôi đã kịp nhìn thấy hai chữ gi chú bên dưới “Sắc Xuân”. Trở lại nơi cô gái đang đứng đợi, tôi ngập ngừng :

_ Chút quà nhỏ cho mùa xuân mới, cô vui lòng nhận nhé.

Cô gái lúng túng :

_ Tôi không thể nhận quà của một người lạ dược.
_ Có thể chúng ta chưa quen, nhưng cũng không còn là lạ, coi như kỷ niệm của buổi đầu gặp gỡ, có được không ?

Tôi vừa nói vừa ấn bức tranh vào tay cô gái, cô gái run tay đỡ nhẹ và mở ra, cô reo lên :

_ Đẹp quá !

Chỉ vào hai chữ ghi chú, tôi nói :

_ Có thể bức tranh này không đẹp bằng cành mai thật kia, nhưng tôi hy vọng “Sắc xuân” sẽ ngự suốt bốn mà trong gia đình cô.

Cô gái không giấu vẻ xúc động, ngước mắt nhìn tôi với tia ấm áp, lời cảm ơn thốt ra cùng lúc hơi ấm từ bàn tay cô truyền sang bàn tay tôi. Trong tôi như rộn lên vầng sáng của “Sắc Xuân”

Đàm Lan

Âm thanh gói cả đất trời

Đấy là cảm nhận của nhiều người khi được thả hồn trong sự hài hòa, cộng sinh đến tuyệt vời âm thanh của nhạc cụ gõ của người Thái Tây Bắc. Nhạc cụ gõ của người Thái Tây Bắc gồm trống, chiêng, chũm chọe và quả nhạc. Bộ gõ này có vai trò rất quan trọng trong đời sống nghệ thuật và tâm linh. Bộ gõ là vật linh thiêng của mỗi bản, không bao giờ được để mất, không để kẻ thù chiếm đoạt, không được đổi chác mua bán. Mỗi khi những âm thanh của bộ gõ này vút lên, người nghe như cảm nhận được sự sâu xa, tinh tế và huyền diệu của đất trời cùng tình người đằm lắng.


Việc chế tác bộ gõ được tiến hành với những bước rất nghiêm ngặt: Cúng tế xin phép thần linh, cầu mong thần cho phép, chứng giám và phù hộ rồi tiến hành ở nơi kín đáo, sạch sẽ. Khi chế tác xong phải cử hành lễ tế trang trọng và cất giữ ở nhà sàn hoặc gian thờ ma nhà của trưởng bản hoặc người có chức sắc và chỉ được dùng trong dịp tết hoặc lễ cúng xên bản, xên mường. Người Thái cho rằng nếu dùng trống chiêng tùy tiện sẽ có hại cho bản mường.

Trống có hai loại “cống” và “cong”. Thông thường “cống” hay được dùng trong hội xuân, lễ cúng ma bản mường; còn “cong” dùng khi chủ mường qua đời hoặc khi có giặc, báo động…
Tang trống dùng cây gỗ tròn được đục bỏ lõi, thường là gỗ xâng hoặc mít. Tang dài 0,8 – 1 m, mặt có đường kính từ 30cm đến 50 cm, bịt bằng da trâu bò, âm thành trầm và gần.
“Cong” là loại trống dài từ 1,5m đến 3 m, mặt bịt da bò, có đường kính từ 50cm đến 70cm, âm thanh trong hơn, vọng rất xa.

Khi chế tác tang trống, để có âm thanh như ý, các nghệ nhân cạo nhẵn bên trong và mặt ngoài chứ không dùng sơn.

Tác giả bên cô gái Sơn La

Chiêng và chũm chọe được chế tác công phu, đặc biệt là rốn chiêng. Để có âm thanh mong muốn, các nghệ nhân pha thêm vào đồng một tỷ lệ vàng theo công thức bí truyền.
Chiêng có âm thanh trầm được gọi “tô me”, tức là con mái, chiếc có âm thanh cao gọi là “tô po”, tức là con trống, chiếc có âm thanh ở khoảng giữa gọi là “tô lụ” tức là con con.
Chũm chọe gọi là “xánh”, chùm nhạc là “mắc hính”.

