Tag Archives: Văn

Khoảnh Khắc

Đêm mất ngủ. Cô không nghĩ mình lại có được điều xa xỉ ấy ở tuổi ngoài ba mươi. Cái tuổi “đã toan về già”. Vẫn trằn trọc. Thương con tim nhỏ bé lại loạn nhịp mất thăng bằng.
Cứ ngỡ rằng tim đã chai sạn giữa thành phố ầm ầm tiếng xe máy và tiếng người này. Cứ ngỡ rằng chuyện mất thăng bằng chỉ là ảo tưởng khi suốt ngày chỉ nghe chuyện giá đất lên, chuyện kiếm kiểu gì và ở đâu được bao nhiêu vé. Cứ ngỡ rằng chẳng còn chỗ cho những phút bay bổng đắm chìm trong suy tư với tiếng nhạc ở thời đại mà điện thoại di động réo liên hồi, làm quen hay hẹn hò chỉ bằng chat trên mạng.

Vậy mà tối nay…

Cuộc hội ngộ sau mười năm của đám bạn hồi sinh viên không thể kết thúc trong phạm vi một nhà hàng. Cả lũ kéo nhau đi nghe nhạc. Cô đã từ chối được cảm nhận sự hiện đại của cuộc sống đêm ở thành phố tại quán với cái tên rất thơ mộng “Cà phê Xanh” khi vừa bước chân vào. Lại ồn ã, lại nhịp điệu quay vòng chóng mặt để vẫn cảm thấy thiếu cái điều chỉ còn ở tên của quán. Cô là người ở xa về nên lũ bạn chiều cô. “Chọn quán nào nhẹ nhàng hơn đi!”- Cô đề nghị nhưng hoàn toàn không hy vọng sẽ đạt được cái cô tìm kiếm. Thành phố cô yêu, thành phố thơ mộng trong tâm tưởng của cô đã khoác lên mình một bộ cánh thời trang nhất để nó chẳng thua kém gì các thành phố khác nhưng cũng na ná như tất cả. Những nơi không ồn ào, ầm ỹ thì cũng được hiện đại hoá sự “êm dịu” khiến cô không dám bước vào sau vài bài học kinh nghiệm. Thôi phó mặc cho lũ bạn.

Cái tên “Cây cọ” không nói gì nhiều đối với cô về nơi cậu bạn chọn. Khi ngồi xuống cạnh bàn ở góc cô bỗng thấy ngát lên mùi hương quen thuộc. Mùi hương đã đượm trong cô lâu, lâu lắm rồi- một nhành ngọc lan trong chiếc lọ nhỏ trên bàn. Cô chợt hiểu điều cô cảm thấy thiếu mỗi đêm trong những ngày qua. Nơi cây ngọc lan ở vườn nhà hàng xóm bây giờ đã là ngôi nhà ba tầng chót vót. Cô nhớ thời cô học thi ở phổ thông. Để “thay đổi không khí” buổi tối cô hay mang bài lên sân thượng là mái bằng của bếp. Lúc đã chán xoay vần với tam giác hay ngũ giác cô với tay tắt chiếc đèn tù mù, nằm xuống nền xi măng mát lạnh ngửa mắt nhìn bầu trời chi chít những vì sao. Bao bọc lấy cô là mùi hương nhè nhẹ, ngan ngát toả ra từ cây ngọc lan nhà hàng xóm. Cô hít sâu vào như muốn hương thơm ấy thấm vào từng tế bào của cơ thể mình…

    “Chiều dần buông mầu tím
    Vẳng bên sông lời hát êm đềm
    Hoà với tiếng tầu đêm
    Chập chờn trôi về xa phía chân trời…”


Tiếng hát trầm ấm vang lên bên chiếc đàn dương cầm đưa mùi ngọc lan của cô đến với cánh rừng bạch dương nước Nga. Những thân cây trắng đuổi bắt với những tia nắng chiều nhiều khi làm cô bối rối, đâu là thân cây, đâu là tia nắng. Cả lũ bạn cũng im lặng. Tiếng cậu bạn khe khẽ: “Như là dành riêng cho hội bọn mình ấy nhỉ!“. Phải rồi, cái hội sinh viên bao lần thi nhau chạy trên đồng cỏ xanh rờn xuống tận bờ sông. Rồi cùng nhau đi hái hoa đồng nội để tết thành vòng hoa đội đầu. Rồi giấu để bọn bạn không biết khi đếm những cánh hoa cúc “yêu, không yêu“. Rồi lâng lâng nuối tiếc theo tiếng gió khua lá vàng xào xạc dưới chân trong rừng phong mỗi mùa thu đến.

Cô khẽ nhấp cốc cà phê. Đăng đắng, ngòn ngọt toả nơi đầu môi.

    “Em vẫn từng đợi anh
    Trên những chặng đường quen
    Tiếng hát ai xao động
    Thoáng mùi hương êm đềm…“

Mọi lời nói đều trở thành thừa thãi. Mắt cậu bạn xa xăm. Một nét cười chạy qua trên môi đứa khác. Mùi hoa sữa dưới ngọn đèn đường le lói tràn về trong khoảnh khắc.

Khoảnh khắc ấy làm đêm nay cô mất ngủ. Khoảnh khắc với hoa ngọc lan của tuổi thơ, đồng cỏ xanh tuổi sinh viên, hương hoa sữa và những lời hẹn hò. Khoảnh khắc ấy cô tìm lại được thành phố của mình. Khoảnh khắc làm cô yêu hơn thành phố của mình, cho dù nó khoác bộ cánh mới. Phải chăng cuộc đời cũng từ những khoảnh khắc, tình yêu cũng là những khoảnh khắc.

Phan Bích Thiện

Hạt cơm thiu

Thấy bé Thảo quẹt xoành xoạc cái thìa vào lòng bát một cách tuế toá, làm những hạt cơm văng ra tung toé, tôi nhăn mặt :

– Con nhặt từng hạt cơm lên cho ba.

Vốn được cưng chìu, bé Thảo phụng phịu :

– Có mấy hạt rơi mà ba cũng bát con nhặt, để lát mẹ quét nhà là
sạch thôi mà.
– Không được, phải nhặt lên. Thảo. Con có nghe lời ba không ?

Thấy tôi nghiêm giọng, nghiêm mặt, cô con gái không dám tủng hủng nữa, ngồi xuống nhặt từng hạt cơm. Vợ tôi vẻ không vui :

– Anh sao thế ? Bắt ne bắt nét con bé.
– Phải tập cho nó biết quý từng hạt gạo chứ. Dạy con phải dạy từ
những nhỏ nhặt nhất, đừng có phiên phiến quá sau rồi hỏng. Có phải ăn những hạt cơm thiu mới biết bát cơm ngon lành nó quý giá đến thế nào.

Bé Thảo nhảu giọng :

– Cơm thiu thì ai mà ăn hả ba ?
– Có đấy con ạ. Không phải chỉ một lần, mà bã đã phải ăn đến ba lần rồi đấy.

Câu nói được gìm lại trong cổ họng đúng lúc. Nhắc đến điều này là trong lồng ngực tôi lại nhói lên. Bởi mỗi lần phải ăn những hạt cơm thiu ấy, là một lần ghi khắc một dấu ấn không thể quên trong đời tôi.

Lần thứ nhất, cũng là lần đau đớn nhất. Ấy là thời điểm trọng đại của đất nước. Ký ức tôi không ghi nhớ được gì nhiều hình ảnh của những ngày đùng đoàng bom đạn, lúc ấy tôi mới khoảng 6,7 tuổi. Chỉ nhớ rõ nhất, có một bữa cơm dở dang, mà mỗi người trong gia đình tôi phải bê theo bát chạy xuống hầm khi có tiếng máy bay ì ì vọng tới. Tôi chậm chân hơn mọi người vì còn quay lại gắp thêm một miếng thịt. Và chỉ bằng một khoảnh khắc gián đoạn ấy đã chia cắt tôi và gia đình bằng một tiếng nổ chát chúa và tôi không còn biết gì nữa. Không biết tôi đã ngất đi trong bao lâu, chỉ mang máng nhớ, khi tỉnh dậy, tôi kinh hoàng bởi bao gạch đá lấp gần hét thân mình, muốn khóc gọi ba mẹ nhưng cũng không còn đủ sức. Bản năng sinh tồn đã cố dẩy tôi nhoai dần ra khỏi đống gạch. Trời tối sẫm, lạnh và đói, tôi quờ quạng sao đụng phải chiếc bát, trong ấy còn sót vài hạt cơm. Hẳn nó đã bị văng cùng tôi, cố nhét những hạt cơm ấy vào miệng, vị chua lờm lợm làm tôi muốn ụa ra. Nhưng cái đói đã thắng, Sau đó tôi lại thiếp đi dưới một mảnh tôn. Rồi tôi được cứu bởi những người hàng xóm. Họ thật ngạc nhiên khi thấy một đứa trẻ lại có thể sống sót sau sự chấn động thư thế. Khi ấy, tôi mới biết, trên đời không còn ai là người thân của tôi. Vào tuổi ấy, tôi đâu đã đủ cảm nhận nỗi bất hạnh ấy lớn đến thế nào, chỉ biết oà lên khóc, khóc vì sợ thì đúng hơn.

Đã không rơi vào cái chết nghĩa là phải đối mặt với sự sống. Bằng sự cưu mang của bà con lối xóm, tôi nhích dần qua thời gian. Nhưng họ cũng chẳng cưu mang mãi được, khi chính bản thân họ cũng đang rất khốn khó, thế là tôi thành một đứa trẻ lang thang. Sức vóc chẳng được là mấy, nên tôi nhập bọn cùng một lũ cũng tương đương, khi thì xin ăn, khi thì quanh quẩn ở những nơi hàng quán, chực những người khách đứng lên là xô tới húp vét cặn thừa. Một hôm, dó cơn sốt trong đêm trước, tôi chẳng tranh nổi, cứ bị gạt ngã văng ra, người lớn chả ai buồn để ý, họ còn mải xua đuổi lũ ruồi nhặng chúng tôi. Tôi mệt quá, lê vào một góc chợ thỉu đi. Đêm đến, khi cơn sốt dài đã dứt, bụng đói cồn cào, nước dãi tứa ra, tay chân lẩy bẩy, tôi quáng quàng đi tìm cái ăn. May mà các chú bảo vệ không chú ý, nên tôi lọt lại trong khu chợ đã đóng cổng. Lần mò mãi, tôi đụng phải một cái bọc lylon, Vội và mở ra, trong đó là một nắm cơm đã bốc mùi mốc nặng, tôi cuống quýt phủi lớp men màu gạch của “vị cứu tinh”, rồi cho vào mồm trệu trạo nuốt. Đó là lần thứ hai tôi phải ăn những hạt cơm thiu. Sau này, mỗi lúc nhớ lại, không hiểu sao cơ thể có những lúc lại chấp nhận được những loại khuẩn trùng kinh khủng thế ? Quả là một điều khó hiểu của thuyết tự nhiên. Biết bao người, nhà cao cửa rộng, ăn ngon ngủ ấm, được tẩm bổ chăm sóc đầy đủ, thì lại cứ hay bệnh nọ tật kia. Còn lũ mái hiên lòng phố dãi dầu chúng tôi thì cứ lùi lũi mà đi qua, có chút ốm đau nào thì tự khắc khỏi, ăn còn chưa có, nói gì đến thuốc. Tóm lại một câu là “Trời để sống” vậy.

Lớn hơn tí chút, đã có thể kiếm sống bằng một vài công việc, không dư dả gì, chỉ đắp đổi qua ngày được đã là tốt. Lần hồi tôi cũng trở thành một thanh niên cứng cáp. Thế rồi, sau một cái vỗ vai, tôi đi theo một loại hình công việc, mà hiệu quả của nó phần nhiều phụ thuộc vào cái gọi là vận may. Câu thành ngữ “Ngậm ngải tìm trầm” có lẽ cũng chưa đủ để diễn tả hết những nỗi nguy nan nhọc nhằn của công việc này. Nhưng sức hút về giá trị của sản phẩm thì đủ át hết những lo sợ, ngại ngần. Chỉ cần từ hai đến ba lần gặp may, thì sản nghiệp trong tay cũng gọi là đủ để đổi đời. Chính vì vậy mà những ai dấn thân vào công việc này sẵn sàng mặc lòng đánh đổi, có khi là cả tính mạng.

Cuộc sống vốn là một chuỗi lòng vòng ân oán, may rủi, được mất. Và rất nhiều khi chỉ vì một giá trị vật chất tầm thường, mà con người ta dễ dàng ra tay loại bỏ nhau. Không có con đường dẫn đến thành công nào mà không đày rẫy những gian truân, nguy ngại. Một trong số ấy lại có thể đến từ bạn đồng hành. Hạnh phúc và bất hạnh đôi khi chỉ cách nhau một tích tắc. Tiếng reo hò mừng rỡ chưa kịp tròn mồm, thì tôi bỗng có cảm giác đau điếng phía sau đầu, và loạng choạng gục xuống.

Một lần nữa, số phận tôi lại tìm đến câu “Trời để sống”.

Cho dù khi tôi có lại được nhận thức thì xung quanh tối đen và cảm giác mình đang ở trên một vùng ẩm ướt. Định thần một lúc, tôi nhớ ra mọi chuyện và hiểu mình đang ở trong một tình cảnh như thế nào. Việc cần thiết trước nhất là rà soát lại những cơ năng của cơ thể. Chân tay cử động bình thường, trong người cũng không có triệu chứng gì khó chịu, chỉ có phía sau đầu vẫn còn đau nhức. Rất may là cú đập không đủ mạnh nên chi gây choáng ngất. Tôi có gắng lần mò leo lên cây dó, cũng là cái cây mà lúc ban ngày tôi tìm thấy ổ trầm. Leo lên được một chạc cây khá vững, tôi tựa người thở dốc. Dù không muốn, nước mắt tôi vẫn lặng lẽ rơi. Còn bao chua chát, cay đắng mà cuộc đời này còn dành tặng cho tôi nữa. Và để tồn tại được một kiếp người, tôi sẽ còn phải trả giá những gì nữa đây ? Một đêm chập chờn thức ngủ, chập chờn mộng thực, chập chờn sống chết. Ngày tiếp đến, tôi bị lạc trong rừng, và lần thứ ba trong dời, những hạt cơm thiu lại bám lấy tôi. Dù đã nhớt nhợt, nhưng dù sao có chất gạo vẫn tốt hơn lá rừng. Nuốt những hạt cơm tủi cực ấy, tôi thấy thương mình quá. Vì đâu nên nỗi ? Lầm lũi giữa cây lá, chim muông, giữa lặng thinh không có bóng người, tiếng người, tôi chợt nghĩ, thôi thì ở lại với rừng, rừng nuôi thì sống, rừng không nuôi thì chết vậy. Tôi có vùi thân nơi đây thì cũng không để khổ để nợ cho ai mà. Thế giới con người đã khuất xa, chắc sẽ chẳng còn ngọn roi gió bão nào nữa. Ấy thế nhưng đâu phải cứ muốn là được, dù cho điều ước muốn ấy có sơ giản đến đâu. Một người dân tộc thiểu số đi đào măng đã đưa tôi trở lại thế giới người.

Ít lâu sau, mọi người thấy ở một góc phố, nhỏ nhoi một ít vật dụng sửa vá xe, một thanh niên bước vào tuổi tam thập, ít nói, cần mẫn với công việc. Ai biết đâu chính sự cần mẫn ít nói ấy đã dúi vào tay tôi một bàn tay mềm mại. Lòng trời vẫn rộng, lòng đời vẫn mở, lòng người vẫn vui. Ừ thì việc đến cứ đến, con nhận được thì cứ nhận, còn yêu được thì cứ yêu, cuộc sống vẫn còn những điều cho ta đáng trân trọng.

Có vợ rồi có con, cuộc sống tất bật với bao điều tươi mới, tôi chẳng còn có dịp giở lại những trang đời rách tướp ấy. Nếu không có việc răn dạy bé Thảo hôm nay, thì tôi đã như quên hẳn những năm tháng xót xa của mình. Nhưng nhớ cũng chỉ để nhấm nháp riêng mình thôi, chẳng bao giờ tôi kể những chuyện ấy cho vợ con nghe. Để làm gì ? Vì sự thương cảm hay mặc cảm cũng đều là không tốt. Dẫu sao thì tất cả cũng đã qua rồi. Con người chỉ có một đường tiến lên phía trước, có ngoái lại chăng cũng chỉ là một chút vọng âm. Để biết đôi chân mình đà từng có lúc…Thế thôi.

ĐÀM LAN

Cuộc điện thoại bất ngờ

Trời ẩm rình. Những quầng mây màu xám bạc vẫn chen nhau rủ lưng chừng trong không gian, rõ ràng là chúng chưa hề có ý định tản đi nơi khác, ít nhất là trong khoảng 24 giờ tới, mặc dù chúng đã làm những vị khách không mời từ sẫm chiều hôm trước. Thời tiết thường có một tác động nhất định đến tâm trạng, trong hoàn cảnh này thì sự hăng hái, hưng phấn, sôi nổi và đầy hứng thú là điều rất khó.Và cho dù không có điều gì đáng để buồn bã, sầu muộn, thì ít nhất tâm trạng người ta có có một chút gì chùng xuống, bâng khuâng và man mác, có thể hoài niệm một cái gì đó cụ thể, nhưng cũng có thể vì một mơ hồ, thoang thoảng không dễ gọi tên. Lại là khi người ta chỉ ngồi một mình, không gian tịch lặng, trong cái lạnh buôn buốt, trong âm thanh rào rạo, rào rạo của những vạt mưa đáo qua. Nếu là một cơn giông hay một cơn mưa rào to thì lại là khác, trạng thái tiếp nhận, đối phó rất rõ ràng và hạn định trong một quãng thời gian ngắn. Nhưng đàng này, cái ảm đạm kéo dài của tiết trời, kéo theo trạng thái cũng ủ ê kéo dài của hồn người. Chợi nghĩ đến muốn tỉ tê với một ai đó. Tình cảnh không mấy màu sắc này lại vô cùng thích hợp cho sự lan man chuyện trò, cho những nguồn cơn nỗi lòng được gợi mở và tuôn trào.

Nhưng vấn đề là ở chỗ đối tượng cho cuộc trò chuyện ấy là ai ? Bởi thông thường không phải người ta luôn dễ dàng thổ lộ những tâm tư mình với một người bất kỳ. Mà phải là một người có cùng một nhịp độ giao cảm, có cùng một trạng thái tâm lý, và phải là người đã biết về nhau, hiểu về nhau khá nhiều rồi cơ. Cho dù khi tâm sự thường là chỉ đem chuyện mình ra kể, nhưng ít nhất phải nhận được một tinh thần quan tâm và chia sẻ từ người được nghe, nếu không, rõ ràng chỉ rơi vào một tình thế không hay ho gì.

Trong thời tiết này, nếu phải bước chân ra đường thì chỉ có thể với một lý do bất khả kháng nào đó, còn lại thì là một sự vô lý, thậm chí còn gọi là điên điên, man man gì đó cũng không sai. Cho nên cách tốt nhất là vận dụng (hay tận dụng, lạm dụng đều đúng cả) một thứ phương tiện mà từ nền khoa học phát triển của thế giới đã xúất hiện trong đời sống con người từ rất lâu rồi. Cái thứ phương tiện đã đem lại rất nhiều tiện ích, Mà có nó người ta đã giảm được rất nhiều thời gian và những chi phí khác. Thứ phương tiện này được cài đặt một loại thanh âm rộn rã, mỗi khi nó cất lên cứ như là một tiếng gọi reo vui nào đó, luôn thúc giục người ta phải mau bước tới. Khoa học càng phát triển thì thanh âm của nó càng đa dạng, càng đem đến cho con người rất nhiều sự lựa chọn, qua đó người ta có được cảm giác thích thú hoặc dễ chịu biết bao. Nó nối liền và thu ngắn mọi khoảng cách, những con số đo độ dài địa lý không còn là một sự bận tâm. Quả là trí thông minh của loài người là điều tuyết bích nhất của thế gian. Có thế con người mới có thể chinh phục và thống trị muôn loài được chứ.

Trở lại với vấn đề chính, có nghĩa là tôi đang có một nhu cầu, một nhu cầu rất lớn, rất cụ thể, rất hiện hữu, là được trò chuyện cùng ai đó, một cuộc trò chuyện có thể là rất nhiều đề tài, tuỳ vào sự ngẫu hứng của cả hai. Và trước mặt tôi là chiếc điện thoại, thứ vật dụng có tính năng tuyệt vời mà tôi đã đề cập đến kia. Và cái thú chuyện vãn qua điện thoại không chỉ là sở thích của một con số khiêm tốn, mà có lẽ nó luôn tiềm ẩn trong mỗi người. Đôi khi người ta phải hết sức và có nhiều biện pháp để hạn chế nó, nều không thì tình trạng ùn tắc sẽ không chỉ xảy ra ở những giao lộ vào giờ tan tầm, kèm theo là những tổn thất khó lường.

Và đây ,cái ống nghe đang chờ tay tôi nhắc, những con số nhẫn nại đang chờ ngón tay tôi lướt qua. Bộ nhớ của tôi đang hoạt động tích cực, nó điểm qua một loạt những guơng mặt, không chỉ là gương mặt, mà bao gồm cả những tính cách và mức độ của những mối quan hệ nữa, thân có, sơ có, gần có, xa có. Để chọn được một trong hàng dãy thật chẵng dễ chút nào. Trong khi tôi còn chưa giải quyết được sự gút mắc trong mình, thì bất thần, một tràng thanh âm rộn rã dội vào tai tôi, khiến tôi giật thót người, vì sự đột ngột và cũng vì một niềm vui chợt vỡ, cái giải pháp tôi không hề tính tới đã hiện ra đúng lúc. Tiếng chuông thứ hai vừa dứt, cái ống nghe được áp vào tai, một tiếng Alo kèm theo chút mong chờ rằng từ đầu dây bên kia sẽ là một âm sắc quen thuộc nào đó, hay nhất là một trong số vài gương mặt mà tôi vừa điểm qua, như thế cũng có nghĩa là một tần sóng được thu và phát đúng lúc.

_ Xin chào.

Một giọng nam trầm nhè nhẹ, tôi chưa kịp nhận ra là lạ hay quen, đáp lại câu chào với thái độ thăm dò :

_ Vâng, chào anh.
_ Vâng, chào cô, may quá …

Tôi ngạc nhiên, giọng nói lạ, tôi khẳng định là thế, vì thính giác tôi có độ thẩm âm khá nhạy, nhất là những giọng nói, đúng là chất giọng này tôi chưa nghe bao giờ, sao anh ta lại bảo là may ? Sự nghi vấn tuột khỏi môi tôi:

_ May ? Vì sao ạ ?

Phía bên kia như có một tiếng cười nhẹ.

_ Tôi nói may là vì tôi đã được gặp một giọng nữ.

Cái gì ? Tôi càng ngẩn ngơ hơn với câu nói khó hiểu phía bên kia. Chắc là một sự nhầm lẫn nào đây.

_ Có lẽ anh nhầm số một cơ quan nào đấy phải không ạ ?

Lại một tiếng cười nhẹ.

_ Vậy đó là nhà riêng ạ ?
_ Vâng, nhà riêng. Anh muốn tìm ai ạ ?
_ Tôi …tôi không tìm ai cả.
_ Ư…
_ Xin lỗi, tôi không làm phiền cô chứ ?

Tôi đã hơi bực mình, nhưng vẫn nhẹ giọng vì chưa biết mục đích của người đang đối thoại là gì.

_ Làm phiền thì không, nhưng hình như tôi chưa có hân hạnh được quen biết anh thì phải.
_ Chưa quen thì bây giờ quen cũng được mà, tôi cũng vậy thôi.

Thế này là thế nào nhỉ, chả lẽ bỏ máy ngang thì bất lịch sự quá. Mất cả hứng thú, tưởng đâu…Dường như đoán biết tôi đang nghĩ gì, đầu dây lại cất tiếng :

_ Xin cô đừng vội bỏ máy. Thế này cô ạ. Chắc cô cũng thấy thời tiết đang rất xấu phải không ?

Một chút gì đó động đậy, để xem.

_ Vâng , điều hiển nhiên đó đang có mặt khắp nơi.
_ Tôi đang ngồi một mình trong một căn phòng rộng, rất buồn khi nhìn trời mưa gió và ảm đạm thế này. Tôi bỗng muốn trò chuyện cùng ai đó (à , giống mình) và tôi chợt nảy ra một ý nghĩ, biết đâu tôi sẽ tìm được một người bạn mới trong một ngày mặt trời không ngự trị trên thế gian này (ái chà, nghe có vẻ văn chương gớm nhỉ). Và thế là tôi bấm một hàng số ngẫu nhiên.
_ Tôi hiểu rồi. Nhưng sao anh lại cho là may khi gặp một giọng nữ?
_ Vâng, rất may nữa là khác. Đã là giọng nữ, lại còn có vẻ chấp nhận một cuộc điện thoại đường đột thế này, nếu như tôi gặp một giọng của anh bạn nào đó chắc cũng chẳng sao, câu chuyện sẽ đi theo chiều hướng khác, còn nếu là giọng một người già hay một chú nhóc, thì chắc tôi sẽ lại thử vận may của mình vào một lúc khác rồi.

Tôi đã cảm thấy có gì lôi cuốn trong trò chơi này rồi đây. Ý tưởng của anh ta không tệ đấy chứ. Ít ra cũng có một cái gì đó khá mới mẻ. Thì cứ tiếp tục xem sao.

_ Cứ cho đúng là anh gặp may đi, nhưng không biết tôi đang gặp vận gì đây?
_ Hy vọng là không tệ lắm và nếu không muốn tiếp tục, cô có quyền từ chối, tôi sẽ xin lỗi và rút lui có trật tự.

