Tag Archives: Văn Hóa

Chào mừng Ngày Nhà Giáo Việt Nam

    Một trăm năm sau, tôi đã lái xe gì, không quan trong; tôi đã ở nhà loại nào, không quan trọng; tôi đã có bao nhiều tiền trong ngân hàng, không quan trọng… Điều quan trọng là thế giới có thể tốt hơn một chút vì tôi đã tạo được một thay đổi trong cuộc đời của một em nhỏ.” — Forest Witchcraft.

Chào các bạn,

Tháng 7 năm 1946, một tổ chức quốc tế các nhà giáo tiến bộ được thành lập ở Paris đã lấy tên là Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục (tiếng Pháp: Fédération Internationale Syndicale des Enseignants – FISE).

Nǎm 1949, tại một hội nghị ở Warszawa (thủ đô của Ba Lan), Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục đã ra bản “Hiến chương các nhà giáo” gồm 15 chương với nội dung chủ yếu xây dựng nền giáo dục, bảo vệ những quyền lợi của nghề dạy học và nhà giáo, đề cao trách nhiệm và vị trí của nghề dạy học và nhà giáo.

Công đoàn giáo dục Việt Nam, là thành viên của FISE từ năm 1953. Năm 1958, FISE họp hội nghị từ 26 đến 30 tháng 8 năm 1957 tại Warszawa, lấy ngày 20 tháng 11 năm 1958 là ngày “Quốc tế hiến chương các nhà giáo”. Ngày này đã trở thành ngày truyền thống của ngành giáo dục Việt Nam.

Vào ngày 28 tháng 9 năm 1982, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành quyết định số 167-HĐBT thiết lập ngày 20 tháng 11 hằng năm là ngày lễ mang tên “Ngày nhà giáo Việt Nam”.

Nội dung quyết định số 167-HĐBT như sau:

Điều 1: Từ nay hàng nǎm sẽ lấy ngày 20-11 là ngày nhà giáo Việt Nam.

Điều 2: Để ngày 20-11 có ý nghĩa thiết thực hàng nǎm từ tháng 10 các cấp chính quyền và toàn thể cần họp để xem xét tình hình công tác và hoạt động của đội ngũ giáo viên ở địa phương mình, kiểm điểm những việc đã làm và đề ra những việc cấp tiếp tục làm nhằm động viên đội ngũ giáo viên phát huy truyền thống tốt đẹp của giáo giới Việt Nam, rèn luyện phẩm chất và nǎng lực, làm gương sáng cho học sinh noi theo. Về phía giáo viên, cần có những hoạt động phong phú nhằm nâng cao nhận thức về vinh dự và trách nhiệm của người giáo viên trong xã hội nước ta ngày nay, từ đó mà ra sức phấn đấu làm tốt nhiệm vụ cao cả của mình.

Điều 3: Việc tổ chức ngày 20-11 hàng nǎm do Uỷ ban Nhân dân và Hội đồng các cấp chủ trì, có sự phối hợp các ngành giáo dục và các đoàn thể nhân dân. Các cấp các ngành cần phân công cán bộ lãnh đạo đi thǎm hỏi giáo viên, tổ chức các cuộc gặp mặt thân mật với giáo viên, nhân dịp này có thể tổ chức khen thưởng các giáo viên có thành tích. Việc tổ chức này nhà giáo Việt Nam cần được tiến hành trọng thể và thiết thực, tránh hình thức phô trương gây phiền hà cho học sinh và cha mẹ học sinh.

Điều 4: Trong ngày 20-11 các trường có thể sắp xếp lại việc học tập và giảng dạy để giáo viên được nghỉ và tham gia các sinh hoạt của trường và địa phương.

Trong truyền thống trọng thầy–Quân Sư Phụ; vua, thầy, rồi mới đến cha–ngày hôm nay chúng ta chào mừng sứ mệnh giáo dục của các thầy cô. Dạy học không phải là một nghề, mà là một sứ mệnh. Thiêng liêng và cao cả.

Chúc các thầy cô của ĐCN và thầy cô khắp nơi một Ngày Nhà Giáo nhiều tiếng cười, nhiều nước mắt, và nhiều ân sũng. Chúc các thầy các cô luôn vui vẻ khỏe mạnh để luôn đủ năng lực đưa các em tiến bước về hướng mặt trời.

Mời các thầy cô và mọi người nghe ba bản nhạc dành cho các thầy cô hôm nay sau đây.
.

Bụi Phấn

.

Những điều thầy chưa kể – Mung Ngay Nha Giao VN

.

Trường xưa yêu dấu – Clip Mừng Nhà Giáo VN

Chúc mừng ngày Nhà Giáo Việt Nam 20-11!

Với tất cả tình yêu thương và niềm kính trọng đến người thầy của tôi nói riêng và tất cả người thầy trên khắp thế giới nói chung.

Xin gửi đến thầy của tôi,người đã dạy tôi cách sử dụng đúng thì trong một câu tiếng Anh. Người đã dạy chúng tôi bằng cả tấm lòng và sự nhiệt tình.

Xin gửi đến thầy, thầy không chỉ dạy chúng tôi cách học tập sao cho thật sự hiệu quả, mà thầy còn hướng chúng tôi đến một thế giới bổ ích, đến một niềm tin vững chãi, một cái nhìn đồng cảm, một sự yêu thương tha thiết, những triết lí bổ ích, những bản nhạc khiến trái tim và cả trí óc đều ấm lên những lời ca ngọt ngào.

Xin gửi đến thầy thông điệp bé nhỏ của tôi:

“ Cô ơi! Em chỉ muốn chúc cô có một ngày nghỉ lễ thật hạnh phúc, thật vui vẻ và ấm áp. Em muốn sẽ mãi là học trò ngốc nhất của cô. Mong rằng cô luôn luôn khoẻ mạnh, luôn luôn vui tươi, và sẽ mãi là người dẫn đường cho chúng em, là người chỉ cho chúng em con đường đến một thế giới thật xinh đẹp; là người cầm chìa khoá mở cánh cửa của tình yêu nơi chúng em. Biến tâm hồn non nớt của chúng em trở nên trưởng thành hơn!!!! Cô ơi, em thương cô nhiều lắm!!!!!!”

—–

Happy Teacher’s Day 20-11!

With all my love and respect to my teacher and all the teachers around the world.

-Your student –

Mr.Clown. 🙂

Khi thầy nghĩ rằng em đang không quan tâm


Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy nhận xét về bài báo cáo đầu tiên của em và em muốn làm lại một bài khác .

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy cho một chú mèo đi lạc ăn và em nghĩ rằng thầy tuyệt vời biết bao khi tốt với động vật.

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy cho em một tấm vé , và em hiểu ra rằng những thứ nhỏ nhặc đôi khi lại rất đáng quý.

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy che chở em và em cảm nhận được yêu thương dâng trào.

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , em thấy những giọt nước mắt chảy ra từ

đôi mắt thầy và em học được rằng đôi khi thứ làm ta đau lại đáng để ta phải khóc.

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy mỉm cười và điều đó làm cho em muốn được trông rạng rỡ như vậy .

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , thầy quan tâm và em muốn được trở thành những gì em có thế .

Khi thầy nghĩ rằng em đang không chú ý , em nhìn và muốn nói rằng nhờ ở thầy và tất cả những gì thầy đã làm khi thầy nghĩ rằng em đang không quan tâm.

    Bài dịch của Nguyễn Phương Uyên, lớp 10 chuyên Văn trường Nguyễn Du Daklak

.

WHEN YOU THOUGHT I WASN’T LOOKING

    By Mary Rita Schilke Korzan


When you thought I wasn’t looking, you displayed my first report, and I wanted to do another.

When you thought I wasn’t looking, you fed a stray cat, and I thought it was good to be kind to animals.

When you thought I wasn’t looking, you gave me a sticker, and I knew that little things were special things.

When you thought I wasn’t looking, you put your arm around me, and I felt loved.

When you thought I wasn’t looking I saw tears come from your eyes, and I learned that sometimes things hurt–but that it’s all right to cry.

When you thought I wasn’t looking, you smiled, and it made me want to look that pretty too.

When you thought I wasn’t looking, you cared, and I wanted to be everything I could be.

When you thought I wasn’t looking–I looked…and wanted to say thanks for all those things you did when you thought I wasn’t looking.

Number One Teacher – Người Cô Số 1

Dạ em chào cô ạ…. hôm nay nhân ngày 20-11, em chúc cô ngày càng mạnh khỏe, tươi trẻ và vui vẻ…dạ hôm nay em lên mạng kiếm được bài thơ bằng tiếng Anh về cô giáo ạ… em xin copy lại và dịch ra để gửi tặng cô ạ… em dịch còn nhiều sai sót, nên mong cô sữa lại những chỗ dịch chưa đạt giúp em ạ! Em chúc cô 1 ngày làm việc vui vẻ!

Như Thảo.

(ĐCN: Như Thảo, học sinh lớp 8, là thế hệ học trò thứ hai của chị Huỳnh Huệ. Mẹ Thảo trước đây 16 năm là sinh viên học tiếng Anh với chị Huệ. Như Thảo đã dịch bài thơ Time của Quan Jun đăng hai hôm trước).

.

Number One Teacher

I’m happy that you’re my teacher;
I enjoy each lesson you teach.
As my role model you inspire me
To dream and to work and to reach.

With your kindness you get my attention;
Every day you are planting a seed
Of curiosity and motivation
To know and to grow and succeed.

You help me fulfill my potential;
I’m thankful for all that you’ve done.
I admire you each day, and I just want to say,
As a teacher, you’re number one!

(Joanna Fuchs)

.

Cô giáo số 1!