Chiêng có thể dùng riêng hoặc phối hợp cả ba cái tạo ra một hợp âm độc đáo mà các nhà nghiên cứu cho rằng đậm đà ý nghĩa nhân sinh.

Thường là đàn ông đánh trống, đàn bà đánh chiêng, trẻ con dùng chũm chọe, con gái trẻ dùng quả nhạc tạo ra những âm thanh sôi động, lôi cuốn lòng người. Nghe những âm thanh tinh tế bộ gõ của người Thái, người ta như cảm nhận được sự giao hòa của đất trời và vạn vật, ngân rung bay bổng khát vọng một cuộc sống sinh sôi, phát triển, ấm no, hạnh phúc, làm cho tâm hồn người trong sáng hơn, thêm tin yêu vào cuộc sống, hướng mỗi người đến giá trị đích thực của Chân – Thiện – Mỹ.

Nghe tiếng trống, chiêng, người ta có thể biết ở bản Thái ấy đang có việc vui hay buồn: Nghe tiếng trống nhịp 2/4 theo kiểu 3 tiếng cùng với 7 tiếng, tiếng chuông gõ trên con mái và con trống rơi vào nhịp mạnh, tiếng của con con rơi vào nhịp nhẹ của trống, thì chắc chắn rằng ở đó có hội xòe. Còn khi nghe tiếng “cong” dồn dập 3 tiếng hoặc 5 tiếng là có việc khẩn cấp như: cháy nhà, có lũ bão, có giặc. Các quả nhạc cùng phụ trợ cho hát và các điệu xòe làm tăng sự vui tươi, sôi động.

Bộ gõ nói chung và chiêng trống nói riêng là những nhạc cụ không thể thiếu của người Thái Tây Bắc, góp phần làm cho đời sống nghệ thuật thêm phong phú, đồng thời còn chứa đựng những ý nghĩa tâm linh và nhân sinh cao cả, gửi gắm vào đó cả tình yêu, tinh thần lạc quan tin tưởng vào cuộc sống no ấm, hạnh phúc.

Trần Vân Hạc

Chú chó Pôli

Chú được về nhà này với danh nghĩa là một món quà kỷ niệm 25năm ngày cưới của ông chủ tặng bà chủ. Là một con chó thuộc dòng chó Nhật, chú có sẵn một hình thái thật dễ thương, đôi mắt nâu tròn xoe như hai viên bi, đen lay láy khi nhìn bà chủ. Từ tay ông chủ chuyển qua, chú đã chiếm được ngay cảm tình của bà chủ bằng chếc lưỡi hồng xinh xinh lướt trên những ngón tay bà. Từ đó chú không rời bà nửa bước, ngọai trừ những lúc cô bé Ngọc Diễm, cô con gái độc nhất của ông bà ôm ấp, nô đùa với chú. Cô bé đã dày công tập luyện cho chú những trò khá hay, như đi hai chân, nhào lộn trên giường, ấm ứ nói chuyện, tha chén đòi ăn…vv .

Đó là những ngày cô bé Ngọc Diễm còn là một cô chú nhỏ ngây thơ cơ. Chứ từ khi cô trở thành một thiếu nữ đẹp, giàu sang, với những cái đuôi dài lê thê, với những buổi tiệc tùng dạ hội, thì dường như cô không còn nhớ gì đên chú mấy nữa. Thỉnh thỏang chú lại bị những cú đá phũ phàng, chỉ vì chú làm bẩn bộ quần áo đẹp của cô chủ khi nhảy chỗm lên mừng. Những lúc ấy chú kêu lên “ ăng ẳng” một cách oan ức, rồi chạy nép vào lòng bà chủ để được nhận những cái vuốt ve an ủi.

