Tag Archives: Văn Hóa

Tiếng vỗ của một bàn tay

Mokurai, Tiếng Sấm Tĩnh Lặng, là thiền sư trụ trì chùa Kennin. Sư có một đệ tử nhỏ tên Toyo mới 12 tuổi. Toyo thấy các đệ tử đàn anh vào phòng thầy mỗi sáng và tối để nhận giáo huấn trong lớp riêng một thầy một trò và được hướng dẫn cá nhân về cách dùng công án để chận tâm trí không đi lang thang.

Toyo cũng muốn được vào lớp riêng.

Mokurai nói, “Đợi một thời gian đã. Con còn nhỏ.”

Nhưng Toyo nằng nặc xin, vì vậy cuối cùng thầy cũng đồng ý.

Chiều tối, cậu bé Toyo đến đúng giờ, trước cửa phòng thầy Mokurai dùng làm lớp riêng. Cậu đánh một tiếng cồng báo hiệu đã có mặt, gập mình chào lễ phép ba lần ngoài cửa, và bước vào ngồi yên lặng một cách lễ độ trước mặt thầy,

“Con có thể nghe âm thanh của hai bàn tay khi hai tay vỗ vào nhau,” Mokurai nói. “Bây giờ chỉ cho thầy tiếng vỗ của một bàn tay.”

Toyo cúi chào và về phòng để suy nghĩ vể câu hỏi. Từ cửa sổ cậu có thể nghe nhạc của các cô geishas. “A, tôi có rồi!” cậy bé tuyên bố.

Sáng hôm sau, khi thầy hỏi cậu trình bày tiếng vỗ của một bàn tay, Toyo làm tiếng nhạc của geishas.

“Không, không,” Modurai nói. “Không bao giờ được. Đó không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Con chẳng hiểu gì cả.’

Nghĩ là nhạc của geishas cắt đứt dòng suy tưởng, Toyo chuyển chỗ ở đến một nơi yên lặng hơn. Cậu bé thiền định. “Tiếng vỗ của một bàn tay là gì?” Cậu bé nghe tiếng nước nhỏ giọt. “Tôi có rồi,” Toyo nghĩ.

Khi Toyo đến gặp thầy sau đó, cậu bé bắt chước tiếng nước nhỏ giọt.

“Cái gì vậy?” Mokurai hỏi. “Đó là tiếng nước nhỏ giọt, nhưng không phải là tiếng vỗ của một bàn tay. Cố thêm đi.”

Hoài công Toyo thiền định để nghe tiếng vỗ của một bàn tay. Cậu nghe tiếng thở dài của gió. Nhưng tiếng đó cũng bị thầy gạt bỏ.

Tiếng vỗ của một bàn tay cũng không phải là tiếng ve kêu.

Hơn mười lần Toyo vào thăm Mokurai với những loại tiếng khác nhau. Tất cả đều trật. Cả một năm, cậu bé suy nghĩ tiếng gì có thể là tiếng vỗ của một bàn tay.

Cuối cùng Toyo vào được thiền định thật sự và vượt lên trên tất cả mọi âm thanh . “Tôi chẳng còn tìm được tiếng nào nữa,” sau này cậu bé giải thích, “vì vậy tôi đạt được âm thanh im lặng.”

Toyo đã đạt được tiếng vỗ của một bàn tay.

Bình:

竹田黙雷 Takeda Mokurai (1854-1930)

aka 黙雷宗淵 Mokurai Sōen, 左辺亭 Sahen-tei

• Takeda Mokurai (1854-1930) (“Silent Thunder” – Tiếng Sấm Tĩnh Lặng) đi tu lúc còn nhỏ và được huấn luyện bởi các thiền sư hàng đầu thời đó. Mokurai trở thành sư trụ trì chùa Kennin, một trong những ngôi chùa cổ nhất và quan trọng nhất ở Kyoto, Nhật, vào năm 1892 khi Mokurai chỉ 38 tuổi. Mokujrai còn là một họa sĩ nổi tiếng với tên Sayu Núi Đông. Sayu vì một trong những bút danh của Mokurai là Sayutei, và Núi Đông là chỉ chùa Kennin.

• Bài này nói đển thủ tục lễ nghĩa khi đến gặp thầy để có lớp riêng với thầy (sanzen) rất rõ.

• “Dùng công án để chận tâm trí không đi lang thang.” Đây chính là yếu tính của công án. Đa số công án không phải là một câu hỏi cho một câu trả lời bằng chữ nghĩa hay lý luận, như câu hỏi “tiếng vỗ của một bàn tay” ở đây.

Người học trò, trong tiến trình tìm câu trả lời, sẽ tự nhiên tìm mọi cách để tập trung tư tưởng, không cho tư tưởng đi lang thang. Tâm sẽ lặng từ từ, như nghe tiếng nhạc, đến tiếng nước nhỏ giọt, tiếng thở dài của gió…

• Đến một lúc nào đó, tâm hoàn toàn tĩnh lặng đến nỗi không còn âm thanh nào có thể làm cho ta bị phân tâm. Tai nghe thì vẫn nghe, nhưng tâm hoàn toàn không xao động. Đó là “vượt lên trên” mọi âm thanh.

• Nhưng tại sao lại là tìm được “âm thanh tĩnh lặng” (soundless sound)?

Âm thanh tĩnh lặng (soundless sound) cũng là âm thanh của tĩnh lặng (sound of silence) như tên một bản nhạc của Simon and Garfunkel hay “tiếng thầm trong ngọc nói lời hay” của thiền sư Kiều Trí Huyền.

Tức là, trong tĩnh lặng ta “nghe”, “thấy”, “hiểu” hay “ngộ” được nhiều điều mà khi tâm ta bị phân tâm vì các “tiếng động” ta không nghe, không thấy, không hiểu.

Điều này thì chúng ta ai cũng đã có kinh nghiệm loáng thoáng phần nào—đôi khi ta tĩnh lặng, chẳng làm gì cả, chẳng suy nghĩ gì cả, tự nhiên bao nhiêu ý tưởng sáng tạo lại ùa đến. Tĩnh lặng làm con người thông thái ra, bao nhiêu vị thầy đã nói như thế.

• Tại sao vị học trò trong truyện này chỉ mới 12 tuổi?

Thưa, vì: (1) 12 tuổi thì ít có tiếng động trong đầu từ những lo lắng—con cái, công việc, chuyện nhà, chuyện cửa, chuyện tiền bạc, chuyện nợ nần… và (2) 12 tuổi thí ít có kiến thức lý luận để mà có thành kiến “Làm sao một tay mà phát ra tiếng vỗ được? Vô l‎ý!”

Tức là nếu cái tâm ta càng nhẹ nhàng, giản dị, và không cố chấp, như trẻ thơ, thì ra sẽ thiền dễ hơn và đạt giác ngộ dễ hơn.

Muốn vào được thiên đàng thì hãy như trẻ thơ.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Sound of One Hand

The master of Kennin temple was Mokurai, Silent Thunder. He had a little protégé named Toyo who was only twelve years old. Toyo saw the older disciples visit the master’s room each morning and evening to receive instruction in sanzen or personal guidence in which they were given koans to stop mind-wandering.

Toyo wished to do sanzen also.

“Wait a while,” said Mokurai. “You are too young.”

But the child insisted, so the teacher finally consented.

In the evening little Toyo went at the proper time to the threshold of Mokurai’s sanzen room. He struck the gong to announce his presence, bowed respectfully three times outside the door, and went to sit before the master in respectful silence.

“You can hear the sound of two hands when they clap together,” said Mokurai. “Now show me the sound of one hand.”

Toyo bowed and went to his room to consider this problem. From his window he could hear the music of the geishas. “Ah, I have it!” he proclaimed.

The next evening, when his teacher asked him to illustrate the sound of one hand, Toyo began to play the music of the geishas.

“No, no,” said Mokurai. “That will never do. That is not the sound of one hand. You’ve not got it at all.”

Thinking that such music might interrupt, Toyo moved his abode to a quiet place. He meditated again. “What can the sound of one hand be?” He happened to hear some water dripping. “I have it,” imagined Toyo.

When he next appeared before his teacher, he imitated dripping water.

“What is that?” asked Mokurai. “That is the sound of dripping water, but not the sound of one hand. Try again.”

In vain Toyo meditated to hear the sound of one hand. He heard the sighing of the wind. But the sound was rejected.

He heard the cry of an owl. This was also refused.

The sound of one hand was not the locusts.

For more than ten times Toyo visited Mokurai with different sounds. All were wrong. For almost a year he pondered what the sound of one hand might be.

At last Toyo entered true meditation and transcended all sounds. “I could collect no more,” he explained later, “so I reached the soundless sound.”

Toyo had realized the sound of one hand.

# 21

Josh Groban – giọng ca vàng trẻ trung

Chào các bạn,

Joshua Winslow “Josh” Groban, sinh ngày 27 tháng 2 năm 1981, tại Los Angeles, California, là một ca nhạc sĩ Mỹ trẻ, nhưng đã bán đến 20 triêu đĩa nhạc chỉ ở thị trường Mỹ.

Bố Josh Groban là người Do Thái sinh ở Nga, mẹ là người Mỹ gốc Na Uy. Học nhạc từ nhỏ, đến 17 tuổi được theo học thanh nhạc với David Foster, người đã thắng giải Grammy về soạn nhạc.

Josh Groban có giọng truyền cảm rất tự nhiên, không màu mè. Rất nhiều bản của Josh Groban là nhạc thánh ca, cho nên cách trình diễn của chàng cũng rất đứng đắn trầm tĩnh như hát thánh ca. Dù vậy sức truyền cảm tự nhiên trong giọng hát nhẹ nhàng êm dịu và ấm áp vẫn thực là tuyệt diệu.

Nhạc của Josh Groban thường mang âm điệu cổ điển, nhẹ nhàng.

Năm 2001, album đầu tiên lấy tên “Josh Groban” trở thành đĩa gold ngay lập tức, và trong vòng một năm nhảy từ gold lên “double platinum”.

Năm 2003, album thứ nhì lấy tên “closer” đi từ hạng 11 đến hạng 1 trên các Billboards trong vòng hai tháng. Bản You raised me up trong album này trở thành bản nhạc nhẹ rất được ưa chuộng trong các danh sách nhạc contemporary adult (nhạc đương thời cho người lớn).

Josh groban cũng đã hát một số bản nhạc cho các phim Troy, Polar Express, Linkin Park.

Sau đây mời các bạn nghe You raised me up, My December, Remember When it Rained, và Remember Me của phim Troy.
.

You raised me up

when I am down,
and oh my soul’s so weary
when troubles come
and my heart burdened be.
Then I am still
and wait here in the silence
until you come
and sit a while with me.

you raise up
so I can stand on mountains,
you raise me up
to walk on stormy seas,
I am stong
when I am on your shoulders,
you raise me up
to more than can be.

.

My December

This is my December
This is my time of the year
This is my December
This is all so clear
This is my December
This is my snow covered home
This is my December
This is me alone
And I
Just wish that
I didn’t feel
Like there was
Something I missed
And I
Take back all
The things I said
To make you
Feel like that
And I
Just wish that
I didn’t feel
Like there was
Something I missed
And I
Take back all the
Things I said to you
And I give it all away
Just to have somewhere
To go to
Give it all away
To have someone
To come home to
This is my December
These are my snow covered dreams
This is me pretending
This is all I need
And I
Just wish that
I didn’t feel
Like there was
Something I missed
And I
Take back all
The things I said
To make you feel like that
And I
Just wish that
I didn’t feel
Like there was
Something I missed
And I
Take back all the things
I said to you
And I give it all away
Just to have
Somewhere to go to
Give it all away
To have someone
To come home to
This is my December
This is my time of the year
This is my December
This is all so clear
And I give it all away
Just to have somewhere
To go to
Give it all away
To have someone
To come home to

.