Con rất hạnh phúc vì cô là cô giáo của con
Con thích thú với mỗi bài học mà cô dạy
Như một tấm gương mẫu mực, cô đã truyền cảm hứng cho con
Để con được mơ, để học và được

Cô đã chăm sóc con chu đáo với sự ân cần
Mỗi ngày cô là người gieo rắc
Sự tò mò và sự thúc đẩy
Để con biết, con lớn lên và để con được thành công

Cô giúp con hoàn thành được những tiềm năng của con
Con biết ơn tất cả những gì mà cô đã làm
Con rất ngưỡng mộ cô, và con chỉ muốn nói,
Cô là cô giáo số 1 của con…!

(Như Thảo dịch)

Tiết học cuối cùng

Tôi bắt đầu tới trường rất muộn vào sáng hôm đó và lo sợ sẽ bị trách mắng, đặc biệt là bởi vì Thầy Hamel đã nói rằng thầy sẽ hỏi chúng tôi về phần động tính từ, mà tôi lại không biết một chữ gì về chúng. Trong một khoảnh khắc tôi nghĩ ngay đến việc trốn học và dành cả ngày để lang thang đây đó. Khí trời thực ấm áp, thực sáng sủa. Tiếng chim hót vang lên từ phía cánh rừng; và ở cánh đồng trống phía sau xưởng cưa, bọn lính Phổ đang tập trận. Tất cả những điều này đều hấp dẫn hơn rất nhiều so với những nguyên tắc của động tính từ, nhưng tôi đủ sức để chống cự lại, và hấp tấp chạy đến trường.

Khi tôi băng qua tòa thị chính, có một đám đông đứng trước tấm bảng thông báo. Trong hai năm nay tất cả những tin xấu đề đến từ tấm bảng đó – Tin chiến bại, tin tuyển binh, tin về những mệnh lệnh của sĩ quan chỉ huy – và tôi tự nhủ, chân vẫn không dừng :

“Điều gì đang xảy ra đây ?”

Sau đó, khi tôi đang chạy qua nhanh hết sức có thể, bác thợ rèn Wachter, người đang đứng ở đó, cùng với anh chàng thực tập, đang đọc tấm bảng, gọi với theo tôi:

“Đừng chạy nhanh thế chứ, cậu bé; cháu còn cả khối thời gian để đến trường cơ mà!”

Tôi nghĩ là ông ấy đang giễu cợt tôi, và tôi thở hổn hển khi đến được cái vườn nhỏ của thầy Hamel.

Thường lệ thì, khi lớp học bắt đầu, luôn có những âm thanh ầm ĩ có thể nghe ngay cả khi đang ở ngoài đường, tiếng mở đóng học bàn , tiếng ôn bài như một bản hợp xướng, rất ồn ào, với những cánh tay bịt chặt tai lại để học bài tốt hơn, và tiếng đập bàn của cái thước quá khổ của thầy nữa. Nhưng bây giờ không khí im ắng hoàn toàn! Tôi hy vọng mình có thể tiến vào lớp mà không bị ai nhìn thấy. Tuy nhiên, dĩ nhiên là ngày hôm dó tất cả mọi thứ đều im lặng như sáng Chủ Nhật. Qua cửa sổ tôi thấy những bạn học của tôi, tất cả đều đã ngồi vào chỗ, và Thầy Hamel đang đi lên đi xuống với cây thước sắt kinh khủng trên tay. Tôi phải mở cánh cửa và đi vào trước mắt mọi người. Bạn có thể tưởng tượng là tôi thẹn và sợ đến thế nào

Nhưng không có gì xảy ra cả. Thầy Hamel nhìn tôi và nói rất tử tế:

“Ngồi vào chỗ, nanh lên em Franz. Lớp học đã bắt đầu mà không có em đấy.”

Tôi nhảy qua cái ghế dài và ngồi xuống cái bàn học của tôi. Cho đến lúc đó, khi tôi đã bớt lo sợ, tôi thấy thầy của mình đang mặc cái áo khoác đẹp màu xanh, cái áo sơ mi kiểu, và một cái mũ lụa nhỏ màu đen, tất cả đều được thêm thắt, bộ đồ mà thầy chưa bao giờ mặt ngoại trừ những ngày kiểm tra và những ngày trao giải. Bên cạnh đó, cả lớp có vẻ như rất lạ và trang nghiêm. Nhưng điều làm tôi ngạc nhiên hơn cả là ở dãy bàn cuối, cái dãy bàn luôn trống, những người dân làng đang ngồi lặng im như chúng tôi; cụ Hauser, với cái mũ tam giác của ông ấy, thị trưởng cũ, trưởng phòng bưu điện cũ, và nhiều người khác ngồi bên cạnh. Mọi người đều có vẻ buồn bã; và cụ Hauser mang theo một quyển sách mở lòng cũ, nhăn ở góc, và ông ấy để mở nó trên đầu gối với cặp kính của cụ nằm trên trang sách.

Khi tôi đang tự hỏi về tất cả những điều đó, Thầy Hamel ngồi lên ghế, và, với cùng một giọng trang nghiêm và tử tế mà thầy đã dùng với tôi, thầy nói:

“Các học trò của tôi, đây là tiết học cuối cùng tôi sẽ dạy các em. Lệnh đến từ Berlin là chỉ được dạy tiếng Đức ở những trường ở Alsace và Lorraine. Thầy mới sẽ đến vào hôm sau. Đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng. Tôi muốn các em thực chú ý.”

Thực là một tin sét đánh đối với tôi!

Ôi, khốn khổ thay; đó là những gì họ treo lên ở tòa thị chính!

Tiết học tiếng Pháp cuối cùng của tôi! Tại sao, tôi chỉ mới biết viết! Tôi sẽ không được học thêm gì nữa! Giờ tôi phải ngừng lại sao! Ôi, tôi thực sự luyến tiếc rằng tôi đã không học bài, chỉ vì ham tìm trứng chim, hay ham đi trượt trên ngọn đồi Saar! Những quyển sách của tôi, chỉ mới một khoảnh khắc trước thôi, chúng như là những mối phiền toái, thực nặng nề khi mang chúng; thế mà bây giờ, quyển sách ngữ pháp của tôi, quyển sách sử thánh của tôi, chúng như là những người bạn cũ mà tôi không thể nào vứt bỏ. Và cả thầy Hamel nữa; cái suy nghĩ là thầy sẽ đi xa và tôi sẽ không bao giờ gặp lại thầy nữa làm tôi quên hết mọi điều về cây thước của thầy cũng như thầy là một người cáu kỉnh như thế nào.

Khốn khổ thay! Để tôn trọng ngày tiết học cuối cùng này, thầy đã mặc bộ đồ mà thầy chỉ mặc vào những ngày chủ nhật đẹp trời, và bây giờ tôi đã hiểu tại sao tất cả những người già trong làng lại ngồi tại dãy ghế cuối phòng học. Đó là bởi vì họ cũng luyến tiếc rằng học đã không đến lớp nhiều hơn. Đây là cách mà họ cảm ơn người thầy của chúng tôi vì bốn mươi năm tận tụy phục vụ; cũng là cách mà họ biểu lộ niềm tôn trọng đối với đất nước mà không còn là của họ nữa .

Khi tôi đang nghĩ về những điều này, tôi nghe tên tôi được gọi. Tới phiên tôi trả bài. Làm sao tôi có thể nói được cái nguyên tắc kinh khủng về động tính từ này từ đâu đến cuối được chứ? Tôi bối rối nói được chữ đầu tiên rồi đứng đó, giữ chặt cạnh bàn, tim đập mạnh, và không dám nhìn lên. Tôi nghe thầy Hamel nói với tôi:

“Thầy sẽ không la em đâu, Franz à; Em chắc hẳn cảm thấy đủ tệ rồi. Hãy nhìn lại xem! Mỗi ngày chúng ta đều tự nhủ rằng : “Ah, tôi có cả khối thời gian. Tôi sẽ học vào ngày mai.” Và bây giờ các bạn nhận ra rằng chúng ta đã tới đâu. Ah, đó là một vấn đề lớn lao đối với Alsace; Cô ấy hoãn việc học đến ngày mai. Bây giờ những người bạn ngoài kia có quyền nói với bạn: “Sao lại như thế; bạn giả đò là người Pháp phải không? Vì bạn chẳng thể nói hay viết được chính ngôn ngữ của bạn” Nhưng em không phải là kẻ tệ nhất đâu, Franz khốn khổ à. Tất cả chúng ta đều có nhiều việc để tự trách mắng mình.

“Bố mẹ các trò không đủ ló lắng để bắt các em học. Họ thích các em làm việd trên những cánh đồng hay tại các nhà máy hơn, để có thêm một ít tiền. Và tôi? Tôi cũng đáng trách. Tôi thường cho các em tưới cây thay tôi thay vì để các em học. Và khi tôi muốn đi câu cá, tôi cũng cho các em nghỉ học

Sau đó, từ điều này đến điều khác, Thầy Hamel tiếp tục nói về tiếng Pháp, rằng nó là ngôn ngữ đẹp nhất trên thế giới – là thứ rõ ràng nhất, lo-gic nhất; rằng chúng ta phải bảo vệ nó giữa chúng ta và không bao giờ được phép quên nó, vì khi một dân tộc bị bắt làm nô lệ, chừng nào họ còn giữ được ngôn ngữ của chính mình thì họ còn giữ được chiếc chìa khóa để thoát khỏi kiếp nô lệ. Sau đó thầy mở quyển sách ngữ pháp ra và đọc bài học cho chúng tôi. Tôi thực sự ngạc nhiên vì tại sao tôi hiểu bài rất nhanh. Tất cả những điều thầy giảng thực dễ hiểu, thực sự rất dễ hiểu! Tôi cũng nghĩ rằng, có lẽ đó là vì tôi chưa bao giờ lắng nghe cẩn thận hết mức, cũng như thầy chưa bao giờ giải thích mọi thứ kiên nhẫn như thế này. Nó như thể là người đàn ông khốn khổ này muốn truyền cho chúng tôi tất cả những gì ông biết trước khi ra đi, và cố thực hiện hết sức mình.