Của đáng tội, cũng không hẳn cô chủ ngược đãi chú đến thế, cũng dăm lần chú được tắm rửa sạch sẽ, ngồi lên chiếc baga giữa của chiếc Dream láng coóng mà đến nhà những người bạn của cô chủ, có hôm chú được đến cả vũ trường , vì cô chủ không tiện đem chú về bỏ ở nhà. Được cái chú rất ngoan, hiểu rõ yêu cầu của chủ do được huấn luyện kỹ, nên chỉ cần một chiếc ghế kê sát tường và một câu lệnh ngắn gọn “ Ngồi yên đấy nhé”, thì dù cô chủ mải vui chơi đến đâu chú cũng vẫn cứ nguyên vị. Đôi khi có nhu cầu cần gỉải quyết, chú nhảy tót đi tìm chỗ, xong lại trở về vị trí.

Nhưng rồi những cuộc di chơi ấy của chú thực sự chấm dứt từ ngày cô chủ có một cậu trai ra dáng bảnh bao, nhăn mặt khi cô chủ bỏ chú lên xe. Từ đấy, chú chỉ còn được nhận sự yêu thương của bà chủ. Sự yêu thương ấy càng sâu đậm hơn khi ông chủ đột ngột qua đời vì một tai nạn giao thông. Ông ra đi như một cơn lốc cuốn khỏi cuộc đời bà. Chú chó Pôli không chỉ còn là một chú chó kiểng đẹp đẽ thông minh, một bằng chứng tình yêu nữa, mà chú thật sự là một người bạn của bà.

Ngọc Diễm săm soi mình trước gương, vẻ vừa ý với diện mạo của mình. Rồi cô vừa dắt xe ra vừa nói vọng lại :

_ Mẹ cứ ăn cơm trước, đừng đợi con, mẹ nhá.

Đã quá quen với những lời tương tự, bà Ngân thở dài dặn với theo :

_ Cẩn thận nghe con, đường xá bây giờ nhộn nhạo lắm đấy.

Cũng đã quá quen với những lời dặn dò, Ngọc Diễm vừa rồ ga vừa nói

_ Mẹ cứ yên tâm.

Bà Ngân nhìn theo đứa con gái duy nhất mà mắt buồn vời vợi, nuôi nuối, như tiêng tiếc một vật gì đã vượt quá tầm tay. Quả thật, con cái khi lớn lên, chúng không cần đến đôi tay bảo trợ của cha mẹ nữa, có khi còn khó chịu với những quan tâm, chăm sóc tận tình, mà rằng “ Con có là trẻ con nữa đâu mà…” Cũng đúng thôi, một khi đó là quy luật hình thành tâm sinh lý của con người. Khi đến tuổi trưởng thành, nhu cầu muốn được tôn trọng, được chủ quyền, dù chỉ với bản thân mình. Muốn dược là người lớn với đầy đủ ý nghĩa của nó. Đó là lẽ đương nhiên cần phải có ở mỗi con người. Nếu không thế, con người sẽ sống ra sao khi không còn cha mẹ ? Nhưng đối với cha mẹ, thì con cái luôn bé bỏng, dại khờ. “ Mẹ già trăm tuổi, thương con tám mươi”. Đó cũng là quy luât của nước mắt chảy xuôi. Vì thế mới nảy ra khỏang cách giữa hai thế hệ. Không thể hiểu nhau mà cũng không dung hòa được với nhau. Đến khi hiểu được tâm trạng của cha mẹ, thì cũng là lúc bước vào vị trí của ông bà ngày trước. Và cứ thế, dòng chảy vẫn mãi chảy theo lộ trình bất dịch của nó.

