Tag Archives: Văn Hóa

Thiền của Joshu

Joshu bắt đầu học Thiền lúc 60 tuổi và tiếp tục cho đến 80, lúc ngài đạt Thiền.

Joshu dạy Thiền từ năm 80 cho đến 120 tuổi.

Một ngày nọ môt đệ tử hỏi Joshu: “Nếu con không có gì trong tâm hết, con phải làm gì?”

Joshu trả lời: “Ném nó ra.”

“Nhưng con không có gì hết, làm sao mà ném ra được?” người đệ tử hỏi tiếp.

“Vậy thì,” Joshu nói, “khiêng nó ra.”
.

Bình:

• “Không có gì trong tâm” sao lại hỏi?

Có nguyên một câu hỏi nặng vậy mà nói là không có sao được!

Lần thứ nhất thầy bảo ném nó ra ngoài. Nhưng lại hỏi tiếp, thầy biết là câu hỏi này nặng quá, không ném được, phải khiêng ra ngoài.

• Tâm Thiền là tâm rỗng lặng, chẳng có gì trong đó hết–Vô tâm (no-mind).

• Joshu là tên Nhật của thiền sư Trung Quốc tên Triệu Châu, mà chúng ta đã nói đến qua công án Con Chó Của Triệu Châu trong bài Dạy kiểu hà tiện

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Joshu’s Zen

Joshu began the study of Zen when he was sixty years old and continued until he was eighty, when he realized Zen.

He taught from the age of eighty until he was one hundred and twenty.

A student once asked him: “If I haven’t anything in my mind, what shall I do?”

Joshu replied: “Throw it out.”

“But if I haven’t anything, how can I throw it out?” continued the questioner.

“Well,” said Joshu, “then carry it out.”

# 41

Maya Angelou và Danh ngôn

Ngoài rất nhiều bài thơ hay được dùng trong chương trình giảng dạy các cấp trung học và đại học, bà rất nổi tiếng và được yêu mến với nhiều danh ngôn.

Các bạn sẽ xem một file Power Point về danh ngôn của Maya Angelou do chị Trần Lê Tuý Phượng soạn rất công phu với hơn 30 hình ảnh minh hoạ là những bông hoa thật đẹp được hai anh chị Trần Liệt Hùng và Phạm Kiêm Yến ghi lại

Xin các bạn click vào hình bên dưới để xem và download file


.

Tiếp theo mời các bạn xem một file video với những hình ảnh về hoạt động và cuộc đời của nữ thi hào Mỹ da đen Maya Angelou mà ba bài thơ của bà đã được anh Trần Đình Hoành và Lê Vĩnh Tài dịch trên ĐCN
.
http://www.youtube.com/watch?v=QiImfyTBiUY

Bài hát Tiếng Anh là nhạc nền trong file này là When I See You Smile với ca từ như sau:

*
Sometimes I wonder
How I’d ever make it through
Through this world
without having you
I just wouldn’t have a clue
And sometimes it seems
Like this world’s closing in on me
And there’s no way of breaking free
Then I see you reach out for me
Sometimes I wanna give up
Wanna give in
I wanna quit the fight
then one look at you baby
can make everything all right
make everything alright

When I see you smile
I can face the world
Oh you know that I can do anything
When I see you smile
I see a ray of light
Oh I see it shining
right through the rain
When I see you smile
Baby when I see you smile at me

Baby there’s nothing in this world that could ever do
What the touch of your hands can do
It’s like nothing I ever knew
ooooohhhh
And when the rain is falling
I don’t feel it
Cause you’re here with me
and one look at you baby
It’s all that I’ll ever need
It’s all that I’ll ever need

When I see you smile
I can face the world
Oh you know that I can do anything
When I see you smile
I see a ray of light
Oh I see it shining
right through the rain
When I see you smile
Baby when I see you smile at me

Sometimes I wanna give up
wanna give in
wanna quit the fight
Then one look at you baby
can make everything alright
make everything alright

When I see you smile
I can face the world
Oh you know that I can do anything (that i can do anything)
When I see you smile (baby when i see you smile)
I see a ray of light( I see a ray of light)
Oh I see it shining
right through the rain (baby when i see you smile)
When I see you smile
I can face the world
Oh you know that I can do anything
When I see you smile
Baby when I see you smile at me
when i see you smile.. baby when i see you smile..
aaaattt me..aaattt me
*
.

Ngoài ra xin giới thiệu một file video để luyện nghe tuyệt vời. Đó là lời giới thiệu của Maya Angelou về cuốn sách của bà
Letter to My Daughter (ấn bản được bán từ tháng 9/ 2008).
Về cuốn sách này sẽ có một bạn trẻ dịch mấy lời đề từ của tác giả giới thiệu (song ngữ)trên ĐCN ngày mai
.

Thân ái chúc các bạn một ngày vui với công việc, gia đình và Đọt Chuối Non </em

Nguyễn Thanh Tùng: Cậu bé mù trở thành đại sứ âm nhạc

Chào các bạn,

Mình rất thích tiếng đàn bầu, cây đàn một dây thuần túy Việt Nam với những âm thanh ai oán của dân nhạc miền Nam.

Dĩ nhiên là đàn bầu có thể phát ra âm thanh cho mọi loại nhạc, kể cả rock and roll của Mỹ, nhưng đàn bầu chỉ đạt được đỉnh cao của nó với những lời nhạc đứt ruột của dân ca miền Nam–dân ca của những người biệt xứ, từ Bắc hay Trung bị đày vào miền Nam làm đồn điền cao su cho Pháp, hay đào sình đắp mương để khai phá miền Nam. Những lời ca của những kẻ xa nhà, tâm tư heo hút.

Và tiếng đàn của chàng nghệ sĩ mù Nguyễn Thanh Tùng có lẽ là tiếng đàn bầu hay nhất mình đã từng được nghe. Hôm nay chúng ta sẽ đọc về cuộc đời lạ thường và tiếng đàn tuyệt diệu của Nguyễn Thanh Tùng qua bài báo Thanh Niên năm 2007 và một số youtube videos. Continue reading Nguyễn Thanh Tùng: Cậu bé mù trở thành đại sứ âm nhạc

Giải Nobel văn chương cho Việt Nam, tại sao chưa?