Sau phần ngữ pháp, chúng tôi học viết. Vào ngày đó, thầy Hamel có những bản in mới cho chúng tôi, được viết bởi một hoa tay đẹp: France, Alsace, France, Alsace. Chúng như là những lá cờ nhỏ tung bay ở khắp mọi nơi trong căn phòng học, được gắn trên thanh kéo trên cùng của cái bàn học. Bạn nên thấy mọi người tập trung làm việc thế nào, và lớp học đã trở nên im lặng ra sao! Âm thang duy nhất là tiếng ngòi bút chạy trên giấy. Có một vài con bọ cánh cứng bay vào; nhưng chẳng ai quan tâm đến chúng, thậm chí là những cậu nhỏ nhất đang chăm chú viết những chữ ngoằn ngoèo như móc câu, như thể chúng cũng là tiếng Pháp. Trên mái nhà những chú chim bồ câu đang chậm rãi kêu gù gù, và tôi nhủ thầm:

“ Liệu bọn chúng có bắt tất cả phải hát bằng tiếng Đức, kể cả đó là những con bồ câu?”

Bất cứ khi nào tôi ngước lên khỏi bài viết của tôi, tôi thấy thầy Hamel đang ngồi bất động trên ghế và liếc nhìn từ vật này sang người khác, như thể thầy muốn in sâu hình ảnh căn phòng với mọi đồ vật vào trong tâm trí mình. Ồ! 40 năm thầy đã luôn ở đúng một nơi, với khu vườn nhỏ ở ngoài và với cái lớp học đang ở trước mặt thầy, vẫn như vậy. Chỉ có những cái bàn học và những dãy ghế là mòn đi theo năm tháng; những cây óc chó ngoài vườn đã cao hơn, và cây hoa bia mà thầy tự trồng đã quấn quanh cửa sổ, vươn lên tận mái nhà. Thầy chắc hẳn phải rất đau lòng khi phải bỏ tất cả lại; khi nghe tiếng em thầy đóng gói đồ đạc ở nhà trên! Vì họ phải rời nơi này vào ngày mai


Nhưng thầy đủ dũng cảm để dạy hết tiết học. Sau phần viết, chúng tôi học về lịch sử, và sau đó các em nhỏ đánh vần từng chữ ba, be, bi ,bo ,bu. Ở cuối phòng học, cụ Hauser đã đeo kính vào, cầm cuốn sách vở lòng cũ bằng cả hai tay, cụ cũng bắt đầu đánh vần với các em.Và bạn cũng có thể thấy rằng, cụ đang khóc; Giọng cụ run run vì xúc cảm, thực ngộ là khi nghe cụ đọc, tất cả chúng tôi đều muốn vừa khóc vừa cười. Ah, tôi nhớ rất rõ về buổi học cuối cùng ấy!

Đột nhiên chuông đồng hồ nhà thờ điểm 12h. Sau đó là hồi chuông cầu kinh Đức Bà. Cùng một lúc tiếng toán quân Phổ vừa quay về từ bãi tập vang lên bên dưới của sổ nơi chúng tôi học. Thầy Hamel đứng bật dậy khỏi ghế, mặt thầy tái nhợt đi. Tôi chư từng thấy thầy cao đến như vậy

“Các bạn của tôi” Thầy nói “Tôi-Tôi-“ nhưng có điều gì đó làm thầy nghẹn lại. Thầy không thể tiếp tục.

Sau đó thầy quay lại tấm bảng đen, cầm một viên phấn, và, bằng hết sức mình, thầy viết to hết cỡ dòng chữ:

“Nước Pháp muôn năm!”

Sau đó thầy dừng lại rồi dựa đầu vào tường, và, không nói lời nói, thầy ra hiệu cho chúng tôi:

“Lớp học kết thúc – các em có thể về. “

    Người dịch: Nguyễn Đình Nguyên, lớp 9, trường THCS Phan Chu Trinh
    Buôn Ma Thuột.

.

The Last Lesson

I started for school very late that morning and was in great dread of a scolding, especially because M. Hamel had said that he would question us on participles, and I did not know the first word about them. For a moment I thought of running away and spending the day out of doors. It was so warm, so bright! The birds were chirping at the edge of the woods; and in the open field back of the sawmill the Prussian soldiers were drilling. It was all much more tempting than the rule for participles, but I had the strength to resist, and hurried off to school.

When I passed the town hall there was a crowd in front of the bulletin-board. For the last two years all our bad news had come from there—the lost battles, the draft, the orders of the commanding officer—and I thought to myself, without stopping:

“What can be the matter now?”

Then, as I hurried by as fast as I could go, the blacksmith, Wachter, who was there, with his apprentice, reading the bulletin, called after me:

“Don’t go so fast, bub; you’ll get to your school in plenty of time!”

I thought he was making fun of me, and reached M. Hamel’s little garden all out of breath.

Usually, when school began, there was a great bustle, which could be heard out in the street, the opening and closing of desks, lessons repeated in unison, very loud, with our hands over our ears to understand better, and the teacher’s great ruler rapping on the table. But now it was all so still! I had counted on the commotion to get to my desk without being seen; but, of course, that day everything had to be as quiet as Sunday morning. Through the window I saw my classmates, already in their places, and M. Hamel walking up and down with his terrible iron ruler under his arm. I had to open the door and go in before everybody. You can imagine how I blushed and how frightened I was.

But nothing happened. M. Hamel saw me and said very kindly:

“Go to your place quickly, little Franz. We were beginning without you.”

I jumped over the bench and sat down at my desk. Not till then, when I had got a little over my fright, did I see that our teacher had on his beautiful green coat, his frilled shirt, and the little black silk cap, all embroidered, that he never wore except on inspection and prize days. Besides, the whole school seemed so strange and solemn. But the thing that surprised me most was to see, on the back benches that were always empty, the village people sitting quietly like ourselves; old Hauser, with his three-cornered hat, the former mayor, the former postmaster, and several others besides. Everybody looked sad; and Hauser had brought an old primer, thumbed at the edges, and he held it open on his knees with his great spectacles lying across the pages.

While I was wondering about it all, M. Hamel mounted his chair, and, in the same grave and gentle tone which he had used to me, said:

“My children, this is the last lesson I shall give you. The order has come from Berlin to teach only German in the schools of Alsace and Lorraine. The new master comes to-morrow. This is your last French lesson. I want you to be very attentive.”

What a thunderclap these words were to me!

Oh, the wretches; that was what they had put up at the town-hall!

My last French lesson! Why, I hardly knew how to write! I should never learn any more! I must stop there, then! Oh, how sorry I was for not learning my lessons, for seeking birds’ eggs, or going sliding on the Saar! My books, that had seemed such a nuisance a while ago, so heavy to carry, my grammar, and my history of the saints, were old friends now that I couldn’t give up. And M. Hamel, too; the idea that he was going away, that I should never see him again, made me forget all about his ruler and how cranky he was.

Poor man! It was in honor of this last lesson that he had put on his fine Sunday clothes, and now I understood why the old men of the village were sitting there in the back of the room. It was because they were sorry, too, that they had not gone to school more. It was their way of thanking our master for his forty years of faithful service and of showing their respect for the country that was theirs no more.

While I was thinking of all this, I heard my name called. It was my turn to recite. What would I not have given to be able to say that dreadful rule for the participle all through, very loud and clear, and without one mistake? But I got mixed up on the first words and stood there, holding on to my desk, my heart beating, and not daring to look up. I heard M. Hamel say to me:

“I won’t scold you, little Franz; you must feel bad enough. See how it is! Every day we have said to ourselves: ‘Bah! I’ve plenty of time. I’ll learn it to-morrow.’ And now you see where we’ve come out. Ah, that’s the great trouble with Alsace; she puts off learning till to-morrow. Now those fellows out there will have the right to say to you: ‘How is it; you pretend to be Frenchmen, and yet you can neither speak nor write your own language?’ But you are not the worst, poor little Franz. We’ve all a great deal to reproach ourselves with.

“Your parents were not anxious enough to have you learn. They preferred to put you to work on a farm or at the mills, so as to have a little more money. And I? I’ve been to blame also. Have I not often sent you to water my flowers instead of learning your lessons? And when I wanted to go fishing, did I not just give you a holiday?”

Then, from one thing to another, M. Hamel went on to talk of the French language, saying that it was the most beautiful language in the world—the clearest, the most logical; that we must guard it among us and never forget it, because when a people are enslaved, as long as they hold fast to their language it is as if they had the key to their prison. Then he opened a grammar and read us our lesson. I was amazed to see how well I understood it. All he said seemed so easy, so easy! I think, too, that I had never listened so carefully, and that he had never explained everything with so much patience. It seemed almost as if the poor man wanted to give us all he knew before going away, and to put it all into our heads at one stroke.

After the grammar, we had a lesson in writing. That day M. Hamel had new copies for us, written in a beautiful round hand: France, Alsace, France, Alsace. They looked like little flags floating everywhere in the school-room, hung from the rod at the top of our desks. You ought to have seen how every one set to work, and how quiet it was! The only sound was the scratching of the pens over the paper. Once some beetles flew in; but nobody paid any attention to them, not even the littlest ones, who worked right on tracing their fish-hooks, as if that was French, too. On the roof the pigeons cooed very low, and I thought to myself:
“Will they make them sing in German, even the pigeons?”