Bà Ngân uể ỏai nuốt miếng cơm, thỉnh thỏang bà lại bỏ vào cái chén của chú Pôli một miếng giò nạc , kèm theo câu ân cần :

_ Ăn đi con, ăn đi bà thương…

Chú Pôli thì khỏi nói, động tác chuyển những thứ ấy vào bụng nhanh như xiếc. Ăn xong, rửa vài thứ chén đũa, là đến lúc bà Ngân thu mình trước cái màn hình ti vi 20inch . Con gái bà bảo mua cái to để mẹ xem cho đỡ nhức mắt. Thế mà cũng lắm lúc những hình ảnh trên ấy cứ lấp lóa khiến bà phải tắt đi. Thì cả ngày cứ dán mãi mắt vào đấy, làm sao không lóa ? Ngòai cái ti vi ra bà còn biết tiêu tốn thời gian vào chuyện gì nữa đâu. Từ ngày ông mất, cô con gái lại đủ lông đủ cánh, gia sản ông để lại đủ cho bà nhàn rỗi dưỡng già. Vả lại bà có muốn giở ra làm gì thì cô con gái cũng không cho. Bảo “mẹ già rồi, nghỉ ngơi cho khỏe, mẹ đi nữa thì ai trông nhà? Thời buổi trộm cắp như rươi, mẹ làm không bõ trộm nó bê đi một mớ” Thế là bà đành chịu , buồn quá lại đem Pôli ra tắm táp, bắt chấy bắt rận.

Chú Pôli quen thuộc từng động tác của bà đến nỗi chỉ cần bà móc túi lấy ra cái mục kỉnh đeo lên mắt, là chú đã ngoan ngõa nằm xuống trước mặt bà để chờ đôi bàn tay bà sờ soang, bới móc, tóm đi từng chú bọ chét hiếm hoi. Buồn ngủ, chú cứ lăn vào lòng bà ngáy cho thỏa. Mỗi lúc được vuốt ve âu yếm, đôi mắt chú lại lim dim vẻ khoan khóai. Ai bảo con vật không biết yêu thương, không cần tình cảm ? Nếu chúng được sống gần gũi với con người, được nhận những tình cảm thân thiết, thì chúng thật sự như một đứa trẻ, chỉ không biết nói tiếng người mà thôi. Mỗi loài vật có một thứ ngôn ngữ riêng, nếu để ý, sẽ thấy chúng cũng có những tiết điệu, cường độ của âm sắc đủ đẻ biểu hiện cảm xúc của chúng.

Nhiều lúc ôm chú vào lòng, bà Ngân thầm ước một đứa cháu để bế bồng. Nhưng giục con gái thì lại nghe nó nói “ Ôi dào, lấy chồng sớm làm gì cho khổ hả mẹ ? Cứ chơi cho đã tuôi xuân đi rồi đeo gông cũng không muộn. Mẹ đừng lo con gái mẹ ế, đắt như tôm tươi đấy, chẳng qua là chưa chọn được người vừa ý thôi .” Bà cảnh báo “ Khéo già kén kẹn hom đấy con ạ !” Ngọc Diễm trả lời bà bằng một cái cười mũi. Bà cũng chẳng dám ép, vốn quen được nuông chiều từ bé, bà để mặc con gái làm theo y muốn. Hơn nữa, chuyện trăm năm không thể ép buộc, nhỡ nó không tìm được hạnh phúc nó lại oán. Ngọc Diễm lại là một cô gái có nhan sắc, bằng cấp, địa vị. Tốt nghiệp bưu chính viễn thông, may mắn được nhận ngay vào làm việc tại bưu điện tỉnh. Điều kiện giao tiếp càng rộng thì tiêu chuẩn chọn chồng càng cao. Bà thì chẳng cần gì tiêu chuẩn nọ kia, quan trọng là phải thực sự yêu thương nhau. Ở với nhau cả đời, không thực bụng với nhau, mai kia mốt nọ ốm đau già yếu, hết nhan sắc, danh vọng, địa vị thì bỏ nhau à ? Ôi mà bọn trẻ bây giờ thuộc lọai trí thức cả, có đâu như ông bà ngày xưa. Lấy nhau từ một vùng quê hẻo lánh, rồi đưa nhau ra thành phố, chen chân lấn bước, lăn lộn bao năm mới có được chút của ăn của để. Được cái, dù khổ đến đâu ông bà vẫn luôn bên nhau, hỗ trợ động viên nhau. Đúng là “ Thuận vợ thuân chồng , tát biển Đông cũng cạn” Giá ông đừng bỏ bà mà đi sớm thế thì tuổi già của bà cũng bớt cô quạnh.