    (Bài viết được trích trong tập tiểu luận – phê bình: Thơ như là tiến trình)

    INRASARA

1. Không chỉ Việt Nam, văn học Đông Nam Á đang ở vị trí rất khiêm tốn so với văn học nhiều nước trên thế giới. Hai thập niên đầy sôi động, chỉ tính Giải Nobel văn chương thôi, trong lúc các nền văn học [lâu nay bị cho là] ngoại vi the peripheral literature khắp nơi đang nỗ lực giành và giành được bao thành tích chói lọi. Từ châu Phi, châu Mĩ La tinh cho đến châu Á. Hay sát cạnh ta: Nhật Bản, với những tên tuổi Yasunary Kawabata, Kenzaburo Oe, Haruki Murakami. Như thể một cách thế giải trung tâm ngoạn mục, thì Đông Nam Á cứ đứng nhìn, như là kẻ ngoài cuộc.
Huy chương giải Nobel văn học
Hãy bỏ qua bề tối hay vết xước của nó, nhìn lướt Giải Nobel văn chương, tác phẩm của các nhà đoạt giải sáng giá, dù khó phân biệt rạch ròi, luôn hội được một/ một vài hoặc tất cả yếu tố. Đó là:

Nhà văn nêu lên được tinh thần cốt tủy của con người thời đại họ sống: Albert Camus. E. Hemingway, S. Beckett,… Họ bắt trúng mạch, tìm lối viết thích hợp, đẩy vấn đề đến cùng và mở rộng nó tối đa. Hoặc họ tiếp nhận, triển khai tư tưởng mới, độc đáo tác động nhiều chiều đến tinh thần con người. Tư tưởng đó được thể hiện qua nhiều thể loại và bằng nhiều cách thức khác nhau. Hoạt động chữ nghĩa của J-P. Sartre là rất điển hình. Hay như những A. Solzhenitsyn, O. Pamuk,… nói lên vấn đề lớn của dân tộc, đất nước mình, rộng ra – thời đại mình, không kiêng nể hay hãi sợ. Họ chấp nhận trả giá. Hoặc khám phá lối thể hiện mới ảnh hưởng đến lối viết của người cùng thời hay thế hệ sau: W. Faulkner, G. Márquez,…

Đó là chưa kể các nhà văn không đoạt giải nhưng tác phẩm có tác động lớn đến văn học và tư tưởng thời đại: Leon Tolstoy, James Joyce, R.M. Rilke, F. Kafka, Marcel Proust, T.E. Eliot, Erza Pound, Vladimir Nabokov, Jorge Luis Borges, W.H. Auden, S. Rushdie…
Ở Việt Nam, có nhà văn nào làm được như thế?

2. Chuyện xửa xưa, văn học Đông Nam Á ngàn năm sống đời hạng hai và phái sinh hẩm hiu. Văn chương nôm na bản ngữ dù đồng hành với văn chương bác học được viết bằng ngôn ngữ “quý tộc”: Pali, Sanskrit hay Hán, nhưng luôn chịu phận lép và bị chính người bản địa xem thường. Mặc dù vài dân tộc có chữ viết khá sớm (như Champa chẳng hạn, bia Đông Yên Châu xuất hiện từ cuối thế kỉ thứ tư) nhưng mãi đến cuối thế kỉ thứ mười, người viết Đông Nam Á mới sử dụng nó vào sáng tác văn chương. Để chỉ từ thế kỉ mười bảy trở đi, nền văn học khu vực này mới cho ra đời các tác phẩm xuất sắc viết bằng chữ bản địa.

Nhưng định mệnh vẫn chưa thôi chơi khăm chúng ta. Vừa thoát khỏi nền văn học song ngữ đầy mặc cảm được vài trăm năm, văn học còn non trẻ này bị đánh tiếp đòn phủ đầu, khi văn học châu Âu sau đó là Mĩ, Nga tràn vào Đông Nam Á. Những cái bóng khổng lồ của bao nhiêu tên tuổi thi bá, văn hào, triết gia ngoại hạng làm ta choáng ngợp. Ta say sưa lao vào nghiên cứu, dịch thuật, học tập, bắt chước nhưng cạnh đó, bởi lòng tự tôn và tự ái dân tộc, không ít bộ phận sợ hãi, xa lánh và chống báng trước sức ảnh hưởng lấn áp của nền văn học và triết học xa lạ kia. Vọng ngoại và bài ngoại cứ là tồn tại song trùng trong tâm thức dân tộc Đông Nam Á.

Thế nào đi nữa, ta cũng đã có vài thành tựu. Thành tựu đến đâu đi nữa, ta vẫn cứ bị coi là ngoại vi. Người ngoài coi ta ngoại vi, đã đành. Chính ta tự coi mình và coi nhau như thế! Mặc cảm hậu thuộc địa còn trì nặng nơi tâm thức sáng tạo của mỗi người viết Đông Nam Á. Viết trong niềm mặc cảm hậu thuộc địa, thì nhà văn có thể đẻ ra tác phẩm lớn không?

3. Để vươn đến “tầm Nobel”, Việt Nam đã và đang chuẩn bị gì? – Rất ít, nếu không nói là chưa gì cả! Thử nhìn quanh xã hội nơi ta sống…

Mở mắt chào đời, ta thấy cha mẹ, anh chị, thấy cô bác, anh họ chị họ, ông bà họ nội ngoại, dì dượng gần xa, vô thiên lủng… Được thôi, nhưng dường tất cả sẵn sàng chỉ tay khuơ khoắng cháu nên thế này với mầy không được thế nọ đầy quyền uy, đe nạt. Từ bé thơ, tôi phải cắn răng chịu nhận bao nhiêu cái đét đít từ bàn tay một ông cậu bá vơ nào đó, không thể cãi. Ngó quanh, không một ai tỏ vẻ bênh vực tôi cả. Người lớn bảo thì phải nghe – vừa tập tò nhận thức, tôi luôn phải nghe câu đó. Lắng nghe và làm theo. Truyền thống gia đình Việt Nam trọng tình khinh lí đè nặng tâm hồn cá thể từ bao đời chưa có dấu hiệu chấm dứt. Có cha mẹ nào răn dạy con cắt đứt với mấy dây nhợ chừng chịt đó không? Có tấm gương chú bác nào soi sáng con cháu dấn bước trên con đường chinh phục đỉnh cao? Gia đình nào của Việt Nam tạo môi trường hay chuẩn bị đầy đủ điều kiện thiết yếu cho thiên tài tương lai ở khởi đầu cuộc viết? Từ “tứ đức tam tòng” hay “quân sư phụ” xa xưa cho đến nỗi “hi sinh đời bố củng cố đời con” của thời hiện đại, nó cứ thế. Nề nếp gia phong luôn được đặt lên hàng đầu, trói buộc tiềm năng sáng tạo của cá nhân. Nếu có gì thêm, thì chỉ như một tiếp nối nếp nhà, chứ không đi ngược lại hay phá hủy nó để làm ra cái mới lạ. Truyền thống gia đình dạy con cháu yêu quý nâng niu sự ổn định hơn là đam mê tinh thần mạo hiểm khai phá. Từ đó, cá nhân sớm hài lòng với thành quả nhỏ bé đạt được hơn là theo đuổi mục đích to lớn tối hậu. Tôi đã dở khóc dở cười khi cô bạn thơ tâm sự vừa viết thư cho cha “con đã trả xong nợ cho gia đình”, khi cầm trên tay tấm thẻ Hội viện Hội Nhà văn Việt Nam! Sẽ không bao giờ có sự phá cách, nói chi đến một phiêu lưu [tư tưởng] mang tính đột phá táo bạo nào sẽ xảy ra, ở đó.

