Tag Archives: Văn

Viết Cho Dã Quỳ

(…nhưng em nói dã quỳ vào mùa nào/ mùa
đông/ đúng rồi mùa hoa/ uh cây non mọc lên
nở hoa và tàn rụi trong vòng một năm…)

1.

Từ tàn rụi nụ mầm vươn lên vào lúc không ai còn nhớ (sự lãng quên luôn thường trực trong tâm trí con người) những mầm xanh không như lá cỏ mà được xem như lá cỏ cứ khuất lấp trong ngăn ngắt rậm rạp cứ lặng lẽ bên vệ đường trước thềm nhà khắp chân đồi (giờ đồi hoang cũng không còn nhiều vì loài người sinh sôi nẩy nở bung chiếm còn nhanh hơn cả cỏ cây)

Rồi những chiếc lá hình bàn tay xoè ra run rẩy hân hoan trong mưa bụi (dường như tất cả hạnh ngộ thuở ban sơ đều như vậy) mưa càng dấm dứt đất càng đỏ ứ cây lá càng xanh non tươi rờn rợn mưa mưa mưa mưa nước nuôi dưỡng sự sống bằng những ngập tràn thấm sâu dịu nhẹ (cũng có khi lắm khi hung tợn trào dâng) mưa mưa mưa mưa dã quỳ theo mưa mà lớn

Đó là cách tồn tại cổ xưa nguyên thuỷ nhất tồn tại theo bầy đàn mỗi đơn lẻ là một trong nhiều trong những của cộng đồng mỗi đơn lẻ tưởng như giống nhau về hình thể về tính cách về thân phận đứng bên nhau làm nên thế giới (tưởng công bằng bình đẳng) hướng về ánh sáng hướng về bầu trời mà ngờm ngợp mà mải miết mà vươn cao mà xoè tay mà ươm nụ mà hồn nhiên mà chờ đợi


2.

Có xứ sở chọn khắc nghiệt làm tính cách đặc thù (không chừng mực không điều độ không sắc màu trung tính) xứ sở dã quỳ không có mùa thu không có mùa xuân (chỉ hai mùa mưa nắng) xứ sở buồn muôn thuở bụi mù trời (bụi lừng lững đi lừng lững dựng từng cột đỏ trên những con đường mòn vắng vẻ khô khát) tháng mười hai lạnh lẽo khô ngùn ngụt nắng là tín hiệu để dã quỳ mở bung.

Đó là không gian mênh mông (đồi nối tiếp đồi thung lũng kéo dài thung lũng) là cuồng nộ gió (gió như đoàn chiến mã ràn rạt lao qua không cần biết sẽ về đâu không cần biết gì đang đón đợi cứ phía trước mà phi mà lồng lộn sải vó) là bướm hoang là ong rừng là bước chân bồn chồn của những người đàn bà luôn mơ những giấc mơ bất ổn

Là dã quỳ tồn tại như một dâng hiến không cần lý do

3.

Dã quỳ dã quỳ dã quỳ cứ vàng mơ vàng tươi vàng xuộm vàng cháy cứ rừng rực mê đắm miên man trên nền xanh của lá nền đỏ của đất bazan cứ tạo nên những đối cực nhức nhối xốn xang đôi khi khó chấp nhận trong mắt người không chờ đợi không khát khao không hoài vọng dã quỳ (dường như) hồn nhiên bung nở hồn nhiên toả hương hồn nhiên vàng vào nắng vào sương vào bụi đỏ hồn nhiên làm mặt trời thắp nắng trong hoang lạnh hồn nhiên làm nên linh cảm bất an mùa xao xác

Đã có những ngợi ca đã có những cười cợt đã có những rắp ranh đòi chia sẻ đã có những dự tính can thiệp riêng tư dã quỳ (dường như) vô tâm (dường như) ngoài cuộc cứ vàng cho hết đời sống mình (vì đó chính là mình) rồi rời rã rũ rượi trong gió đông rồi khô đi nâu sẫm trên những cành nhánh trụi trơ rồi khuất lấp rồi biến tan

Mùa đã khô ngày đã không còn hoang hoải gió
dã quỳ bình thản đợi hồi sinh

4.

Những người đàn bà mang giấc mơ bất ổn chôn trên sườn đồi đêm đêm chờ mưa chờ quên lãng nghe trong tiếng sấm khắc khoải có niềm âu lo rồi đồi hoang sẽ không còn là đồi hoang nữa

Đinh thị Như Thúy

Đêm thánh vô cùng

Đêm đông lạnh giá. Trong căn nhà ấm áp, người mẹ trẻ thủ thỉ với đứa bé mắt xoe tròn: Đố con, trời lạnh buốt như vầy làm sao những con thú trong rừng ngủ được?

Khi con lớn hơn một chút. Đêm đông giá lạnh, mẹ lại hỏi: Đố con, trời lạnh buốt như vầy, những người không nhà làm sao đỡ rét?

Con lớn hơn chút nữa, mẹ và con không nằm trong chăn ấm đố nhau nữa, mà đi ra đường. Noel, khi chuông giáo đường vang ngân trong tiếng nhạc Silent Night, là lúc đôi mẹ con phố núi, như những ông già Noel bên trời Tây, đem từng gói áo ấm to sụ như áo mình đang mặc tặng những kẻ bơ vơ, co ro nép mình bên góc chợ.

Từng tháng, từng năm, hạt giống hướng thiện mẹ gieo vào lòng con cứ lặng lẽ đâm chồi nẩy lộc, như đức bác ái Thiên Chúa gieo vào lòng con chiên qua Thánh lễ Misa. Mỗi khi hoa dã quỳ nở vàng rực trên lối vắng, mỗi người con ấy lại nhớ mùa đông đã về, không quên cuộc sống còn biết bao mảnh đời bất hạnh đang cần lắm dù chỉ một tấm áo, một chút tình chia sẻ yêu thương.

Để rồi chiều nay, văn phòng báo Tiền Phong nơi tôi đang làm việc, chuông điện thoại liên tục đổ. Người nói, người nghe thảy đều nghẹn ngào xúc động. Chuyện một Tổ ấm ở tận một xã vùng sâu tỉnh Kon Tum của các soeur dòng Ảnh Vảy đang nuôi dưỡng hàng trăm người già và trẻ mồ côi đang vô cùng khó khăn, do cơn bão số 11 vừa qua cuốn trôi nương rẫy hoa màu vừa đăng trên báo, đang tạo chuỗi hiệu ứng tích cực trong nhiều bạn đọc giàu lòng nhân ái. Nhiều người đã gọi trực tiếp cho soeur Liên qua số điện thoại đăng kèm bài, tâm tình cùng vị nữ tu người Bơhnar nhân từ mà quá đỗi mộc mạc chơn chất, rơi lệ tự hỏi sao họ chưa từng biết đến tấm lòng hy sinh cao cả mà lặng thầm đến như vậy?

Một nữ tiến sĩ đang công tác ở Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương cho biết tuần tới trong chuyến công tác vào Gia Lai, chị sẽ tìm đến tận Tổ ấm để chuyển những phần quà nhỏ do đồng nghiệp chị quyên góp. Vợ chồng giáo sư Chu Đình Thúy phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký hội Vật lý Việt Nam tuy đang gặp khó khăn về chuyện nhà đất, cũng bàn nhau giành hết phần lương hưu trong tháng mua áo phông và chuyển một khoản tiền góp vào bữa cơm ngày tết năm mới cho Tổ ấm. Và nhiều nữa, những con người nhiệt tâm không nề hà gian khó, đã cùng báo Tiền Phong giúp đỡ bao cảnh nghèo mà báo đã phát lời kêu gọi giúp đỡ trong mùa đông này, chỉ mong san sẻ được phần nào hơi ấm tình thương.

Trong đoàn độc giả thiện nguyện cùng báo Tiền Phong vừa đi tặng quà cho học sinh nghèo vượt khó nhân dịp Noel 2009, có một phụ nữ lớn tuổi được mọi người trân trọng gọi là Mẹ Simon. Vóc dáng bé nhỏ, áo sờn vai, dép mòn vẹt, trông bà chẳng khác gì người làm thuê lam lũ. Thế nhưng ít ai ngờ suốt nhiều năm qua ở tuổi ngoài bảy mươi, mẹ Simon vẫn chạy sô dạy Anh văn cho đủ mọi lứa tuổi, trong đó ngoài những khóa dạy miễn phí cho trẻ em nghèo, bao nhiêu học phí thu được mẹ dành cả để nuôi một nhóm trẻ vô gia đình, và nuôi cả những cô gái sa cơ lỡ bước vào bệnh viện toan phá thai mà bà đã thuyết phục đón về, nuôi dưỡng tới khi mẹ tròn con vuông …

Noel đang đến trong lời cầu nguyện vinh danh Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm! Nhưng từ khi Noel chưa đến trong chúng tôi, những đứa bé theo mẹ ra đường đêm đông năm nào, đã tràn ngập phúc lành nhờ soeur Liên, mẹ Simon, và nhiều độc giả nhân ái chưa từng được gặp mặt, chỉ nghe qua điện thoại đã rơi nước mắt bởi tình người chan chứa. Từ lâu rồi Noel không còn là Đêm Thánh của riêng Giáo dân, mà đã thành đêm hội chung của những trái tim rộng mở chào đón tin lành và mong ước tình thương sẽ ngự trị khắp thế gian. Như giai điệu bất hủ của những bài thánh ca như Jingle Bells của mục sư người Mỹ James Pierpoint, Silent Night của linh mục người Áo Joseph Mohr đã vượt thời gian, không gian và cả sự khác biệt về chủng tộc để được hát bởi hàng tỉ người không phân chia tôn giáo. Mong sao tinh thần tốt đẹp của mùa Giáng sinh này sẽ tràn ngập năm thánh 2010, như lời W.T. Ellis : Chính Giáng Sinh trong trái tim mình đã khiến Giáng Sinh lan tỏa nơi nơi.

Hoàng Thiên Nga

Thánh đường xưa

Ba năm, nhưng tưởng như lâu lắm rồi Nghi mới trở về quê ngoại. Lại đúng vào dịp Noel. Cô thức dậy vào buổi ban mai, nằm thật lâu trong giường để lắng nghe tiếng chim hót trong những vòm cây quanh vườn, tiếng gầu nước khua vào thành giếng, tiếng ai đó đổ nước vào thùng, và tiếng quét lá…

Ngoại cô thường có thói quen quét lá mỗi buổi sáng. Khi cây cỏ ngoài vườn còn ướt sương, khi những tia nắng đầu tiên chỉ vừa lướt trên những ngọn cây xa tít, nhuộm một màu vàng óng ánh, rất dịu . Bà dồn lá thành một đống to ở góc vườn rồi châm lửa đốt. Lá khô cháy giòn và lá tươi nổ lép bép. Có những loại lá mà bọn trẻ con gọi là lá nổ, Nghi thường hái bỏ vào lửa, thích thú nhìn chúng nổ tanh tách và phồng rộp lên như cái bánh đa nướng. Cô đã sống những ngày tháng đẹp nhất của mình ở nơi này, một xứ đạo hiền hoà và bình yên . Cô đã trải qua một tuổi thơ trong trẻo và thánh thiện, một mối tình đầu cũng trong trẻo và thánh thiện như thế. Bởi vậy mà mỗi lúc nhớ về quê ngoại, nhớ tuổi thơ là Nghi lại nhớ Đông, nhớ đến da diết. Suốt ba năm đại học, cô chỉ chăm chú vào sách vở, và không động rung trước bất kỳ ai, mặc dù không hẳn là vì Đông, hoặc ít ra cô cũng tin rằng không phải vì anh. Cách đây không lâu cô đã nghe ai đó nói rằng anh vừa làm lễ tuyên thệ, cô có cảm giác lạ lẫm và cố hình dung ra anh trong chiếc áo chùng đen. Cô nhớ mình đã từng nói với Đông rằng cô muốn anh trở thành một nghệ sĩ chơi piano trong nhà hát lớn chứ không phải là một thầy tu chơi đàn ở nhà thờ. Cô luôn nhớ đôi bàn tay mảnh và dài của anh lướt trên những phím đàn tài hoa như thế nào.Và cô nhớ, nhớ mãi cái ngày bà ngoại mất, Đông đứng bên cạnh tháp chuông chờ cô đi lễ ra để ôm choàng cô vào lòng và nói:

-Em phải khóc đi Nghi, tại sao trong đám tang em không khóc.

Và cô đã khóc, khóc mãi trong vòng tay Đông, không một chút e thẹn, ngượng ngùng, chỉ thấy nhẹ lòng vì biết mình được yêu thương và thấu hiểu. Nhưng từ ngày vào thành phố, Nghi đã luôn biết rằng Đông là ký ức, là một mối tình đã qua, nếu như cô có thể gọi đó là một mối tình…

*

Anh lớn hơn cô vài tuổi. Và là một tu sinh. Sinh ra trong một gia đình ngoan đạo nên ngay từ bé, anh đã biết chắc rằng mình sẽ trở thành tu sĩ.

Còn cô chỉ là một cô bé con gầy gò và lặng lẽ, hát trong ca đoàn của giáo xứ. Bố mẹ cô đều sống ở thành phố, còn cô thì sống với bà ngoại ở giáo xứ yên lành này từ lúc bé xíu. Thỉnh thoảng, bà ngoại lại bảo cô mang lên nhà thờ cho cha xứ những món ăn ngon. Anh thường đàn cho ca đoàn của cô trong những buổi lễ chủ nhật dành cho thiếu nhi. Cô không phải là người hát hay nhất, cũng không phải là cô bé xinh xắn nhất, nhưng anh thương mến cô vì cô rất hiền lành.

Cho đến buổi lễ Giáng sinh năm cô tròn 16 tuổi. Khi ngồi vào đàn, anh gần như không nhận ra là cô đứng ngay bên cạnh, trong chiếc áo dài trắng mềm mại và tinh khôi. Đó là lần đầu tiên anh thấy cô mang áo dài, cũng là lần đầu tiên anh nhận ra rằng cô đã trở thành một thếu nữ xinh đẹp. Nhìn nghiêng, gương mặt cô có nét gì đó thật thanh cao và thánh thiện, đôi mắt đen trong veo luôn nhìn thẳng về phía trước. Khi hát, chiếc cổ mảnh mai của cô ngước lên duyên dáng như một con thiên nga trắng: “cao cung lên,khúc nhạc thiên thần xuống…”Và trong một thoáng anh nhận ra rằng anh đã quên mất mình đang ở trong nhà thờ, anh cứ ngỡ như anh chỉ đang đàn cho mỗi một mình cô hát, và anh cũng chỉ nghe có mỗi tiếng hát của cô mà thôi…

Và từ đó, anh để ý đến cô, một điều tự nhiên hơn tất cả mọi điều có thể xảy ra trên thế gian này. Và anh yêu cô, mặc dù anh tin rằng mình chưa bao giờ tỏ lộ cho ai biết, kể cả cô. Anh thấy mình sung sướng khi nghe bạn bè cô kể rằng ở trường, cô là một lớp trưởng rất được nể nang vì học giỏi và năng nổ. Anh thích nhìn ngắm cô cười nói giòn giã với bạn bè, và vô cùng hạnh phúc mỗi khi cô ngừng lại và ý nhị nhìn về phía anh với ánh mắt vừa táo bạo vừa thẹn thùng một cách dễ thương. Mỗi khi tan lễ, cô thường quỳ lại rất lâu và luôn là người ra về sau cùng. Anh đợi cô bên cạnh tháp chuông, chỉ để im lặng trao cho cô một gói kẹo nhỏ, một chùm ổi, hay chùm mận hái từ khu vườn của nhà thờ. Đôi khi, chỉ để hỏi :

-Hôm nay em có vui không?

Và nghe cô thì thầm :

-Dạ có.

Trong những buổi lễ, cô luôn tìm cách đứng ngay bên cạnh chiếc đàn dương cầm, và thỉnh thoảng anh lại mỉm cười với cô, sung sướng khi thấy đôi mắt cô long lanh và đôi môi cô mím lại để cố giấu nụ cười. Không ai biết điều đó, chỉ có anh và cô.

Đôi lúc, trong những giờ đọc kinh tối hoặc sáng, anh bỗng nhớ đến cô và thầm nghĩ : “Mình không muốn trở thành một linh mục nữa, mình sẽ nói với cha xứ là mình không thể trở thành linh mục được”. Nhưng chỉ nghĩ đến thế thôi anh đã thấy hoảng sợ. Anh đã sống với vị cha xứ nghiêm khắc này từ lúc còn là một cậu bé lớp hai. Ông đã nuôi anh ăn học và tất cả mọi người trong gia đình đều tin chắc rằng anh không thể trở thành một cái gì khác ngoài một tu sĩ. Anh đã quen với những việc của nhà thờ, quen kéo chuông trước giờ lễ, quen với việc đèn đóm, âm thanh, đàn hát. Quen cả với kiểu sống trầm mặc và cô độc của một người tu hành, lủi thủi trong căn phòng nhỏ và đọc kinh rất nhiều lần trong ngày. Anh không thể dẫm đạp lên tất cả , chỉ vì cô. Anh không thể tưởng tượng được cô sẽ mang đến cho anh điều gì nhiều hơn thứ tình cảm trong sáng và vô hại ấy, thứ tình cảm mập mờ giữa tình yêu trai gái và tình anh em. Và gần như một sự ngây thơ, anh vẫn nghĩ cô là của riêng mình, và sẽ không bao giờ thuộc về ai khác.

Một buổi trưa tháng sáu, nắng đổ chói chang. Anh vừa về đến nhà thờ thì đã thấy cô chờ anh bên cạnh tháp chuông.Cô nhìn anh bằng đôi mắt long lanh chực khóc, và đôi má rám hồng lên vì nắng :

-Em lên xin cha xứ nghỉ hát ở ca đoàn, em phải vào Sài Gòn để thi Đại học. Có lẽ em không về đây nữa.

Anh đứng lặng, buông xuôi tay theo thân mình. Lòng xáo động dữ dội nhưng thừa biết mình sẽ không thể làm gì để giữ cô lại.

-Khi nào em đi?

-Chiều nay.

-Chiều nay ?

Anh tự hỏi, cô nhìn anh như thế nghĩa là gì. Cô chờ đợi anh điều gì, chờ đợi anh một lời thổ lộ hay hứa hẹn mà anh không thể nào thốt ra được chăng. Nhưng cô chỉ lắc đầu nhè nhẹ rồi nói :

-Anh ở lại mạnh khoẻ.

Anh gật đầu và cô quay lưng đi. Anh chợt thấy lòng mình trống hoác.

-Nghi !

Cô quay lại, nhìn anh điềm tĩnh đến lạ lùng, giống như cô đã biết chắc anh sẽ gọi cô, thậm chí biết chắc sẽ nói gì:

-Em…cố gắng học giỏi nhé !

Cô mỉm cười nhè nhẹ, rồi lại gật đầu và quay đi. Anh đâu cần phải dặn cô như vậy, anh biết chứ. Anh luôn luôn biết rằng cô sẽ là một sinh viên giỏi, cô sẽ làm được điều cô muốn và sẽ trở thành một cái gì đó trong đời, mạnh mẽ và không bao giờ khuất phục. Một cái gì đó, khác anh.

Từ khi Nghi đi, anh thấy mình trở nên trống rỗng và vô vị, nhưng anh chấp nhận sự vô vị đó và gọi nó là “sự bình yên”. Anh tiếp tục đàn cho ca đoàn hát, tiếp tục học tiếng Latinh, học thần học, học ngoại ngữ và âm nhạc ở chủng viện. Rồi hai năm sau, anh chính thức khoác lên người chiếc áo chùng đen và đợi thời gian thử thách để trở thành linh mục.Thỉnh thoảng, anh vẫn nghe một vài người nhắc đến Nghi, nhưng anh tin rằng cô như một cơn bão đã đi xa,và lòng anh phẳng lặng trở lại. Anh nghĩ rằng mình đã không nhớ mong Nghi trong chừng ấy năm tháng, không momg muốn gặp lại cô dù rằng anh vẫn dành cho cô một lời cầu nguyện mỗi đêm. Điều đó có nghĩa là Nghi sẽ không bao giờ khuấy động tâm hồn anh được nữa. Anh vẫn tưởng như thế, cho đến một ngày, tiếng chuông Giáng Sinh lại ngân lên binh boong và Nghi trở về…

*

Đông đứng ngay trước mặt Nghi và vẫn còn kinh ngạc. Từ ngày anh mặc áo chùng, tất cả mọi người đều gọi anh là “thầy”, nhưng anh không hề cảm thấy bất bình khi Nghi vẫn gọi anh là “Anh!”. Dường như trong thâm tâm, anh chưa bao giờ nghĩ rằng Nghi có thể gọi anh khác đi được. Trong bóng tối, Nghi đẹp một cách kỳ lạ. Đôi mắt trong như không có đáy, cái miệng, và cái cánh mũi hếch lên bướng bỉnh của cô vẫn quen thuộc với anh như thể cô chưa bao giờ xa anh lâu đến vậy. Đông ngửi thấy mùi chanh thoang thoảng từ mái tóc Nghi, có thể, từ đôi môi của cô nữa. Một cách hoàn toàn vô thức, anh đưa tay sờ lên mặt cô, dường như để nhận xem có đúng là cô hay không, hay để chứng thực rằng cô đang thật sự hiện hữu :

-Em vẫn đẹp lắm !

Nghi mỉm cười và anh thấy bàng hoàng cả người, bàng hoàng vì những lời mình vừa thốt ra, bàng hoàng vì anh đã không hề chờ đợi được gặp lại cô, và còn bàng hoàng vì những tình cảm không lường được đang trỗi dậy mạnh mẽ trong anh. Nếu ngày xưa đối với anh cô là một thiên thần tinh khôi thì bây giờ cô là niềm khát khao chực bùng cháy, chực huỷ hoại tất cả mọi thứ. Và Đông biết rõ, chỉ dấn thêm một bước nữa thôi thì cô sẽ là sự lầm lạc của anh, là nỗi ô nhục của gia đình anh, và của tất cả những giáo dân ngoan đạo xứ này.

Nghi ngước mắt lên, và thấy đôi mắt Đông nhìn cô đăm đắm xuyên qua màn đêm, nửa khao khát, nửa sợ hãi. Bỗng dưng, Nghi muốn oà khóc, cô biết Đông không thể vứt bỏ tất cả để ôm choàng lấy cô. Trong bóng tối, cái cổ cồn của chiếc áo tu sĩ nổi rõ lên màu trắng toát, trắng đến đáng sợ. Nó như một nhát dao đâm mạnh vào tim cô. Cô vừa thấy mình tội lỗi, vừa nguyền rủa sự hèn nhát của cô, và cả của anh. Bởi cô bỗng nhận ra mình yêu anh, vẫn yêu anh từ ngày xưa cho đến tận bây giờ, bất kể ba năm trời không gặp, bất kể chiếc áo chùng đen mà anh đang khoác trên người. cô muốn gục đầu vào ngực anh và kể cho anh nghe cô đã nhớ anh như thế nào, rằng cô đã thèm khát có được sự vững chãi và dịu dàng của anh bên cạnh như thế nào. Rồi Nghi ước gì Đông đừng nhìn cô nồng nàn như thế. Cô lại ước có ai đó đến gần họ ngay lúc này để anh rời xa cô ra. Đông sẽ trở thành linh mục, điều đó là không thể thay đổi, không bao giờ thay đổi được. Nghi biết rằng Đông hiến dâng cuộc đời mình cho việc tu hành không chỉ vì niềm tin, mà còn vì niềm tự hào của gia đình, vì bổn phận và cả vì những tham vọng của bản thân anh. Đó là một con đường đã được vạch sẵn và Đông chưa bao giờ bước chệch khỏi con đường đó.