Bà Ngân lại thở dài, đi ra đi vào trong căn nhà vắng mãi cũng chán nản, bà bỗng cảm thấy mệt mệt. Dạo này bà thường có những cơn mệt bất thường, có lẽ bệnh già do tuổi tác đấy thôi. Chú chó Pôli vẫn quẩn bên chân Khi bà lên giường, chú cũng nhảy tót lên, dụi vào lòng bà ấm ứ, giây lát thấy bà thiu thiu ngũ, chú cũng gối đầu lên tay bà đánh một giấc ngon lành. Chú tỉnh dậy khi nghe chuông đồng hồ gõ 7 tiếng. Chú không biết giờ giấc, nhưng chú biết bụng chú đang đói, nhà cửa lại tối thui như mực. Chú cào cào vào tay bà chủ, miệng kêu ư ử. Lâu, không tháy bà động đậy, chú cào mạnh hơn, tay áo bà đã rách nhưng bà vẫn bất động. Chú nhảy xuống giường chạy ra cửa vừa cào vừa sủa inh ỏi. Cánh cửa không bật ra vì chú không đủ sức đẩy, chú lại nhảy lên giường lè lưỡi liếm tới tấp trên mặt bà.

Dường như chú linh cảm được điều gì không ổn, khác với mọi ngày. Chú lại nhảy xuống chạy ra cửa bếp, ở đây có lối ra ngòai, vì khoang cửa mắt cáo bị gãy mất một thanh, vừa đủ chỗ cho thân hinh bé nhỏ của chú tọt qua. Đây là chỗ đêm đêm chú hay ra ngòai đi bậy. Ra đén ngòai đường, chú ngỏng cổ tru lên một hồi rồi cắm cổ chạy. Chú tìm đến những căn nhà mà ngày trước chú thường theo cô chủ đến chơi. Đứng bằng hai chân trước cổng nhà họ, chú lại tru lên. Không hiểu ý chú, những người trong nhà đánh đuổi chú. Chú lại chạy, một lúc lâu sau vừa đói vừa mệt, chú đi lõng thõng bên đường, dừng lại trước một vũng nước chú tợp vài ngụm. Chợt cú vểnh tai nghe ngóng, hình như có một thứ âm thanh quen quen từ xa vọng tới. Định được hướng, quen cả đói và mệt chú phóng nhanh về hướng đó, súyt va vào cả những chiếc xe qua đường.

Và chú đã đến nơi. Đó là vũ trường, cũng là nơi cô chủ đang có mặt. Chú xông qua cổng, nhanh đến nỗi anh bảo vệ không kịp nhìn thấy. Len qua những chân người, chú đến được nơi sàn nhảy, chú chợt rít lên mừng rỡ khi đánh được hơi của cô chủ. Ngọc Diễm đang say sưa theo điệu nhạc, đầu ngả lên vai người tình. Bỗng cô giật nảy mình, bước sai cả nhịp khi ống quần cô bị chú chó tinh khôn cắn giật. Nhìn xuống thấy chú Pôli, Ngọc Diễm tức giận quát :

_ Mày đến đây làm gì ?

Chú chó Pôli không bỏ chạy mà còn đứng lên bằng hai chân và tru lên một hồi dài. Cả sàn nhảy dừng lại, nhiều người tỏ vẻ khó chịu. Người tình của Diễm bực dọc:

_ Em lại đem chó theo đấy à ?