Gia đình đã vậy, nhà trường cũng chẳng hơn. Chưa vội đề cập đến việc trang bị cơ sở vật chất tiên tiến nhất sẵn sàng cho phát kiến khoa học, ngay nhà văn chỉ cần một cây viết, một tập giấy trắng và… một đầu óc tư duy độc lập thôi, ta vẫn chưa. Thực tế, môn triết học – được cho là môn học nền tảng của mọi nền tảng giúp con người suy nghiệm cuộc sống chiều sâu – đến hôm nay vẫn chưa có mặt nghiêm túc trong các Đại học Việt Nam. Không có truyền thống triết học, ta cũng chưa sẵn sàng cho truyền thống đó.

Mục đích của nhà trường là đào tạo con người tiêu chuẩn, đâu cũng thế. Riêng Việt Nam, ta còn đẩy món tiêu chuẩn kia đi đến đầu mút của con người đóng hộp, bằng hệ thống và chính sách giáo dục theo-ism. Theo-ism từ “thuật nhi bất tác”, “Tử viết” suốt ngàn năm, theo-ism bám ta đến tận hôm nay. Cơ chế đó, sinh viên có làm ngược, làm khác ý thầy, tư duy khác chương trình sách giáo khoa dạy mới là chuyện lạ.

Ngồi giảng đường, giảng viên không khuyến khích sinh viên suy tư độc lập, thì làm gì hi vọng sau đó họ phát kiến í tưởng mới lạ, liều lĩnh khai phá lối viết mới mẻ, dám thể hiện mình (không phải thể hiện cái tôi chủ quan èo uột hay lớn lối như đã) mà không ngại thất bại? Khía cạnh này, hãy nghĩ đến A. Breton hay Alain Robbe-Grillet. Đây là rào cản vững chãi và ngoan cố nhất chúng ta tự dựng lên ngay trong nhà mình.

Câu chuyện. Thuở sinh viên năm nhất khoa Anh Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh, giờ ngữ pháp tập đặt câu “Bởi vì… cho nên…”. Thay vì xử sự cho qua chuyện như mọi người, rằng “Bởi vì sáng nay trời mưa cho nên em đi học trễ”, tôi phức tạp hóa vấn đề bằng câu: “Bởi vì đất nước ta vừa trải qua chiến tranh cho nên chúng ta còn hạn chế về tự do”. Cô giảng viên bảo “em sai rồi”, tôi mới đứng dậy phân trần “thưa cô, em đúng mà”. Thế là anh lớp trưởng ngồi bàn bên quơ cây thước gỗ to cồ thọc mạnh vào mạn sườn tôi: – Sai là sai quan điểm, ngốc à.

Giáo sư dạy tôi nghĩ theo lối nghĩ của sách giáo khoa, đã đành; bằng hữu thay vì hỗ trợ và kích thích tôi tìm tòi sáng tạo thì lại đóng vai kẻ canh chừng không cho tôi bước chệch khỏi quỹ đạo giáo dục cho phép, nên – tôi cứ thế cúi đầu răm rắp làm theo thầy, theo sách. Tất cả tình nguyện trở thành tín đồ thuần thành của thứ chủ nghĩa theo-ism, rập khuôn có sẵn. Nơm nớp sợ khác người, sợ bị hiểu lầm hay sợ không ai hiểu mình, cuối cùng – sợ thất bại, cho dẫu tạm thời. Với một theo-ist được gò như thế, chuyện phá rào là bất khả.

Còn xã hội ngoài kia? Chưa nói đến cộng đồng làng xã với văn hóa làng xã luôn dị ứng với cái mới, cái khác mình, sẵn sàng tư thế miệt thị, áp chế tư tưởng vượt qua tầm hiểu của mình; ngay một tổ chức xã hội đầy quyền năng chuyên môn như Hội Nhà văn Việt Nam, cũng chưa có cái nhìn thoáng mở, chưa thực sự dũng cảm ủng hộ cái trái ngược. Phần thưởng dành cho sự độc đáo, sáng tạo càng hiếm hơn nữa. Giải thưởng thơ phần đông ưu ái các loại Thơ Mới biến thể của thứ mĩ học ở thời xa lắc, cho lí luận phê bình là những Tản mạn… hay Tạp cảm… đủ loại. Nếu có lỡ phá cách, ta luôn dỏng tai nghe ngóng tiếng nói từ báo chí, đủ loại báo chí phổ thông. Ngoảnh lại sự cố lùm xùm xung quanh Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam dành cho Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, mà hỡi ơi cho văn hóa làng xã ấy. Hành trạng công nhận trao giải – tố cáo chụp mũ – phủi tay chối bỏ lá phiếu của chính mình nơi vài thành viên Ban chấp hành – nói lên tất cả nỗi sợ hãi của tầng lớp được xem là ưu tú nhất của xã hội này. Thì làm gì mong mỏi từ giữa lòng xã hội ấy nảy ra cá nhân xuất chúng!