Có tiếng chuông đồng hồ điểm mười tiếng, chậm rãi. Đông bất giác lùi lại:

– Sắp lễ rồi.

– Phải, sắp lễ rồi.

– Em vào nhà thờ chứ?

– Em không biết.

Đông quay nhìn vào bên trong, ngần ngừ:

– Anh phải đàn cho ca đoàn hát thanh ca.

– Em biết.

Đông cầm lấy bàn tay nhỏ nhắn của cô và lắc khẽ:

– Có lẽ…anh vào trước, em vào sau nhé!

Nghi gật đầu nhè nhẹ, nhìn Đông đi như chạy về phía cửa nhà thờ , cô nghe như có cái gì đổ vỡ trong lòng mình. Đó là lúc cô nhận ra rằng Đông sợ mọi người nhìn thấy. Nhưng không thể trách anh được. không thể trách được. đời người ta vẫn khổ sở bởi những khát khao bị kìm nén. Có lẽ, cô là phần yếu đuối nhất của tâm hồn Đông. Cô chầm chậm bước ra khỏi cổng giáo đường. Đêm lạnh. Và gió thổi vi vút. Đêm Giáng sinh thường mang đến cho Nghi một cảm giác lạ kỳ, vừa ấm áp, vừa trống trải. Nghi thoáng nghe tiếng dương cầm vang lên điệu nhạc quen thuộc “ Cao cung lên, khúc nhạc thiên thần xuống, hoà trong làn gió, nhè nhẹ vấn vương…Ôi linh thiêng…”. Sau lưng cô, tháp chuông bắt đầu ngân lên từng tiếng bing…boong…trong trẻo. Ngay lúc này, Nghi biết mình phải đi xa, xa thật xa, trứơc khi cô có ý định lôi kéo Đông, hay cám dỗ anh.

Mối tình đầu cũng giống như tiếng chuông vậy. Nó đã qua rồi dẫu ta vẫn nghe như những âm vang của nó còn đọng mãi. Không ai có thể tìm lại một tiếng chuông, cũng không ai nên cố tìm cách giữ lại một tiếng chuông. Hãy để những cơn gió nguyên sơ mang thanh âm ấy đi x. Nếu không thể tạo nên một điều gì tốt đẹp hơn hiện tại, thì cũng đừng nên phá vỡ hiện tại. Có một thánh đường trong tim anh, tim cô, và những gì cất giấu bên trong đó là thiêng liêng. Nhưng những tham vọng, những bổn phận, cũng như nỗi sợ hãi trước nhân gian bắt họ dừng lại.

Đêm thánh vô cùng, và cánh cửa thánh đường xưa đã khép. Cô chỉ ước một điều, ước gì, nó đừng trở nên hoang phế với thời gian.

Đông Vy

Thư cho bạn

    Gửi Cường của tôi


Lại một mùa giáng sinh nữa lại về. Bao nhiêu mùa đông rồi đi qua đời ta. Mưa rơi và gió lạnh. Song lòng ta vẫn là một mùa ấm áp, mùa Thiên Chúa vào đời, Chúa giáng sinh đêm nay mừng vui tiếng hát vang nơi nơi…

Đất nước bao cuộc thăng trầm, đời người mấy lần dâu bể. Duy một trông chờ không chịu thăng trầm, không chịu bể dâu, chờ một mùa đông cho lòng ấm lại. Ấy cái niềm tin đơn sơ để lòng an bình mừng đón Chúa:

Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao
Bình an dưới thế ân trạch cho loài người.

Bạn dấu yêu! Giờ ở đất Sài thành xa xôi, mệt phờ long đong thân cầu thực, ngày 24 tháng 12 bạn có khép nép mừng Chúa giáng sinh ở một góc giáo đường lộng lẫy?

Mùa Noel cũng là mùa của ta, của bạn, của những kỉ niệm tuổi thơ. Đôi ta như hai cây thông non trồng bên máng cỏ.. Ta rất yêu giọng bạn đọc thi ca trong trẻo, trong như lòng thành con trẻ kính dâng:

Chúng con muốn tình yêu không vị kỉ
Tình yêu không gò bó bởi hư danh
Tình yêu không bị vật chất dỗ dành
Con nhận lãnh từ tình yêu cứu Chúa.

Giáng sinh năm nào ta bạn tung tăng, giáo đường chật không chứa nổi tâm tình con trẻ. Bữa cơm chung những tháng năm còn nghèo còn đói, mình nhường cho nhau một lát thịt quay với một mẩu bánh mì. Ôi giáo đường ấm áp hoang sơ.

Từ bao giờ ta đã đi qua mấy mươi mùa đông, giáo đường chừ khang trang bề thế, đêm Noel đèn điện khoe màu sang trọng mà nhớ hoài ổ rơm ngày xưa. Chờ đêm giáng sinh, mình đi chặt lá đùng đình kết vòng trang trí, những chiếc bong bóng thổi to thổi nhỏ làm những quả thông màu, đơn sơ như máng cỏ. Mình vừa mải mê việc làm vừa rộn ràng ca hát “ nơi hang Bê Lem con quỳ thiết tha, xin Chúa nhân hiền xuống ơn chan hòa”.

Bạn ơi! Ta đã lớn lên bằng niềm tin đơn sơ như thế đó, và bằng niềm tin, ta làm người thành thật, thanh thản chấp nhận những thua thiệt ở đời như một chợp mắt trần thế, mà có hề chi, Thiên Chúa từng rời bỏ nước Trời!

Bạn ơi! Giáng sinh này nữa đã là bốn mươi bốn mùa đông. Lòng ta se một chút giá băng khi nhớ người bạn cũ. Nhớ một mùa đông xa bạn ốm đau, ta đã đọc thư bạn trong chan hòa nước mắt: Ái ơi, giá mà có Ái ở bên mình!

Rồi từ đó trong mùa ấm áp lòng khôn nguôi trống vắng là từ buổi hai ta lớn khôn vào đời. Giã từ ấu thơ, giã từ niềm vui tuổi nhỏ. Mỗi một tháng ngày là một dần xa ngày xưa dấu ái.

Ngày tập tễnh làm người lớn, cô bé nào dắt ta xa bạn.
Ngày tập tễnh làm người lớn, cô bé nào dấu bạn khỏi mắt ta.
Chao ôi! Mỗi một kiếm tìm là mỗi một đánh rơi!

Yêu dấu! Giờ mình đã là cha của những đứa con. Hãy nhớ và truyền cho con trẻ niềm tin và tình yêu thuở nhỏ. Trong vườn hồn ngút ngái của ta có một thửa đất mang tên bạn. Mong sao con ta cũng tìm được trong đức tin mình một tình bạn như ta.

Bạn yêu, ta gửi tặng bạn tấm thiệp giáng sinh thật đẹp, những chú mục đồng nơi hang Bết Lê Hem. Bạn tìm thử xem gương mặt nào là của ta, của bạn?

Nguyễn Tấn Ái

Không phải là hoa

Tôi đưa tay xé một tờ lịch, bất chợt nghe một cảm giác pha lẫn một chút sững sờ, một chút bàng hoàng và cả một chút xót xa thương cảm lặng thầm. Tờ lịch mang những con số « 18-4 », và một hàng chữ đậm rõ nét “Ngày Người Khuyết Tật”

Nhà tôi có một nhà giáo, một bác sĩ, một doanh nhân và một quân nhân. Đó là một vài trong số những nghành nghiệp đã được xã hội dành hẳn cho một ngày riêng biệt để tôn vinh. Vào những ngày đó, không khí trong gia đình, cũng như không khí ngoài xã hội, có một chút đổi thay. Đó là những nụ hoa, những món quà trong lớp giấy đẹp, những lời chúc tốt lành, và cả những bữa tiệc hoan hỉ, vui say. Những nhân vật của những ngày ấy trông mới xinh tươi, hồ hởi, sung sướng và hãnh diện làm sao. Chính tôi cũng đã nhiều lần hòa cùng cuôc vui trong bầu không khí thân thương ấy, cũng đã tự tay đi chọn những bông hoa đẹp nhất, cũng đã trù bị trong đầu nhưng lời chúc mừng hay nhất, và cũng tự tay nấu những món ăn ngon nhất, để góp một chút vui của mình trong sự tôn vinh chung của người người, và cũng là để đem đến cho những người ấy chí ít là một nụ cười thỏa mãn, vì cái ý thức được ưu đãi được tôn trọng , và cả một phần tự hào với những gì mà bản thân đã được đóng góp mà trong xã hội đời sống con người này luôn cần đến.

Còn tôi ? Cái số phận không may mắn gì, không vui vẻ gì, không thích thú gì, đã buộc tôi phải rơi vào một ngày sau chỉ một cơn sốt cao. Cái ngày mà lẽ ra đừng nên để nó hiện thành câu thành chữ trên một tờ lịch thế này. Tại sao người ta lại dành ra một ngày cho nó làm gì chứ ? Nó đâu có mang lại được một điều gì hay hớm cho những chủ nhân của nó đâu, nó cũng không tạo ra được một thứ không khí nhộn nhịp như những kiểu ngày khác, thậm chí nó còn như một nhát roi quất vào lòng của những người như tôi lúc này. Cái ngày dành riêng này gần như chỉ mang lại sự phản cảm, là bởi hầu hết mọi người đều có thái độ tránh né, coi như đó chỉ là một ngày bình thường như bao ngày bình thường khác. Không tránh né thì còn làm được gì, có ai đi chúc mừng nỗi bất hạnh của người khác bao giờ, trong sinh hoạt hàng ngày lỡ có điều sơ sẩy đụng chạm đến đã là một nỗi khó khăn lắm rồi, lại còn đi nhắc nhở vào một ngày để gây thêm sự tổn thương cho người nữa sao. Không, không thể. Tuyệt nhiên không ai có thể tỏ một chút động thái nào, cho dù với một thiện ý tốt đến mấy đi nữa. Vậy thì dành ra một ngày này để làm gì ? Chỉ để cho những người trót không may phải mang trong mình một sự khiếm khuyết đáng buồn nào đó, lại cảm thấy mình đáng thương hơn.

Nỗi buồn cứ dâng mãi, ngút ngát cả tâm hồn, tôi chợt bật dậy, với lấy đôi nạng chống đi, đi vài bước tôi quay lại, xé luôn tờ lịch ấy, cứ để cho thời gian chạy nhanh hơn một chút cũng được. Khép lại cánh cửa, bỏ lại đằng sau ngôi nhà vắng lặng, như mọi ngày, những người trong nhà tôi đã tỏa ra các ngả đường từ sớm, chỉ còn tôi loay hoay với cái máy giặt, với các vật dụng bếp núc, với những trang báo và với những mẩu văn rời rạc của mình, những đoạn viết ấy chủ yếu chỉ để gói gém niềm tâm sự mà tôi không biết thổ lộ cùng ai, thi thoảng được in trên một trang báo, đó là niềm hạnh phúc rất lớn với tôi. Tôi đi dọc theo bờ hè, có một vài chỗ hè hẹp quá vì xe cộ dựng ngang dọc, vì những thứ hàng hóa người ta phải bày lấn ra, tôi phải bước xuống lòng đường, những chiếc xe ngược chiều vội vã lách qua.

Thành phố vẫn đông đúc những sắc màu rộn rã, vẫn chật chội chất chứa trong lòng bao tất tả ngược xuôi. Trên những con đường như thế này thường rất hiếm những người như tôi, nghĩa là những người tự biết mình dễ bị mất an toàn khi tham gia vào một lưu lượng người xe như thế. Tôi cũng không ra khỏi nhà nhiều lần trong ngày làm gì. Chỉ thỉnh thoảng lóc cóc khua đôi nạng ra khu chợ cách nhà không xa mấy, mỗi khi phải mua thức ăn vì chị hoặc em tôi ngày đó vội đi sớm, hoặc mua một vài thứ gì đó cho riêng mình.

Nhưng hôm nay, con đường tôi đi không dẫn tôi ra khu chợ ấy, mà nó đang trải dài lối đến vườn hoa thành phố. Thiên nhiên chắc sẽ giúp tôi thanh thản được lòng chăng ? Quả là vậy. Bước chân vào vườn hoa, những xôn xao sắc lá màu hoa trong cảnh sắc hài hòa êm ả, tôi nghe lòng mình nhẹ hẳn đi, một làn gió thoảng qua làm tôi thêm dễ chịu. Chọn một chiếc ghế đá tôi ngồi xuống, ghép đôi nạng gỗ gọn qua một bên. Cái vật vô tri này đã theo tôi hơn hai mươi năm nay rồi, nó cũng tăng dần theo chiều cao của cơ thể, mặc dù bỏ nó ra tôi cũng nhẩn nha từng bước được, nhưng sẽ bị vấp ngã nhiều hơn, vì vậy tôi chỉ rời nó khi loanh quanh trong nhà, ra đường thì không thể thiếu nó được. Tự nhiên tôi vuốt nhẹ đôi nạng gỗ, như thay cho lời cảm ơn, và tôi bỗng mỉm cười một mình. Tâm trạng tôi đã khác lúc ngồi ở nhà rất nhiều, nếu không ra đây thế này, chắc tôi lại vùi mình trong những giọt nước mắt tủi thân mất.

Nước mắt. Đã từ rất lâu tôi không để cho chúng tuỳ tiện chảy ra nữa, người ta hay nói, khi có tâm trạng không tốt nếu khóc được chắc sẽ nhẹ lòng hơn, tôi thì không cho là thế, đành rằng cũng có đôi lúc thật, nhưng khi chảy nước mắt sao thấy mình yếu đuối quá, thậm chí là ươn hèn nữa. Khóc chẳng giải quyết được gì cả, chỉ làm mình thêm yếu lòng, thêm thấp bé đi thôi, mà với một người như tôi thì rất cần sự mạnh mẽ, cứng rắn, có khi là chai lỳ nữa, có thế thì tôi mới vượt qua được những lúc khó khăn trong lòng, càng khóc thì lại càng thấy nỗi đau của mình lớn thêm thôi. Nên nếu có những tình huống nào đó, e chừng mình sẽ bi luỵ, tôi luôn tìm cách thoát khỏi nó, và hầu như lần nào tôi cũng thành công, như lần này chẳng hạn. Đưa mắt nhìn quanh, tôi thở một hơi sâu, cảm giác trong buồng phổi mình có bao nhiêu ngõ ngách đều nở hết cả ra.
Anh mắt tôi chợt đậu lại một điểm, một khối hình dưới một tán cây, khối hình ấy có một kích thước ngắn hơn bình thường mà lẽ ra nó phải, và thay vào cái đoạn ngắn hơn ấy là một hình khung bằng sắt, cái hình khung này có thể di chuyển được nhờ hai cái bánh xe. Nói tóm lai là tôi nhìn thấy một người đàn ông trên chiếc xe lăn. Thật tệ hại khi cho ràng đó là một niềm vui. Nhưng rõ ràng trong tôi dội lên một thứ cảm xúc như vui vẻ, một thứ cảm xúc mang lại một sự gần gũi mơ hồ nào đó Kể ra thì không hề nghịch lý một chút nào, vì trong hoàn cảnh này, đó là một sự đồng cảm. Người xưa đã có một câu nói thế nào trong trường hợp này nhỉ ? A, phải rồi “Đồng bệnh tương lân”. Khi có cùng một sự rủi ro ngưòi ta cảm thấy gần nhau dễ hơn là có cùng một sự may mắn, chẳng hiểu sao lại lạ thế chứ. Nhưng lúc này thì rõ ràng đó là một minh chứng tuyệt đối.


Tôi tuy có khiếm khuyết về thể hình, nhưng bản tính tôi lại khá tự nhiên và cởi mở, đây là nhận xét của khá nhiều người, và có lẽ đó là một thế mạnh hay còn gọi là một cứu cánh của tôi vậy. Vì nhờ nó mà đời sống tinh thần của tôi không đến nỗi nghèo nàn hay ủ dột. Hình như đó là sự công bằng của tạo hóa, khi lấy đi một thứ này thì sẽ bù đắp bằng một thứ khác, hẳn là như vậy, nếu không con người làm sao tồn tại nổi giữa cuộc đời nhiều nguy ngại này. Bây giờ thì bản tính của tôi lại một lần nữa thúc giục hành động của tôi . Tôi chống nạng đi đến gần người ấy.

– Chào anh ạ.

Giật mình và có lẽ còn giật mình hơn khi ngoảnh nhìn sang bên thấy một hình hài. Nửa ngạc nhiên và nửa thân thiện là ghi nhận đầu tiên của tôi trong mắt người ấy.

– Vâng ! Chào cô ạ.
– Nếu anh không ngại, cho phép tôi mời anh đến băng ghế kia để trò chuyện một chút, được không ạ ?

Một nụ cười vui vẻ :

– Vâng vâng, thế thì còn gì bằng nữa ạ.

Có vẻ anh ta cùng có cùng tâm trạng như tôi trong cái ngày này thì phải. Và như thế thì lời đề nghị của tôi quá hợp tình hợp lý rồi. Anh bạn ấy lăn xe theo tôi đến chếc ghế băng đá, và cố xê đi dịch lại cho ngang tầm cái ghế ngồi. Tôi nhìn thoáng qua gương mặt người bạn đồng trạng, một gương mặt vuông vức, đầy đặn, đầy vẻ tự tin, vững chãi. Nếu có một cơ thể hoàn chỉnh, có lẽ đây là một người đàn ông rất uy phong, sẽ là một đối tượng thu hút không biết bao nhiêu là cái nhìn ngưỡng vọng của những người khác phái. Nhưng…lại cái chữ nhưng chết tiệt ấy. Ôi trời, bỗng nhiên lại đổ tội cho chữ nghĩa, đúng là vớ vẩn. Tôi thoáng cười thầm cho những suy nghĩ lẩm cẩm của mình.

– Công viên hôm nay vắng người nhỉ ?
– Ngày thường mà, ai cũng đang loay quay với công việc cả, có thời gian đâu mà ra đây giờ này.
– Chắc chỉ có những người như chúng ta mới có thời gian vào lúc này thôi cô nhỉ.

Hai đôi môi cũng nhếch một nụ cười đồng nghĩa. Sau một vài câu hỏi han, chúng tôi đã biết một số thông tin về nhau. Tuy mỗi lý do dẫn đến bệnh trạng có khác nhau, nhưng tâm trạng thì không khác nhau là mấy. Tôi nói những suy nghĩ của mình về hàng chữ trên tờ lịch. Anh bạn khẽ lắc đầu :

– Tôi lại không cho là thế. Tuy đúng là nó có nhất thời mang đến cho ta những phản cảm, nhưng vấn đề là ở chính ta chứ không phải ở xuất xứ của nó. Bởi chính ta còn mang nặng những tự ti mặc cảm, còn chưa bước qua được cái rào cản của chính lòng mình. Chứ nếu nhìn về mặt tích cực của ý nghĩa thì nó lại biểu thị một điều khác. Đó là sự quan tâm, sự tiếp nhận của mọi người về sự tồn tại những người như chúng ta.

– Anh không cho đó là một sự chiếu cố sao ?
– Về một góc hẹp nào đó thì có. Và cũng phải thừa nhận rằng, có một thành phần trong xã hội nhìn chúng ta bằng ánh mắt tội nghiệp, ban bố. Nghĩ gần, ta cho đó là sự xúc phạm, là làm tổn thương lòng tự trọng của mỗi chúng ta, nhưng nghĩ xa, ta không thể đòi hỏi họ một cái nhìn bình đẳng, và cũng không thể trách họ nếu họ có sự thương cảm nào đó, vấn đề là cách thể hiện thôi. Nếu ta hiểu họ, và ta hiểu ta thì không nên đặt nặng vấn đề làm gì, hãy coi đó là một sự thông thường trong cuộc sống. Nói cho cùng, không ai là người không khiếm khuyết cả, chỉ là nhìn thấy bằng mắt hay nhìn thấy bằng lương tri thôi.

– Anh nói nghe sâu xa quá.

Một nụ cười nhẹ :

– Tôi cũng đã từng đi qua những tâm trạng, cũng đã từng khổ tâm dằn vặt, sao mình không chết quách đi cho rồi, người như mình thì sống trên đời này làm chi cho chật đất, cho vướng bận mọi người. Thậm chí cũng đã có lúc tôi định tự tử vì một cú sốc nào đó. Nhưng rồi qua đi, tôi lại bình tĩnh nhìn lại mình và cuộc sống. Chúng ta là những người thiếu may mắn, không được tạo hóa ban cho sự công bằng về mặt hình thể,và chính xác là chúng ta phải chịu những thiệt thòi nhất định về tinh thần tình cảm và cả vật chất nữa. Nhưng chúng ta còn cả một tâm hồn và cả một trái tim, khối óc, hãy biết cách để không phải sống thừa. Cô thấy đấy, vẫn có những người khuyết tật làm nên những kỳ tích, không phải họ cố để chứng minh một cái gì đâu, chỉ là họ không thể tự vứt bỏ mình, bởi nếu chính mình vứt bỏ mình thì sẽ chẳng có ai cần mình nữa.
– Nhưng dẫu sao cũng còn những hạn chế mà ta không thể phủ nhận, và khi nhìn vào những hạn chế ấy, làm sao tránh khỏi sự tủi thân hở anh ?
– Tất nhiên, vì là một con người đúng nghĩa, bản thân ta cũng vẫn có những khao khát, những ước vọng, nhưng điều kiện bản thân không cho phép, nên buộc phải có lúc mình phải chấp nhận sự bất lực chứ, và những lúc như thế thì rõ ràng là phiền muộn, là tâm trạng rồi. Vậy nên tốt nhất hãy biết hạn chế những ước vọng của mình, nếu có gì đó nảy sinh, mà xét thấy mình không thể đạt được, thì hãy gạt phắt nó đi, và nghĩ đến những gì trong tầm tay mình thôi, như vậy sẽ dễ sống hơn.
– Tôi có nhiều lúc rất buồn vì phải sống dựa vào sự cưu mang của người thân, cho dù hàng ngày tôi cũng làm một số công việc trong nhà, nhưng không trực tiếp làm ra tiền để có thể tự lo cho mình, nên cũng nghĩ ngợi lắm.
– Đây là một vấn đề rất bức thiết của chúng ta, tuy xã hội cũng đã có những hướng tạo công ăn việc làm cho những người khuyết tật, nhưng con số đó còn quá ít. Số còn lại phải tự mưu sinh bằng mọi cách có thể, may mắn hơn một chút như cô còn có người thân giúp đõ, còn nhiều, nhiều lắm những người đang phải sống lây lất từng ngày kia. Nói gì thì nói, đa số những công sở, nhà máy vẫn không thể chấp nhận chúng ta, vì cái họ cần là hiệu suất công việc, so ra thì đương nhiên chúng ta không thể bằng người bình thường rồi, hơn nữa những nơi ấy đâu phải là nhà từ thiện cho dù ở mức độ nào đi nữa. Nếu chúng ta cứ để tâm đến những bất bình đẳng của xã hội, thì không thể nào có được sự bình yên cho mình cả.
– Thế theo anh thì phải làm sao ?
– Hãy bằng lòng với những việc dù nhỏ nhặt mà mình đã làm được, đừng đòi hỏi mình nhiều quá, dễ dẫn đến một tâm trạng yểu nhược. Ví dụ như cô, cô nấu được một bữa ăn ngon, những người thân của cô vui thích thưởng thức, và có đầy đủ dinh dưỡng để làm được nhiều việc, để tránh được những bệnh tật, thế đã là tốt rồi, hoặc như cô nói, cô cũng thỉnh thoảng viết lách đôi chút, vây thì một bài thơ, một bài văn hay, gây được cho người đọc chút niềm vui, chút thư giãn đầu óc sau những công việc mệt mỏi, thế là hay rồi. Còn với tình cảm của mọi người, hãy mở lòng đón nhận, dù cách thể hiện của họ đôi khi không được tế nhị lắm, nhưng đừng quá tự ti mặc cảm mà phủ nhận, đó cũng là tự hắt hủi mình đấy.