Ngọc Diễm cau có :

_ Em đem theo nó làm gì ? Nó đến với ai đó chứ, từ chiều đến giờ em đi với anh có nó đâu.

Tức giận, cô quay ra đá cho chú một cái, Pôli kêu ăng ẳng, nhưng trái với mọi lần, chú không bỏ chạy mà đứng lên bằng hai chân, hai tay chắp lại như vái lạy, miệng thi tru lên. Một người khách chăm chú nhìn rồi bảo :

_ Con chó này khôn đấy, chắc phải có sự gì, cô nên di theo nó xem sao ?

Lời nói của ông ta khiến Ngọc Diễm cũng nhận ra sự lạ ở Pôli, liền nói với nó :

_ Đi nào, có chuyện gì hả Pôli ?

Chú chó mừng rỡ khi thấy cô chủ đã hiểu ý, kêu lên mấy tiếng vui mừng rồi cong đuôi chạy trước. Chú về đến nhà trước cô chủ lại theo cửa bếp, chú chui vào nhảy lên giường bà chủ, vừa rít vừa cào như muốn báo tin. Ngọc Diễm về đến nhà, thấy ngôi nhà tối đen, vắng lặng, linh cảm có chuyện chẳng lành, cô tông cửa chạy vào và ôm mặt hét lên, khi thấy chú chó Pôli nằm ngang trên ngực mẹ mình, hai tay chú dang ra như muốn ôm lấy cổ bà, miệng vẫn rin rít như đang gọi…

Đàm Lan

Da diết nhớ bản hòa tấu của ngàn xanh


Mỗi ban mai Hà Nội, khi bình minh ngưng lại giây lát trên cầu Thê Húc, rồi dịu dàng lan tỏa sáng trong mỗi con đường, góc phố, tôi như tan hòa trong những tiếng chim lảnh lót chào ngày mới. Đây tiếng sơn ca như tiếng ngọc rơi từ chốn cao xanh, đánh thức những hạt mầm hy vọng trong mỗi người và những hạt mầm đang say giấc nồng trong đất, những mầm non mới nhú trên cành. Đây chú họa mi ngân rung những cung đàn say đắm, tấu lên khúc nhạc cháy bỏng khát vọng một cuộc sống tự do được sống, được yêu. Chú khiếu từ nhà bên trổ tài luyến láy những âm thanh muôn điệu của những giọng ca tài tử. Chú cu gáy vẫn trầm ngâm như một triết gia trong dòng hồi tưởng của một thời oai dũng, chí khí của đấng trượng phu quân tử lay động cả đất trời. Chú chích chòe hồn nhiên nhả những hợp âm trong vắt… trong lòng chợt dâng lên một cảm giác trong trẻo, lạc quan, yêu đời và khát vọng sống lạ kỳ. Vậy mà sao tôi vẫn bồn chồn, khắc khoải, day dứt với cảm giác như vẫn thiếu một cái gì rất đỗi thân thương, gắn bó; chẳng khác nào một mình xa quê giữa chốn phồn hoa, chợt da diết nhớ về quê hương yêu dấu, nơi có người mẹ hiền nắng mưa tần tảo, người cha nghiêm nghị nhưng độ lượng bao dung, người vợ dịu hiền thủy chung chờ đợi… và tiếng chim xanh ngắt giữa đại ngàn hòa cùng mây trời gió núi…