Cá thể nào có thể vượt được cơ chế đóng [hay he hé mở] từ gia đình, nhà trường đến xã hội kia? Đây đó, đã có không ít nhà văn ý hướng đạp đổ bức tường, đã có không ít nhà thơ quyết từ chối giấy phép xuất bản, cương quyết in photocopy tác phẩm để thể hiện tự do tư tưởng, tự do sáng tác của mình, và họ chấp nhận trả giá. Công cuộc không đáng này đã làm tiêu hao bao tinh lực của tuổi trẻ, thời gian qua. Vượt qua chúng là khó, nhưng không phải bất khả. Còn nhận ra và phá bỏ rào cản vô hình dựng ngay trong tâm thức ta, thì ngàn lần khó hơn. Đó là lề thói tư duy nhỏ lẻ, não trạng ăn theo, núp bóng phát sinh và được nuôi dưỡng từ nền “văn chương cỏ gianh” trong nền “văn hóa quà vặt” (từ dùng của Vương Trí Nhàn). Chỉ khi vượt qua nó, nhà văn mới có thể nói đến sáng tạo đích thực. Khi cuộc chuyển hóa tâm thức này xảy ra, biết đâu chính mấy thứ tưởng như trở lực kia, qua hành động công phá không ngưng nghỉ, nhà văn ta hóa thân lớn dậy để làm nên tác phẩm lớn.

4. Nhưng hỏi các cá nhân nhà văn, có ai trong chúng ta đã sẵn sàng để… lớn? – Rất ít!
Thiếu triết học, ta có thể đổ lỗi cho cơ chế với ngài khách quan, nhưng – theo quan sát của tôi – nhà văn ta còn chưa nắm bắt đầy đủ thực tế cuộc sống sôi động ngoài kia, nắm bắt và suy tư đủ sâu về nó. Đây đích thị một trớ trêu. Bởi “ba cùng” từng là khẩu hiệu các quan văn cổ xúy. Hội Nhà văn Việt Nam cùng các hội đoàn địa phương bỏ tiền của tổ chức bao nhiêu là cuộc thâm nhập thực tế, nhưng ta cứ thiếu.

Bởi, khi đi vào cuộc sống địa phương, ta vẫn qua loa, hời hợt.

Mới đây thôi, 27-4-2008, “Báo cáo Lịch sử Đất Mũi và 30 năm xây dựng – phát triển Cà Mau” – một văn bản khô khan nhưng ngồn ngộn sự kiện mới lạ được trình bày bằng thái độ nhiệt tình với sự phấn chấn hiếm có của đại diện Khoa giáo Tỉnh – được non hai chục nhà văn trẻ Sài Gòn nghe một cách hờ hững. Hơn nữa, không ai ghi chép cả! Như thể báo cáo chính trị – xã hội kia chả can hệ gì đến sáng tác thơ văn tôi.

Sau đó, mùa hè 2008, đoàn nhà văn TP Hồ Chí Minh đi thực tế huyện Bảo Lâm – Lâm Đồng. Mươi nhân viên Công ty Thuỷ điện Đồng Nai 4 cùng năm anh chị em thuộc đội ca nhạc dân tộc Châu Mạ, hai già làng nữa đón đoàn, trân trọng và đậm tình. Đốt lửa, rượu cần, thịt heo rừng quay, ca hát,… Vậy mà nhà văn ta “dấn thân” chưa đầy hai tiếng đồng hồ, đã xin kiếu, lên xe máy lạnh về thị xã ngay trong đêm khuya khoắt ấy. Trong khi ở đó vẫn còn mồi (bắt chước lối nói của Bùi Chát), nhà nghỉ có sẵn, không khí văn nghệ đang kì cao điểm. Tại sao không ở lại nhạc rừng by night với anh chị em? Để vui thôi, chứ chưa nói đến chuyện ba cùng [khổ] với đồng bào.

Đi thực tế, ta rất thiếu… cô đơn. Nhà văn luôn cõng theo lỉnh kỉnh bao nhiêu là “vấn đề” từ nhà về vùng đất mới. Dự lễ hội Katê Chăm, nhà văn khoái khách sạn nhiều tiện nghi hơn trú lại nhà dân, thích làm khách sang của gia đình sang trọng hơn là lăn xả vào chốn nghèo hèn và, đáng nói hơn cả là, luôn gánh cả đống chuyện văn chương chữ nghĩa ở tận thành phố theo mình. Hiếm ai tạo được “những ngày rỗng” toàn triệt để thu vào tầm mắt đất trời Phan Rang lạ lẫm, tò mò tìm biết bí ẩn bao mảnh vụn của nền văn hóa Champa, lắng nghe câu chuyện Chăm, cảm thông những tâm hồn cô đơn và kiêu hãnh Chăm,…
Chúng ta chưa học biết cởi bỏ cô gái ở lại bên này bờ sông như chú sãi kia trong một ngụ ngôn Thiền, mà một mực vác nàng theo suốt hành trình chữ nghĩa nặng nhọc.

Thứ nữa, thâm nhập vào mọi vùng tối, khoảng trống của ngôn ngữ để khai thác tối đa tiềm năng khả thể của ngôn ngữ, nhà văn ta chưa có đủ í thức đó. Nhất là nhà thơ, kẻ được coi như nghệ sĩ của ngôn từ. Chúng ta chăm chăm vào nội dung tư tưởng xã hội, tính giáo dục của tác phẩm mà bỏ bê [hoặc rất ít chú í] khả tính nội tại của ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ bình dân, ngôn ngữ sống được sản sinh từ giữa lòng đời thực.

Bắc, Trung, Nam rồi sau đó, đất nước chia hai nảy sinh bao nhiêu là khác biệt về từ vựng và cách sử dụng. Sau Bảy lăm, sự thay đổi liên tục về chính sách (chỉ tính riêng nông thôn: chia ruộng đất, ba khoán, khoán sản phẩm, khoán trắng, rồi giải thể hợp tác xã, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…) đẩy cả ngàn từ vựng nóng hôi hổi cấp tập chào đời. Năm mươi tư dân tộc trong hơn tám mươi sáu triệu dân, trong đó sáu dân tộc có chữ viết truyền thống, có dân tộc sở hữu cả nền văn hóa – văn minh lâu đời, ngôn từ phong phú bao nhiêu mà kể. Nhưng hiếm hoi lắm chúng mới hân hạnh góp mặt trong thơ đương đại. Các chữ sang trọng đầy quen thuộc đến cũ mèm vẫn cứ chễm chệ trang trọng trong sáng tác thơ ca dòng chính lưu.