Càng nói chuyện với con người này tôi càng cảm thấy bộ óc mình như nở ra, có những điều tôi cũng đã từng nghĩ đến, nhưng để diễn tả thành lời được thì không dễ, bất giác tôi kêu lên một tiếng thán phục :

– Hôm nay thật là môt ngày đẹp trời để tôi được trò chuyện với anh thế này.
– Thật ra đây cũng là một dịp may cho tôi, vì không dễ tìm được một người có thể nghe và hiểu được mình muốn nói gì.
– Vâng. Đúng thế đấy anh ạ. Trong cuộc sống mình có thể gặp rất nhiều người, nhưng với một số thì chỉ có thể bâng quơ hay đùa cợt dăm câu rồi qua chuyện , còn để nói được những chuyện thuộc tư duy thì không nhiều lắm.
– Đối với loại chuyện mang tính tâm cảm đặc trưng như chúng ta lại càng khó. Bởi với những người bình thường, họ không thể hiểu hết được tâm can của ta, mà ta thì vì lòng tự trọng cũng không dễ thổ lộ với họ.
– Như vậy nhất thiết chúng ta phải tìm đến nhau để có thể giải tỏa những gút mắc trong lòng phải không ạ ?
– Được thế thì quá tốt.
– Thế thì số điện thoại của tôi đây, còn anh ?
– Tốt quá, tôi không có điện thọai, nhưng không sao, tôi vẫn có thể liên hệ với cô mà.

Ông mặt trời đã lên khá cao, ánh nắng đã có phần gay gắt, tôi nhớ đến công việc của mình.

– Chắc tôi phải chào tạm biệt anh rồi.
– Vâng, cô có việc thì cứ về trước, tôi sẽ tiếp tục công việc của tôi đây.Chúng ta sẽ còn nhiều dịp để trò huyện với nhau mà.

Nói rồi anh chìa ra một tập vé số nãy giờ nằm nép một bên, tôi ái ngại :

– Ôi chết , vì tôi mà …
– Cô không phải nghĩ ngợi, đây là việc hàng ngày, còn buổi nói chuyện của chúng ta nó có một giá trị riêng chứ, đâu thể so sánh nhau được.
Tôi mỉm cười chợt nghĩ và nói :
– Anh nghĩ sao nếu cuộc nói chuyện của chúng ta sẽ một ngày xuất hiện trên một trang báo nào đấy ?
– Thế thì quá tốt, biết đâu cũng có những người bạn như chúng ta đây gặp được một sự đồng cảm dễ chịu này.
– Tôi chợt nảy ra một ý, nếu ta thành lập được một Câu lạc bộ cho những người khuyết tật thì hay biết mấy anh nhỉ ?
– Một ý kiến tuyệt đấy, nhưng mà hơi to tát, mà không chừng, biết đâu đấy…
– Ồ, bỗng nhiên tôi có một hứng thú ghê gớm cho việc này, ta sẽ bàn với nhau sau nhé. Giờ thì chúc anh gặp may với những người khách dễ tính.
– Dễ tính thôi chưa đủ, họ còn phải có một khao khát nữa cơ.
– Khao khát một món lợi dễ kiếm thì hầu như ai cũng có, nhưng đặt niềm khao khát vào sự may rủi thì không nhiều đâu anh ạ.
– Tất nhiên, nếu không tôi đã trở thành một nhà tỷ phú nhờ kinh doanh vé số mất rồi.

Những tiếng cười vui vẻ, sảng khoái luôn đem lại cho những gương mặt người một vẻ rạng rỡ yêu đời, chúng tôi chào từ biệt nhau trong tiếng cười thanh thỏa ấy. Vừa quay lưng trở bước, tôi nghe anh bạn gọi :

– Này, nếu có nhuận bút thì phải nhớ chia cho tôi một nửa đấy nhé.
– Anh yên tâm, hai phần ba cũng được mà.

Đôi nạng lại đưa tôi về phía khu chợ, hôm nay tôi mua một số thực phẩm ngon về chế biến, tôi thường rất vui khi những món ăn của mình được mọi người yêu thích và sử dụng hết với vẻ còn thòm thèm, hôm nay chắc chắn niềm vui ấy trong tôi sẽ tăng lên gấp nhiều lần.

Đàm Lan

Tô Phở

    tặng Ng H

Khóc.
Chỉ một từ ngắn gọn mà hàm chứa bao điều.
Người ta nói tiếng khác nhau, ngôn ngữ khác nhau nhưng tiếng khóc thì không khác.
Có người dễ khóc, có người cả đời không thấy khóc. Có người khóc ồn ào, có người âm thầm rơi nước mắt hoặc chỉ bằng đôi mắt ráo hoanh vô hồn
Khóc giúp con người vơi đi đau khổ, buồn phiền. Khóc cũng biểu hiện niềm vui niềm hạnh phúc tột cùng. Đôi khi khóc có tính phức hợp.
Người khóc vì đại sự. Người khóc cho người khác. Người tôi sắp nói tới đây lại khóc chỉ vì tô phở.

* *


Đấy là một người phụ nữ bình dị , chữ nghĩa chỉ đủ để viết lên cánh cửa bếp mấy con số nhớ ngày mẹ gà ấp trứng hay số gạo bột cần mua. Người đã đi khắp nơi mọi chốn vì chuyện mưu sinh từ khi còn trẻ đến lúc tóc ngả màu mới chọn một chỗ chật hẹp trong chợ to buôn nhỏ bán lẻ cốt có thêm miếng cá tươi đáp ứng sở thích ngày càng ít lại của chồng hoặc hộp bánh ngon cho cháu. Người không mấy khi đau ốm dù luôn tay từ sáng sớm đến tối mịt. Người luôn làm nhiều hơn nói, từ thuở mới theo chồng đến lúc tay yếu chân run. Người đã sinh mười đứa con cả trai lẫn gái và nuôi chúng ăn học thành người có vai vế tiếng tăm, có một lô lốc nhốc các cháu nội ngoại mà chưa một lần nói nặng với chồng. Người thỉnh thoảng nấu nướng thật nhiều món ngon lành rồi gọi cháu con đến ăn thoả thích. Người mua một lúc mấy con gà vườn, đang giữa trưa kêu xe ôm đi từ phố về làng, từ đông sang tây chia cho con gái mỗi đứa một nửa sợ chúng nó thèm. Người lặng lẽ gọt cả đông gừng tú ụ, ngào mứt rồi gọi con – đã làm cha làm mẹ – đến nhận về, nửa dùng trong ngày tết nửa làm quà tặng bạn bè.

Đấy là người đáng kính đáng yêu nhất của các con, người luôn được nghĩ tới trong mỗi bước đường của đời họ , là tấm gương soi, là chỗ dựa cho các con khi xiêu ngã. Và đặc biệt chưa ai từng thấy người đó khóc dù đường đời bao nỗi lận đận, bao phen lâm cảnh ngặt nghèo éo le.

Vậy mà người ấy chiều nay đã khóc .

* *


Tin người đó khóc truyền nhanh trong con cái và gây bất ngờ, lo âu ngay sau khi một trong các cháu nội ngoại tình cờ phát hiện.
Điện thoại réo tíu tít giữa mấy nhà.
Năm phút sau mấy anh chị em gặp nhau tại nhà chị lớn trong phố chính. Suy đoán chán lại nhìn nhau. Không ai biết nguyên nhân. Người ấy vẫn mạnh khoẻ không có biểu hiện bệnh tật, không bị ai lừa gạt, không bị mất tiền mất của, không gặp điều oan ức và càng không có một ai thân thích từng biệt tăm biệt dạng ghé thăm. Vậy thì do đâu ?
Chỉ có thể vì mấy đứa con người rứt ruột đẻ ra
Lập tức một cuộc lục vấn tra gạn diễn ra giữa mấy người con.
Chị vặn em, em hỏi chị. Không. Không ai lơ là thăm viếng. Không ai nói năng hỗn ẩu. Vậy thì chỉ có thể là người ấy buồn phiền cho gia cảnh các con mà khóc.
Những lỗi lầm sai trái gãy đổ của mỗi gia đình lại bị xới tung lên thiếu điều gây giận lẫy. Nhưng không có chuyện gì ghê gớm xảy ra trong gia đình mỗi người. Vợ chồng nhà nầy giận nhau, vợ chồng nhà kia làm ăn thua lỗ, vợ chồng nhà nọ con cái không vâng lời đã thành quá khứ từ lâu lắm rồi. Gia đình nào cũng ngời ngời hạnh phúc, ngời ngời thành đạt.

“ Thôi. Không bàn nữa. Cứ đến mà hỏi là thượng sách”.

Vợ bảo chồng, chị bảo em. Tất cả theo nhau lên xe không quên lễ mễ trà sữa cam nho rùng rùng kéo đến nhà. Hàng xóm nửa ngạc nhiên nửa thèm cảnh lạ lùng này.

* *


Quả thật người ấy khóc. Nước mắt đã khô nhưng dấu tích vẫn rành rành qua khoé mắt nhoè đỏ, qua giọng nói ngàn ngạt, qua tiếng sịt mũi đã cố giấu diếm.
Chị em, lớn nhỏ thi nhau gạn hỏi. Khô cả cổ, mỏi cả chân, đói meo bụng cuối cùng thì bật ngửa là chỉ vì tô phở. Vâng. Một tô phở giá năm ngàn.
Chỉ có điều tô phở được một người đàn ông mua mang đến tận nơi người ấy đang ngồi, lau đũa lấy thìa dịu dàng mời mọc.

* *

Người đàn ông ấy từng là chàng trai thông minh lanh lợi khoẻ mạnh trước khi trở thành người khôn ngoan lịch lãm chốn chợ đời và bây giờ là ông lão ngoài tám mươi da mồi tóc bạc yêú ớt hơn cả trẻ nhỏ. Người đàn ông ấy từng có thời ngang tàng ngược xuôi từ nam chí bắc, lên rừng xuống biển thi thố thao lược trước khi chịu ngồi gò bó trước hiên nhà nhìn thiên hạ lại qua mà nhớ thời ngang dọc. Người đó từng thâu đêm suốt sáng đấu lý với lý trưởng tham lam rồi xã trưởng độc ác trước khi thích kể chuyện ngày xưa với mấy thằng cháu trai bằng giọng tự hào xen nuối tiếc. Người đó cũng từng đổ vào canh bạc cả ngôi nhà hoặc chung độ một trận đá gà bằng cú thầu vừa trúng trước khi hớn hở như con trẻ nhận phong bao mừng tuổi từ con gái con trai mỗi dịp Tết đến xuân về. Người đó vô tư đến nỗi con có mười đứa thì vợ một mình vượt cạn, một mình nuôi ăn nuôi học suốt mấy chục năm qua bao nhiêu biến động không một lời han hỏi. Người ấy mới đây vừa thoát một cơn bạo bệnh, chỉ đi lại trong nhà khoe cháu khoe con rằng “Giờ tau chỉ đi được bước ngắn”.

Và chiều nay người ấy đã làm mềm lòng người đàn bà, khiến nước mắt phải rơi

* *

Vâng. Chính người ấy chiều nay đã đích thân dò từng bước ngắn ra đến đầu ngõ mua tô phở, lau đũa lấy thìa tận tay đưa đến nhỏ nhẻ bảo người đàn bà đang ngồi buồn xo sau giấc nắng nôi: “ Mụ ăn đi kẻo nguội”.

Khi nghe lũ con xúm lại gạn hỏi mẹ, người đàn ông – đang lẫm chẩm tới lui đã cao giọng:

– Cả đời tau không hề. Giờ tau đi mua phở cho mụ ăn. Sướng rứa rồi còn khóc là tại làm răng. Tau không hiểu nỗi… Thiệt đúng là đàn bà. ..

Nghe những lời phàn nàn của người đàn ông , tất cả – không ai bảo ai – thở phào nhẹ nhỏm , nhìn nhau cười mà nước mắt lăn lăn. Họ đã hiểu. Chẳng ai trong số họ gây phiền muộn cho mẹ mình cả. Họ vẫn là niềm tự hào của mẹ. Mẹ khóc khi đón nhận sự chăm sóc của người cả đời chỉ biết nhận từ bà.

Tô phở vợ mua cho chồng, chồng mua cho vợ không mới mẻ gì cũng không có gì đặc biệt với nhiều gia đình. Nhưng tô phở của ngươì đàn ông lại mang bao ý nghĩa mà chỉ người trong cuộc mới cảm nhận được, là mật mã chỉ có thể được giải bằng chính cuộc đời của hai người.

Những giọt nước mắt của người ấy chính là nước mắt trôi rửa mọi tủi hờn lắng tụ bấy nhiêu năm làm vợ. Nước mắt của niềm vui, niềm hạnh phúc – một hạnh phúc vợ chồng đơn sơ, cụ thể mà người ấy khát khao đã từ lâu lắm.

Đó cũng có thể là những giọt nước mắt tiên cảm về cuộc chia ly vĩnh viễn đang mon men đến giữa hai người.

* *

Tôi chính là một trong mười người con của họ.
Cũng như các chị, nước mắt tôi lăn lăn…

Từ Chuyện Cây Bàng Trong Sân Trường

Sân trường tháng muời hai luôn đặc biệt bởi những chiếc lá bàng. Cây bàng không biết từ lúc nào đã tự nhuộm mình thành đỏ ối như một ngọn đuốc khổng lồ, cứ thầm lặng cháy trong trời đông xám lạnh. Mỗi ngày, ngọn đuốc ấy lại hao mòn đi một ít sắc đỏ vì những chiếc lá rụng.

Tháng mười hai Tây Nguyên cũng đã bắt đầu mùa gió, nên vừa rời cành lá bàng đã được gió đón lấy, nâng trên đôi cánh của mình mà đưa đi tít xa. Có những chiếc lá không theo gió, chỉ chao nhẹ đáp xuống rồi nằm thảnh thơi trên mặt đất, làm nên một tấm thảm màu nâu đỏ, đẹp đến ngỡ ngàng.

Cô giáo dạy văn mê đắm lá bàng, cứ ngẩn người xuýt xoa không ngớt trước vẻ xao xác của sân trường mùa lá rụng. Rồi tiếc nuối hụt hẩng khi thấy học trò của mình quét sạch lá rụng…
Không chỉ quét lá rụng, học trò còn leo lên cây tuốt hết những chiếc lá đã chín màu nâu đỏ, tuốt cả những chiếc lá mới chỉ vương chút nâu vàng… Lá bàng bị cưỡng bức rụng ào ào xuống sân trường.
Rồi trong chốc lát, tất cả những chiếc lá như những mảnh màu ấm áp tuyệt đẹp, đã bị dồn hết vào trong bao tải. Học trò mang những bao lá bàng ra để ở một góc đường, xe rác sẽ đến và mang chúng đi…

Thầy giáo phụ trách cơ sở vật chất của trường không thích lá bàng rụng, không thích màu sắc quá chói gắt của lá bàng trong mùa đông, không thích sự bay tung, sự sóng soãi, sự rực cháy của nó trên sân trường. Sân trường đầy lá rụng, trông chẳng giống sân trường một chút nào, trông cứ luộm thuộm như một công viên hay một góc rừng… Thầy muốn sân trường phải thật sạch sẽ thật nghiêm trang như một ông giáo mặc veston trong ngày khai giảng!

Cho học sinh tuốt sạch lá bàng! Không để cho cây bàng tự do sống đời sống của nó!
Không để cho tụi học trò ngớ ngẩn dạo qua dạo lại trong sân trường, nhặt mấy chiếc lá đỏ, lật đi lật lại trên tay mà ngắm nghía, mà xuýt xoa!
Không để cho cô giáo dạy văn đang giảng bài chợt sững người nhìn chiếc lá bàng vừa bay vào lớp. Rồi nhặt chiếc lá mà liên hệ với học trò về sự hữu hạn của mỗi đời sống trong vô hạn của thời gian. Sự cần thiết phải nỗ lực của mỗi con người, để có thể đi qua cuộc đời một cách lương thiện, đoàng hoàng, đẹp đẽ. Như chiếc lá bàng đã sống trọn đời với màu xanh trên cành làm nên bóng mát, rồi chọn một cái chết đẹp, với màu sắc rực lên, cháy đến tận cùng, dâng hiến đến tận cùng cho mùa đông, làm nên một đốm lửa ấm áp sưởi ấm không gian lạnh lẽo trước khi tan biến vào cát bụi đất đai!

Cô giáo dạy văn nhớ bài thơ Mùa lá rụng của Ôn ga Bec gôn với lời đề dẫn: Mùa thu ở Matxcơva người ta treo những tấm biển trên các đại lộ với dòng chữ: Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng… Và tiếc rằng, thầy giáo phụ trách cơ sở vật chất của trường, có thể không biết bài thơ đó. Không biết rằng ở nhiều nơi những chiếc lá vàng óng kia, đang được bảo vệ cẩn trọng như những báu vật.

Những đàn sếu bay qua. Sương mù và khói toả…
Matxcơva, lại đã thu rồi!
Bao khu vườn như lửa chói ngời
Vòm lá sẫm ánh vàng lên rực rỡ
Những tấm biển treo dọc theo đại lộ
Nhắc ai đi ngang dù đầy đủ lứa đôi
Nhắc cả những ai cô độc trên đời
“Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng”



Bảo vệ từng chiếc lá cây trong mùa cây rụng lá, hoặc leo lên cây tuốt sạch hết lá vàng, hoặc bẻ đến kỳ hết những chùm trái bằng lăng khô khốc .. Đó không chỉ là những hành xử của con người với cây cỏ thiên nhiên. Đó còn là biểu hiện quan điểm của mỗi người về cái đẹp. Trong môi trường sư phạm, đó còn là quan điểm về vấn đề giáo dục cái chân, cái thiện, cái mỹ cho mỗi học sinh.

Nhưng làm sao có thể trách được người không biết. Mà vẻ đẹp kỳ diệu trong từng chiếc lá rụng, có phải ai cũng nhận biết hết cả đâu. Đâu phải ai cũng có thể tưởng tượng rằng ngày xưa, cái ngày xưa Thơ Mới đó, Xuân Diệu cũng đã từng choáng ngợp trước cây bàng lá đỏ mà viết:

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

Những cây bàng trong sân trường giờ đã trơ trụi lá, nhưng vẫn đẹp một vẻ rất riêng. Cành nhánh trên thân cây khẳng khiu trông như những cánh tay dang rộng, phả lên bầu trời cái màu khói sương bãng lãng.

Rồi ít lâu sau, bàng sẽ nhú lộc. Những mầm non đỏ tươi đậu chi chít trên cành như minh chứng cho sự trẻ trung, cho sức sống cuồn cuộn rạo rực chảy tuôn sau lớp vỏ dày nứt nẻ.
Rồi lá bàng sẽ to ra dựng đứng như tai thỏ.
Rồi lá bàng sẽ nhanh chóng lớn nữa, xoè rộng, tạo nên một vòm bình yên với tầng tầng lớp lớp lá non xanh như ngọc.
Rồi đến lúc tiếng ve báo hè vang dậy, dưới những tán lá bàng sẽ có những cô cậu học trò ngồi học bài.. Họ hái chiếc lá bàng ghi vài câu thơ vào đó, có khi tặng bạn, có khi ngần ngại ép vào cuốn sách mang về…
.


Xã hội càng hiện đại, những khoảnh khắc xúc cảm lãng mạn như vậy, phải chăng càng cần thiết? Phải chăng nhờ vào đó, bao tâm hồn của thế hệ trẻ sẽ có cơ hội cân bằng trước những xơ cứng của máy móc, của thao tác nhấp chuột tìm bạn bè, tìm trò chơi, tìm thông tin trên net?
Cũng như vò trong tay một lá cỏ hăng hắc, nghe bên tai lảnh lót một tiếng chim, phải chăng là một cách di dưỡng tinh thần, để con người chúng ta bớt cằn cỗi với café uống liền, trà xanh chai nhựa, nước trái cây đóng lon, cùng bao nhiêu sản phẩm đóng hộp khác, nhan nhãn trong xã hội hiện thời?

Vì vậy, hạnh phúc thay cho những ngôi trường có khuôn viên rộng, có nhiều cỏ cây, có bóng mát, mùi hương và tiếng chim. Để thiên nhiên, bậc thầy kỳ diệu, dạy cho những học sinh, những tâm hồn bé bỏng tình yêu cái đẹp, cái thiện…
Học sinh sẽ tự nhận biết trong mỗi cành cây ngọn cỏ, bài học về sự cho đi và nhận được, sự có mặt và khuất lấp, sự mạnh mẽ vươn dậy của những tạo vật mỏng manh.

Học sinh sẽ tự nhận biết thời gian đi qua, bốn mùa đi qua, không chỉ trên những tờ lịch, những con số đếm ngày đếm tháng vô hồn, mà còn trong sự luân chuyển đâm chồi, ra hoa, rụng lá của cây cối..

Yêu cái đẹp cái thiện học sinh sẽ biết hành xử hướng tới cái đẹp cái thiện. Nâng niu một chiếc lá, học sinh sẽ biết nâng niu một số phận, Ngắm nhìn một bông hoa, học sinh sẽ biết trân trọng, ngưỡng mộ một tài năng. Đứng trước một chùm quả, học sinh sẽ phải suy ngẫm về việc cần nghiêm túc, cần nỗ lực trong học tập, trong lao động để có được những thành công thực sự trong đời…

Yêu cây cỏ trong sân trường, học sinh sẽ còn thấy gắn bó hơn với thầy cô, bè bạn, những giờ học, giờ chơi, những hồn nhiên của lứa tuổi mình đang sung sướng được sống.
Và từ lòng yêu cây cỏ, gia đình, mái trường, thầy cô bè bạn, những học sinh, những công dân tương lai của đất nước, sẽ ý thức rõ hơn, nuôi dưỡng sâu xa hơn trong lòng họ tình yêu tổ quốc.
Để khi tổ quốc cần, họ biết nỗ lực bảo vệ hoặc dựng xây. Bởi vì, như nhà văn I li a Ê ren bua đã viết: Lòng yêu tổ quốc bắt đầu từ lòng yêu những vật tầm thường nhất, yêu cái cây trồng trước cửa nhà, yêu con đường nhỏ dẫn ra bờ sông, yêu mái nhà tranh, yêu đồng lúa chín…

Đinh Thị Như Thúy

Giáng Sinh ư ? Hãy đến một nơi xa lạ!

Tôi nhớ có người nói rằng: “Giáng Sinh luôn luôn là khoảnh khắc bạn cảm thấy nhớ nhà – kể cả khi bạn vẫn đang ở nhà” (*) Ấy vậy mà mười năm nay tôi đã phải đón Noel ở Sài Gòn, hỏi sao tôi không nhớ nhà cho được.