Tây Bắc gắn bó với tôi mấy chục năm trời: Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên… những con sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Chảy… những con suối Thia, suối Tiên, suối Mơ, Nậm Na, Nậm Rốm…chở đầy lịch sử và huyền thoại, lúc dịu dàng như áng mây đầu núi, lúc như chú ngựa bất kham tung vó chốn thảo nguyên. Những cánh rừng huyền bí miên man bất tận, hôi hổi một sức sống diệu kỳ. Những con đèo quanh co uốn lượn ù ù gió hú đầy những bất ngờ thích thú. Đây đó những ngôi nhà sàn ấm áp khói lam, thấp thoáng bóng ai dịu dàng sắc chàm, tay búp măng rừng gọi lúa lên xanh, gọi ngô mẩy hạt, giục bông hóa thân thành muôn sắc mầu thổ cẩm lung linh như bẩy sắc cầu vồng, hay nồng say trong vòng xòe rực lửa… và mỗi bình minh cao vút những tiếng chim xanh ngắt bản hòa tấu của nhạc sỹ thiên tài của thiên nhiên, ngân rung tinh tế, thánh thiện sự giao hòa của đất trời và tình người huyền diệu, say đắm đam mê đến nao lòng.

Cái kỳ thú đến ảo diệu của những tiếng chim rừng Tây Bắc chính là cái quyền lực và ma lực vô hình tưởng như bất tận, đem lại một nguồn năng lượng mới, giục giã thôi thúc vạn vật khát sống, khát tìm tòi khám phá vươn lên không bao giờ cạn. Khi vạn vật còn đắm mình trong giấc ngủ sương giá, chợt giật mình e không bắt kịp vòng xoay của tạo hóa, dẫu còn như ngái ngủ, thoáng giật mình rồi vươn vai cất lên bản hòa tấu của đại ngàn hòa cùng vòng quay minh triết của vũ trụ. Những tiếng chim rừng như mũi tên rời dây ná của một xạ thủ kỳ tài xuyên qua tĩnh lặng, đánh thức muôn loài. Muôn hạt mầm và những lá xanh non thoáng chút ngỡ ngàng xòe đôi mắt biếc, rì rào gọi nhau vươn cành xanh tán. Những hạt sương trong vắt, tinh khôi, bỗng hồng tươi, ngời lên roi rói như chuỗi vòng của tiên nữ mải vui trong khúc nghê thường, rơi xuống trần gian. Các bản mường còn chìm trong sương bỗng rộn vang tiếng nói, tiếng cười, tiếng các thiếu nữ gọi nhau ra suối lấy nước, chuẩn bị ra ruộng, lên nương. Tiếng chày cối nước thậm thình như nhịp trái tim của suối. Tiếng mõ trâu đàn lốc cốc ấm cúng. Tiếng chú gà trống gáy vang gọi mặt trời đầy quyền uy. Tiếng gà mái cục tác nhảy ổ. Tiếng mèo kêu nũng nịu. Tiếng chó sủa thân thuộc…

Trên cái nền tráng lệ của ngàn xanh cùng mây trời gió núi và nhịp sống sớm mai ấy, vút lên những tiếng chim đầy sinh lực, với những giai điệu hào hoa, tuyệt vời đầy chất ngẫu hứng được bàn tay tài tình của vị thần âm nhạc vô hình điều khiển. Mỗi giọng ca đều là tuyệt tác của tạo hóa, hài hòa cộng hưởng, thăng hoa đến tuyệt đỉnh trong dàn đại hợp xướng. Tiếng trầm như tiếng sấm mùa xuân. Tiếng thanh như gió reo, lá hát, như tiếng khèn xuân cất cao những cung bậc bất tận của tình yêu. Có âm thanh du dương, khoan thai nhẹ nhàng như cánh bướm dập dờn trong vũ điệu giao duyên, lúc réo rắt sang trọng kiêu kỳ, nhưng thầm kín cao sang. Có tiếng thì thầm như dòng nước mang trong mình bao tâm sự, như lời của đôi bạn tri âm tri kỷ. Lúc ríu ran như bầy trẻ nhỏ vô tư, hồn nhiên trong khúc đồng dao trong sáng. Khi rộn ràng hùng tráng như tiếng kèn xung trận, trầm hùng như nhịp cồng chiêng ngày hội, như những bước xòe nồng say gọi lúa lên xanh, ủ hồng bếp lửa mùa hạnh phúc. Lúc thổn thức, day dứt như nỗi nhớ người thương khi gió lạnh về. Khi như lời duyên e ấp của đôi người yêu nhau hẹn ngày xây tổ; có lúc như khẩn cầu chân thành, đắm đuối, khi hân hoan niềm hạnh phúc ngập tràn. Có lúc ấm áp như nắng xuân hồng gọi cây đời xanh mãi. Có khi chợt lặng đi như lắng chút suy tư trải nghiệm, bi tráng, rồi chợt vút cao lảnh lót tiếng vĩ cầm réo rắt ngân một khát vọng xanh. Lúc mong manh tơ mảnh, như một lời nhắc nhở phải biết trân trọng nâng niu những gì đã có… Có lúc cả dàn nhạc say mê hùng tráng trong khúc cao trào, lúc tất cả lặng đi nhường cho giọng ca tuyệt vời của giọng opera lĩnh xướng. Bầy chim thi nhau trổ tuyệt kỹ trước bình minh, kể cho nhau bao câu chuyện buồn vui của những tháng ngày trong hành trình nhân thế, trao nhau muôn lời yêu.