Josh Groban – Remember When It Rained

Wash away the thoughts inside
That keep my mind away from you.
No more love and no more pride
And thoughts are all I have to do.

Ohhhhhh Remember when it rained.
Felt the ground and looked up high
And called your name.
Ohhhhhh Remember when it rained.
In the darkness I remain.

Tears of hope run down my skin.
Tears for you that will not dry.
They magnify the one within
And let the outside slowly die.

Ohhhhhh Remember when it rained.
I felt the ground and looked up high
And called your name.
Ohhhhhh Remember when it rained.
In the water I remain
Running down
Running down
Running down
Running down
Running down
Running down
Running down

.

Remember Me (trong phim Troy)

Remember, I will still be here
As long as you hold me, in your memory

Remember, when your dreams have ended
Time can be transcended
Just remember me

I am the one star that keeps burning, so brightly,
It is the last light, to fade into the rising sun

I’m with you
Whenever you tell, my story
For I am all I’ve done

Remember, I will still be here
As long as you hold me, in your memory
Remember me

I am that one voice in the cold wind, that whispers
And if you listen, you’ll hear me call across the sky

As long as I still can reach out, and touch you
Then I will never die

Remember, I’ll never leave you
If you will only
Remember me

Remember me…

Remember, I will still be here
As long as you hold me
In your memory

Remember, when your dreams have ended
Time can be transcended
I live forever
Remember me

Remember me
Remember… me…

Quê Hương trường ca – Đoạn 3

Khi sầu ùn lên trong mắt em buồn
Khi đỉnh hồn em như đã tắt đi ngọn lửa
Khi hoài vọng sắp nói lời giã từ bên cánh cửa
Khi mi em khép lại với tiếng thở dài
Khi nửa người em chết đi cùng nỗi khổ chôn vùi
Khi cánh cổng tha phương nặng nề đóng lại
Là em về quê hương
Là em
về
quê hương.

Quê hương đêm em đi tưởng không nhìn thấy lại
Tưởng không còn nhìn thấy nữa bao giờ sau năm năm xa
Năm năm xa với lao lung nước mắt đợi chờ
Năm năm xa với hồn đau nung đỏ
Với trái tim loang lổ
Năm măm xa…

Hôm nay trở về
Em run lên với niềm vui thầm kín
Với buồn đỏ chín
Như đứa con trở về sau ngày tháng đi hoang
Lãng phí tuổi đời nay trở lại quê hương
Hai tay trắng với mảnh hồn rách nát
Đứng sững trước cửa nhà mình như người từ cõi chết
Em trở về quê hương.

Quê hương
Quê hương đây rồi sao như là không phải quê hương
Sao mỗi khuôn mặt quen thân bỗng chốc hóa xa lạ
Tiếng nói câu cười quen thuộc quá
Sao lại xa như có cả không gian
Con mương nhỏ còn quen, mùi rạ cháy chưa quên
Gió và nắng vẫn còn trong niệm tưởng
Sáu đỉnh Chàbang chong mắt bên trời sừng sững
Cuộc sống lặng lẽ đi như tự thuở nào
Con đường cũ buổi trưa hè như mới hôm nao
Vẫn trần mình lũ trẻ con thả diều bay nắng
Hàng me cũ trường làng còn rũ buồn trong trưa lặng
Sao lại xa như có cả thời gian.

Hôm nay về với nước mắt chảy dài
Em nhìn quê hương – quê hương nhìn em, thầm lặng
Trên vầng trán chờ đợi đã hằn sâu. Im lặng
(Ngôn ngữ thành thừa nơi xứ cô đơn)

Ôi quê hương!
Ngày em về quê hương ôm em như chưa từng có em
Như quê hương có em lại rồi sau tháng ngày lưu lạc
Quê hương mãi dõi em đến tận cùng trái đất
Quê hương cho em sức mạnh bàn chân
Sức mạnh của con tim trong, cánh tay trần
Đứa con quê hương đi tìm quê hương – lang bạt
Đi tìm quê hương đứa con nay trở về trong nỗi khát
Cúi xuống ghì ôm quê hương như là chưa từng có quê hương

Inrasara

Mùa lễ hội Tây Nguyên

Tây nguyên , vùng đất mỗi bước chân đi là có một huyền thoại gắn liền với tên những nàng sơn nữ . Đằng sau những ngọn thác trắng xóa, cánh rững đại ngàn biếc xanh kia, có biết bao nhiêu điều bí ẩn, hãy thử một lần cùng dạo chơi trong mùa lễ hội của vùng cao nguyên đất đỏ nhé.

Không ở đâu có nhiều lễ thức như ở Tây Nguyên.Do tín ngưỡng “ vạn vật hữu linh” , nên bất cứ điều gì liên quan đến sản xuất và đời sống con người, đều phải có sự cầu xin để được cho phép của các Yang cho tiến hành .Xong việc, được việc phải tạ ơn. Vi phạm luật lệ cộng đồng khiến các yang nổi giận phải tạ tội….từ đó mà diễn ra dày đặc các lễ thức, lễ nghi, lễ hội.

Do có cùng một địa bàn cư trú trên phía Đông dãy núi Trường Sơn, cùng chung tín ngưỡng đa thần, nên sự tương đồng văn hóa tập quán giữa các tộc người, đặc biệt là trong lĩnh vực các lễ hội, cũng là điều tất yếu .

Hệ thống các lễ hội Tây Nguyên có thể chia làm ba nhóm theo ba tính chất nội dung như sau :

– Các Lễ nghi & Lễ hội theo nông lịch.

– Các Lễ nghi & Lễ hội theo vòng đời

– Các Lễ nghi & Lễ hội đối với những mối quan hệ ngoài cộng đồng.

Cả ba nhóm lễ nghi và lễ hội này, đều nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh, phục vụ cho hai đối tượng chủ yếu là toàn thể cộng đồng và gia đình cá thể.

Sự cố kết cộng đồng là một trong những cơ sở tồn tại của các tộc người Tây Nguyên, do đó, việc chăm lo cúng kiếng các vị thần linh,sao cho mọi hoạt động trong một năm của toàn thể cộng đồng được suôn xẻ, bao giờ cũng được các vị thủ lĩnh ( chủ bến nước, tù trưởng…) và hội đồng già làng hết sức coi trọng.

Có thể điểm lại một cách sơ lược một vài lễ hội cộng đồng chính trong đời sống Tây Nguyên :

Các lễ hội cộng đồng chính tính theo thời gian một năm

Những lễ thức theo nông lịch :

1- Lễ Cầu mưa :

Lễ cầu mưa

Thường diễn ra vào dịp tháng 3, tháng 4 hàng năm, khi thiên nhiên bắt đầu chuyển mùa, việc dọn sạch rẫy cũ hoặc khai hoang rẫy mới, được mọi gia đình bắt tay vào thực hiện.

Lễ cầu mưa sẽ tiến hành vào thời điểm sau khi một nửa số gia đình trong buôn, bon, kon, plei đã làm xong việc dọn cỏ, đốt rẫy. ( Rẫy mới phát lần đầu, rẫy hiện đang trỉa lúa sau khi thu hoạch mùa trước, để lại những gốc rạ , nay phải cuốc lên và đốt đi như một hình thức bổ xung tro cho đất; rẫy bỏ hoang nhiều năm cho đất tự hồi phục, nay đến thời hạn luân chuyển…vv…). Chủ làng sẽ cùng với các thày cúng, và một số già làng chuẩn bị cho lễ này.Lễ có thể diễn ra gần bến nước ngoài buôn, cũng có thể tổ chức tại sân nhà Rông, hoặc ngay tại sân nhà hay trong nhà của chủ bến nước ( tùy theo tập quán cư trú của mỗi tộc người).

Lễ vật hiến sinh chuẩn bị cho lễ cầu mưa lớn nhất chỉ là một con heo từ 3-5 gang

( khoảng 60kg) gà, rau và rượu cần không hạn chế số lượng, do toàn thể cộng đồng đóng góp ( tùy theo điều kiện kinh tế của mỗi gia đình, không có quy định nào về mức độ hay số lượng bắt buộc . Người không có của sẽ đóng góp bằng công phục vụ). Thày cúng sẽ khấn những lời bày tỏ nguyện vọng của cả cộng đồng cầu mong không chỉ nhanh chóng có mưa để tiến hành gieo trỉa, mà còn xin cho được một năm mưa gió thuận hòa, đủ nước cho cây lương thực, thực phẩm sinh sôi,phát triển, phục vụ nhu cầu ăn, uống trong cuộc sống hàng ngày của con người.

Người Bâhnar Rngao ở Kon Tum còn có lễ cầu mưa rất đặc biệt : trước tiên cúng thần Sấm ( Book Glaih) , nếu trời vẫn không mưa , sẽ phải cúng cả tình nhân của thần Sấm là Yang Đăk để nhờ xin hộ với thần làm ra mưa. Lễ vật hiến sinh là một con dê trắng và một con heo trắng.

2- Lễ mừng lúa mới :

Lễ mừng lúa mới

Đối với các tộc người theo nhóm ngữ hệ Môn – Khơ mer ( Nam Á), lễ ăn cơm mới thường được chủ làng, chủ giọt nước đứng ra tổ chức chung cho cả cộng đồng. Lễ thường được tổ chức vào dịp cắt những gùi lúa đầu tiên

( khác với lễ đóng cửa kho lúa của từng nhà sau khi đã thu hoạch xong. Cũng như khác với lễ ăn cơm mới của từng gia đình của nhóm các tộc người thuộc ngữ hệ Nam Đảo ) .

Lễ thường diễn ra ở sân nhà Rông, hoặc ở nhà chủ giọt nước ( chủ làng), vào dịp tháng 11 hoặc đầu tháng 12 dương lịch, có thể kéo dài trong 2 – 3 ngày, tùy theo mức độ mùa màng dự kiến sẽ thu được.Lễ vật hiến sinh trong ngày tổ chức ăn cơm mới có thể là heo, bò, đối với các nhóm tộc người ngữ hệ Môn –Khơmer thì nếu được mùa lớn ( thu được 100 gùi lúa trở lên) phải có ăn trâu.

Đây là một trong những lễ hội cộng đồng lớn của mọi tộc người trong năm, bởi sự no đủ đã nhìn thấy rõ. Con người cũng đến lúc cần được nghỉ xả hơi sau một quãng thời gian vất vả lao động, tạ ơn các vị thần linh đã phò trợ, giao đãi với dòng họ và bạn bè đã hỗ trợ trong năm.

Trong lễ hội này, người ta thường mời cả các buôn cận kề, họ hàng, hoặc con cái đã đi lấy vợ, hoặc lấy chồng ở các làng khác tới cùng chung vui, giao lưu, kết nghĩa cũng diễn ra .

3- Lễ cúng bến nước ( uống nước giọt, cúng máng nước) :

Lễ cúng bến nước

Nước là một nhu cầu thiết yếu của con người, nên đây cũng là một lễ tạ rất quan trọng của cả cộng đồng đối với các vị thần linh coi sóc bến nước, giọt nước hay máng nước.