Trong đừơng dây rộ lên tiếng cười từ cả hai đầu. Không khí đã khác đi nhiều.

_ Bây giờ có lẽ chúng ta đã có thể trò chuyện một cách tự nhiên thoải mái rồi chứ nhỉ.
_ Còn phải xem các tình tíết diễn biến thế nào đã chứ ạ.
_ Ồ , tất nhiên, này cô bạn thân mến, nếu không có gì là quá đáng , cho tôi xin môt cái tên cho dễ trao đổi đuợc không ạ ?
_ Tôi nghĩ nãy giờ chưa cần đến một cái tên, chúng ta vẫn trao đổi thuận tiện đó thôi. Vả lại, có lẽ còn quá sớm cho một trích lục đấy ạ.
Một tràng cười như một sự chấp nhận bất đắc dĩ.
_ Hình như tôi đang gặp một đối thủ nặng ký thì phải.
_ Đó là ý nghĩ của riêng anh thôi, và anh đã cảm thấy ân hận vì sự ngẫu hứng của mình chưa ?
_ Chưa. Mà đúng hơn là không bao giờ.
_ Anh có từng nghĩ tự tin rất gần với chủ quan không ?
_ Có thể, nhưng trong trường hợp này thì không ? Nghe cô nói chuyện, tôi có cảm giác cô là một típ phụ nữ thuộc về xã hội. Chắc cô cũng đang công tác trong một công sở nào đấy phải không ạ ?
_ Kế hoạch thăm dò đối thủ của anh thất bại rồi, anh cho rằng phụ nữ có chút cá tính và hiểu biết nhất thiết phải là người trong công sở sao ?
_ Không, không hẳn thế, nhưng ít ra đó cũng là một môi trường thích hợp.Tuy cũng có rất nhiều loại công việc độc lập, nhưng môi trường hoạt động và tiếp xúc rộng thì vẫn có thể cho đó là mảng xã hội được chứ.
_ Đồng ý. (Anh chàng này cũng có vẻ trình độ đây)
Một khoảng lặng cần thiết, tôi mỉm cười, cũng hay, có vẻ một người bạn mới là điều hẳn nhiên rồi vậy. Đúng là cầu được ước thấy, không biết lúc nãy tôi suy tư vào giờ gì mà linh thế nhỉ ?
_ Cô có tin vào chữ “duyên” không ?….ý tôi nói chữ “duyên” trong đạo Phật ấy, chữ “ duyên “ theo nghĩa rộng đó mà.
_ Tôi hiểu, tôi hiểu, tôi tin chứ. Tất cả mọi thứ trên đời này, kể cả người lẫn vật, có gặp được nhau hay không cũng là nhờ vào chữ “duyên” ấy đấy.
_ Đúng vậy, tôi cũng rất tin vào điều đó, và cuộc nói chuyện của chúng ta hôm nay là một minh chứng rõ rệt phải không ?
_ Có lẽ thế.
_ Không phải là “có lẽ », mà chắc chắn là thế.
Tôi cười, thừa nhận.
_ À mà tôi có làm gián đoạn công việc gì của cô không đấy ?
_ Ồ không, trước lúc chuông reo tôi cũng đang nhìn trời thôi mà.
_ May quá, như vậy rõ ràng hôm nay là một ngày tốt với tôi.
_ Người ta thường mong những điều suôn sẻ, tốt đẹp vào một ngày đẹp trời nhưng với một ngày hôm nay cũng không thể gọi là xấu, anh nhỉ ?
_ Vâng, thực ra tốt hay xấu là tuỳ thuộc vào suy nghĩ, quan niệm và hành động của mình cả thôi cô ạ. Nếu với một ý nghĩ u ám, một hành động đen tối, một quan niệm bạc nhược, thì dù cho trời có nắng ráo, sáng sủa, đẹp đẽ đến đâu cũng không có tác dụng gì hết.
_ Nghe anh nói, tôi cảm giác anh là một nhà văn.
_ Không không, tôi không có cái duyên may ấy đâu, nhưng tôi cũng rất thích đọc sách. Có lẽ nhờ thế mà không đến nỗi để cô chán chuyện của tôi chăng .?
_ Này, anh tự tin hay tự phụ đấy ?
Một tiếng cười nho nhỏ, tôi tiếp :
_ Tôi cũng rất thích đọc sách, đó là một thế giới muôn màu, một đại dương bao la mà có bơi hết một đời cũng không đến được bờ bên kia.
_ Rất đúng, có điều sách ban giá cao quá, nên không thể thường xuyên ghé hiệu sách được.
_ Anh thử đến Thư viện tỉnh xem.
_ A, một ý kiến hay đấy, cảm ơn cô rất nhiều.
_ Không có gì.
Lại vài giây cho sự im lặng, nếu tiếp tục không biết câu chuyện còn dẫn đến bao nhiêu đề tài khác nữa nhỉ ? Một chút nữ tính nhắc nhở, lần đầu tiên nói chuyện với một người hoàn toàn xa lạ với một thái độ thiếu cẩn trọng chắc chắn không phải là sự khôn ngoan rồi, nếu để câu chuyện dẫn dắt đi xa đến mức khó kiểm soát thì kể ra cũng hơi mạo hiểm, mặc dù tôi không phải là người quá kỹ tính, nhưng sự chùng mực chắc không thừa. Và nếu muốn thì đây đâu phải là lần chuyện trò duy nhất. Suy nghĩ phát ra hành dộng.
_ Chắc là chúng ta nên tạm dừng câu chuyện ở đây chứ nhỉ ?
Có vẻ đề nghị đột ngột của tôi làm cho anh bạn bên kia bị hẫng.
_ Dừng á? Cô có việc bận sao ?
_ Không hẳn thế, nhưng hình như đã quá nhiều cho một buổi sơ giao rồi đấy.
_ Tôi thấy như là còn quá ít.
_ Không nên ăn quá nhiều một lúc, ta sẽ thấy mất thú vị đi, biết để dành và biết chờ đợi cũng là một cái thú đấy anh ạ.
_ Thế thì xin vâng lời cô vậy. Tôi có thể gọi lại vào một lúc khác chứ ?
_ Vâng.
_ Hy vọng lần sau sẽ có được một chút thông tin về cô nhé.
_ Tôi cũng đã biết gì về anh lắm đâu.
_ A, thế là huề nhé. Vậy hẹn gặp lại lần sau.
_ Vâng, hẹn gặp lại. Chúc anh mọi điều vui vẻ.
_ Tôi cũng chúc cô mọi sự tốt lành. Xin chào cô.
_ Vâng, chào anh.
Vài giây luyến tiếc mới có tiếng đặt máy xuống. Tôi cũng mỉm cười gác máy. Nhìn ra ngoài trời, không gian vẫn không có gì thay đổi, nhung trong mắt tôi bây giờ, cảnh vật cũng khác trước rất nhiều, thậm chí còn có vẻ hay hay, đáng yêu nữa kia. Câu nói của người bạn mới văng vẳng : Tốt hay xấu, tuỳ thuộc vào suy nghĩ, quan niệm và hành động của mình mà thôi. Quá đúng. Ơ thôi rồi, tôi quên không hỏi số điện thoại của anh ta rồi. Nhưng không sao, chắc chắn anh ta sẽ còn gọi lại mà, và cái gọi là “may” chắc không chỉ có nghĩa đối với anh ta đấy chứ. Hẳn là thế rồi. Tôi cảm giác một sự phấn chấn trỗi lên trong lòng, với tay nhấn vào một cái nút của chiếc máy đĩa, một giai điệu mượt mà vang lên. Ngoài trời mưa vẫn khúc nhặt khúc thưa, rỉ rả, rỉ rả…

Đàm Lan

Tìm về bến nước

Bình minh âu yếm nâng nhẹ tấm khăn sương che chiếc gương bạc của nàng tiên H’Lung dắt ngang đỉnh trời tròn, từ từ hiện ra hàng ngàn đóa sen trắng, sen hồng đung đưa trên mặt nước biêng biếc. Đang giữa mùa sen, gió đẫm hương mát ngọt. Thuyền độc mộc đi đánh cá, rời bến từ lúc bóng đêm còn loãng, đang đua nhau tung lưới. Trong ánh hồng e thẹn của bình minh, nhìn từ xa, các vàng lưới tung lên như những tấm mạng nhện khổng lồ. Bóng người chống thuyền, thả lưới rung rinh uốn lượn trong sương như điệu múa mời rượu pah kngan rông yang của các nàng sơn nữ. Phía tây hồ, đỉnh Cư Yang Sin hiện dần như vóc dáng chàng Lăk cường tráng đang trìu mến ấp ủ, chở che gương mặt xinh đẹp của người tình.

Đứng trên hiên nhà sàn, Y Tlang hít một hơi thật dài khoan khoái. Bao nhiêu mệt nhọc của một ngày đi bộ hôm qua, gió thơm dừơng như mang đi hết. Chào amí chủ nhà, vịn lên đôi bầu vú căng mẩy chạm đầu thang xuống sàn, Pie Y Tlang và H’Zen quả quyết rảo bước về phía buôn Phơi. Lại đi. Lại hỏi. Nữ thần lúa Yang Hri có bảy người con gái, mỗi nàng là một loại giống. Trong một cơn giận dữ của cha rừng, bảy người con lạc mẹ. Việc H’Zen phải tìm cho ra bảy giống lúa, bảy người con gái thất lạc đã khó, nhưng tìm cho ra gốc rễ của Pie Y Tlang còn khó hơn. Đức Cha Phrancis đã đưa anh về Pháp từ bốn mươi bảy năm trước đây, lúc còn đỏ hỏn như con chuột nhắt mới sanh. Trước lúc đi về cõi vĩnh hằng, Đức Cha mới tiết lộ và khuyên Y Tlang nên đi tìm lại nguồn cội của mình. Sáu tháng trời về tới thành phố Hồ Chí Minh, nhờ mục nhắn tin của báo Tuổi Xanh, cả sự nhiệt tình của Ban bạn đọc, Y Tlang mới gặp được kỹ sư nông nghiệp H’Zen, tìm được người bảo lãnh để về đến cái hồ trên đỉnh cao nguyên, cao hơn mặt biển tới hơn bảy trăm mét này.

Cũng may, H’Zen lại đang được giao đề tài “ Giống lúa rẫy truyền thống của đồng bào Tây Nguyên”, chị mới có dịp đưa Y Tlang đi tìm bến nước gốc cội của anh, kết hợp với việc truy tìm các giống lúa cũ. Hai người đã đến nhiều bến nước Êđê, gặp hàng chục người già không còn đếm được số mùa rẫy đã qua, mà vẫn chưa tìm ra manh mối gì. Tất cả vẫn còn phủ một tấm màn bí ẩn. Hôm nay, H’Zen khuyên Y Tlang chuyển hướng sang tìm ở các bon Mnông.

H’Zen đã lần lượt mở toang ra từng cánh cửa mà đôi chân Pie Y Tlang run rẩy mỗi lần bước qua. Đây là cội nguồn của anh ư? Quê hương của anh đó ư? Mông muội? Hoang dã? Hay chính là những gì trong suốt nhất, hơn cả giọt sương, hơn cả nắng trời, vượt lên trên tất cả? Anh sẽ phải tiếp nhận hay chối bỏ “ nó” đây? Những câu hỏi cứ nhay đi nhay lại trong tâm trí Y Tlang như một lưỡi cưa cùn. Có lúc anh đã muốn bỏ chạy, vứt lại sau lưng tất cả. Thế là đủ rồi, không cần biết điều gì hơn nữa.Nhưng rồi anh cũng lại thấy cần phải đi cho đến tận cùng của sự tìm kiếm. Bởi thật là ngỡ ngàng trước những gì nhìn thấy, nghe thấy và gặp gỡ. Nó chẳng có chút nào chung với cuộc đời bốn mươi bảy năm ở nơi “ kinh đô ánh sáng” mà Y Tlang đã sống. Nhưng lại như giúp anh lần giở từng trang một cuốn sách đầy những điều hấp dẫn. Này nhé, người Êđê ở những nhà sàn mang hình dáng con thuyền, dài đến “ một hơi ngựa chạy ”. Cả buôn dựng nhà theo hướng Bắc –Nam, san sát nhau như các con thuyền độc mộc chiều về neo lại nơi bến nước. Bon làng Mnông lại là những căn nhà trệt nằm kề nhau, mái tranh lợp rủ dài sát đất, tròn như những chiếc nấm mối. Khách muốn vào nhà Êđê phải leo cầu thang đằng trước, vịn tay lên bầu vú gỗ để đến được với không gian mẫu hệ. Nhà Mnông lại có hai cửa hình vòng cung cùng mở về hướng đông, thấp lè tè. Bước qua cửa nào cũng gặp bếp lửa cháy quanh năm. Giữ gìn lửa là việc sống còn của con người giữa rừng đại ngàn. Lửa soi sáng mọi việc làm trong nhà. Lửa nấu chín thức ăn. Lửa xua cái lạnh giá những tháng mưa rừng. Lửa phừng phừng da thịt gái trai thương nhau…Nhà dài Êđê mỗi bếp lửa, mỗi ngăn là một cặp vợ chồng con cái. Người Mnông chỉ có hai bếp lửa chung. Một sạp nứa dài suốt chiều ngang nhà, kêu răng rắc mỗi khi có người bước lên bước xuống. Đây là chỗ ngủ chung của cả đại gia đình lẫn khách. Mọi đôi chân đều hướng ra bếp lửa. Ấm chân sẽ ngủ yên cả đêm, dù chỉ đắp một tấm chăn thổ cẩm mỏng.

H’Zen đang lúi húi bên bếp với mẹ chủ nhà. Y Tlang nằm tựa đầu lên chiếc gối gỗ, đối diện với cửa bên trái, chỗ nằm của khách. Từ đây có thể nhìn xa sang tận bên kia hồ, tới chỗ cánh đồng lớn mênh mang viền quanh bờ Nam. Cánh đồng như một tấm lụa xanh, Mẹ Đất âu yếm choàng cho cô con gái yêu. Hoang sơ, tĩnh lặng, tưởng như đang ở vào thời khắc của chàng dũng sỹ Dam San và nàng H’Nhi thuở trước. Đầu Y Tlang đau như có ai đem búa nên vào…

– Tha lỗi cho Cha, từng ấy năm đã giấu con sự thật. Cha đã từng nghĩ phải để cho con xa hẳn, quên hẳn nguồn gốc man rợ của mình. Nhưng về trước Chúa, Cha không có quyền đem đi bí mật của đời một con người. ..Có Chúa chứng giám…Chắc cha mẹ con trên thiên đàng cũng sẽ hài lòng….Cha…đã…làm hết sức mình để con nên người….Ai cũng có nguồn cội con ạ. Phải trở về thôi….rất tiếc, đã từ rất lâu…Cha không có liên hệ gì với bên ấy….Nhưng con cứ…đến giáo xứ Lạc Thiện…cái hồ…..núi Yang Sin…hỏi…ông…

Tiếng cười đắc thắng của Thần Chết cắt ngang câu nói hổn hển khó nhọc của vị linh mục già. Đồng loạt các quả chuông lớn nhỏ trong mái của nhà thờ xứ rung lên não nề. Bóng áo choàng đen cao lênh khênh, tay lưỡi hái, tay dắt linh hồn vượt qua vòm trần cao thăm thẳm, bay về vô định. Bàn tay Đức Cha Phrancis tuột khỏi đầu Pie Y Tlang, biến thành chiếc cánh vẫy vẫy. Y Tlang cuống cuồng ngẩng lên, đuổi theo

– Đừng bỏ con Cha ơi! Cha! Tìm ông gì Cha ơi…

Đuôi chiếc áo choàng đen quật vào ngực anh đau điếng. Y Tlang mở mắt nấc nghẹn. Chao ôi! Cái hồ hơn năm trăm héc ta mặt nước. Họ đã đi nửa số buôn bản địa quanh nó. Mấy lần trăng? Mấy mùa rẫy Y Tlang mới đi giáp vòng? Mới tìm được cái nơi mẹ đã cắt nhúm nhau, cha đã chôn cuống rốn cho anh? Mà người ta có ở mãi một chỗ đâu. Tìm đến chỗ này là buôn mới, buôn cũ đã dời đi từ hồi bệnh dịch thổ tả hoành hành. Đến chỗ nọ, rẫy cũ đã hết màu, bon làng phải dắt díu nhau đi tìm vùng rẫy khác. Thời chiến tranh còn chạy giặc, dồn dân gom về các ấp chiến lược. Từ ngày thống nhất hai miền, cũng đã vài đợt quy hoạch định canh định cư rồi. Mà Y Tlang đâu có biết mình vốn gốc Êđê hay Mnông đâu để tìm chứ?

– Cha đặt tên con là Y Tlang. Con chim Tlang pút vẫn hót bên cửa số nhà thờ của Cha ở bên cạnh hồ, mỗi sáng sớm…

Cứ đi, cứ hỏi. Mà hỏi ở đâu? Tìm ở đâu? Hỏi ai? Mẹ ơi, cha ơi! Con lại phải tiếp tục sống trong mù mờ thế này bao lâu nữa?

Chiều đang mờ dần trên mặt hồ. Bóng tối trong nhà đã đặc như cắt được. Chợt có tiếng thoang thoảng :

– Về đi con! Những người Mẹ mang con đằng trước, mang gùi đằng sau, không khi nào chối bỏ con cái của mình đâu…

Y Tlang bật dây, thoáng như thấy một phụ nữ tóc dài chấm gót, váy quấn ngang cặp vú, đôi vai trần loang loáng nước, uyển chuyển lướt qua cửa. Bà tan biến trong sương đêm đang mỗi lúc một dày lên.

*

Mệt mỏi. H’Zen và Y Tlang leo lên chiếc xe đò đầy bụi về thành phố Buôn Ma Thuột. Nóc xe chất cao nghệu những sọt hàng chở đầy ốc, cá , lươn…Họ phải về vì đã đi gần trọn tháng. H’Zen thiu thiu ngủ. Y Tlang không dứt khỏi được những ý nghĩ triền miên, lặng lẽ ngó mông ra ngoài cửa xe. Vùng đất này đến lạ, vượt qua những qủa đồi cao với những dãy núi đá thấp chen đất đỏ bạc phếch, những rừng cây lưa thưa, là gặp những cánh đồng rộng đến khó tin.Lúa xanh mơn mởn trải dài đến tít tận chân núi xa. Chơ vơ giữa đồng, một thân cây với đầy những cụm hoa lớn trắng xóa. Đứa trẻ chăn trâu chạy vụt qua, những cụm hoa lay động, biến thành cả trăm con cò trắng táo tác bay lên trong nắng. Bầy cò hợp thành đàn lớn, giang cánh bay về phía núi xa, như một dải lụa trắng phơi ngang nền trời xanh trong vắt. Cái màu xanh ngăn ngắt của bầu trời cao nguyên sao diệu kỳ đến vậy. Dường như không giống với màu xanh của bất cứ một vùng trời nào Y Tlang đã từng thấy, ngay cả bầu trời ở vùng ngoại ô Paris đầy cây xanh mà anh đã lớn lên. Màu xanh ở đây cứ trong vắt, thăm thẳm, nó hợp với chàng gió phóng khoáng tạo nên sự bao la đến vô tận. Giá không có những người phụ nữ váy kéo ngang đầu gối, đang lom khom cấy lúa, làm cỏ, chắc người ta ngỡ đang ở một vùng đồng bằng hay trung du nào đó. Chợt Y Tlang há hốc miệng, chồm lên thành xe, thò hẳn đầu ra ngoài : một người đàn ông mặc độc chiếc quần cộc, phơi tấm lưng trần loáng mồ hôi nâu bóng, vạm vỡ, đang đuổi…voi cày ruộng. Con voi thủng thẳng nhấc từng chiếc chân to như cột nhà, lội bì bõm trong đám bùn. Đuôi ngoe nguẩy như làm nũng với ông bố đang cầm cày phía sau, nhưng vòi lại hít đầy nước ruộng phun lên thằng bé đang nhảy chồm chộp bắt dế trên bờ ruộng. Người đàn ông nhẫn nại đẩy chiếc cày, lật lên những tảng đất bùn đen bóng.

Ôi ! Có biết bao nhiêu điều bí ẩn kỳ lạ mà ta chưa từng được thấy. Có phải quê hương ta thực đó không? Giá mà được sục chân trong đám bùn mát rượi kia. Giá mà được nằm lăn trên đám cỏ mịn dưới gốc cây knia đơn độc giữa đồng ấy. Giá mà được lắc lư trên bành voi đi trong bóng râm mát của rừng đại ngàn? Mẹ ơi! Mẹ chối bỏ con ư ?

Con đường làm từ thời Pháp đến nay, chưa được tu sửa lớn lần nào, xóc dữ dội.Chả trách người ta gọi là Lắc. Đường hẹp chỉ đủ hai xe tránh nhau. Một cái xóc nảy người, quăng cả H’Zen lẫn Y Tlang chúi về phía trước. Từ lúc lên xe, quá mệt mỏi và mải suy nghĩ, bây giờ họ mới chợt nhận thấy : ngồi thu lu trên chiếc ghế đẩu đặt thêm cạnh thùng máy, ngay trước mặt hai người là một ông già dáng nhỏ thó.Tóc ông loăn xoăn trắng như bông blang, xòa xuống tận cổ, viền quanh khuôn mặt đen cháy, đầy nếp nhăn xếp nếp như thân cây bằng lăng cỗi. Hai bàn chân khô đét đầy bụi đường, ngón cái xòe ra tách hẳn với những ngón chân kia, kẹp chặt chiếc dép bằng da bò, co hết lên trên chiếc ghế nhỏ. Tẩu thuốc đen bóng dính chặt trên môi. Đôi mắt ông đã sùm sụp nhưng vẫn ánh lên vẻ tinh anh của người già được coi là thông thái trong buôn. Một chiếc áo không tay dày cộm, cứng queo, luốc luốc màu đà khoác trên vai. H’Zen nhận ra chiếc áo bằng vỏ cây đập dập rất kỹ. Ông lão lạc lõng với xung quanh như vừa bước ra từ câu chuyện cổ về con lươn thần của hai chàng Lăk, Liêng. Một tia sáng lóe lên trong đầu, H’Zen tỉnh ngủ hẳn :

– Ti ih nao ? ( Ông đi đâu vậy?)

Mắt nheo nheo, hai lỗ mũi nở bung, phì ra một đám khói đặc, khét lẹt mùi lá thuốc gốc, thủng thẳng ông nói từng tiếng :

– Đi Buôn Thuật! Cho đứa cháu chứng dùm lại cái giấy cách mạng ghi cho mình đóng góp voi từ hồi chống Pháp.

– Ông mấy lần rẫy rồi?

– Cái bầu khô từ hồi Âe Tăng mình bỏ vô, mấy con cháu đếm được tám mươi sáu hòn đá suối đấy.

– Ti anôk buôn ih? ( Ông ở buôn nào?)

– Buôn Du đó chớ đâu.

Y Tlang chồm tới vồ lấy hai bàn tay như hai chiếc lá đa úa khô, lắc lắc:

– Ông ơi, buôn Du hồi xưa có ai đưa con nít mới sinh cho Đức Cha người Pháp nuôi không ông?

– Để coi coi…Ôi Yang ạ. Cái đầu mình khô như hạt giống trong bầu rồi đấy…

Cặp mắt lại nheo nheo, lại một đám khói đặc khét lẹt che mờ cả khuôn mặt ông lão. Ánh mắt ông bỗng lờ đờ, lờ đờ như đang lạc vào cõi hư vô nào xa lắc…

*

Tiếng ching báo có người chết rầm rập nổi lên từ cuối buổi chiều, các bà í ới xôn xao gọi nhau suốt các nhà dài, từ cây blang đầu buôn, tới bến nước cuối buôn :

– Con H’Liang nó tắt hơi rồi đấy. Nghe tiếng ching báo không?

– Amí Tin ơi, bà sang đó giúp thay váy áo cho nó với.

– Ơ amí Son. Mày ghé bà Chàm lấy mấy cuộc chỉ màu tết sợi dây cúng hồn nhé.