Trong tiếng chim rừng Tây Bắc như có ánh ban mai tràn ngập núi rừng, sáng trên ngọn cỏ biếc, ngời trên sóng bạc, nâng áng mây hồng e ấp đầu non. Có ngọn gió thơm trên áng tóc mây như làn rêu suối. Có những tà áo chàm thấp thoáng, nếp váy thổ cẩm đong đưa, mặn mòi thương nhớ. Có bóng ô hồng tinh nghịch nghiêng chao. Có tiếng đàn môi, kèn lá thầm thì tình tứ. Có nụ cười hàm tiếu hoa ban. Có dáng mẹ áo bạc mầu yêu thương trăn trở. Ăm ắp ánh vàng ruộng bậc thang dập rờn sóng nhạc mùa no ấm. Có tiếng gió reo vi vút đầu non. Có tiếng róc rách của những dòng suối hát. Có tiếng thác đổ ầm vang… Tất cả hòa quyện vào nhau, hài hòa cộng sinh trong sự sinh tồn và phát triển của tạo hóa.

Đã bao lần được thả hồn trong tiếng chim rừng tuyệt diệu của ngàn xanh Tây Bắc, vậy mà lần nào tôi cũng tràn ngập một cảm giác lạ lẫm, nguyên sơ; chẳng khác nào tuổi hoa niên, một sáng mùa xuân, chợt nhận ra trong ánh mắt trong veo của cô bạn gái tóc đuôi gà những tia sáng bồi hồi, lạ lẫm, như một dòng điện nhẹ lan tới từng tế bào cơ thể, thắp lên ngọn lửa tình yêu trinh trắng đầu đời. Tiếng chim như nối đất với trời, như sợi tơ hồng se bao duyên thắm, đánh thức vạn vật, đơm hoa kết trái dưới ánh mặt trời.

Ôi! Có bản nhạc nào tài hoa, diệu kỳ, bất tử đến say lòng như thế! Tiếng chim như những giai điệu thần tiên, đánh thức những hạt mầm tốt đẹp trong ta, để rồi ta chợt nhận ra: Cuộc sống vốn tươi đẹp biết nhường nào, chỉ có điều ta có biết trân trọng nâng niu và phấn đấu vì một ngày mai tươi sáng hơn hay không? Tiếng chim như hòa vào máu thịt, làm ta thêm quí trọng sự hiện hữu của chính ta trên đời, để rồi trong buổi sáng tinh sương này, ta nhủ thầm một câu hỏi lớn: Ta đang sống hay ta chỉ tồn tại như chiếc bóng lờ mờ?

Trần Vân Hạc
Hà Nội