Tôi lớn lên giữa một xứ đạo. Và ký ức về Noel đầu tiên của tôi là năm bảy tuổi, khi tôi được chọn vào đội thiên thần múa bài “Cao cung lên” ở nhà thờ trong buổi lễ nửa đêm. Lần đó, tôi đã khóc đến sưng mắt để đòi ba phải cho tôi uốn tóc xoăn, và mẹ phải may cho tôi một cái áo đầm trắng. Phải vậy chứ, vì tất cả các thiên thần đều có mái tóc xoăn, mang áo trắng và đeo một đôi cánh cũng trắng tinh. Mất bao nhiêu nước mắt thuyết phục, đến khi ba mẹ tôi đồng ý thì hỡi ôi, tôi bị loại khỏi đội múa vì…tay chân cứng quá!

Để xoa dịu nỗi buồn của cô gái nhỏ, tất cả những người lớn trong gia đình đã làm tất cả để Giáng Sinh năm ấy trở thành một sự kiện tuyệt vời nhất trong đời tôi. Có lẽ vì vậy mà từ đó Giáng Sinh đã trở nên rất quan trọng với tôi! Cậu làm cho tôi một chiếc đèn ngôi sao thật lớn. Dì tôi làm bánh buche, mẹ ngâm dâu tây…Cả nhà cùng nhau thiết kế một hang đá khổng lồ với cây lồ ô, rơm và bao xi măng, dựng “cây thông” bằng cành dương đính bông gòn và kim tuyến, treo đèn rực rỡ hơn bất cứ nhà nào trong xóm. Chúng tôi ăn Réveillon với nồi cháo gà vàng ngậy, thơm phức của bà ngoại…

Nhưng điều đặc biệt nhất đối với tôi, đó là Ba Mẹ đã quyết định đưa tôi đi lễ nửa đêm ở một giáo xứ khác, để tôi không phải chạnh lòng khi thấy bạn bè múa “Cao cung lên” trong đôi cánh thiên thần. Đó là một giáo đường lạ, với những giáo dân tôi chưa từng gặp bao giờ. Nhưng chính khung cảnh náo nhiệt, ấm cúng, sự hồ hởi vui mừng của tất cả mọi người, bài thánh ca quen thuộc “Đêm thánh vô cùng, giây phút tưng bừng….” đã khiến tôi cảm thấy mọi thứ đều vô cùng thân thuộc.

Rất nhiều năm đón Noel ở Sài Gòn, nỗi nhớ quê nhà luôn tràn ngập trong tim, nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy cô đơn hay buồn chán. Bởi mỗi một đêm Giáng Sinh, tôi đều tìm đến một nơi hoàn toàn xa lạ, chưa đặt chân đến bao giờ. Có năm, tôi không đi lễ ở nhà thờ quen mà ghé thánh đường nhỏ tên là “Phanxicô khó khăn” trên đường Nguyễn Đình Chiểu. Có năm, tôi đi dự lễ hội hoá trang ở một trường Đại học với người bạn mới quen. Năm sau, tôi tham gia đội tình nguyện mặc áo ông già Noel đi phát quà cho trẻ em đường phố ở Tao Đàn. Một lần khác, tôi xin một chân bán hàng thời vụ tại một cửa hàng bán đồ trang trí cây thông trước cửa Nhà thờ Tân Định. Nhưng cũng có lúc, không có cuộc hẹn nào cho đêm Giáng Sinh, tôi đã một mình bước chân vào quán cà phê lạ, ngồi đối diện với cây nến nhỏ và lặng ngắm những cặp tình nhân…

Giáng Sinh, đó là một thời điểm đặc biệt, không chỉ về mặt tôn giáo. Nó là một trong những ngày lễ lớn nhất trong năm, có lẽ chỉ sau Tết Nguyên đán. Ngay từ đầu tháng mười hai, ông già Noel đã dạo những bước đầu tiên trên đường phố Sài Gòn. Các cửa hiệu đều trang trí chủ đạo ba màu trắng, xanh lá và đỏ sậm, những con phố chuyên bán cây thông và đồ trang trí bắt đầu nhộn nhịp. Các shop bán quần áo và đồ chơi trẻ em treo lủng lẳng những dây dài các bộ quần áo Noel đỏ rực. Các trung tâm thương mại lớn giăng đèn và dựng cây thông khổng lồ với tượng ông già Tuyết bên cỗ xe tuần lộc…Phố Sài Gòn nhộn nhịp đến từng nhịp chân đi…

Nhưng dưới mắt tôi, Giáng Sinh là thời điểm đặc biệt còn vì một lý do khác. Nếu như bạn ở xa nhà vào khoảnh khắc Giao thừa tết Nguyên đán, cảm giác lớn nhất có lẽ là nỗi cô đơn. Ngay cả khi bạn đang đứng giữa một buổi party đông đúc, một quán cà phê quen, những người bạn thân thiết. Khoảnh khắc Giao thừa luôn khiến bạn nhận ra một khoảng cách nhất định với những người khác và ngay lập tức bạn muốn trở về căn nhà ấm áp của mình bên những người ruột thịt. Đó là khoảnh khắc bất cứ ai cũng thấy lòng chùng xuống một cách vô thức, thu mình lại trong nỗi khát khao được trở về.

Giáng Sinh thì khác, một thời điểm không có lý do gì để buồn. Một niềm hân hoan rõ rệt in trên mỗi gương mặt dù lạ hay quen. Một không khí nhộn nhịp, ấm cúng, đầy chia sẻ và cởi mở hiện diện ở bất cứ đâu sẽ khiến bạn không cảm thấy e dè khi phải là người lạ. Đón Giao thừa ở nhà người khác thì thật vô duyên và lạc lõng, nhưng ăn Réveillon ở nhà bè bạn lại là những khoảnh khắc tuyệt vời.

Đối với tôi, Giáng Sinh luôn là thời điểm giúp tôi nhận ra những khía cạnh tốt đẹp ở người khác một cách dễ dàng nhất. Những con người này, tôi có thể đã gặp họ đâu đó trên đường, khi họ càu nhàu vì khói bụi, nhăn nhó và bẳn gắt vì những chuyện bực mình ở gia đình hay nơi công sở. Bình thường họ trưng ra những bộ mặt có thể đáng ghét biết bao nhiêu, nhưng vào đêm Noel, họ ăn mặc rất đẹp, họ cười nói một cách thoải mái và vui vẻ! Họ thân thiện và đáng yêu! Cũng như tôi, họ cảm thấy dễ chịu, bình an, trái tim mở rộng và sẵn sàng chia sẻ niềm vui.

Vì vậy, tôi gọi Giáng Sinh là thời điểm tốt nhất để bắt đầu một tình bạn! Hãy đến một nơi xa lạ vào đêm Giáng Sinh. Biết đâu bạn sẽ gặp tôi ở đó, với nụ cười trên môi, tôi sẽ chúc bạn câu này: “Cầu cho niềm vui của hôm nay luôn tràn đầy ân phúc, và mỗi con đường đều dẫn đến bình an.(**) Giáng Sinh vui vẻ !

Đông Vy

Chú thích:

* Carol Nelson

** Agnes M. Pharo

Nhầm Lẫn

“Không có người con gái xấu. Chỉ có người con gái không biết làm đẹp”

Thực tế không hòan tòan đúng với câu nói trên, hay chỉ có thể xem nó như một lời động viên, an ủi với những ai không có được một dung nhan tàm tạm vào hàng coi được. Có những người con gái không may, ngay khi lọt lòng mẹ đã phải chịu một sự bất công của tạo hóa. Xấu, xấu thê xấu thảm, xấu như một chiều tàn ảm đạm, xấu đến ma không buồn ngó, cú vọ chẳng buồn nhìn, với những nét xấu tận cùng, mà không có cách gì làm cho khá lên tí chút dược. Xấu đến tội nghiệp, xấu đến khó tin. Tôi là một người như thế.
Không biết xưa Chung vô Diệm xấu đến thế nào, mà đến nỗi mặc nhiên đi vào giai thọai như thế. Nếu ngày đó bà là người xấu nhất thế gian, thì đích thị ngày nay tôi là con cháu duy nhất của bà. Điều khó hiểu là nhà có bốn chị em gái, thi ba người kia lại rất đẹp, da trắng, mắt xinh, môi tròn, mũi thẳng. Nói chung là họ có một ngọai hình tương đối, đủ để giao thoa với cuộc đời. Riêng tôi, cứ như một chuyến đi buôn hết vốn, đành gom góp chút rơi rớt khi chợ tàn cho đỡ xót lòng túi rỗng, cứ như là một biểu vật mà ông trời trớ trêu nghịch ngợm ném xuống cõi trần trong một lần ác ý. Cái biểu vật ấy gần như hội đủ những gì có thể cho là xấu nhất thế gian với hình thể một con người.

Cằm vẹo, trán dô, miệng hô, mắt hí, da nhọ nồi, mặt đồi mồi khô ba nắng, thân hình gầy ngẵng, khẳng khiu, ốm nhõng. Như vẫn chưa đủ, một trận đậu mùa góp thêm vào khuôn mặt những nốt rỗ chằng rỗ chịt. Tóm lại, tôi là một thứ hình thù mà ai lỡ chạm mắt phải e đêm về ngủ phải giật mình đôi ba bận, là một mạ lỵ, hổ thẹn cho cả gia đình.

Lúc còn bé, chỉ được mặc quần áo thừa của chị, lủi thủi làm bạn với đất đá, họa hoằn lắm nhặt được dăm mẩu đồ chơi vứt đi đã là vui sướng. Thường xuyên dè dặt, tôi nép vào một góc xó nào đó mỗi khi mẹ đi chợ về, trong khi các chị em thì tíu tít bánh quà. Đôi mắt tôi thèm khát, nhưng đôi chân sợ sệt chẳng dám đến gần, e những lời quát nạt, mắng mỏ, sau cùng còn được chút sứt thẹo ném cho thì mừng rỡ, tôi vội vàng nhặt lấy, cũng chẳng hiếm khi bị bỏ quên.

Lớn dần lên, hiểu dần thêm, ý thức được sự khác biệt của thân phận, tôi càng rút mình vào lặng lẽ, chí ít thì cũng để tránh sự khó chịu cho người khác. Mỗi lúc có khách đến chơi nhà, nỗi lo lắng nhất của mẹ tôi là tôi vô tình hay cố ý xuất hiện trước mặt khách. Nếu lỡ ló mặt ra thì ngay lập tức nhận một cái lườm cháy da, đến tái người phải nhanh chóng vụt biến mất trong nỗi phập phồng một trận đòn lơ lửng. Những trận đòn đôi khi không có lý do, và không phải lúc nào cũng do lỗi của tôi.

– “ Kiếp trước tao đã làm gì nên tội, mà bây giờ bị trừng phạt bằng một con quỷ trong nhà thế này hả ? Ông trời ơi ! Ông nhầm lẫn thế nào mà lại bắt tôi sinh ra quỷ thế hở ông ? Nhục ơi là nhục, khốn nạn cho cái thân tôi”

– “ Thôi em, có thế nào nó cũng là con của mình, ông trời bắt tội nó thế nó đã khổ lắm rồi, em còn chì chiết nó mãi thế làm sao nó sống nổi”
– “ Không sống nổi thì chết đi, chết đi cho tôi nhờ. Cũng tại ông, ông làm chuyện thất đức với ai mà đem tội nợ về bắt tôi phải gánh đây hở ? Biết trước thế này tôi bóp mũi nó ngay lúc mới đẻ ra cho xong”
– “ Ăn nói kiểu gì vậy hả? Có im ngay đi không?”

Kết thúc cuộc cãi vã của bố mẹ là những giọt nước mắt lặng thầm của con bé trong một góc khuất. Rồi mặc nhiên tôi trở thành người giúp việc tận tụy trong gia đình. Mặc nhiên những công việc dơ bẩn, nặng nhọc, khó khổ trong nhà thuộc về tôi. Mặc nhiên tôi trở thành một cái bóng ma lầm lũi, không hay nói, chẳng thích cười, để có lần tôi nghe em gái mình nói vói bạn nó “Tao mà sốnng như chị ấy tao sống không được đâu, cứ giả câm giả điếc suốt ngày vậy đó”. Giả câm giả điếc để cầu hai chữ yên thân. Lần hồi cái sự cùng dòng máu cũng rơi vào quên lãng, lần hồi những người quen biết với gia đình cũng quen một cách nhìn “Ô sin còn khá hơn”. Chỉ có bố tôi là còn nhớ, và cái sự nhớ ấy cũng chỉ có thể biểu hiện một cách âm thầm, vụng trộm. Một cái áo mới, một cái kẹp tóc cũng gây sự bất bình cho ai đó.

Nếu như có thể có một lý do nào khả dĩ biện minh được thì có lẽ tôi cũng chẳng có đến cả niềm vui sách vở. Không chỉ là niềm vui, mà còn là một cứu cánh nữa, tôi âm thầm bấu víu vào nó, trong âm thầm khích lệ của bố tôi. Trong lớp cũng chẳng có ai muốn chơi với tôi, thậm chí ngồi cùng bàn cũng không thể, vì thế mà cái bàn cuối lớp, nghiễm nhiên dành cho mỗi một người. Thế giới sách vở là mối bận tâm duy nhất của tôi, tôi dành hết cả những thời gian, tâm sức mà mình có thể cho nó. Điểm số của tôi đã leo dần lên vị trí cao nhất lớp, nhưng điều này chỉ đem đến cho tôi những đố kỵ, ghen ghét. Không sao, tôi đã quá quen, và đã hiểu được những gì là cần thiết cho mình . Những tấm bằng khen, những gói phần thưởng là niềm vui của cả bố tôi, một chầu kem, một chén chè, một món ăn ngon ở một cửa hàng nào đó là tình yêu của bố dành cho tôi. Chỉ thế cũng là quá dủ cho nguồn động viên tinh thần, để khi đặt chân về tới nhà thì những niềm vui ấy lại được cất kín vào ngăn cặp, lại lầm lụi với bao công việc đang chờ.

Con người ta sinh ra là đã có sẵn một lập trình, một quy luật bất biến của thời gian, buồn vui, hay dở, đẹp xấu gì cũng phải tuân thủ theo sự chuyển động của chiếc kim đồng hồ. Tôi cũng như bao nhiêu người con gái khác, đến tuổi, đến thì cũng phát triển tâm sinh lý tự nhiên. Cũng ươm mầm bao ước vọng, cũng mỏi mong chuyện sớm chiều, cũng dạt dào cảm xúc. Tình cảm luôn là một nguồn lực dồi dào cho cuộc sống, nhất là tình cảm lứa đôi. Nó chi phối và tác động rất cụ thể đến mọi ngóc ngách của tư tưởng và hành động của con người. Người ta sẽ thấy yêu đời hơn, phấn chấn hơn, sống tốt hơn khi được sự đắp bồi trọn vẹn của nó. Ngược lại, sẽ dẫn con người ta đến sự đau buồn, tủi hổ, chán nản, bế tắc, tuyệt vọng. Tôi bị sinh ra trong một hình thể bất đắc, nhưng tâm hồn, tình cảm, mỹ cảm của tôi lại không phụ thuộc vào nó.

Con người không hề sai, và cũng không hề vô lý khi biết yêu và tôn vinh cái đẹp. Nếu không thế thì cuộc đời này sẽ hoang tàn, trơ trụi đến đâu. Vì thế, tôi đã quên mất mình khi hướng về một hình ảnh đẹp, một hình ảnh rất cụ thể, rất sinh động, rất hiện hữu bên tôi hàng ngày, vì hình ảnh ấy có chung với tôi một mái trường, chỉ cách mấy bức tường, thế nhưng lại quá xa xôi, xa đến hàng vạn dặm, xa đến ngút ngàn mưa nắng, thậm chí còn tỏ vẻ khó chịu, như bị xúc phạm và xấu hổ khi biết ánh mắt đầy yêu thương của tôi gửi đến. Tâm trạng không tốt, đương nhiên sinh thái độ không vui. Từ né tránh đến hằn học, từ lạnh nhạt đến ghê tởm, nhìn thấy tôi cứ như nhìn thấy một lọai khuẩn trùng truyền nhiễm tệ hại nào đấy. Những tiếng cười chế giễu, mỉa mai, châm chọc nổi lên quanh tôi. Tuy tôi đã quen với những đối xử khác biệt, nhưng trong trường hợp này thì sự tổn thương lên đến đỉnh điểm. Hơn lúc nào hết tôi thực sự đau đớn với nỗi bất hạnh của bản thân mình.

Một chiều, cả nhà đi vắng, một mình tôi trước một tấm gương lớn, tấm gương phản chiếu trung thực đến nỗi đưa tôi đến một quyết định. Thực ra, ý định đã từng manh nha trong tôi, nhưng nó vẫn chưa đủ cơ sở để dẫn đến hành động. Cú sốc tình cảm đầu đời đã trở thành một cú đẩy mạnh tay. Thế nhưng vận mạng tôi vẫn chưa cho phép tôi rời bỏ nó. Tỉnh dậy trong bệnh viện với gương mặt đầy lo âu và thương cảm của bố tôi, tôi hối hận vô vàn, khóc nức nở trong lòng bố. Bố ôm chặt tôi, vỗ về tôi, giọng nói êm đềm, nhẹ nhàng, thân thương:

– Con gái của bố. Bố biết con buồn và khổ tâm thế nào khi phải chịu sự bất công của tạo hóa và xã hội. Nhưng chạy trốn khỏi cuộc đời như thế này thì thật là hèn nhát. Ông trời luôn có một lý do để thảy xuống cõi nhân gian này một sinh linh, và con người không có quyền chối bỏ lý do đó. Con yêu, có thể trước mắt con đang là một đám mây mù tăm tối, nhưng con hãy cố xông vào nó mà tìm ra một điểm sáng hãy dũng cảm chặt cây phát cỏ để tìm lấy lối cho mình. Không phải ai sinh ra cũng có thể được hưởng sự ưu đãi, con dù xấu xí ngọai hình, nhưng con có một tâm hồn đẹp đẽ, con hãy tin rằng trong cõi đời hỗn tạp này, sẽ có một cái gì đó dành cho con thực sự giá trị, thực sự xứng đáng. Vấn đề là không phải con ngồi chờ nó đến, mà con phải đi tìm, phải đi cho trọn một chữ “ NGƯỜI “ con ạ. Con hiểu không?

Con hiểu. Con đã rất hiểu rồi bố ạ. Con càng hiểu hơn khi bước vào sự chín chắn của tuổi trưởng thành. Mẹ con có thể không thương yêu con. Chị em con có thể không thích con. Bạn bè con có thể xa lánh con, người con yêu có thể không chấp nhận con, vì con có thể là sự tổn thương cho niềm kiêu hãnh nào đó, là một vết đau cho sự ám ảnh mơ hồ nào đó, không ai có lỗi khi khước từ cái xấu. Cuộc đời luôn hướng đến sự hoàn mỹ, con người hòan tòan tự do trong tình cảm của mình, thứ tình cảm thật tự nhiên giữa bao lung linh, lấp lánh của cuộc đời. Mọi xử sự có thể là quá đáng, nhưng thật sự cần thiết, cho con và cho cả mọi người. Bởi không thế, con sẽ chìm đắm trong mê muội, trong ảo tưởng, trong một thế giới không phải là của mình Như thế thì sẽ tệ hại biết bao, vì không những con khổ sở cái thân con, mà còn gây bao phiền tóai cho nhiều người nữa. Bố nói đúng, tất cả có thể khước từ con, nhưng con thì không thể khước từ chính mình. Cho dù, cách lý giải bằng hai chữ “Ông trời”chỉ mang tính trừu tượng, nhưng đã sinh ra trong một phận người, thì hãy đi cho hết con đường của nó, dù con đường ấy có gập ghềnh, khúc khỷu đến thế nào.

Không thay đổi được mọi người thì phải tự thay đổi mình. Nều không tìm cho mình một con đường khác, một cách thức khác, thì sẽ không có gì bảo đảm rằng tôi sẽ không làm điều cùng quẫn lần thứ hai. Âm thầm vạch ra cho mình một kế họach, âm thầm một sự chuẩn bị, để rồi một đêm, sau khi để lại cho bố mẹ một lời tạ tội, tôi lặng lẽ rời khỏi nhà khi mọi người đang say giấc. Tôi ngoan ngõan theo bước chân định mệnh khi bước đại lên một chuyến xe khách ngọai tỉnh.

Chuyến xe đã đem tôi đến một nơi cách xa hơn ngàn cây số. Một khỏang cách đủ để an tòan thóat khỏi cuộc truy tìm, nếu có. Thật lạ, đứng ở một nơi hòan tòan xa lạ, chung quanh không có lấy một bóng người quen, người thân, tôi lại có cảm giác thật nhẹ nhõm, cảm giác như được thóat khỏi một sợi dây thừng đã siết chặt tôi trong suốt bao nhiêu năm, thóat khỏi sự khống chế, lệ thuộc, đồng thời mang đến cho tôi chút gì mới mẻ, cả một chút hy vọng, đương nhiên rồ .

Vấn đề đầu tiên phải nghĩ đến và bắt tay ngay vào là tìm một việc làm, cũng là kế sinh nhai cho những tháng ngày sắp tới, khi chút lưng vốn ít ỏi của tôi chỉ có thể kiệm tặn trong một thời gian ngắn. Đây là một sự khó khăn và cũng đầy gian truân đầu tiên mà tôi phải đối mặt. Liên tục những cái lắc đầu, cho dù là với những lọai hình công việc thấp kém nhất là làm người giúp việc gia đình, hoặc thu rửa chén dĩa trong một quán ăn. Nguyên nhân thì đã rõ, cùng với những bước chân rã rời sau mỗi ngày và ổ bánh mì không bên ly nước lọc, là cảm giác tận cùng thấm thía nỗi bất hạnh của mình, nhưng tôi vẫn cố, vẫn tiếp tục hy vọng.

Cho đến một ngày, lưng túi hết nhẵn, và chủ trọ cũng không còn đủ kiên nhẫn thì tôi ra đường với một bộ quần áo trên người. Màn đêm buông xuống , tôi vẫn thẫn thờ trên hè phố nườm nượp người xe qua lại dưới những ánh đèn. Tôi thầm kêu lên “Bố ơi ! Liệu con có còn đủ sức để tìm cho minh được một cái gì không ? Khi cuộc đời này cứ mãi khước từ con. Con sẽ phải làm sao đây ? Sẽ tồn tại thế nào đây ? Khi trước mắt con vẫn chỉ là một tấm màn đen u ám, con đã cố để không tuyệt vọng, đã cố để không phụ tình thương và lời răn dạy của bố, nhưng trong lúc này, con không còn chút gì để bám víu. Đêm nay con là một kẻ vất vưởng bị đời bỏ quên, không có nơi đến, không có chốn về, liệu con có còn ngày gặp bố nữa không hở bố ơi ? “ Tâm trạng đầy tuyệt vọng, tủi thân và đau đớn, tôi bỗng muốn lao mình ra giữa đường trước một cái xe nào đó, thế là xong, những người xa lạ này chẳng biết tôi là ai, lòng nhân đạo của họ đủ cho tôi một nấm đất hoang lạnh đâu đó. Tôi sẽ tan vào cát bụi, sẽ hư vô không còn biết đau thương là gì. Có lẽ đó là cách tốt nhất. Nước mắt tôi cứ trào ra không ngớt. Ông trời ơi ! Sao ông lại muốn có mặt tôi trên cõi đời này chứ, một nơi không hề muốn tiếp nhận tôi, ông muốn thử nghiệm điều gì đây ? Hay kiếp trước tôi đã phạm phải quá nhiều tội lỗi, để kiếp này phải chịu sự trừng phạt ? Tôi vốn không tin vào chuyện có kiếp trước kiếp sau của người đời, chẳng qua đó chỉ là một cách lý giải cho một sự việc nào đó mà người ta không thể tìm ra những lý lẽ thuyết phục nhất đó thôi. Tôi đã cố thực hiện câu “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” hoặc “gương mặt đẹp chỉ là một thời đọan, tâm hồn đẹp mới là mãi mãi” vv…Đại lọai là những thể nghiệm của sự mất này thì lại được kia. Nhưng khốn nỗi, người đời đâu có cho tôi cơ hội, họ chỉ nhìn thấy ngay cái xấu trước mắt, đã xua đuổi tôi đi rồi, làm sao họ đủ thời gian để tôi chứng minh rằng, tôi tuy xấu xí con người, nhưng tôi có một nhân cách hòan chỉnh. Tôi luôn sống vì người khác, tôi không bao giờ nghĩ đến chuyện hại ai, cũng không bao giờ mưu lợi bất chính của bất kỳ ai, không điêu ngoa, không giả trá, không lọc lừa, không đen bạc. Nhưng không một ai nhìn thấy những điều đó cả, trong khi họ phải mất rất nhiều thứ đáng tiếc cho một gương mặt đẹp nào đó. Còn tôi, chẳng may trong một bộ dạng khó coi , thì coi như vứt đi tất cả. Tôi không có quyền óan trách cuộc đời, cũng chẳng óan trách số mệnh, tôi mặc nhận tất cả những gì thuộc về tôi, nhưng xin hãy cho tôi một con đường sống chứ. Cho dù ai rồi cũng đến lúc phải chết, nhưng ít ra không phải là cái chết tự chọn, vì nếu thế thì bố tôi sẽ đau lòng lắm lắm.