– H’ Yên ! Ở đâu rồi? Con xúc cho amí một nồi ba gạo mang sang nhà cô H’Liang nhé…

Nhà H’Liang không lúc nào ngớt người lên xuống. Sàn nứa rung rinh kêu ràm rạp. Vịn đôi bầu vú gỗ đến nơi cầu thang đằng trước là đàn ông, người mang cột gơng cúng thần, kẻ vác ché rượu, anh khiêng nồi nước, thoăn thoắt nối bước chân nhau. Thang đằng cuối nhà, cô cõng gùi gạo, chị xách con gà, bà nọ hấp tấp chạy sai bọn trai trẻ bổ thêm củi, mấy cô gái gùi thêm bầu nước. Khói đặc sệt từ các bếp lửa dưới sân nhà rung rinh theo nhịp ching, nhịp chân. Các ông oang oang cắt cử người đào huyệt, kẻ tạc tượng, bác làm hòm, cháu bẻ lá nhét vô ghè rượu. Xì xào là tiếng các bà bàn tán sự đẻ khó của H’Liang, tính toán số gạo phải giã, đồ ăn phải đủ cho ba ngày cúng đám. Vượt lên trên những tiếng nhộn nhạo ấy, như một cánh chim chấp chới hốt hoảng, là tiếng khóc của thằng bé mới sinh. Nhăn nhúm như một trái cà dái dê để héo, nó ngoác cái miệng đói sữa mà gào lên từng chặp. Bà đỡ bồng nó đung đưa, vỗ về, kể lể. Mặc ! Nó cứ gào bằng cái giọng đến là chói tai. Đôi lúc bà lão đút ngón tay út vô miệng cho nó mút. Không nhận được chút gì, nó lại nhả ra la chói lói. Dường như thằng bé linh cảm thấy số phận của nó chẳng khác gì rừng đêm không trăng. Pap mnai – tội nghiệp cái thằng ! Cha nó cách nay ba lần con trăng treo vì bắn hụt con hổ thọt, bị nó xé xác trong một đêm săn. Một mình mẹ nó, cái bụng khệ nệ như chiếc trống h’gơr, hết lên rẫy cuốc cỏ, lại xuống suối xúc cá, mò ốc. Chắc không muốn mẹ mang nặng, nên chưa tới ngày tháng đủ, thằng nhỏ đã quẫy đạp đòi ra, khiến amí nó ngã dụi, bao nhiêu máu trong người ào ra cả bờ suối như nước trong bầu dội xuống. Lúc bà đỡ phát vô cái mông bé teo cho nó khóc, cũng là lúc mẹ nó tắt làn hơi cuối cùng, không kịp mở mắt nhìn thấy mặt con. Nó khóc ngằn ngặt từ lúc đó. Ác cái là mẹ nó mồ côi, là người cuối cùng của dòng họ H’Druê ở buôn này. Còn cha nó, lưu lạc từ đâu tới, cả buôn không ai biết rõ, ở làm nô lệ nhà người ta, tới lúc thương nhau, mẹ nó mang tất cả những vật dụng quý còn lại của gia đình, sang nộp cho Âe Tăng làm lễ hỏi và cưới cha nó. Cả dàn ching Lao quý giá pha đồng đen, lẫn bộ ché Tuk, ché Tang ba đời, lớn nhỏ mười cái, mới chuộc được cha. Lúc cha mẹ nó về ở chung, chỉ còn cái nhà trống lổng. Gió đuổi nhau chạy từ cửa phía Bắc sang cửa đằng Nam, không gặp cái gì ngăn lại. Còn bây giờ á, không có người đặt tên cho nó. Càng không có ai để mang tên nó, mẹ nó cứ mãi là H’ Liang với hai mươi mùa rẫy. Cha nó cũng vẫn cứ là Y Rit. Chẳng ai được buôn làng gọi ama thằng nọ, amí thằng kia theo tập tục nữa. Thằng bé vẫn cứ khóc không lặng.

– Tội nghiệp thằng nhỏ quá đi. Buôn mình sao lúc này không có ai đang nuôi con bú hè?

– Con H’Liang có còn bà con nào ở buôn gần, buôn xa không? Đem thằng nhỏ tới đó gửi.

– Đâu có còn ai ! Chắc phải chôn nó theo mẹ thôi. Lời luật tục ông bà ta là thế đó.

– Bếp mình nhận nuôi nó được không amí?

– Đâu có được. Mình không phải bà con, cũng không có người đang còn sữa, làm sao làng cho nhận. Nuôi không nổi nó còn khổ hơn. Phải làm cái hòm rộng cho mẹ nó mang đi theo thôi. Sau này về nhà ai cũng có mẹ có con. Luật tục khít như vậy rồi.

– Ama ! Cái ông áo đen, tóc vàng như râu bắp đó, là ai vậy ?

– A! Đó là người Cha ở nhà thờ buôn Tâng Jú. Con trai buôn mình có người học cái chữ với ông đó mà…

Từng hồi chiêng tang lễ vẫn dồn dập, dai dẳng.

*

Pie Y Tlang ngồi lặng nơi đầu sàn, ngó ra mặt hồ. Chiều, như cô gái tắm, hờ hững buông rơi tấm choàng hoàng hôn. Hàng đàn chim kiú quáo gọi nhau về tổ, cánh chấp chới chao nghiêng in trên nền trời đỏ. Xa xa, những cành thủy tùng khô khỏng, tạc vào chiều như bao nhiêu cánh tay níu kéo, kêu gọi.

Tiếng ching đón khách rộn rã trong nhà ông Ama Nhen, cháu ba đời của Âe Tâng. Không biết có yang nào phù trợ vượt được mọi đổi thay, mà ngôi nhà sàn dài này đã chứng kiến gần cả trăm lần sen tàn, sen nở trên hồ Lăk rồi. Những cây cột một vòng tay ôm, chiếc ghế kpan độc mộc dàn chiêng đang ngồi, dài hàng sải tay; cả chiếc jhưng nơi ông chủ nhà nằm ngủ mỗi đêm bên bếp lửa, đều đã đen bóng như thoa nhọ nồi.

Y Tlang gục đầu. Tay phải vô tình cứ xoay xoay chiếc vòng đồng mà thày cúng sau khi khấn khứa các vị thần linh thiêng, đã lồng vào cổ tay trái cho anh. Tiếng chiêng dội trong ngực anh đau nhói.

– Thế rồi cuối cùng con cũng tìm được bến nước của mình, mẹ ơi.

– Con ơi! Mấy chục mùa gió nổi nay, cha mẹ cứ bay vật vờ như con mối, vì không có người bỏ mả, không thoát được bến nước này, làm sao theo phù trợ cho con được. Nhưng con đã về đây rồi, núi này, rừng nọ, bến nước đây sẽ không bỏ rơi con đâu. Ơ con của mẹ….

Lời khấn của Pô riu yang âm âm trên mặt hồ lãng đãng phủ kín hơi sương :

– Tôi gọi ông Du, ông Diê. Tôi gọi ông Gỗn trên làng trời. Tôi gọi bà Dung bà Dai dưới đất. Tôi gọi hồn mẹ hồn cha phơ phất. Hãy nhận lấy con mình lạc nơi bến nước lạ, nay đã về được với bến nước mẹ cha. Xin các yang cho cái tay nó khỏe như hùm beo, cái chân nó mạnh như heo rừng. Cho của cải của nó tầng tầng như lá cây, tình anh em tràn đầy như nước suối.Ơ Yang !

– Nhưng mẹ ơi, nơi này con đâu còn có ai?

– Còn chớ con ! Bến nước đầu buôn nơi mẹ đổ máu sanh con. Rừng xanh ở đây máu cha con đã đỏ gốc. Cái rốn con chôn chỗ này. Nước sương nơi đây con đã uống. Đó chính là sức mạnh của rừng, đất đã cho con. Bà con đó sẽ là anh em. Buôn làng đó sẽ là nhà con.

– Mẹ! Mẹ ơi!

– Cha mẹ luôn ở mãi với con đây con à.

Y Tlang se sẽ rùng mình. Bàn tay nào vừa vuốt nhẹ từ trên đầu xuống mặt anh.

Vẫn là tiếng chiêng ấy, bây giờ ngân nga ca hát. Tiếng ching dội vang trên mặt hồ, chạy theo những con sóng lăn tăn, gọi vầng trăng mười sáu to như chiếc nong phơi lúa, nhô lên khỏi mặt nước. Những con ruà, con chim, kỳ đà trên xà nhà như được ánh trăng đánh thức, động đậy, động đậy. Y Tlang vươn người đứng dậy hít căng lồng ngực hơi nước mát lành. Anh như mỗi lúc một lớn bổng lên, tràn đầy sinh lực.. Quay lại, H’Zen đã đứng bên cạnh từ lúc nào. Tiếng ching rộ lên đón chào, vây bọc lấy hai người, ấm áp. Lung linh, lung linh, mặt nước bạc xôn xao, chở tiếng ching vui về bao bến nước….

Linh Nga Niê Kdăm

Câu chuyện nhỏ

Cuộc đời mỗi người là một chuỗi dài những câu chuyện nhỏ nối tiếp. Có những câu chuyện chỉ như một thóang vút qua, chìm khuất nhanh chóng giữa bao nhộn nhã bộn bề, nhưng cũng có những câu chuyện mà mỗi lần có gì khơi gợi, lai thấy còn sống động y nguyên từng chi tiết nhỏ một. Không chỉ hình ảnh mà cả những cảm xúc cũng cuộn trào như đang lúc xảy ra vậy. Như một nềp gấp, rất khó mà miết phẳng đi được. Câu chuyện mà tôi sắp kể cho các bạn đây là một câu chuyện mang tính chất ấy. Và có lẽ bất kỳ một ai, nếu có một câu chuyện tương tự chắc cũng không dễ nào quên, cho dù con sóng thời gian có ào ạt cuốn phăng mọi thứ đến tận phương trời xa tít tắp nào.

Ngày ấy tôi mười chín tuổi, cái tuổi mười chín, hai mươi của chúng tôi là vào những năm đầu thập kỷ 80. Không được khôn ngoan lanh lợi , không được một tầm tri thức  như các bạn trẻ ngày nay. Chúng tôi ngày ấy còn ngờ nghệch lắm. Đôi khi cứ tưởng là mình đã hiểu biết sâu xa, nhưng có rất nhiều hành động mà bây giờ nhìn lại mới thấy ngây ngô đến tội nghiệp.

Tôi ngày ấy là một con bé không xinh xắn mà cũng không xấu xí. Chưa biết gì ngoài cây chổi, que diêm. Lại chân tay đểnh đoảng, làm đâu hư đó, nói trước quên sau. Cũng chẳng sáng soi gương, trưa chải tóc, lại hay ăn cốc vì cái tội ưa đọc truyện Kim Đồng để cơm thành bánh khảo. Bị câu mắng, lời đe, dăm bảy nhát que vào thịt là chuyện thường ngày. Có ấm ức thì tấm tức khóc một lúc rồi lại đâu vào đó. Vậy mà cũng đến lúc nỗi ấm ức vượt ra ngòai sự kềm tỏa của những giọt nước mắt, để bật ra một ý định bất thường.

Hôm ấy tôi bị đòn oan, mà nguyên do thì rất là vặt vãnh. Nhưng là vặt vãnh với bây giờ thôi, chứ ngày ấy thì không vặt một chút nào. Có lẽ phải kể qua một chút về bối cảnh gia đình tôi lúc bấy giờ để các bạn dễ hình dung ra một giai đọan của cuộc sống. Cũng như đa số những người dân sau ngày giải phóng, đời sống vật chất rất nhiều hạn chế. Lại cha tôi sớm qua đời sau ngày hòa bình không lâu. Gánh nặng gia đình dồn cả lên vai mẹ tôi. Một đàn con còn ngờ nghệch non dại, giữa chật vật miếng sống hàng ngày, mẹ tôi không khỏi những lo âu bươn trải, rồi đôi khi vì phải lo toan nhiều quá, cộng với những va đập của những bon chen giành giật hàng ngày, mẹ tôi cũng trở nên nóng tính. Con cái có những lúc là nơi để trút cơn giận dữ không phải là chuyện lạ. Nhất là với cái tính đểnh đỏang của tôi thì chẳng khác gì cơm ngày hai bữa, có khi còn dăm bữa phụ nữa ấy chứ.

Nhưng hôm ấy là một sự việc căng thăng hơn mức bình thường. Nhà tôi ở ngay trong một khu chợ, rất thuận lợi cho việc mua bán, mẹ tôi thuộc típ phụ nữ tháo vát, nên nói cho ngay, đời sống của anh chị em tôi cũng không đến nỗi quá đói khổ. Vốn tính tham việc, luôn tận dụng những điều kiện có thể để tăng thu nhập, thấy những thứ thức ăn thừa thãi từ các sạp bán hàng thải ra mỗi ngày, mẹ tôi nuôi thêm một bầy gà. Phải nói là nhìn phát mê những cái diều no căng mỗi chiều chúng lục tục trở về chuồng. Vừa vui vừa có thêm dăm ba quả trứng bồi bổ, con cái thi thỏang được bữa thịt gà hỉ hả thì ai mà không thích không ham chứ. Nhưng nghiệt nỗi lại ngay giữa chợ, cái hay là không phải cho ăn một tí gì mà những chú gà cứ nần nẫn béo mẫm ra, nhưng cái dở là thi thỏang lại thiếu đi một con lúc chiều về. Mỗi lần mất gà là chị em tôi đến khổ, cứ nhớn nhác khắp đầu chợ đến cuối chợ dõi căng mắt ra mà tìm. Có hôm may mắn tìm được thì chao ôi là sung sướng, quanh mâm cơm hôm ấy là những nụ cười, còn không thì…nhưng rồi cũng qua đi.

Hôm ấy khác hơn một chút là ngòai chuyện mất con gà, lại là một con gà mái to đang đẻ, tôi còn bị cộng thêm một vài tội vặt gì nữa đấy, nếu không có chuyện mất gà, chắc những sơ sảy ấy cũng chẳng là gì. Ngặt nỗi, khi cơn nóng của mẹ tôi nổi lên rồi thì tổng hợp những cái hỏng thành một trận lôi đình. Một trận dòn đau chưa đủ mẹ tôi hả giận, cho dù chẳng phải chính tay tôi làm ra sự mất mát ấy, nhưng rõ ràng như thể tôi là một thủ phạm chính trong mọi sự. Nếu chỉ là một trận đòn lúc buổi tối thôi thì chắc tôi cũng chưa đến nỗi. Ai dè, một đêm không ngủ được vì tức, vì tiếc, sáng ra mẹ tôi lại trút giận thêm một trận nữa. Quá đau và cũng quá uất ức, nên khi mẹ tôi đẩy tôi ra khỏi nhà với một câu dằn “Không tìm được con gà thì đừng vác mặt về nhá, tao đánh cho què thì thôi”. Vừa sợ vừa ức, tôi cứ đi, đi mãi. Và rồi tôi bỗng nghĩ đến một điều …

Chiếc xe lam phì phạch đưa tôi đi qua một đỗi đường dài đến hai mươi cây số, hai bàn chân tôi mỏi nhừ vì cứ phải co lên tránh luồng hơi lạnh ngăt tỏa  từ những cây nước đá xếp giữa lòng xe. Bây giờ mà chủ xe nào có lối tận dụng như thế chắc sẽ khó mà tồn tại trên những tuyến đường, ngày đó thì hành khách cứ thin thít mà chịu đựng. Duỗi và co bóp mãi hai chân tôi mới bắt đầu những bước đi.Từ nơi xe lam dừng để trả khách đến nơi tôi muốn đến còn phải hơn tám cây số đường đất nữa. Bây giờ các du khách đến tham quan  du lịch Thác Drây Sáp thì thong dong một lèo thẳng thớm trên con đường trải nhựa láng e đến tận cổng thác. Còn ngày đó, con đường dài bụi mù đất đỏ, qua hết được con đường chẳng khác nào người của một bộ tộc hẻo lánh xa xưa. Trước đó tôi đã một lần đi qua, đi du lịch hẳn hoi nhé. Nhưng các bạn biết chúng tôi đi du lịch bằng gì không ? Một chiếc xe cần cẩu, một lọai xe chỉ chuyên đi lấy cây trong rừng, ngày nay thì khó mà nhìn thấy trong thành phố. Không muốn tin cũng phải tin, chiếc xe đánh vật qua con đường không bằng phẳng ấy không biết bao lần trồi sụt, dằn lắc, và hành khách trên xe, khỏang mấy chục mạng đều chơi : vé đứng. Cũng nhờ có lần đi chơi đó mà tôi biết được nơi ấy, và dự định kế họach cho một lời vĩnh biêt thật êm thấm và lãng mạn.

Ngây ngô là ở chỗ đó, trẻ con là ở chỗ đó. Nhưng cái sự êm thấm và lãng mạn ấy trước hết là buộc tôi phải nuốt trọn quãng đường hơn tám cây số ấy chỉ với đôi chân mảnh mai của mình. Nếu trước đó có ai bảo tôi phải trải qua quãng đường ấy thế nào, chắc có lẽ tôi đã không đủ dũng cảm mà đi như thế. Không như bây giờ, xe cộ qua lại vù vù, để còn có cơ hội xin quá giang. Suốt một con đường vắng ngắt, chỉ có nắng và bụi . Họa hoằn lắm mới có người dân tộc mang gùi, cũng cắm cúi với đôi bàn chân. Hầu như không có nhà cửa dân cư gì, chỉ tòan có cây cao, núi lơ lỡ, đồi thoai thỏai. Tiếng chim, tiếng những lòai động vật lạ lẫm thi thỏang xua bớt cái vắng lặng của một vùng rừng heo hút. Nhưng tất cả những thứ ấy lại chẳng gây cho tôi chút cảm giác sợ hãi nào. thì đã quyết đi chết còn gì để sợ nữa. Thế rồi đôi chân đã bắt đầu phản kháng, chúng chậm dần, rồi nhích nhắc nhích nhắc lê từng bước một. Bụng đã đói, mắt đã tóa đom đóm, lưng vai, xương cốt chỉ chực vỡ vụn. Mỗi khi đứng lại nghỉ lại cảm thấy mình như muốn ngã quỵ xuống, tôi biết, nếu chỉ một lần quị ngã thì chắc tôi sẽ không thể nào đi tiếp được hết con đường. Hình ảnh dòng thác hùng vĩ tung bọt nước trắng xóa, mát rượi lại như vẫy gọi. Tôi lại ráng động viên mình, cứ gắng thêm ít nữa đi, rồi sẽ phải đến nơi thôi.

Thế mà rồi tôi đến được thật. Khi nhìn thấy những vuông đá làm bậc đi xuống, tôi thở ra một hơi dài nhẹ nhõm, tiếng nước đổ ầm ù phía xa trong làm tôi phấn chấn lên. Vào được đến khu vực thác chính, tôi ngã người lên một phiến đá to, cảm giác gân cốt rã rời một cách thỏai mái làm sao. Lúc đó trong tôi như không còn nỗi buồn nặng trĩu như lúc bước chân ra khỏi nhà, nhưng ý định trở về thì tuyệt nhiên không. Nằm một lúc cơn mệt đã nguôi đi thì cơn đói lại đến, đói thì lại nghĩ lại buồn lại tủi thân và khóc. Khóc chán, tôi lơ mơ thiếp vào giấc ngủ. Bên tiếng thác ầm ào, những bụi nước li ti như một làn sương bắn vào da mặt, tạo một cảm giác tê tê và mát rượi.

Tôi chợt tỉnh khi nghe có tiếng người, mở mắt ra thi thấy có hai thanh niên ôm một bó củi khô đang cách chỗ tôi một đọan. Tôi ngồi vụt dậy, đưa mắt nhìn quanh, cái phản xạ tự nhiên của giới tính muốn tìm một cái gì đó để có thể chở che, nương náu. Hai người thanh niên kia như đóan biết được tâm trạng tôi, họ không đi ngang con đường mòn sát chỗ tôi ngồi, mà đi vòng qua những tảng đá phía bên kia. Nhưng dù sao thì cũng không bỏ lỡ một tình huống.

_ Gì mà buồn thế bé ơi ! Đi kiếm củi với tụi anh cho vui đi.

Tôi im lặng, quay mặt nhìn ra dòng thác. Vài tiếng cười khe khẽ cùng mấy tiếng nói nho nhỏ rồi im vắng. Một lúc nhìn lại thì không thấy ai nữa. Tôi thở ra, giấc ngủ đã giúp tôi khỏe lại phần nào. Lần qua những tảng đá, tôi xuống đến mép nước, vốc  vã lên mặt, thấy thật sảng khóai dễ chịu. Bây giờ tôi mới nghĩ đến tình cảnh và ý định của mình. Chắc chắn tôi không thể nào thực hiện nó được với một vị trí có người qua lại thế này. Mông lung nhìn ra mặt nước, tôi vội lắc đầu khi nghĩ đến cảnh tượng một cái xác trương sình sẽ gây sự hỏang sợ cho ai đó, lại nữa, chết như thế thì không đẹp tí nào cả. Đúng là đồ con gái mà, đến chết mà cũng sợ xấu nữa. Tôi nghĩ đến một phương cách êm ả và dễ chịu hơn. Chỉ cần tìm một chỗ nào đó yên tĩnh, khuất nẻo không ai có thể phát hiện, và tôi sẽ nằm yên đó cho tới lúc nào lịm dần đi thì thôi.

Tự cho là mình thông minh khi tìm ra được một cách hay như thế.( Bây giờ nghĩ lại, tôi mới nhận ra là mình bị ảnh hưởng từ những trang tiểu thuyết dở hơi hồi ấy, chứ chỉ một mình tôi chắc không thể nào có cái ý tưởng lạ lùng như thế. Thế mới biết, những người cầm bút phải biết có trách nhiệm đến thế nào với những gì mình viết ra, bởi với một nội dung không lành mạnh, rất nhiều khi gây nên những hậu họa khôn lường cho nhiều người khác, nhất là lứa tuổi thanh thiếu niên chưa có đủ độ chín chắn trong nhận thức.) Tôi nhìn quanh để tìm một chỗ phù hợp. Suốt dọc theo mép nứơc chỉ tòan là đá, lẫn giữa những khe đá là những cây rừng cao thấp, có vẻ không dễ gì tìm được một chỗ như tôi muốn. Một thóang nghĩ về nhà, gương mặt mẹ tôi lúc giận dữ lại hiện ra rõ rệt. Tôi nhắm mắt xua đi, tôi nghĩ, mọi người rồi cũng sẽ mau chóng quên đi thôi, vắng đi một người như tôi trong nhà có khi lại bớt những cảnh ồn ĩ vì la mắng, roi vọt. Chị em tôi cũng bớt đi những lúc ghen tị hoặc tranh giành nhau những vặt vãnh gì đó. Nghĩ thế, nên lòng tôi hầu như không một chút vướng mắc, hối hận hay sợ sệt nào. Tôi đứng dậy, men theo rìa đá, chắc sẽ phải có một chỗ nào đó chứ nhỉ, bao la thế này cơ mà. Chợt tôi giật bắn mình :

_ Cô bé ơi !

Ngỏanh lại thì ra hai người thanh niên lúc nãy. Bối rối, tôi chưa biết phải nói gì thì tiếng nói kia lại vang lên :

_ Trời chiều rồi, cô bé ở đâu thì về đi, kẻo chậm nữa sẽ không có xe về đâu.

_ À… tôi còn phải chờ mấy bạn tôi nữa.

_ Nãy tôi đâu thấy có ai đi cùng cô bé đâu.

_ Có mà…

Nói rồi, tôi vờ chụm tay làm loa gọi ầm lên vài cái tên nào đó, vừa gọi tôi vừa tìm đường chạy trốn, biết ý đồ của tôi, hai người thanh niên kia lập tức bám theo. Tôi cảm thấy lo sợ trong lòng, không hiểu những người kia thuộc hạng người nào, tình thế này chắc là khó mà thóat được sự truy đuổi của họ rồi. Nếu không thóat thì phải làm sao đây ? Lần đầu tiên trong đời tôi rơi vào một tình huống khó khăn như thế. Từ trước đến giờ có bao giờ tôi đi xa một mình thế này đâu. Hai người kia vừa chạy đuổi theo vừa nhắc chừng :

_ Đừng sợ, cô bé ơi ! Chúng tôi không làm gì cô bé đâu, cẩn thận khéo ngã đấy …

Hình như họ không phải là người xấu, nhưng không thể tin vào một chút biểu hiện ấy, tốt nhất là cứ phải thóat được cái đã. Tôi gặp may khi lòn qua một tảng đá lớn, hụp đầu xuống để tránh tầm mắt của hai người kia, và họ mất bóng tôi thật. Tôi nghe tiếng họ bảo nhau :

_ Trông thế mà cũng nhanh chân gớm nhỉ.

_ Không chạy xa được đâu, chắc chỉ trốn dưới mấy gờ đá kia thôi. Ta cứ tìm tiếp đi.

Có nghĩa tôi chưa thể an tòan, tôi vẫn luồn lỏi dưới những khe đá, bất chợt tôi nhìn thấy một lỗ hổng to dưới một gốc cây, mừng qua tôi chui tọt vào, trong đầu không có chút đề phòng gì những con vật nguy hại như rắn rết đang chực chờ trong cái hốc cây ấy. Càng mừng hơn khi tôi nhìn thấy rõ những gộp đá như có tay ngưới sắp xếp thành một cái giường đá vậy. Tôi ngồi ngay lên, rất vừa với vóc người của tôi. Tôi lóng tai nghe ngóng phía ngòai một lúc, không có động tịnh gì, đúng là hai người kia đã mất dấu tôi. Yên tâm, tôi nhìn lại chỗ mình ngồi một lần nữa, đúng là quá lý tưởng so với yêu cầu của tôi, chắc ông trời đã giúp tôi đây mà. Thật buồn cười, đang muốn chết, được một nơi như mong đợi lại mừng, lại bảo được trời giúp.

Từ chỗ tôi ngồi nhìn thẳng ra mặt chính của dòng thác, vừa yên ổn vừa lãng mạn, thật không chê vào đâu được. Thế này thì chắc cũng khó có ai mà tìm ra được, nhưng để cho yên tâm hơn, tôi lò dò ra ngòai bẻ một số cành lá dựng ngụy trang trước của. Ở xa nhìn tới chăc chăn không thể nào nghĩ được là trong đây có người. Xong xuôi, tôi ngả lưng lên cái giường đá, thấy sao mà khỏe khoắn, dễ chịu thế không biết. Nằm quay mặt ra ngòai, tôi nhìn dòng thác cứ tuôn đổ hết ngày này qua tháng khác mà không hết nước. Không biết nước ở đâu ra mà lắm thế nhỉ ? Nhìn ngắm một lúc tôi nghĩ về gia đình, giờ này không biết mọi người ở nhà đã phát hiên ra sự vắng mặt của tôi là đã quá lâu rồi chưa nhỉ ? Đã có phán đóan gì chưa ? Có lẽ cùng lắm là nghĩ tôi đến nhà người bạn nào đấy thôi, dám chắc một trăm phần trăm là không thể nào nghĩ ra được là tôi đi gửi thân ở chốn này đâu.