Khía cạnh này, thái độ sử dụng tiếng Việt của Nguyễn Hoàng Nam, Bùi Chát rất đáng ghi nhận. Hay gần đây, Đinh Linh với thơ tiếng Việt của anh:

“Truyền thống không phải là những lề lối, cách dùng cũ nhạt, ứ đọng, mà là di sản ngôn ngữ linh động của cả một dân tộc. Ngôn ngữ chợ búa, du đãng, những bài thơ tiền vệ, chữ lóng cũng thuộc về truyền thống. Thậm chí ngôn ngữ dùng sai, bởi con nít, những kẻ nói tiếng Việt không rành, chẳng hạn Hoa Kiều, Việt Kiều hay những nhân vật tỉnh Nghệ An, cũng thuộc về truyền thống. Nhà thơ có quyền, thậm chí có trách nhiệm, đùa với truyền thống, tìm những chức năng mới cho nó. Hơn nữa, bạn còn có thể mượn truyền thống người khác để làm phong phú ngôn ngữ mình.

Sự chưa đủ này lại là một rào cản khác.

Thêm: bao nhiêu là nỗi sợ hãi vây bủa nhà văn. Dưới hay trên, ngoài và trong, xa và gần! Sợ bị soi mói, bị chụp mũ, sợ tác phẩm không được in hay bị thu hồi sau khi phát hành. Sợ cho mình, sợ cho nhau và sợ nhau, nên ta rất sợ mình không giống ai…. Ta vừa viết vừa liếc nhìn người bên cạnh, người đi trước, đàn anh chị hay bạn đồng hành cùng trang lứa. Ta sợ đi một mình. Là nỗi chưa đủ cô đơn cho sáng tạo. Cô đơn đầu tiên và cuối cùng. Sự cô đơn cần thiết để tạo nên tác phẩm chiều sâu.

Chưa đủ cô đơn trong giai đoạn đầu tư thai nghén. Nhà văn bị cuốn vào cuồng lưu hội hè đình đám, hội thảo chòm nhóm, văn chương chưa ra trường phái đã biến thành phe phái. Chưa đủ cô đơn khi đối diện với trang giấy/ màn hình trắng. Bao nhiêu bóng u ám, giọng mơ hồ lởn vởn trong ta, quanh ta, sẵn sàng đe dọa thân xác ta, uy hiếp tinh thần ta; nó lên tiếng thì thầm khuyên nhủ hay trừng mắt răn đe ta nên thế này với không nên thế nọ, khiến ta lơi tay hay bẻ cong ngòi bút lúc nào không hay. Chưa đủ cô đơn cả lúc tác phẩm đã sinh hạ. Ta lắng tai nghe ngóng dư luận về nó, rằng nó có vấn đề gì không, các nhà phê bình có để mắt đến nó và, tệ hơn cả là ta mãi tư thế đứng ra bảo vệ nó khi nó bị chê bai.

Bấy lâu, ta luôn là con người của số đông, số đông trong giới văn nghệ, số đông giữa người đọc và, số đông cả khi chỉ ngồi một mình, cô độc!.

Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, từ đó nơi thẳm sâu tâm thức nhà văn ẩn chứa tinh thần tự kiểm duyệt. Tự kiểm duyệt theo nghĩa rộng nhất của từ này. Tự kiểm duyệt và hỗ trợ nhau kiểm duyệt trước khi bị kiểm duyệt. Hậu đổi mới là thời hoàng kim của tự kiểm duyệt, Phạm Thị Hoài nói thế. Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, nhà văn không dám sống tới cùng tư tưởng chọn lựa, không dám viết tới cùng, và nhất là không dám theo đuổi đến cùng dự án lớn lao không giống ai của mình [nếu nhà văn đã nghĩ ra được và hoạch định trước đó].

Mà đã sợ hãi, thì làm gì có sáng tạo đúng nghĩa!

Rào cản cuối cùng, là nhà văn chưa đủ í thức về nghề. Đại đa số nhà văn hôm nay chưa thoát khỏi quan niệm văn chương là trò chơi. Ch. Fredriksson: “Í tưởng dường như có tính tiên quyết, xem người nghệ sĩ làm gì và làm như thế nào với tác phẩm của mình, để làm sao cho tác phẩm ấy có hiệu quả nhất khi đến với công chúng. Nhưng dường như ở Việt Nam các nghệ sĩ ít thích bàn về điều này, họ thường thích làm tác phẩm hơn là nói về các tác phẩm của mình”.

Ít bàn, ông nói – thực ra là: không bàn, không muốn bàn, không dám bàn vì, không khả năng bàn, thậm chí, dị ứng với lí luận. Đó là ông nhận định về cánh làm mĩ thuật. Bên văn chương cũng không hơn. Sáng tạo đầy mơ hồ không trên nền tảng mĩ học cụ thể nào, nhà thơ mãi chịu định mệnh một tập, một bài thơ, là thế. Không ít sáng tác có dấu ấn là sáng tác ăn may, ăn mòn vào năng khiếu “trời cho”. Trời cho tới đâu hay tới đấy, chúng ta thói quen nói như vậy. Sự thể sẽ dẫn đến đâu? – Bế tắc!

Tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn hay các Trung tâm bồi dưỡng viết văn, các trào lưu văn chương trên thế giới hãy còn khá xa lạ với sinh viên. Tri thức cơ bản nhất về các hệ thẩm mĩ văn học nghệ thuật tiên tiến không được cập nhật, thế hệ nhà văn tương lai hiện đang ngồi ghế giảng đường còn không biết thiên hạ đanh đi đến những đâu nữa.

Chưa đủ í thức về nghề, nên ta chưa suy tư qui mô về nghệ thuật, suy tư có tính nền tảng và rốt ráo. Sau Bàn tròn văn chương kì thứ bảy, tôi làm cái sơ kết: BTVC được ba thành công nhỏ nhưng vỡ ra một thất bại lớn. Thành công trong tập hợp đa thành phần, đa xu hướng sáng tác, nhiều lứa tuổi khác nhau với số lượng người tham dự ngày càng tăng để thực sự cùng bàn về văn chương đương đại; đề tài hay tác giả – tác phẩm của Bàn tròn được chọn tự do, vô phân biệt; thành viên thảo luận tự do trong một không khí cởi mở, vô ngại. Là ba điều chưa từng xảy ra trước đó. Nhưng thất bại lớn nhất và duy nhất của Bàn tròn văn chương là chất lượng của í kiến. Cứ đặt bảy Biên bản Bàn tròn bên cạnh bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo, chúng ta dễ thấy hiện diện ở đó cả một vực thẳm.

Đó là vật chứng không thể chối cãi về tầm í thức về nghề của nhà văn hôm nay so với nhóm Sáng Tạo. Trong khi tuổi trung bình của ta gấp rưỡi thế hệ trước ở thời điểm họ thảo luận, và ta đi sau họ đến nửa thế kỉ!