Bất chợt một tiếng thét dứt tôi ra khỏi tâm trạng, một chị công nhân vệ sinh đường phố ngã lăn ra đường khi một chiếc xe máy thản nhiên rú ga vọt vào đám đông mất hút. Tôi chạy vội ra đỡ chị dậy. Cũng may là chị không bị thương tích gì nặng ngòai một mảng da trầy trụa và tay áo rách bươm. Tôi lấy chai nước chị đeo bên thành xe, đổ ra rửa sơ vết thương cho chị. Những lời thăm hỏi, và sự trợ giúp của tôi khiến chị tỏ ra rất thân tình, cởi mở. Một phần có lẽ trong ánh sáng nhập nhọang, chị không nhìn rõ mặt tôi, nhưng dẫu sao lòng tôi đã lại dậy lên một niềm vui. Thấy chị nhăn mặt vì đau khi cầm cái chổi để tiếp tục công việc của mình, tôi đề nghị được làm hộ chị. Chị nhìn tôi rất ngạc nhiên, nhưng cái gật đầu của tôi đã khiến chị vừa cảm ơn vừa tháo cái khẩu trang đưa cho tôi đeo. Miệng đeo khẩu trang, tay cầm cái chổi, tôi một thóang sững người “Nó đây rồi”. Việc đời vốn thế , khi ta cố công cố sức đi tìm thì chẳng thấy, rồi bỗng nhiên nó xuất hiện và cứ như ấn vào tay ta vậy. Kể ra cũng hơi một chút cay đắng, nhưng tôi nhận ngay ra ý nghĩ sai lầm của mình. “Không có công việc xấu, chỉ có hành vi tồi”.

Đi vào công việc này ít lâu, tôi ngộ ra vẻ đẹp tiềm ẩn trong lọai hình công việc mà phần lớn người đời chê khinh này. Mỗi khi nhìn đường phố sạch bong, sáng sủa dưới những nhát chổi của mình, tôi nghe lâng lâng một niềm cảm xúc, ngầm tự hào là mình cũng đã góp vào cuộc sống chung này một chút gì đẹp đẽ. Mặc dù hàng ngày, hàng vạn hàng vạn người đi qua, chẳng ai bận tâm chú ý đến, có chăng là họ chỉ tỏ ra khó chịu trước một đống rác bẩn chưa kịp dọn đi, gây trở ngại cho giao thông và nhăn mũi vì thứ mùi khó chịu.

Công việc đem lại cho tôi một đời sống tương đối ổn, mức lương tương đối cùng tiền phụ cấp và bồi dưỡng độc hại cũng tạm gọi là dư dả với tôi. Sau mấy năm dành dụm, tôi mua được một nếp nhà, chưa đầy 10m vuông và lụp xụp tôn ván thôi, nhưng tôi sung sướng lắm, vì nó là của mình, do chính tay mình làm ra, là một khỏang tự do riêng biệt, không phải e dè, ngần ngại, không phải o ép, bức bối như khi đi ở nhà thuê nữa. Những gì thuộc về mình, thì có nhỏ bé, xấu xí đến thế nào thì cũng thực sự là giá trị đối với mình. Tôi nghiệm ra thế, lòng tin lại được tăng thêm nhờ sự kiện này, một cái gì đó manh nha, mơ hồ thôi, tôi không cảm nhận rõ rệt được, nhưng hình như có cái gì đó đang mở ra với tôi.

Lúc rảnh rỗi, tôi thường đọc sách xem báo, một thú vui không thay đổi từ ngày còn đi học. Đôi khi buồn buồn, tôi nguệch ngọac vài nét vẽ, những nét vẽ vô tình đầy ngẫu hứng. Bỗng một ngày, tôi chợt nhận ra, hình như mình có khả năng vẽ. Phát hiện này khiến tôi rất vui. Bắt đầu là tranh minh họa gửi cho các báo, những phản hồi tích cực dã tăng thêm niềm phấn khích và sự say mê trong tôi. Dần dần là những bức tranh . “Tác phẩm là sự gửi gắm khát vọng của người nghệ sĩ” đúng vậy, nỗi khát khao lớn nhất của tôi là được trở thành một cô gái đẹp, điều mà không bao giờ có thể thành hiện thực. Nên tôi vẽ nỗi khao khát của mình, những cô gái trong tranh của tôi rất đẹp, chí ít là với cảm nhận của tôi. Họ xuất hiện trong mọi thứ trang phục, sắc tộc, kiểu dáng. Đánh bạo thử dư luận xã hội, tôi mang một ít gửi bán ở một cửa hàng mỹ nghệ, trong tư cách là người giúp việc cho tác giả. Những bức tranh đã mang đến cơ hội cho tôi.

Chủ cửa hàng chuyển thái độ thờ ơ miễn cưỡng sang hối thúc đón đợi rất nhanh. Có những lúc tôi thẫn thờ, mất cả cảm giác vì không tin sự thật đang đến với mình. Chưa thể gọi là thành công, nhưng đã có thể cho là một chút kết quả. Phải chăng cái lý do của ông trời là đây ? Tôi không muốn biện giải theo cách ấy, đó chỉ là một cái phao cần thiết trong lúc con người chênh chao mà thôi. Chỉ biết, tôi cũng đôi chút hài lòng với những gì mình đã đạt được.

Thế rồi xuất hiện những bài báo xôn xao tên tuổi của một họa sĩ. Căn cứ vào bút hiệu và tính đặc trưng của những bức tranh là những cô gái, người ta cho rằng họa sĩ phải là một nam nhân. Tôi bật cười khi đọc được những lời bình luận ấy. Cũng tốt thôi, tôi chẳng cần người ta phải biết đến tôi, vì sẽ có thể làm mất đi chút cảm tình mến mộ ấy, tôi chỉ cần người ta chấp nhận tác phẩm của tôi, thế cũng là quá đủ cho một niềm mong ước rồi.

Tôi chợt nghĩ nếu bố tôi biết được bây giờ tôi đang sống thế nào, chắc ông vui lắm. Trong dạt dào cảm xúc, tôi bật khóc khi thốt tiếng gọi “Bố ơi !” Đã bấy nhiêu năm rồi, chắc bố vẫn luôn khắc khỏai về con, và hẳn bố cũng tin rằng con đã tìm được một lối đi thích hợp cho mình, phải không bố ? Con sẽ về thăm bố, con sẽ về thăm cả nhà, nhưng chưa phải lúc này, bố ạ. Bố hãy cho con thêm ít thời gian nữa bố nhé. Tôi hình dung đến một cuộc diện, không biết tất cả sẽ như thế nào sau một thời gian cách xa lâu thế. Có lẽ mọi sự cũng đã khác đi, bởi cuộc sống luôn là những chuyển dịch không ngừng, thời gian chuyển dịch, hòan cảnh chuyển dịch, thì tâm tư con người cũng vô hình chung mà chuyển dịch theo.

Tôi giận đến run người khi người chủ cửa hàng mỹ nghệ gọi điện bảo tác giả ra gấp vì có sự kiện cáo bản quyền, một số tranh của tôi bị cho là sao chép. Hừ, ai mà ngang ngược thế, cho dù ý tưởng có trùng nhau thì cách thể hiện cũng khác nhau chứ. Xưa nay tôi chết thì chịu chứ không thèm làm cái trò đốn mạt ấy đâu. Trong trạng thái phừng phừng lửa giận, tôi đi ngay không kịp chuẩn bị gì thêm. Trong trí óc chỉ chăm chăm những lập luận để bảo vệ danh dự mình. Đến cửa hàng, thì người chủ đã đợi sẵn, anh ta chỉ vào cái xe con đang đậu, bảo tôi “Chị lên xe đi, đang ầm ĩ ngòai Nhà văn hóa đấy”. “Sao lại ở Nhà văn hóa ?” Câu trả lời là cái đẩy để tôi tọt vào trong xe nhanh hơn, và anh ta thì nhanh nhẹn lên cái ghế bên cạnh tài xế ngồi. Dọc đường tôi hỏi han anh ta vài câu, thì chỉ nhận được câu trả lời lấp lửng “Chị cứ ra đấy rồi sẽ biết”. Tôi cũng không hỏi gì thêm, chỉ mong cho mau đến nơi.

Chiếc xe lướt êm vào trong sân rồi dừng lại trước thềm nhà. Bên trong đúng là có những tiếng nói lao xao, thế này thì đúng là có chuyện thật rồi. Tôi mở cửa xe, đi nhanh lên những bậc thềm. Bỗng tôi đứng sững, trước mắt tôi là những bức tranh của tôi treo gần kín hết bốn bức tường. À, thì ra có người đem tranh của tôi ra triển lãm nhưng lại nhận là tranh của họ chứ gì. Tôi hướng về phía bục phát biểu, thì chợt nghe :

– Xin trân trọng giới thiệu cùng quý quan khách : nữ họa sĩ Ai Nhân đang hiện diện trước mắt quý vị đây ạ.

Tôi hốt hỏang khi những ống kính phóng viên chĩa vào, những ánh đèn flat nháy liên tục. Phản xạ tự nhiên tôi vụt ôm mặt quay người bỏ chạy. Bất ngờ tôi va phải một người, không phải là một cái va bình thường, mà gần như tôi ụp hẳn vào ngực người ấy, một vòng tay quành ngang người tôi, tôi hốt hỏang xô ra và ngước lên :

– Bố !

Một lần nữa tôi đứng chết sững, bất ngờ đến đứng tim, nghẹn cứng cổ. Bố tôi ôm lấy tôi, vỗ nhẹ vào lưng mấy cái rồi né người qua một bên :

– Con xem, ai kia ?
– Mẹ !

Mẹ tôi trong chiếc áo dài nhung, dang rộng đôi tay, tôi vô thức ào vào vòng tay mẹ, bàng hòang như đang một giấc mơ. Mẹ tôi nghèn nghẹn :

– Con ! Con gái của mẹ.

Tiếng gọi thân thương cùng đôi tay ôm chặt lấy tôi, tôi bật khóc, khóc như mưa như gió, khóc như chưa bao giờ khóc. Mà cũng đã lâu lắm rồi tôi mới lại khóc. Mỗi lúc có điều gì thương tâm, tôi lại tự nhắc nhở mình : Không được khóc, khóc chẳng giải quyết được gì, chỉ làm con người ta thêm hèn yếu đi thôi. Vậy mà bây giờ tôi đang khóc, nhưng không phải là những giọt nước mắt khổ đau. Mãi một lúc sau cả hai mẹ con mới trấn tĩnh lại được, nhiều người đang đứng quanh chúng tôi, tôi nhìn thấy cả hai chị tôi. Ba chị em ôm chầm lấy nhau. Một cuộc đòan viên mà tôi không bao giờ tưởng tượng ra được. Tôi nghe người chủ cửa hàng đang nói :

– Thực ra tôi biết chính chị ấy là tác giả lâu rồi, đến lúc bác tìm đến hỏi thì lại càng chắc hơn.

Tôi đưa đôi mắt đỏ mọng nhìn bố trong cái nhìn đầy thắc mắc. Bố tôi cười cầm lấy tay tôi và nói :

– Bố tự hào về con, con gái ạ.

Chúng tôi phải tạm rời niềm vui đòan tụ, vì những phóng viên đang chờ đợi tôi. Tôi phải trả lời họ một chút về quá trình. Sau đó, bố tôi gọi điện đến một nhà hàng, đặt một số món ăn và nói địa chỉ để họ mang đến. Tôi kinh ngạc vô cùng khi bố đọc đúng địa chỉ nhà tôi. Ngôi nhà lụp xụp tôn ván khi xưa đã kịp khang trang tươm tất trong năm trước. Hóa ra bố đã biết khá nhiều về tôi, nhưng từ bao giờ ? Sao đến bây giờ mới… ? Bố tôi vẫn mỉm cười bí ẩn trước ánh nhìn của tôi. Nhưng ông chưa có thời gian để giải đáp cho tôi, vì mẹ tôi và hai chị tôi đang thay nhau hỏi chuyện suốt dọc đường về. Đến nhà, bố tôi bảo :

– Vợ chồng Khánh nó đến sau, bố chỉ chỗ cho nó rồi.

Khánh là em gái tôi, thì ra đã có chồng, ừ mà cũng bao năm rồi còn gì. Nhưng con số thời gian lúc này đã trở nên vô nghĩa, khi cảnh cuộc đời người chỉ như hôm qua và hôm nay. Bây giờ thì tôi mới rõ ngọn ngành. Đúng là khi tôi mới đi khỏi nhà thì chẳng ai đóan được là tôi sẽ đi đâu cả. Cũng đi tìm hỏi một số nơi nhưng không có kết quả gì. Cả một thời gian dài, bố khắc khỏai về tôi. Mẹ tôi và các chị em tôi cũng trăn trở, lo lắng. Cuối cùng thì mọi người chỉ biết cầu mong cho tôi gặp được những điều may mắn.

Tuy không có chút tin tức nào về tôi, nhưng bố tôi vẫn tin rằng tôi sẽ đứng vững trước những thử thách của cuộc đời, và ông cũng tin sẽ có một ngày gặp lại. Bố tôi cũng là một người thích xem tranh, khi dòng tranh của tôi xuất hiện, những bức tranh mang dáng nét mẹ tôi và các chị em tôi, thì ông linh cảm tác giả chính là tôi. Thế là ông âm thầm cất công tìm hiểu, cuối cùng thì ông đã lần ra chỗ tôi ở, nhưng thấy chưa phải là lúc để đưa tôi về lại gia đình. Ông yên tâm theo dõi cuộc sống của tôi, nhưng vẫn không cho cả nhà biết. Khi chọn được thời điểm thích hợp, ông đã bắt tay vào một việc, cũng là dịp tốt nhất cho gia đình vui niềm vui sum họp. Tôi chợt hòai nghi một điều, nhưng bố tôi hiểu ngay, ông khẽ lắc đầu :

– Không đâu, bố không mua tranh của con, trong số tranh triển lãm ấy có rất nhiều bức bố phải tìm mượn của người mua đấy. Thành công của con là có thật, bố chỉ làm giúp con cái điều mà con không dám làm thôi

Tôi ngượng ngùng, đúng là chẳng bao giờ tôi có ý định chường mặt ra công chúng cả, tôi sẽ chỉ mãi âm thầm với những gì mình có thể thôi. Bây giờ thì khắp nơi đã thấy mặt tôi rồi, bỗng nhiên tôi như cởi thóat được khỏi mình một sự gông xiềng nào đó. Nỗi tự ti trong tôi đã tan biến, tôi cảm giác từ mai tôi bước đi bằng những bước chân đĩnh đạc, đàng hòang, cho dù đúng là tôi vẫn xấu thế thôi, nhưng tôi đã sống được đúng nghĩa một con người, thì việc gì tôi phải xấu hổ chứ. Tôi nhìn bố bằng tia mắt biết ơn. Bố ơi ! Bô có biết rằng chính bố đã cho con một điều quý giá như thế nào không ? Bố mẹ không những sinh ra thân xác con, mà còn sinh ra cho con cả một chữ NGƯỜI đích thực nữa. Tôi còn đang ngồn ngộn cảm xúc trong mình, thì ngòai cửa nhân viên nhà hàng đưa thức ăn đến. Chúng tôi sắp dọn ra vừa xong thì có tiếng gọi :

– Họa sĩ Ai Nhân ơi !
– Vợ chồng con Khánh đến rồi đấy.

Tôi bước vội ra cửa, lại thêm một lần nữa sững sờ, lần này không chỉ có tôi mà còn một người nữa. Sao lại có sự ngẫu nhiên đến khó tin vậy chứ ? Không lẽ trái đất này quá chật vậy sao ? Em rể tôi, cũng chính là nỗi đau đầu đời của tôi ngày nào Em gái tôi vui mừng ôm lấy tôi nên không nhận ra thái độ của hai người. Nhưng tôi định thần lại nhanh, vừa ôm em gái vừa gật đầu cười nói :

– Mời hai em vào nhà.

Cậu em rể cũng sực tỉnh, mỉm cười rồi xách cái va li theo vào. Khi cả nhà đã ngồi vào bàn, bố tôi cười :

– Sâm banh chứ hả ?

Những tiếng vỗ tay, những tiếng cười hoan hỉ ran theo tiếng bọt phụt tung lên từ chai rượu. Tôi cầm ly giơ lên cụng mà nghe mắt mình nóng ran, giàn giụa. Khổ, bỗng nhiên mà sinh ra cái chứng hay khóc thế không biết.

Đàm Lan

Chợ chữ

Tôi bước vào cổng một khu chợ, trong một tâm thức nửa như mê ngủ, nửa như khật khưỡng hơi men. Một khu chợ có vẻ như tự phát, có vẻ như đã mọc ra từ rất lâu rất lâu. Những thứ hàng quán trong chợ cũng la liệt những hình thù, màu sắc, vóc dáng. Người đi chợ cũng đủ loại trang phục, thần thái, phong cách. Tôi mặc thả những bước chân lơ đễnh của một kẻ nhàn du. Tôi chưa biết mình có chọn mua được một vài thứ hàng hoá đang bày bán nơi đây không ? Những thứ hàng hoá mà tôi chưa thấy ở bất kỳ một khu chợ nào. Tôi mang máng, hình như lúc bước chân vào đây tôi có đi qua một cánh cổng, và bên trên nó có một tấm bảng, à phải rồi, tấm bảng có một kiểu vẽ ngoằn ngoèo như thư pháp “Chợ Chữ”.

Đúng chính xác là khu chợ này bán những con chữ. Những con chữ ở đây cũng đủ các loại thượng vàng hạ cám. Có những con chữ lổng chổng, chỏng chơ như những đòn tre, quang gánh, có những con chữ lổn nhổn, lạo xạo như một mớ hàng son đại hạ giá, cũng có những con chữ được công phu tỉa tót, tạo dáng như một cây bon sai hay một thứ đồ mỹ nghệ. Một số con chữ khác thì thong dong ve vẩy như đôi tà áo nõn. Một số ít thì được trưng bày trang trọng trong chiếc tủ kính có gắn những bóng đèn màu nhỏ tí. Lại có những con chữ phất pha phất phơ như những dải lụa liêu xiêu trong gió chiều. Chân tôi bỗng vấp, nhìn xuống, một thứ chữ như những miểng sành, mẩu gốm ai đó làm văng ra, cúi xuống, tôi cẩn thận nhặt nó bỏ vào một chỗ, cẩn thận vì sợ những góc nhọn, mép ranh sắc lẻm của nó cà khịa đứt tay. Những con chữ ấy tuy đã được bỏ gọn vào, xong nó vẫn như cố tình giơ ra cái vẻ ngang ngạnh, sù sì, bất quy tắc của mình. Tôi mỉm cười, bỗng muốn vuốt chúng như vuốt má trẻ con, nhưng vội rụt tay lại.

Người người đi, người mua và người bán cứ lẫn vào nhau, chẳng còn phân biệt ai là người bán. Đã vào khu chợ này hầu như không ai ra về tay không. Ai ai cũng nhặt cho mình một số con chữ, dép lê, giày bóng, mũ phớt, nón vải, chị quàng tay nải, em gái tung tăng, có người chẳng nói chẳng rằng cứ vục tay mà vốc.Ai cũng ôm một mớ, vác một bao, ít lắm thì cũng lào phào dăm ba chiếc. Hình như đây là một mặt hàng ít vốn nhiều lời hay sao mà người ta đổ xô vào lắm thế. Tôi cũng thử nhặt một mớ xem. Mải mê chọn lựa, mải mê nhặt nhạnh, chẳng lâu la gì tôi đã nặng oằn cả vai. À, thì ra cái thứ hàng hoá này nó có sức mê hoặc khủng khiếp thật. Cứ rờ tay vào nó là không dứt ra được, mỗi thứ đều như có ma lực riêng, nhặt…nhặt…càng nhặt càng thấy còn ít quá, tôi cũng đâm xổ vào như những người vào chợ trước, cũng tay lựa mắt chọn, riết rồi cái nào cũng muốn lấy tất, tôi mất hẳn cái vẻ lơ đãng nhàn du lúc ban đầu, cũng hăm hở tranh giành suýt cả cãi vã. Có một điều thật kỳ lạ, hệt như nồi cơm Thạch Sanh, những con chữ cứ tự đầy vun lên mỗi khi được nhặt vợi đi, và tôi cứ thế mà mải miết. Rồi bỗng nhìn quanh mình, chao ơi, cái đống hàng hoá của tôi sao mà lỉnh kỉnh, ngồn ngộn thế này. Chúng chồng chất lên nhau, chen chúc vào nhau, chắc tôi phải kêu hẳn một chiếc xe tải cỡ lớn nhất mới chuyển về hết được quá. Người tôi bỗng mỏi rũ ra, thì lăn lê không biết tự bao giờ đến giờ rồi mà, miệng bỗng khô khốc, mắt bỗng hoa lên. Không biết có phải vì hoa mắt mà choáng, mà bảy vía bay đi, ba hồn ở lại, mà tôi bỗng dưng như mất hết trọng lượng, bỗng dưng như một phi hành gia trên vũ trụ, lơ lửng, nhẹ bẫng, và tôi chợt thấy…

Một luồng sáng hắt ngược lên từ cuối chợ, luống sáng ấy như một miền cổ tích diệu kỳ, bỗng chốc làm những con chữ sáng hẳn lên, chữ nào cũng lấp lánh ánh lân tinh, cũng lấp lánh như những vảy cá được chiếu sáng dưới ánh mặt trời, toé ra ngàn vạn đốm sao, và rồi, bỗng một cơn gió thốc ào đến, những con chữ bốc lên không trung, hoà vào nhau trong một vũ điệu lạ thường, chúng đan toả vào nhau, tững chữ tững chữ như mọc thêm đôi cánh nhỏ xinh của những chú bướm vàng xanh đầu hạ, lao xuống, xiên lên, lượn vòng, xẻ ngang, trích dọc, nhưng không hề va vào nhau, cứ như chúng có một cặp mắt tinh tường nhạy bén đến mức tuyệt đẳng vậy. Tôi như ngợp trong một không gian kỳ ảo, gió, nắng, những đôi cánh, những vũ điệu, và dường như tôi cũng đang hoà vào chúng, bay lượn cùng chúng một cách ngoạn mục. Bên tai tôi như vẳng lên một thứ hợp âm réo rắt trầm bổng, tôi nhắm mắt, nghe mình xoay tròn…xoay tròn…Bỗng một cái chích nhói bên mình, tôi vừa kịp nhìn thấy một góc nhọn của con chữ miểng sành hoắt lên, thì tôi bỗng chới với, rơi…rơi…và “bịch” một phát đau điếng…

Cánh cửa sổ đập phầm phầm, những ngọn gió ào ạt của một trận giông báo trước đang lật tung những trang sách tôi để trên bàn. Tôi vẫn còn ngây ngây giữa mơ mơ thực thực…thì ra những con chữ…

ĐÀM LAN

Con trai của rừng Xa Nu

Con đường năm cây số từ trung tâm xã về làng Kon Riêng lúc chạy vòng theo ven hồ Đac Noa, khi lại men theo những thuở ruộng lúa nước, có chỗ lại luồn dưới bóng xanh mát của rừng xà nu. Nắng trải chiếc chiếu vàng lên mặt hồ, mặt ruộng lung linh, nhưng chỉ lọt thành những tia sáng xanh trong đám lá xà nu dày đặc. Dưới tán rừng tiếng ong bay vi vu hoà trong lời xạc xào của gió, lẫn với tiếng suối róc rách chảy. Thứ hương lá, hương nhựa, hương hoa đặc biệt của xanu nhè nhẹ lan trong không gian. Cũng lạ cho cây xanu, chỉ mọc ở những triền núi dốc đứng cằn cỗi, có khí hậu khắc nghiệt, nhưng rễ cắm sâu vào lòng đất, san sát bên nhau thân nào cũng vươn thắng, lá biếc đến tưởng như không còn cách gì xanh hơn được nữa.