Lễ này có thể diễn ra những ngày cuối năm, khoảng tháng 12 dương lịch, nhưng cũng có thể được tổ chức vào đầu năm mới, khoảng tháng 2 hoặc 3, sau khi đã thu hoạch hoàn tất mùa vụ.

Đến ngày đã định, cả làng phải tham gia vào việc dọn vệ sinh sạch sẽ trong ngoài buôn, bon, kon, plei, nhất là xung quanh bến nước, phát quang cây cỏ dại, thay thế những ống nước bị hư hỏng, khơi thông lại dòng chảy của nguồn nước. Lễ tổ chức ngay cạnh giọt nước, bến nước, gốc đa hoặc gốc cây blang giữa đường từ giọt nước về, để cảm tạ thần bến nước và tiếp tục cầu xin một năm mới có đủ nước dùng cho người, cho cây cối

( lương thực) .Con vật hiến sinh trong lễ này thường là heo, không ăn trâu bò và không thể thiếu những tiếng ching chiêng, những vòng múa xoang, vì đặc biệt phần hội của các lễ thức này rất được coi trọng. Những Lễ hội này người ta đều có mời các làng cận kề cùng tham dự trong tiếng ching chêng vang lừng và rượu chảy rong róc trong cần nứa uốn cong.

Lễ của gia đình , dòng họ

Thời tiết ở Tây nguyên chia làm hai mùa rõ rệt : mùa mưa , từ cuối tháng 4 đến tháng 10 dương lịch. Mùa khô, bắt đầu từ cuối tháng 10 cho đến đầu tháng 4 sang năm. Cuối mùa mưa , khi hàng ngàn những bông hoa mnga phí ( dã quỳ ) khoe sắc vàng rực rỡ khắp mọi nẻo đường, đung đưa trong gió và cái nắng cũng vàng chói lọi của bầu trời Cao nguyên, ấy là vụ thu hoạch mùa màng đã tới, nhà nhà nhộn nhịp gặt hái . Sau đó là đến vụ nông nhàn . Người lao động nghỉ ngơi , bước vào “mùa ăn năm uống tháng”. Mọi lễ lạt không liên quan gì đến lịch sản xuất nông nghiệp (như đám cưới , bỏ mả , chúc sức khỏe …) cũng đều tập trung trong mùa khô, kéo dài từ khi gặt lúa sớm ( cúng hồn lúa , ăn cơm mới …), cho đến tận mùa dọn rẫy tháng 4 năm sau . Lúa bắp đã chất đầy sang mdliê ( kho lúa ), cái no đủ , dư thừa đã thấy rõ . Đây là lúc nghỉ ngơi , cho bõ những tháng ngày mặt sấp , lưng ngửa cùng trời đất . Đây cũng là lúc phải cảm tạ các thần linh , baó hiếu cùng cha mẹ , vui chơi giao đãi với bạn bè , tiễn đưa năm cũ , đón mừng một năm mới đến… Do đó bao giờ các lễ cũng đông vui , trở thành ngày hội của một buôn làng , cả vùng , hay chỉ của một gia đình , dòng họ .

Bất cứ một gia đình nào trong buôn làng có việc phải cúng kiếng,là bà con dù trong hay ngoài dòng họ , cũng đều kéo đến tham gia giúp đỡ , đóng góp công sức hay vật chất. Dù chỉ một bó rau , gùi củi , hay lon gạo , trái bí , ghè rượu ..vv.. đều được gia chủ trân trọng đón nhận , cảm tạ .

Những lễ cúng của một gia đình ngày nay thường không thành “ hội”. Nhưng thuở xưa, lễ của nhà các tù trưởng, các chủ bến nước hay của các nhà giàu, có địa vị nào đó trong buôn, trong bộ tộc, thường mời nhiều khách sang trọng, khách xa gần ăn uống kéo dài 5-7 ngày . Trong lễ , để giúp vui sẽ mời các nghệ nhân đến kể trường ca, cổ tích .Trai gái tụ tập thách đố nhau , thi tài bằng văn vần , hát đối đáp , hoặc chơi các trò chơi phổ biến trong dân gian , để thi tài , thi khỏe… Do đó phần sau của lễ trở thành hội . Những lễ cúng của cả buôn , hay cả vùng cai quản của một tù trưởng lớn , như : cúng bến nước , vào mùa săn bắn , ăn mừng năm mới , đâm trâu mừng được mùa… càng đông vui kéo dài “lễ thành hội” là như thế .

Mùa “ăn năm uống tháng ” ở Tây nguyên thường vào cuối năm cũ , đầu năm mới, tức là đã vào mùa xuân. Xuân Tây nguyên đến vào tháng Ba , trước khi mùa mưa bắt đầu chừng hai, ba tháng. Lúc này cây cối đâm chồi nảy lộc , hoa nở , ong bướm bay rợp trời . Cảnh quan cũng tạo nên cho con người niềm hứng khởi . Đồng bào không gọi ăn Tết , nhưng một số vùng cũng có lễ hội đón năm mới, một hình thức tạ ơn chung với các thần linh đã phù trợ cho trong năm cũ . Cầu các Yàng tiếp tục bảo trợ cho năm mới .

Người Êđê gọi là “ mnăm thun mrâo”.Người Jrai gọi là“ bơng tơ kuh thun”.

Ông chủ làng, các già làng, thày bói, thày cúng cùng nhau bàn định lựa chọn ngày tháng xong xuôi, sẽ phân công đàn ông tu sửa nhà Rông cho gọn gàng , sạch sẽ. Vào rừng chọn cây để làm cột Gơng ( như cột nêu của người Kinh ) . Cột có thể làm bằng tre , hoặc bằng thân cây gòn ( thứ cây gỗ trắng , mềm , dễ đẽo gọt ). Trong những lễ cúng lớn người Tây nguyên bao giờ cũng dùng lễ vật tế thần là con trâu , buộc vào những cây cột này. Đồng thời chủ làng cũng thông báo cho cả plei (buôn ) biết ngaỳ đã được chọn để tổ chức lễ cúng .

Đến ngày đã định, cả plei Jrai tụ tập về nhà rông , ăn mặc váy áo , khố đẹp , mới, mang nhiều vòng cổ , còng tay , chân bằng đồng , bạc , hoặc các chuỗi hạt cườm. Nhà nào có bộ chiêng quý , chiếc trống lớn , tiếng hay , sẽ được huy động mang tới góp vui . Con trâu hoặc bất cứ một con vật dùng để hiến tế nào , sẽ được dắt tới buộc vào cột Gơng.Bên cạnh đặt cái nia đựng các lễ vật khác như : rượu, muối , lúa , ngũ cốc… vừa thu hoạch xong .

Chủ làng cùng các già làng đến tận nhà mời thày cúng ra làm lễ . Sau khi đã khấn khứa với các Jàng , trần tình cùng con trâu ( Trâu ở Tây nguyên thường chỉ dùng cho các cuộc tế lễ , không được xử dụng vào bất cứ một lao động nào ), rằng : vì quyền lợi của cả cộng đồng mà trâu phải thay cho người bày tỏ với mọi thầìn linh tấm lòng thành của gia chủ , hoặc buôn làng… Sau đó là nghi lễ đâm trâu ( nếu có ). Người ta lấy chiếc đầu và đuôi trâu đặt lên dàn cúng , đốt những chiếc đèn bằng sáp ong và bắt đầu khấn vái , mời gọi các Jàng mà họ cho là tốt bụng , đã có lòng phù trợ cho buôn làng làm ăn sinh sống thuận lợi năm qua , và khẩn cầu tiếp tục được giúp đỡ trong năm tới.

Cúng xong , những ai đã được cắt cử sẽ xẻ thịt trâu cho phụ nữ nấu đồ ăn. Hội đồng gìa làng ( phôn pô bút) lên nhà Rông với thày cúng và các nhân vật quan trọng khác trong plei , bàn chuyện làm ăn trong năm mới . Những người không có việc ở nhà Rông thì về nhà minh nấu cơm nếp , làm thêm đồ ăn , để đến giờ quy định , lại tập trung về nhà Rông , góp cỗ chung cùng cả làng . Ai không góp cơm thịt thì góp rượu ghè . Đến trước giờ ăn chung , sau khi đã bày dọn trên nhà Rông , thày cúng lại một lần nữa khấn vái , rồi cả buôn cùng vào tiệc .

Rượu càng vơi , mọi người càng hào hứng trong tiếng chiêng trống rộn ràng . Trai gái nắm tay nhau chung vui trong nhịp múa xoang , bước chân rậm rịch , men rượu ngấm la đà , chẳng còn ai có thể đứng ngoài vòng xoang nữa . Ai mệt thì nghỉ ,ai đói thi ăn, ăn uống xong lại tiếp tục . Tới khi cạn nguồn tiếp tế cơm rượu thịt , có khi đã vài ba ngày .

Sau hội chung của cả plei , nhà nào muốn cúng riêng thì cứ tự tổ chức và mời mọc họ hàng , bè bạn .

Mong sao mỗi độ xuân về, lên Tây Nguyên du khách còn được tham dự nhiều những lễ hội hồn nhiên của cộng đồng cư dân bản địa.

Linh Nga Niê Kdăm

Lời khuyên của mẹ

Jiun, một thiền sư thời Sứ Quân, là một học giả tiếng phạn Sanskrit nổi tiếng đời Tokugawa. Khi còn trẻ, Jiun thường thuyết giảng cho các thiền sư khác.

Mẹ Jiun nghe điều này và viết cho chàng một lá thơ:

“Con, mẹ không nghĩ là con muốn theo Phật vì con muốn trở thành một quyển tự điển sống cho mọi người. Chẳng có giới hạn nào cho thông tin và lý giải, vinh quang và danh dự cả. Mẹ mong con bỏ hết các việc thuyết giảng này. Vào tu trong một thiền am nhỏ tại một góc núi xa. Dùng thời gian để thiền và nhờ đó mà có thể giác ngộ.”

Bình:

• Tokugawa Yoshinobu (28.10.1837-22.11.1913) là Sứ Quân (Shogun) cuối cùng của Nhật Bản, cho đến ngày chế độ sứ quân chấm dứt (1868).

Jiun (1718-1804) là một vị sư Chân Ngôn Tông (Shingon) và là một nhà cải tổ Phật giáo thời Tokugawa ở Nhật. Jiun chú trọng vào giáo dục Phật học và cải tổ đạo đức trong tâm ta. Jiun rất giỏi về mọi khía cạnh của Phật pháp, viết các sách dạy tiếng phạn Sanskrit đầu tiên ở Nhật, và thành lập ngành học về luật (vinaya) trong Chân Ngôn Tông.

• Bài viết này nêu lên vấn đề chúng ta thường nghe các vị thầy lớn của nhân loại nói tới nói lui rất thường xuyên: Đừng lệ thuộc vào ngôn từ để tìm trí tuệ và chân lý.

Lão tử nói: “Đạo mà có thể gọi là đạo thì không là đạo vĩnh viễn, tên mà có thể gọi là tên thì không là tên vĩnh viễn.”

Phật gia dạy ta không nên chấp vào “danh sắc.” Danh là tên, chỉ ngôn ngữ, tức là “không nên chấp vào ngôn ngữ.”

Chữ nghĩa ngôn từ cực kỳ giới hạn, hơn nữa lại tạo ra rối rắm nhiều hơn là trí tuệ. Khi anh chị yêu nhau, chỉ nhìn nhau không nói mà có thể hiểu nhau sâu thẳm. Khi hai vợ chồng sắp ly dị, một từ “ăn” chỉ có 2 mẫu tự, cũng chẻ ra, không chỉ làm 2 mà là 200 lần, để có lý do gây lộn ngày đêm.