Trong sáng tác nghệ thuật, đạt được sự phát triển tinh thần tuần tự nhi tiến, ngày càng sâu rộng, cao lớn như Rembrandt, Van Gogh, Beethoven hay Dostoievski là điều cực hiếm. Ở Việt Nam, một Chế Lan Viên hay Tô Thùy Yên là hiện tượng lạ. Còn thì, phong độ khá phập phù. Không phải nhà sáng tạo vĩ đại đã không rơi vào bế tắc, nhưng khác biệt lớn giữa bế tắc thật và giả là tinh thần, thái độ, rằng nó nghiệp dư hay chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp, ta tự tin làm việc trong bất kì hoàn cảnh nào. Chuyên nghiệp, ta chấp nhận giú mình nơi bóng tối vô danh trong thời gian dài. Ta không sợ cô đơn, không sợ cô độc, cả không sợ cô lập.

4. Mặt bằng độc giả là yếu tố không thể thiếu góp phần kích thích sự phát triển văn học. Nhưng ở điểm này, Việt Nam vẫn chưa có nhiều người đọc đúng nghĩa.

Trong các chuyến đi xuyên Việt, bằng tàu lửa hay máy bay hoặc xe du lịch chất lượng cao, nếu chịu quan sát ta sẽ thấy, ngoài số người ngủ gật hay làm chuyện vặt hoặc tán gẫu, có hai bộ phận đọc khác nhau: đọc sách và đọc báo. Chú í nữa, hầu hết người cầm trong tay cuốn sách dày là khách Tây, ngược lại: dân Việt Nam!

Đi vào các khu di tích văn hóa – lịch sử cũng xảy ra tình trạng tương tự, trong khi người Việt Nam xách theo gói đồ ăn với tờ nhật báo thì dân phương Tây luôn tay giở các trang sách. Đi du lịch, họ chuẩn bị sẵn tri thức tối thiểu về nơi họ sắp đến. Không hiểu, họ hỏi; hiểu lờ mờ, họ hỏi. Họ thắc mắc về sai biệt giữa thực tế và kiến thức được viết trong cuốn cẩm nang du lịch. Tại sao bức tượng kia không còn ở đó? Tại sao sách lí giải thế này mà cô thuyết minh như thế kia? Vân vân…

Ở xã hội nông thôn Việt Nam, vị trí trang trọng nhất trong ngôi nhà một gia đình trung lưu, đập vào mắt khách là tủ buffet chưng diện bát đĩa và… cái tivi đời mới. Mấy năm qua, ta có thêm máy vi tính. Hiếm gia đình có được tủ sách. Có – nhưng rất ít, chỉ lèo tèo vài chục cuốn.

Trước Bảy lăm, làng Caklaing quê tôi chưa tới ngàn dân có hai gia đình sở hữu tủ sách trên ngàn cuốn. Ở làng Hữu Đức là gấp đôi. Các tạp chí như Bách khoa, Phổ thông, Văn, Tư tưởng, Đại học,… được bày biện trang trọng là chuyện nhỏ. Tại vài hiệu sách tỉnh lẻ như thị xã Phan Rang, lứa trẻ chúng tôi dễ dàng tìm mua bộ Nho giáo, Thơ tiền chiến toàn tập, Bùi Giáng,… Hôm nay, nhân khẩu Caklaing tăng tám lần nhưng tủ sách gia đình thì hầu như tuyệt chủng! Chúng ta đọc báo, yên tâm rằng mình đã hiểu mọi chuyện. Độc giả ta hiếm cơ hội tiếp cận cái mới từ đó khó chấp nhận cái khác mình, cái xa lạ.

Độc giả phổ thông đã vậy, còn độc giả chuyên nghiệp thì thế nào? Khủng hoảng và tê liệt phê bình đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự lớn dậy của sáng tạo văn chương. Ta có đủ kiểu phê bình. Từ phê bình hũ nút đến phê bình hàng hai, từ phê bình quan phương đến phê bình du kích, phê bình bè phái hay phê bình chỉ điểm,… Riêng phê bình nhằm thúc đẩy văn học tiến tới thì rất hiếm. Một phê bình thoát khỏi hệ mĩ học cũ để mở ra hướng đi mới cho văn học.

Cứ ngoái lại xem Hoài Thanh đã ứng xử kịp thời và tài tình với phong trào Thơ Mới thế nào cũng đủ hiểu. Còn hôm nay, có nhà phê bình nào làm được thao tác đó? Không ai cả! Tháng 7-2008, trong buổi nói chuyện tại Khóa bồi dưỡng lí luận – phê bình văn học do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức tại Hà Nội, tôi hỏi các học viên: Sau Hoài Thanh, có tác phẩm phê bình nào các bạn cầm lên để có thể nhận diện được một trào lưu văn học, một thời đoạn ngắn ngủn của thơ ca Việt Nam chưa? – Chưa!

Ngay í định làm một cuốn sách như thế, đến hôm nay – theo tôi biết – vẫn chưa (thực tế là có một, nhưng thất bại). Chúng ta tranh thủ viết tản văn, tạp ghi theo kiểu… tản mạn; chúng ta làm hội hè, hội thảo đủ loại; rồi thì rẽ sang làm công tác nghiên cứu, giảng dạy hoặc nhanh nhẩu nhảy vào cuộc cãi cọ nhảm nhí bằng phản ứng nhếch nhác chỉ bởi vài quy kết, xuyên tạc nhỏ nhen nào đó. Ta có đủ lí do chính đáng cho các sự vụ ấy. Trong khi tập trung vào công việc chính là phê bình thì, vẫn cứ chưa. Đành rằng, với nỗi “dồi dào” và “phong phú đa dạng” các tác giả, trào lưu, khuynh hướng văn chương xuất hiện trên đủ loại phương tiện thông tin, không nhà phê bình nào tự nhận quán xuyến tất cả. Nhưng ít ra người làm phê bình vẫn có thể chọn một/ một vài trào lưu nhất định để làm phê bình. Vậy mà mãi tận hôm nay, giới phê bình Việt Nam vẫn chưa cho ra đời tác phẩm như thế.