Trong thâm tâm tôi thầm xin lỗi mẹ, mẹ đã khổ nhiều vì lo lắng cho chúng tôi, mà tôi lại hay làm mẹ phải buồn bực, từ nay thì không còn đứa con gái vụng về, đểnh đỏang này làm mẹ phải cáu giận nữa mẹ nhé. Con tự nguyện rời xa cuộc sống này, mong sao những người còn lại sẽ có những tháng ngày vui vẻ hơn. Tôi đinh ninh là thế. Bởi nếu đã không yêu không thích thì tốt nhất là đừng phải trông thấy hàng ngày, tôi nghĩ đến cả những lần cãi cọ của mấy chị em tôi. Chi em gái, lại sàn sàn với nhau, thường không chịu nhường nhau những chuyện nhỏ nhặt. Đây là một cách tốt nhất để giải quyết tất cả những bất hòa dai dẳng và khó chịu ấy. Có lẽ các bạn đang rất chê cười tôi, nhưng quả thật lúc ấy tôi chỉ nghĩ được có thế. Và chính ý nghĩ mình đang đem lại sự giải thóat cho mọi người đã làm tôi không thấy có tư tưởng sợ chết. Hình như đôi khi trong sự ngây ngô và cao cả có nét tương hợp nhau. Tôi thiếp đi trong lan man nghĩ ngợi, trong cơn đói âm ỉ của dạ dày, cùng những giọt nước hoen ra từ đôi mắt. Một thóang nghĩ mình đang lịm dần đi rồi đấy, và tôi không biết gì nữa.

Một lần nữa tôi giật thót tim và chòang tỉnh khi :

_ Hồi chiều tụi em đuổi đến đây thì mất dấu.

_ A..tao biết rồi, ở gần đây có một cái hang nhỏ.

Vừa kịp biết nơi mình ẩn nấp sẽ không còn an tòan, thì một bàn tay đã xô vẹt đám cây lá ngụy trang một cách vụng về, và hiện ra dưới thứ ánh sáng nhờ nhờ của màu trời sâm sẩm tối là một gương mặt, một dáng người đàn ông cao lớn. Tôi gần như đông cứng trong một tư thế. Giọng người đàn ông có vẻ reo vui :

_ Đây rồi !

Lan ra một vài tiếng kêu mừng rỡ phía sau. Người đàn ông ấy cất giọng nhẹ nhàng, chủ yếu để trấn tĩnh tôi :

_ Chào cô bé. Cô bé đừng sợ, tụi anh không có ác ý gì đâu, chỉ là muốn đưa cô bé lên nghỉ ngơi trên trạm canh của tụi anh thôi.

Tôi đã hơi bình tĩnh, đáp lại với giọng bướng bỉnh :

_ Dạ thôi, em ở đây cũng được rồi.

_ Không được. Ở đây rất nguy hiểm vào ban đêm, vì có cả thú dữ lẫn người xấu. Anh không thể để cô bé ở lại một nơi như thế này được. Ngoan nào, nghe lời anh đi.

Tôi im lặng, trong lòng rối rắm, không biết mình nên làm gì nữa. Người ấy lại tiếp tục với giọng nói như dỗ dành, như động viên, và như bắt buộc :

_ Anh biết cô bé có chuyện gì đó không vui. Nhưng không sao, chuyện gì rồi cũng qua đi thôi mà. Với một tình người đơn thuần, và một trách nhiệm nhất định, anh không thể để cô bé có những hành động dại dột được. Nghe lời anh, ra đi nào. Ra rồi lên trạm ăn cơm , chắc là bé đói lắm rồi phải không ?

Một lần nữa tôi cố dùng dằng :

_ Không sao đâu. Em ở đây cũng tốt mà.

_ Anh biết cô bé lo sợ điều gì rồi. Yên tâm đi, anh lấy danh dự một sĩ quan biên phòng mà bảo đảm mọi sự an tòan cho cô bé. Tụi anh là một đơn vị đóng quân nơi đây, có trách nhiệm an ninh cho mọi người. Cô bé yên tâm rồi chứ ?

Thấp thóang ngòai cửa hang, là một bóng người nữa. Tôi lại im lặng. Trong tôi không có sự quyết định, nửa muốn đi ra theo lời gọi kia, nửa muốn lì lợm cố thủ trong cái hang này, mà nửa sau thì rõ ràng khó mà thực hiện được. Đúng thế. Dường như hơi sốt ruột vì thái độ của tôi, giọng người kia hơi đổi sắc một chút, nhưng vẫn cố dịu dàng :

_ Nếu cô bé không tự nguyện bước ra, thì buộc lòng tụi anh phải giúp cô bé thôi.

Một sự bắt buộc và đe dọa thật sự. Một giọng nói khác cất lên :

_ Anh cứ để cô bé sẽ tự ra mà, trông cũng có vẻ hiền lành dễ thương đấy, không cứng đầu khó bảo đâu.

Bây giờ nghĩ lại, tôi mới hiểu rõ ngụ ý của câu nói ấy là gì. Còn lúc đó, nửa biết mình không  thể lì được nữa, nửa như được cho uống thìa nước đường, tôi ngần ngừ một chút rồi ngoan ngõan chui ra. Anh mắt tôi thóang lia ra mặt nước, lập tức người thứ hai kia nhảy chắn trước tôi. Người lúc đầu vẻ hài lòng với kết qủa liền nói :

_ Thôi anh em ta đi nào, trời tối rồi.

Có ánh đèn bin lấp lóa soi đường, bấy giờ tôi mới nhìn thấy có hai người phía trước nữa, tôi biết đó là hai thanh niên lúc chiều đuổi theo tôi. Dòng người nối hàng nhau, đi sau tôi là người đã nhảy chắn mặt nước và cũng là người góp phần sau cùng lôi tôi ra khỏi cái hang ấy. Con đường đá lô xô, khúc khủyu, ban ngày còn khó khăn đặt những bưỡc chân, huống chi , vừa tối trời, lại vừa mệt vừa đói, những bước chân tôi chập chỗm, đã mấy lần bị vấp té. Bất chợt giọng nói phía sau tôi cất lên :

_ Phải vậy thôi, không còn cách nào khác, xin lỗi bé nhé.

Dứt câu thì cả người tôi nhẹ hẫng theo đà nâng của đôi tay mạnh mẽ, tôi cũng không phản kháng, là bởi hiểu rằng việc phải thế, và cũng có một cảm giác yên tâm, tin tưởng vào những con người này. Một dự cảm đúng giúp tôi thấy nhẹ lòng. Đi một đọan, người đang bế tôi mỏi tay nên chuyền cho người đi phía trước. Tất cả đểu im lặng với những bước chân. Lên gần đến những bậc thang đá. Tôi được nhẹ nhàng thả xuống bên một vũng nước trong vắt, ánh đèn bin soi thấy rõ mấy chú cá nho nhỏ đang dạo bơi.

_ Bé hãy rửa mặt và chân tay đi.

Tôi nghe lời ngồi xuống khóat nưởc rửa mặt. Trông tôi lúc ấy chắc nhếch nhác lắm thì phải. Nước mát cộng thêm những bậc đá bây giờ đã khá bằng, nên tôi đi lên có vẻ vững vàng hơn. Vừa nhô mặt lên đến bậc thang trên cùng, tôi bất ngờ vì những tiếng reo vui gần như cùng một lúc.

_ Có rồi…tìm thấy rồi …may quá…

Một xúc cảm kỳ lạ dâng ngập lòng tôi, sự xúc động của một thứ tình người ấm áp, cộng thêm một cảm giác là mình có lỗi khi đã gieo sự lo âu cho những người xa lạ kia. Họ không có chút gì liên quan đến bản thân tôi, mà họ lại hết sức vui mừng khi thấy tôi được bình an trở về. Vậy mà tôi…Bước lên cái lán đang tù mù những ngọn đèn dầu, tôi lại càng hối hận hơn khi nhìn thấy những mâm cơm lạnh tanh xếp chỏng chơ giữa một cái bàn dài. Những cái nhìn vừa vui mừng vừa tò mò khiến tôi ngượng ngùng cúi đầu. Bấy giờ tôi nhận rõ nơi mình đã đến, một trạm canh của những người lính biên phòng. Trong trí óc của tôi, khái niệm về những người lính còn xa lạ và có một chút gì như là đáng sợ vậy. Người đã khuyên dụ tôi lúc còn ở dưới cái hang, mà tôi chắc anh là người có cấp bậc cao nhất ở đây, khi nghe những chú lính gọi là thủ trưởng, vừa cười vừa nói :

_ Thôi, đi ăn cơm đi, cô bé đói lắm rồi đó.

Mệnh lệnh được tuân thủ một cách nhanh chóng, tôi được xếp ngồi phía đầu bàn, những miếng thịt, miếng rau được gắp vào bát tôi kèm theo lời giục giã, sự săn sóc tận tình của những người đã khổ vì tôi khiến tôi muốn khóc, phải lén quay đi chùi giọt nước mắt. Cơm xong, một nồi chè ngũ cốc còn bốc khói được bê ra. Một người nói vui :

_ Bữa nay linh tính có khách quý nên nấu chè đãi khách đấy ạ. Mời quý khách xơi nhiệt tình cho.

Những tiếng cười rộ lên, tôi cũng cười và hướng về mọi người một ánh nhìn biết ơn. Lúc này tâm trạng tôi đã hòan tòan nhẹ nhõm. Tôi chợt thóang nghĩ, nếu không tìm được tôi, chắc tất cả những người này sẽ không có một bầu không khí vui như thế, vì một niềm thương cảm, vì một nỗi ray rút đè nặng. Ngòai trời không một thứ phát sáng mỏng manh nào hòng làm giảm bớt sự hòai nghi và bất trắc trong màn đêm đen kịt kia.

Khi các thứ bát đũa được dọn đi. Anh Thuộc (thủ trưởng) lấy từ trong cái ba lô ra một túi bánh ít, nói :

_ Hôm nay ai đi phố rồi thì không ăn bánh nữa nhé.

Tôi hiểu đó là một thứ quà không thường xuyên với nơi này. Khi anh Thuộc đặt một cái trước mặt tôi và bảo :

_ Ăn đi em.

Tôi từ chối :

_ Em cũng ở phố vô mà.

Đó là câu nói đầu tiên từ lúc tôi bước chân lên căn lán này, làm bật ra những tiếng cười.

_ Cũng hóm hỉnh ghê đó chứ.

Câu thúc giục của anh Bằng, là người đã bế tôi lên lúc trước :

_ An đi cô bé, hay chê quà nghèo của lính ?

Tôi lí nhí “dạ đâu có” rồi bóc chiếc bánh ra ăn. Xong xuôi anh Thuộc mới rủ rỉ hỏi tôi nguyên do. Tôi kể cho anh nghe câu chuyện là vậy, nhưng anh không tin, cứ gặng tôi mãi :

_ Em nói thật đi, có phải cậu nào đó đã lừa phỉnh gì em không ? Hãy coi anh như một người anh trai của em, nếu đúng là có ai đo làm điều xấu vói em, cứ nói cho anh biết, anh sẽ cho họ một bài học.

_ Dạ không, em nói thật mà.

Nhưng dù sao thì anh vẫn không tin, có ai tin được chỉ vì một trận đánh mắng của mẹ mà lại có hành động dại dột như tôi đâu. Anh Thuộc giảng giải cho tôi những đúng sai trong sự việc, giọng anh nhẹ nhàng trầm ấm, đầy vẻ bao dung và thân thiết, đã cho tôi thấy được lỗi lầm của mình. Súyt nữa thì tôi đã gieo đau khổ cho bao người. Ôi là cái con bé tôi, một con bé quá ngốc nghếch khờ khạo. Đêm đó đã có một anh lính phải đi ngủ ké để nhường nguyên một bộ chăn màn cho tôi.  Một bộ chăn màn khác thì cách tôi độ 2m, dành cho anh Sáng. Anh rủ rỉ hỏi tôi đủ thứ chuyện, rồi khi anh tin lý do tôi bỏ nhà đi là thật thì anh hỏi :

_ Em có biết em đang gây ra một chuyện gì cho gia đình không ? Và em có biết mọi người trong nhà bây giờ đang lo lắng cho em những gì không ?

Hỏi nhưng không đợi tôi trả lời, anh tiếp luôn :

_ Cha mẹ nào cũng có những lúc nóng giận với con cái, cũng có những lúc la mắng oan con cái, cũng chỉ vì muốn con mình được nên người. Nếu con cái nào cũng hành động như em thì thế giới này còn đâu con người nữa.

Cũng như anh Thuộc, anh Sáng giảng giải và bảo ban tôi một số điều, trong tôi dậy lên một sự ấm áp của một đứa em nhỏ dại khờ được sự yêu thương bảo bọc của người anh trai, đồng thời cũng ngập tràn lòng tôi nỗi nhớ nhà.

Sáng hôm sau thức dậy, sau bữa cơm sáng, anh Thuộc hỏi :

_ Em đã muốn về chưa ? Chưa thì anh dẫn đi chơi, phía trên kia còn mấy cái hang đẹp hơn cái hang em ngồi hôm qua nhiều.

Tôi nghĩ đến sự lo lắng, nháo nhác trong gia đình tôi, nhất là khi con gái một mình qua đêm ở ngòai, dù cũng còn đôi chút sợ sệt mẹ, nhưng tôi biết  tôi không thể chậm trễ hơn được nữa. Đêm qua sau khi nhận rõ sự sai trái của việc mình làm , tôi đã chỉ muốn lập tức quay về.  Thấy tôi tỏ ý muốn về, anh Thuộc gật gù :

_ Đúng, em muốn về là đúng. Thôi để anh cho người đưa em về, hồi nào có dịp trở lại đây thì anh sẽ dẫn đi chơi nhé.

Đưa tôi trở về là một anh lính trrẻ có tên là Lân. Cũng một chặng đường dài hơn tám cây số tôi đã qua, nhưng lần trở ra này thì khác. Anh Lân đem theo trong ba lô một chai nước và một gói cơm nếp, dọc đường lại rất để ý chăm sóc tôi, nên tôi không hề cảm thấy cái mệt như hôm qua một chút nào. Về đến tận bến xe lam trong lòng phố, tôi chào tạm biệt anh Lân. Người lính nhận nhiệm vụ đặc biệt này còn chưa yên tâm một khi chưa tận mắt thấy tôi bước vào nhà, tôi phải hứa mãi anh mới chịu đi. Nhưng hình như chỉ đến khi tôi thực sự bước chân vào cửa nhà mình, thì người mang trách nhiệm mới nhẹ lòng quay đi.

Vừa giận vừa mừng, đó là gương mặt và ánh mắt của mẹ tôi, tôi chỉ phải nghe thêm vài câu mắng qua loa, thế rồi câu chuyện trôi qua. Về sau tôi có vài dịp trở lại nơi ấy, nhưng khu trạm canh ấy đã không còn, có lẽ các anh đã phải chuyển đi nơi khác , khi khu thắng cảnh được người ta đưa vào khai thác quy mô hơn. Lần gần đây nhất, tôi thấy cái cây to có cái hang trong lòng gốc ấy đã bị đổ, cái gốc chĩa lên còn nguyên một dáng vòm. Hơn hai mươi năm còn gì. Tôi bây giờ nhìn tôi ngày đó mà bật cười. Câu chuyện ngày xưa có lẽ cũng khuất chìm trong tâm trí những người ân nhân của tôi . Cũng chỉ là một câu chuyện nhỏ giữa bộn bề tháng năm thôi mà. Nhưng tôi thì còn nhớ mãi. Những người đã cứu mạng tôi một lần trong đời, nhưng tôi thì chưa nói lên được một lời cảm ơn.

Hỡi những anh Bằng, anh Thuộc, anh Lân, anh Hảo, anh Sáng ….Có lẽ các anh vẫn ngược xuôi đâu đó trong dòng đời này, nếu có một lần nhớ về câu chuyện nhỏ ấy, xin hãy yên tâm rằng : Em : cô bé khờ khạo, ngốc nghếch ngày nào, đã biết sống có trách nhiệm với mình với ngừơi hơn rồi, các anh nhé. Và hãy nhận của em một lời tri ân, cầu mong các anh cũng sẽ nhận được nhiều niềm vui và hạnh phúc như khi các anh đã từng đem đến cho em.

Đàm Lan

Thảo thơm đâu cần phải nhiều lời

(Về bài thơ IM LẶNG của Nguyễn Hữu Quý)

IM LẶNG

Sinh ra kề mắt bão
mẹ bọc tôi trong vạt phù sa
cái cuống rốn người vùi nơi gốc rạ
im lặng rễ đồng nhập vía hồn tôi

Tôi lớn lên với cây lúa ít lời
sau giông gió chỉ nói bằng hạt chín
hạt lép tập bay, hạt đầy học nhịn
lúa dạy tôi ngôn ngữ chiêm mùa

Tôi học ướt từ mưa
học khô từ nắng
học lội từ bùn
học hát từ trăng
học chắt chiu từ chua mặn đồng làng
và, sau nữa tôi học về im lặng

Im lặng rễ, im lặng cành, im lặng…
ừ nhỉ, thảo thơm đâu cần phải nhiều lời
sau vỏ trấu là trắng ngà hạt ngọc
chứa những điều ân nghĩa chẳng xa xôi

Biết im lặng khó hơn mười lần nói
lặng lẽ đi cũng chẳng phải dễ dàng
tôi nín lại tiếng reo mùa ló rạng
để ra đồng cúi mặt cấy mạ non!

(Nguyễn Hữu Quý)

Cảm nhận về tập thơ Im lặng trên cao của Nguyễn Hữu Quý, Nguyễn Đào Nguyên đã viết Đó là cái im lặng hướng thiện, siêu việt thế gian. Đó cũng là một cách tồn tại của con người. Một cách thế nghiêng nhiều hơn về minh triết Á đông. Bởi lên cao là nối với đại không, với vũ trụ, nơi hóa giải vui buôn đắc thất của đời người
Nếu Im lặng trên cao là im lặng của con người đã có nhiều trải nghiệm, của hồn thơ đang chín, là hệ quả của những gì làm nên người thơ Nguyễn Hữu Quý thì Im lặng là một tự sự chân thành nhưng không kém phần sâu lắng khiến người đọc dễ cảm. Nói cách khác để có được im lặng, ngoài sự vượt lên những va đập của sóng đời trước hết anh có hạnh phúc được hưởng nâng niu từ những nguồn thương vô hạn , đã học với những bậc thầy gần gũi nhưng thông tuệ và các bài học mà anh tích góp ấy được nhà thơ thổ lộ trong tác phẩm này.

Hãy nghe anh khai báo: Sinh ra kề mắt bão / mẹ bọc tôi trong vạt phù sa / cái cuống rốn người vùi nơi gốc rạ / im lặng rễ đồng nhập vía hồn tôi .

Là vậy. Người mẹ sinh ra anh đã nhận từ quê hương quà tặng quí báu là vạt phù sa để bọc anh giờ sinh nở và gốc rạ để vùi cuống rốn. Bọc – Vùi – Mẹ – Gốc rạ. Gần gũi quá, thân thiết quá. Có nâng niu nào hơn, thương mến nào bằng. Chính trong khoảnh khắc chào đời ấy im lặng đã trở thành thuộc tính của anh.

Kề mắt bão là miền Trung, nơi lũ tràn qua mặt, bão giật ngang đầu nơi nhạy cảm đến từng tấc non nước ( Miền Trung- NHQ), nơi thử thách sức chịu đựng của con người cũng như cây cỏ đến nỗi ít lời trở thành phẩm chất sở hữu không chỉ riêng của người mà của luôn cỏ cây vùng đất này. Đại diện đặc trưng là cây lúa và anh đã lớn lên với lúa, học từ lúa bài học về sự khiêm tốn thanh cao: Tôi lớn lên với cây lúa ít lời / sau giông gió chỉ nói bằng hạt chín / hạt lép tập bay, hạt đầy học nhịn / lúa dạy tôi ngôn ngữ chiêm mùa

Ngôn ngữ của lúa là âm thanh lao xao, mượt mà khi gió ngang qua cánh đồng thì con gái, là tiếng rì rào trĩu nặng ân tình khi phù sa và mặt trời đã lặn đủ vào hạt. Ngôn ngữ của lúa là màu vàng tươi vui khi được mùa, cũng có thể là màu ủ ê thuở thất bát. Ngôn ngữ bình dị đó chỉ được nói lên bằng hạt chín, cũng là bằng thành quả của những ngày gom nhặt. Lúa học bay, học nhịn. Còn nhà thơ, ta hãy nghe anh tâm sự: Tôi học ướt từ mưa / học khô từ nắng / học lội từ bùn / học hát từ trăng / học chắt chiu từ chua mặn đồng làng

Phải chăng anh đã học thích nghi; rèn giũa kỷ năng sống; kết tinh vẻ đẹp tâm hồn mình từ thiên nhiên của chính quê hương anh để rồi:Và, sau nữa tôi học về im lặng / im lặng rễ, im lặng cành, im lặng…

Dù im lặng rễ đồng nhập vía hồn tôi hay nói cách khác dù im lặng là bẩm tính, anh vẫn chưa bằng lòng bởi cái tự nhiên nhi nhiên đó chưa phải là tinh hoa, chưa làm nên con người đích thực. Vì anh nghiệm ra: ừ nhỉ, thảo thơm đâu cần phải nhiều lời / sau vỏ trấu là trắng ngà hạt ngọc / chứa những điều ân nghĩa chẳng xa xôi

Đọc đến đây có lẽ không ai không thốt lên “Ồ! Giản dị quá. Tinh tế quá. Như ca dao, tục ngữ”. Thật vậy, nhà thơ nói lên điều rất thực sau vỏ trấu là trắng ngà hạt ngọc nhưng tầng tầng ý nghĩa sau cái rất thực đó mới hàm súc, thuyết phục làm sao thảo thơm đâu cần phải nhiều lời”.

Lưu Đại Khôi (đời Thanh) đã kết luận “ giản dị là cảnh giới tận cùng của văn chương”, phải chăng trong khổ thơ này Nguyễn Hữu Qúy đã chạm đến cảnh giới rồi? Người đọc cũng đồng ý rằng một lần nữa lúa lại là người thầy gần gũi, uyên bác nhưng hết sức thầm lặng của anh, giúp anh nhận chân được giá trị của một phẩm chất phải có của kẻ làm người đúng nghĩa nhất mà không cần sách vở hay triết thuyết: Biết im lặng khó hơn mười lần nói / lặng lẽ đi cũng chẳng phải dễ dàng

Người xưa dạy “ uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”. Điều đó cho hay NÓI khó biết nhường nào. Vậy mà ở khổ thơ cuối này, anh đã đưa ra kết quả bài toán so sánh độ khó của BIẾT IM LẶNG và NÓI khiến ta thảng thốt: mười lần. Không dễ gì biết im lặng khi quanh ta chất ngất những thứ đầu độc tâm hồn tình cảm trí tuệ khiến ta phải nói dù là hằn học nanh nọc hay bông lơn giễu nhại. Không dễ gì biết im lặng khi ta còn mải mê bơi lặn trong bể si ái. Biết im lặng là chuẩn mực của sự NGỘ, mà mấy ai…?

Có lẽ nhiều người không đồng ý với con số chính xác trong câu thơ này. Sao không phải là năm , bảy, thậm chí một trăm mà lại là mười. Theo tôi số mười ở đây chỉ là cách nói chứ không phải là con số thực. Số mười chỉ sự vẹn toàn; sự khó đạt tới ( !). Điều đó có nghĩa là “ cực kỳ khó, vô cùng khó”.

Bài thơ kết thúc bằng một sự kìm nén : kìm nén niềm vui của người thấy được thành quả nhưng không phải để tự mãn, phỉnh nịnh mình mà để gieo mùa vui mới: Tôi nín lại tiếng reo mùa ló rạng / để ra đồng cúi mặt cấy mạ non

Đọc bài thơ Im lặng cùng lúc ta có thể nhất quán thơ với tính cách, tâm hồn nhà thơ và cảm nhận được sự lớn lao trong từng hoạt động nhỏ của con người miền Trung nói riêng -Việt Nam nói chung – mà cây lúa là biểu tượng gần gũi – là ẩn dụ chủ ý, đồng thời ta vừa tận hưởng cái thú nhẩn nha với câu chữ giản dị vừa thấm thía ý nghĩa sâu xa của sự khiêm tốn thấm đậm triết lý – một phẩm chất ngày càng trở nên thiếu từ trong cả ý nghĩ và cách hành xử của nhiều người giữa cuộc sống đang nhiều thêm bao bộn bề lo toan nhưng ít dần những giờ khắc lắng đọng để mỗi người có thể nhìn lại mình nhằm tự rèn giũa phần NGƯỜI.

Tôn Nữ Ngọc Hoa

Vầng trăng ngày ấy

Người đàn ông ngồi trước mặt tôi có một khuôn măt xương xương, đôi má hóp lõm càng làm cho hai gò lưỡng quyền nhô cao, càng làm cho gương mặt với làn da sạm thêm phần khắc khổ. Ngoài bốn mươi, anh vẫn đang độc hành với những bước chân vô định. Anh mắt đong đầy, trĩu nặng một nỗi niềm ray rứt xa xưa nào đó. Hai bàn tay xương xẩu đan vào nhau, bần thần, vụng vịu.

