Tag Archives: Văn Hóa

Ba Haiku

Chào các bạn,

Bài này mình đặt tên là “Ba Haiku” vì nó là ba bài Haiku biệt lập. Ghép chúng thành một bài cho vui.

Gọi là Haiku nhưng đây chắc phải là Haiku cải biên hay Haiku mới 🙂 vì mình không dùng qui luật Haiku cổ điển.

Ý thơ, viết theo dòng Haiku thiền.

Các bạn đọc như là 3 bài biệt lập (chẳng liên hệ gì với nhau). Rồi đọc lại thành một bài dài. Rồi cho mình biết cảm tưởng nhé. 🙂 Đang thí nghiệm mà 🙂

Chúc cả nhà một tuần vui.

Mến,

Hoành
.

Ba Haiku

Mảnh tuyết nhỏ
Rơi trên cọng cỏ
Trắng núi Rockies

Quạ đen
Đứng trên cột đèn
Mịt mù tuyết đổ

Tách cà phê
Bên lò sưởi
Bão trắng xóa đồi thông

    TĐH, Nov. 29, 2009
    Lake of the Woods, VA, USA

Múa Rối Nước

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn một slideshow mới hoàn thành với các hình ảnh thật dễ thương, về nghệ thuật rối nước cổ truyền của nước ta.

Múa rối là một nghệ thuật khắp nơi trên thế giới, với nhiều hình thức khác nhau. Nhưng rối nước, có từ khoảng thế kỷ thứ 12, có lẽ là môn nghệ thuật rất đặc biệt của Việt Nam. Ngày nay, nói đến văn hóa đặc trưng của Việt Nam, khó mà quên nói đến rối nước. Thăm Việt Nam mà không thăm rối nước thì cũng như đến Việt Nam mà bỏ qua Vịnh Hạ Long.

Ngoài các hình ảnh và hoạt động của các con rối, âm nhạc trong rối nước cũng là âm nhạc truyền thống Việt Nam với các nhạc cụ và bài bản cổ truyền–chèo, lý, quan họ, ả đào… Thật là một di sản văn hóa lớn của chúng ta.

Mời các bạn click vào ảnh sau đây để xem sidleshow và download.

Chúc các bạn một ngày múa rối 🙂

Bình an và Sức khỏe,

Túy-Phượng
.

Vui, buồn từ Festival cồng chiêng quốc tế Tây Nguyên

Tôi háo hức đi Plei ku. Cồng chiêng Tây Nguyên thì xem mãi rồi , nhưng có dịp thưởng thức & thêm chút hiểu biết về cồng chiêng Đông Nam Á thì hay biết mấy.

19h ngày 12-11-09. Người ơi là người. Chen chúc đến ngộp thở, giơ thật cao tấm phù hiệu khách mời màu vàng, vào được đến quảng trường 17-3 thì mọi hàng ghế đã chật. Chẳng phân biệt được ai là dân, ai là khách; thôi thì ai ngồi cũng được, vì sao lại nỡ trách những người muốn được một lần tham dự một lễ hội quốc tế lớn như thế này chứ ? Chỉ tiếc rằng, mặc dù ban tổ chức đã đổ ba bậc đất cao hơn phía sau khán đài, nhưng mọi khán giả đứng sau các hàng ghế đại biểu chỉ có thể nhìn tới bốn tầng sân khấu xa tít tắp, chứ không thể thấy được lòng sân rộng của quảng trường.Khán giả bên ngoài lại càng ít hy vọng được xem, bởi hàng rào người đã chắn ở cả hai đầu đường dẫn vào sân khấu.

Tranh thủ lúc chờ khai mạc, tôi len lỏi khắp sân chào các nghệ nhân quen mặt, quen tên, nào các amí người Bih, ama Êđê Đăk Lăk phục sức vô cùng trang trọng; nào là già làng K’Bét nụ cười rung cả chòm râu bạc đứng giữa nhóm tộc người K’Ho Lâm Đồng ; anh bạn Kpă Na Nao người Jrai ở Gia Lai với chiếc trống luôn gắn trên vai, vòng hai chừng lớn hơn lần gặp năm ngoái ở Đà Lạt, trong Liên hoan hát dân ca; Điểu Mai và nhóm Mnông Đăk Song của cô ấy súng sính trong bộ váy áo thổ cẩm màu xanh lá cây; các chị em người Thái che dù duyên dáng đứng đợi bên Khua luống; Nhóm Ca Tu thị trấn Đông Giang khoe nửa bộ ngực trần ấm cả mắt; mấy chị em người Cor Quảng Nam áo trắng, váy đen, những chuỗi hạt cườm vàng đỏ thật lộng lẫy. Cô gái Hrê, chàng trai Bâhnar, già làng Vân Kiều, bà mẹ S’Tiêng kề bên nhóm Ta Ôi, Châu Ro…

Chật kín sân nghệ nhân của 45 đội cồng chiêng thuộc 25 tỉnh thành, từ bộ cồng núm 5 chiếc của người Thái đen ( mà cô gái nào cũng da trắng muôn muốt như hoa ban) tận Điện Biên địa đầu phía bắc; tới dàn cồng 16 chiếc và các nhạc cụ ngũ âm của các nghệ nhân Khơmer đạo mạo, đệm cho những chú khỉ Hanuman nghịch ngợm nhảy nhót, đến từ miền đồng bằng chín Rồng, bên cạnh những con rối lá, rối dây ngộ nghĩnh cười cợt……Hòa vào không khí náo nức đó là tâm trạng vui vẻ của các nghệ nhân Lào, Căm Pu Chia và Maiamy, Philipin cho dẫu kẻ đóng khố, người trong trang phục kín đáo (đoàn Indonesia hôm sau mới tới được). Không chỉ là nhịp điệu thanh thoát của những dàn ching chêng, mà còn cả tiếng kèn saranai réo rắt, tiếng trống sazam bập bùng hòa điệu …Người già, người trẻ, nữ, nam…chao ôi là tiếng cười, giọng nói ríu rít làm quen hay mừng gặp lại.Cả những tiếng nói to hơn thường ngày qua điện thoại di động, đua nhau kể với ở nhà ( vùng xa vùng sâu nào đó) không khí náo nức chờ đến giờ khai mạc ngày hội.…

Cái được nhất của Liên hoan có lẽ chính là sự gặp gỡ, không khí hồ hởi và thân mật này ( Ngoài việc biểu diễn ở bốn sân khấu lớn trong nội và ngoại thành Plei Ku, các nghệ nhân 6 nước còn có cuộc giao lưu với nhau tại khu du lịch Đồng xanh vào tối ngày 14/11 ).Sau nữa là sự xuất hiện của đa số các “ nghệ nhân” trẻ, thế hệ kế tục để bảo tồn “ di sản”, không chỉ múa mà còn diễn tấu ching. Không kể các bé em còn nằm trên lưng mẹ, thì nhỏ nhất có lẽ là hai thành viên Ksor Sia 6 tuổi & Siu Khái 8 tuổi của đội Jrai huyện Chư Sê, điêu luyện trong những bước nhảy theo nhịp ching, làm tốn không biết bao nhiêu phim của các nghệ sỹ nhiếp ảnh.

Đến với Festival cồng chiêng quốc tế lần đầu tiên này, có thể nhận thấy rất nhiều nét tương đồng và khác biệt giữa các dàn cồng chiêng của Việt Nam & các nước Đông Nam Á.

Ví dụ như dàn ngũ âm & trang phục của hai đội cồng chiêng Khơmer đến từ Bạc Liêu & Sóc Trăng không khác mấy so với cách trình diễn và cơ cấu dàn ngũ âm của Đoàn nghệ nhân CamPuChia : từ hàng chục chiếc cồng nhỏ xếp thành từng hai dàn một trên một chiếc giá đỡ hình vòng cung, cho đến bộ trống Sazam, trang phục xaroong của các nghệ nhân nam.