Hiểu biết và chân lý không đến qua ngôn từ mà qua cảm xúc và trực giác. Tôi biết em yêu tôi vì tôi cảm được điều đó và trực giác (biết ngay) điều đó, mà chẳng cần ngôn ngữ hay lý luận. Hiểu biết và trí tuệ, về quả tim con người và chân lý của cuộc đờì, đến từ cảm xúc và trực giác. Ngôn ngữ và l‎ý luận nếu có giúp thì may ra chỉ là 1 phần trăm.


• Ngôn ngữ và l‎ý luận giúp thì ít mà hại thì có thể nhiều. Học trò mới học luận l‎ý thích dùng ngôn từ để lảm nhảm lý luận đủ kiểu và họ cho như thế là biết. Cho đến vài mươi năm sau, nếu họ có tiến bộ, họ sẽ khám phá ra là họ đã chẳng biết gì hết và đã chỉ tốn thời giờ gây lộn.

Hơn nữa, lý luận, ngôn ngữ, và thuyết giảng, thường đi theo các tràng pháo tay và các ca tụng cho giảng viên, chỉ làm cho “cái tôi” của giảng viên dễ bị ung thối.

• Tĩnh lặng (thiền) giúp cho chúng ta làm đằm cái tôi xuống (không lý luận, không tranh cãi, không có các tràng pháo tay…) và “nghe” được “cảm xúc” và những “cảm nhận” của mình về chính mình, vể người khác, và về thế giới quanh mình. Đó mới là cách để hiểu biết và có được trí tuệ.

• Mẹ Jiun, chứ không phải là bố, viết thơ khuyên bảo, nghĩa là phụ nữ thường giỏi hơn hơn đàn ông về cảm xúc và trực giác. Đàn ông thường lạc trong ngôn ngữ và lý luận.

• Mẹ còn có nghĩa là “tâm.” Mẹ ta là tâm ta. Và tâm ta muốn ta phải tĩnh lặng để có thể giác ngộ, tức là để tâm trở lại được căn tính trong sáng của tâm.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

A Mother’s Advice

Jiun, a Shogun master, was a well-known Sanskrit scholar of the Tokugawa era. When he was young he used to deliver lectures to his brother students.

His mother heard about this and wrote him a letter.:

“Son, I do not think you became a devotee of the Buddha because you desired to turn into a walking dictionary for others. There is no end to information and commentation, glory and honor. I wish you would stop this lecture business. Shut yourself up in a little temple in a remote part of the mountain. Devote your time to meditation and in this way attain true realization.”

# 20

La Bamba

500 Greatest Songs of All Times

Chào các bạn,

Có lẽ đa số chúng ta quen thuộc với bản hát tươi vui La Bamba của Ritchie Valens. Ritchie phổ biến bản này năm 1958 và biến nó thành một bản nhạc nổi tiếng quốc tế. Nhưng là Bamba là dân nhạc và dân vũ truyền thống của tiểu bang Veracruz, Mexico.

Ritchie Valens là một nhạc sĩ Mỹ gốc Mexico. Sinh ngày 3 tháng 5 năm 1941 tại Los Angeles, với tên thật là Richard Steven Valenzuela. Ngày 2 tháng 3 năm 1959, Ritchie Valens tử nạn máy bay cùng hai nhạc sĩ nhạc rock Mỹ là Buddy Holly và The Big Bopper, thọ 18 tuổi. Ngày này được xem là Ngày Âm Nhạc Chết (The day the music died) trong văn hóa âm nhạc Mỹ.

Năm 1987, đạo diễn Luis Valdez làm phim La Bamba, do Lou Diamond Phillips đóng vai Ritchie Valens, nhưng với giọng ca thật của Ritchie.

Báo nhạc Rolling Stone xếp La Bamba hạng 354 trong 500 Bài hát hay nhất mọi thời đại.

Sau đây mời các bạn xem

1. Video clip của phim La Bamba.

2. Video dân vũ La Bamba của tiểu bang Veracruz, Mexico, trong đó cô dâu và chú rể là người vũ chính, dùng chân thắt nút nơ, tượng trưng cho nghĩa vợ chồng, cùng với sự phụ họa của các phù dâu phù rể.

3. Video La Bamba do Los Lobos trình diễn.

Chúc các bạn một ngày Bamba!!

Video clip, phim La Bamba, tài tử Lou Diamond Phillips, giọng ca Ritchie Valens

Dân vũ La Bamba của Veracruz, Mexico

La Bamba — Los Lobos

Vui hay lo? – Một dụ ngôn

Phật nói một dụ ngôn trong kinh:

Một người đàn ông đi ngang cánh đồng và gặp con cọp. Anh ta chạy, cọp đuổi theo. Chạy đến một vực sâu, anh nắm rễ của một dây leo và nhảy xuống vực. Con cọp đứng trên vực đợi anh. Run rẩy, anh ta nhìn xuống đáy vực, một con cọp khác đang đợi dưới đáy để ăn anh. Chỉ có sợi dây leo đang giữ anh lại.

Hai con chuột, một trắng một đen, đang gặm sợi dây leo. Anh thấy một quả dâu chín mọng gần anh. Một tay nắm sợi dây leo, tay kia anh hái trái dâu. Ngọt ơi là ngọt!

Bình:

• Truyện này có nhiều phiên bản hơi khác nhau chút đỉnh, và nhiều người có những cách giải thích khác nhau. Chúng ta sẽ giải thích chuyện này theo tinh thần Thiền tông.

• Cọp trên vực và cọp ở dưới vực, tượng trưng cho điều không tránh được—đó là sự chết. Và cũng tượng trưng cho hai giới hạn của đời người: Cọp sau lưng (trên vực) là quá khứ, cọp trước mặt (dưới vực) là tương lai.

Đời người nằm giữa quá khứ và tương lai. Sơi dây leo tượng trưng cho đời người.

Chuột trắng chuột đen là biểu tượng của ngày và đêm, đưa con người dần đến sự chết.

Cuộc sống chỉ tạm thời, và ta nhất định sẽ có ngày chết.

• Thế trái dâu là tượng trưng cho điều gì?

Khoái lạc tạm thời làm cho ta si mê mà quên mất cái nguy đang gặp (như một số người giải thích)?

Nhưng nếu không ăn dâu cho thỏa thích, thì làm gì bây giờ?

• Tâm thiền là tâm rỗng lặng, không lo lắng về sự chết, không gánh nặng quá khứ và không lo sợ cho tương lai.

Sống thật là sống “ở đây lúc này.” Đừng lo chuyện không lo được. Trước cọp sau cọp, nếu đến lúc phải chết là ta sẽ phải chết, không cưỡng được, không thể chọn lựa được.

Nhưng trái dâu trước mặt, ta có cơ hội chọn lựa. Một là hưởng mật ngọt của nó, hai là để sợ hãi làm ta không thấy được trái dâu, không hưởng được nó.

Thiền là không lo sợ. An lạc vui sướng với “lúc này ở đây”.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

A Parable

Buddha told a parable in a sutra:

A man traveling across a field encountered a tiger. He fled, the tiger after him. Coming to a precipice, he caught hold of the root of a wild vine and swung himself down over the edge. The tiger sniffed at him from above. Trembling, the man looked down to where, far below, another tiger was waiting to eat him. Only the vine sustained him.

Two mice, one white and one black, little by little started to gnaw away the vine. The man saw a luscious strawberry near him. Grasping the vine with one hand, he plucked the strawberry with the other. How sweet it tasted!

#18

Giới thiệu bài hát Santa Lucia

Santa Lucia là một trong những bài hát nổi tiếng của dòng nhạc Neapolitan, là thể loại nhạc hát bằng ngôn ngữ của vùng Naples nước Ý, thường do một giọng nam hát solo. Đây là bài hát ca ngợi thành phố Naples và vùng Santa Lucia ở vịnh Naples.

Lời bài hát là những lời mô tả người lái thuyền về phong cảnh của vùng Santa Lucia khi màn đêm buông xuống và ánh trăng phản chiếu trên mặt biển. Người lái thuyền kể với chúng ta về sự kì diệu khó diễn tả khi nhìn những con thuyền dong khơi thật nhẹ nhàng và lướt đi bởi những làn gió. Người lái thuyền mời chào mọi người lên thuyền và không ngớt lời ca ngợi cảnh đẹp của biển và thành phố Naples.

Bài hát này cũng được dùng phổ biến trong ngày lễ thánh Lucy vào 13 tháng 12 hàng năm tại các nước Bắc Âu như Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch, Ai-xơ-len, Latvia, Estonia, Phần Lan, Ý…Trong ngày lễ này một cô gái sẽ được chọn để làm biểu tượng của thánh Lucy. Cô mặc váy trắng dài với dải băng màu đỏ và đội vương miện bằng nến. Đi sau cô là những người phụ nữ, mỗi người cầm một cây nến, thể hiện ngọn lửa đã khước từ lấy đi sự sống của thánh Lucy khi bà bị trừng phạt và buộc phải chết thiêu. Họ cất vang bài Santa Lucia khi bước vào làm lễ nhà thờ.

Mời các bạn nghe giai điệu của Santa Lucia qua các giọng ca của Elvis Presley và Mario Lanza

1. Elvis Presley

.

2. Mario Lanza
.

Sul mare luccica l’astro d’argento.
Placida è l’onda, prospero è il vento.
Sul mare luccica l’astro d’argento.
Placida è l’onda, prospero è il vento.
Venite all’agile barchetta mia,
Santa Lucia! Santa Lucia!
Venite all’agile barchetta mia,
Santa Lucia! Santa Lucia!

Con questo zeffiro, così soave,
Oh, com’è bello star sulla nave!
Con questo zeffiro, così soave,
Oh, com’è bello star sulla nave!
Su passegieri, venite via!
Santa Lucia! Santa Lucia!
Su passegieri, venite via!
Santa Lucia! Santa Lucia!

In fra le tende, bandir la cena
In una sera così serena,
In fra le tende, bandir la cena
In una sera così serena,
Chi non dimanda, chi non desia.
Santa Lucia! Santa Lucia!
Chi non dimanda, chi non desia.
Santa Lucia! Santa Lucia!

Mare sì placida, vento sì caro,
Scordar fa i triboli al marinaro,
Mare sì placida, vento sì caro,
Scordar fa i triboli al marinaro,
E va gridando con allegria,
Santa Lucia! Santa Lucia!
E va gridando con allegria,
Santa Lucia! Santa Lucia!

O dolce Napoli, o suol beato,
Ove sorridere volle il creato,
O dolce Napoli, o suol beato,
Ove sorridere volle il creato,
Tu sei l’impero dell’armonia,
Santa Lucia! Santa Lucia!
Tu sei l’impero dell’armonia,
Santa Lucia! Santa Lucia!

Or che tardate? Bella è la sera.
Spira un’auretta fresca e leggiera.
Or che tardate? Bella è la sera.
Spira un’auretta fresca e leggiera.
Venite all’agile barchetta mia,
Santa Lucia! Santa Lucia!
Venite all’agile barchetta mia,
Santa Lucia! Santa Lucia!

CHÀO NĂM 2010

CHÀO NĂM 2010

Ngày đầu năm mới là lúc chúng ta tạm ngưng công việc trong một khoảng thời gian nào đó để chào đón năm mới, lắng đọng tâm hồn mình và làm mới những hồi ức đẹp đẽ và hướng đến những hi vọng và niềm vui mới.