Không phải là một cặp tình nhân, mặc dù cả hai chúng tôi có chung một điểm mà bạn bè cho rằng “Một điều kiện quá thich hợp như thế rồi, còn chờ gì nữa” Còn chờ gì nữa – Nghe thật quá đơn giản, những con mắt khách quan thường phiến diện, cứ cho rằng trong một tối thiểu nào đó, có thể là đã đủ để làm nên một vấn đề. Họ nhầm lẫn hay họ vô tâm không đọc hết được những ngõ ngách của người khác. Mà cũng phải, trong cái cõi tâm can của một con người thường ẩn nấp bao điều bí ẩn, những điều mà có thể chính bản thân mình cũng không bao giờ đọc hết được, huống chi người bàng quan bên ngoài. thật ra, những lời nhã ý của bạn bè không phải là không có lý, mà lại còn rất có tình nữa là khác. Có điều, chuyện hôn nhân không phải là một con tính, để cứ cộng lại là xong.

Tôi còn nhớ rất rõ, ngày Thắng về cơ quan nhận chân bảo vệ. Với một lý lịch dễ gây hoài nghi cho những ánh mắt. Bộ đội xuất ngũ, nhưng có đến năm quyển lịch được đếm thầm trong một con dấu đỏ. Vì tội danh gì thì tôi không rõ, nói đúng hơn là không nên gợi lại những sai lầm mà người ta đã phải trả giá. Thắng bước qua được cái cổng này là nhờ sự giới thiệu của ông phó giám đốc, nghe nói trước đây họ cùng một binh chủng. Một bảo vệ và môt văn thư, hai công việc dường như chẳng có liên quan gì với nhau, nhưng một ngày bốn lần vào ra cánh cổng, cũng là bốn lần gật nhẹ chào nhau. Một cử chỉ không phải cũng có ở tất cả mọi người. sở dĩ tôi cẩn thận như thế bởi do bản tính khá phép tắc, lại thêm phải tiếp xúc nhiều, nên cử chỉ ấy ăn sâu thành thói quen, may mà một thói quen tốt. Hơn nữa, từ khi nghe loáng thoáng câu chuyện không đầu không đuôi về nguời đàn ông này, tôi không cảm thấy sự ngại ngùng, e dè, ác cảm, mà còn có một cái gì đó thông cảm, vỗ về trong tâm tưởng. Tôi không tự lý giải được cảm xúc này, nhưng trên gương mặt lúc nào cũng phảng phất nét mặc trầm, và trong đôi mắt vẫn chất chứa một nỗi u hoài nào đó, khiến cho tôi tin đây không phải là người có thể làm việc ác. Vả lại, vướng vào vòng lao lý đâu chỉ có những hành động man rợ mất nhân tính, mà đôi khi còn có nhiều uẩn khúc khác nữa.

Thế rồi đôi ba câu thăm hỏi, chuyện vãn, thi thoảng những nụ cười thiện cảm, trong nhà ngoài ngõ rì rầm “thế thế…chắc là thế”. Buồn cười thế đâý, trong con mắt của một số người, cứ một nam một nữ chuyện trò với nhau vui vẻ là phải có một cái gì đó nhập nhèm. Tôi chẳng thanh minh, chẳng xác nhận, chuyện vu vơ ấy mà. Nhưng rồi tôi rất ngạc nhiên khi một chiều ra cổng, Thắng ngập ngừng, ấp úng :

– Tôi…tôi muốn mời cô đi uống nước, được không ạ ?
Tôi nhướng mày ngạc nhiên, Thắng lại bối rối :
– Là tôi…tôi có việc này ..muốn nhờ cô.
– À, nếu là công việc thì anh cứ nói luôn ở đây đi cũng được.
– Chuyện này …chuyện này không tiện nói ở đây, nếu cô ngại thì thôi vậy.
– Không, không, tôi không ngại gì đâu, thôi được.

Một lời mời đột ngột đương nhiên là làm tôi rất nghĩ ngợi, nhưng thôi đã nhận lời thì cứ đi xem anh ta nói gì, dẫu có là tán tỉnh thì tôi vẫn có chủ kiến của tôi cơ mà. Tôi tuy đã ngoài băm, đã vào cái lứa muộn mằn đường duyên nợ, nhưng tôi không lo lắng vội vã nghe những lời giục giã, tôi nghĩ, nếu có lập gia đình, thì phải là một người mình yêu thương, và ngược lại, chứ không việc gì vì điều tiếng dư luận nọ kia mà phải vớ đại một ai đó, để rồi dìm cuộc đời mình trong bất hạnh. Nói cho đúng ra, lấy chồng muộn đâu phải là cái tội, mà lấy chồng sớm cũng chưa chắc đã là chuyện hay, duyên phận mỗi người mỗi khác, hãy cứ bình tâm mà đợi đến đúng lúc của mình. Đối với Thắng, tôi chỉ nghĩ anh là một người bạn, một người bạn trầm tĩnh, hơn vài ba tuổi, đủ để cho tôi một số kinh nghiệm nào đó, ngoài ra không có thứ cảm xúc nào khác, và nếu anh có suy nghĩ gì, chắc tôi cũng lựa lời cho anh hiểu.

– Có việc gì thì anh cứ nói đi, nếu không ngoài khả năng, tôi sẽ không từ chối đâu.
Tôi lên tiếng giục khi thấy Thắng cứ chần chừ, lúng túng. Hình như việc gì đó khó nói lắm thì phải. Nhưng rồi Thắng cũng phải nói, vì đó là mục đích của cuộc gặp này mà.
– Tôi phải xin lỗi cô trước, nếu việc tôi nhờ có làm cô phật ý.
– Anh yên tâm đi, tôi không phải là người hay chấp nhất những chuyện nhỏ nhặt, cuộc sống ai cũng phải có lúc cần cậy nhờ mà.

Trước khi vào việc chính, Thắng phải uống một hơi hết gần nửa ly cà phê đá chứng tỏ anh đang rất căng thẳng, tôi cũng hồi hộp chờ nghe.

– Tôi muốn…tôi muốn nhờ cô giả làm bạn gái của tôi.
– Cái gì ? Tôi nhảy dựng lên.
– Xin cô hãy bình tĩnh nghe tôi giải thích, nếu nghe xong mà cô vẫn không thể giúp tôi được thì tôi cũng rất cảm ơn cô vì đã bỏ thời gian đến đây.

Thắng cúi mặt như để chuẩn bị, tôi vẫn còn chưa tan hết cảm giác kinh ngạc. Đó là việc mà tôi không thể ngờ tới, nhưng hãy nghe anh ta nói xem thế nào đã. Những ngón tay vẫn vặn vẹo vào nhau. Tôi ngồi yên chờ đợi. Hẳn phải có một lý do gì đó rất đặc biệt, rất nghiêm trọng, và phải là rất cần thiết nữa, thì mới khiến cho một người đàn ông từng tuổi này, đi nhờ một người bạn bình thường như tôi, đúng là bình thường thôi, vì tôi khẳng định, trong giao tiếp hàng ngày tôi chưa hề tỏ ra một dấu hiệu nào khác lạ để anh ta ngộ nhận. Nhưng tại sao Thắng lại chọn tôi chứ ? Chăng lẽ chỉ với một lý do là tôi còn độc thân, chắc không chỉ có thế, vì trong cơ quan tôi, củng có vài chị nữa, cũng suýt soát tuổi tôi, và cũng vì vài lý do nào đó, đang loay hoay với những trăn trở của riêng mình. Thắng bất chợt ngẩng lên nhìn thẳng vào tôi, cái nhìn như biểu lộ tất cả những cố gắng của anh.

– Ba tôi bị ung thư gan giai đoạn cuối rồi, và sự mong ước lớn nhất của ông là được nhìn thấy tôi
lập gia đình, hay chí ít cũng có được một người phụ nữ bên cạnh. Mà tôi thì…hiện tại không thể nào thực hiện được mong muốn của ông, tôi thấy mình có tội với ông quá, nên đành nghĩ ra cách này, xin lỗi, tôi không hề có ý lạm dụng cô.

Một phần thắc mắc được lý giải, nhưng chưa là tất cả.

– Tôi không nghĩ anh lại gặp khó khăn nhiều quá trong việc này, vì trông anh…

Bỏ lửng câu nói khi thấy Thắng nhếch môi trong một cái cười buồn, nhớ đến một vài lời đồn đại, tôi thử thăm dò :

– Nếu không có gì quá lắm, anh có thể cho tôi biết lý do được không ?
– Đây có phải là điều kiện để tôi có hy vọng nhận được sự giúp đỡ của cô không ?

Một chút do dự rồi tôi gật đầu :

– Cho là thế cũng được.

Đôi mắt của người đàn ông chập xuống trong một sự trầm buồn kỳ lạ, thái độ của anh bỗng làm tôi áy náy, hình như tôi vừa làm một điều bât nhẫn thì phải. Tôi ngập ngừng :

– Nếu không tiện thì…
– Không, không sao đâu, tôi sẽ nói, tôi cũng muốn nói ra câu chuyện, dù có thể cô sẽ không tin. Nhưng…

Một khoảng lặng của tâm trạng, Thắng bỗng ngước lên nhìn bầu trời, hôm nay hình như gần đến rằm thì phải, trăng lên sớm và ánh sáng nhẹ nhàng tao khiết phang phác ở từng cao, dưới mặt đất chỉ một vài tia yếu ớt chập choạng giữa những ánh đèn, chỉ có thể nhìn thấy rõ được một vài đốm hiếm hoi sau một vài tán cây khuất bóng đèn điện. Tôi cũng ngước nhìn theo Thắng, khi nhìn lại gương mặt anh, tôi sững sờ, trên hai khóe mắt của người đàn ông kia lóng lánh hai giọt nước. Người đàn ông khóc luôn là chuyện nghiệt ngã, bởi cá tính và cái sĩ diện tối thiểu của họ không cho phép họ có nhiều nước mắt như đàn bà, và một khi họ phải chảy nước mắt, mà lại là những giọt nước mắt trong thinh lặng thế kia, thì có nghĩa trong cõi lòng họ đang tan nát đến vô cùng. Thốt nhiên tôi như bị xơ cứng trong một tư thế, như sợ một chút cử động nhỏ của mình cũng phá hỏng niềm cảm xúc trong một tâm hồn đang thao thiết kia.

Rồi cũng đến lúc Thắng mở miệng :

– Câu chuyện của tôi có lẽ là chuyện duy nhất xảy ra trên cõi đời này. Người ta thường nói “Mối tình đầu là một vết khắc không thể nào quên”. Với tất cả mọi người, thì đó là những kỷ niệm đẹp của sự rung động đầu đời, là sự đánh dấu bước trưởng thành trong mỗi con người, là tất cả những gì đẹp đẽ mới mẻ và trong sáng nhất. Với mối tình của tôi, tôi cũng đã có được những cảm xúc đáng yêu như vậy. Nhưng nghiệt ngã thay, ngoài những điều đẹp đẽ ấy, tôi còn phải nhận lãnh một nỗi đau cùng cực, một sự đau đớn sẽ đeo đẳng tôi suốt cả cuộc đời này.

Anh ngừng lại, cố nuốt một cái gì đó như đang chẹn ngang cổ họng, tôi im lặng, biết rằng có một cái gì đó thực sự thống thiết trong trái tim đang ứa máu kia. Giọng Thắng đã có vẻ bình tĩnh trở lại .

– Ngày đó cô ấy mười tám tuổi, cái tuổi hồn nhiên, trong trẻo và đẹp nhất của cuộc đời một người con gái. Chúng tôi đã gia nhập quân ngũ theo tiếng gọi của đất nước, tôi thuộc sư đoàn bộ binh, còn cô ấy bên quân y. Tuổi trẻ thì dù trong bối cảnh nào cũng có những cuộc sống riêng của nó. Nhất là trong một nơi khô khắc như chiến trường, nơi chỉ có rừng xanh và súng đạn, thì tình yêu là một động lực, và cũng là một điểm tựa hết sức cần thiết cho tinh thần. Tôi và cô ấy yêu nhau mới được mấy tháng, chỉ có mấy tháng thôi, nhưng tình cảm của chúng tôi đã rất gắn bó và nồng đậm. Đùng một cái, có lệnh chuyển một nửa sư đoàn sang trận địa khác, trong số đó có tôi. Quân lệnh không phải là điều mà người ta có thể bàn bạc và thương lượng, chúng tôi chỉ có một đêm cho sự chuẩn bị. Thật ra lính tráng thì có gì phải chuẩn bị nhiều đâu, ngoài một số tư trang và súng ống thì chỉ còn chuyện của trái tim là quan trọng nhất, và cũng là điều khó khăn nhất.

Đêm ấy trăng sáng lắm, hình như chưa bao giờ trăng sáng đến thế, nguyên một vạt rừng thưa cứ dãi dễ trăng là trăng, chúng tôi quý báu từng phút thời gian ít ỏi tôi vừa trò chuyện với cô ấy vừa tranh thủ lau súng. Chung quanh chúng tôi cũng có rất nhiều đồng đội, một số đôi cũng chụm vào nhau trong tình cảm mặn nồng. Chăng ai ngai ngần gì nữa cả, vì chỉ còn một đêm ấy nữa thôi, về sau ai còn ai mất làm sao biết trước được. Hai chúng tôi cũng trong tâm trạng ấy. Chúng tôi nói với nhau rất nhiều, và cô ấy khóc cũng rất nhiều, thế rồi vì không muốn cho tôi quá nặng nề tâm cảm trước lúc chia tay, cô ấy gượng cười, và cố làm cho tôi vui. dưới ánh trăng cô ấy đứng ra vừa hát vừa múa, ngắm nhìn cô ấy quả thật tôi cũng vui lên phần nào. Khẩu súng đã được lau dầu kỹ lưỡng, tôi giương thử vào một khoảng không, bất chợt cô ấy nhảy chắn trước nòng súng, vừa cười vừa nói “Anh thử bắn em xem nào” Tôi cũng dứ dứ đùa khẩu súng, không ngờ đạn đã lên nòng, và một chút bất cẩn của ngón tay tôi…

Thắng ngưng bặt và gục đầu xuống, tôi cũng thảng thốt, trời, sao lại có những việc có thể xẩy ra một cách dễ dàng như thế. Thắng từ từ ngẩng lên, mắt anh giàn giụa nước, anh nói tiếp, nghẹn ngào :

– Tôi cứng người nhìn cô ấy ngã xuống, trong một thoáng, tôi nghĩ cô ấy đang đùa, nhưng tiếng súng đã làm chấn động những người chung quanh, họ xông đến, đỡ cô ấy dậy, nhưng đã không còn kịp cho một biện pháp nào nữa. Khi nhận thức được vấn đề, tôi quay súng vào đầu mình định bóp cò thì có ai đó hất văng ra. Thế rồi tôi bị kết án năm năm tù vì tội vô ý làm chết người, đó là tòa án còn châm chước cho tôi, nếu không mức án còn có thể cao hơn. Nhưng với tôi, tôi cho rằng tôi phải nhận mức án cao nhất mới phải. Có ai như tôi không hở trời ? Tôi đã tự tay bắn chết người tôi yêu.

Thắng lại gục xuống, lần này thì anh khóc đến rung vai. Tôi kéo ghế lại gần anh vỗ về an ủi. Quả thực là một câu chuyện quá đau buồn, một nhà văn giỏi tưởng tượng mấy chắc cũng không tự nghĩ ra được một tình huống xót xa đến thế. Bây giờ thì tôi hiểu vì sao trên gương mặt anh luôn thiếu vắng nụ cười. Tôi không nói được gì để hóa giải bớt tâm trạng cho anh, chỉ biết xoa nhẹ lưng anh, một cách sẻ chia lặng lẽ. Quán cà phê về khuya đã vắng người, chỗ chúng tôi ngồi khuất sau một chậu hoa lớn nên càng yên tĩnh. Cơn xúc động lắng xuống, Thắng ngồi thẳng lên đưa tay lau nước mắt. Tôi cầm tay anh nhẹ giọng :

– Anh cố gắng đi, chuyện cũng đã qua rồi, chắc cô ấy không oán trách gì anh đâu.
– Có thể là cô ấy không oán trách tôi, nhưng tôi thì tự oán trách mình suốt đời. Sau khi ra tù, tôi đã đến mộ cô ấy, và đã nguyện để tang cho cô ấy mười tám năm, tôi phải trả cho cô ấy cái tuổi mười tám thần tiên mà tôi đã cướp đi mất ấy.
– Anh đừng nghĩ mãi như vậy, sẽ không tốt cho anh đâu.
– Với tôi thì tốt hay không cũng có gì là quan trọng nữa đâu.
– Không hẳn thế đâu, anh còn phải sống cho bản thân và cho gia đình nữa chứ.

Câu nói của tôi làm Thắng nhớ đến mục đích chính của cuộc gặp.

– Nhắc tới gia đình, tôi mới nhớ, cũng vì bố tôi mà tôi mới đề nghị cô giúp đỡ một chuyện thế này. Biết chuyện của tôi, trong những năm trước, mọi người cũng khuyên tôi nên nghĩ khác, nhưng lương tâm tôi không thể, hai năm trước là tôi hết hạn mười tám năm tang cô ấy, gia đình lại giục giã tôi chuyện hôn nhân, nhưng nói thật, tôi chẳng còn thiết tha gì nữa. Cứ mỗi đêm trăng sáng, thì hình ảnh cô ấy lại hiện về rõ mồn một như vừa mới hôm qua, tôi không thể nào bôi xóa được, thì làm sao nói chuyện tình cảm với ai khác chứ. Nhưng bất ngờ bố tôi phát hiện ra la bị ung thư gan. Nay đã vào giai đoạn cuối, bác sĩ bảo chỉ còn mấy tháng nữa thôi. Bố tôi bảo, chưa thấy tôi yên ổn chuyện gia đình, thì ông chết cũng không nhắm mắt được. Tôi làm sao để bố tôi ra đi khi trong lòng còn trĩu nặng như thế. Nên tôi mạo muội nhờ cô, xin cô thứ
lỗi nếu tôi có đường đột.

– Không, anh đừng nghĩ thế, sau khi nghe chuyện của anh, tôi rất hiẻu và thông cảm cho anh nhiều. Nhưng cho tôi hỏi : Vì sao anh lại chọn tôi để nhờ chuyện này ?
– Tôi cũng không rõ được là vì sao, nhưng nhìn cô và từng tiếp xúc với cô, tôi có cảm giác cô sẽ nhận lời.
– Nếu tôi không nhận lời thì sao ?
– Thì…thì…

Vẻ thất vọng và buồn bã trên gương mặt đã nhiều đau khổ của Thắng khiến tôi không nỡ kéo dài sự lấp lửng của mình.

– Thôi thôi, tôi nói đùa đấy, đã biết đươc vấn đề của anh như thế mà tôi không giúp anh thì còn ra cái gì.

Thắng tươi nét mặt lên một chút :

– Thế là cô chịu giúp tôi rồi ạ. Cảm ơn cô quá, cảm ơn cô nhiều lắm.

Bước vào nhà Thắng với túi quà trên tay, tôi hơi lo lắng và hồi hộp, liệu tôi có đóng trọn được vai diễn của mìnnh không đây ? vốn dĩ tôi không hay lừa dối ai, kể cả những điều nhỏ nhặt nhất mà giờ phải đi lừa dối một người lớn tuổi, lại là một người sắp chết, tôi thấy bứt rứt thế nào ấy. Thắng đưa mắt cho tôi, vẻ vừa động viên vừa khẩn nài. Tôi khẽ gật đầu và hít sâu một hơi. Ông cụ đang nằm trên giường, thấy có khách vào thì gượng ngồi dậy, tôi vội nói :

– Bác cứ nằm nghỉ đi ạ.

Tay tôi đỡ lấy đầu ông cụ và kê lại cái gối, xong tôi ngồi vào cái ghế mà Thắng vừa mang tới. Ông lão nhướng mày về phía con trai, Thắng ấp úng :

– Thưa bố …đây là …bạn gái của con.

Âm sắc giọng nói rõ ràng là không bình thường, nhưng ông cụ không kịp để ý đến, mà quay sang nắm lấy tay tôi, lập bập :

– Con …con ơi…bác mừng quá.

Tôi ngượng ngùng :

– Dạ con…con có chút quà biếu bác đây ạ.

Ông cụ chống tay cố ngồi dậy, đỡ túi quà tôi trao, ông nhìn tôi, rồi lại mân mê gói quà, đột nhiên ông tỏ ý muốn đi xuống giường, Thắng vội đến bên cạnh :

– Bố, bố cần gì ạ ?

Ông cụ bíu vào tay con để lấy sức, và rồi ông chập choạng bước ra phía bàn thờ, tay cầm theo gói quà của tôi. Tôi ngạc nhiên nhìn theo, Thắng cũng ngạc nhiên cứ hỏi :

– Bố cần gì để con làm cho ạ ?

Ông cụ ra hiệu cho Thắng đốt mấy nén nhang, rồi ông trịnh trọng đặt gói quà của tôi lên bàn thờ, trước ảnh mẹ Thắng, cố đứng cho thẳng, ông cụ cúi đầu khấn vái. Tôi ngây sững người trước những cử chỉ của ông, cảm giác thương cảm lẫn xấu hổ làm tôi thắt lòng, muốn khóc. Trời ơi ! Giá như đây không phải là sự dối trá. Thắng nhìn tôi với vẻ đau đớn, anh bặm môi cố ngăn niềm xúc cảm. Nếu không cố gắng lắm thì tôi đã bỏ chạy, để khỏi chứng kiến một cảnh đau lòng vì tính chất không minh bạch của nó. Cảm giác hổ thẹn vì sự dối trá như tăng lên gấp nhiều lần. Tâm trạng tội lỗi khiến tôi càng lúng túng hơn khi Thắng dìu ông cụ trở lại giường, một lần nữa anh lại ánh sang tôi cái nhìn van vỉ. Tôi cố gắng, cố gắng khoả lấp bằng một vài câu thăm hỏi bệnh tình ông cụ. Và khi tìm được cách cáo từ, tôi đi như chạy ra khỏi nhà. Thắng tiễn tôi với gương mặt buồn rười rượi, anh cũng không dễ dàng gì trong việc này.

– Tôi xin lỗi vì đã lôi cô vào chuyện này.
– Thôi anh vào với bác đi, cố đừng để bác nghi ngờ, ta gặp lại nhau sau nhé.

Tôi không thể nào ngủ được với những hình ảnh lúc ban ngày, tâm trạng của một kẻ có tội rất khó chịu, bỗng nhiên tôi đọc rõ hơn tâm trạng của Thắng trong việc sơ sẩy của anh. Tôi càng hiểu rõ hơn nỗi ân hận, thương tiếc, và sự ám ảnh trong anh nặng nề đến thế nào. Trong khi tôi chỉ với một sự dối trá bắt buộc, một sự dối rá chân chính mà còn khó khăn thế này, thì với Thắng, bước qua được sự việc không khác gì phải trèo qua một dãy núi.

Nhưng dù có thế nào thì cả hai chúng tôi vẫn phải tiếp tục sự lừa dối ấy, bởi vì nếu không thế thì lại càng tồi tệ hơn. Cho đến một ngày, Thắng hốt hoảng tìm tôi:

– Ba tôi chắc sắp đi rồi Phương ạ .

Tôi lật đật bỏ công việc chạy đến, ông cụ đang trong những giờ phút cuối cùng, thấy tôi đến, nét mặt ông giãn ra như đã từng trông đợi lắm. Ông vẫy nhẹ mấy ngón tay gọi tôi. Tôi đến bên cạnh, nắm lấy bàn tay xương xẩu đang lạnh dần của ông, ông cố bóp tay tôi, phều phào :

– Con …con hãy..thương nó nhiều…nó bất hạnh…lắm rồi…

Tôi bật khóc, không thể nói lên một lời hứa hẹn. Thắng cũng đã đến bên cạnh, ông cụ cầm tay hai chúng tôi đặt vào nhau và mỉm cười. Thế rồi ông ra đi, nhẹ nhàng thanh thản. Tôi khóc ông, đau xót như khóc một người cha thực sự. Trong thâm tâm, tôi thầm hứa với ông, nếu tôi xóa được nỗi ám ảnh sâu nặng trong lòng Thắng, thì sự lừa dối hôm nay không phải là sự lừa dối hoàn toàn.

Nhìn Thắng phủ phục bên mộ cha, tôi không sao chịu đựng nổi. Quả thực là anh có nhiều bất hạnh quá, con người ta nếu có phải chịu nỗi bất hạnh này thì sẽ được đền bù bằng một hạnh phúc khác. Liệu anh có được đền bù khi đã phải chịu đựng quá nhiều như vậy không ? tôi ngước lên trời “Hỡi người con gái bạc mệnh xa xưa kia. Nếu cô còn yêu anh ấy, và nếu cô đã tha thứ cho anh ấy, thì xin hãy giúp tôi, giúp tôi tìm được phương thuốc hiệu nghiệm để chữa lành vết thương cho anh ấy, dẫu chỉ một phần. Tôi không lấy hết anh ấy của cô đâu, anh ấy sẽ còn là một nửa của cô với những êm đềm đẹp đẽ của năm tháng ấy, nhưng xin đừng dằn vặt, đừng bắt anh ấy phải ôm mãi nỗi khổ đau trong lòng, cuộc đời anh ấy ít ra cũng phải có được một chút gì dó để sống chứ. Cô có nghe tôi nói không ? Hỡi người con gái của vầng trăng hôm nào !”

Chiều tàn trên nghĩa trang, những con gió se se thổi luồng buốt lạnh, những nụ hoa trắng dỏ, vàng tím loe hoe không át nổi cảnh đìu hiu chốn ngàn thu viễn mộng. Tôi đến bên anh, đỡ anh đứng dậy, díu anh từng bước chập chừng trên con đường lục xục sỏi đá. Một đàn chim về tổ, thả những tiếng ríu ran hiền hòa giữa thinh không.

Đàm Lan

Viết Cho Dã Quỳ

(…nhưng em nói dã quỳ vào mùa nào/ mùa
đông/ đúng rồi mùa hoa/ uh cây non mọc lên
nở hoa và tàn rụi trong vòng một năm…)

1.