Whenever I looked up from my writing I saw M. Hamel sitting motionless in his chair and gazing first at one thing, then at another, as if he wanted to fix in his mind just how everything looked in that little school-room. Fancy! For forty years he had been there in the same place, with his garden outside the window and his class in front of him, just like that. Only the desks and benches had been worn smooth; the walnut-trees in the garden were taller, and the hopvine that he had planted himself twined about the windows to the roof. How it must have broken his heart to leave it all, poor man; to hear his sister moving about in the room above, packing their trunks! For they must leave the country next day.

But he had the courage to hear every lesson to the very last. After the writing, we had a lesson in history, and then the babies chanted their ba, be bi, bo, bu. Down there at the back of the room old Hauser had put on his spectacles and, holding his primer in both hands, spelled the letters with them. You could see that he, too, was crying; his voice trembled with emotion, and it was so funny to hear him that we all wanted to
laugh and cry. Ah, how well I remember it, that last lesson!

All at once the church-clock struck twelve. Then the Angelus. At the same moment the trumpets of the Prussians, returning from drill, sounded under our windows. M. Hamel stood up, very pale, in his chair. I never saw him look so tall.

“My friends,” said he, “I—I—” But something choked him. He could not go on.

Then he turned to the blackboard, took a piece of chalk, and, bearing on with all his might, he wrote as large as he could:

“Vive La France!”

Then he stopped and leaned his head against the wall, and, without a word, he made a gesture to us with his hand:

“School is dismissed—you may go.”

Trái tim nhà giáo

Như các bạn tôi chọn ngành sư phạm
Vì tôi yêu những đôi mắt ngây thơ
Long lanh sáng tròn xoe tinh nghịch
Nét xinh tươi ngoan ngoãn vô tư

    ***

Như các bạn tôi một lòng tâm huyết
Đưa các em vững bước đi lên
Bằng khối óc, bằng trái tim nhà giáo
Bằng tấm lòng yêu trẻ đến vô cùng

    ***

Trang giáo án tôi làm người họa sĩ
Vẽ con đường các cháu đến tương lai
Của đất nước hòa bình độc lập
Mang trái tim nhân hậu an bình

    ***

Có người bảo làm nghề nhà giáo
Như lái đò đưa khách sang sông
Bến trống vắng người lái đò hiu quạnh
Sang sông rồi khách sẽ đi xa

    ***

Ta không ngại vì trong nền văn hóa
Chúng ta là những chiến sĩ tiên phong
Dù hy sinh thầm lặng
Hay gặp muôn vạn những khó khăn

    ***

Ta không ngại vì ta là nhà giáo
Niềm tự hào nhà giáo Việt Nam

Minh Tâm

Đóa Hồng Của Cô

“Cô ơi,
Cô đã dùng tim mình để thắp sáng trái tim em,
dùng tình yêu để dạy em biết cách yêu thương,
có cô em cảm thấy thế giới này thật ấm áp….”

Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, em xin gửi đến tất cả các thầy các cô, đặc biệt là chị Huệ, anh Ái, mama của em, và mama của Khánh Hòa nữa nhỉ, lời chúc tốt đẹp nhất. Kính chúc thầy cô cùng gia đình sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong lĩnh vực giảng dạy nghiên cứu.

Trong ngày đặc biệt này em xin phép cả nhà cho em được thử sức mình trong lĩnh vực thơ văn , em nghĩ là nó không được hay và đúng luật nhưng chủ yếu là để mọi người cùng vui thôi ạ. Bài thơ có tựa đề “Đóa hồng của cô”, sau đây em xin được mời cả nhà cùng thưởng thức:
.

Đóa hồng của cô

Bạn dâng lên một đóa hoa,
Tôi dâng lên một đóa hoa,
Chúng ta cùng tết thành một bó hoa lớn,
Để dâng tặng người cô thân yêu.
Cô là người gieo hạt giống,
Mồ hôi của cô là nguồn nước cho những mầm non.
Mắt của cô sáng như những vì sao
Giọng hát của cô như dòng suối nhỏ,
Đem lại niềm vui cho tất cả mọi người.
Dù cho chúng ta có đi xa đến đâu
Sẽ mãi ghi nhớ tình thương của cô,
Dù cho chúng ta có đi xa đến đâu
Vẫn mãi ghi nhớ lời dạy của cô.
Dù cho chúng ta có đi xa đến đâu,
Vẫn mãi ghi nhớ mình là một đóa hồng của cô.
…..

Trong ngày đặc biệt này em mong được nhìn thấy nụ cười của mẹ, chị Huệ, anh Ái rất nhiều.

Kiều Tố Uyên

Giới thiệu Hanoigrapevine: “Tôi biết điều đó từ Grapevine”

Chào các bạn,

Dạo này mình chuẩn bị phần  tin sáng cho ĐCN và điều đó khiến mình để ý đến những điều gì đang xảy ra quanh trị trấn chúng ta hơn. Và một điều thú vị mình phát hiện ra là trang web Hanoigrapevine.com.

Mình thật ngạc nhiên.  Hà Nội Grapevine là gì vậy? Cái tên gì nghe ngộ ghê. Dưới đây là giới thiệu của Hà Nội Grapevine về mình.  🙂

“Tôi biết điều đó từ Grapevine” :-)

1. Giới thiệu Hanoigrapevine

Grapevine là một dự án của nghệ sỹ người Canada, Brian Ring. Ông đến Hà Nội lần đầu vào tháng 1/1996 và từ đó đến nay, dành một phần lớn cuộc sống của ông cho Hà Nội.

Nhưng thật ra thì dự án Grapevine không liên quan gì đến nho và càng không liên quan đến

rượu vang, vậy thì…

Tại sao lại gọi là Grapevine?

Tên gọi của dự án bắt nguồn từ một câu nói xa xưa trong ngôn ngữ tiếng Anh – “Tôi biết điều đó từ Grapevine” – có nghĩa là thông tin được nhận từ một nguồn không chính thức, thường là qua liên hệ cá nhân. Tin được truyền từ người này đến người khác, giống như rượu vang là kết quả của sự kết hợp các chùm nho. Khi tôi bắt đầu làm blog này, cái tên Grapevine có vẻ rất phù hợp vì thông tin tôi đưa lên web là những điều mà tôi nghe thấy hoặc biết thông qua nhiều nguồn khác nhau về các sự kiện diễn ra ở Hà Nội

Câu nói cũng được thể hiện qua giai điệu khá quen thuộc với nhiều người của một bài hát R&B phổ biến từ những năm cuối của thập niên 60. “Tôi biết điều đó từ Grapevine” được rất nhiều nghệ sỹ thu âm, nhưng có lẽ nổi tiếng nhất phải kể đến Marvin GayeCreedence Clearwater Revival.

Bạn có thể đọc được một lời giải thích khác về câu nói/giai điệu này hay về nguồn gốc của bài hát và về những người đã từng hát nó.

Trong khi đọc, hãy lắng nghe Marvin Gaye hay Creedence thể hiện bài hát:


Marvin Gaye I Heard It Through The Grapevine (1968)

.

Heard It Through The Grapevine- Creedence Clearwater Revival

TB: Grapevine chuyển đến địa chỉ này vào tháng 5/2008. Grapevine bắt đầu từ một trang web miễn phí trên wordpress.com. Trên 260 bài đã đầu tiên vẫn lưu ở trang Grapevine cũ.

I Heard It Through The Grapevine
– Marvin Gaye

Ooh, I bet you’re wondering how I knew
’bout your plans to make me blue
With some other guy you knew before
Between the two of us guys you know I love you more
It took me by surprise I must say
When I found out yesterday
Don’t you know that I

Heard it through the grapevine
Not much longer would you be mine
Oh I heard it through the grapevine
Oh I’m just about to lose my mind
Honey, honey yeah
(Heard it through the grapevine)
(Not much longer would you be my baby, ooh, ooh, ooh)

I know a man ain’t supposed to cry
But these tears I can’t hold inside
Losing you would end my life you see
’cause you mean that much to me
You could have told me yourself
That you love someone else
Instead I

Heard it through the grapevine
Not much longer would you be mine
Oh I heard it through the grapevine
And I’m just about to lose my mind
Honey, honey yeah
(Heard it through the grapevine)
(Not much longer would you be my baby, ooh, ooh, ooh, ooh, ooh)

People say believe half of what you see
Son, and none of what you hear
But I can’t help being confused
If it’s true please tell me dear
Do you plan to let me go
For the other guy you loved before?
Don’t you know I

Heard it through the grapevine
Not much longer would you be mine
Baby I heard it through the grapevine
Ooh I’m just about to lose my mind
Honey, honey yeah
(Heard it through the grapevine)
(Not much longer would you be my baby, yeah, yeah, yeah, yeah)

Honey, honey, I know
That you’re letting’ me go
Said I heard it through the grapevine

Heard it through the grapevine

2. Một số suy nghĩ:

Mình tới thăm trang nhà cũ của Hanoi Grapevine trên WordPress blog và biết được câu chuyện 🙂

Nghệ sĩ Brian muốn tìm thông tin về những hoạt động nghệ thuật đương đại, như triển lãm mỹ thuật, hát opera, những buổi trò chuyện trí tuệ mà không tìm ra qua những kênh tin chính thức. Và những thông tin ông biết được là hầu hết đều qua truyền miệng 🙂

Để giúp cho những hoạt động văn hóa – trí tuệ được biết đến nhiều hơn,  ông Brian đã lập một wordpress blog và post dần dần các thông tin sự kiện hơn một năm ròng cũng như kêu gọi mọi người góp tin, trước khi thành lập trang web chính thức Hanoigrapevine. 🙂

Như vậy, giới trí thức phương Tây và các bạn Việt Nam ở Hà Nội có thông tin về các tụ điểm trí tuệ để đến chơi 🙂

Mình nhìn ra được, các bạn phương Tây đến những thành phố lớn của Việt Nam như Hà Nội và HCMC để làm việc cũng có những nhu cầu văn hóa – trí tuệ của họ, như lập nhóm chơi thể thao, lập nhóm đi xem các sự kiện văn hóa Tây phương, tìm hiểu văn hóa Việt Nam, chơi nhạc và trao đổi kiến thức, cùng học tiếng  Việt. Qua thời gian, những nhóm đó ngày càng lớn lên. 🙂

Với các bạn nước ngoài , thông tin cho cộng đồng cần phải để ở nơi công cộng – bất kể thông tin về sự kiện nhỏ hay lớn. Một nhà thờ mới thành lập chưa có mấy thành viên nhưng không thể thiếu website, một sự kiện gì nhóm họp vui vẻ cho tất cả mọi người đều được để trên Internet, phổ biến rộng rãi bằng các tờ rơi ở siêu thị, trường học để ai quan tâm tới dự, kết với với mời trực tiếp 🙂Ba Vì Bikeride :-)

Họ lập bảng thông tin về các nhóm ở Hà Nội.