Thân ái chúc các bạn của Đọt Chuối Non một năm mới 2010 an lạc, tràn đầy sức sống, với những hi vọng tươi xanh, những tin yêu trong trái tim luôn hồng để chúng ta trân quý và tận hưởng niềm vui của từng ngày trong 365 ngày sắp đến.

Chúc Đọt Chuối Non của chúng ta phát triển như những đọt chuối xanh lan tỏa sắc màu của tư duy tích cực thêm dài rộng và sâu gốc rễ trong lòng nhiều người con Việt gần xa

Mình chờ được đọc những lời chúc năm mới từ các bạn mà khởi đầu là của một bạn nào dịch từ video CHÚC MỪNG NĂM MỚI GỬI TẶNG TẤT CẢ CÁC BẠN dưới đây

Mời các bạn thưởng thức một số hình ảnh về Topiary: nghệ thuật cắt tỉa cây cảnh, nghệ thuật tạo hình cây cảnh rất đẹp. Topiary, nghệ thuật tạo hình cây cảnh ở một tầm cao đã góp phần làm đẹp không gian sống và bảo vệ môi trường xanh cho bao thế hệ con người.
Xin cám ơn bạn Hồng Phúc đã gửi link này cho mình. Mình đã để dành cho hôm nay chia sẻ cùng các bạn.

Các bạn click vào hình bên dưới để xem 42 slides Topiary rất xanh tươi

Và nếu bạn có hứng thú muốn tìm hiểu thêm vể Topiary, các bạn đọc và xem ở link sau :

http://shnpost.com/d%C6%A1%CC%80i-so%CC%81ng/khong-gian-s%E1%BB%91ng/tao-hinh-cay-canh-cho-logo-va-khong-gian-song-17363/

CHÀO NĂM 2010 THỊNH VƯỢNG VÀ HẠNH PHÚC HƠN NĂM 2009 CHO TẤT CẢ CHÚNG TA

Happy 2010

Chúc cả Vườn Chuối–admins, tác giả, commentors, fans, đọc giả, bạn bè–một năm mới dồi dào sức khỏe, ít stress, nhiều tình (loại tình không stress 🙂 ), nhiều niềm vui, nhiều hạnh phúc…

Cách chắc ăn nhất để gặp nhiều may mắn là sờ bụng ông Phật Béo, cho nên ta có một ông đây, để các bạn sờ bụng lấy hên.

Happy 2010 !!
.

Nguyên Lý Đầu Tiên

Nếu đến chùa Obaku ở Kyoto ta sẽ thấy một dòng chữ khắc “Nguyên Lý Đầu Tiên”. Các chữ này lớn lạ thường, và những người rành thư pháp luôn luôn thán phục chúng như là những tác phẩm hàng đầu. Các chữ này do Kosen viết hai trăm năm về trước.

Lúc viết, thiền sư viết trên giấy, sau đó các nghệ nhân làm bản khắc lớn hơn bằng gỗ. Trong khi thiền sư viết, có một người đệ tử bạo gan ở bên cạnh, vị này đã hòa nhiều lít mực cho thiền sư để viết mấy chữ này và luôn luôn phê bình thư pháp của thiền sư.

“Chưa được,” vị đệ tử nói với Kosen sau lần viết đầu.

“Cái này thì sao?”

“Nghèo nàn. Dở hơn cái trước,” vị đệ tử nói.

Kosen kiên nhẫn viết hết tờ này đến tờ khác cho đến khi 84 chữ “Nguyên Lý Đầu Tiên” đã được viết, mà vị đệ tử vẫn chưa đồng ý.

Rồi, khi vị đệ tử bước ra ngoài một lúc, Kosen nghĩ: “Đây là cơ hội để mình thoát được con mắt sắc bén của hắn,” và thiền sư viết vội vã, với tâm trống rỗng mọi tạp niệm. “Nguyên Lý Đầu Tiên.”

“Một tác phẩm tuyệt vời,” vị đệ tử tuyên bố.

Bình:

• Ta không thể làm gì tốt nếu ta bị phân tâm. Lý‎ do phân tâm có thể là lý do rất tầm thường như là có học trò đứng phê phán. Ta có thể lo lắng và phân tâm rất phi lý‎, như là thầy sợ trò chê, chuyên gia sợ người không biết gì chê…

• Rộng hơn, trong đời sống hàng ngày, ta có thể bị phân tâm bởi đủ thứ tạp niệm: Sợ mọi người chê cười, sợ mất uy tín, sợ có người giận, sợ không ai khen… Các tạp niệm này làm ta phân tâm hàng ngày và chẳng làm được gì tốt.

• “Tâm trống rỗng mọi tạp niệm”—còn gọi là Vô Tâm–là Nguyên Lý đầu tiên của Thiền.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The First Principle

When one goes to Obaku temple in Kyoto he sees carved over the gate the words “The First Principle.” The letters are unusually large, and those who appreciate calligraphy always admire them as being a masterpiece. They were drawn by Kosen two hundred years ago.

When the master drew them he did so on paper, from which workmen made the larger carving in wood. As Kosen sketched the letters a bold pupil was with him who had made several gallons of ink for the calligraphy and who never failed to criticize his master’s work.

“That is not good,” he told Kosen after the first effort.

“How is that one?”

“Poor. Worse than before,” pronounced the pupil.

Kosen patiently wrote one sheet after another until eighty-four First Principles had been accumulated, still without the approval of the pupil.

Then, when the young man stepped outside for a few moments, Kosen thought: “Now is my chance to escape his keen eye,” and he wrote hurriedly, with a mind free from disctraction. “The First Principle.”

“A masterpiece,” pronounced the pupil.

# 19

Auld lang syne – Những ngày đã xa – Bản nhạc giao thừa


Chào các bạn,

Auld lang syne là một bản nhạc ai trên thế giới cũng biết, và đương nhiên là người Việt Nam nào cũng biết. Tuy nhiên lời chính thức thì có lẽ là đại đa số người đều chỉ biết có một lời chính thức: Ò e Rô-be đánh đu, Tặc-dăng nhảy dù, Zô-rô bắn súng, chết cha con ma nào đây, thằng Tây hết hồn, thằn lằn cụt đuôi. 🙂 Và tên Việt Nam chính thức của bản nhạc là “Ò E” 🙂

Auld lang sine là môt bài thơ phổ thành nhạc theo âm điệu dân ca truyền thống của Tô Cách Lan (Scotland), do Robert Burns viết năm 1788. Burns gởi bản nhạc vào Viện Bảo Tàng Âm Nhạc Tô-Cách-Lan với dòng chữ: “Bản nhạc sau đây là một bản nhạc cổ xưa, chưa bao giờ được in ra, chưa bao giờ được viết xuống, cho đến khi tôi ghi lại từ một ông cụ.”

Auld lang sine là tiếng Tô Cách Lan cũ, có nghĩa là “old long since”, hay “long long ago” and “in the days gone by”–lâu lắm rồi, ngày xửa ngày xưa…

Auld Lang Syne

Should old acquaintance be forgot,
and never brought to mind ?
Should old acquaintance be forgot,
and old lang syne ?

CHORUS:
For auld lang syne, my dear,
for auld lang syne,
we’ll take a cup of kindness yet,
for auld lang syne.

And surely you’ll buy your pint cup !
and surely I’ll buy mine !
And we’ll take a cup o’ kindness yet,
for auld lang syne.

CHORUS

We two have run about the slopes,
and picked the daisies fine ;
But we’ve wandered many a weary foot,
since auld lang syne.

CHORUS

We two have paddled in the stream,
from morning sun till dine† ;
But seas between us broad have roared
since auld lang syne.

CHORUS

And there’s a hand my trusty friend !
And give us a hand o’ thine !
And we’ll take a right good-will draught,
for auld lang syne.

CHORUS

Những ngày đã xa

Nên quên đi thân thuộc cũ
Và không bao giờ nhớ lại?
Nên quên đi thân thuộc cũ
Và những ngày đã xa?

ĐIỆP KHÚC:
Cho những ngày đã xa, bạn quý
Cho những ngày đã xa
Chúng ta sẽ nâng chén ân cần
Cho những ngày đã xa.

Và chắc chắn là bạn sẽ mua cho bạn một ly
Và chắc chắn là tôi sẽ mua cho tôi!
Và chúng ta sẽ nâng ly ân cần,
Cho những ngày đã xa.

ĐIỆP KHÚC

Hai đứa tôi đã chạy trên những triền đồi
Hái hoa cúc dại
Nhưng chúng tôi đã lang thang những đôi chân mệt mõi
Từ những ngày đã xa

ĐIỆP KHÚC

Hai đứa tôi đã chèo trong suối
Từ sáng đến giờ cơm tối
Nhưng những con biển rộng giữa chúng tôi đã gào thét
Từ những ngày đã xa

ĐIỆP KHÚC

Và có một bàn tay, người bạn tin cẩn ơi!
Và giúp chúng tôi một tay!
Và chúng ta sẽ uống một ly tốt bụng
(Hay: Và chúng ta sẽ chèo đúng và tốt bụng)
Cho những ngày đã xa.

ĐIỆP KHÚC

(TĐH dịch)

Khỏi cần phải nói ta cũng biết là bản này được chơi khắp thế giới khi chuông giao thừa điểm 12 giờ đêm.

Sau đây mời các bạn đón giao thừa với vài video clips về Auld Lang Syne.

1. Auld Lang Syne, nhạc nền chính trong phim “Waterloo Bridge”.

2. Auld Lang Syne, do Dougie McLean hát bằng tiếng Tô-cách-lan.

3. Andre Rieu, trình tấu violin với các nhạc sĩ bag pipes của Tô-Cách-Lan.

Happy New Year! Chúc Mừng Năm Mới!
.

Auld Lang Syne – Theme of the film “Waterloo Bridge”


.

Robert Burns – Auld Lang Syne As sung by Dougie MacLean in Scottish, on the album Tribute

.

Andre Rieu – Auld lang syne 2006 (with Scottish bagpipes)

Tìm về bến nước

Bình minh âu yếm nâng nhẹ tấm khăn sương che chiếc gương bạc của nàng tiên H’Lung dắt ngang đỉnh trời tròn, từ từ hiện ra hàng ngàn đóa sen trắng, sen hồng đung đưa trên mặt nước biêng biếc. Đang giữa mùa sen, gió đẫm hương mát ngọt. Thuyền độc mộc đi đánh cá, rời bến từ lúc bóng đêm còn loãng, đang đua nhau tung lưới. Trong ánh hồng e thẹn của bình minh, nhìn từ xa, các vàng lưới tung lên như những tấm mạng nhện khổng lồ. Bóng người chống thuyền, thả lưới rung rinh uốn lượn trong sương như điệu múa mời rượu pah kngan rông yang của các nàng sơn nữ. Phía tây hồ, đỉnh Cư Yang Sin hiện dần như vóc dáng chàng Lăk cường tráng đang trìu mến ấp ủ, chở che gương mặt xinh đẹp của người tình.