Hay đoàn nghệ nhân đến từ Philipin cũng cởi trần đóng khố, đep chuỗi vòng răng thú và xử dụng 7 chiếc chiêng không có núm, như một số tộc người Tây Nguyên thuộc nhóm ngôn ngữ Môn –Khơmer, nhưng lại dùng dùi cứng ( trong khi hầu hết các nhóm Tây Nguyên đều dùng dùi mềm). Hoặc nhóm nghệ nhân tộc người Prao của đoàn Lào, lại sử dụng 7 chiếc ching có núm, khác với nhóm Brâo ( một nhánh khác ở Kon Tum) chỉ có hai chiếc chiêng không có núm…

Hoặc cùng nhóm ngữ hệ Môn – Khơmer nhưng tộc người Châu Ro đến từ Đồng Nai, lại diễn tấu 8 chiếc chiêng có núm, không có chiêng bằng, như người anh em S’Tiêng, K’Ho cận kề…

Cho dù dưới hình thức diễn tấu nào, thì âm thanh và giai điệu của mọi dàn ching đều có sức lan toả,lôi cuốn bởi tính độc đáo riêng biệt của âm nhạc dân gian mỗi tộc người. Đối với những người nghiên cứu cồng chiêng, đây thật là một dịp thú vị để tìm hiểu.

Cũng không thể không nói tới tình cảm mến khách tuyệt vời của người dân Plei Ku, bởi tôi và nhiều bạn bè đã được hướng dẫn tận tình khi gặp bất cứ trở ngại gì trên đường phố.

Vui là thế, buồn là gì bạn biết không? Xin hãy cùng tôi quay trở lại với đêm 12-11. Sau màn khai mạc dài dòng, hơn 50.000 người ngồi kín quảng trường 17-3 ở thành phố Plei Ku, lẫn triệu triệu khán giả màn ảnh nhỏ chờ đợi, tiếng ching chêng đã vang lên rộn rã. 3.000 diễn viên & nghệ nhân trên quảng trường cùng rùng rùng chuyển động.

Có thể nói Tổng đạo diễn phần âm nhạc : nhạc sỹ Nguyễn Cường đã thành công khi chọn lọc và sắp xếp hài hoà giữa âm nhạc cồng chiêng, dân ca các dân tộc Tây Nguyên và phần nhạc – hát mới (dẫu phần âm nhạc Êđê được dùng làm âm hưởng chủ đạo trong cả hai đêm khai mạc lẫn bế mạc và có tới vài ca khúc của tác giả). Và trên bốn tầng sân khấu là các tiết mục múa Tây Nguyên, do các sinh viên Trường Đại học VHNT Quân đội trình bày tạo được vẻ đẹp của hình thể trong những động tác múa Tây Nguyên.

Nhưng chiếm trọn vẹn quảng trường và thời lượng đến hơn 60’/90’ của chương trình là các nam nữ thanh niên người mang hoa, kẻ mang khiêl, trống, lần lượt xuất hiện hết màn trình diễn này đến màn trình diễn khác, không có chút gì là Tây Nguyên, trong cả động tác múa lẫn trang phục với đặc trưng là vài trăm bộ váy đầm kiểu dạ hội. (May mà Camera của Đài Truyền hình Việt Nam chỉ hướng cố định lên sân khấu, nên khán giả màn ảnh nhỏ không phải “ thưởng thức” màn trình diễn này), còn những khán giả tại chỗ chỉ thấy ngợp vì ấn tượng ở số người quá đông chính diện ngay trước mắt mà thôi.

May nữa là bày voi 11 con từ Đăk Lăk sang, chỉ có một “ chú” không quen với ánh sáng, tiếng động dữ dội ở nơi đông người, nên một mình quay lưng lại khi cả đàn quỳ xuống chào khán giả và không gây nên sự hỗn loạn đáng tiếc nào ( bởi voi chỉ cách người ngồi bên lề chừng 3m). May nữa là trong những phút cuối của chương trình, với tài nghệ và sự hồn nhiên của mình, giọng hát của ca sỹ Siu Black đã lôi cuốn được người xem khi xuất hiện trên chiếc xe ngựa và trên sân khấu với ca khúc “ Đôi mắt Plei Ku” sôi động, kéo theo hàng ngàn bạn trẻ vào vũ điệu xoang kết thúc.

Vậy nên sau đêm khai mạc, đông đảo khán giả tại chỗ vừa giải tán, vừa than phiền vì thiếu sự ra mắt cụ thể một cách trang trọng theo đúng thông lệ, của cả 40 dàn chiêng trong nước và 5 dàn chiêng ngoài nước ( chắc các đạo diễn định thử tài tiên đoán của khán giả qua trang phục và cờ tổ quốc chạy như đuổi bắt trên sân khấu). Cũng như suốt 90’ của chương trình không hề thấy được sự tôn vinh xứng đáng các “di sản của nhân loại” , khi đạo diễn chỉ cho các đoàn diễn tấu ching và múa hai bên lề quảng trường, sau đó cuối chương trình chạy qua sân khấu chính được một vòng rồi xuống ngay. (Điều này Ban Tổ chức “để dành” vào đêm bế mạc: tất cả các đoàn đều diễu hành qua khán đài để chào quan khách, tuy nhiên không phải bằng chính âm nhạc ching chêng của họ, mà trên nền nhạc chung của lễ hội).

Chúng tôi tiếc hùi hụi vì đã không được xem trình diễn tại lễ khai mạc; lịch biểu diễn xoay vòng lại chỉ có mỗi ngày một buổi, tại những địa điểm cách nhau đến cả chục cây số, nên dẫu muốn lắm cũng không có dịp xem được các đoàn nước ngoài khác như Inđonesia, CamPuChia hay Maiamy… biểu diễn.

Chưa hết, Lễ đâm trâu mừng chiến thắng của các nghệ nhân Bâhnar huyện K’Bang, chỉ là nhảy nhót tượng trưng, vì Bộ trưởng cho rằng “khách nước ngoài phản đối việc sát sinh trâu”. Trong khi đó lại chấp nhận việc giới thiệu công khai “tác giả kịch bản, đạo diễn” Lễ đâm trâu là những cán bộ người Kinh của Sở Văn hoá.

Yang ơi, du khách đâu đến nỗi không hiểu rằng đó là nghi lễ truyền thống trong tín ngưỡng “Vạn vật hữu linh” của Tây Nguyên. Đồng thời họ cũng hiểu như các nghệ nhân rằng “giả dối với các vị thần linh nào phải chuyện đùa”. Cảm ơn các vị viết lời dịch tiếng Bâhnar từng công đoạn, từng câu khấn cho du khách hiểu, nhưng cho dẫu có trân trọng việc đã công tác ở Tây Nguyên hàng chục năm, nhờ văn hoá Tây Nguyên mà có học vị Thạc sỹ hay Tiến sỹ đi nữa, thì làm sao các vị “đạo diễn” lễ cổ truyền của “người ta” được?

Dẫu vui buồn lẫn lộn vậy, cũng phải công nhận rằng: hơn 1.500 nghệ nhân cồng chiêng từ khắp đất nước Việt Nam và năm nước anh em Đông Nam Á, đã hoàn thành sứ mệnh gửi tới nhân loại thông điệp của hòa bình và sự đoàn kết các dân tộc, bằng những âm thanh tuyệt vời của một trong những “ Di sản văn hoá phi vật thể truyền khẩu”. Và những hoạt động khác như Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao, Hội chợ Làng nghề thủ công truyền thống, Làng ẩm thực, Triển lãm tranh – ảnh nghệ thuật và ảnh về Anh hùng Núp, Trưng bày sinh vật cảnh, Trưng bày văn hoá truyền thống Tây Nguyên, trình diễn chỉnh chiêng, tác tượng, phục dựng một vài lễ hội cổ truyền…đã thật sự góp phần làm nên thành công của Festival Cồng chiêng Quốc tế 2009 này.

Mong những Festival sau sẽ được tổ chức đúng nghĩa hơn và cồng chiêng Tây Nguyên được tôn vinh một cách xứng đáng hơn.