Cách làm đó thật hay, thật hiệu quả và đem tới nhiều ích lợi cho cộng đồng.

Tại sao không nhỉ? Mình đến tham gia các hoạt động trí tuệ của của các tổ chức nước ngoài như các đại sứ quán, các triển lãm nghệ thuật của nghệ sĩ trong nước và nước ngoài để học hỏi. Đó có thể là một buổi đi chơi cuối tuần hay cuối một buổi làm việc. Đa phần là miễn phí vì các tổ chức muốn promote văn hóa bản địa hay với chi phí thấp 🙂

Ta sẽ học và biết được thật nhiều thứ 🙂

– Biết về các nguồn học bổng du học nước ngoài, hay các bạn đã có ý định du học, tìm hiểu về cuộc sống ở trời Tây bằng cách nói chuyện với những con người cụ thể. Dạo trước, khi mình tìm hiểu về xin học bổng du học nước ngoài, ngoại trừ du học Mỹ là mình khá biết từ trước, học bổng để đi học những nước khác như Đức, Bỉ, Hà Lan, Pháp mình thường bắt đầu từ đại sứ quán và các trung tâm văn hóa của nước họ.

– Sẽ hiểu biết nhiều về văn hóa – trí tuệ. Nói đến đây mình thấy xấu hổ vì mình ở Hà Nội từ bé, nhưng chỉ trước khi đi nước ngoài mới ghé thăm bảo tàng Mỹ thuật, bảo tàng Dân tộc học, nhà tù Hỏa Lò và một số nơi khác đấy 🙂 Xem xong mình quá ngỡ ngàng 🙂 Đúng là ngu ngơ chẳng biết gì trong khi có bao nhiêu cái hay xung quanh  🙂

– Kết bạn với người trí thức nước ngoài và nói chuyện bằng tiếng Anh. Sẽ mở rộng đầu óc của mình ra với thế giới.  Mình nhớ có một anh bạn, hồi xưa tiếng Anh cũng bình thường nhưng sau đợt đi làm tour guide cho khách nước ngoài mà nói tiếng Anh… siêu như  người Mỹ  🙂

Ta  cũng có thể mở những sự kiện và đăng ký với Hanoigrapevine hay mời một số bạn nước ngoài tới dự . Qua giao lưu mọi người đều học được thật nhiều.

Và, bạn hãy giúp các tổ chức để thông tin nơi public nhé. Anh Hoành cũng đã viết một bài về việc này: “Đề nghị với các bạn bloggers

Chúc các bạn một ngày tuyệt vời,

Hiển.

Josef Hassid và Giai điệu Do Thái

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta cùng nghe anh Josef Hassid chơi bản Hebrew Melody của Joseph Achron.

581[1]
Josef Hassid
Các bạn biết không? Khi anh Hassid chơi bản này, anh mới 17 tuổi!

Mình biết đến Josef Hassid qua cuốn phim “The art of the violin” kể về những nghệ sĩ violin vĩ đại nhất của thế kỷ 20, như Jascha Heifetz, Fritz Kreisler, Isaac Stern và nhiều nghệ sĩ khác.

Cuối tập một, cuốn phim nói tới những thiên tài violin rực rỡ nhưng Thượng đế đã lấy họ đi khi cuộc đời còn quá tươi trẻ. Một trong số đó là Josef Hassid, và sau đó đoạn thu âm Hebrew Melody do anh chơi được bật lên.

Mình lặng nghe và bị hút vào bản nhạc. Giai điệu Hebrew ngân suốt do anh Hassid chơi nổi bật lên từng nốt và hàm chứa nỗi suy tư  sâu hay nỗi đau đớn huyền bí.

”Giai điệu Hebrew” là bản nổi tiếng trong 9 bản thu vĩ đại Josef Hassid để lại cho âm nhạc thế giới. Anh Hassid  rất điêu luyện với  kỹ thuật rung (vibrato) và temperament của cây violin, khiến nghệ sĩ violin Fritz Kreisler nói: “Một cây violin như Heifetz cứ 100 năm xuất hiện một lần, một Hassid cứ 200 năm”.

Chỉ sau khi biểu diễn Hebrew Melody một năm, khi mới 18 tuổi, Josef bị mắc chứng quỵ thần kinh. Sau đó là quá trình chữa trị, nhập viện và ra viện hàng năm ròng. Anh qua đời vào năm 26 tuổi.

Mình đâu biết mình sẽ được sống bao lâu nhỉ? Thật may mắn, nếu ta có thể để lại được gì đó cho đời như anh Josef Hassid, phải không các bạn?

Chúc các bạn một ngày sắc nét,

Hiển.
.


Josef Hassid,  Achron – Hebrew Melody Op.33  ( 11/29/1940)

Di sản Thế giới – Vịnh Hạ Long

Chào các bạn,

Vùng Biển Rồng Đáp này thì rất khó để giới thiệu với các bạn, vì như thế thì chẳng khác gì với thiệu ông chú với bà thím. “Chào chú, giới thiệu với chú, bà này là vợ chú đấy.” Đôi khi cũng có thể phải làm thế thật. 🙂 Nhưng Vịnh Hạ Long thì chắc là không cần.

Nét hùng vĩ và kỳ bí của Vịnh Hạ Long thật là có một không hai trên thế giới. Dù là Vịnh Hạ Long có dự phần trong hai cuốn phim lớn, Indochine và Tomorrow Never Dies (James Bond 007), hai cuốn phim này chẳng làm nên công lý cho Hạ Long. Thực sự là phải ngồi bập bềnh giữa trời biển núi bao la ấy, ta mới cảm nhận được nét tuyệt mỹ cùa Hạ Long và tính vô tận của trời đất.

Mình mới làm xong PPS Vinh Hạ Long, với nhạc nền là bản Hải Đảo Xa Xôi (Distant Island) của Deuter. Post đây để chia sẻ với các bạn.

Xin các bạn click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.

Chúc các bạn một ngày hùng vĩ.

Bình an & Sức khỏe,

Túy-Phượng
.

halong

Hà Nội Phố, Hà Nội Mùa Đông!

Chút gió heo may về mang theo hơi hướng của một mùa đông Hà Nội sắp bắt đầu. Thu còn chần chừ, vấn vương chia tay trong hương cốm man mát, hương hoa sữa nồng nàn, ngây ngất phố, trong màu nắng vàng tươi như mật ong. Đông ngập ngừng với những cơn gió mùa đông bắc đầu tiên, lẫn vào từng cơn mưa, mưa lá bay đầy trời, kéo theo cái lạnh của khoảnh khắc giao mùa, vừa đủ cho những đôi tình nhân tìm hơi ấm tay trong tay bên nhau.
hanoi1

Lập Đông, Hà Nội có gam màu và hương vị say đắm là lạ. Màu vàng, đỏ của nắng, của lá cây, hương phố tỏa ra từ những hàng quà mùa Đông dọc vỉa hè…Tất cả những điều thi vị đó mang cho những người con xa Hà Nội một nỗi nhớ khó tả. Không ồn ào náo nhiệt như mùa Hè, không nồng nàn say đắm như mùa Thu, không tươi trẻ đầy sức sống như mùa Xuân, Đông Hà Nội mang chút lạnh lùng nghiêm nghị nhưng cũng không kém phần đáng yêu và duyên dáng giống như những nàng thiếu nữ Hà Nội vậy.

Hồ Gươm ngày Đông, mặt nước phẳng lặng, soi bóng Tháp Rùa cổ kính và những cành cây khẳng khiu, trụi lá. Lá đã theo gió đi cùng mùa Thu, dành lại cành trơ khấc cho mùa Đông.
hanoi2
Nắng không đủ rực rỡ, chỉ vừa đủ để làm hồng đôi má của ai đó. Những con đường với những rặng cây đang thay sắc lá. Thỉnh thoảng vài chiếc lá còn sót, rơi xuống trông giống như một vạt nắng vàng lấp lửng giữa khoảng không. Những chùm quả bàng chín vàng ửng, treo lủng lẳng trên cành, những bông hoa điệp còn vương lại, những cành cây cơm nguội rung rinh trong gió có vẻ như không muốn rời đi theo mùa, làm cho cái màu xám đặc trưng của mùa Đông được giảm bớt. Nhờ đó ta vẫn thấy ấm áp trong cái lạnh của gió, của không khí khi bắt gặp Đông trên phố.