Từ tàn rụi nụ mầm vươn lên vào lúc không ai còn nhớ (sự lãng quên luôn thường trực trong tâm trí con người) những mầm xanh không như lá cỏ mà được xem như lá cỏ cứ khuất lấp trong ngăn ngắt rậm rạp cứ lặng lẽ bên vệ đường trước thềm nhà khắp chân đồi (giờ đồi hoang cũng không còn nhiều vì loài người sinh sôi nẩy nở bung chiếm còn nhanh hơn cả cỏ cây)

Rồi những chiếc lá hình bàn tay xoè ra run rẩy hân hoan trong mưa bụi (dường như tất cả hạnh ngộ thuở ban sơ đều như vậy) mưa càng dấm dứt đất càng đỏ ứ cây lá càng xanh non tươi rờn rợn mưa mưa mưa mưa nước nuôi dưỡng sự sống bằng những ngập tràn thấm sâu dịu nhẹ (cũng có khi lắm khi hung tợn trào dâng) mưa mưa mưa mưa dã quỳ theo mưa mà lớn

Đó là cách tồn tại cổ xưa nguyên thuỷ nhất tồn tại theo bầy đàn mỗi đơn lẻ là một trong nhiều trong những của cộng đồng mỗi đơn lẻ tưởng như giống nhau về hình thể về tính cách về thân phận đứng bên nhau làm nên thế giới (tưởng công bằng bình đẳng) hướng về ánh sáng hướng về bầu trời mà ngờm ngợp mà mải miết mà vươn cao mà xoè tay mà ươm nụ mà hồn nhiên mà chờ đợi


2.

Có xứ sở chọn khắc nghiệt làm tính cách đặc thù (không chừng mực không điều độ không sắc màu trung tính) xứ sở dã quỳ không có mùa thu không có mùa xuân (chỉ hai mùa mưa nắng) xứ sở buồn muôn thuở bụi mù trời (bụi lừng lững đi lừng lững dựng từng cột đỏ trên những con đường mòn vắng vẻ khô khát) tháng mười hai lạnh lẽo khô ngùn ngụt nắng là tín hiệu để dã quỳ mở bung.

Đó là không gian mênh mông (đồi nối tiếp đồi thung lũng kéo dài thung lũng) là cuồng nộ gió (gió như đoàn chiến mã ràn rạt lao qua không cần biết sẽ về đâu không cần biết gì đang đón đợi cứ phía trước mà phi mà lồng lộn sải vó) là bướm hoang là ong rừng là bước chân bồn chồn của những người đàn bà luôn mơ những giấc mơ bất ổn

Là dã quỳ tồn tại như một dâng hiến không cần lý do

3.

Dã quỳ dã quỳ dã quỳ cứ vàng mơ vàng tươi vàng xuộm vàng cháy cứ rừng rực mê đắm miên man trên nền xanh của lá nền đỏ của đất bazan cứ tạo nên những đối cực nhức nhối xốn xang đôi khi khó chấp nhận trong mắt người không chờ đợi không khát khao không hoài vọng dã quỳ (dường như) hồn nhiên bung nở hồn nhiên toả hương hồn nhiên vàng vào nắng vào sương vào bụi đỏ hồn nhiên làm mặt trời thắp nắng trong hoang lạnh hồn nhiên làm nên linh cảm bất an mùa xao xác

Đã có những ngợi ca đã có những cười cợt đã có những rắp ranh đòi chia sẻ đã có những dự tính can thiệp riêng tư dã quỳ (dường như) vô tâm (dường như) ngoài cuộc cứ vàng cho hết đời sống mình (vì đó chính là mình) rồi rời rã rũ rượi trong gió đông rồi khô đi nâu sẫm trên những cành nhánh trụi trơ rồi khuất lấp rồi biến tan

Mùa đã khô ngày đã không còn hoang hoải gió
dã quỳ bình thản đợi hồi sinh

4.

Những người đàn bà mang giấc mơ bất ổn chôn trên sườn đồi đêm đêm chờ mưa chờ quên lãng nghe trong tiếng sấm khắc khoải có niềm âu lo rồi đồi hoang sẽ không còn là đồi hoang nữa

Đinh thị Như Thúy

Đêm thánh vô cùng

Đêm đông lạnh giá. Trong căn nhà ấm áp, người mẹ trẻ thủ thỉ với đứa bé mắt xoe tròn: Đố con, trời lạnh buốt như vầy làm sao những con thú trong rừng ngủ được?

Khi con lớn hơn một chút. Đêm đông giá lạnh, mẹ lại hỏi: Đố con, trời lạnh buốt như vầy, những người không nhà làm sao đỡ rét?

Con lớn hơn chút nữa, mẹ và con không nằm trong chăn ấm đố nhau nữa, mà đi ra đường. Noel, khi chuông giáo đường vang ngân trong tiếng nhạc Silent Night, là lúc đôi mẹ con phố núi, như những ông già Noel bên trời Tây, đem từng gói áo ấm to sụ như áo mình đang mặc tặng những kẻ bơ vơ, co ro nép mình bên góc chợ.

Từng tháng, từng năm, hạt giống hướng thiện mẹ gieo vào lòng con cứ lặng lẽ đâm chồi nẩy lộc, như đức bác ái Thiên Chúa gieo vào lòng con chiên qua Thánh lễ Misa. Mỗi khi hoa dã quỳ nở vàng rực trên lối vắng, mỗi người con ấy lại nhớ mùa đông đã về, không quên cuộc sống còn biết bao mảnh đời bất hạnh đang cần lắm dù chỉ một tấm áo, một chút tình chia sẻ yêu thương.

Để rồi chiều nay, văn phòng báo Tiền Phong nơi tôi đang làm việc, chuông điện thoại liên tục đổ. Người nói, người nghe thảy đều nghẹn ngào xúc động. Chuyện một Tổ ấm ở tận một xã vùng sâu tỉnh Kon Tum của các soeur dòng Ảnh Vảy đang nuôi dưỡng hàng trăm người già và trẻ mồ côi đang vô cùng khó khăn, do cơn bão số 11 vừa qua cuốn trôi nương rẫy hoa màu vừa đăng trên báo, đang tạo chuỗi hiệu ứng tích cực trong nhiều bạn đọc giàu lòng nhân ái. Nhiều người đã gọi trực tiếp cho soeur Liên qua số điện thoại đăng kèm bài, tâm tình cùng vị nữ tu người Bơhnar nhân từ mà quá đỗi mộc mạc chơn chất, rơi lệ tự hỏi sao họ chưa từng biết đến tấm lòng hy sinh cao cả mà lặng thầm đến như vậy?

Một nữ tiến sĩ đang công tác ở Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương cho biết tuần tới trong chuyến công tác vào Gia Lai, chị sẽ tìm đến tận Tổ ấm để chuyển những phần quà nhỏ do đồng nghiệp chị quyên góp. Vợ chồng giáo sư Chu Đình Thúy phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký hội Vật lý Việt Nam tuy đang gặp khó khăn về chuyện nhà đất, cũng bàn nhau giành hết phần lương hưu trong tháng mua áo phông và chuyển một khoản tiền góp vào bữa cơm ngày tết năm mới cho Tổ ấm. Và nhiều nữa, những con người nhiệt tâm không nề hà gian khó, đã cùng báo Tiền Phong giúp đỡ bao cảnh nghèo mà báo đã phát lời kêu gọi giúp đỡ trong mùa đông này, chỉ mong san sẻ được phần nào hơi ấm tình thương.

Trong đoàn độc giả thiện nguyện cùng báo Tiền Phong vừa đi tặng quà cho học sinh nghèo vượt khó nhân dịp Noel 2009, có một phụ nữ lớn tuổi được mọi người trân trọng gọi là Mẹ Simon. Vóc dáng bé nhỏ, áo sờn vai, dép mòn vẹt, trông bà chẳng khác gì người làm thuê lam lũ. Thế nhưng ít ai ngờ suốt nhiều năm qua ở tuổi ngoài bảy mươi, mẹ Simon vẫn chạy sô dạy Anh văn cho đủ mọi lứa tuổi, trong đó ngoài những khóa dạy miễn phí cho trẻ em nghèo, bao nhiêu học phí thu được mẹ dành cả để nuôi một nhóm trẻ vô gia đình, và nuôi cả những cô gái sa cơ lỡ bước vào bệnh viện toan phá thai mà bà đã thuyết phục đón về, nuôi dưỡng tới khi mẹ tròn con vuông …

Noel đang đến trong lời cầu nguyện vinh danh Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm! Nhưng từ khi Noel chưa đến trong chúng tôi, những đứa bé theo mẹ ra đường đêm đông năm nào, đã tràn ngập phúc lành nhờ soeur Liên, mẹ Simon, và nhiều độc giả nhân ái chưa từng được gặp mặt, chỉ nghe qua điện thoại đã rơi nước mắt bởi tình người chan chứa. Từ lâu rồi Noel không còn là Đêm Thánh của riêng Giáo dân, mà đã thành đêm hội chung của những trái tim rộng mở chào đón tin lành và mong ước tình thương sẽ ngự trị khắp thế gian. Như giai điệu bất hủ của những bài thánh ca như Jingle Bells của mục sư người Mỹ James Pierpoint, Silent Night của linh mục người Áo Joseph Mohr đã vượt thời gian, không gian và cả sự khác biệt về chủng tộc để được hát bởi hàng tỉ người không phân chia tôn giáo. Mong sao tinh thần tốt đẹp của mùa Giáng sinh này sẽ tràn ngập năm thánh 2010, như lời W.T. Ellis : Chính Giáng Sinh trong trái tim mình đã khiến Giáng Sinh lan tỏa nơi nơi.

Hoàng Thiên Nga

Thánh đường xưa

Ba năm, nhưng tưởng như lâu lắm rồi Nghi mới trở về quê ngoại. Lại đúng vào dịp Noel. Cô thức dậy vào buổi ban mai, nằm thật lâu trong giường để lắng nghe tiếng chim hót trong những vòm cây quanh vườn, tiếng gầu nước khua vào thành giếng, tiếng ai đó đổ nước vào thùng, và tiếng quét lá…

Ngoại cô thường có thói quen quét lá mỗi buổi sáng. Khi cây cỏ ngoài vườn còn ướt sương, khi những tia nắng đầu tiên chỉ vừa lướt trên những ngọn cây xa tít, nhuộm một màu vàng óng ánh, rất dịu . Bà dồn lá thành một đống to ở góc vườn rồi châm lửa đốt. Lá khô cháy giòn và lá tươi nổ lép bép. Có những loại lá mà bọn trẻ con gọi là lá nổ, Nghi thường hái bỏ vào lửa, thích thú nhìn chúng nổ tanh tách và phồng rộp lên như cái bánh đa nướng. Cô đã sống những ngày tháng đẹp nhất của mình ở nơi này, một xứ đạo hiền hoà và bình yên . Cô đã trải qua một tuổi thơ trong trẻo và thánh thiện, một mối tình đầu cũng trong trẻo và thánh thiện như thế. Bởi vậy mà mỗi lúc nhớ về quê ngoại, nhớ tuổi thơ là Nghi lại nhớ Đông, nhớ đến da diết. Suốt ba năm đại học, cô chỉ chăm chú vào sách vở, và không động rung trước bất kỳ ai, mặc dù không hẳn là vì Đông, hoặc ít ra cô cũng tin rằng không phải vì anh. Cách đây không lâu cô đã nghe ai đó nói rằng anh vừa làm lễ tuyên thệ, cô có cảm giác lạ lẫm và cố hình dung ra anh trong chiếc áo chùng đen. Cô nhớ mình đã từng nói với Đông rằng cô muốn anh trở thành một nghệ sĩ chơi piano trong nhà hát lớn chứ không phải là một thầy tu chơi đàn ở nhà thờ. Cô luôn nhớ đôi bàn tay mảnh và dài của anh lướt trên những phím đàn tài hoa như thế nào.Và cô nhớ, nhớ mãi cái ngày bà ngoại mất, Đông đứng bên cạnh tháp chuông chờ cô đi lễ ra để ôm choàng cô vào lòng và nói:

-Em phải khóc đi Nghi, tại sao trong đám tang em không khóc.

Và cô đã khóc, khóc mãi trong vòng tay Đông, không một chút e thẹn, ngượng ngùng, chỉ thấy nhẹ lòng vì biết mình được yêu thương và thấu hiểu. Nhưng từ ngày vào thành phố, Nghi đã luôn biết rằng Đông là ký ức, là một mối tình đã qua, nếu như cô có thể gọi đó là một mối tình…

*

Anh lớn hơn cô vài tuổi. Và là một tu sinh. Sinh ra trong một gia đình ngoan đạo nên ngay từ bé, anh đã biết chắc rằng mình sẽ trở thành tu sĩ.

Còn cô chỉ là một cô bé con gầy gò và lặng lẽ, hát trong ca đoàn của giáo xứ. Bố mẹ cô đều sống ở thành phố, còn cô thì sống với bà ngoại ở giáo xứ yên lành này từ lúc bé xíu. Thỉnh thoảng, bà ngoại lại bảo cô mang lên nhà thờ cho cha xứ những món ăn ngon. Anh thường đàn cho ca đoàn của cô trong những buổi lễ chủ nhật dành cho thiếu nhi. Cô không phải là người hát hay nhất, cũng không phải là cô bé xinh xắn nhất, nhưng anh thương mến cô vì cô rất hiền lành.

Cho đến buổi lễ Giáng sinh năm cô tròn 16 tuổi. Khi ngồi vào đàn, anh gần như không nhận ra là cô đứng ngay bên cạnh, trong chiếc áo dài trắng mềm mại và tinh khôi. Đó là lần đầu tiên anh thấy cô mang áo dài, cũng là lần đầu tiên anh nhận ra rằng cô đã trở thành một thếu nữ xinh đẹp. Nhìn nghiêng, gương mặt cô có nét gì đó thật thanh cao và thánh thiện, đôi mắt đen trong veo luôn nhìn thẳng về phía trước. Khi hát, chiếc cổ mảnh mai của cô ngước lên duyên dáng như một con thiên nga trắng: “cao cung lên,khúc nhạc thiên thần xuống…”Và trong một thoáng anh nhận ra rằng anh đã quên mất mình đang ở trong nhà thờ, anh cứ ngỡ như anh chỉ đang đàn cho mỗi một mình cô hát, và anh cũng chỉ nghe có mỗi tiếng hát của cô mà thôi…

Và từ đó, anh để ý đến cô, một điều tự nhiên hơn tất cả mọi điều có thể xảy ra trên thế gian này. Và anh yêu cô, mặc dù anh tin rằng mình chưa bao giờ tỏ lộ cho ai biết, kể cả cô. Anh thấy mình sung sướng khi nghe bạn bè cô kể rằng ở trường, cô là một lớp trưởng rất được nể nang vì học giỏi và năng nổ. Anh thích nhìn ngắm cô cười nói giòn giã với bạn bè, và vô cùng hạnh phúc mỗi khi cô ngừng lại và ý nhị nhìn về phía anh với ánh mắt vừa táo bạo vừa thẹn thùng một cách dễ thương. Mỗi khi tan lễ, cô thường quỳ lại rất lâu và luôn là người ra về sau cùng. Anh đợi cô bên cạnh tháp chuông, chỉ để im lặng trao cho cô một gói kẹo nhỏ, một chùm ổi, hay chùm mận hái từ khu vườn của nhà thờ. Đôi khi, chỉ để hỏi :

-Hôm nay em có vui không?

Và nghe cô thì thầm :

-Dạ có.

Trong những buổi lễ, cô luôn tìm cách đứng ngay bên cạnh chiếc đàn dương cầm, và thỉnh thoảng anh lại mỉm cười với cô, sung sướng khi thấy đôi mắt cô long lanh và đôi môi cô mím lại để cố giấu nụ cười. Không ai biết điều đó, chỉ có anh và cô.

Đôi lúc, trong những giờ đọc kinh tối hoặc sáng, anh bỗng nhớ đến cô và thầm nghĩ : “Mình không muốn trở thành một linh mục nữa, mình sẽ nói với cha xứ là mình không thể trở thành linh mục được”. Nhưng chỉ nghĩ đến thế thôi anh đã thấy hoảng sợ. Anh đã sống với vị cha xứ nghiêm khắc này từ lúc còn là một cậu bé lớp hai. Ông đã nuôi anh ăn học và tất cả mọi người trong gia đình đều tin chắc rằng anh không thể trở thành một cái gì khác ngoài một tu sĩ. Anh đã quen với những việc của nhà thờ, quen kéo chuông trước giờ lễ, quen với việc đèn đóm, âm thanh, đàn hát. Quen cả với kiểu sống trầm mặc và cô độc của một người tu hành, lủi thủi trong căn phòng nhỏ và đọc kinh rất nhiều lần trong ngày. Anh không thể dẫm đạp lên tất cả , chỉ vì cô. Anh không thể tưởng tượng được cô sẽ mang đến cho anh điều gì nhiều hơn thứ tình cảm trong sáng và vô hại ấy, thứ tình cảm mập mờ giữa tình yêu trai gái và tình anh em. Và gần như một sự ngây thơ, anh vẫn nghĩ cô là của riêng mình, và sẽ không bao giờ thuộc về ai khác.

Một buổi trưa tháng sáu, nắng đổ chói chang. Anh vừa về đến nhà thờ thì đã thấy cô chờ anh bên cạnh tháp chuông.Cô nhìn anh bằng đôi mắt long lanh chực khóc, và đôi má rám hồng lên vì nắng :

-Em lên xin cha xứ nghỉ hát ở ca đoàn, em phải vào Sài Gòn để thi Đại học. Có lẽ em không về đây nữa.

Anh đứng lặng, buông xuôi tay theo thân mình. Lòng xáo động dữ dội nhưng thừa biết mình sẽ không thể làm gì để giữ cô lại.

-Khi nào em đi?

-Chiều nay.

-Chiều nay ?

Anh tự hỏi, cô nhìn anh như thế nghĩa là gì. Cô chờ đợi anh điều gì, chờ đợi anh một lời thổ lộ hay hứa hẹn mà anh không thể nào thốt ra được chăng. Nhưng cô chỉ lắc đầu nhè nhẹ rồi nói :

-Anh ở lại mạnh khoẻ.

Anh gật đầu và cô quay lưng đi. Anh chợt thấy lòng mình trống hoác.

-Nghi !

Cô quay lại, nhìn anh điềm tĩnh đến lạ lùng, giống như cô đã biết chắc anh sẽ gọi cô, thậm chí biết chắc sẽ nói gì:

-Em…cố gắng học giỏi nhé !

Cô mỉm cười nhè nhẹ, rồi lại gật đầu và quay đi. Anh đâu cần phải dặn cô như vậy, anh biết chứ. Anh luôn luôn biết rằng cô sẽ là một sinh viên giỏi, cô sẽ làm được điều cô muốn và sẽ trở thành một cái gì đó trong đời, mạnh mẽ và không bao giờ khuất phục. Một cái gì đó, khác anh.

Từ khi Nghi đi, anh thấy mình trở nên trống rỗng và vô vị, nhưng anh chấp nhận sự vô vị đó và gọi nó là “sự bình yên”. Anh tiếp tục đàn cho ca đoàn hát, tiếp tục học tiếng Latinh, học thần học, học ngoại ngữ và âm nhạc ở chủng viện. Rồi hai năm sau, anh chính thức khoác lên người chiếc áo chùng đen và đợi thời gian thử thách để trở thành linh mục.Thỉnh thoảng, anh vẫn nghe một vài người nhắc đến Nghi, nhưng anh tin rằng cô như một cơn bão đã đi xa,và lòng anh phẳng lặng trở lại. Anh nghĩ rằng mình đã không nhớ mong Nghi trong chừng ấy năm tháng, không momg muốn gặp lại cô dù rằng anh vẫn dành cho cô một lời cầu nguyện mỗi đêm. Điều đó có nghĩa là Nghi sẽ không bao giờ khuấy động tâm hồn anh được nữa. Anh vẫn tưởng như thế, cho đến một ngày, tiếng chuông Giáng Sinh lại ngân lên binh boong và Nghi trở về…

*

Đông đứng ngay trước mặt Nghi và vẫn còn kinh ngạc. Từ ngày anh mặc áo chùng, tất cả mọi người đều gọi anh là “thầy”, nhưng anh không hề cảm thấy bất bình khi Nghi vẫn gọi anh là “Anh!”. Dường như trong thâm tâm, anh chưa bao giờ nghĩ rằng Nghi có thể gọi anh khác đi được. Trong bóng tối, Nghi đẹp một cách kỳ lạ. Đôi mắt trong như không có đáy, cái miệng, và cái cánh mũi hếch lên bướng bỉnh của cô vẫn quen thuộc với anh như thể cô chưa bao giờ xa anh lâu đến vậy. Đông ngửi thấy mùi chanh thoang thoảng từ mái tóc Nghi, có thể, từ đôi môi của cô nữa. Một cách hoàn toàn vô thức, anh đưa tay sờ lên mặt cô, dường như để nhận xem có đúng là cô hay không, hay để chứng thực rằng cô đang thật sự hiện hữu :

-Em vẫn đẹp lắm !

Nghi mỉm cười và anh thấy bàng hoàng cả người, bàng hoàng vì những lời mình vừa thốt ra, bàng hoàng vì anh đã không hề chờ đợi được gặp lại cô, và còn bàng hoàng vì những tình cảm không lường được đang trỗi dậy mạnh mẽ trong anh. Nếu ngày xưa đối với anh cô là một thiên thần tinh khôi thì bây giờ cô là niềm khát khao chực bùng cháy, chực huỷ hoại tất cả mọi thứ. Và Đông biết rõ, chỉ dấn thêm một bước nữa thôi thì cô sẽ là sự lầm lạc của anh, là nỗi ô nhục của gia đình anh, và của tất cả những giáo dân ngoan đạo xứ này.

Nghi ngước mắt lên, và thấy đôi mắt Đông nhìn cô đăm đắm xuyên qua màn đêm, nửa khao khát, nửa sợ hãi. Bỗng dưng, Nghi muốn oà khóc, cô biết Đông không thể vứt bỏ tất cả để ôm choàng lấy cô. Trong bóng tối, cái cổ cồn của chiếc áo tu sĩ nổi rõ lên màu trắng toát, trắng đến đáng sợ. Nó như một nhát dao đâm mạnh vào tim cô. Cô vừa thấy mình tội lỗi, vừa nguyền rủa sự hèn nhát của cô, và cả của anh. Bởi cô bỗng nhận ra mình yêu anh, vẫn yêu anh từ ngày xưa cho đến tận bây giờ, bất kể ba năm trời không gặp, bất kể chiếc áo chùng đen mà anh đang khoác trên người. cô muốn gục đầu vào ngực anh và kể cho anh nghe cô đã nhớ anh như thế nào, rằng cô đã thèm khát có được sự vững chãi và dịu dàng của anh bên cạnh như thế nào. Rồi Nghi ước gì Đông đừng nhìn cô nồng nàn như thế. Cô lại ước có ai đó đến gần họ ngay lúc này để anh rời xa cô ra. Đông sẽ trở thành linh mục, điều đó là không thể thay đổi, không bao giờ thay đổi được. Nghi biết rằng Đông hiến dâng cuộc đời mình cho việc tu hành không chỉ vì niềm tin, mà còn vì niềm tự hào của gia đình, vì bổn phận và cả vì những tham vọng của bản thân anh. Đó là một con đường đã được vạch sẵn và Đông chưa bao giờ bước chệch khỏi con đường đó.

Có tiếng chuông đồng hồ điểm mười tiếng, chậm rãi. Đông bất giác lùi lại:

– Sắp lễ rồi.

– Phải, sắp lễ rồi.

– Em vào nhà thờ chứ?

– Em không biết.

Đông quay nhìn vào bên trong, ngần ngừ:

– Anh phải đàn cho ca đoàn hát thanh ca.

– Em biết.

Đông cầm lấy bàn tay nhỏ nhắn của cô và lắc khẽ:

– Có lẽ…anh vào trước, em vào sau nhé!

Nghi gật đầu nhè nhẹ, nhìn Đông đi như chạy về phía cửa nhà thờ , cô nghe như có cái gì đổ vỡ trong lòng mình. Đó là lúc cô nhận ra rằng Đông sợ mọi người nhìn thấy. Nhưng không thể trách anh được. không thể trách được. đời người ta vẫn khổ sở bởi những khát khao bị kìm nén. Có lẽ, cô là phần yếu đuối nhất của tâm hồn Đông. Cô chầm chậm bước ra khỏi cổng giáo đường. Đêm lạnh. Và gió thổi vi vút. Đêm Giáng sinh thường mang đến cho Nghi một cảm giác lạ kỳ, vừa ấm áp, vừa trống trải. Nghi thoáng nghe tiếng dương cầm vang lên điệu nhạc quen thuộc “ Cao cung lên, khúc nhạc thiên thần xuống, hoà trong làn gió, nhè nhẹ vấn vương…Ôi linh thiêng…”. Sau lưng cô, tháp chuông bắt đầu ngân lên từng tiếng bing…boong…trong trẻo. Ngay lúc này, Nghi biết mình phải đi xa, xa thật xa, trứơc khi cô có ý định lôi kéo Đông, hay cám dỗ anh.

Mối tình đầu cũng giống như tiếng chuông vậy. Nó đã qua rồi dẫu ta vẫn nghe như những âm vang của nó còn đọng mãi. Không ai có thể tìm lại một tiếng chuông, cũng không ai nên cố tìm cách giữ lại một tiếng chuông. Hãy để những cơn gió nguyên sơ mang thanh âm ấy đi x. Nếu không thể tạo nên một điều gì tốt đẹp hơn hiện tại, thì cũng đừng nên phá vỡ hiện tại. Có một thánh đường trong tim anh, tim cô, và những gì cất giấu bên trong đó là thiêng liêng. Nhưng những tham vọng, những bổn phận, cũng như nỗi sợ hãi trước nhân gian bắt họ dừng lại.