Linh Nga Niê Kdăm

Kinh Hoà Bình của Thánh Francis

Lạy Chúa,

Xin cho con được làm công cụ an hòa của Người;
Nơi có hận thù, con gieo hạt giống tình yêu;
Nơi có tổn thương, con đem những lời hối lỗi;
Nơi có nghi ngờ, con dựng lại niềm tin;
Nơi chỉ còn tuyệt vọng, con xây hi vọng;
Nơi phủ đầy bóng tối, con thắp sáng trời đêm;
Và nơi nỗi buồn vây phủ, con trao tặng niềm vui;


Đấng Toàn Năng,

Xin cho con tìm sự an ủi ít hơn những lời con an ủi,
Được cảm thông ít hơn con hiểu được tha nhân,
Được yêu thương ít hơn trao gửi yêu thương,
Vì chính trong sự cho đi là nhận lại,
Trong sự thứ tha mà ta được thứ tha,
Và trong khi chết đi được sinh vào cõi sống vĩnh hằng
Amen

Thánh Francis of Assisi

Huỳnh Huệ dịch

The Peace Prayer of Saint Francis

Lord, make me an instrument of Thy peace;
where there is hatred, let me sow love;
where there is injury, pardon;
where there is doubt, faith;
where there is despair, hope;
where there is darkness, light;
and where there is sadness, joy.

O Divine Master,
grant that I may not so much seek to be consoled as to console;
to be understood, as to understand;
to be loved, as to love;
for it is in giving that we receive,
it is in pardoning that we are pardoned,
and it is in dying that we are born to Eternal Life.
Amen.
Saint Francis of Assisi

Andrés Segovia – Guitar cổ điển

Chào các bạn,

Ai nghe nhạc guitar cổ điển cũng đều biết đến Andres Segovia, người mang cây guitar bình dân của Gypsies Tây Ban Nha trên đường phố vào thính phòng và những đại hí viện với những dàn đại hòa tấu, thành cây vương cầm, ngang hàng với violon và piano trong thính phòng.

Andrés Torres Segovia sinh ngày 21 tháng 2 năm 1893 ở Tây Ban Nha, học đàn Flamenco từ lúc 6 tuổi. Tuy nhiên khi lớn lên Segovia không chơi Flamenco, nhưng mang một số kỹ thuật Flamenco vào nhạc cổ điển, và do đó phong phú hóa kỹ thuật cũng như âm điệu guitar cổ điển. Kỹ thuật cao độ của Segovia cộng với các phát minh mới về kỹ thuật thu đĩa và thu băng, radio, và TV, giúp cho cây guitar cổ điển trở thành cây đàn được ưa chuộng và kính trọng khắp thế giới.

Năm 1958 Segovia được giải Grammy về Best Classical Performance (trình tấu cổ điển hay nhất), cho đĩa nhạc Segovia Golden Jubilee. Ngày 24 tháng 6 năm 1981, vua Tây Ban Nha Juan Carlos phong chức hoàng tộc cho Segovia “Marqués de Salobrena” (hầu tước của Salobrena).

Segovia vẫn trình diễn khi đã hơn 80 tuổi. Ông mất ngày 2 tháng 6 năm 1987, thọ 94 tuổi và được chôn cất tại lâu đài Casa Museo de Linares, ở Andalusia.

Một người bạn cùa mình, guitarist Trịnh Bách, là học trò yêu của Segovia. Bức ảnh cuối cùng của Segovia là do Trịnh Bách chụp một tháng trước khi Segovia qua đời.

Mình nhớ lúc mẹ Bách bị bệnh trong khoảng đầu thập niên 90, Bách bỏ tập và bỏ trình diễn guitar để lo cho mẹ. Những năm về sau này Bách về giúp phục dựng các hiện vật cung đình triều Nguyễn. Các bạn có thể theo dõi công việc phục hồi di sản văn hóa tốn kém tiền bạc và công sức này của Trịnh Bách tại đây. Hiện nay Trịnh Bách đang ở Hà Nội.

Sau đây mời các bạn xem một số video trình tấu của Segovia.

Chúc các bạn một ngày dịu dàng cổ điển.

Hoành
.

Andres Segovia – Asturias – Isaac Albeniz

.

Andres Segovia – The Song of the Guitar

.

Segovia plays Bach (Gavotte 1 & 2)

.

Frederico Moreno Torroba (1891-1982): Suite Castellana, I. Fandango.

.

Torroba Sonatina 1St Mov.mpg

Phố Ngọc Lan

Chào các bạn,

Truyên ngắn này mình đã đăng trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật, số 43-96 (677), 3.11.1996-9.11.1996, dưới bút danh Trần Đình. Vậy là lúc này đang nằm trong bệnh viện ở Singapore. Mình nhớ là viết bài này lúc còn ở Hà Nội. Gởi vào Tuổi Trẻ cho Nguyễn Đông Thức thì phải. Sau đó đi qua Singapore thì bị bệnh luôn.

Bản dưới đây đã được scanned và đặt trên Scribd.com. Các bạn có thể điều khiển màn ảnh cho dễ đọc. Click vào “Fullscreen” (ở phía trên) để xem màn ảnh lớn. Rồi dùng “Zoom – +” (ở cuối màn ảnh) để phóng đại chữ.

Tờ báo cũ quá nên đã hoen ố vài nơi. Mong các bạn thông cảm.

Chúc cả nhà một ngày vui.

Hoành

.

Chào mừng Thanksgiving Day – Lễ Tạ Ơn

Chào các bạn,

Hôm nay, thứ năm cuối của tháng 11, là ngày Lễ Tạ Ơn ở Mỹ. Lễ Tạ Ơn có nguồn gốc từ năm 1621, thời điểm đầu tiên của những người tị nạn Âu Châu đến lập nghiệp ở Thế Giới Mới và tạo thành nước Mỹ sau này.

Năm 1620, 102 người của 8 giáo hội ly khai khỏi Anh giáo thuê một chiếc tàu tên là May Flower để sang Mỹ Châu, trốn chạy bách hại tôn giáo ở Anh. May Flower rời Southhampton, Anh quốc, ngày 6 (hay 16?) tháng 9, chở 102 hành khách và khoảng 25 đến 30 người thủy thủ đoàn. Sau 66 ngày hành trình gian khổ đến nỗi hai người đã thiệt mạng, tàu đến nơi (mà ngày nay là cảng Provincetown Harbor ở Cape Cod, bang Massachusetts) ngày 11 (hay 21?) tháng 11.

Thực ra điểm đến dự tính của tàu này là miệng sông Hudson ở New York, nhưng vì thời tiết xấu, tàu đã đi sai đường, lên phía bắc. Ngày 11 tháng 12, tất cả 100 người hành khách còn lại xuống tàu, ở vùng ngày nay gọi là Plymouth, bang Massachusetts.

Nhóm hành khách này được gọi là the pilgrims (những người hành hương) trong văn hóa nước Mỹ ngày nay. The pilgrims và tàu May Flower đóng vai rất quan trọng trong lịch sử nước Mỹ–mở đầu cho một prong trào di dân và lập nghiệp, tạo thành nước Mỹ tương lai.

Mùa đông đầu tiên, những người pilgrim sống thật đói khát khổ sở thiếu thốn. Chỉ vài tháng sau họ đã mất 46 người. May là họ được thổ dân da đỏ giúp đở, dạy họ cách sinh sống, và làm mùa, trong vùng đất mới.

Vụ gặt mùa thu năm 1621, the pilgrims được mùa tốt. Họ quyết định làm một lễ tạ ơn, lễ hội cùng nhau và cùng 91 người thổ dân da đỏ đã giúp đở họ, trong ba ngày liền. Gà tây, bắp (ngô), dâu cranberry, bí rợ (đỏ) là những thực phẩm có lúc bấy giờ, được dùng trong lễ hội, và từ đó tạo lập truyền thống về các món ăn trong ngày Lễ Tạ Ơn cho đến ngày nay.