“…Hà Nội mùa này chiều không buông nắng

Phố vắng nghiêng nghiêng cành cây khô

Quán cóc liêu xiêu một câu thơ

Hồ Tây, Hồ Tây tím mờ…”

hanoi3

Hồ Tây sương phủ mờ, con đường Cổ Ngư hôm nay dường như cũng có chút khác lạ. Rộng hơn, lạnh hơn, không còn những đôi tình nhân sóng sánh bên nhau dạo bước dưới nắng chiều. “…Đường Cổ Ngư xưa chầm chậm bước ta về…” .

Hà Nội Đông về còn quyến rũ lòng người bởi những món ăn rất riêng. Đó là ngô nướng, ốc luộc và quẩy nóng chiên giòn.

Những bắp ngô nếp còn non, vừa mới được trẩy về từ bãi giữa cầu Long Biên, ven sông Hồng. Bóc lớp áo lá xanh mướt bên ngoài, ta bắt gặp những hạt ngô trắng ngần, bóng mịn, còn căng sữa. Đem quạt nướng trên than hồng chừng mươi phút sẽ cho chúng ta những bắp ngô nướng ngọt dẻo thơm bùi, ngon phải biết…Ngô nướng quyến rũ thực khách bằng hương thơm riêng biệt, mùi thơm của hương đồng gió bãi, của phù sa hào phóng. hanoi4-ngôNgô nướng chỉ sinh ra vào đúng mùa này, đúng khoảng khắc này khi cái se se lạnh của heo may bủa vây quanh ta, khi màn đêm biến chậu than hồng trở nên lung linh huyền ảo. Ai cũng muốn ngồi gần chậu than hơn chút nữa, những đôi má ửng đỏ, những cặp mắt long lanh xúm quanh người quạt ngô, những câu chuyện không đầu không cuối, những tiếng xuýt xoa trong tà áo mỏng, âm thanh lép bép của lò than…tạo nên một không gian ấm cúng kỳ lạ, hòa quyện vào không khí chờ đợi thơm mùi ngô nếp. Cầm bắp ngô nướng chín nóng hôi hổi trên tay, ta có cảm giác hơi ấm lan truyền từ tay vào từng đường gân thớ thịt. Cẩn thận tách từng hạt, từng hạt, nhẹ nhàng bỏ vào miệng, nhẹ nhàng nhâm nhi như sợ cái vị ngon ngọt ấy tan nhanh đi mất.

Sẽ là thiếu sót nếu ta bỏ qua món quẩy nóng.
Mặc dù chỉ mới qua mấy trận gió mùa mà đâu đó bên những vỉa hè, cổng trường đã xuất hiện hàng quẩy nóng với mấy cái ghế, cái bàn con sơ sài cùng chảo mỡ to đùng. Đây là món ăn dân dã và rất rẻ. Ta có thể bắt gặp trên phố rất nhiều hàng quẩy nóng nhưng nổi tiếng nhất vẫn là quẩy ở các phố như Cửa Nam, Phan Bội Châu, Quán Thánh, Thụy Khuê. hanoi5-quay
Quẩy ở phố nào cũng giống nhau, nhưng điều để thu hút thực khách và làm cho món quẩy của quán mình trở nên nổi tiếng thì bắt buộc người chủ phải có nước chấm ngon. Chua ngọt của dấm đường, se cay đầu lưỡi của ớt tươi, mặn dịu của nước mắm và không thể thiếu những lát đu đủ hay cà rốt thái mỏng. Một đĩa quẩy nóng, chấm với nước chấm chua ngọt, thêm chút tương ớt… Chao ơi mới hấp dẫn làm sao.

Có ngô nếp nướng, quẩy nóng giòn, sao ta có thể quên ốc luộc được chứ! Những con ốc béo ngậy được làm sạch sẽ, luộc với lá chanh, sả và một chút gia vị ta có được món ốc ngon tuyệt. Cũng giống như ăn quẩy, ốc ngon một phần nhờ nước chấm, mỗi quán có một cách pha nước chấm riêng, khiến người ăn không thể nhầm lẫn. Nhẹ nhàng xoắn ruột ốc ra khỏi vỏ, rồi nhẹ nhàng nhấn chìm vào nước chấm, mùi vị chúng hòa quyện vào nhau, ngọt ngào biết mấy. Đêm mùa Đông, ngồi xì xụp húp bát nước ốc, uống rượu trong hơi men, xích lại gần nhau nói đủ thứ chuyện, những con ốc như kéo gần khoảng cách mỗi người.hanoi6-oc

Cứ vẩn vơ, mơ màng với cây, với lá, với quà phố Hà Nội trong cái lạnh ngọt ngào còn vương chút thu, dạo bước qua những con đường lá rụng ngập đầy lối đi, dễ khiến hồn ta bay bổng theo từng cơn gió. Đông ơi, chào mi nhé. Mi về đây để ta có thể diện những chiếc khăn len ấm áp, để ta có thể thưởng thức một tách cafe nóng trong quán quen, để ta có thể hít hà cái lạnh giá của sương sớm…

Thi thoảng ta tự tạo cho mình cảm giác nhớ, để lại được mơ màng trong những dư âm cùng giá rét, nơi biến ta thành kẻ mộng mị sống cùng kí ức với niềm dấu yêu dành cho Hà Nội. Hà Nội mùa Đông với mái ngói rêu phong, với cây bàng trụi lá thân sẫm trong sương mờ. Hà Nội mùa Đông với thấp thoáng phố xá ánh đèn, quán cóc vỉa hè, tiếng rao vẳng phố khuya…để lại từng nỗi niềm yêu thương mong nhớ hoài cảm.
hanoi7

Và ta thấy lòng chùng xuống như khi nghe một giai điệu quen thuộc và vọng trong ta một khúc ca Hà Nội phố:

“Em ơi Hà Nội phố

Ta còn em mùi Hoàng Lan

Ta còn em mùi hoa sữa

Con đường vắng rì rào cơn mưa nhỏ

Ai đó chờ ai tóc xõa vai mềm

Ta còn em cây bàng mồ côi mùa đông

Ta còn em góc phố mồ côi mùa đông…”

Nguyễn Thanh Mai
Leo_pretty

Hồi Ký của Y Ngông Niê Kdăm

Thấy quyển hồi ký của ba chị Linh Nga, bác Y Ngông Niê Kdăm, rất hữu ích cho chúng ta để hiểu biết thêm về đồng bào Tây Nguyên trong chiến tranh và cách mạng, đồng thời biết thêm về một chiến sĩ cách mạng và biết thêm về bạn quý Linh Nga của chúng ta, mình xin phép chị Linh Nga post lên Đọt Chuối Non. Ảnh trong hồi ký là ảnh minh họa của mình. Hy vọng mai mốt chị Linh Nga có thể cho chúng ta các bức ảnh liên hệ đến bác để chúng ta thay thế ảnh minh họa.

Cám ơn chị Linh Nga rất nhiều !

Hoành

.

    Ba tôi có hai lần viết hồi ký . Cuốn ” Khát vọng Tây Nguyên” do nữ nhà báo Diệu Ân ghi, Nhà xuất bản VHDT phát hành năm 1994, không được ông ưng ý lắm. nên Mẹ tôi, bà Bùi Thị Tân đã một lần nữa ghi lại. Đó chính là bản này , chân thật hơn.

      (Linh Nga Niê Kdăm)

.

Nguyên bản của Y NGÔNG NIÊ KDĂM

    “ Bạn ơi lắng nghe, nghe tiếng núi rừng
    Dòng suối xanh trong đất nước anh hùng
    Bền vững như non cao như dòng sông Ba”

Đó là câu mở đầu của một bài hát về Tây nguyên do nhạc sĩ Trần Quý sáng tác, nó có vẻ hư cấu, nhưng là một bài hát nổi tiếng ca ngợi quê hương Tây Nguyên tươi đẹp. Với những người Tây Nguyên như chúng tôi, khi nghe lời ca đó đều có một tình cảm rạo rực, xúc động trong lòng.Tôi rất thích và thường hay cất lên lời ca này, mỗi khi nhớ về Tây Nguyên.
BMT6
Tây nguyên bao la hồi xưa với rừng già còn lút mắt, thú rừng chim đẹp, nhiều vô kể. Ngay ven những con đường là rừng cây to hằng mấy người ôm. Rừng cây đã nuôi sống, che chở và bảo vệ cho các tộc người sống rải rác trên cao nguyên đất đỏ bazan mênh mông.

Thực dân Pháp sau khi bình định các tỉnh miền xuôi đã len lỏi tới rừng núi cao nguyên này. Chúng đã bị một số tù trưởng người dân tộc, như Săm Brăm, N’Trang Lơng, N’Trang Gưh, Ama Djao….liên kết chống trả ác liệt.Dù với đủ chính sách, cả cứng rắn, mềm dẻo đều có, nhưng hầu như chúng không thể nào khuất phục nổi lòng người Tây nguyên.

Mặc dầu họ rất nghèo vì còn hoàn toàn phụ thuộc vào đời sống tự nhiên, kỹ thuật canh tác quá thô sơ, hàng năm phải vài tháng đào củ rừng bổ xung cho bữa ăn, nhưng người Tây Nguyên vẫn sống rất thoải mái giữa núi rừng bao la hùng vĩ, đất rộng người thưa.