Đêm thánh vô cùng, và cánh cửa thánh đường xưa đã khép. Cô chỉ ước một điều, ước gì, nó đừng trở nên hoang phế với thời gian.

Đông Vy

Thư cho bạn

    Gửi Cường của tôi


Lại một mùa giáng sinh nữa lại về. Bao nhiêu mùa đông rồi đi qua đời ta. Mưa rơi và gió lạnh. Song lòng ta vẫn là một mùa ấm áp, mùa Thiên Chúa vào đời, Chúa giáng sinh đêm nay mừng vui tiếng hát vang nơi nơi…

Đất nước bao cuộc thăng trầm, đời người mấy lần dâu bể. Duy một trông chờ không chịu thăng trầm, không chịu bể dâu, chờ một mùa đông cho lòng ấm lại. Ấy cái niềm tin đơn sơ để lòng an bình mừng đón Chúa:

Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao
Bình an dưới thế ân trạch cho loài người.

Bạn dấu yêu! Giờ ở đất Sài thành xa xôi, mệt phờ long đong thân cầu thực, ngày 24 tháng 12 bạn có khép nép mừng Chúa giáng sinh ở một góc giáo đường lộng lẫy?

Mùa Noel cũng là mùa của ta, của bạn, của những kỉ niệm tuổi thơ. Đôi ta như hai cây thông non trồng bên máng cỏ.. Ta rất yêu giọng bạn đọc thi ca trong trẻo, trong như lòng thành con trẻ kính dâng:

Chúng con muốn tình yêu không vị kỉ
Tình yêu không gò bó bởi hư danh
Tình yêu không bị vật chất dỗ dành
Con nhận lãnh từ tình yêu cứu Chúa.

Giáng sinh năm nào ta bạn tung tăng, giáo đường chật không chứa nổi tâm tình con trẻ. Bữa cơm chung những tháng năm còn nghèo còn đói, mình nhường cho nhau một lát thịt quay với một mẩu bánh mì. Ôi giáo đường ấm áp hoang sơ.

Từ bao giờ ta đã đi qua mấy mươi mùa đông, giáo đường chừ khang trang bề thế, đêm Noel đèn điện khoe màu sang trọng mà nhớ hoài ổ rơm ngày xưa. Chờ đêm giáng sinh, mình đi chặt lá đùng đình kết vòng trang trí, những chiếc bong bóng thổi to thổi nhỏ làm những quả thông màu, đơn sơ như máng cỏ. Mình vừa mải mê việc làm vừa rộn ràng ca hát “ nơi hang Bê Lem con quỳ thiết tha, xin Chúa nhân hiền xuống ơn chan hòa”.

Bạn ơi! Ta đã lớn lên bằng niềm tin đơn sơ như thế đó, và bằng niềm tin, ta làm người thành thật, thanh thản chấp nhận những thua thiệt ở đời như một chợp mắt trần thế, mà có hề chi, Thiên Chúa từng rời bỏ nước Trời!

Bạn ơi! Giáng sinh này nữa đã là bốn mươi bốn mùa đông. Lòng ta se một chút giá băng khi nhớ người bạn cũ. Nhớ một mùa đông xa bạn ốm đau, ta đã đọc thư bạn trong chan hòa nước mắt: Ái ơi, giá mà có Ái ở bên mình!

Rồi từ đó trong mùa ấm áp lòng khôn nguôi trống vắng là từ buổi hai ta lớn khôn vào đời. Giã từ ấu thơ, giã từ niềm vui tuổi nhỏ. Mỗi một tháng ngày là một dần xa ngày xưa dấu ái.

Ngày tập tễnh làm người lớn, cô bé nào dắt ta xa bạn.
Ngày tập tễnh làm người lớn, cô bé nào dấu bạn khỏi mắt ta.
Chao ôi! Mỗi một kiếm tìm là mỗi một đánh rơi!

Yêu dấu! Giờ mình đã là cha của những đứa con. Hãy nhớ và truyền cho con trẻ niềm tin và tình yêu thuở nhỏ. Trong vườn hồn ngút ngái của ta có một thửa đất mang tên bạn. Mong sao con ta cũng tìm được trong đức tin mình một tình bạn như ta.

Bạn yêu, ta gửi tặng bạn tấm thiệp giáng sinh thật đẹp, những chú mục đồng nơi hang Bết Lê Hem. Bạn tìm thử xem gương mặt nào là của ta, của bạn?

Nguyễn Tấn Ái

Không phải là hoa

Tôi đưa tay xé một tờ lịch, bất chợt nghe một cảm giác pha lẫn một chút sững sờ, một chút bàng hoàng và cả một chút xót xa thương cảm lặng thầm. Tờ lịch mang những con số « 18-4 », và một hàng chữ đậm rõ nét “Ngày Người Khuyết Tật”

Nhà tôi có một nhà giáo, một bác sĩ, một doanh nhân và một quân nhân. Đó là một vài trong số những nghành nghiệp đã được xã hội dành hẳn cho một ngày riêng biệt để tôn vinh. Vào những ngày đó, không khí trong gia đình, cũng như không khí ngoài xã hội, có một chút đổi thay. Đó là những nụ hoa, những món quà trong lớp giấy đẹp, những lời chúc tốt lành, và cả những bữa tiệc hoan hỉ, vui say. Những nhân vật của những ngày ấy trông mới xinh tươi, hồ hởi, sung sướng và hãnh diện làm sao. Chính tôi cũng đã nhiều lần hòa cùng cuôc vui trong bầu không khí thân thương ấy, cũng đã tự tay đi chọn những bông hoa đẹp nhất, cũng đã trù bị trong đầu nhưng lời chúc mừng hay nhất, và cũng tự tay nấu những món ăn ngon nhất, để góp một chút vui của mình trong sự tôn vinh chung của người người, và cũng là để đem đến cho những người ấy chí ít là một nụ cười thỏa mãn, vì cái ý thức được ưu đãi được tôn trọng , và cả một phần tự hào với những gì mà bản thân đã được đóng góp mà trong xã hội đời sống con người này luôn cần đến.

Còn tôi ? Cái số phận không may mắn gì, không vui vẻ gì, không thích thú gì, đã buộc tôi phải rơi vào một ngày sau chỉ một cơn sốt cao. Cái ngày mà lẽ ra đừng nên để nó hiện thành câu thành chữ trên một tờ lịch thế này. Tại sao người ta lại dành ra một ngày cho nó làm gì chứ ? Nó đâu có mang lại được một điều gì hay hớm cho những chủ nhân của nó đâu, nó cũng không tạo ra được một thứ không khí nhộn nhịp như những kiểu ngày khác, thậm chí nó còn như một nhát roi quất vào lòng của những người như tôi lúc này. Cái ngày dành riêng này gần như chỉ mang lại sự phản cảm, là bởi hầu hết mọi người đều có thái độ tránh né, coi như đó chỉ là một ngày bình thường như bao ngày bình thường khác. Không tránh né thì còn làm được gì, có ai đi chúc mừng nỗi bất hạnh của người khác bao giờ, trong sinh hoạt hàng ngày lỡ có điều sơ sẩy đụng chạm đến đã là một nỗi khó khăn lắm rồi, lại còn đi nhắc nhở vào một ngày để gây thêm sự tổn thương cho người nữa sao. Không, không thể. Tuyệt nhiên không ai có thể tỏ một chút động thái nào, cho dù với một thiện ý tốt đến mấy đi nữa. Vậy thì dành ra một ngày này để làm gì ? Chỉ để cho những người trót không may phải mang trong mình một sự khiếm khuyết đáng buồn nào đó, lại cảm thấy mình đáng thương hơn.

Nỗi buồn cứ dâng mãi, ngút ngát cả tâm hồn, tôi chợt bật dậy, với lấy đôi nạng chống đi, đi vài bước tôi quay lại, xé luôn tờ lịch ấy, cứ để cho thời gian chạy nhanh hơn một chút cũng được. Khép lại cánh cửa, bỏ lại đằng sau ngôi nhà vắng lặng, như mọi ngày, những người trong nhà tôi đã tỏa ra các ngả đường từ sớm, chỉ còn tôi loay hoay với cái máy giặt, với các vật dụng bếp núc, với những trang báo và với những mẩu văn rời rạc của mình, những đoạn viết ấy chủ yếu chỉ để gói gém niềm tâm sự mà tôi không biết thổ lộ cùng ai, thi thoảng được in trên một trang báo, đó là niềm hạnh phúc rất lớn với tôi. Tôi đi dọc theo bờ hè, có một vài chỗ hè hẹp quá vì xe cộ dựng ngang dọc, vì những thứ hàng hóa người ta phải bày lấn ra, tôi phải bước xuống lòng đường, những chiếc xe ngược chiều vội vã lách qua.

Thành phố vẫn đông đúc những sắc màu rộn rã, vẫn chật chội chất chứa trong lòng bao tất tả ngược xuôi. Trên những con đường như thế này thường rất hiếm những người như tôi, nghĩa là những người tự biết mình dễ bị mất an toàn khi tham gia vào một lưu lượng người xe như thế. Tôi cũng không ra khỏi nhà nhiều lần trong ngày làm gì. Chỉ thỉnh thoảng lóc cóc khua đôi nạng ra khu chợ cách nhà không xa mấy, mỗi khi phải mua thức ăn vì chị hoặc em tôi ngày đó vội đi sớm, hoặc mua một vài thứ gì đó cho riêng mình.

Nhưng hôm nay, con đường tôi đi không dẫn tôi ra khu chợ ấy, mà nó đang trải dài lối đến vườn hoa thành phố. Thiên nhiên chắc sẽ giúp tôi thanh thản được lòng chăng ? Quả là vậy. Bước chân vào vườn hoa, những xôn xao sắc lá màu hoa trong cảnh sắc hài hòa êm ả, tôi nghe lòng mình nhẹ hẳn đi, một làn gió thoảng qua làm tôi thêm dễ chịu. Chọn một chiếc ghế đá tôi ngồi xuống, ghép đôi nạng gỗ gọn qua một bên. Cái vật vô tri này đã theo tôi hơn hai mươi năm nay rồi, nó cũng tăng dần theo chiều cao của cơ thể, mặc dù bỏ nó ra tôi cũng nhẩn nha từng bước được, nhưng sẽ bị vấp ngã nhiều hơn, vì vậy tôi chỉ rời nó khi loanh quanh trong nhà, ra đường thì không thể thiếu nó được. Tự nhiên tôi vuốt nhẹ đôi nạng gỗ, như thay cho lời cảm ơn, và tôi bỗng mỉm cười một mình. Tâm trạng tôi đã khác lúc ngồi ở nhà rất nhiều, nếu không ra đây thế này, chắc tôi lại vùi mình trong những giọt nước mắt tủi thân mất.

Nước mắt. Đã từ rất lâu tôi không để cho chúng tuỳ tiện chảy ra nữa, người ta hay nói, khi có tâm trạng không tốt nếu khóc được chắc sẽ nhẹ lòng hơn, tôi thì không cho là thế, đành rằng cũng có đôi lúc thật, nhưng khi chảy nước mắt sao thấy mình yếu đuối quá, thậm chí là ươn hèn nữa. Khóc chẳng giải quyết được gì cả, chỉ làm mình thêm yếu lòng, thêm thấp bé đi thôi, mà với một người như tôi thì rất cần sự mạnh mẽ, cứng rắn, có khi là chai lỳ nữa, có thế thì tôi mới vượt qua được những lúc khó khăn trong lòng, càng khóc thì lại càng thấy nỗi đau của mình lớn thêm thôi. Nên nếu có những tình huống nào đó, e chừng mình sẽ bi luỵ, tôi luôn tìm cách thoát khỏi nó, và hầu như lần nào tôi cũng thành công, như lần này chẳng hạn. Đưa mắt nhìn quanh, tôi thở một hơi sâu, cảm giác trong buồng phổi mình có bao nhiêu ngõ ngách đều nở hết cả ra.
Anh mắt tôi chợt đậu lại một điểm, một khối hình dưới một tán cây, khối hình ấy có một kích thước ngắn hơn bình thường mà lẽ ra nó phải, và thay vào cái đoạn ngắn hơn ấy là một hình khung bằng sắt, cái hình khung này có thể di chuyển được nhờ hai cái bánh xe. Nói tóm lai là tôi nhìn thấy một người đàn ông trên chiếc xe lăn. Thật tệ hại khi cho ràng đó là một niềm vui. Nhưng rõ ràng trong tôi dội lên một thứ cảm xúc như vui vẻ, một thứ cảm xúc mang lại một sự gần gũi mơ hồ nào đó Kể ra thì không hề nghịch lý một chút nào, vì trong hoàn cảnh này, đó là một sự đồng cảm. Người xưa đã có một câu nói thế nào trong trường hợp này nhỉ ? A, phải rồi “Đồng bệnh tương lân”. Khi có cùng một sự rủi ro ngưòi ta cảm thấy gần nhau dễ hơn là có cùng một sự may mắn, chẳng hiểu sao lại lạ thế chứ. Nhưng lúc này thì rõ ràng đó là một minh chứng tuyệt đối.


Tôi tuy có khiếm khuyết về thể hình, nhưng bản tính tôi lại khá tự nhiên và cởi mở, đây là nhận xét của khá nhiều người, và có lẽ đó là một thế mạnh hay còn gọi là một cứu cánh của tôi vậy. Vì nhờ nó mà đời sống tinh thần của tôi không đến nỗi nghèo nàn hay ủ dột. Hình như đó là sự công bằng của tạo hóa, khi lấy đi một thứ này thì sẽ bù đắp bằng một thứ khác, hẳn là như vậy, nếu không con người làm sao tồn tại nổi giữa cuộc đời nhiều nguy ngại này. Bây giờ thì bản tính của tôi lại một lần nữa thúc giục hành động của tôi . Tôi chống nạng đi đến gần người ấy.

– Chào anh ạ.

Giật mình và có lẽ còn giật mình hơn khi ngoảnh nhìn sang bên thấy một hình hài. Nửa ngạc nhiên và nửa thân thiện là ghi nhận đầu tiên của tôi trong mắt người ấy.

– Vâng ! Chào cô ạ.
– Nếu anh không ngại, cho phép tôi mời anh đến băng ghế kia để trò chuyện một chút, được không ạ ?

Một nụ cười vui vẻ :

– Vâng vâng, thế thì còn gì bằng nữa ạ.

Có vẻ anh ta cùng có cùng tâm trạng như tôi trong cái ngày này thì phải. Và như thế thì lời đề nghị của tôi quá hợp tình hợp lý rồi. Anh bạn ấy lăn xe theo tôi đến chếc ghế băng đá, và cố xê đi dịch lại cho ngang tầm cái ghế ngồi. Tôi nhìn thoáng qua gương mặt người bạn đồng trạng, một gương mặt vuông vức, đầy đặn, đầy vẻ tự tin, vững chãi. Nếu có một cơ thể hoàn chỉnh, có lẽ đây là một người đàn ông rất uy phong, sẽ là một đối tượng thu hút không biết bao nhiêu là cái nhìn ngưỡng vọng của những người khác phái. Nhưng…lại cái chữ nhưng chết tiệt ấy. Ôi trời, bỗng nhiên lại đổ tội cho chữ nghĩa, đúng là vớ vẩn. Tôi thoáng cười thầm cho những suy nghĩ lẩm cẩm của mình.

– Công viên hôm nay vắng người nhỉ ?
– Ngày thường mà, ai cũng đang loay quay với công việc cả, có thời gian đâu mà ra đây giờ này.
– Chắc chỉ có những người như chúng ta mới có thời gian vào lúc này thôi cô nhỉ.

Hai đôi môi cũng nhếch một nụ cười đồng nghĩa. Sau một vài câu hỏi han, chúng tôi đã biết một số thông tin về nhau. Tuy mỗi lý do dẫn đến bệnh trạng có khác nhau, nhưng tâm trạng thì không khác nhau là mấy. Tôi nói những suy nghĩ của mình về hàng chữ trên tờ lịch. Anh bạn khẽ lắc đầu :

– Tôi lại không cho là thế. Tuy đúng là nó có nhất thời mang đến cho ta những phản cảm, nhưng vấn đề là ở chính ta chứ không phải ở xuất xứ của nó. Bởi chính ta còn mang nặng những tự ti mặc cảm, còn chưa bước qua được cái rào cản của chính lòng mình. Chứ nếu nhìn về mặt tích cực của ý nghĩa thì nó lại biểu thị một điều khác. Đó là sự quan tâm, sự tiếp nhận của mọi người về sự tồn tại những người như chúng ta.

– Anh không cho đó là một sự chiếu cố sao ?
– Về một góc hẹp nào đó thì có. Và cũng phải thừa nhận rằng, có một thành phần trong xã hội nhìn chúng ta bằng ánh mắt tội nghiệp, ban bố. Nghĩ gần, ta cho đó là sự xúc phạm, là làm tổn thương lòng tự trọng của mỗi chúng ta, nhưng nghĩ xa, ta không thể đòi hỏi họ một cái nhìn bình đẳng, và cũng không thể trách họ nếu họ có sự thương cảm nào đó, vấn đề là cách thể hiện thôi. Nếu ta hiểu họ, và ta hiểu ta thì không nên đặt nặng vấn đề làm gì, hãy coi đó là một sự thông thường trong cuộc sống. Nói cho cùng, không ai là người không khiếm khuyết cả, chỉ là nhìn thấy bằng mắt hay nhìn thấy bằng lương tri thôi.

– Anh nói nghe sâu xa quá.

Một nụ cười nhẹ :

– Tôi cũng đã từng đi qua những tâm trạng, cũng đã từng khổ tâm dằn vặt, sao mình không chết quách đi cho rồi, người như mình thì sống trên đời này làm chi cho chật đất, cho vướng bận mọi người. Thậm chí cũng đã có lúc tôi định tự tử vì một cú sốc nào đó. Nhưng rồi qua đi, tôi lại bình tĩnh nhìn lại mình và cuộc sống. Chúng ta là những người thiếu may mắn, không được tạo hóa ban cho sự công bằng về mặt hình thể,và chính xác là chúng ta phải chịu những thiệt thòi nhất định về tinh thần tình cảm và cả vật chất nữa. Nhưng chúng ta còn cả một tâm hồn và cả một trái tim, khối óc, hãy biết cách để không phải sống thừa. Cô thấy đấy, vẫn có những người khuyết tật làm nên những kỳ tích, không phải họ cố để chứng minh một cái gì đâu, chỉ là họ không thể tự vứt bỏ mình, bởi nếu chính mình vứt bỏ mình thì sẽ chẳng có ai cần mình nữa.
– Nhưng dẫu sao cũng còn những hạn chế mà ta không thể phủ nhận, và khi nhìn vào những hạn chế ấy, làm sao tránh khỏi sự tủi thân hở anh ?
– Tất nhiên, vì là một con người đúng nghĩa, bản thân ta cũng vẫn có những khao khát, những ước vọng, nhưng điều kiện bản thân không cho phép, nên buộc phải có lúc mình phải chấp nhận sự bất lực chứ, và những lúc như thế thì rõ ràng là phiền muộn, là tâm trạng rồi. Vậy nên tốt nhất hãy biết hạn chế những ước vọng của mình, nếu có gì đó nảy sinh, mà xét thấy mình không thể đạt được, thì hãy gạt phắt nó đi, và nghĩ đến những gì trong tầm tay mình thôi, như vậy sẽ dễ sống hơn.
– Tôi có nhiều lúc rất buồn vì phải sống dựa vào sự cưu mang của người thân, cho dù hàng ngày tôi cũng làm một số công việc trong nhà, nhưng không trực tiếp làm ra tiền để có thể tự lo cho mình, nên cũng nghĩ ngợi lắm.
– Đây là một vấn đề rất bức thiết của chúng ta, tuy xã hội cũng đã có những hướng tạo công ăn việc làm cho những người khuyết tật, nhưng con số đó còn quá ít. Số còn lại phải tự mưu sinh bằng mọi cách có thể, may mắn hơn một chút như cô còn có người thân giúp đõ, còn nhiều, nhiều lắm những người đang phải sống lây lất từng ngày kia. Nói gì thì nói, đa số những công sở, nhà máy vẫn không thể chấp nhận chúng ta, vì cái họ cần là hiệu suất công việc, so ra thì đương nhiên chúng ta không thể bằng người bình thường rồi, hơn nữa những nơi ấy đâu phải là nhà từ thiện cho dù ở mức độ nào đi nữa. Nếu chúng ta cứ để tâm đến những bất bình đẳng của xã hội, thì không thể nào có được sự bình yên cho mình cả.
– Thế theo anh thì phải làm sao ?
– Hãy bằng lòng với những việc dù nhỏ nhặt mà mình đã làm được, đừng đòi hỏi mình nhiều quá, dễ dẫn đến một tâm trạng yểu nhược. Ví dụ như cô, cô nấu được một bữa ăn ngon, những người thân của cô vui thích thưởng thức, và có đầy đủ dinh dưỡng để làm được nhiều việc, để tránh được những bệnh tật, thế đã là tốt rồi, hoặc như cô nói, cô cũng thỉnh thoảng viết lách đôi chút, vây thì một bài thơ, một bài văn hay, gây được cho người đọc chút niềm vui, chút thư giãn đầu óc sau những công việc mệt mỏi, thế là hay rồi. Còn với tình cảm của mọi người, hãy mở lòng đón nhận, dù cách thể hiện của họ đôi khi không được tế nhị lắm, nhưng đừng quá tự ti mặc cảm mà phủ nhận, đó cũng là tự hắt hủi mình đấy.


Càng nói chuyện với con người này tôi càng cảm thấy bộ óc mình như nở ra, có những điều tôi cũng đã từng nghĩ đến, nhưng để diễn tả thành lời được thì không dễ, bất giác tôi kêu lên một tiếng thán phục :

– Hôm nay thật là môt ngày đẹp trời để tôi được trò chuyện với anh thế này.
– Thật ra đây cũng là một dịp may cho tôi, vì không dễ tìm được một người có thể nghe và hiểu được mình muốn nói gì.
– Vâng. Đúng thế đấy anh ạ. Trong cuộc sống mình có thể gặp rất nhiều người, nhưng với một số thì chỉ có thể bâng quơ hay đùa cợt dăm câu rồi qua chuyện , còn để nói được những chuyện thuộc tư duy thì không nhiều lắm.
– Đối với loại chuyện mang tính tâm cảm đặc trưng như chúng ta lại càng khó. Bởi với những người bình thường, họ không thể hiểu hết được tâm can của ta, mà ta thì vì lòng tự trọng cũng không dễ thổ lộ với họ.
– Như vậy nhất thiết chúng ta phải tìm đến nhau để có thể giải tỏa những gút mắc trong lòng phải không ạ ?
– Được thế thì quá tốt.
– Thế thì số điện thoại của tôi đây, còn anh ?
– Tốt quá, tôi không có điện thọai, nhưng không sao, tôi vẫn có thể liên hệ với cô mà.

Ông mặt trời đã lên khá cao, ánh nắng đã có phần gay gắt, tôi nhớ đến công việc của mình.

– Chắc tôi phải chào tạm biệt anh rồi.
– Vâng, cô có việc thì cứ về trước, tôi sẽ tiếp tục công việc của tôi đây.Chúng ta sẽ còn nhiều dịp để trò huyện với nhau mà.

Nói rồi anh chìa ra một tập vé số nãy giờ nằm nép một bên, tôi ái ngại :

– Ôi chết , vì tôi mà …
– Cô không phải nghĩ ngợi, đây là việc hàng ngày, còn buổi nói chuyện của chúng ta nó có một giá trị riêng chứ, đâu thể so sánh nhau được.
Tôi mỉm cười chợt nghĩ và nói :
– Anh nghĩ sao nếu cuộc nói chuyện của chúng ta sẽ một ngày xuất hiện trên một trang báo nào đấy ?
– Thế thì quá tốt, biết đâu cũng có những người bạn như chúng ta đây gặp được một sự đồng cảm dễ chịu này.
– Tôi chợt nảy ra một ý, nếu ta thành lập được một Câu lạc bộ cho những người khuyết tật thì hay biết mấy anh nhỉ ?
– Một ý kiến tuyệt đấy, nhưng mà hơi to tát, mà không chừng, biết đâu đấy…
– Ồ, bỗng nhiên tôi có một hứng thú ghê gớm cho việc này, ta sẽ bàn với nhau sau nhé. Giờ thì chúc anh gặp may với những người khách dễ tính.
– Dễ tính thôi chưa đủ, họ còn phải có một khao khát nữa cơ.
– Khao khát một món lợi dễ kiếm thì hầu như ai cũng có, nhưng đặt niềm khao khát vào sự may rủi thì không nhiều đâu anh ạ.
– Tất nhiên, nếu không tôi đã trở thành một nhà tỷ phú nhờ kinh doanh vé số mất rồi.

Những tiếng cười vui vẻ, sảng khoái luôn đem lại cho những gương mặt người một vẻ rạng rỡ yêu đời, chúng tôi chào từ biệt nhau trong tiếng cười thanh thỏa ấy. Vừa quay lưng trở bước, tôi nghe anh bạn gọi :

– Này, nếu có nhuận bút thì phải nhớ chia cho tôi một nửa đấy nhé.
– Anh yên tâm, hai phần ba cũng được mà.

Đôi nạng lại đưa tôi về phía khu chợ, hôm nay tôi mua một số thực phẩm ngon về chế biến, tôi thường rất vui khi những món ăn của mình được mọi người yêu thích và sử dụng hết với vẻ còn thòm thèm, hôm nay chắc chắn niềm vui ấy trong tôi sẽ tăng lên gấp nhiều lần.