Ngày 3 tháng 10 năm 1789, tổng thống George Washington, lần đầu tiên, chỉ định ngày Lễ Tạ Ơn cho quốc gia:

Vì lý do, nhiệm vụ của tất cả mọi Quốc Gia là công nhận quyền năng của Chúa Toàn Năng, vâng theo ý ngài, tạ ơn về các hồng phúc của ngài, và khiêm tốn khẩn cầu sự bảo vệ và yêu thương của ngài, và vì lý do cả hai viện của Quốc Hội, qua ủy ban lưỡng viện, đã yêu cầu tôi “đề nghị với toàn nhân dân Mỹ Quốc một ngày tạ ơn và cầu nguyện công, được tôn kính bằng cách công nhận với lòng biết ơn nhiều dấu hiệu yêu thương của Chúa Toàn Năng đã cho nhân dân một cơ hội hòa bình để thiết lập một hình thức chính quyền phục vụ an ninh và hạnh phúc của nhân dân.”

Vì vậy bây giờ tôi đề nghị và chỉ định ngày Thứ Năm, 26 tháng 11 tới là ngày của Nhân Dân Nước Mỹ hiến dâng cho Thượng đế vĩ đại và vinh quang, là đấng sáng tạo ra tất cả mọi điều phúc thiện trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Tất cả chúng ta hãy kết đoàn để dâng lên ngài lời tạ ơn thành tâm và khiêm tốn, vì ngài đã lo lắng ân cần và bảo vệ Dân Tộc này trước khi thành lập Quốc Gia; vì các dấu hiệu và nhiều thương xót của ngài, và sự can thiệp của quyền năng của ngài, mà chúng ta đã trải nghiệm trong suốt cuộc chiến và tại điểm kết cục của cuộc chiến vừa qua; vì mức độ rất cao của tĩnh lặng, đoàn kết và phú cường mà chúng ta đã được tận hưởng từ sau cuộc chiến; vì chúng ta đã được cho khả năng để tạo ra luật pháp, một cách hòa bình và hợp lý, cho chính phủ để phục vụ an ninh và hạnh phúc của chúng ta, đặc biệt là chính phủ liên bang mà chúng ta vừa thiết lập; vì tự do dân sự và tự do tôn giáo chúa ban cho chúng ta; và vì những phương tiện chúng ta có được để thu lượm và truyền bá kiến thức; và nói chung là tất cả ân sủng lớn và đặc biệt Thượng đế đã ban cho chúng ta.

Và để chúng ta có thể kết đoàn trong việc hiến dâng một cách khiêm tốn nhất lời cầu nguyện và khẩn cầu của chúng ta đến Chúa Cao Cả và Người Cai Trị Tất Cả Mọi Quốc Gia và nài xin ngài tha thứ cho mọi lỗi lầm của quốc gia cũng như các lỗi lầm khác, để giúp tất cả chúng ta, dù là trong chức vụ công hay nhiệm sở tư, có thể thi hành tốt và đúng lúc mọi nhiệm vụ của mình, để biến chính quyền quốc gia thành một ân phước cho tất cả nhân dân, bằng cách luôn luôn là một chính phủ khôn ngoan và công bình, và luật đặt trên hiếp pháp được thi hành và tuân thủ một cách tế nhị và trung thực, để bảo vệ và dìu dắt mọi Vua Chúa và mọi Quốc Gia (nhất là các quốc gia đã tử tế với chúng ta), và ban cho họ chính phủ tốt, hòa bình và thân ái, để thăng tiến kiến thức và thực hành tôn giáo và đạo đức thật, và phát triển khoa học giữa các nước và chúng ta, và nói chung ban cho tất cả Loài Người phú cường vật thể mà chỉ Chúa biết rõ nhất.

Chính tay tôi ký ở New York ngày 3 tháng 10 năm của Chúa thứ 1789.


Đến năm 1863, tổng thống Lincoln ấn định ngày thứ năm cuối tháng 11 là ngày Thanksgiving hàng năm.

Các tổng thống Mỹ có thông lệ là đọc một bài diễn văn đặc biêt trong ngày Thanksgiving, gọi là Thanksgiving Proclamation. Bài diễn văn năm 2008 của tổng thống Bush có thể đọc được ở đây, và bài diễn văn năm 2010 của tổng thống Obama có thể đọc được ở đây.

Mỗi năm National Turkey Federation (hiệp hội nuôi gà tây của Mỹ) gởi tặng Nhà Trắng gà tây vào dịp Thanksgiving. Các tổng thống Eisenhower, Nixon và Johnson xơi các chú. Tổng thống Kennedy lần đầu tiên tha mạng các chú, không làm thịt. Và năm 1990, tổng thống George H.W. Bush (Bush cha) đã chính thức thành lập ngày tha tội cho gà tây, tặng các chú gà tây nhận được vào các thảo cầm viên, và ngày nay ta có truyền thống ân xá gà tây hàng năm tại Nhà Trắng. Ngày tha tội gà tây của Thanksgiving 2010 có thể đọc được tại đây.

Trong ngày Thanksgiving, mọi người trong gia đình thường tụ họp nhau ăn uống và chuyện vãn. Các món ăn chính là gà tây, dâu cranberry, bánh mì bí rợ, bánh ngọt bí rợ, bắp (ngô)…

Tuần Thanksgivings là một trong những tuần dân Mỹ di chuyển nhiều nhất trong năm, để về tụ họp gia đình.

Thanksgiving cũng là ngày đầu tiên của Mùa Lễ Hội (Holidays Season), kéo dài cho đến ngày đầu năm mới, mồng một tháng giêng.

Ngày thứ sáu sau Thanksgiving là ngày đầu tiên của mùa buôn bán Lễ Hội (Holidays season shopping), và thường được gọi là ngày Black Friday (ngày Thứ Sáu Đen), vì ngày đó người ta đi mua sắm kẹt xe đen cả đường phố. Các cửa tiệm đều có những món hàng hạ giá rất thấp để mời gọi mọi người mua sắm đầu mùa. Có nơi người ta sắp hàng từ đêm hôm trước, dài cả cây số, để chờ tiệm mở cứa khoảng 6 giờ sáng.

Ngày nay, Black Friday (Thứ Sáu Đen) còn có nghĩa là ngày các tiệm kiếm ra tiền, thống kế kế toán có số lời, màu đen, thay vì số lỗ màu đỏ.

Chúc cán bạn một ngày nhiều Tạ Ơn.

Sau đây mời các bạn xem vài videos vui về ngày Thanksgiving.
.

Heavy turkey

.

Crappy Canadian Thanksgiving (w. Ellen Page & Justin Long)

(TĐH: cập nhật post 24.11.2010)

Một bữa cơm Tạ Ơn đời thường ở Mỹ

Chào các bạn,

Hôm nay là ngày thứ 4 tuần thứ 4 ở Mỹ rồi. Thư viện ở các trường học bắt đầu đóng cửa, các bạn học sinh Mỹ đi học ở xa gia đình chuẩn bị về nhà dự lễ Tạ Ơn với gia đình vào ngày mai 🙂

Mình đi theo một người bạn tên là Noah đến thăm và dự lễ Tạ Ơn với gia đình cậu ở trị trấn Delmar, tiểu bang New York vào năm 2006. Mình kể với các bạn cảm nhận của mình về lễ Tạ Ơn trong một gia đình người Mỹ bình thường nhé, gia đình bạn Noah không theo đạo Thiên Chúa.

Sau khoảng 2 tiếng lái xe từ Vermont, chúng mình tới được nhà của Noah ở Delmar ở phía bắc tiểu bang New York. Đó là một trị trấn nhỏ bé lạc hút trong một cánh rừng và những rặng núi. Ở đây ít trường học tốt, nên khi trẻ con lớn lên, chúng thường phải đi sang những tiểu bang khác để học đại học. Thành phố cứ bình dị hoang vắng thế thôi.