Dăm năm qua, tôi thử dấn vào “lập biên bản” sáng tạo của nhà văn hậu đổi mới, các tác giả viết trong cảm thức mới, sử dụng thủ pháp nghệ thuật mới. Các sáng tác của họ góp phẩn đẩy nhanh quá trình phi tâm hóa văn chương và xã hội Việt Nam. Nguyễn Hoàng Tranh, Mai Văn Phấn, Nguyễn Hoàng Nam, Đinh Linh, Phan Nhiên Hạo, Phạm Lưu Vũ, Nguyễn Vĩnh Nguyên, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lê Anh Hoài, Bùi Chát, Lý Đợi, Như Huy, Trần Nhã Thụy, Nhật Chiêu, Lê Vĩnh Tài, Vũ Thành Sơn, Đỗ Kh, Nguyễn Đăng Thường, Nguyễn Tôn Hiệt, Phan Bá Thọ, Đặng Thân, Lê Thị Thấm Vân, Trần Wũ Khang, Tuệ Nguyên, Khánh Phương,… Bao nhiêu là nỗ lực, bao nhiêu là hủy phá và sáng tạo đáng được ghi nhận ngay giai đoạn sung sức nhất của đời văn.

Tôi viết về họ, với hi vọng sau cao trào này, sẽ làm một tổng luận về thơ tiếng Việt hậu đổi mới. Để kết thúc một thời đoạn và mở ra một cái gì khác chưa thể biết được. Tôi không chắc mình có kham nổi công cuộc này không, nhưng thiết nghĩ, chỉ khi kịp thời ghi nhận đúng đắn nỗ lực và thành tựu khởi đầu của họ, nhà phê bình mới thật sự góp tay vãi một nắm phân đạm vào đám ruộng hợp tác xã văn chương tiếng Việt. Còn nhà văn có vươn ra cánh đồng văn chương thế giới hay không và vươn ra tới đâu, chỉ có họ trả lời được. Ở thì tương lai.

Sài Gòn, 9-2008 & 1-2010.

Trong cõi mộng

“Thầy của chúng tôi thường ngủ trưa,” một học trò của Soyen Shaku kể lại. “Đám con nit tụi tôi hỏi tại sao thầy ngủ trưa và thầy nói: ‘Thầy vào cõi mộng để gặp các bậc thánh hiền như Khổng Tử làm.’ Khi Khổng Tử ngủ, ngài mơ đến các thánh nhân xa xưa và sau đó kể lại cho học trò.

Ngày nọ trời rất nóng cho nên vài đứa chúng tôi ngủ trưa. Thầy mắng tụi tôi. ‘Tụi con đến cõi mộng để gặp các thánh nhân xa xưa như Khổng Tử làm,’ chúng tôi giải thích. ‘Vậy các thánh nhân nói gì?’ Thầy tra vấn. Một đứa trong bọn chúng tôi trả lời: ‘Tụi con đến cõi mộng và gặp các thánh nhân và hỏi họ có phải thầy của chúng con đến đây mỗi trưa, nhưng họ nói là họ chẳng bao giờ thấy ai như vậy cả.’”
.

Bình:

• Soyen Shaku là thiền sư đầu tiên quảng bá Thiền tại Mỹ, mà chúng ta đã nói đến trong bài Quả Tim Tôi Cháy Như Lửa.

• “Cõi mộng” là “cõi chủ quan” ở trong đầu mình. Mình nói thế nào—dù là nói thật hay nói dối—thì cũng chỉ có mình biết điều mình nói; mọi người khác nghe thì nghe vậy, nhưng chẳng cách nào kiểm chứng.

Và người khác vào cõi mộng của họ, thì họ lại chỉ thấy điều họ thấy, chẳng phải điều ta thấy, và họ có kể lại—thật hay dối—thì ta cũng chỉ biết nghe chứ chẳng làm gì được.

Nghĩa là, trong cõi mộng ai muốn nói gì thì nói, và chẳng cách nào chúng ta hiểu nhau, gặp nhau, đồng ý với nhau, thấy cùng một điều như nhau. Và chẳng đối thoại gì với nhau được.

• Đời là cõi mộng

Nhất thiết hữu vi pháp
Như mộng, huyễn, bào, ảnh
Như lộ diệc như điện
Ưng tác như thị quán
(Kinh Kim Cang)

Tất cả những gì có
Như mộng ảo bọt ảnh
Như sưong cũng như điện
Cứ như vậy mà suy niệm
(TĐH dịch nghĩa)

Cho nên, tất cả những gì ta thấy trong “cõi mộng đời” đều rất chủ quan, chỉ ta thấy ta biết, chẳng nói với nhau được.

Cho nên, không thể giải thích cho nhau được, huống hồ “cãi nhau để cho ra chân lý.”

Mỗi người phải tự tìm thấy chân lý cho chính mình. Chẳng truyền chân lý cho nhau được.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

In Dreamland

“Our schoolmaster used to take a nap every afternoon,” related a disciple of Soyen Shaku. “We children asked him why he did it and he told us: ‘I go to dreamland to meet the old sages just as Confucius did.’ When Confucius slept, he would dream of ancient sages and later tell his followers about them.

“It was extremely hot one day so some of us took a nap. Our schoolmaster scolded us. ‘We went to dreamland to meet the ancient sages the same as Confucius did,’ we explained. ‘What was the message from those sages?’ our schoolmaster demanded. One of us replied: ‘We went to dreamland and met the sages and asked them if our schoolmaster came there every afternoon, but they said they had never seen any such fellow.'”

# 40

All I ask of you – Bóng ma trong nhà hát

Chào các bạn,

Phantom of the Opera (Bóng Ma Trong Nhà Hát) là nhạc kịch trình diễn lâu năm nhất trên sân khấu nhạc kịch Mỹ Broadway, và là nguồn doanh thu lớn nhất trong các tác phẩm nghệ thuật giải trí của mọi thời đại.

Đây là một tiểu thuyết do văn sĩ Pháp Gaston Leroux viết năm 1909. Tiểu thuyết này không được nổi tiếng lắm vào thời đó. Trong hầu hết thế kỷ 20, dù thỉnh thoảng được tái bản, nó cũng chỉ nằm trong bóng tối, dù là năm 1925 được đóng thành phim. Continue reading All I ask of you – Bóng ma trong nhà hát

Văn và Hoa

Trong một buổi hội thảo về văn xuôi, nhà văn Cao Duy Thảo có phát biểu rằng văn chương không thể có phế phẩm, vì phế phẩm văn chương không thể dùng làm bất cứ thứ gì, việc gì. Một mớ gạch vỡ, ngói bể… còn đem làm nền, lót đường được. Miếng gỗ cưa hỏng, đục hỏng… còn đun bếp được. Nhả bánh “hư bột hư đường” hạ giá thành thức ăn gia súc. Văn chương mà hỏng chỉ vứt đi, vứt đi.