Đứng trên hiên nhà sàn, Y Tlang hít một hơi thật dài khoan khoái. Bao nhiêu mệt nhọc của một ngày đi bộ hôm qua, gió thơm dừơng như mang đi hết. Chào amí chủ nhà, vịn lên đôi bầu vú căng mẩy chạm đầu thang xuống sàn, Pie Y Tlang và H’Zen quả quyết rảo bước về phía buôn Phơi. Lại đi. Lại hỏi. Nữ thần lúa Yang Hri có bảy người con gái, mỗi nàng là một loại giống. Trong một cơn giận dữ của cha rừng, bảy người con lạc mẹ. Việc H’Zen phải tìm cho ra bảy giống lúa, bảy người con gái thất lạc đã khó, nhưng tìm cho ra gốc rễ của Pie Y Tlang còn khó hơn. Đức Cha Phrancis đã đưa anh về Pháp từ bốn mươi bảy năm trước đây, lúc còn đỏ hỏn như con chuột nhắt mới sanh. Trước lúc đi về cõi vĩnh hằng, Đức Cha mới tiết lộ và khuyên Y Tlang nên đi tìm lại nguồn cội của mình. Sáu tháng trời về tới thành phố Hồ Chí Minh, nhờ mục nhắn tin của báo Tuổi Xanh, cả sự nhiệt tình của Ban bạn đọc, Y Tlang mới gặp được kỹ sư nông nghiệp H’Zen, tìm được người bảo lãnh để về đến cái hồ trên đỉnh cao nguyên, cao hơn mặt biển tới hơn bảy trăm mét này.

Cũng may, H’Zen lại đang được giao đề tài “ Giống lúa rẫy truyền thống của đồng bào Tây Nguyên”, chị mới có dịp đưa Y Tlang đi tìm bến nước gốc cội của anh, kết hợp với việc truy tìm các giống lúa cũ. Hai người đã đến nhiều bến nước Êđê, gặp hàng chục người già không còn đếm được số mùa rẫy đã qua, mà vẫn chưa tìm ra manh mối gì. Tất cả vẫn còn phủ một tấm màn bí ẩn. Hôm nay, H’Zen khuyên Y Tlang chuyển hướng sang tìm ở các bon Mnông.

H’Zen đã lần lượt mở toang ra từng cánh cửa mà đôi chân Pie Y Tlang run rẩy mỗi lần bước qua. Đây là cội nguồn của anh ư? Quê hương của anh đó ư? Mông muội? Hoang dã? Hay chính là những gì trong suốt nhất, hơn cả giọt sương, hơn cả nắng trời, vượt lên trên tất cả? Anh sẽ phải tiếp nhận hay chối bỏ “ nó” đây? Những câu hỏi cứ nhay đi nhay lại trong tâm trí Y Tlang như một lưỡi cưa cùn. Có lúc anh đã muốn bỏ chạy, vứt lại sau lưng tất cả. Thế là đủ rồi, không cần biết điều gì hơn nữa.Nhưng rồi anh cũng lại thấy cần phải đi cho đến tận cùng của sự tìm kiếm. Bởi thật là ngỡ ngàng trước những gì nhìn thấy, nghe thấy và gặp gỡ. Nó chẳng có chút nào chung với cuộc đời bốn mươi bảy năm ở nơi “ kinh đô ánh sáng” mà Y Tlang đã sống. Nhưng lại như giúp anh lần giở từng trang một cuốn sách đầy những điều hấp dẫn. Này nhé, người Êđê ở những nhà sàn mang hình dáng con thuyền, dài đến “ một hơi ngựa chạy ”. Cả buôn dựng nhà theo hướng Bắc –Nam, san sát nhau như các con thuyền độc mộc chiều về neo lại nơi bến nước. Bon làng Mnông lại là những căn nhà trệt nằm kề nhau, mái tranh lợp rủ dài sát đất, tròn như những chiếc nấm mối. Khách muốn vào nhà Êđê phải leo cầu thang đằng trước, vịn tay lên bầu vú gỗ để đến được với không gian mẫu hệ. Nhà Mnông lại có hai cửa hình vòng cung cùng mở về hướng đông, thấp lè tè. Bước qua cửa nào cũng gặp bếp lửa cháy quanh năm. Giữ gìn lửa là việc sống còn của con người giữa rừng đại ngàn. Lửa soi sáng mọi việc làm trong nhà. Lửa nấu chín thức ăn. Lửa xua cái lạnh giá những tháng mưa rừng. Lửa phừng phừng da thịt gái trai thương nhau…Nhà dài Êđê mỗi bếp lửa, mỗi ngăn là một cặp vợ chồng con cái. Người Mnông chỉ có hai bếp lửa chung. Một sạp nứa dài suốt chiều ngang nhà, kêu răng rắc mỗi khi có người bước lên bước xuống. Đây là chỗ ngủ chung của cả đại gia đình lẫn khách. Mọi đôi chân đều hướng ra bếp lửa. Ấm chân sẽ ngủ yên cả đêm, dù chỉ đắp một tấm chăn thổ cẩm mỏng.

H’Zen đang lúi húi bên bếp với mẹ chủ nhà. Y Tlang nằm tựa đầu lên chiếc gối gỗ, đối diện với cửa bên trái, chỗ nằm của khách. Từ đây có thể nhìn xa sang tận bên kia hồ, tới chỗ cánh đồng lớn mênh mang viền quanh bờ Nam. Cánh đồng như một tấm lụa xanh, Mẹ Đất âu yếm choàng cho cô con gái yêu. Hoang sơ, tĩnh lặng, tưởng như đang ở vào thời khắc của chàng dũng sỹ Dam San và nàng H’Nhi thuở trước. Đầu Y Tlang đau như có ai đem búa nên vào…

– Tha lỗi cho Cha, từng ấy năm đã giấu con sự thật. Cha đã từng nghĩ phải để cho con xa hẳn, quên hẳn nguồn gốc man rợ của mình. Nhưng về trước Chúa, Cha không có quyền đem đi bí mật của đời một con người. ..Có Chúa chứng giám…Chắc cha mẹ con trên thiên đàng cũng sẽ hài lòng….Cha…đã…làm hết sức mình để con nên người….Ai cũng có nguồn cội con ạ. Phải trở về thôi….rất tiếc, đã từ rất lâu…Cha không có liên hệ gì với bên ấy….Nhưng con cứ…đến giáo xứ Lạc Thiện…cái hồ…..núi Yang Sin…hỏi…ông…

Tiếng cười đắc thắng của Thần Chết cắt ngang câu nói hổn hển khó nhọc của vị linh mục già. Đồng loạt các quả chuông lớn nhỏ trong mái của nhà thờ xứ rung lên não nề. Bóng áo choàng đen cao lênh khênh, tay lưỡi hái, tay dắt linh hồn vượt qua vòm trần cao thăm thẳm, bay về vô định. Bàn tay Đức Cha Phrancis tuột khỏi đầu Pie Y Tlang, biến thành chiếc cánh vẫy vẫy. Y Tlang cuống cuồng ngẩng lên, đuổi theo

– Đừng bỏ con Cha ơi! Cha! Tìm ông gì Cha ơi…

Đuôi chiếc áo choàng đen quật vào ngực anh đau điếng. Y Tlang mở mắt nấc nghẹn. Chao ôi! Cái hồ hơn năm trăm héc ta mặt nước. Họ đã đi nửa số buôn bản địa quanh nó. Mấy lần trăng? Mấy mùa rẫy Y Tlang mới đi giáp vòng? Mới tìm được cái nơi mẹ đã cắt nhúm nhau, cha đã chôn cuống rốn cho anh? Mà người ta có ở mãi một chỗ đâu. Tìm đến chỗ này là buôn mới, buôn cũ đã dời đi từ hồi bệnh dịch thổ tả hoành hành. Đến chỗ nọ, rẫy cũ đã hết màu, bon làng phải dắt díu nhau đi tìm vùng rẫy khác. Thời chiến tranh còn chạy giặc, dồn dân gom về các ấp chiến lược. Từ ngày thống nhất hai miền, cũng đã vài đợt quy hoạch định canh định cư rồi. Mà Y Tlang đâu có biết mình vốn gốc Êđê hay Mnông đâu để tìm chứ?

– Cha đặt tên con là Y Tlang. Con chim Tlang pút vẫn hót bên cửa số nhà thờ của Cha ở bên cạnh hồ, mỗi sáng sớm…

Cứ đi, cứ hỏi. Mà hỏi ở đâu? Tìm ở đâu? Hỏi ai? Mẹ ơi, cha ơi! Con lại phải tiếp tục sống trong mù mờ thế này bao lâu nữa?

Chiều đang mờ dần trên mặt hồ. Bóng tối trong nhà đã đặc như cắt được. Chợt có tiếng thoang thoảng :

– Về đi con! Những người Mẹ mang con đằng trước, mang gùi đằng sau, không khi nào chối bỏ con cái của mình đâu…

Y Tlang bật dây, thoáng như thấy một phụ nữ tóc dài chấm gót, váy quấn ngang cặp vú, đôi vai trần loang loáng nước, uyển chuyển lướt qua cửa. Bà tan biến trong sương đêm đang mỗi lúc một dày lên.

*

Mệt mỏi. H’Zen và Y Tlang leo lên chiếc xe đò đầy bụi về thành phố Buôn Ma Thuột. Nóc xe chất cao nghệu những sọt hàng chở đầy ốc, cá , lươn…Họ phải về vì đã đi gần trọn tháng. H’Zen thiu thiu ngủ. Y Tlang không dứt khỏi được những ý nghĩ triền miên, lặng lẽ ngó mông ra ngoài cửa xe. Vùng đất này đến lạ, vượt qua những qủa đồi cao với những dãy núi đá thấp chen đất đỏ bạc phếch, những rừng cây lưa thưa, là gặp những cánh đồng rộng đến khó tin.Lúa xanh mơn mởn trải dài đến tít tận chân núi xa. Chơ vơ giữa đồng, một thân cây với đầy những cụm hoa lớn trắng xóa. Đứa trẻ chăn trâu chạy vụt qua, những cụm hoa lay động, biến thành cả trăm con cò trắng táo tác bay lên trong nắng. Bầy cò hợp thành đàn lớn, giang cánh bay về phía núi xa, như một dải lụa trắng phơi ngang nền trời xanh trong vắt. Cái màu xanh ngăn ngắt của bầu trời cao nguyên sao diệu kỳ đến vậy. Dường như không giống với màu xanh của bất cứ một vùng trời nào Y Tlang đã từng thấy, ngay cả bầu trời ở vùng ngoại ô Paris đầy cây xanh mà anh đã lớn lên. Màu xanh ở đây cứ trong vắt, thăm thẳm, nó hợp với chàng gió phóng khoáng tạo nên sự bao la đến vô tận. Giá không có những người phụ nữ váy kéo ngang đầu gối, đang lom khom cấy lúa, làm cỏ, chắc người ta ngỡ đang ở một vùng đồng bằng hay trung du nào đó. Chợt Y Tlang há hốc miệng, chồm lên thành xe, thò hẳn đầu ra ngoài : một người đàn ông mặc độc chiếc quần cộc, phơi tấm lưng trần loáng mồ hôi nâu bóng, vạm vỡ, đang đuổi…voi cày ruộng. Con voi thủng thẳng nhấc từng chiếc chân to như cột nhà, lội bì bõm trong đám bùn. Đuôi ngoe nguẩy như làm nũng với ông bố đang cầm cày phía sau, nhưng vòi lại hít đầy nước ruộng phun lên thằng bé đang nhảy chồm chộp bắt dế trên bờ ruộng. Người đàn ông nhẫn nại đẩy chiếc cày, lật lên những tảng đất bùn đen bóng.