Tới nhà, mình và Noah gặp bố mẹ của cậu, ông bà Robert-Roberta và em gái cậu Shirah. Ông bà Robert-Roberta đã nuôi lớn đến 3 người con trong ngôi nhà này đấy, Noah, chị gái và em gái Noah nên căn nhà chứa đầy kỷ niệm, rất nhiều ảnh hồi bé đến lớn của anh chị em Noah rất kháu khỉnh dễ thương. 🙂

Bếp của gia đình người Mỹ có rất nhiều cookbook – sách dạy nấu ăn. Những đồ nấu ăn cũng rất sẵn sàng. Mình chợt nhớ tới câu nói đùa của một anh bạn du học sinh, anh từng là niềm cảm hứng để mình kiếm học bổng du học hồi trước: “Nếu giả sử nhé, nhà bạn sắp cháy và bạn chỉ được mang hai thứ ra mà thôi, bạn sẽ mang gì ra?” Câu trả lời của anh ấy là “Savings account của ông nội tôi và cookbook của mẹ tôi”. Mình rất thích câu trả lời này vì sự sâu sắc, hiếu thảo về gia sản gia đình cũng như giá trị truyền thống trong thức ăn nuôi dưỡng mình của văn hóa người Mỹ 🙂

Tủ lạnh của những gia đình người Mỹ cũng có nhiều những tấm nam châm để đính ảnh của gia đình và ghi thông báo rất sống động 🙂

Vì bọn mình đang đói nên kiếm gì ăn trước vậy. Nhà có một chút thịt nai rừng, do người hàng xóm cho vì ở vùng hoang vu phía New York, rất nhiều nai đi lạc và va vào ô tô hay bị người săn. Thịt nai rất nạc, nhưng hơi nhạt một chút 🙂

Bà Roberta rất nhớ Noah và thể hiện tình cảm ấm áp. Nhớ là vậy, nhưng một năm cũng chẳng gặp nhau được mấy lần, vì con cái đi học và đi làm xa xăm suốt, bỏ những người già ở quê nhà, vì ở quê không có mấy cơ hội học tập và việc làm. Những dịp lễ, cả nhà lại quấn quít bên nhau.

Cả cùng chuẩn bị đồ ăn tối. Mình được giao nhồi thịt cho con gà Tây, Shirah làm bánh táo, bà Shirah và Noah cũng vào phụ bếp.

Sau đó, Noah và mình lái xe qua nhà bà ngoại của Noah để thăm bà và đón bà ngoại qua nhà ăn tối.

Bà ngoại Noah sống cách đó khoảng 10 phút lái xe. Bà đã trên 80 tuổi và sống một mình. Căn nhà bà sống được xây dựng hơn 50 năm về trước và chứa đầy kỷ niệm của gia đình. Trên tường nhà bà treo ảnh ông ngoại, các con của bà khi con bé và gia đình các con và các cháu của bà.

Bà cũng ngạc nhiên thấy mình từ một đất nước xa xôi đến. Bà kể anh trai của bà là người thiết kế về xây dựng cho tòa nhà World Trade Center bị sập. Rằng bà lớn lên qua thời Great Depression khổ cực.

Bà chậm rãi nhưng có đôi mắt tinh nhanh. Bà yêu nghệ thuật và vẫn chơi piano. Bà bảo Noah ra chơi một đoạn piano do bà dạy Noah hồi trước, và căn dặn rằng “hồi trước bà nói với cháu là chơi nhạc là phải improvise – ngẫu hứng”. Noah chơi nhạc, căn nhà rộng rất yên tĩnh chỉ có tiếng piano và sự sâu thẳm của thời gian.

Mọi thứ tĩnh lặng vô cùng. Những bức ảnh rất sạch những chúng cũng có dấu ấn thời gian. Mình gọi căn nhà đó là “the house of time”. Căn nhà làm mình cảm thấy rất khiêm tốn và nhỏ bé trước thời gian.

Bà Noah đã cao tuổi và chậm rãi nên Noah đỡ vào vào xe ô tô.  Cẩn thận đi từng bước vượt qua bậc tuyết. Tất cả trở về nhà bố mẹ Noah.

Shirah rủ thêm hai bạn trai cùng xóm tới ăn tối cùng cho vui. Cả nhà bắt đầu ăn và truyền tay nhau những đĩa thức ăn đi một vòng. Bánh mì đi một vòng, sa lát đi một vòng, cứ lần lượt như thế. Cả nhà nói đủ thứ chuyện rôm rả suốt 🙂

Sau đó, bạn Shiral và Shirah ra ghế chơi ghita và hát nhè nhẹ.

Bà Noah, ông bà Robert, Roberta cũng ra ghế ngồi chơi với mình và nói chuyện tào lao. Bà của Noah là một giáo viên dạy tiếng Anh hồi xưa nên bà kể chút chuyện về những tác phẩm kinh điển của William Faulkner như the Sound and the Fury. Bố Noah là một bác sĩ có mức lương cao nên ủng hộ Bush, mẹ Noah ở nhà đan quần áo và làm những việc bình thường để kiếm thêm chút tiền. Bà quan tâm đến Phật giáo của châu Á.

Sau đó mẹ Noah, Noah và mình lái xe trở bà ngoại Noah về nhà bà. Bà lại về căn nhà trống trải. Đó là thực tế buồn ở Mỹ vì cha mẹ sống tách biệt với bố mẹ gia để có tự do. Những người già thường sống riêng nhưng ở nhà gần con cái, hay sống chung với nhau ở các Nursing home ở vùng thời tiết ấm áp như Florida.

Mặc ngoài trời tuyết lạnh, trong nhà không khí rất ấm cúng.

Mình rất cảm ơn vì cơ hội được đi chơi lễ Tạ Ơn cùng Noah, bạn Mỹ ở cùng nhà mình khi đó ở trường Vermont. Chuyến đi giúp mình hiểu nhiều về lối sống gia đình người Mỹ.

Mình cũng cảm nhận được rằng những bạn sinh viên du học ở những nơi xa xôi hẻo lánh như nơi mình khi đó như những tiểu bang vùng Midwest, Maine, New Hampshire nếu không đi đâu mà ở lại ký túc xá, nhìn thấy cảnh hoang vắng tiêu điều và tuyết rơi liên miên chắc buồn lắm. Mong bình an ở cùng các bạn.

Chúc các bạn một dịp nghỉ lễ ấm áp,

Hiển.

Greenager – Bảo vệ môi trường xanh, và Michael Jackson’s Earth Song

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta cùng xem một tiểu phẩm về bảo vệ môi trường của các bạn học sinh trường Trung học Phổ thông Nguyễn Hiền ở thành phố HCM nhé 🙂

Trường THPT Nguyễn Hiền

Các bạn Hoàng Mai Trang, Nguyễn Ngọc Mạnh Cường, Tiến Lộc, Minh Quân, Hoàng Sơn, Thiện Phú, Huỳnh Phúc, Thái Lập Banh là Nhóm diễn viên tự phát của Văn Phòng Đoàn trường Nguyễn Hiền đã thực hiện video này.

Nhờ có video này, mình mới biết được trường THPT Nguyễn Hiền có một hồ sen xanh tươi rất đẹp giữa trường đấy 🙂

Trường rất đẹp, cũng như thành phố của chúng ta vậy, nhưng có một nhóm các bạn đẹp trai xinh gái làm hơi bừa một chút. Nếu có nhiều bạn đẹp trai xinh gái hơn, chúng ta có thể có một hồ rác. 🙂

Một tiểu phẩm nhỏ đưa câu chuyện đời thường ra ánh sáng rất dễ thương. Cám ơn các bạn diễn viên trường THPT Nguyễn Hiền nhé.  🙂

Nếu các bạn trong các tổ chức dân sự có những video clips vui nhộn về tuyên truyền những giải pháp, hãy gửi đến đóng góp với Nhạc Xanh trên ĐCN. Các bạn có thể gửi cho mình. Email của mình ở trong phần Giới Thiệu.

Sau đây mời các bạn thưởng thức video clip của các bạn Nguyễn Hiền, và video Earth Song của Michael Jackson. Lời nhạc theo sau video.

Chúc các bạn một ngày ý thức môi trường,

Hiển.
.
Greenager – Bảo vệ môi trường xanh, sạch đẹp

.

Michael Jasckson – Earth Song

.

“Earth Song”

What about sunrise
What about rain
What about all the things
That you said we were to gain…
What about killing fields
Is there a time
What about all the things
That you said was yours and mine…
Did you ever stop to notice
All the blood we’ve shed before
Did you ever stop to notice
The crying Earth the weeping shores?

Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah

What have we done to the world
Look what we’ve done
What about all the peace
That you pledge your only son…
What about flowering fields
Is there a time
What about all the dreams
That you said was yours and mine…
Did you ever stop to notice
All the children dead from war
Did you ever stop to notice
The crying Earth the weeping shores

Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah

I used to dream
I used to glance beyond the stars
Now I don’t know where we are
Although I know we’ve drifted far

Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah
Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah

Hey, what about yesterday
(What about us)
What about the seas
(What about us)
The heavens are falling down
(What about us)
I can’t even breathe
(What about us)
What about apathy
(What about us)
I need you
(What about us)
What about nature’s worth
(ooo, ooo)
It’s our planet’s womb
(What about us)
What about animals
(What about it)
We’ve turned kingdoms to dust
(What about us)
What about elephants
(What about us)
Have we lost their trust
(What about us)
What about crying whales
(What about us)
We’re ravaging the seas
(What about us)
What about forest trails
(ooo, ooo)
Burnt despite our pleas
(What about us)
What about the holy land
(What about it)
Torn apart by creed
(What about us)
What about the common man
(What about us)
Can’t we set him free
(What about us)
What about children dying
(What about us)
Can’t you hear them cry
(What about us)
Where did we go wrong
(ooo, ooo)
Someone tell me why
(What about us)
What about babies
(What about it)
What about the days
(What about us)
What about all their joy
(What about us)
What about the man
(What about us)
What about the crying man
(What about us)
What about Abraham
(What was us)
What about death again
(ooo, ooo)
Do we give a damn

Aaaaaaaaah Aaaaaaaaah

Về Quê Nghe Tiếng Chim Bắt Cô Trói Cột


Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh
Ta xuống đồng, lúa mừng vui vẫy gọi
Cánh cò chao nghiêng ướm hỏi đôi điều
Ừ, nơi đây ta từng gieo kỉ niệm
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Ta cứ ngỡ quê nhà xưa vẫn vậy
Còn người thương gội bồ kết ướt lưng ong
Trăng vẫn cũ – con đường xưa lại mới
Hết đá vấp chân- sao lại nhói đau lòng!
Biết sao được chuyện của đời dâu bể
Sông có tự ngàn xưa chừ cũng xoay dòng
Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong.
Chim chỉ gọi- chẳng bắt ai trói cột
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa vườn xưa buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Trích từ tập TRƯỚC SÔNG THU.- Thơ Dương Quang Anh

Cảm nhận:

Một lần đêm quê, ngồi chơi cữ rượu độ gần tàn, người hàng xóm hứng chí ngâm lên:

Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh

Cả bàn rượu lặng im. Còn tôi, câu thơ thứ nhì cứ treo lơ lửng trong đầu. Về sau, tôi đã tìm đọc trọn vẹn bài thơ ấy. Bài thơ tôi giới thiệu ở trên.

Bài thơ có cái duyên ngầm bởi bắt được một điệu quê. Với đa phần người, cái hồn quê thường thức dậy từ cánh diều mùa thu hay điệu lí mỗi chiều. Với Dương Quang Anh, thật đến bất ngờ là cái hồn quê lại dóng lên khắc khoải từ một loài chim chẳng mấy khi được chọn làm thi liệu: Chim bắt cô trói cột.

Và theo âm vang của nốt nhạc lạc loài ấy, khách tình quê đi về với cánh cò, đồng lúa, mùa trăng xưa và con đường cũ. Những bước lang thang mà định hướng cho cả một mùa kí ức.

Bắt được giai âm, tác giả như tình cờ được tặng luôn cả một giai điệu. Toàn bài thơ tuy có đôi chỗ phá cách nhưng chung qui vẫn nền nả mặn mà bằng điệu thơ tám chữ có phần xưa cũ. Ấy vậy mà giọng điệu rất quen thuộc ấy, tôi nghĩ, mới thật là một chọn lọc.

Có tình, có điệu. Chưa hết, tôi muốn bàn đến cái tứ của bài thơ. Phải nói thơ anh vừa xúc cảm vừa chắc trong cấu tứ. Ở mỗi khổ thơ, tác giả đã biết để lại một câu hay, một ý đắc để làm những chiếc đinh giữ vững bộ khung của thơ mình.

Ngang đồng lúa, người thơ tự hỏi:
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Và trên quê xưa, đường nhựa phẳng lì thay cho những bậc đá ngày nào còn mấp mô trong kí ức, sao lòng lại xốn xang:

Hết đá vấp chân sao lại nhói đau lòng

Và đây là thái độ của người đã quá cái ngưỡng tri thiên mệnh trước mọi ngã đời dâu bể:

Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong

Và bài thơ kết lại đúng nghĩa trữ tình. Kết mà không mở ra một cục diện mới nào, kết trong một thủy chung cảm xúc:

Chim vẫn gọi chẳng bắt ai trói buộc
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa đường làng buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Tôi cũng thế, vùng vẫy mãi mà chẳng thể thoát ra khỏi những sợi tơ chăng mắc bằng ngôn ngữ trữ tình ấy. Bỡi tôi cũng là một người quê. Cũng đôi lần đi về quê xưa mà nghe thời gian còn phảng phất một màu kí ức. Và như để trả nợ cho một tình quê, tôi giải tỏa bằng một vài cảm nhận. Hẳn cũng quê kệch như tiếng “bắt cô trói cột” kia. Song lại là một điệu quê, có ai người đồng điệu?

Nguyễn Tấn Ái

Nữ Thần Tự Do – Bài thơ “The New Collosus” của Emma Lazarus

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu với các bạn bài thơ “New Collosus” của thi sĩ  Emma Lazarus. Bài thơ này được khắc trên một tấm biển ở dưới chân tượng Nữ thần tự do ở thành phố New York vào năm 1903.

Xa xa phía ngoài khơi, những đoàn người nhập cư mệt mỏi vượt biển đi đến thành phố New York qua hơn hai thế kỷ nay. Họ bỏ đi tất cả, quê hương, của cải, người thân để đem đánh cuộc tính mạng  mình trên một con tàu vượt đại dương đi tìm sự sống mới.

Họ là ai? Những người Ba Lan chạy sang Mỹ từ chiến tranh thế giới thứ nhất? Những người Tiệp chạy khỏi nhà độc tài Milosevic? Những người Âu sang đi tìm miền đất hứa? Những người tị nạn tôn giáo qua Mỹ từ thế kỷ 17? Những người muốn tìm cuộc sống kinh tế tốt hơn vì ở nước họ nghèo quá?

Hơn một thế kỷ qua, Nữ thần Tự do đứng đó nghiêm nghị trong gió buốt lạnh của hải cảng New York, đôi mắt bà nhìn xa xôi. Làn da bà đã phai màu vì gió và nước biển. Một tay bà cầm quyển hiến pháp nước Mỹ, và tay kia cầm một ngọn đuốc đỏ. Ngọn đuốc đó là tia sáng âm ỉ gần tàn, tia sáng bị đe dọa dập tắt trong con tim của bao thế hệ con người, tia sáng của Tự do.

Bài thơ “New Collosus” ở dưới chân tượng đó khiến mình suy nghĩ nhiều về ước vọng của con người. Sao một người ăn mày trên vỉa hè thành phố New York vất vả vô cùng mà mắt họ vẫn ánh lên vẻ sung sướng, và một anh đại gia trọc phú ở một nước xa xa bên kia bờ đại dương sao khuôn mặt u tối làm vậy? Phải chăng đó là Tự do? Hít thở được không khí của Tự do? Cái thứ không khí vào mọi  con đường, ngõ ngách, và lồng ngực con người.

Ở dưới đây, là đoạn nhật ký ngắn diễn tả cảm xúc của mình về bài thơ này và ngày mùng 4 tháng 7 năm 2009, và sau đó là bài thơ

”Bài thơ này nằm bên dưới suy nghĩ của mình vào ngày 4/7/2009 khi mình ngắm pháo hoa từ thành phố Jersey City. Ở đó, người ta có thể thấy cả tượng Nữ thần Tự do và Trung Tâm Macy, nơi mà những ngọn pháo hoa được bắn lên trời cao. Chúng đứng cạnh nhau (trung tâm Macy với pháo hoa và tượng Nữ thần Tự do). Thành phố đầy ánh sáng, tii đang bật và những talkshow đang chạy trên màn hình. Nữ thần đứng nghiêm, lạnh lẽo trong gió, và đưa cái nhìn của bà ra xa.