Mẹ đã sinh ra tôi trong bối cảnh đó, vào lúc gà gáy sáng ban mai ngày 13 – 08 – 1922 tại buôn Ea Sup, xã Kma Rang Prong – nay thuộc thị trấn Ea Pok, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk lăk. Thật ra người Êđê chỉ biết tính tuổi theo mùa rẫy, nhưng sau này đi học theo trường Pháp, họ gọi bố mẹ hỏi cặn kẽ, rồi tính ngược lại để lập giấy khai sinh cho chúng tôi.

Người Êđê chúng tôi ở Đăk lăk có 2 dòng họ lớn Niê và Mlô.Từ 2 dòng tộc chính này toả ra 24 nhánh họ. Niê kdăm đứng đầu dòng họ Niê, Mlô Duôn Du đứng đầu dòng họ Mlô. Mẹ tôi thuộc dòng họ Niê kdăm, một dòng họ từ xa xưa có nhiều tù trưởng giàu có, hùng mạnh( vì theo truyền thuyết thì khi lên khỏi mặt đất, các dòng tộc khác đã chia chác, lựa chọn hết những vật có sẵn, người trưởng họ Niê kdam giận dỗi đạp mạnh chân lên mặt đất, nói “ tất cả đất này là của Niê kdam”). Nhưng tới thời thuộc Pháp người Êđê nghèo dần. Sau Cách mạng Tháng 8, chế độ tù trưởng cũng đã không còn nữa. Tôi mang họ Niê kdăm của mẹ theo đúng luật tục mẫu hệ Êđê.

Mẹ đã sinh tôi trong cảnh đói nghèo, chỉ có 2 anh em trai: tôi và Y Wung . Bố đẻ tôi đã ốm chết ở buôn Dhăh sau chuyến đi phu ở đồn điền cafe Cư H”lâm của chủ Tây. Lúc đó tôi chưa biết gì. Sau này mẹ tôi đi bước nữa, sinh thêm được 4 em nhưng chết 2, chỉ còn 2 cô em gái là H’Reo và H’Droh ( hiện đang ở buôn Ea Sut, thị trấn Ea Pok, huyện Cư M”gar, tỉnh ĐL).Bố dượng tôi rất tốt, ông đã nuôi và dạy dỗ chúng tôi như người cha đẻ. Những năm hai anh em tôi đi học ở trường tiểu học Pháp- Đê , ngày nghỉ, dượng thường lên đón chúng tôi về buôn Sut.Y Wung nhỏ tuổi hơn, luôn được dượng cõng trên lưng.Còn tôi ỷ mình lớn, tự hào được chạy theo chân cha suốt dọc đường gần 20km từ trường về buôn. Có cả cha và em luôn bên cạnh, tôi đâu có sợ.

Gia đình tôi thường xuyên đói, năm nào cũng ăn củ rừng thay cơm. Có một lần khi mới 5 tuổi, mẹ đã cho tôi đi theo cùng với em trai địu sau lưng, vào rừng đào củ mài. Rễ củ ăn quá sâu, mẹ cứ đào mãi, đào mãi, mồ hôi vã ra như tắm. Vừa mệt vừa đói, mẹ tôi ngã chúi xuống hố.Hai anh em tôi cùng kêu khóc gọi mãi nhưng chẳng thấy mẹ nói gì. Tôi vô cùng sợ hãi, sức nhỏ yếu không kéo được mẹ lên, chỉ biết ôm chân mẹ mà khóc. Mãi sau có dân làng cũng đi rừng về nghe tiếng khóc mới chạy đến dìu mẹ lên và dắt chúng tôi về.

Những năm tháng đó thật khủng khiếp (1927), bọn Pháp vây ráp, dân đói khát, bệnh tật, không gạo, không muối, không có quần áo. Vì tù trưởng Ama Djao bất hợp tác với Pháp, nên bọn chúng chặn luôn cả đường buôn bán từ miền xuôi lên, nên càng thiếu muối ăn. Nhiều người già, trẻ em chết gục ngoài rừng. Tình hình Tây nguyên hết sức rối ren, cảnh đói cơm lạt muối, chết chóc thảm thương càng khắc sâu mối thù của người Tây nguyên với giặc Pháp.

Không chịu ngồi im để nhìn đồng bào chết dần chết mòn, một số tù trưởng đã tổ chức nhân dân nổi dậy chống lại chế độ hà khắc của giặc Pháp. Bọn Pháp truy quét gắt gao các tù trưởng để ngăn chặn làn sóng đấu tranh của nhân dân. Có thể nói năm 1929 là năm đói nhất. Thực dân Pháp càng tổ chức bắt bớ, nhân dân càng thấy rõ bộ mặt dã man của chúng, lại càng căm thù và cương quyết không chịu theo. Pháp đến, dân bỏ đi, chỉ cần trên vai có cái gùi, con dao và ít muối. Đối lại, thực dân Pháp dùng chính sách vừa đàn áp, vừa dụ dỗ. Để phô trương chính sách khai hoá văn minh của nhà nước bảo hộ, chúng mở ra tại Buôn Ma Thuột một trường nội trú dân tộc với tên là : “Groupe Scolaire Franco – Rhadé” – Trường tiểu học Pháp – Đê, do Legale làm hiệu trưởng. Học sinh do lính đi càn ở các buôn làng bắt về.

Khi đó tôi mới 7 tuổi, hôm ấy đang say sưa nô đùa với các bạn trong làng vào ngày lễ cúng Yang bến nước. Bên bờ suối mọi người đang đánh chiêng, uống rượu cần thì một trung đội lính khố xanh người dân tộc thiểu số do một tên Pháp dẫn đầu kéo tới. Chúng bảo chủ làng : Theo lệnh quan công sứ phải bắt trẻ con từ 6 – 7 tuổi về Buôn Ma Thuột đi học.

Nghe thấy vậy chúng tôi chạy toán loạn vào rừng, trèo lên các cây to, cây nhỏ trốn. Tôi và một số bạn trèo lên một cây cam to. Bọn lính ngồi uống rượu, bắt chủ làng khai tên bọn trẻ con 7 tuổi trong buôn và doạ :

– Ai không gọi con về thì cha mẹ sẽ bị bắt, khi nào nộp con mới được về.

Qua một đêm một ngày. Bọn lính lùng sục không tìm được ai, nhưng chúng tôi đói quá phải rủ nhau về nên bị bắt một loạt. Bố mẹ chúng tôi phải mang quần áo đưa con về Buôn Ma Thuột.Tôi và em trai Y Wung cũng ở trong số này.Suốt một năm đầu bố dượng tôi phải theo lên khu nội trú dắt chúng tôi đi học, vì chúng tôi bé quá, đi ăn cơm cũng chưa biết chỗ.Những năm sau tôi học được loại khá, nhưng do nhớ nhà nên hay trốn về. Chính quyền tỉnh bắt gíam dượng tôi 3 tháng, sau đó anh em tôi thương dượng quá mà không dám trốn về nữa. Học được mấy năm, lên lớp 4, 5 tôi luôn là học sinh giỏi.Vào các ngày chủ nhật được ra phố chơi, chúng tôi thường gặp các đoàn tù ở nhà đày Buôn Ma Thuột đi lao động quét đường, cắt cỏ. Họ mặc áo xanh có số đeo sau lưng, có lính khố xanh canh gác. Bọn chúng tôi thắc mắc lắm, về trường hỏi thầy giáo :

– Thầy ơi ! Các ông kia quét đường lại có lính gác, họ có tội gì đấy ?

Thầy giáo nói nhỏ :

– Đó là Cộng sản bị Pháp bắt tù đấy

– Vì sao họ bị tù ?

– Đó là những người yêu dân, yêu nước, chống lại bọn Pháp. Vì chúng nó bắt dân ta làm nô lệ, bắt đi xâu, làm cu li đồn điền trồng cao su, cafe cho chúng.

Tôi nghĩ trong đầu : “Bố mình cũng phải đi phu đồn điền, không mang gì về cho gia đình mà mẹ còn phải tiếp tế cho bố. Nó chơi ác cả với bố mình và gia đình mình rồi”

Dần dần thầy giáo bí mật giảng giải cho chúng tôi biết như thế nào là yêu nước. Tôi còn nhớ đó là các thầy Đào Tử Chí, thầy Phú…Năm tôi 15 tuổi, cả trường có chừng 600 học sinh, chúng cho học thì ít, bắt lao động thì nhiều. Sáng học, chiều nuôi bò, nuôi heo, chủ nhật đi vào rừng lấy củi. Thấy cuộc sống gò bó, căng thẳng, có một số học sinh rủ nhau trốn học nhưng bị bắt lại. Tôi rủ một số bạn học sinh lớn tuổi lên gặp thầy hiệu trưởng Legale xin ông cho giảm giờ lao động, tăng giờ học. Hiệu trưởng đồng ý, nhưng từ đó tôi bị nhà trường theo dõi.
BMT7
Khi học hết cấp I, tôi tốt nghiệp loại giỏi và được chọn đi học nội trú cấp II ở trường trung học Quy Nhơn cùng một số anh em khác như Y Nuê (sau này là giáo sư bác sỹ Ái Phương ), Y Tlam (sau này cũng là giáo sư y khoa ), Nay Phin ( sau là đại biểu quốc hội tỉnh Gia Lai ).Từ năm 1937 – 1940 tôi học ở đây cùng các bạn Tây nguyên và người Kinh. Vì còn ít tuổi lại cùng ở xa nhà nên chúng tôi rất dễ quen nhau, thương nhau không kể người Kinh, người dân tộc. Bạn thân của tôi lúc đó là anh Võ Đông Giang, người Kinh, ngồi cùng bàn ( sau này anh giữ chức bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong chính phủ ). Bọn Pháp không cho chúng tôi nói tiếng Kinh, không được mặc trang phục và học cách giao tiếp của người Kinh, không được yêu người Kinh. Không được học lịch sử dân tộc Việt Nam, chỉ được học lịch sử nước mẹ mẫu quốc. Tôi rất thắc mắc, tôi thấy người Kinh có nhiều cái hay cần phải học hỏi. Sao lại phải cấm ? Bọn học sinh chúng tôi vẫn bí mật học nói, học viết tiếng Kinh.