Đàm Lan

Tô Phở

    tặng Ng H

Khóc.
Chỉ một từ ngắn gọn mà hàm chứa bao điều.
Người ta nói tiếng khác nhau, ngôn ngữ khác nhau nhưng tiếng khóc thì không khác.
Có người dễ khóc, có người cả đời không thấy khóc. Có người khóc ồn ào, có người âm thầm rơi nước mắt hoặc chỉ bằng đôi mắt ráo hoanh vô hồn
Khóc giúp con người vơi đi đau khổ, buồn phiền. Khóc cũng biểu hiện niềm vui niềm hạnh phúc tột cùng. Đôi khi khóc có tính phức hợp.
Người khóc vì đại sự. Người khóc cho người khác. Người tôi sắp nói tới đây lại khóc chỉ vì tô phở.

* *


Đấy là một người phụ nữ bình dị , chữ nghĩa chỉ đủ để viết lên cánh cửa bếp mấy con số nhớ ngày mẹ gà ấp trứng hay số gạo bột cần mua. Người đã đi khắp nơi mọi chốn vì chuyện mưu sinh từ khi còn trẻ đến lúc tóc ngả màu mới chọn một chỗ chật hẹp trong chợ to buôn nhỏ bán lẻ cốt có thêm miếng cá tươi đáp ứng sở thích ngày càng ít lại của chồng hoặc hộp bánh ngon cho cháu. Người không mấy khi đau ốm dù luôn tay từ sáng sớm đến tối mịt. Người luôn làm nhiều hơn nói, từ thuở mới theo chồng đến lúc tay yếu chân run. Người đã sinh mười đứa con cả trai lẫn gái và nuôi chúng ăn học thành người có vai vế tiếng tăm, có một lô lốc nhốc các cháu nội ngoại mà chưa một lần nói nặng với chồng. Người thỉnh thoảng nấu nướng thật nhiều món ngon lành rồi gọi cháu con đến ăn thoả thích. Người mua một lúc mấy con gà vườn, đang giữa trưa kêu xe ôm đi từ phố về làng, từ đông sang tây chia cho con gái mỗi đứa một nửa sợ chúng nó thèm. Người lặng lẽ gọt cả đông gừng tú ụ, ngào mứt rồi gọi con – đã làm cha làm mẹ – đến nhận về, nửa dùng trong ngày tết nửa làm quà tặng bạn bè.

Đấy là người đáng kính đáng yêu nhất của các con, người luôn được nghĩ tới trong mỗi bước đường của đời họ , là tấm gương soi, là chỗ dựa cho các con khi xiêu ngã. Và đặc biệt chưa ai từng thấy người đó khóc dù đường đời bao nỗi lận đận, bao phen lâm cảnh ngặt nghèo éo le.

Vậy mà người ấy chiều nay đã khóc .

* *


Tin người đó khóc truyền nhanh trong con cái và gây bất ngờ, lo âu ngay sau khi một trong các cháu nội ngoại tình cờ phát hiện.
Điện thoại réo tíu tít giữa mấy nhà.
Năm phút sau mấy anh chị em gặp nhau tại nhà chị lớn trong phố chính. Suy đoán chán lại nhìn nhau. Không ai biết nguyên nhân. Người ấy vẫn mạnh khoẻ không có biểu hiện bệnh tật, không bị ai lừa gạt, không bị mất tiền mất của, không gặp điều oan ức và càng không có một ai thân thích từng biệt tăm biệt dạng ghé thăm. Vậy thì do đâu ?
Chỉ có thể vì mấy đứa con người rứt ruột đẻ ra
Lập tức một cuộc lục vấn tra gạn diễn ra giữa mấy người con.
Chị vặn em, em hỏi chị. Không. Không ai lơ là thăm viếng. Không ai nói năng hỗn ẩu. Vậy thì chỉ có thể là người ấy buồn phiền cho gia cảnh các con mà khóc.
Những lỗi lầm sai trái gãy đổ của mỗi gia đình lại bị xới tung lên thiếu điều gây giận lẫy. Nhưng không có chuyện gì ghê gớm xảy ra trong gia đình mỗi người. Vợ chồng nhà nầy giận nhau, vợ chồng nhà kia làm ăn thua lỗ, vợ chồng nhà nọ con cái không vâng lời đã thành quá khứ từ lâu lắm rồi. Gia đình nào cũng ngời ngời hạnh phúc, ngời ngời thành đạt.

“ Thôi. Không bàn nữa. Cứ đến mà hỏi là thượng sách”.

Vợ bảo chồng, chị bảo em. Tất cả theo nhau lên xe không quên lễ mễ trà sữa cam nho rùng rùng kéo đến nhà. Hàng xóm nửa ngạc nhiên nửa thèm cảnh lạ lùng này.

* *


Quả thật người ấy khóc. Nước mắt đã khô nhưng dấu tích vẫn rành rành qua khoé mắt nhoè đỏ, qua giọng nói ngàn ngạt, qua tiếng sịt mũi đã cố giấu diếm.
Chị em, lớn nhỏ thi nhau gạn hỏi. Khô cả cổ, mỏi cả chân, đói meo bụng cuối cùng thì bật ngửa là chỉ vì tô phở. Vâng. Một tô phở giá năm ngàn.
Chỉ có điều tô phở được một người đàn ông mua mang đến tận nơi người ấy đang ngồi, lau đũa lấy thìa dịu dàng mời mọc.

* *

Người đàn ông ấy từng là chàng trai thông minh lanh lợi khoẻ mạnh trước khi trở thành người khôn ngoan lịch lãm chốn chợ đời và bây giờ là ông lão ngoài tám mươi da mồi tóc bạc yêú ớt hơn cả trẻ nhỏ. Người đàn ông ấy từng có thời ngang tàng ngược xuôi từ nam chí bắc, lên rừng xuống biển thi thố thao lược trước khi chịu ngồi gò bó trước hiên nhà nhìn thiên hạ lại qua mà nhớ thời ngang dọc. Người đó từng thâu đêm suốt sáng đấu lý với lý trưởng tham lam rồi xã trưởng độc ác trước khi thích kể chuyện ngày xưa với mấy thằng cháu trai bằng giọng tự hào xen nuối tiếc. Người đó cũng từng đổ vào canh bạc cả ngôi nhà hoặc chung độ một trận đá gà bằng cú thầu vừa trúng trước khi hớn hở như con trẻ nhận phong bao mừng tuổi từ con gái con trai mỗi dịp Tết đến xuân về. Người đó vô tư đến nỗi con có mười đứa thì vợ một mình vượt cạn, một mình nuôi ăn nuôi học suốt mấy chục năm qua bao nhiêu biến động không một lời han hỏi. Người ấy mới đây vừa thoát một cơn bạo bệnh, chỉ đi lại trong nhà khoe cháu khoe con rằng “Giờ tau chỉ đi được bước ngắn”.

Và chiều nay người ấy đã làm mềm lòng người đàn bà, khiến nước mắt phải rơi

* *

Vâng. Chính người ấy chiều nay đã đích thân dò từng bước ngắn ra đến đầu ngõ mua tô phở, lau đũa lấy thìa tận tay đưa đến nhỏ nhẻ bảo người đàn bà đang ngồi buồn xo sau giấc nắng nôi: “ Mụ ăn đi kẻo nguội”.

Khi nghe lũ con xúm lại gạn hỏi mẹ, người đàn ông – đang lẫm chẩm tới lui đã cao giọng:

– Cả đời tau không hề. Giờ tau đi mua phở cho mụ ăn. Sướng rứa rồi còn khóc là tại làm răng. Tau không hiểu nỗi… Thiệt đúng là đàn bà. ..

Nghe những lời phàn nàn của người đàn ông , tất cả – không ai bảo ai – thở phào nhẹ nhỏm , nhìn nhau cười mà nước mắt lăn lăn. Họ đã hiểu. Chẳng ai trong số họ gây phiền muộn cho mẹ mình cả. Họ vẫn là niềm tự hào của mẹ. Mẹ khóc khi đón nhận sự chăm sóc của người cả đời chỉ biết nhận từ bà.

Tô phở vợ mua cho chồng, chồng mua cho vợ không mới mẻ gì cũng không có gì đặc biệt với nhiều gia đình. Nhưng tô phở của ngươì đàn ông lại mang bao ý nghĩa mà chỉ người trong cuộc mới cảm nhận được, là mật mã chỉ có thể được giải bằng chính cuộc đời của hai người.

Những giọt nước mắt của người ấy chính là nước mắt trôi rửa mọi tủi hờn lắng tụ bấy nhiêu năm làm vợ. Nước mắt của niềm vui, niềm hạnh phúc – một hạnh phúc vợ chồng đơn sơ, cụ thể mà người ấy khát khao đã từ lâu lắm.

Đó cũng có thể là những giọt nước mắt tiên cảm về cuộc chia ly vĩnh viễn đang mon men đến giữa hai người.

* *

Tôi chính là một trong mười người con của họ.
Cũng như các chị, nước mắt tôi lăn lăn…

Từ Chuyện Cây Bàng Trong Sân Trường

Sân trường tháng muời hai luôn đặc biệt bởi những chiếc lá bàng. Cây bàng không biết từ lúc nào đã tự nhuộm mình thành đỏ ối như một ngọn đuốc khổng lồ, cứ thầm lặng cháy trong trời đông xám lạnh. Mỗi ngày, ngọn đuốc ấy lại hao mòn đi một ít sắc đỏ vì những chiếc lá rụng.

Tháng mười hai Tây Nguyên cũng đã bắt đầu mùa gió, nên vừa rời cành lá bàng đã được gió đón lấy, nâng trên đôi cánh của mình mà đưa đi tít xa. Có những chiếc lá không theo gió, chỉ chao nhẹ đáp xuống rồi nằm thảnh thơi trên mặt đất, làm nên một tấm thảm màu nâu đỏ, đẹp đến ngỡ ngàng.

Cô giáo dạy văn mê đắm lá bàng, cứ ngẩn người xuýt xoa không ngớt trước vẻ xao xác của sân trường mùa lá rụng. Rồi tiếc nuối hụt hẩng khi thấy học trò của mình quét sạch lá rụng…
Không chỉ quét lá rụng, học trò còn leo lên cây tuốt hết những chiếc lá đã chín màu nâu đỏ, tuốt cả những chiếc lá mới chỉ vương chút nâu vàng… Lá bàng bị cưỡng bức rụng ào ào xuống sân trường.
Rồi trong chốc lát, tất cả những chiếc lá như những mảnh màu ấm áp tuyệt đẹp, đã bị dồn hết vào trong bao tải. Học trò mang những bao lá bàng ra để ở một góc đường, xe rác sẽ đến và mang chúng đi…

Thầy giáo phụ trách cơ sở vật chất của trường không thích lá bàng rụng, không thích màu sắc quá chói gắt của lá bàng trong mùa đông, không thích sự bay tung, sự sóng soãi, sự rực cháy của nó trên sân trường. Sân trường đầy lá rụng, trông chẳng giống sân trường một chút nào, trông cứ luộm thuộm như một công viên hay một góc rừng… Thầy muốn sân trường phải thật sạch sẽ thật nghiêm trang như một ông giáo mặc veston trong ngày khai giảng!

Cho học sinh tuốt sạch lá bàng! Không để cho cây bàng tự do sống đời sống của nó!
Không để cho tụi học trò ngớ ngẩn dạo qua dạo lại trong sân trường, nhặt mấy chiếc lá đỏ, lật đi lật lại trên tay mà ngắm nghía, mà xuýt xoa!
Không để cho cô giáo dạy văn đang giảng bài chợt sững người nhìn chiếc lá bàng vừa bay vào lớp. Rồi nhặt chiếc lá mà liên hệ với học trò về sự hữu hạn của mỗi đời sống trong vô hạn của thời gian. Sự cần thiết phải nỗ lực của mỗi con người, để có thể đi qua cuộc đời một cách lương thiện, đoàng hoàng, đẹp đẽ. Như chiếc lá bàng đã sống trọn đời với màu xanh trên cành làm nên bóng mát, rồi chọn một cái chết đẹp, với màu sắc rực lên, cháy đến tận cùng, dâng hiến đến tận cùng cho mùa đông, làm nên một đốm lửa ấm áp sưởi ấm không gian lạnh lẽo trước khi tan biến vào cát bụi đất đai!

Cô giáo dạy văn nhớ bài thơ Mùa lá rụng của Ôn ga Bec gôn với lời đề dẫn: Mùa thu ở Matxcơva người ta treo những tấm biển trên các đại lộ với dòng chữ: Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng… Và tiếc rằng, thầy giáo phụ trách cơ sở vật chất của trường, có thể không biết bài thơ đó. Không biết rằng ở nhiều nơi những chiếc lá vàng óng kia, đang được bảo vệ cẩn trọng như những báu vật.

Những đàn sếu bay qua. Sương mù và khói toả…
Matxcơva, lại đã thu rồi!
Bao khu vườn như lửa chói ngời
Vòm lá sẫm ánh vàng lên rực rỡ
Những tấm biển treo dọc theo đại lộ
Nhắc ai đi ngang dù đầy đủ lứa đôi
Nhắc cả những ai cô độc trên đời
“Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng”



Bảo vệ từng chiếc lá cây trong mùa cây rụng lá, hoặc leo lên cây tuốt sạch hết lá vàng, hoặc bẻ đến kỳ hết những chùm trái bằng lăng khô khốc .. Đó không chỉ là những hành xử của con người với cây cỏ thiên nhiên. Đó còn là biểu hiện quan điểm của mỗi người về cái đẹp. Trong môi trường sư phạm, đó còn là quan điểm về vấn đề giáo dục cái chân, cái thiện, cái mỹ cho mỗi học sinh.

Nhưng làm sao có thể trách được người không biết. Mà vẻ đẹp kỳ diệu trong từng chiếc lá rụng, có phải ai cũng nhận biết hết cả đâu. Đâu phải ai cũng có thể tưởng tượng rằng ngày xưa, cái ngày xưa Thơ Mới đó, Xuân Diệu cũng đã từng choáng ngợp trước cây bàng lá đỏ mà viết:

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

Những cây bàng trong sân trường giờ đã trơ trụi lá, nhưng vẫn đẹp một vẻ rất riêng. Cành nhánh trên thân cây khẳng khiu trông như những cánh tay dang rộng, phả lên bầu trời cái màu khói sương bãng lãng.

Rồi ít lâu sau, bàng sẽ nhú lộc. Những mầm non đỏ tươi đậu chi chít trên cành như minh chứng cho sự trẻ trung, cho sức sống cuồn cuộn rạo rực chảy tuôn sau lớp vỏ dày nứt nẻ.
Rồi lá bàng sẽ to ra dựng đứng như tai thỏ.
Rồi lá bàng sẽ nhanh chóng lớn nữa, xoè rộng, tạo nên một vòm bình yên với tầng tầng lớp lớp lá non xanh như ngọc.
Rồi đến lúc tiếng ve báo hè vang dậy, dưới những tán lá bàng sẽ có những cô cậu học trò ngồi học bài.. Họ hái chiếc lá bàng ghi vài câu thơ vào đó, có khi tặng bạn, có khi ngần ngại ép vào cuốn sách mang về…
.


Xã hội càng hiện đại, những khoảnh khắc xúc cảm lãng mạn như vậy, phải chăng càng cần thiết? Phải chăng nhờ vào đó, bao tâm hồn của thế hệ trẻ sẽ có cơ hội cân bằng trước những xơ cứng của máy móc, của thao tác nhấp chuột tìm bạn bè, tìm trò chơi, tìm thông tin trên net?
Cũng như vò trong tay một lá cỏ hăng hắc, nghe bên tai lảnh lót một tiếng chim, phải chăng là một cách di dưỡng tinh thần, để con người chúng ta bớt cằn cỗi với café uống liền, trà xanh chai nhựa, nước trái cây đóng lon, cùng bao nhiêu sản phẩm đóng hộp khác, nhan nhãn trong xã hội hiện thời?

Vì vậy, hạnh phúc thay cho những ngôi trường có khuôn viên rộng, có nhiều cỏ cây, có bóng mát, mùi hương và tiếng chim. Để thiên nhiên, bậc thầy kỳ diệu, dạy cho những học sinh, những tâm hồn bé bỏng tình yêu cái đẹp, cái thiện…
Học sinh sẽ tự nhận biết trong mỗi cành cây ngọn cỏ, bài học về sự cho đi và nhận được, sự có mặt và khuất lấp, sự mạnh mẽ vươn dậy của những tạo vật mỏng manh.

Học sinh sẽ tự nhận biết thời gian đi qua, bốn mùa đi qua, không chỉ trên những tờ lịch, những con số đếm ngày đếm tháng vô hồn, mà còn trong sự luân chuyển đâm chồi, ra hoa, rụng lá của cây cối..

Yêu cái đẹp cái thiện học sinh sẽ biết hành xử hướng tới cái đẹp cái thiện. Nâng niu một chiếc lá, học sinh sẽ biết nâng niu một số phận, Ngắm nhìn một bông hoa, học sinh sẽ biết trân trọng, ngưỡng mộ một tài năng. Đứng trước một chùm quả, học sinh sẽ phải suy ngẫm về việc cần nghiêm túc, cần nỗ lực trong học tập, trong lao động để có được những thành công thực sự trong đời…

Yêu cây cỏ trong sân trường, học sinh sẽ còn thấy gắn bó hơn với thầy cô, bè bạn, những giờ học, giờ chơi, những hồn nhiên của lứa tuổi mình đang sung sướng được sống.
Và từ lòng yêu cây cỏ, gia đình, mái trường, thầy cô bè bạn, những học sinh, những công dân tương lai của đất nước, sẽ ý thức rõ hơn, nuôi dưỡng sâu xa hơn trong lòng họ tình yêu tổ quốc.
Để khi tổ quốc cần, họ biết nỗ lực bảo vệ hoặc dựng xây. Bởi vì, như nhà văn I li a Ê ren bua đã viết: Lòng yêu tổ quốc bắt đầu từ lòng yêu những vật tầm thường nhất, yêu cái cây trồng trước cửa nhà, yêu con đường nhỏ dẫn ra bờ sông, yêu mái nhà tranh, yêu đồng lúa chín…

Đinh Thị Như Thúy

Giáng Sinh ư ? Hãy đến một nơi xa lạ!

Tôi nhớ có người nói rằng: “Giáng Sinh luôn luôn là khoảnh khắc bạn cảm thấy nhớ nhà – kể cả khi bạn vẫn đang ở nhà” (*) Ấy vậy mà mười năm nay tôi đã phải đón Noel ở Sài Gòn, hỏi sao tôi không nhớ nhà cho được.

Tôi lớn lên giữa một xứ đạo. Và ký ức về Noel đầu tiên của tôi là năm bảy tuổi, khi tôi được chọn vào đội thiên thần múa bài “Cao cung lên” ở nhà thờ trong buổi lễ nửa đêm. Lần đó, tôi đã khóc đến sưng mắt để đòi ba phải cho tôi uốn tóc xoăn, và mẹ phải may cho tôi một cái áo đầm trắng. Phải vậy chứ, vì tất cả các thiên thần đều có mái tóc xoăn, mang áo trắng và đeo một đôi cánh cũng trắng tinh. Mất bao nhiêu nước mắt thuyết phục, đến khi ba mẹ tôi đồng ý thì hỡi ôi, tôi bị loại khỏi đội múa vì…tay chân cứng quá!

Để xoa dịu nỗi buồn của cô gái nhỏ, tất cả những người lớn trong gia đình đã làm tất cả để Giáng Sinh năm ấy trở thành một sự kiện tuyệt vời nhất trong đời tôi. Có lẽ vì vậy mà từ đó Giáng Sinh đã trở nên rất quan trọng với tôi! Cậu làm cho tôi một chiếc đèn ngôi sao thật lớn. Dì tôi làm bánh buche, mẹ ngâm dâu tây…Cả nhà cùng nhau thiết kế một hang đá khổng lồ với cây lồ ô, rơm và bao xi măng, dựng “cây thông” bằng cành dương đính bông gòn và kim tuyến, treo đèn rực rỡ hơn bất cứ nhà nào trong xóm. Chúng tôi ăn Réveillon với nồi cháo gà vàng ngậy, thơm phức của bà ngoại…

Nhưng điều đặc biệt nhất đối với tôi, đó là Ba Mẹ đã quyết định đưa tôi đi lễ nửa đêm ở một giáo xứ khác, để tôi không phải chạnh lòng khi thấy bạn bè múa “Cao cung lên” trong đôi cánh thiên thần. Đó là một giáo đường lạ, với những giáo dân tôi chưa từng gặp bao giờ. Nhưng chính khung cảnh náo nhiệt, ấm cúng, sự hồ hởi vui mừng của tất cả mọi người, bài thánh ca quen thuộc “Đêm thánh vô cùng, giây phút tưng bừng….” đã khiến tôi cảm thấy mọi thứ đều vô cùng thân thuộc.

Rất nhiều năm đón Noel ở Sài Gòn, nỗi nhớ quê nhà luôn tràn ngập trong tim, nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy cô đơn hay buồn chán. Bởi mỗi một đêm Giáng Sinh, tôi đều tìm đến một nơi hoàn toàn xa lạ, chưa đặt chân đến bao giờ. Có năm, tôi không đi lễ ở nhà thờ quen mà ghé thánh đường nhỏ tên là “Phanxicô khó khăn” trên đường Nguyễn Đình Chiểu. Có năm, tôi đi dự lễ hội hoá trang ở một trường Đại học với người bạn mới quen. Năm sau, tôi tham gia đội tình nguyện mặc áo ông già Noel đi phát quà cho trẻ em đường phố ở Tao Đàn. Một lần khác, tôi xin một chân bán hàng thời vụ tại một cửa hàng bán đồ trang trí cây thông trước cửa Nhà thờ Tân Định. Nhưng cũng có lúc, không có cuộc hẹn nào cho đêm Giáng Sinh, tôi đã một mình bước chân vào quán cà phê lạ, ngồi đối diện với cây nến nhỏ và lặng ngắm những cặp tình nhân…

Giáng Sinh, đó là một thời điểm đặc biệt, không chỉ về mặt tôn giáo. Nó là một trong những ngày lễ lớn nhất trong năm, có lẽ chỉ sau Tết Nguyên đán. Ngay từ đầu tháng mười hai, ông già Noel đã dạo những bước đầu tiên trên đường phố Sài Gòn. Các cửa hiệu đều trang trí chủ đạo ba màu trắng, xanh lá và đỏ sậm, những con phố chuyên bán cây thông và đồ trang trí bắt đầu nhộn nhịp. Các shop bán quần áo và đồ chơi trẻ em treo lủng lẳng những dây dài các bộ quần áo Noel đỏ rực. Các trung tâm thương mại lớn giăng đèn và dựng cây thông khổng lồ với tượng ông già Tuyết bên cỗ xe tuần lộc…Phố Sài Gòn nhộn nhịp đến từng nhịp chân đi…

Nhưng dưới mắt tôi, Giáng Sinh là thời điểm đặc biệt còn vì một lý do khác. Nếu như bạn ở xa nhà vào khoảnh khắc Giao thừa tết Nguyên đán, cảm giác lớn nhất có lẽ là nỗi cô đơn. Ngay cả khi bạn đang đứng giữa một buổi party đông đúc, một quán cà phê quen, những người bạn thân thiết. Khoảnh khắc Giao thừa luôn khiến bạn nhận ra một khoảng cách nhất định với những người khác và ngay lập tức bạn muốn trở về căn nhà ấm áp của mình bên những người ruột thịt. Đó là khoảnh khắc bất cứ ai cũng thấy lòng chùng xuống một cách vô thức, thu mình lại trong nỗi khát khao được trở về.

Giáng Sinh thì khác, một thời điểm không có lý do gì để buồn. Một niềm hân hoan rõ rệt in trên mỗi gương mặt dù lạ hay quen. Một không khí nhộn nhịp, ấm cúng, đầy chia sẻ và cởi mở hiện diện ở bất cứ đâu sẽ khiến bạn không cảm thấy e dè khi phải là người lạ. Đón Giao thừa ở nhà người khác thì thật vô duyên và lạc lõng, nhưng ăn Réveillon ở nhà bè bạn lại là những khoảnh khắc tuyệt vời.

Đối với tôi, Giáng Sinh luôn là thời điểm giúp tôi nhận ra những khía cạnh tốt đẹp ở người khác một cách dễ dàng nhất. Những con người này, tôi có thể đã gặp họ đâu đó trên đường, khi họ càu nhàu vì khói bụi, nhăn nhó và bẳn gắt vì những chuyện bực mình ở gia đình hay nơi công sở. Bình thường họ trưng ra những bộ mặt có thể đáng ghét biết bao nhiêu, nhưng vào đêm Noel, họ ăn mặc rất đẹp, họ cười nói một cách thoải mái và vui vẻ! Họ thân thiện và đáng yêu! Cũng như tôi, họ cảm thấy dễ chịu, bình an, trái tim mở rộng và sẵn sàng chia sẻ niềm vui.

Vì vậy, tôi gọi Giáng Sinh là thời điểm tốt nhất để bắt đầu một tình bạn! Hãy đến một nơi xa lạ vào đêm Giáng Sinh. Biết đâu bạn sẽ gặp tôi ở đó, với nụ cười trên môi, tôi sẽ chúc bạn câu này: “Cầu cho niềm vui của hôm nay luôn tràn đầy ân phúc, và mỗi con đường đều dẫn đến bình an.(**) Giáng Sinh vui vẻ !

Đông Vy

Chú thích:

* Carol Nelson

** Agnes M. Pharo