Ôi ! Có biết bao nhiêu điều bí ẩn kỳ lạ mà ta chưa từng được thấy. Có phải quê hương ta thực đó không? Giá mà được sục chân trong đám bùn mát rượi kia. Giá mà được nằm lăn trên đám cỏ mịn dưới gốc cây knia đơn độc giữa đồng ấy. Giá mà được lắc lư trên bành voi đi trong bóng râm mát của rừng đại ngàn? Mẹ ơi! Mẹ chối bỏ con ư ?

Con đường làm từ thời Pháp đến nay, chưa được tu sửa lớn lần nào, xóc dữ dội.Chả trách người ta gọi là Lắc. Đường hẹp chỉ đủ hai xe tránh nhau. Một cái xóc nảy người, quăng cả H’Zen lẫn Y Tlang chúi về phía trước. Từ lúc lên xe, quá mệt mỏi và mải suy nghĩ, bây giờ họ mới chợt nhận thấy : ngồi thu lu trên chiếc ghế đẩu đặt thêm cạnh thùng máy, ngay trước mặt hai người là một ông già dáng nhỏ thó.Tóc ông loăn xoăn trắng như bông blang, xòa xuống tận cổ, viền quanh khuôn mặt đen cháy, đầy nếp nhăn xếp nếp như thân cây bằng lăng cỗi. Hai bàn chân khô đét đầy bụi đường, ngón cái xòe ra tách hẳn với những ngón chân kia, kẹp chặt chiếc dép bằng da bò, co hết lên trên chiếc ghế nhỏ. Tẩu thuốc đen bóng dính chặt trên môi. Đôi mắt ông đã sùm sụp nhưng vẫn ánh lên vẻ tinh anh của người già được coi là thông thái trong buôn. Một chiếc áo không tay dày cộm, cứng queo, luốc luốc màu đà khoác trên vai. H’Zen nhận ra chiếc áo bằng vỏ cây đập dập rất kỹ. Ông lão lạc lõng với xung quanh như vừa bước ra từ câu chuyện cổ về con lươn thần của hai chàng Lăk, Liêng. Một tia sáng lóe lên trong đầu, H’Zen tỉnh ngủ hẳn :

– Ti ih nao ? ( Ông đi đâu vậy?)

Mắt nheo nheo, hai lỗ mũi nở bung, phì ra một đám khói đặc, khét lẹt mùi lá thuốc gốc, thủng thẳng ông nói từng tiếng :

– Đi Buôn Thuật! Cho đứa cháu chứng dùm lại cái giấy cách mạng ghi cho mình đóng góp voi từ hồi chống Pháp.

– Ông mấy lần rẫy rồi?

– Cái bầu khô từ hồi Âe Tăng mình bỏ vô, mấy con cháu đếm được tám mươi sáu hòn đá suối đấy.

– Ti anôk buôn ih? ( Ông ở buôn nào?)

– Buôn Du đó chớ đâu.

Y Tlang chồm tới vồ lấy hai bàn tay như hai chiếc lá đa úa khô, lắc lắc:

– Ông ơi, buôn Du hồi xưa có ai đưa con nít mới sinh cho Đức Cha người Pháp nuôi không ông?

– Để coi coi…Ôi Yang ạ. Cái đầu mình khô như hạt giống trong bầu rồi đấy…

Cặp mắt lại nheo nheo, lại một đám khói đặc khét lẹt che mờ cả khuôn mặt ông lão. Ánh mắt ông bỗng lờ đờ, lờ đờ như đang lạc vào cõi hư vô nào xa lắc…

*

Tiếng ching báo có người chết rầm rập nổi lên từ cuối buổi chiều, các bà í ới xôn xao gọi nhau suốt các nhà dài, từ cây blang đầu buôn, tới bến nước cuối buôn :

– Con H’Liang nó tắt hơi rồi đấy. Nghe tiếng ching báo không?

– Amí Tin ơi, bà sang đó giúp thay váy áo cho nó với.

– Ơ amí Son. Mày ghé bà Chàm lấy mấy cuộc chỉ màu tết sợi dây cúng hồn nhé.

– H’ Yên ! Ở đâu rồi? Con xúc cho amí một nồi ba gạo mang sang nhà cô H’Liang nhé…

Nhà H’Liang không lúc nào ngớt người lên xuống. Sàn nứa rung rinh kêu ràm rạp. Vịn đôi bầu vú gỗ đến nơi cầu thang đằng trước là đàn ông, người mang cột gơng cúng thần, kẻ vác ché rượu, anh khiêng nồi nước, thoăn thoắt nối bước chân nhau. Thang đằng cuối nhà, cô cõng gùi gạo, chị xách con gà, bà nọ hấp tấp chạy sai bọn trai trẻ bổ thêm củi, mấy cô gái gùi thêm bầu nước. Khói đặc sệt từ các bếp lửa dưới sân nhà rung rinh theo nhịp ching, nhịp chân. Các ông oang oang cắt cử người đào huyệt, kẻ tạc tượng, bác làm hòm, cháu bẻ lá nhét vô ghè rượu. Xì xào là tiếng các bà bàn tán sự đẻ khó của H’Liang, tính toán số gạo phải giã, đồ ăn phải đủ cho ba ngày cúng đám. Vượt lên trên những tiếng nhộn nhạo ấy, như một cánh chim chấp chới hốt hoảng, là tiếng khóc của thằng bé mới sinh. Nhăn nhúm như một trái cà dái dê để héo, nó ngoác cái miệng đói sữa mà gào lên từng chặp. Bà đỡ bồng nó đung đưa, vỗ về, kể lể. Mặc ! Nó cứ gào bằng cái giọng đến là chói tai. Đôi lúc bà lão đút ngón tay út vô miệng cho nó mút. Không nhận được chút gì, nó lại nhả ra la chói lói. Dường như thằng bé linh cảm thấy số phận của nó chẳng khác gì rừng đêm không trăng. Pap mnai – tội nghiệp cái thằng ! Cha nó cách nay ba lần con trăng treo vì bắn hụt con hổ thọt, bị nó xé xác trong một đêm săn. Một mình mẹ nó, cái bụng khệ nệ như chiếc trống h’gơr, hết lên rẫy cuốc cỏ, lại xuống suối xúc cá, mò ốc. Chắc không muốn mẹ mang nặng, nên chưa tới ngày tháng đủ, thằng nhỏ đã quẫy đạp đòi ra, khiến amí nó ngã dụi, bao nhiêu máu trong người ào ra cả bờ suối như nước trong bầu dội xuống. Lúc bà đỡ phát vô cái mông bé teo cho nó khóc, cũng là lúc mẹ nó tắt làn hơi cuối cùng, không kịp mở mắt nhìn thấy mặt con. Nó khóc ngằn ngặt từ lúc đó. Ác cái là mẹ nó mồ côi, là người cuối cùng của dòng họ H’Druê ở buôn này. Còn cha nó, lưu lạc từ đâu tới, cả buôn không ai biết rõ, ở làm nô lệ nhà người ta, tới lúc thương nhau, mẹ nó mang tất cả những vật dụng quý còn lại của gia đình, sang nộp cho Âe Tăng làm lễ hỏi và cưới cha nó. Cả dàn ching Lao quý giá pha đồng đen, lẫn bộ ché Tuk, ché Tang ba đời, lớn nhỏ mười cái, mới chuộc được cha. Lúc cha mẹ nó về ở chung, chỉ còn cái nhà trống lổng. Gió đuổi nhau chạy từ cửa phía Bắc sang cửa đằng Nam, không gặp cái gì ngăn lại. Còn bây giờ á, không có người đặt tên cho nó. Càng không có ai để mang tên nó, mẹ nó cứ mãi là H’ Liang với hai mươi mùa rẫy. Cha nó cũng vẫn cứ là Y Rit. Chẳng ai được buôn làng gọi ama thằng nọ, amí thằng kia theo tập tục nữa. Thằng bé vẫn cứ khóc không lặng.

– Tội nghiệp thằng nhỏ quá đi. Buôn mình sao lúc này không có ai đang nuôi con bú hè?

– Con H’Liang có còn bà con nào ở buôn gần, buôn xa không? Đem thằng nhỏ tới đó gửi.

– Đâu có còn ai ! Chắc phải chôn nó theo mẹ thôi. Lời luật tục ông bà ta là thế đó.

– Bếp mình nhận nuôi nó được không amí?

– Đâu có được. Mình không phải bà con, cũng không có người đang còn sữa, làm sao làng cho nhận. Nuôi không nổi nó còn khổ hơn. Phải làm cái hòm rộng cho mẹ nó mang đi theo thôi. Sau này về nhà ai cũng có mẹ có con. Luật tục khít như vậy rồi.

– Ama ! Cái ông áo đen, tóc vàng như râu bắp đó, là ai vậy ?

– A! Đó là người Cha ở nhà thờ buôn Tâng Jú. Con trai buôn mình có người học cái chữ với ông đó mà…

Từng hồi chiêng tang lễ vẫn dồn dập, dai dẳng.

*

Pie Y Tlang ngồi lặng nơi đầu sàn, ngó ra mặt hồ. Chiều, như cô gái tắm, hờ hững buông rơi tấm choàng hoàng hôn. Hàng đàn chim kiú quáo gọi nhau về tổ, cánh chấp chới chao nghiêng in trên nền trời đỏ. Xa xa, những cành thủy tùng khô khỏng, tạc vào chiều như bao nhiêu cánh tay níu kéo, kêu gọi.

Tiếng ching đón khách rộn rã trong nhà ông Ama Nhen, cháu ba đời của Âe Tâng. Không biết có yang nào phù trợ vượt được mọi đổi thay, mà ngôi nhà sàn dài này đã chứng kiến gần cả trăm lần sen tàn, sen nở trên hồ Lăk rồi. Những cây cột một vòng tay ôm, chiếc ghế kpan độc mộc dàn chiêng đang ngồi, dài hàng sải tay; cả chiếc jhưng nơi ông chủ nhà nằm ngủ mỗi đêm bên bếp lửa, đều đã đen bóng như thoa nhọ nồi.

Y Tlang gục đầu. Tay phải vô tình cứ xoay xoay chiếc vòng đồng mà thày cúng sau khi khấn khứa các vị thần linh thiêng, đã lồng vào cổ tay trái cho anh. Tiếng chiêng dội trong ngực anh đau nhói.

– Thế rồi cuối cùng con cũng tìm được bến nước của mình, mẹ ơi.

– Con ơi! Mấy chục mùa gió nổi nay, cha mẹ cứ bay vật vờ như con mối, vì không có người bỏ mả, không thoát được bến nước này, làm sao theo phù trợ cho con được. Nhưng con đã về đây rồi, núi này, rừng nọ, bến nước đây sẽ không bỏ rơi con đâu. Ơ con của mẹ….

Lời khấn của Pô riu yang âm âm trên mặt hồ lãng đãng phủ kín hơi sương :

– Tôi gọi ông Du, ông Diê. Tôi gọi ông Gỗn trên làng trời. Tôi gọi bà Dung bà Dai dưới đất. Tôi gọi hồn mẹ hồn cha phơ phất. Hãy nhận lấy con mình lạc nơi bến nước lạ, nay đã về được với bến nước mẹ cha. Xin các yang cho cái tay nó khỏe như hùm beo, cái chân nó mạnh như heo rừng. Cho của cải của nó tầng tầng như lá cây, tình anh em tràn đầy như nước suối.Ơ Yang !

– Nhưng mẹ ơi, nơi này con đâu còn có ai?