Lúc đó trong trường có một số thầy giáo và học sinh có tinh thần yêu nước. Các thầy thường giảng giải cho chúng tôi về lòng yêu nước, yêu đồng bào, yêu quê hương, căm thù bọn Phâp cướp nước. Nhờ đó tôi đã dần dần hiểu và biết mình chỉ là người dân nô lệ bị khinh miệt mà thôi. Tôi thấy thương đồng bào mình hơn. Nhưng cũng vì sự hiểu biết này mà tôi đã bị liệt vào loại học sinh bị theo dõi. Do đó tôi không được thi tốt nghiệp.Công sứ Pháp đã nói với tôi, giọng đe doạ :

– Mày học đòi người Kinh và tham gia chính trị, không được học nữa.

Continue reading Hồi Ký của Y Ngông Niê Kdăm

Chợ Phiên Cán Cấu

Những ai đã từng có cơ hội đặt chân lên mảnh đất Lào Cai, đã từng có cơ hội được tham dự những phiên chợ vùng cao, đều đọng lại trong tâm trí những kỷ niệm không thể quên về những phiên chợ họp trên núi.
cancau1
Chợ Cán Cấu là một trong những phiên chợ như thế, mới nghe cái tên thôi cũng đã hứa hẹn cho chúng ta nhiều điều thú vị. Cái tên thật lạ. Hỏi vì sao lại có tên gọi là Cán Cấu thì có người giải thích rằng : “Cán Cấu có nghĩa là vừa cắn vừa cấu”

Chợ phiên Cán Cấu thuộc địa phận xã Cán Cấu, huyện Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai. Cách thành phố Lào Cai gần 100km, cách thị trấn Bắc Hà, huyện Bắc Hà gần 30km. Từ thành phố Lào Cai, xuôi theo quốc lộ 4D, du khách sẽ đến xã Phong Niên, huyện Bảo Thắng.Tiếp tục xuôi theo tỉnh lộ 153, qua trị trấn Bắc Hà, du khách sẽ đến được với phiên chợ đặc biệt, phiên chợ Cán Cấu.

Khi những làn sương đêm vẫn còn đọng lại trên sườn núi, khi nhưng tia nắng đầu tiên vừa le lói, thì người dân tộc từ các buôn làng đã rủ nhau cùng tới chợ.
cancau2
Con đường lên núi thơ mộng trong vạt nắng vàng rực rỡ, ẩn hiện trong màn mây trắng, hôm nay dường như lại càng đẹp hơn, rộn rã hơn bởi sắc mầu của muôn vàn chiếc váy xòe hoa dập dìu.

Bạn có thể đi bộ, leo núi như những người dân bản xứ để lên chợ, hoặc đôi chân bạn chưa đủ dẻo dai để vượt dốc, thì lúc này xe ôm là phương tiện hữu hiệu nhất. Với tốc độ như bay, chỉ trong vòng 20 phút, bạn sẽ được các “xế ôm” đưa tới chợ Cán Cấu. Chợ họp vào mỗi thứ bảy hàng tuần. Chợ họp trên ngọn đồi thoai thoải cạnh đường xe. Lán trại sơ sài mang tính hoang dã của núi rừng.

Một phiên chợ hoàn toàn của người dân tộc, mang nhiều nét văn hóa của các dân tộc Mông Đen, Mông Đỏ, Mông Hoa, Giao, Tày…Người bản xứ thường đi bộ hoặc thồ hàng bằng ngựa. Họ mang tới chợ những đặc sản của dân tộc mình, hàng dệt thổ cẩm, nông sản, gia súc…Chợ phiên là nơi mọi người có thể mua và bán đủ các thứ mà không cần phải xếp loại hay theo khuôn mẫu nào. cac cau 3Bạn sẽ dễ dàng tìm được những món quà lưu niệm nhỏ xinh bằng chất liệu thổ cẩm được làm thủ công. Nếu bạn thích, bạn có thể sắm sanh cho mình một vài chiếc váy rực rỡ sắc màu, mang về xuôi làm điệu cùng bạn bè, rất độc đáo.

Chợ không chỉ là nơi bày bán hàng hóa, đó còn là nơi hẹn hò của các đôi nam thanh nữ tú. Là nơi những cô thiếu nữ dân tộc xinh xắn tìm cho mình người thương. Những cô gái miền sơn cước mang một nép đẹp rất riêng, rất lạ. Nắng hanh hanh làm ửng hồng đôi mà càng tăng thêm phần duyên dáng của họ.
cancau4
Mỗi cô đều mang một vẻ đặc trưng của dân tộc mình, tạo nên những sắc màu của phiên chợ vùng cao.

Bạn có biết đây là gì không? Đó là xôi tím, món ăn đặc sản của chợ phiên Cán Cấu. Xôi được nấu từ một loại gạo đặc biệt của người dân tộc nên có màu tím. Ăn rất ngon và thơm. Nếu đã đi chợ Cán Cấu mà không ăn xôi tím thì bạn mới chỉ được thưởng thức một nửa hương vị Cán Cấu mà thôi.
xoitim

Đến với chợ phiên Cán Cấu, ngoài việc mua bán, trao đổi hàng hóa, người Mông nơi đây và du khách phương xa còn có mục đích giao lưu văn hóa, gặp gỡ, tâm tình. Những chàng trai cô gái gương mặt hồ hởi, tạo nên không khí vưi tươi như ngày hội. Phiên chợ kết thúc, mọi người cùng ra về trong sự tiếc nuối, sự ước mong cho thời gian qua mau để lại được gặp nhau ở phiên chợ lần sau.

Đứng dưới chân núi và phóng tầm nhìn lên cao, chợ Cán Cấu giống như những bậc thang rực rỡ bởi váy áo và hàng hóa của bà con dân tộc. Nhìn từ trên cao xuống, lại thấy chợ như những bông hoa ngũ sắc, nằm lọt giữa những ngọn núi hùng vĩ của xứ Si Ma Cai. Khung cảnh ở Cán Cấu từ bao năm nay vẫn giữ nguyên được dáng vẻ hoang sơ trong trẻo vốn có. Nét hoang sơ đó cũng chính là sức hấp dẫn khó cưỡng đối với ai yêu thích vẻ đẹp thiên nhiên của núi rừng Tây Bắc Việt Nam.

Nguyễn Thanh Mai ( Leo_pretty)
11 -2009

Pô-lô-ne Tạm biệt tổ quốc của Oginski

poland01[1]

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta cùng nghe bản Polonaise cung La thứ của nhạc sĩ người Ba Lan Michał Kleofas Ogiński. Bản Polonaise này còn có tên là Tạm biệt tổ quốc (Farewell to Fatherland) hay đơn giản là Polonaise Oginski.
Michal_Kleofas_Oginski[1]
Đây là bản nhạc nổi tiếng nhất của Oginski viết về nỗi nhớ quê hương Ba Lan yêu dấu. Bản nhạc là nỗi nhớ da diết về quê hương Ba Lan an bình trong tâm khảm.

Oginski là một hoàng tử của Polish-Lithuanian Commonwealth, và đi theo sự nghiệp chính trị từ nhỏ, cho đến khi quốc gia của ông bị Russia (Nga), Prussia (Phổ) và Austria (Áo) xâm lược, chia cắt và biến mất trên bản đồ thế giới. Cả cuộc đời ông lưu vong khắp nơi, khi là người chiến sĩ cách mạng, khi là nhà ngoại giao, khi là thượng nghị sĩ cho Nga Hoàng. Ông luôn đấu tranh để dành lại cho quê hương Ba Lan trước sự xâm lược của các nước Nga, Áo và Phổ.

Ông cũng là nhà soạn nhạc nghiệp dư. Đóng góp lớn nhất của Oginski là những bản Polonaise, điệu nhảy Ba Lan, nhưng được soạn để nghe chứ không phải để khiêu vũ. Ông được coi là cha đẻ của dòng piano Ba Lan và ảnh hưởng lớn tới thiên tài Chopin trẻ tuổi.

Vào năm 1823, khi Oginski đã 58 tuổi, ông định cư biệt xứ ở Ý cho tới cuối đời, sau một cuộc đời hoạt động chính trị liên tục. Ông thất vọng  và mất niềm tin vào chính trị. Vào năm này, ông viết nên bản Polonaise “Tạm biệt tổ quốc” để diễn tả nỗi nhớ về quê hương Ba Lan.

Bản nhạc đã sống mãi và là một trong những bản được yêu thích nhất, không chỉ ở Ba Lan mà ở tất cả những nước vùng Slavs.

Dưới đây chúng ta có ba video. Video thứ nhất là Polonez do dàn nhạc hòa tấu trên nền hình ảnh đất nước Ba Lan. Video thứ hai là dàn đồng ca Ba Lan hát tại tòa nhà quốc hội Belarus. Và video thứ ba là video cây nhà lá vườn do anh Daniil Nazarov độc tấu ghi-ta ấm áp.

Chúc các bạn một ngày yêu tổ quốc,

Hiển.
.

Polonaise Tạm biệt tổ quốc của Oginski, dàn nhạc hòa tấu

.

Polonaise Tạm biệt tổ quốc của Oginski, dàn đồng ca Ba Lan hát ở tòa nhà quốc hội Belarus

.

Oginski polonez độc tấu ghi ta bởi anh Daniil Nazarov