Y Sao từ uỷ ban xã về, nét mặt tươi rói, bước chân đi như chạy. Mọi ngày đi dạy về cô còn lang thang chán, hết ngắt những ôm cúc dại mọc đầy ven đường, lại ngồi hàng giờ trên hòn đá hình đầu cá giữa suối, dầm chân trong nước mát mà lẩm nhẩm hát “Chim Jil tắm bên sông DakBla…” Nhưng hôm nay Y Sao muốn đi cho nhanh về đưa thư cho A Siêng. Thư của A Manh bạn anh ấy gửi từ Buôn Ma Thuột. Trong những đêm ngồi trong bếp lửa, A Siêng thường kể cho anh chị, các cháu và bạn bè nghe những chuyện hồi học trường nội trú dân tộc, trường đại học Tây Nguyên, về những người bạn cùng học ở Dak Lak. Trong đó có A Manh. Với những người chưa bao giờ đi xa như ở làng Kon Riêng này, những chuyện A Siêng kể thật hấp dẫn. Còn Y Sao biết những đêm kể chuyện như thế, A Siêng thường mất ngủ. Ký ức với anh bây giờ sao mà xa vời vợi…Không biết A Manh nói gì, nhưng có thư chắc là A Siêng vui lắm. Anh ít khi nhận được thư từ của ai, kể từ vài năm về đây ở với anh chị. Từ lúc nào không biết, Y Sao đã vui với cái vui của A Siêng, hiểu nỗi buồn của A Siêng thế nhỉ? Cô gọi to ngay từ chỗ cây xoài quẹo vô sân:

– A Siêng! A Siêng à! Có thư của anh A Manh này.

A Siêng quýnh cả hai chân, nhảy bổ từ trong nhà ra , giật lấy lá thư trong tay Y Sao:

– Đâu! Đâu! Đưa coi đi.

Nhưng đọc xong rồi A Siêng thẫn thờ ngồi thụp ngay xuống sân, nét mặt bỗng trở nên đờ đẫn xa vắng dần. Y Sao cuống lên:

– Chị Y Mải ơi, A Siêng làm sao đây?

Chị gái A Siêng chạy vội ra hối hả giục Y Sao cùng đưa A Siêng vô nhà. Cứ như người bị ma lai bắt lạc mất hồn, anh để mặc hai người dìu như kéo đi, đặt lên chiếc giường nhỏ ở góc nhà. Chị Y Mải bảo Y Sao đọc xem lá thư viết gì. Thì ra A Manh dặn A Siêng làm gấp hồ sơ gửi sang trước, rồi người từ từ qua sau để cơ quan phỏng vấn và thử việc.

– Ôi, việc mừng thế này còn gì? Không đi làm bác sĩ cũng được chứ sao. Miễn được vô nhà nước là tốt rồi. Sao A Siêng biết tin này lại buồn thế hả chị Y Mải?

Y Sao ngơ ngác, hết nhìn chị lại nhìn sang A Siêng đang nằm thiêm thiếp nhắm mắt như ngủ. Mãi mà chẳng hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra. Chị Y Mải buồn buồn nói nhỏ:

– Y Siêng tủi cái đầu đó mà. Năm ngoái A Manh cũng đã một lần gửi thư. Nó nói hỏi thăm hoài mới biết A Siêng về đây. Lại hỏi A Siêng đi làm chưa? Có muốn làm việc ở chỗ nó không, để nó nói thử với thủ trưởng, vì bên đó đang cần người. Trúng lúc cuối mùa không còn hột gạo mà ăn. Cả ngày cả nhà đi đào củ trong rừng, nên A Siêng đâu có gửi trả lời cho A Manh. Bây giờ cũng lại giống như hồi đó thôi.

Bỗng hai chị em giật mình thấy A Siêng nhỏm dậy, đập mạnh trán vô tường mấy cái. Chạy vội đến bên, cả hai thấy A Siêng miệng cắn chặt cái chăn, hai bàn tay quắp lại, nước mắt chảy tràn xuống gối.

– A Siêng à, đừng buồn thế em! Mình không đi sang đó được thì thôi. Chắc A Manh nó cũng hiểu mà.

Chị Y Mải vỗ về em. Y Sao nhẹ nhàng vuốt lên tay A Siêng, lần lần gỡ dần những ngón tay đang co quắp cứng ngắc ra. Dưới tác động tình cảm của hai người phụ nữ, thân hình A Siêng lỏng dần, giãn dần ra rồi chợt ngủ thiếp đi. Anh rể cũng vừa về tới, chị Y Mãi vội vàng kể lại cho chồng nghe. Cả ba ngồi quanh bếp lửa, buồn cho A Siêng mà không biết nói gì. Hồi lâu Y Sao đứng dậy:

– Thôi em về đây, chào anh chị.

Nhìn theo bước chân cô gái, chị Y Mãi khẽ thở dài. Chuyện Y Sao thương thầm A Siêng mấy năm nay,ở Kon Riêng ai cũng biết.Hai bên nhà cũng ưng bụng cho hai người thành đôi. Nhưng không biết vì sao A Siêng cứ như tránh né. Mỗi lần có ai nói đến chuyện này, lại im lặng bỏ đi chỗ khác. Xem ý thì không phải thờ ơ với Y Sao đâu, nhưng im im thế miết, ai mà biết ra thế nào chớ. Anh rể mở nắp chiếc nồi trên bếp, ấn thử coi củ đã chín chưa, rồi đậy lại, bỏ thêm mấy cành củi vô bếp, thủng thỉnh nói một mình nghe:

– Tội nghiệp cho cậu quá! Từ đây đi xe ôm ra huyện, từ huyện xuống thị xã Kon Tum rồi qua Buôn Ma Thuột. Cả đi về cũng gần hai trăm nghìn đồng tiền xe. Chưa nói tiền ăn uống nữa chớ. Biết lấy đâu ra bằng đó tiền cho cậu đi.

Cả Kon Plei này đói. Cả xã đói. Trận lũ quét vừa qua đã cuốn đi tất cả lúa lẫn đậu bắp đang còn trên rẫy gần như của cả làng. Số lúa ruộng ít ỏi ngập trong nước hàng tuần cũng thối rụng hết. Y Mải nói với chồng:

– Mình thấy dạo này cậu hay đau đầu lắm. Anh có nhớ bữa hôm đào củ trong rừng, A Siêng cắm đầu xỉu dưới hốc củ không? Không có mấy người cùng đi chắc chết không ai biết rồi. ở nhà cậu cũng lúc đi ra đi vô lờ đờ, có khi lại ngồi im cả ngày không nói câu nào.

– Thì cái tánh cậu ít nói từ xưa. Không nói ra được để ở trong người nó man man là phải thôi. Học đại học ra mà không được đi làm, đi rẫy miết thế này sao chịu nổi.

Có điều, là bác sĩ nên A Siêng biết cách giữ cho thần kinh mình không vượt quá sức chịu đựng có thể. Thấy bệnh tình em như vậy anh chị cũng không dục đi rẫy, đi ruộng, cứ để A Siêng tự làm những gì mà sức khoẻ cho phép. Khi nào cảm thấy sắp lên cơn thì phải về nhà ngay.

Suốt thời gian đó, Y Sao luôn luôn ở bên cạnh A Siêng. Những buổi phải lên lớp thì thôi, rảnh việc là cô lại chạy qua nhà trò chuyện cùng cho A Siêng đỡ buồn. Có một lúc tỉnh táo, A Siêng nói với Y Sao:

– Y Sao cưới chồng đi. Tui biết tình cảm của Y Sao, nhưng đừng có chờ tui làm gì. Y Sao với tui không thành đâu.

– A Siêng nói gì như vậy? Y Sao chưa bao giờ trách anh một tiếng nào mà. Nhưng tại sao A Siêng lại nghĩ hai đứa mình không thành đôi?

– Đừng hỏi tui. Tui không muốn Y Sao bỏ phí những năm chờ đợi. Các bạn gái của Sao không chỉ lấy chồng mà còn có con hai ba đứa rồi đó.

– Nếu A Siêng nói một lời thương Y Sao sẽ chờ tới khi nào cũng được mà.

– Không! Tui không thể!

– Nhưng tại sao? Tại sao chớ?

A Siêng bỏ đi như chạy ra khỏi nhà, để lại Y Sao nước mắt đầm đìa và nỗi buồn không thể nói thành lời. Nóng như lửa. Ngột ngạt không thở được. Một bầy kiến càng cắn trong lồng ngực đau nhói.

* *

*

Nửa khuya, bà Y Vui chuyển bụng sanh, rên la ầm ĩ. Cả nhà cuống quýt. Mưa to.Trạm xá thì xa, lỡ nửa đường sanh biết làm sao? Ông A Sam quýnh lên bảo con:

– Chạy qua nhà cô Y Mải, nói chú A Siêng tới coi dùm mẹ con đi. Nó bác sĩ mà.

Thằng cậu đang lui cui cột võng vào cái đòn khiêng, quát lên:

– Cứ đưa đi trạm xá thôi, thằng A Siêng tâm thần mà, bác sĩ gì.

Bà ngoại đang ngồi cạnh giường giữ tay con gái, nhổ toẹt miếng nước trầu vô vách, ngoái cổ ra bảo:

– A Siêng bác sĩ có bằng chớ. Nó tâm thần có lúc thôi. Cứ chạy qua coi, đang lúc nó tỉnh may ra giúp được mẹ mày.

Thằng nhỏ chạy ào ào. Đêm đen như hũ mực.Gió cứ rit lên trong những tàn cây như tức giận điều gì. Mưa tạt vào mắt xót tới không mở ra được. Con đường bò đi đầy bùn trơn trượt, chốc chốc thằng bé lại ngã cái uỵch, nó tấm tức khóc, dơ cánh tay đầy bùn lên quệt nước mắt chạy tiếp. May quá trong nhà còn ánh lửa. Nó nhào tới đập cửa thình thình:

– Chú A Siêng! Chú A Siêng cứu mẹ cháu với.

A Siêng bật dậy hỏi to.

– Ai kêu gì đêm khuya vậy?

– Mẹ cháu đau đẻ, nhờ chú tới giúp.

Chị Y Mải ngồi dậy từ trong buồng nói vọng ra:

– Khiêng đi trạm xá thôi. Chú Siêng đau mà, làm sao giúp được.

A Siêng quyết định rất nhanh.

– Chị để em đi coi thử. Nếu gay go quá thì em đi cùng ra trạm xá cũng được mà. Chờ chú ra ngay!

Nói rồi A Siêng lục tìm chiếc ống nghe lâu nay vẫn cất kỹ, với lấy chiếc túi nhỏ có vài loại thuốc ít ỏi,hối hả đi theo thằng bé. Từ khi về ở với anh chị, A Siêng chỉ chữa bệnh cho người trong nhà. Đây là lần đầu tiên có người gọi anh đi giúp. Vừa đi A Siêng vừa cố nhớ nhanh những kiến thức về sinh đẻ đã học.

Hơn một tiếng đồng hồ căng thẳng, bà mẹ cũng may mắn sanh dễ, đứa bé gái đã cất tiếng khóc đầu tiên. A Siêng toát mồ hôi ngồi phịch xuống chiếc ghế nhỏ bên bếp lửa, rửa đôi tay trong chậu nước ấm, rồi anh giơ ống tay áo quệt những giọt mồ hôi đầm đìa trên trán. Đến bây giờ anh mới thấy mệt rã rời, đã ngồi xuống rồi mà hai chân vẫn run lẩy bẩy . May quá không có sự cố gì. Ông A Sam ngồi xuống bên A Siêng:

– Cám ơn bác sỹ nhiều lắm. Không có anh, phải đưa đi trạm xá chắc bả sanh rớt giữa đường rồi.

– Không có gì đâu anh, người trong làng giúp nhau thôi mà…

Bà ngoại bọc đứa nhỏ trong tấm chăn thổ cẩm đưa cho A Siêng:

– Cho chú làm cha kết nghĩa này.

Đôi tay run run ôm chiếc bọc ấm áp vô người,đột nhiên một sức mạnh ấm nóng nào từ từ dâng lên trong người A Siêng. Anh như người say ruợu ghè, lâng lâng, choáng váng, siết chặt thân hình bé nhỏ của đứa trẻ vô ngực, nước mắt chảy ròng ròng…

Kể từ buổi tối hôm đó, người trong làng ai có bệnh gì đều chạy tới tìm A Siêng. Lúc đầu anh còn từ chối, viện cớ bệnh đau đầu thường hay tái phát, hoặc không có đồ nghề lẫn thuốc chữa bệnh. Thế là tại nhà Rông có một cuộc họp của làng:

– Bây giờ A Siêng nó chịu chữa bệnh cho người Kon Plei ta, nhưng nhà bác sĩ nghèo quá, không có đồ khám chữa bệnh,không có tiền mua thuốc, ta phải làm sao?

– Già làng cứ nói một tiếng, mọi bếp đều góp tiền lại cho A Siêng làm vốn chữa bệnh có được không?

– Ai có ít nộp ít, ai có bi nhiêu nộp bi nhiêu. Lâu nay có bác sĩ trong làng mà không để chữa bệnh cho mình.

– Hay ta đề nghị xã cho bác sĩ vay vốn xóa đói giảm nghèo?

Cả nhà Rông ồn ào lên:

– Được đấy! Bác sỹ mà nghèo đói thì cũng cần phải giúp đỡ chớ.Trưởng kon plei ngày mai làm giấy đề nghị xã giúp A Siêng thôi.

– Cho vay nhiều nhiều đi, để bác sĩ mua thuốc chữa bệnh luôn…

Vậy là với số tiền hai trăm ngàn bà con cả làng đóng góp và 2 triệu đồng quỹ xoá đói giảm nghèo cho vay, A Siêng đã có thể hàng ngày làm công việc trị bệnh cứu người mà anh mong ước. Khắp mấy Kon Plei quanh vùng, trong xã, rồi người cả xã bên đến tìm anh ngày một đông. A Siêng chẳng nề hà đêm hay ngày, mưa hay bão, xa hay gần, hễ có người gọi là xách túi thuốc đi liền. Bà con tin cậy và yêu mến anh lắm. Cũng may mà hồi đi học, A Siêng ý thức được trách nhiệm của mình nên đã theo đa khoa. Cũng lạ, căn bệnh đau đầu trầm cảm của anh ngày một thưa dần rồi chấm dứt hẳn từ lúc nào không biết. Chỉ có điều, bà con nghèo nên có lúc người khỏi bệnh trả bằng gà, trứng gà, gạo, thậm chí cả bằng bắp, củ mì ,A Siêng cũng nhận. Nhưng anh chẳng có nhiều tiền phụ cho anh chị, cũng không dùng gạo, hay gà đó trả vốn ,lãi cho xã được. Tuy nhiên, được làm nghề của mình đã học là tốt rồi.

* *

*

Vừa sang chích thuốc cho bà Chen, đang chuẩn bị đi rẫy thì chị Y Mải ở ngoài chạy về, hổn hển, vội vã:

– A Siêng đừng đi nữa! ủy ban tới nhà mình bây giờ đấy. Nghe nói có người nhà nước tới tìm em đi làm. Cả A Manh nữa đó!

A Siêng đứng lặng một lúc rồi vô nhà cất cuốc và nón, cẩn thận rửa chân tay, rồi lôi đôi dép da phủ đầy bụi ra lau . Săm soi đám quần áo ít ỏi của mình, anh cố chọn bộ nào có vẻ mới nhất. Tất cả đều may từ thời còn là sinh viên, nhưng bao năm nay ít có dịp mặc đến nên có thể lỗi mốt, nhưng vẫn là những thứ tốt nhất mà anh có. A Siêng muốn xuất hiện trước những người bạn cũ bằng một hình ảnh dễ gây được cảm tình nhất.

Thế mà năm năm đã qua kể từ khi A Siêng nhận được tấm bằng tốt nghiệp Đại học Y khoa Tây Nguyên. Những tưởng mọi lo lắng vất vả của các anh chị và của A Siêng đến đây là chấm dứt. Anh, người đầu tiên của làng Kon Riêng và Kon Đào tốt nghiệp đại học, người dân tộc Sê đăng đầu tiên của cả xã học làm bác sỹ, sẽ là người đẩy lùi mọi bệnh tật trong cộng đồng của mình…

Năm ấy chiến sự diễn ra ác liệt giữa quân giải phóng và chính quyền ông Thiệu. Sau trận bom Mỹ dội xuống thị trấn Tân Cảnh và làng Kon Đào, Già A Nhiên mời hội đồng già làng về nhà rông để bàn một việc lớn. Đêm. Đống lửa giữa nhà rông đã nhóm lên. ánh bập bùng soi lúc mờ lúc rõ những con rùa, con chim khắc nổi và các hình vẽ đủ màu trên những cột kèo. Ghè rượu đã đổ đầy nước. Già A Nhiên uống hết kiang đầu tiên, chuyển tay cho già A Min. Đưa mắt nhìn quanh những khuôn mặt gầy già nua khắc khổ, nhưng vẫn ánh lên những nét tinh nhanh của trí tuệ cộng đồng cả làng,khoát tay một vòng về phía những ngôi nhà đang ngún lửa ở bên ngoài nhà rông, già A Nhiên nói:

– Kon plei mình phải đi khỏi đây thôi. Pháo giải phóng dội uỳnh uỳnh xuống ban đêm. Bom ông Thiệu đổ ầm ầm suốt ban ngày. Không sống nổi nữa đâu.

– Đã có năm bếp bị lửa ăn hết cả nhà lẫn người rồi.

– Nhưng rồi chạy đi đâu bây giờ? Không thể vô rừng được đâu. Quân Việt Cộng ở chỗ nào bom Mĩ ném xuống chỗ đó. Chạy đi chỗ khác cũng là đất của ông Thiệu. Chúa bắt chết mình chết. Chúa cho sống thì được sống. Cứ ở lại đây không được sao?

Già A Min nhả cái cần ra khỏi hàm răng cà sát xuống tận lợi:

– Không được! Phải đi thôi! Người Sê đăng Kon Đào không thể chết, cũng không thể sống mà chống chọi lại bom đạn của cả hai phía. Ta sẽ đi Buôn Ma Thuột, tìm một nơi nào đó để dựng nhà rông, lập làng mới.

Vậy là cả làng gùi cõng nhau chạy sang Đak Lak. Chuyển vài nơi rồi mới ở lại mảnh đất giữa hai con sông nước trong nước đục. Cha mẹ A Siêng đã chết cả trong trận bom Mỹ dội xuống Đak Tô để trả thù Việt Cộng ấy. Bốn anh chị em phải cõng nhau chạy theo họ hàng. Cả làng đi hết ở lại biết sống với ai.

Hơn mười tuổi, A Siêng đã thay anh dắt trâu dẫm ruộng, gánh cả sào mạ cho các chị gái cấy. Thương đứa em út vóc dáng gầy guộc, các anh chị cố gắng động viên A Siêng đi học. Thương anh chị vất vả, A Siêng biết mình phải gắng học sao cho giỏi. Suốt mười hai năm hết học trường huyện, đến trường nội trú dân tộc của tỉnh, A Siêng luôn ở trong nhóm vài người đứng đầu lớp. Việc thi vào đại học Y Khoa những năm đó, không phải là khó đối với A Siêng.

Những năm học đại học, A Siêng đã phải làm đủ mọi việc, vừa học vừa phụ giúp các anh chị nuôi các cháu. Cũng may mấy năm đó, sinh viên người dân tộc thiểu số có học bổng, có bếp ăn ở ký túc xá, nên A Siêng đủ ngày hai bữa ăn. Còn tiền làm cỏ, hái cà phê, kể cả đi quét vôi công trình xây dựng,dạy kèm…anh đều giành mua tài liệu và gửi cho các cháu. Ai chơi gì thì chơi, suốt ngày A Siêng chỉ miệt mài với sách vở và các tua trực.

Tốt nghiệp đại học, trong đầu nóng bỏng bao nhiêu ước mộng. A Siêng đã gõ cửa từ bệnh viện tỉnh cho đến trạm xá xã. ở đâu cũng nhận được câu trả lời “Đang giảm biên chế, làm gì còn định biên để nhận người mới”. Mọi cánh cửa đều đóng. Có nơi nhận hồ sơ, nhưng lần sau đến người ta bắn tin phải nộp 15 triệu mới xong việc. Chúa ôi ! Cả một năm cắm mặt xuống ruộng mới thu được vài chục bao lúa, chưa đủ ăn hết năm cho cả bảy tám người gia đình chị gái. Nhà chỉ có chiếc xe đạp là đáng tiền nhất, anh chị giao cho A Siêng đi học, để có phương tiện lúc rảnh chạy làm thuê, hay ngày nghỉ về làm rẫy giúp anh chị. Cả làng không nhà nào có nổi vài trăm ngàn đồng cất giữ trong nhà, nói gì tới 15 triệu. Hai con sông nước trong, nước đục thay nhau hàng năm dâng nước ngập cánh đồng Ea Yang, năm nào cả xã cũng gặt lúa non chạy lụt. Đến mùa khô cái nắng nơi này cũng dữ dội lắm. Mặt ruộng nứt nẻ , các con suối cạn khô chỉ còn là những dòng bùn loãng. Cá tôm cạn kiệt, hoạ may chỉ còn vài con lươn, trạch rúc sâu dưới bùn đất còn sống được. Người Ea Yang năm nào cũng phải nhận cứu trợ của huyện là thế.