”Tượng khổng lồ mới” được khắc trên một tấm biển ở chân tượng Nữ thần Tự do. “

This poem underlined my thought on 7/4/2009 witnessing the fireworks from Jersey City. There, one could see both the Lady of Liberty and the Macy’s center where the fireworks were shot into the sky. They stood side by side. The city was full of light, television was on and and the talk was running. The lady stood sharp, cold in the wind, extending her look.

“The New Colossus” was engraved on a tablet in the pedestal on which the statue stands.
.

Tượng khổng lồ mới

    Emma Lazarus

Không giống như tượng đồng danh tiếng của Hy Lạp,

Với những cánh tay chinh phục sải dài từ xứ này sang xứ khác;

Nơi đây tại cửa biển hoàng hôn sóng vỗ

Đứng người đàn bà phi thường với ngọn đuốc, mà lửa đuốc

Là sấm sét bị cầm tù, và tên nàng

Di dân - Ellis Island (New York) - 1912

Mẹ Của Những Kẻ Tha Hương. Từ bàn tay cầm đèn hiệu đó

Sáng rực lời chào tỏa khắp thế giới; đôi mắt dịu hiền của nàng trị vì

Hải cảng lộng gió giữa hai thành phố. *

“Cứ giữ lấy những mảnh đất xa xưa, những cổ tích hoa lệ của các ngươi!”, nàng kêu gào.

Môi mím chặt. “Trao ta những kẻ mệt mỏi, nghèo đói của các ngươi,

Những đám đông chen chúc của các ngươi đang mong ước hít thở tự do,

Những rác rưởi khốn cùng trên bờ biển đông đúc của các ngươi.

Trao ta, những người vô gia cư, dập vùi trong bão tố,

Ta sẽ nâng đèn rọi bên cạnh cánh cửa vàng!”

(Nguyễn Minh Hiển dịch)

Chú Thích: (*) Hai thành phố là New York và New Jersey

.

The New Colossus

    by Emma Lazarus

Not like the brazen giant of Greek fame,
With conquering limbs astride from land to land;
Here at our sea-washed, sunset gates shall stand
A mighty woman with a torch, whose flame
Is the imprisoned lightning, and her name
Mother of Exiles. From her beacon-hand
Glows world-wide welcome; her mild eyes command
The air-bridged harbor that twin cities frame.
“Keep ancient lands, your storied pomp!” cries she
With silent lips. “Give me your tired, your poor,
Your huddled masses yearning to breathe free,
The wretched refuse of your teeming shore.
Send these, the homeless, tempest-tost to me,
I lift my lamp beside the golden door!”

Johann Sebastian Bach – Jesus, Joy of man’s desiring

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta cùng nghe bản nhạc “Jesus, Joy of man’s desiring” của Johann Sebastian Bach, người mà Beethoven gọi là “một đại dương”. Đây là khúc thứ 10 trong cantana Herz und Mund und Tat und Leben của Bach.

J.S Bach
J.S Bach

Bản nhạc an bình ngợi ca chúa Giê-su này được ông viết vào lần đầu tiên ông tới thăm thành phố Leipzig, nước Đức, và đây là một trong những cantana sống mãi với thời gian của ông. Ngày nay, “Jesus, Joy of man’s desiring“ thường được chơi ở các lễ cưới trong nhà thờ. Những kênh truyền hình phổ thông và radio cũng thường chơi bản nhạc này ở phần nhạc nền.

Bản nhạc êm ái này khiến ta bị hút vào bởi sự an bình của nó, sự an bình của một đại dương. Hồi cấp ba, mình mượn được ở thư viện Hà Nội cuốn sách về cuộc đời của nhạc sĩ Beethoven, nhạc sĩ nhận xét về Bach là “Bach không phải là một dòng suối (Bach trong tiếng Đức có nghĩa là dòng suối), Bach là một đại dương”.

Dưới đây là 3 videos của “Jesus, joy of man’s desiring”.  Video thứ nhất là bài hát do Celtic Woman biểu diễn, video thứ 2 do dàn nhạc hòa tấu cùng hợp xướng, và video thứ 3 do David Qualey trình tấu bản nhạc ông chuyển soạn cho ghita.

Lời tiếng Anh theo sau các videos.

Chúc các bạn bình an và sức khỏe,

Hiển.
.

Celtic Woman – Jesus Joy of Man’s Desiring (live)

.

J.S. Bach – Jesus joy of man’s desiring, BWV 147

.

Jesus, joy of man’s desiring, David Qualey chuyển soạn và trình tấu cho ghi ta.

.


Jesus, joy of man’s desiring

Jesu, joy of man’s desiring,
Holy wisdom, love most bright;
Drawn by Thee, our souls aspiring
Soar to uncreated light.
Word of God, our flesh that fashioned,
With the fire of life impassioned,
Striving still to truth unknown,
Soaring, dying round Thy throne.

Through the way where hope is guiding,
Hark, what peaceful music rings;
Where the flock, in Thee confiding,
Drink of joy from deathless springs.
Theirs is beauty’s fairest pleasure;
Theirs is wisdom’s holiest treasure.
Thou dost ever lead Thine own
In the love of joys unknown.

Chicken Dance với các bạn ở Câu lạc bộ sách :-)

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta cùng xắn giầy, xuống sàn và tung tăng điệu Chicken Dance vui nhộn với các bạn ở Highschool Book Club (HBC) ở Hà Nội nhé 🙂

.

Học Chicken Dance với The Lawrence Welk Show, một chương trình nhạc trên TV hàng tuần ở Mỹ.
.


.

Đoạn video của HBC vui quá, nhưng… có ý nghĩa gì vậy?

Đó là một trò chơi trong Talk Show về cuốn “Totochan, cô bé bên cửa sổ” để tái hiện một chi tiết về phương pháp giáo dục trong cuốn sách đó. Thật sáng tạo quá 🙂

Talkshow "Hoàng tử bé" 🙂
Các bạn ở Câu lạc bộ sách Trung học tổ chức những buổi nói chuyện về những cuốn sách dễ thương như “Hoàng Tử bé”, “Cho tôi xin một vé đi tuổi thơ”,  để truyền niềm cảm hứng trí tuệ và làm giàu vốn kiến thức xã hội cho các bạn teens qua những trang sách.

Các bạn có thể đọc thêm về nhóm HBC và những buổi nói chuyện hào hứng đó tại địa chỉ trang nhà của các bạn:
Highschool Book Club

Hoạt động này thật hay và ý nghĩa quá. 🙂

Cảm ơn các bạn HBC nhiều vì video clip này. 🙂

Chúc các bạn một ngày tươi hồng, 🙂

Hiển.

Di sản Thế Giới – Phố Cổ Hội An

Chào các bạn,

Phố Cổ Hội An PPS là slideshow cuối trong series năm slideshows Di sản Thế giới về cảnh quan của nước ta trong danh sách Di sản Thế Giới (về cảnh quan) của UNESCO: Phong Nha-Kẻ Bàng, Cổ Thành Huế, Thánh Địa Mỹ Sơn, Vịnh Hạ Long, và Phố Cổ Hội An.

Hội An là một cảng xa xưa của Chiêm quốc. Đến thế kỷ 16 Nguyễn Hoàng biến Hội An thành một cảng quốc tế cho các thương thuyền và chiến thuyền các nước lân cận. Đến thế kỷ 17 Hội An đã trở thành một trong những cảng phồn thịnh nhất Đông Nam Á, đặc biệt tiện nghi cho các thuyền từ Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, và cả Trung Đông.

Khi nhà Thanh chiếm nhà Minh ở Trung quốc, một số người nhà Minh về phương Nam tị nạn và lập nghiệp tại Hội An, mang đến cảng này một nền văn hóa Trung Hoa rất mạnh, tồn tại cho đến ngày nay.