– Còn chớ con ! Bến nước đầu buôn nơi mẹ đổ máu sanh con. Rừng xanh ở đây máu cha con đã đỏ gốc. Cái rốn con chôn chỗ này. Nước sương nơi đây con đã uống. Đó chính là sức mạnh của rừng, đất đã cho con. Bà con đó sẽ là anh em. Buôn làng đó sẽ là nhà con.

– Mẹ! Mẹ ơi!

– Cha mẹ luôn ở mãi với con đây con à.

Y Tlang se sẽ rùng mình. Bàn tay nào vừa vuốt nhẹ từ trên đầu xuống mặt anh.

Vẫn là tiếng chiêng ấy, bây giờ ngân nga ca hát. Tiếng ching dội vang trên mặt hồ, chạy theo những con sóng lăn tăn, gọi vầng trăng mười sáu to như chiếc nong phơi lúa, nhô lên khỏi mặt nước. Những con ruà, con chim, kỳ đà trên xà nhà như được ánh trăng đánh thức, động đậy, động đậy. Y Tlang vươn người đứng dậy hít căng lồng ngực hơi nước mát lành. Anh như mỗi lúc một lớn bổng lên, tràn đầy sinh lực.. Quay lại, H’Zen đã đứng bên cạnh từ lúc nào. Tiếng ching rộ lên đón chào, vây bọc lấy hai người, ấm áp. Lung linh, lung linh, mặt nước bạc xôn xao, chở tiếng ching vui về bao bến nước….

Linh Nga Niê Kdăm

Chuyện đời Shunkai

Gian nhân tuyệt sắc Shunkai, còn có tên là Suzu, bị bắt phải lấy chồng khi còn rất trẻ. Sau đó, khi cuộc hôn nhân chấm dứt, nàng đi học đại học, và học triết.

Thấy Shunkai là phải yêu nàng. Hơn nữa, đi đâu nàng cũng yêu. Tình yêu đến với nàng ở đại học, sau đó, khi triết lý không thỏa mãn nàng, nàng vào thăm một ngôi chùa để học Thiền, và thiền sinh si mê nàng. Cả đời nàng thấm ướt tình yêu.

Cuối cùng, ở Kyoto nàng trở thành một thiền sinh thật sự. Các bạn thiền sinh nam ở chùa Kennin đều ca ngợi sự thành tâm của nàng. Một người trong số thiền sinh nam có tâm ‎ý tốt và giúp nàng trong việc thực tập thiền.

Vị thầy trụ trì chùa Kennin là Mokurai, có nghĩa là Sấm Lặng, rất khó khăn. Thầy giữ gìn lề luật nghiêm nghặt và muốn các học trò cũng như thế. Trong nước Nhật của thời đại mới, nhiệt tâm nào các vị sư đã mất về Phật học các vị hình như tìm lại được về các bà vợ. Thầy Mokurai phải lấy chổi đuổi các bà đi khi thấy bà nào trong chùa. Nhưng thầy đuổi nhiều chừng nào, các bà ùa vào lại nhiều chừng nấy.

Trong chùa này, bà vợ của sư trưởng tràng ghen với cố gắng và sắc đẹp của Shunkai. Nghe các học trò ca ngợi sự tập Thiền nghiêm chỉnh của Shunkai, bà khó chịu không yên. Cuối cùng bà phao tin đồn về Shunkai và người thiền sinh đang giúp đở cô. Hậu quả là anh ta và Shunkai bị đuổi ra khỏi chùa.

“Tôi có thể là đã lầm lỗi trong tình yêu,” Shunkai nghĩ, “nhưng bà này cũng không thể ở trong chùa nếu bạn của tôi bị đối xử bất công.”

Đêm đó, Shunkai mang một thùng dầu lửa, đốt rụi ngôi chùa 500 tuổi. Sáng ra cảnh sát bắt nàng.

Một luật sư trẻ thích nàng và cố để giảm án cho nàng. “Đừng giúp tôi,” nàng bảo anh ta. “Có thể là tôi sẽ quyết định làm cái gì đó, lại mang tôi vào tù nữa.”

Cuối cùng, sau khi ở đầy đủ bản án 7 năm , Shunkai được thả khỏi nhà tù, nơi một vị quản giáo 60 tuổi đã yêu cô.

Nhưng bây giờ mọi người nhìn nàng là “tội phạm”. Chẳng ai muốn liên hệ với nàng. Ngay cả các thiền nhân, những người đáng lý ra là tin vào sự giác ngộ ở đời này với thân thể này, cũng tránh xa nàng. Thiền, Shunkai khám phá ra, là một chuyện nhưng các thiền nhân lại là một chuyện khác. Thân nhân nàng cũng không dính dấp với nàng. Nàng lâm bệnh, nghèo, và yếu.

Nàng gặp một vị sư vị sư Tịnh độ tông dạy nàng hồng danh Đức Quán Thế Âm, và nhờ đó nàng tìm được an ủi và bình an trong tâm. Nàng qua đời khi còn rất đẹp và chưa đến 30 tuổi.

Nàng viết câu chuyện về đời nàng trong một nỗ lực hoài công để kiếm sống, và kể lại một phần cho một nhà văn nữ. Vì vậy câu chuyện đời nàng đến với độc giả Nhật. Những người đã xua đuổi nàng, mạ lị nàng, ghét bỏ nàng, giờ đây đọc về cuộc đời nàng với những dòng nước mắt ăn năn.
.

Bình:

• Hồng nhan đa truân.

Nghiệp duyên…
Hay luật công bằng? “Càng nhiều sắc đẹp càng nhiều gian truân. Chữ tài liền với chữ tai một vần”?

• Nhưng…

Chuyện này nói về Shunkai, hay thực ra là nói về chúng ta, những người đang sống?

Chúng ta hay ghen ghét với người có sắc, có tài, có cái gì đó hơn ta. Cho nên người đẹp, người tài, người hấp dẫn, thì đi đâu cũng thường có kẻ thù… Và những người này khi gặp hoạn nạn, dù là oan ức, thì cũng không ai muốn đở cho họ, vì tính ghen ghét nói “Cho đáng đời!”

kỳ thị, cư xử với nhau bằng nhãn hiệu. Thấy người đã có tiền án thì lánh xa, ruồng bỏ (dù họ đã trả hết tội trong tù rồi).

đạo đức giả. Người sống thì ruồng bỏ, người đã chết thì mới nhỏ nước mắt. Tại sao? Vì người đã chết thì không còn gì đề ghen, cho nên bây giờ mới khóc được.

Vậy thì…

Yêu người thì hãy yêu người sống. Yêu bằng hành động thật sự, nhất là khi người ta gặp hoạn nạn. Và yêu không lệ thuộc vào nhãn hiệu.

• “Buddha of love” ở đây là Quán Thế Âm Bồ tát. Nhưng nhiều người ở Nhật còn dùng “Buddha of Love” như là một trong những tên và diện mạo của Phật Di Lặc (Maitreya hay Metteyya). Tên này có từ maitrī (Sanskrit) hay mettā (Pāli), có nghĩa là “loving-kindness” (từ bi), là các chữ đến từ chữ mitra (Sanskrit) hay mitta (Pāli) và có nghĩa là “bạn”.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Story of Shunkai

The exquisite Shunkai whose other name was Suzu was compelled to marry against her wishes when she was quite young. Later, after this marriage had ended, she attended the university, where she studied philosophy.

To see Shunkai was to fall in love with her. Moreover, wherever she went, she herself fell in love with others. Love was with her at the university, and afterwards, when philosophy did not satisfy her and she visited a temple to learn about Zen, the Zen students fell in love with her. Shunkai’s whole life was saturated with love.

At last in Kyoto she became a real student of Zen. Her brothers in the sub-temple of Kennin praised her sincerity. One of them proved to be a congenial spirit and assisted her in the mastery of Zen.

The abbot of Kennin, Mokurai, Silent Thunder, was severe. He kept the precepts himself and expected his priests to do so. In modern Japan whatever zeal these priests have lost of Buddhism they seem to have gained for their wives. Mokurai used to take a broom and chase the women away when he found them in any of his temples, but the more wives he swept out, the more seemed to come back.

In this particular temple the wife of the head priest became jealous of Shunkai’s earnestness and beauty. Hearing the students praise her serious Zen made this wife squirm and itch. Finally she spread a rumor about Shunkai and the young man who was her friend. As a consequence he was expelled and Shunkai was removed from the temple.

“I may have made the mistake of love,” thought Shunkai, “but the priest’s wife shall not remain in the temple either if my friend is to be treated so unjustly.”

Shunkai the same night with a can of kerosene set fire to the five-hundred-year-old temple and burned it to the ground. In the morning she found herself in the hands of the police.

A young lawyer became interested in her and endeavored to make her sentence lighter. “Do not help me,” she told him. “I might decide to do something else which would only imprison me again.”

At last a sentence of seven years was completed, and Shunkai was released from the prison, where the sixty-year-old warden had become enamored of her.

But now everyone looked upon her as a “jailbird.” No one would associate with her. Even the Zen people, who are supposed to believe in enlightenment in this life and with this body, shunned her. Zen, Shunkai found, was one thing and the followers of Zen quite another. Her relatives would have nothing to do with her. She grew sick, poor, and weak.

She met a Shinshu priest who taught her the name of the Buddha of Love, and in this Shunkai found some solace and peace of mind. She passed away when she was still exquisitely beautiful and hardly thirty years old.

She wrote her own story in a futile endeavor to support herself and some of it she told to a woman writer. So it reached the Japanese people. Those who rejected Shunkai, those who slandered and hated her, now read of her live with tears of remorse.

Annotation:

  • Beauty and suffering.

Karma…

Or the rule of compensation? “More beauty, more suffering. Gain rhymes well with pain”?

  • But…

This story is about Shunkai, or is it indeed about us, the living?

We are jealous of people with talents, beauty, or something better than ours. Hence, beautiful people, talented people and attractive people have enemies every where they go. When these people are met with misfortune, even unfairly, no one wants to help them. Jealousy likes to say: “They deserve it!”

And we discriminate, treating each other with labelism. Seeing an ex-convict, we stay away from her, even denying her (though she already paid her dues in jail).

And our hypocracy! We have shooed away the living and now she is dead, we shed tears for her. Why? Because, the dead has nothing to be jealous of?

So…

If we love people, then let’s love the living. Let’s love by action, especially when they are in distress. And let’s love without depending on the labelism.

(Trần Đình Hoành annotated)

Giao thừa Thiên Niên Kỷ 1999-2000 New York Times Square

Chào các bạn,

10 năm trước đây cả thế giới tưng bừng đón không chỉ là năm mới, và thế kỷ mới, mà là thiên niên kỷ mới. Chúng ta rất may mắn được đón một sự kiện chỉ xảy ra 1000 năm một lần.

Time Square New York, nơi Trái Cầu Năm Mới rơi hàng năm vào nửa đêm để điểm giao thừa, đã có đến con số kỷ lục 2 triệu người tham dự lễ hội. Có lẽ phải rất nhiều năm nữa Times Square mới phá được kỷ lục đó.

Thiên Niên Kỷ mới đã được chào đón với hy vọng tràn trề cho một thế giới đầy hòa bình và tình yêu. Nhưng chỉ hơn một năm sau 11.9.2001 thay đổi mọi sự.

Giao thừa này, 31.12.2009 sẽ là kỷ niệm 10 năm giao thừa thiên niên kỷ. Hãy xem lại giao thừa lịch sử đó tại Time Square New York. 🙂

.

New Year’s Eve, 1999 Into 2000, ABC


.