Hai năm lận đận tìm việc và làm ruộng dẫu có dài rồi cũng trôi qua. A Siêng xin anh chị về Kon Tum làm rẫy với vợ chồng chị Y Mải, may ra còn có thể xin được việc chăng. Nhưng anh cũng không có cơ hội nào suốt ba năm cho đến tận bây giờ.

Cài nút chiếc áo màu xanh da trời mà anh vẫn thích, thở sâu một hơi, A Siêng bước ra nhà ngoài. Đông nghẹt. Tíu tít. Ông bí thư xã tươi cười nắm tay A Siêng nói:

A Siêng à! Đài TNVN cho người về xác minh lý lịch và muốn đón cháu về làm phát thanh viên chương trình tiếng dân tộc Sẽ đăng ở Buôn Ma Thuột. Đồng thời huyện cũng có quyết định tiếp nhận cháu làm trưởng trạm y tế của xã. Công việc nào cũng cần thiết cho dân tộc mình. Vậy cháu trao đổi với các anh chị rồi mai cho xã biết ý kiến quyết định có được không?

A Manh nhìn bạn tha thiết :

– Về bên đó lương và nhuận bút dịch ,đọc mỗi tháng cũng được hơn 1 triệu đồng đó A Siêng ạ. Có nhà tập thể ở, không phải đi thuê đâu.

Bác chủ tịch xã góp lời :

– Lương trạm trưởng được vài trăm ngàn. Nhưng cháu vẫn có thể khám bệnh thêm ở nhà mà.

Gần như cả làng tụ tập trong nhà Y Mải, khi nghe nói có cán bộ xã và đài TNVN đến tìm A Siêng. Anh chị Y Mải lúc quay bên này, lúc quay bên kia nghe ý kiến của mọi người. Góc nhà, cặp mắt khắc khoải âm thầm của Y Sao nhìn chằm chặp vô A Siêng như chờ đợi. Rộ lên những lời bàn tán, ồn ào tranh cãi. Chỉ mình A Siêng im lặng.

Cả đêm không ngủ. Anh ra khỏi nhà khi trời chưa sáng, thơ thẩn bên hồ Đak Noa. Mặt trời chưa mọc nhưng tít trên cao, một vòm xanh ngọc đang lan rộng dần, đẩy lùi những đám mây xám, hứa hẹn một ngày nắng đẹp. Đỉnh Ngok Linh thường vẫn khuất trong mây trắng, bỗng hiện rõ, dáng núi mềm mại tạc vào chân trời đang hé lên màu hồng. Quả đồi thấp như gò ngực người đàn bà nằm duỗi dài dưới chân núi ven hồ phập phồng thở trong sương sớm. Sóng vỗ óc ách, những con cá mương nép vô bờ ngủ qua đêm,quật đuôi lách tách vượt vội ra ngoài xa. Một cánh chim lẻ loi liệng mãi trên bầu trời, như muốn dấn sâu vào nỗi cô đơn nên đôi cánh nhỏ không buồn vẫy, cứ giang rộng từ trên cao sà xuống tận sát mặt nước, rồi lại lao vút lên bầu trời thăm thẳm. Như có cánh ná nào bắn vụt mặt trời lên đỉnh núi, ánh sáng chói loà thành một dải lụa vàng trải giữa mặt nước xám bạc lung linh. A Siêng quay người đi trở lại làng. Dưới tán lá xà nu xanh nơi bìa rừng, Y Sao đã đứng đấy từ lúc nào.A Siêng bước nhanh hơn, vươn thẳng người khẽ nói lên thành tiếng “Mình sẽ ở lại!” .

Linh Nga Niê Kdăm

An “Tồ”

    Tôi dạy học sinh từ lớp 6 đến lớp 9. Mỗi lớp đều có những học sinh chăm ngoan học giỏi,  những em bình thường và cả những em lười biếng hoặc lém lỉnh. Điều thú vị là đôi khi những em “có vấn đề” trong lớp lại gây bất ngờ cho tôi bởi chất “hảo hán” ngây thơ nhưng chân thành. Tôi viết truyện này tặng các học sinh thuộc diện vừa nói.

    Tôn Nữ Ngọc Hoa

.

AN “ TỒ”

_    Cô Lan khờ lắm mày ạ!

An vùng dậy  phun hạt chôm chôm,  phán  một câu xanh rờn.

_   Mày bảo sao?

_   Tao nói cô Lan cực kỳ khờ.

_    Mày khờ thì có. Đã là cô giáo thì sao lại khờ được. Huống chi cô Lan lại dạy rất hay.

Thành cũng bật dậy, lý lẽ.

_    Mày chả hiểu ý tao gì cả . Tao không nói cô khờ như thằng Lành “ đao” con bà Tư  suốt ngày lang thang nhớt dãi đầy miệng  hay chí ít cũng không như con Hà  “ khờ “ lớp mình.

Đến nước nầy thì hết chịu nỗi. Dám đem cô Lan dịu dàng  dễ thương  dạy Văn như rót mật vào tai , thần tượng của bao nhiêu đứa học giỏi Văn  của cả Thành lại là cô giáo chủ nhiệm của hai đứa so với hai  đối tượng  kinh khủng đó. Thành xắn tay áo xấn xổ trước mặt An :

_   Mày quá lắm. Để khỏi phải đánh mày, tao về đây . Cóc thèm đôi bạn đôi biếc gì với mày nữa. Cóc thèm chôm chôm chôm chiếc  gì của mày nữa cả. Chắc cũng sẽ có ngày mày  gọi tao là Thành điên Thành ngốc gì đó.

Thành tức giận quơ vội sách vở nhét vào cặp , chụp cái mũ lủng lẳng trên nhánh chôm chôm gãy bươn bả đi luôn một mạch .

An luống cuống chẳng biết xử trí thế nào cứ đứng ngây nghe thằng Thành đỏ mặt tía tai chì chiết . Chưa bao giờ nó thấy thằng bạn tao nhã nói năng kiểu này. Khi  Thành ra đến ngõ,  nó mới sực tỉnh chạy theo gào ơi ới:

_  Thành ! Thành ơi ! mày nghe tao nói đã . Ý tao không phải là …

Nhưng thằng Thành chẳng  thèm ngoái lại. An hốt hoảng thật sự.  Nó rất quí Thành. Cùng học cấp một năm năm liền,  không ngờ khi lên cấp hai loay hoay thế nào  hai đứa cũng chung một tổ trong  lớp sáu A. Thành thông minh chăm chỉ,  điềm đạm, học giỏi đều các môn. Cô thầy nào cũng cưng quí nó.  An thì bộp chộp,  nói trước khi nghĩ, học hành ù ù cạc cạc  nhưng được tính tốt bụng , sẵn lòng vì bạn.  Có lẽ do biết được hai đứa thân nhau lại trái ngược nhau về tính cách nên cô Lan mới chọn là “ Đôi bạn cùng tiến”, chủ yếu để Thành kèm cặp thêm cho An.

Chiều nay  có lịch học. An đề nghị Thành đến nhà nó thay vì  nó đến nhà Thành như mọi khi bởi hai lý do. Thứ nhất là ông ngoại nó đi vắng phải coi nhà. Lý do thứ hai mới quan trọng và hấp dẫn là xoài nhà nó đã bắt đầu chín nhưng ngọt lịm lưỡi , ăn mãi không chán. Lúc đầu  Thành không chịu nhưng trước hai lý do  – một vô cùng chính đáng , một tuyệt cú mèo như vậy nó khó lòng chối  từ sau khi giao hẹn là chỉ được “ tốn ” chừng mười lăm phút để ăn.

Đúng một giờ rưỡi Thành xuất hiện chảnh choẹ như khi đi học, chỉ thiếu mỗi khăn quàng đỏ nữa thôi. An suýt phì cười trước bộ dạng quan trọng của nó nhưng sợ bị  quạu  nên lờ đi . An bàn là hai đứa nên “đổi mới” cách học bằng cách là đem bạt trải dưới gốc xoài vừa mát mẻ lại vừa canh chừng được bọn tắt mắt mấy ngày nay cứ dòm ngó chỉ trỏ.  Một lần nữa Thành lại bị An thuyết phục. Nó thầm công nhận thằng An luôn có lý mà cái lý của nó lại rất hợp tình nữa mới hay.

Thế mà vừa mới đặt vở xuống , khoái trá nằm khểnh ăn chưa hết hai trái đã xảy ra chuyện. An rầu rĩ . Làm sao đây ! Thằng Thành sẽ không giận nó lâu . Xưa nay vốn vậy. Có điều An sợ nhỡ nó mách lại cô Lan câu nói lúc nãy thì sẽ thế nào.  Chắc cô Lan sẽ buồn lắm. Mà nó đâu muốn cô buồn.  Nó cũng quí cô lắm chứ.  Dù lười nhác kiểu gì nhưng đến giờ cô là nó cố học thuộc bài, làm đủ bài tập, thảng hoặc mới quên. Thôi thì mong sao thằng Thành hiểu được ý nó hoặc sẽ không “ tâm sự”  chuyện lúc nãy với cô Lan.

*        *         *

_  Ông ơi ! Khi mình nói với ai điều gì mà họ  tin ngay thì người đó thế nào hở ông ?

An ôm lấy ông ngoại hỏi không kịp thở khi ông vừa dựng xe vào hiên.

_  Từ từ để ông cởi bớt áo đă. Cho ông ly nước .Khiếp . Nóng quá.

An cắm quạt chuyển lại phía ông hếch mặt chờ câu trả lời.

_  Cháu định hỏi gì? Nói lại ông nghe xem nào.

Uống xong ly nước , lau mồ hôi trên mặt bằng chiếc khăn to sù với cử chỉ chậm rãi, ông ngồi xuống ghế kéo An đang sốt ruột chờ bên cạnh  ngồi xuống theo, hỏi.

_    Cháu muốn biết một người  như thế nào thì  ai nói gì cũng tin ngay .

_    Điều đó còn tuỳ họ là trẻ nhỏ hay người lớn , người bình thường hay có vấn đề . Cháu nói cụ thể hơn được không ? Ví dụ như có lần nào đó cháu không làm bài tập, khi cô giáo hỏi cháu đã nói là hôm qua ốm. Cô tin và không phạt cháu chẳng hạn.

Trời đất ! An sửng sốt. Sao ông ngoại lại cho cái ví dụ như của chuyện của nó  vậy chứ. Quả thực  có lần nó đã nói thế khi cô  Lan kiểm tra thấy vở tập làm văn trắng trơn. Cô không phạt lại còn sờ trán , dặn nó phải uống thuốc đều , không ra nắng trong giờ chơi báo hại hôm đó nó phải mang vẻ đau ốm suốt buổi , ngồi ru rú nhìn mấy đứa chạy nhảy chơi đuổi bắt mà thèm .  Nó sợ cả lớp vạch trần trò ma mảnh, nhất là lớp trưởng  Nga nỗi tiếng khó. Lại có lần nó  vờ ôm bụng nhăn nhó khi cô bảo nó nhắc lại câu định nghĩa hắc ám về từ mượn mà  nó chẳng thể nào  nhớ vì mãi ba hoa với nhỏ Mơ về tài bắn chim của chính nó. Bữa ấy cô đã vạch áo nó lên, xoa dầu nóng vào vùng  bụng khiến nó nhột không chịu được mà phải nhịn cười, người cứ như đang ngồi trong chảo lửa. May là cô không han hỏi gì thêm và nhỏ Mơ thì im lặng trố mắt nhìn nó chịu trận , không bình luận gì cả. Ngước nhìn ông nó giục :

_  Cứ cho là như thế cũng được. Ông nói nhanh đi.

_  Có hai trường hợp trong tình huống đó. Một, cô là người cả tin. Hai , là cô biết tỏng cháu nối dối nhưng không nỡ vạch trần cho cả lớp biết tội của cháu với  mong  muốn  cháu tự sửa chữa ở các lần sau.

_   Thật thế hở ông ?

_   Ừ . Trong cả hai trường hợp cô giáo đều là người đáng quí.  Người cả tin là người có tâm hồn trong sáng  luôn tin ở phần đẹp của cuộc sống . Biết bị học trò lừa mà không vạch tội ngay là người độ lượng. Cô giáo cháu là người rất tốt.

Ông nó quả quyết bằng lối nói như của một nhà văn khiến nó mắc cười quá . Nó nghĩ thầm không biết hôm nay là ngày gì mà vừa nãy là bộ dạng  long trọng của đứa bạn bây giờ thì  câu chữ hoa mỹ của ông ngoại. Nhưng nó đâu dám cười . Dù sao  An cũng thấy  nhẹ nhõm hẳn. Ông ngoại đã gỡ rối cho nó .Thay vì “ cả tin” nó đã dùng chữ “ khờ” để nói đến việc cô Lan dễ dàng tin những lời bịa đặt vốn để thoát tội lười học hoặc ham chơi của nó và của mấy đứa khác cùng giuộc. Thay vì   nói văn vẻ như ông ngoại, nó lại đem thằng Lành với con Hà ra mà đối chứng. Thằng Thành giận là phải. Thành ơi !Tao có đúng từ muốn nói rồi. Mày sẽ hiểu tao thôi. Cô ơi ! Cô đừng hiểu ý em như thằng Thành hiểu nghe cô.

Cô Lan là người tốt. Điều đó quá rõ. Đứa hóng hớt như nó cũng nhận thấy vậy. Không tốt sao cô mua cho cái Yến cả bộ sách giáo khoa khi biết  mẹ  nó quá nghèo không mua nỗi.  Không tốt sao cô lại tập trung mấy đứa viết sai be bét chính tả lại kèm thêm mỗi chiều thứ bảy trong đó có cả nó.  Cô còn trích cả một trăm ngàn tiền lương để góp quĩ ủng hộ nạn nhân  chất độc da cam cùng với lớp. Vì cô tốt như thế nên nó tự hứa là  sẽ không lừa cô nữa. Hoặc  thật sự cố gắng học hoặc chấp nhận “ bụng làm dạ chịu”  nghĩa là chịu điểm kém hay bị cô phạt những khi lỡ lười nhác. Nó cũng không muốn cô bị gạt bằng những  trò bịa đặt của mấy đứa bết bát như thằng Hùng, thằng Khoa lại còn bị chúng huênh hoang là gạt cô Lan dễ và khoái như cúp học.  Chính khi ăn chôm chôm nó định nói  ý này nhưng do tật nói trước khi nghĩ thành ra mới nên nông nỗi. Người ta nói uốn lưỡi bảy lần trước khi nói quả không ngoa.

Ông ngoại thấy An đứng ngệt người  tưởng là nó chưa hiểu định giải thích tiếp và cũng nhân tiện uốn nắn thằng cháu hơi bị lệch thì An đã co chân chạy ra cây chôm chôm xếp bạt, gom sách vở. Vừa lúc đó ông nghe tiếng  e hèm của ông  Ban xóm bên và cái đầu bù xù xuất hiện.  “Thôi . Khi khác.”  Ông buột miệng.

*               *              *

Tin cô Lan bị tai nạn làm cả lớp bàng hoàng. Không khí trầm hẳn. Ngay cả thằng Huy và nhỏ Liên là hai đứa to mồm nhất cũng chỉ lăng xăng qua lại hỏi tình hình, không nô giỡn như mọi khi. Vào giờ chơi lớp trưởng Nga tìm cô Hương hỏi thăm. Nó về lớp với vẻ mặt lo âu xen bực tức . Nga chưa kịp nhấn nút thông tin thì  Thắng  6B chạy vào tường thuật cặn kẽ bằng ngôn từ sống động  sự việc chiều hôm qua. Hoá ra cô bị xe máy đụng ngã, mà kẻ lái xe lại chính là thằng Hùng “ loe” trong lớp. Hèn gì sáng nay không thấy nó đi học.

Theo lời Thắng thì chiều hôm qua cô đến nhà Hùng  để tìm hiểu gia cảnh và nhân thể trao đổi với bố mẹ nó về tình hình thực hiện nề nếp nội qui không mấy nghiêm túc của cậu ta.  Hùng  không có nhà . Trước đó chừng mươi phút nó đã tót lên  chiếc cúp cà tàng của cậu nó vừa ghé lại trên đường đi làm rẫy về nổ máy và vọt thẳng. Hưởng ứng nó có thằng Khoa bám ở yên sau. Hai đứa rồ ga hết cỡ, khoái trá  ngoằn ngoằn trong xóm khiến gà vịt hai bên đường chạy té tát, chó sủa inh ỏi  còn trẻ con thì sợ chết khiếp nép vào cổng nhà khóc thét.

Sau khi tỉ mỉ với mẹ Hùng về các biện pháp theo dõi , đôn đốc việc học tập  cũng như rawn đe các hành vi ngỗ nghịch của nó, cô Lan ra về. Vừa nhô khỏi  ngõ thì  đúng lúc hai  quái xế đang lượn nước “mã hồi”. Thằng Hùng giật nẩy mình khi chợt thấy cô. Nó mất bình tĩnh nhưng còn  kịp nhớ  khoanh tay chào. Cũng lúc đó thằng Khoa nhào xuống xe chạy trốn.  Rầm .  Không có người điều khiển, chiếc xe lao thẳng vào bánh xe trước  cô Lan, hất cô xuống, thân hình nhỏ nhắn của cô lấp dưới sườn xe.  Tiếng máy xe rú rét một hồi mới chịu dứt.

Cả lớp nhốn nháo.

_ Thương cô Lan  quá.  Bây giờ cô thế nào? Lúc đó ai đưa cô về nhà?

Tiếng  lớp phó Kiều sụt sịt  cất lên mở đầu màn bàn tán .

_  Cô phải nằm viện không ?

Nhỏ Mi rụt rè như sợ mình đang nói điều xúi quẩy

_ Cô Hương bảo chỉ chụp X quang rồi về. Chiều nay lớp mình đến nhà thăm cô.

Lớp trưởng  trấn an và lên kế hoạch .

_ Mua cam, sữa với cả xí muội nữa nghe. Cô Lan thích ăn xí muội lắm đó.

Nhỏ Phượng, biệt danh là Phượng “ ú” lên tiếng chứng thực tính mê ăn quà của mình.

_  Phen này thằng Hùng với thằng Khoa đừng hòng thoát bị kỷ luật , Quang chắc nịch khẳng định bằng giọng đậm chất phát thanh An ninh trật tự.

_  Nó mắc một lúc mấy tội chúng mày há. Toàn tội tày đình.

Hưng “ rèo” góp lời

_ Ừ . Nào là vi phạm luật an toàn giao thông ,không thực hiện nội qui  nhà trường lại thêm không thực hiện cam kết gì gì nữa …  các cậu nhỉ ? Hèn gì lúc nảy mắt lớp trưởng đầy lo âu mà nét mặt lại bực bội.

Mỗi đứa một câu kêt tội hai thằng và đoán già đoán non về hình thức kỷ luật áp dụng cho  chúng. Mãi hóng chuyện An không hay Thành đã đứng sát bên nó năy giờ. Khi vung tay tỏ ý tán đồng với quan toà tưởng tượng, đụng phải Thành nó mừng rỡ ôm chầm lấy bạn nhỏ nhẻ:

_  Chiều nay tao chở mày đến thăm cô , nghe Thành  ?

_  Ừ . Chờ tao.

Thành ngọt xớt với nó y như giữa hai đứa không hề có vụ căng thẳng hôm qua.

Thì ra tai hoạ của người thân lại có thể là kẻ giảng hoà xuất sắc, khiến người này có thể dễ dàng tha thứ  lỗi lầm của người kia

*                 *                *

Tan học. An không về nhà ngay. Nó ngược hướng  thường lệ. Thành nhìn quanh không thấy đâu đành đạp xe về một mình.  Thành không ngờ rằng An chạy thục mạng đến nhà thằng Hùng, định bụng cho thằng này một trận vì tội vi phạm  nội qui thì ít mà vì đã gây đau đớn cho cô Lan, khiến cô phải nghỉ dạy là chính. Ai dè nhà thằng này vắng ngắt. Đang lớ ngớ thì Hùng về. Hớt hải đi bên là thím Hai, mẹ nó.

Thím lo lắng hỏi thăm cô giáo và than trời than đất về thằng con bất trị. Thím chỉ tay trái nó bảo bị gãy, nhưng do bị trầy xước nên bác sĩ dặn chờ vết thương khô mới bó bột được. Đến nỗi này thì đánh nó sao được. An nghĩ thầm “May cho mày đấy . Không thì no đòn của tao”. Quay sang Hùng đang nhăn nhó,  nó nói vẻ kẻ cả:

_  Thôi mày yên tâm đi . Chừng nào bó bột xong, bớt nhức thì đi học. Đưa vở đây tao bảo nhỏ Ú chép bài hộ cho.

Hùng không ngờ hôm nay An tình cảm quá vậy. Nó cảm động ra mặt. Lui húi tìm vở  nó tự nhủ sẽ chừa thói ngỗ nghịch, ráng học hành , nhất là không gạt cô Lan nữa và sẽ khuyên cả thằng Khoa làm theo.  Chìa mấy cuốn vở quăn queo , Hùng lúng túng:

_   Vở tao tệ quá. Nhờ mày đấy. Cảm ơn mày lắm.

_   Tao về đây. Trưa nhiều rồi. Mày ráng nhé. Chào thím cháu về.

An  nhìn vào nhà chào thím Hai kịp lúc thím đang bưng ra ly nước.

_  Ấy. Uống nước đã cháu.

Nhưng An đã ôm cặp chạy vụt ra ngõ.

*                    *                 *

Lớp trưởng giao hẹn tập trung ở nhà Hưng, để xe đạp ở đó rồi đi bộ sang nhà cô vì hai nơi chỉ cách nhau mấy nhà. Mấy đứa con gái tíu tít đường sữa. Phượng “Ú” còn ôm một bó hoa đỏ vàng.

_  Ê ! Thăm cô ốm chớ có phải đi chúc mừng đâu mà ôm hoa hở con ú kia?

Thằng Hải rỉa rói khi thấy nhỏ này hết hí hửng với sáng kiến xí muội đến bây giờ là hoa hoét của nó.

_  Không phải chúc mừng là gì. Cô không gãy tay găy chân gì cả thì chẳng phải đáng mừng sao. Mày xem phim không thấy người ta làm như tao à?

Nhỏ Phượng chu miệng cãi thằng Hải trông ngộ kinh khủng . Thằng Toàn cũng về phe Hải :

_  Gớm ! Lại còn phim với ảnh. Chỉ tổ giỏi ăn quà và xem phim Hàn Quốc.

_  Mắc gì đến mày.

_  Này ! Các cậu đi thăm cô hay đến đây cãi nhau? Có im đi không?

Lớp trưởng kịp thời ngăn chận cuộc khẩu chiến chợt nổ trước ngõ nhà cô . Cả bọn líu nhíu kéo vào nhà , nhỏ Phượng ôm hoa trịnh trọng không thể tả khiến cả lớp cũng nghiêm nghị theo.

_  Các em vào nhà đi . Sao đứng cả ngoài hiên vậy?

Tiếng cô Lan – dù không trong như thường ngày cất lên khiến cả bọn nhẹ người.