Hội An với tất cả các nét cổ truyền còn lại là gương mẫu cho việc bảo trì văn hóa của một thành phố cổ trong thế giới nhiều thay đổi hiện nay.

Nhạc nền cho slideshow này là Tì Bà Khúc, dùng một nhạc cụ chính trong nhạc cổ truyền Trung Hoa.

Mời các bạn click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.

Chúc các bạn một ngày hoài cổ.

Bình an & Sức khỏe,

Tuý-Phượng
.

Thư gửi các học trò thân yêu của cô

Bây giờ là 1 giờ  sáng ngày 21 / 11  khi cô ngồi gõ email này. Bình thường đây là thời khắc thích hợp nhất trong ngày dành cho Đọt Chuối Non.  Hôm nay cô muốn dùng thời gian này gửi đến các em một lời tâm tình nhân Ngày Nhà Giáo Việt Nam vừa qua.

Kỷ  niệm Ngày Nhà Giáo Việt Nam  năm nay  là lần thứ 34  trong đời dạy học của cô, nhưng 20/ 11 lần này hết sức đặc biệt và ý nghĩa. Các em dễ dàng thấy được ý nghĩa lớn lao và tốt đẹp biết bao của những tặng phẩm tinh thần, những tặng vật của trái tim  mà Đọt Chuối Non đã dành  tặng cho tất cả thầy cô giáo là tác giả và  bạn hữu của ĐCN.

Xin được gửi lời cám ơn đến anh Hoành như một nhạc trưởng điêu luyện và các tác giả trong giàn hợp xướng 20/ 11 hôm nay. Những khuôn mặt thân quen : anh Hoành, anh Đức Dược, bạn Ngọc Hoa, các  em Kiêm Yến, Tấn Ái, Minh Tâm, Tố Uyên, Khánh  Hòa., hoặc  là các tác giả mới toanh.   Đặc biệt sự góp mặt của các cây bút mới như Thanh Thủy, Thùy Duyên, và các teen của Daklak’s gang đã nồng nhiệt đóng góp cho sân chơi bổ ích  này   như anh Nguyễn Đình Chung, Giảng viên trường CĐSP Daklak, các em Dương Ngọc Anh & chị Lê Thị Kim Chi, Happy  Bun  Ngô Việt Thảo, Nguyễn Đình Nguyên, Mr. Clown, Thảo Vi, Tường Vi, Bùi Công Đức & Phạm Thị Thanh Loan; Trần Như Yến & Phạm Vũ Như Thảo & Lâm Thanh Thanh, Phương Uyên.

Các ý kiến phản hồi  rất có ý nghĩa sâu sắc của Phương Thảo, dí dỏm của Quan Jun, chân tình của Hồng Phúc, và nhiều cảm xúc củaThảo Vi…. và  một ngạc nhiên thực thú vị đến từ Bảo Ngọc đang học ở một trường đại học tại Mỹ, trước những nỗ lực và thành công bước đầu như em báo  đã khiến cô rất vui và hạnh phúc. Em là một minh chứng để các thầy cô giáo và các bạn cảm thấy tự hào về  sinh viên Việt Nam.

Xin gửi một lời cám ơn trân trọng đến tất cả các bạn và  học trò về những tình cảm dành cho nhóm giáo viên  của ĐCN trong đó có Huỳnh Huệ.

Xin được nói về một  bài thơ  20/ 11 được đọc lại sau 32 năm đã khiến cô vô cùng xúc động.  Sau khi tiễn những em học trò cũ,  đi làm về buổi tối mới có thể ghé thăm và hàn huyên với cô muộn ( sau cả Quan Jun ) cô  mở  một tấm thiệp và bên trong tấm thiệp có một tờ giấy màu xanh.

Trên một mặt của tờ bìa màu xanh là bài thơ  do cô viết tay, trong một phút cảm xúc 20/ 11, đề  ngày 20/11/1977. Khi đó cô 22 tuổi, đang dạy  học năm thứ hai tại một trường Trung học Cơ sở  và  Hoài Dương là lớp trưởng lớp 7. Cô đã dạy  4 anh em nhà Hoài Dương  tại ngôi trường cấp 2 đó. Và cũng chính cô là người tập cho Dương đánh bóng bàn và động viên Dương tham gia thi vòng thành phố và đoạt giải bóng bàn cấp  tỉnh những năm  sau.

Bài thơ  có tựa đề Bước Tiếp:

Bước tiếp

Tôi bước tới hành trang là hy vọng,

Lòng yêu đời trải rộng cả trời xanh

Tin yêu dâng như nhựa sống trên cành

Tôi trao trọn học trò tôi bé nhỏ

Tôi đã chọn – và tôi làm cô giáo-

Đến với học trò,  đem cho cả tình yêu

“ Cho rất nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu?”

Không! Cho và nhận hai điều là một

Tôi muốn vì em thắp lửa hồng soi mắt

Ấm lại nụ cười tẻ nhạt bấy lâu

Xin vì em khơi mạch sống thêm sâu

Đi vỡ đất hoang làm người gieo hạt

Hãy đi với tôi hòa vang câu hát

Chúng ta chung lẽ sống dâng đời

Trái tim hồng, học trò nhỏ tôi ơi.

Rất an bình, tôi sẵn sàng bước tiếp

20- 11- 77

Tặng học trò của tôi, Hoài Dương

Kính tặng phụ huynh em, những người rất quan tâm đến việc giáo dục con em.

Huỳnh thị Huệ

Chiều hôm nay 20/ 11/ 2009  em Nguyễn Hoài Dương, lớp trưởng lớp 7 ngày ấy và bây giờ là một kỹ sư Lâm nghiệp, cử nhân Luật, chuyên viên chính đang là Phó TP Kế hoạch- đầu tư Sở Nông Nghiệp & PTNT, đặc trách thẩm định các dự án, quy hoạch nông lâm nghiệp Daklak, đã mang xuống một bó hoa, những quyển sách là tặng vật, với tấm thiệp và bài thơ trên trang giấy được ép plastic. Ở  mặt kia có  những dòng chữ như sau :

Kính gửi cô giáo Huỳnh thị Huệ

Đây là kỷ niệm quý giá mà em đã lưu giữ hơn 30 năm qua.
Em xin foto tặng lại cô!
Em vẫn luôn ghi nhớ hình ảnh và những lời chỉ dạy tận tình của cô.
Nghị lực và tâm huyết của cô luôn là tấm gương cho chúng em học tập.
Xin cám ơn cô!

Học trò của cô

Nguyễn Hoài Dương ( ký tên )

Dương ơi,

Cám ơn em đã cho cô một cơ hội tuyệt  vời để cô có thể hồi tưởng sâu và  soi lại đời mình sau 34 năm dạy học.  Ngày ấy, 20/ 11 / 1977,  cô là một cô giáo trẻ, năng động, yêu đời, yêu nghề và yêu học trò cấp 2 của mình qua bài thơ  viết  vì cảm xúc. Thực sự cô không nhớ rõ và không lưu lại bài thơ này, và cô cũng hiếm họa làm thơ.

Hôm nay, 20/ 11/ 2009, là kỉ niệm ngày Nhà Giáo Việt Nam sau cùng với tư cách Giảng viên chính  của cô, vì năm 2010 cô đã hoàn thành nhiệm vụ nghề nghiệp của mình.

Cô chỉ muốn nói một điều sau 32 năm, tuy tóc không còn xanh, chơi bóng bàn không còn giỏi nữa, sức khỏe không còn thật tốt, nhưng cô có thể khẳng định một điều  với các em:  tình yêu đời, yêu nghề nghiệp, và yêu học trò trong cô không hề suy giảm mảy may.

Cô yêu và tin vào năng lực của hết thảy các em, những học trò cũ, mới. Các em luôn là niềm tự hào và một trong những lẽ sống nghề nghiệp của đời cô.

Hãy vững lòng và bước tiếp, đã và sẽ tiếp  tục thành công, luôn  hữu ích cho đời, nhé  các em