Được phân công trước , thằngThành thay mặt cả lớp nói lý do đến đây. Nhỏ Phượng tiến lên đặt bó hoa bên cạnh cô, đứng lí nhí khác với cái miệng láu táu của nó. Đường , sữa , cả kẹo , xí muội lần lượt được mấy đứa con gái đặt lên bàn cô. Cô Lan bảo cả lớp ngồi xúm quanh và hỏi tình hình lớp sáng nay, hỏi thăm cả hai thằng Hùng, Khoa. Cả bọn ngớ người chợt nhớ ra là sáng nay không thấy cả hai đứa đi học. Lớp trưởng Nga lúng túng. Quả thực mãi lo lắng cho cô, nhỏ không  biết hai đứa đó thế nào thậm chí không biết đến cả sự vắng mặt của chúng. An lên tiếng cứu nỗi nguy trông thấy về sự thiếu sâu sát của lớp trưởng và phá tan không khí như đông cứng lấy cô trò.

_   Thưa cô ! Cô cứ nghỉ ngơi cho khoẻ. Lớp trưởng, lớp phó quản lớp rất tốt  còn  tụi em thực hiện nề nếp nghiêm túc a! Cả bốn tiết học đều được xếp loại tốt. Riêng bạn Khoa thì không sao nhưng sợ quá nên không đi học , bạn Hùng thì bị gãy tay trái đang chờ bó bột.

Cả bọn nhìn An ngạc nhiên xen lẫn thán phục. Không ngờ hôm nay An lại ứng xử thông minh và nói năng lưu loát  tình cảm vậy. Lại còn kịp nắm tình hình của hai thằng quỉ sứ , kẻ gây ra tai nạn cho cô nữa chứ. Thành nháy mắt với An ngụ  ý  “ Cậu khá lắm . Chả bù với hôm qua nói năng như cóc nhái”.  Lớp trưởng kéo nhẹ tay áo An ngầm nói “Hoan hô cậu. Cảm ơn cậu lắm”.  Phượng Ú huých nhẹ sườn An bày tỏ lòng ngưỡng mộ bất chợt. An sung sướng trước thiện cảm các bạn giành cho mình. Nó càng vui hơn khi thấy nụ cười hài lòng nở trên môi cô Lan.  Với nó, đó là nụ cười  đáng giá nhất.

Cô Lan mở tung cả mấy gói kẹo và xí muội chia cho cả lớp. Đưa đẩy nhau một hồi, loáng vài mươi giây trên bàn đã không còn  chút gì dấu vết của thứ quà vừa  được  đem đến thăm cô.  An cười  thầm “Thật quá đáng. Đến thăm cô mà chẳng hỏi cô sức khoẻ thế nào lại còn chén luôn cả quà mang đến”.  Như hiểu ý An cô Lan vui giọng “Có các em đến là được rồi. Xem như đây là dịp để cô trò mình họp mặt nhau thôi mà. Mấy khi đông đủ thế này đâu”.  Nâng niu bó hoa (An thoáng thấy Phượng Ú đang khẽ kêu lên khoái chí), đẩy gói đường và mấy hộp sữa về phía lớp trưởng cô nhỏ nhẹ “Em thay mặt cô đi cùng các bạn đến thăm Hùng , xem tay chân thế nào, động viên bạn để bạn đừng quá lo lắng ảnh hưởng đến chữa trị. Nhân thể bảo Khoa đi học, đừng nghỉ mà mất bài, sắp thi kỳ hai rồi. Thôi các em đi kẻo muộn. Vài hôm là cô đi dạy được rồi”.

Cả bọn vâng dạ râm ran . Nhỏ Liên xí xọn chạm nhẹ vào cánh tay  băng kín của cô nói như hát trước khi xấu hổ lách ra ngoài vì trận cười trêu nó “ngọt  như  mía lùi” của cả lớp và của cả cô Lan.

_  Chúng em chúc cô mau lành và cánh tay vẫn tròn đẹp như trước.

Mấy đứa lần lượt chào cô ra về. Nhân lúc ai nấy lúi húi mang giầy dép, An  đến bên cô gãi đầu gãi tai ấp úng:

_   Thưa cô  … Tha lỗi cho em. Em hứa … từ nay sẽ học tập chăm chỉ, không nói dối cô , không … gạt cô . Em cũng sẽ bảo các bạn Hùng, Khoa đừng … nghịch  ngợm nữa.

_    Thôi , cô quên chuyện cũ rồi. Em biết lỗi là được. Người ta hơn nhau ở chỗ biết cái xấu của mình để tự sửa đổi. Cố gắng học tập kẻo ông ngoại buồn.

Môt tay xoa đầu An . một tay cài lại cúc áo  bị lệch của nó, cô nói dịu dàng.  Chợt cô nhíu mày, An biết cô đau vì với tay.  Nó cầm ngón tay út cô nói thật nhanh rồi cũng vọt ra cửa thật nhanh :

_   Em xin lỗi cô cả chuyện chiều hôm qua nữa.

Cô Lan tròn mắt . Chuyện chiều hôm qua là chuyện gì? An đâu có mặt trong vụ tai nạn Hùng gây ra  ở cổng nhà nó. Cô nhìn theo An vừa khuất  sau cánh cửa. Ánh mắt cô gặp gương mặt An rạng sáng niềm vui đang ngoái lại, tươi như  chồi non mới nhú.

2005

Ủi Đồ


Ủi cái cổ áo trước, rồi 2 cái tay, thân trứơc, thân sau. Trung bình khoảng 5 phút xong một cái áo sơ mi của anh, 2/3 trên thẳng thớm hơn 1/3 dưới (chả là lúc nào anh cũng phải đóng thùng đi làm mà 😛

Đến áo của mình thì hạ nhiệt bàn ủi vì áo mình toàn là vải mỏng manh, nhẹ nhàng, lại có nhiều đăng ten, họa tiết. Ủi bên trong rồi ủi bên ngoài. Lúc mua áo hay may áo mình thường đòi hỏi nhiều ở đường kim mũi chỉ, để những lúc ủi đồ cũng dễ chịu với cái đẹp từ trong ra ngoài.

Rồi đồ của các con, nhỏ hơn, nhỏ hơn cho đến những “món” cuối cùng của con gái 3 tuổi. Để riêng qua một bên cái này bị đứt chỉ, cái kia bị mất nút, cái nọ còn dơ phải giặt lại. Mẹ hay đánh các con một roi để biết công người giặt đồ khi ăn uống, chơi nghịch lấm lem quần áo là vậy.

Cái bàn ủi! Cám ơn mày đã làm bạn với tao. Mày đã già và cũ lắm rồi. Hôm bữa lửa bốc cháy chỗ cái đuôi mày tao đau lòng lắm. Đón mày ở tiệm sửa điện về mà như đón người thân ở bệnh viện.

Cái lưng của mình ơi. Biết nàng đau nên ta ngồi rất thẳng, thẳng thì thẳng nhưng đau thì cứ đau. Thôi kệ, mọi người mặc đồ được ủi đều mang một tí đau của mình. Nhưng mà cũng đáng công làm đẹp cho những niềm yêu.


Nguyễn thị Phương Thảo

Tất cả những điều tốt đẹp

Cậu nhóc học lớp 3 đầu tiên tôi dạy ở trường Saint Mary tại Morris,Minn.Tất cả 34 học trò đều thân với tôi,duy chỉ có Mark Eklund là khác biệt.Vẻ ngoài tươm tất,nhưng với suy nghĩ” hạnh-phúc-để-được-sống” làm cho tính nghịch ngợm thi thoảng của cậu bé rất ngộ nghỉnh.

Mark nói liên hồi.Tôi phải nhắc nhở suốt rằng nói chuyện riêng là không được chấp nhận.Tuy nhiên điều làm tôi ấn tượng nhiều nhất chính là cách đáp lại thành thật của nó mỗi khi tôi chỉnh cách xử sự xấu đó.”Cảm ơn cô đã nhắc nhở em”Ban đầu tôi không hiểu rõ lắm,nhưng chẳng bao lâu tôi trở nên quen với việc nghe điều đó nhiều lần một ngày.

Một buổi sáng sự kiên nhẫn của đi đến giới hạn khi Mark nói một việc quá thường xuyên,và sau đó tôi phạm phải sai làm của giáo viên mới vào nghề.Tôi nhìn nó và nói,”Nếu em còn nói nữa,cô sẽ dán miệng em lại.”

Chưa đầy mười phút sau Chuck thốt lên,”Mark lại đang nói chuyện nữa ạ.”Tôi không yêu cầu bất kì học trò nào giúp tôi trông chừng Mark.Nhưng kể từ khi tôi đưa ra hình phạt trước lớp,tôi buộc phải thực hiện.

Tôi nhớ cảnh đó như thể nó đã diễn ra vào buổi sáng đó.Tôi đi đến bàn,cố tình mở ngăn kéo và lấy ra 1 cuộn băng dính.Rồi tôi tiến đến bàn Mark mà không nói một lời,xé hai mảnh băng dính và làm thành chữ X trên miệng cậu bé.Sau đó tôi quay lại trước lớp.Khi tôi ghé mắt xem Mark đang làm gì,nó đang nháy mắt với tôi,Chính là nó!Tôi bắt đầu cười.Cả lớp hoan hô khi tôi đến lại Bàn của Mark,lột lớp băng keo và nhún vai.Câu nói đầu tiên của nó là,”Cảm ơn cô đã sửa sai cho em.”

Vào cuối năm học tôi được đề nghị dạy toán trung học. Các năm học trôi qua,và tôi biết Mark lại ở trong lớp tôi.Cậu bé đẹp trai hơn bao giờ và rất lịch sự.Bởi vì cậu phải chú ý vào lời hướng dẫn của tôi trong môn”toán mới”,khi học lớp 9 cậu không nói nhiều như hồi lớp 3.

Một buổi sáng thứ sáu,tôi có cảm giác mọi việc không ổn lắm.Chúng tôi phải làm việc cật lực về một khái niêm mới cả tuần,và tôi thấy đám học trò đang kiệt sức, chán nản-và cáu kỉnh với người khác.Tôi cần phải chấm dứt việc cáu kỉnh này trước khi nó đi quá xa. Vì vậy tôi hỏi chúng liệt kê tên những học sinh khác trong lớp học lên hai mặt giấy,để khoảng trống giữa mỗi tên. Sau đó tôi bảo chúng viết ra giấy những điều đẹp nhất chúng có thể nói về mỗi bạn cũng lớp chúng có thể nghĩ đến.

Cả lớp cần đến cả một tiết để hoàn thành bài tập,và khi đám học trò rời khỏi phòng,mỗi đứa nộp giấy cho tôi,Charlie mỉm cười.Mark nói,”Cảm ơn cô đã dạy em.Chúc ngày cuối tuần tốt đẹp.”

Tối thứ bảy đó,tôi viết tên của mỗi học sinh lên một tờ giấy đơn riêng biệt,và liệt kê những điều bọn trẻ nói về một bạn trong lớp.Vào thứ hai tôi đưa mỗi học sinh một danh sách viết về chúng.Chẳng mấy chốc,toàn bộ lớp mỉm cười. “Thật ư?Tớ chưa từng biết điều đó lại có ý nghĩa với người khác !Tớ không biết những người khác thích tớ nhiều như thế,” tôi nghe tiếng thầm thì.

Không một ai đề cập đến những tờ giấy đó nữa.Tôi không bao giờ để ý liệu bọn trẻ có thảo luận về nhau sau giờ học hay kể với bố mẹ hay không,điều dó chẳng có vấn đề gì.Bài tập đã hoàn thành tốt mục tiêu.Đám học trò lại hãnh diện về chính mình và các bạn khác.

Nhóm học sinh ấy cứ tiếp tục.Vài năm sau, khi tôi đi nghỉ về , cha mẹ đón tôi ở sân bay.Trên đường về nhà, Mẹ hỏi tôi những câu thường lệ đại khái là về chuyến đi,thời tiết và những kinh nghiệm ở trường.Cuộc trò chuyện có những khoảng lặng. Mẹ liếc sang nhìn cha và nói: “Anh?” Cha tôi hắng giọng như thường lệ trước khi nói điều gì quan trọng. ”Nhà Ekunds gọi đến tối qua.” ”Thật hả cha?” Tôi nói. ”Con đã không nhận được tin gì về họ mấy năm nay. Không biết biết Mark thế nào rồi.”

Cha trả lời điềm tĩnh:” Mark đã chết ở Việt Nam,” cha nói.”Lễ tang tiến hành vào ngày mai, và cha mẹ cậu ta rất muốn con đến.”

Trước kia, tôi chưa từng thấy một sĩ quan trong quan tài bao giờ.Trông Mark thật đẹp và vô cùng chín chắn.
Tất cả những gì tôi có thể nghĩ vào khoảnh khắc đó là, Mark, tôi sẽ tặng cậu tất cả băng dính trên thế giới miễn là cậu ta có thể nói chuyện với tôi.

Nhà thờ chật ních những người bạn của Mark.Mục sư đọc những bài kinh cầu nguyện thường lệ, và lính kèn gõ những tiếng nhẹ. Từng người một đi vòng quanh chiếc quan tài lần cuối và rắc những giọt nước thánh.
Tôi là người cuối cùng cầu nguyện. Khi tôi đứng đó, một trong những người lính thay mặt người hộ tang, đến gần tôi.”Cô có phải là giáo viên dạy toán của Mark không?” Anh ta hỏi. Tôi chỉ gật đầu tiếp tục nhìn chăm chăm vào chiếc quan tài.”Mark đã nói về cô rất nhiều.” Anh ta tiếp lời.

Sau lễ tang, hầu hết những cậu bạn cùng lớp Mark trước kia đi thẳng về nông trại nhà Chucks dùng bữa trưa.Cha mẹ Mark đã ở đó,rõ ràng đang chờ tôi.”Chúng tôi muốn đưa cho cô vài thứ”,cha Mark nói, và lấy trong túi ra một cái ví.”Họ tìm thấy vật này trên người Mark khi nó chết.Chúng tôi nghĩ cô có lẽ sẽ nhận ra nó.”

Cha Mark mở ví , cẩn thận lấy ra hai mảnh giấy viết đã sờn và bị gấp đi gấp lại nhiều lần. Không cần nhìn tôi cũng biết đó chính là những mảnh giấy mà tôi đã liệt kê tất cả những điều tốt mà bạn Mark nói về cậu ấy. “Cảm ơn cháu rất nhiều,” Mẹ Mark bảo. “Như cháu thấy đó, Mark trân trọng mảnh giấy đó.”

Bạn học của Mark vây quanh chúng tôi. Charlie cười bẽn lẽn và nói “Em vẫn giữ danh sách của mình. Nó ở ngăn trên cái bàn làm việc của em ở nhà.” Vợ Chuck nói: “Chuck đã nhờ tôi đặt nó vào album cưới.” “Em cũng có,” Marilyn nói. “Nó ở trong nhật kí của em”. Rồi Vicky, một học trò khác, lấy cái danh sách mòn và nhàu nát từ quyển sổ tay ra và nói: ’Khi nào em cũng mang nó theo.” Vicky nói không chớp mắt: “Em nghĩ tất cả chúng em đều giữ danh sách của mình.”

Đó là lúc tôi ngồi bệt xuống và khóc. Khóc vì Mark và vì bạn Mark- những người sẽ không bao giờ gặp lại cậu ấy nữa.

Hồng Hải – Nhất Thương- Vĩnh Thanh dịch

.

All The Good Things

He was in the first third grade class I taught at Saint Mary’s School in Morris, Minn. All 34 of my students were dear to me, but Mark Eklund was one in a million. Very neat in appearance, but had that happy-to-be-alive attitude that made even his occasional mischievousness delightful.

Mark talked incessantly. I had to remind him again and again that talking without permission was not acceptable. What impressed me so much, though, was his sincere response every time I had to correct him for misbehaving. “Thank you for correcting me, Sister!” I didn’t know what to make of it at first, but before long I became accustomed to hearing it many times a day.

One morning my patience was growing thin when Mark talked once too often, and then I made a novice-teacher’s mistake. I looked at him and said, “If you say one more word, I am going to tape your mouth shut!”
It wasn’t ten seconds later when Chuck blurted out, “Mark is talking again.” I hadn’t asked any of the students to help me watch Mark, but since I had stated the punishment in front of the class, I had to act on it.

I remember the scene as if it had occurred this morning. I walked to my desk, very deliberately opened my drawer and took out a roll of masking tape. Without saying a word, I proceeded to Mark’s desk, tore off two pieces of tape and made a big X with them over his mouth. I then returned to the front of the room. As I glanced at Mark to see how he was doing he winked at me. That did it! I started laughing. The class cheered as I walked back to Mark’s desk, removed the tape and shrugged my shoulders. His first words were, “Thank you for correcting me, Sister.”

At the end of the year I was asked to teach junior-high math. The years flew by, and before I knew it Mark was in my classroom again. He was more handsome than ever and just as polite. Since he had to listen carefully to my instructions in the “new math,” he did not talk as much in ninth grade as he had in the third.
One Friday, things just didn’t feel right. We had worked hard on a new concept all week, and I sensed that the students were frowning, frustrated with themselves – and edgy with one another. I had to stop this crankiness before it got out of hand. So I asked them to list the names of the other students in the room on two sheets of paper, leaving a space between each name. Then I told them to think of the nicest thing they could say about each of their classmates and write it down.

It took the remainder of the class period to finish the assignment, and as the students left the room, each one handed me the papers. Charlie smiled. Mark said, “Thank you for teaching me, Sister. Have a good weekend.”

That Saturday, I wrote down the name of each student on a separate sheet of paper, and I listed what everyone else had said about that individual. On Monday I gave each student his or her list. Before long, the entire class was smiling. “Really?” I heard whispered. “I never knew that meant anything to anyone!” “I didn’t know others liked me so much!”

No one ever mentioned those papers in class again. I never knew if they discussed them after class or with their parents, but it didn’t matter. The exercise had accomplished its purpose. The students were happy with themselves and one another again.

That group of students moved on. Several years later, after I returned from vacation, my parents met me at the airport. As we were driving home, Mother asked me the usual questions about the trip, the weather, and my experiences in general. There was a light lull in the conversation. Mother gave Dad a side-ways glance and simply says, “Dad?” My father cleared his throat as he usually did before something important. “The Eklunds called last night,” he began. “Really?” I said. “I haven’t heard from them in years. I wonder how Mark is.”

Dad responded quietly. “Mark was killed in Vietnam,” he said. “The funeral is tomorrow, and his parents would like it if you could attend.”

I had never seen a serviceman in a military coffin before. Mark looked so handsome, so mature. All I could think at that moment was, Mark, I would give all the masking tape in the world if only you would talk to me.
The church was packed with Mark’s friends. The pastor said the usual prayers, and the bugler played taps.

One by one those who loved Mark took a last walk by the coffin and sprinkled it with holy water.
I was the last one to bless the coffin. As I stood there, one of the soldiers who had acted as pallbearer came up to me. “Were you Mark’s math teacher?” he asked. I nodded as I continued to stare at the coffin. “Mark talked about you a lot,” he said.

After the funeral, most of Mark’s former classmates headed to Chucks farmhouse for lunch. Mark’s mother and father were there, obviously waiting for me. “We want to show you something,” his father said, taking a wallet out of his pocket. “They found this on Mark when he was killed. We thought you might recognize it.”
Opening the billfold, he carefully removed two worn pieces of notebook paper that had obviously been taped, folded and refolded many times. I knew without looking that the papers were the ones on which I had listed all the good things each of Mark’s classmates had said about him. “Thank you so much for doing that.” Mark’s mother said. “As you can see, Mark treasured it.”

Mark’s classmates started to gather around us. Charlie smiled rather sheepishly and said, “I still have my list. It’s in the top drawer of my desk at home.” Chuck’s wife said, “Chuck asked me to put this in our wedding album.” “I have mine too,” Marilyn said. “It’s in my diary.” Then Vicki, another classmate, reached into her pocketbook, took out her wallet and showed her worn and frazzled list to the group. “I carry this with me at all times,” Vicki said without batting an eyelash. “I think we all saved our lists.”

That’s when I finally sat down and cried. I cried for Mark and for all his friends who would never see him again.

Unknown Author

Về Quê Nghe Tiếng Chim Bắt Cô Trói Cột


Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh
Ta xuống đồng, lúa mừng vui vẫy gọi
Cánh cò chao nghiêng ướm hỏi đôi điều
Ừ, nơi đây ta từng gieo kỉ niệm
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Ta cứ ngỡ quê nhà xưa vẫn vậy
Còn người thương gội bồ kết ướt lưng ong
Trăng vẫn cũ – con đường xưa lại mới
Hết đá vấp chân- sao lại nhói đau lòng!
Biết sao được chuyện của đời dâu bể
Sông có tự ngàn xưa chừ cũng xoay dòng
Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong.
Chim chỉ gọi- chẳng bắt ai trói cột
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa vườn xưa buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Trích từ tập TRƯỚC SÔNG THU.- Thơ Dương Quang Anh

Cảm nhận:

Một lần đêm quê, ngồi chơi cữ rượu độ gần tàn, người hàng xóm hứng chí ngâm lên:

Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh

Cả bàn rượu lặng im. Còn tôi, câu thơ thứ nhì cứ treo lơ lửng trong đầu. Về sau, tôi đã tìm đọc trọn vẹn bài thơ ấy. Bài thơ tôi giới thiệu ở trên.

Bài thơ có cái duyên ngầm bởi bắt được một điệu quê. Với đa phần người, cái hồn quê thường thức dậy từ cánh diều mùa thu hay điệu lí mỗi chiều. Với Dương Quang Anh, thật đến bất ngờ là cái hồn quê lại dóng lên khắc khoải từ một loài chim chẳng mấy khi được chọn làm thi liệu: Chim bắt cô trói cột.

Và theo âm vang của nốt nhạc lạc loài ấy, khách tình quê đi về với cánh cò, đồng lúa, mùa trăng xưa và con đường cũ. Những bước lang thang mà định hướng cho cả một mùa kí ức.

Bắt được giai âm, tác giả như tình cờ được tặng luôn cả một giai điệu. Toàn bài thơ tuy có đôi chỗ phá cách nhưng chung qui vẫn nền nả mặn mà bằng điệu thơ tám chữ có phần xưa cũ. Ấy vậy mà giọng điệu rất quen thuộc ấy, tôi nghĩ, mới thật là một chọn lọc.

Có tình, có điệu. Chưa hết, tôi muốn bàn đến cái tứ của bài thơ. Phải nói thơ anh vừa xúc cảm vừa chắc trong cấu tứ. Ở mỗi khổ thơ, tác giả đã biết để lại một câu hay, một ý đắc để làm những chiếc đinh giữ vững bộ khung của thơ mình.

Ngang đồng lúa, người thơ tự hỏi:
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Và trên quê xưa, đường nhựa phẳng lì thay cho những bậc đá ngày nào còn mấp mô trong kí ức, sao lòng lại xốn xang:

Hết đá vấp chân sao lại nhói đau lòng

Và đây là thái độ của người đã quá cái ngưỡng tri thiên mệnh trước mọi ngã đời dâu bể:

Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong

Và bài thơ kết lại đúng nghĩa trữ tình. Kết mà không mở ra một cục diện mới nào, kết trong một thủy chung cảm xúc:

Chim vẫn gọi chẳng bắt ai trói buộc
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa đường làng buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Tôi cũng thế, vùng vẫy mãi mà chẳng thể thoát ra khỏi những sợi tơ chăng mắc bằng ngôn ngữ trữ tình ấy. Bỡi tôi cũng là một người quê. Cũng đôi lần đi về quê xưa mà nghe thời gian còn phảng phất một màu kí ức. Và như để trả nợ cho một tình quê, tôi giải tỏa bằng một vài cảm nhận. Hẳn cũng quê kệch như tiếng “bắt cô trói cột” kia. Song lại là một điệu quê, có ai người đồng điệu?

Nguyễn Tấn Ái