Vâng. Làm văn chương hỏng, bị vứt đi, thật tội nghiệp cho tác giả. Mất biết bao nhiêu tâm trí và công sức. Có thể tác giả đầy nhiệt tình nhưng thiếu khả năng, hoặc do một điều kiện khách quan tác động. Hóa ra cơ sự…

Cái đáng sợ trong văn chương đối với quần chúng là loại văn chương giả. Sự kiện éo le, hấp dẫn, từ ngữ bóng bẩy, cú pháp điêu luyện… tác giả tài tình như một phù thủy điều khiển âm binh, sai khiến những điều không thật này múa may, khoa trương làm lóa mắt người đọc và không ít người đọc bị mắc lừa, xúc động thật sự, có khi đi đến mê muội tin theo các điều giả ấy.

Ngược lại không phải không có trường hợp chính phẩm văn chương bị chê là khô khan, đơn giản, không khơi gợi được tình cảm nơi người đọc. Ở đây có thể ví như món ăn bổ mà không ngon, không khoái khẩu người thưởng thức nên không được ưa chuộng. Cũng có thể nói rằng như thế chưa phải là văn chương, bởi vì hai tiếng văn chương đã có ẩn ý là phải hay, mà đã là hay thì nội dung và hình thức song toàn.

Kinh nghiệm cuộc đời cho thấy cái gì là giả không thể tồn tại lâu dài, cũng như cái gì là thật không thể chìm khuất mãi. Một lúc nào đó, người đọc nhận ra ngay những éo le, hấp dẫn, bóng bẩy kia chỉ là lớp sơn hào nhoáng bên ngoài và người đọc hối hận: Tại sao lúc ấy ta lại tin như vậy, lại xúc động đến thế? Một khi đã “ngộ” những người đọc này càng khinh bỉ loại văn chương giả. Kẻ bi quan không còn chút niềm tin gì đối với văn chương, kẻ lạc quan gia công đi tìm điều thật.

Nói chuyện văn chương lại liên tưởng đến hoa.

Từ lâu có nhiều loại hoa giả. Lúc đầu còn thô thiển, càng ngày với kỹ thuật tinh vi nhiều loại hoa giả còn đẹp hơn hoa thật. Cùng với hoa thật, hoa giả đóng một vai trò quan trọng trong việc trang trí, khánh tiết. Có người chê hoa giả, cho là đồ giả thì không đáng quý, chẳng cần khen chê.

Cha tôi có bài thơ vịnh hoa giả:

Mượn tên đẹp đẽ cũng như ai
Cũng trúc, cũng lan, cũng thược, mai
Tết tới đua chen cùng chúng bạn
Xuân về hớn hở khắp trong ngoài
Nữ công chị hỡi trau tria với
Thưởng khách chàng ơi chớ phụ tài
Đành phận không hương nhưng có sắc
Đã từng lên án lại lên đài

Thật tình tôi không hiểu rõ ngụ ý của bài thơ là khen hay chê hoa giả, giả sử chê thì chê một cách khéo léo. Chỉ thấy rõ là khen tài người làm ra hoa, với quan niệm xưa đây là việc thủ công của nữ giới.

Nghĩ lại thì hoa giả đâu phải là hoa giả mà là sự phối hợp giữa mỹ thuật và kỹ xảo, người ta dùng một số nguyên liệu nào đó tạo ra một vật giả làm hoa, giống như hoa. Tác giả những hoa này nói thật nó là hoa giả, không đánh lừa người mua, vậy nó là “hoa giả thật”, nó không phải là hàng mị, hàng giả, hàng thứ phẩm, phế phẩm, hàng hỏng. Thích hay không thích là tùy ý từng người.

Hoa giả, nói cụ thể là hoa vải, hoa giấy, hoa ni-lông gì đó… là kết quả của sự bắt chước, mô phỏng, con người bắt chước trời đất, mô phỏng thiên nhiên mà tạo ra. Nó có cái nhược là không phải hoa thật hái từ cành cây, nó có cái ưu là là dùng được lâu, giữ cái đẹp được bền, không tàn, nên đỡ phải thay đổi, chứ theo giá cả bây giờ chưa chắc đã đỡ tốn.

Nhưng sở thích con người thường nhanh chóng thay đổi. Người sành điệu chơi hoa thật phải thay hoa luôn thì chơi hoa giả cũng phải thay luôn, nếu không sẽ bị “quê”, bị lạc hậu.

Hạng nghèo như tôi, không có tiền mua hoa thật và hoa giả, hai loại đều đắt cả. Thôi thì hái hoa dại trời cho, mọc ở bờ suối, vệ đường, sáng cắm, chiều bỏ… Cũng có màu sắc như ai và tự nghĩ rằng mình đây cũng biết yêu hoa, thưởng hoa như thiên hạ.

Trần Huiền Ân

Ngủ ngày

Thiền sư Soyen Shaku qua đời năm sáu mươi mốt tuổi. Làm tròn sự nghiệp đời mình, thiền sư để lại một giáo huấn phong phú hơn hẳn giáo huấn của nhiều thiền sư khác. Học trò của thiền sư thường ngủ ngày giữa mùa hè, và dù là thiền sư bỏ qua việc này, thiền sư vẫn không bao giờ phí phạm một giây phút.

Ngủ trưa ở Nhật

Khi thiền sư chỉ mới 12 tuổi, người đã học triết lý thiền Thiên Thai. Vào một ngày hè, trời nóng bức đến nỗi cậu bé Soyen duỗi thẳng chân và ngủ trong khi thầy mình ra ngoài.

Ba tiếng đồng hồ trôi qua, cậu bé Soyen bỗng nhiên tỉnh giấc, nghe thầy đang bước vào, nhưng trễ quá rồi. Cậu đang nằm dài ra đó, chắn ngang cửa.

“Thầy xin lỗi, thầy xin lỗi,” thầy của Soyen thì thầm, bước rón rén qua người Soyen, như thể Soyen là một người khách quý. Kể từ đó, Soyen không bao giờ ngủ trưa nữa.
.

Bình:

• Ngủ trưa là thói quen tại các xứ nóng. Buổi trưa, nhất là trưa hè, trời oi bức đến nỗi mọi người mọi vật đều thấy mệt mỏi và cần nghỉ. Ở Tây Ban Nha (Spain) và các nước có ảnh hưởng Tây Ban Nha ở Nam Mỹ, giấc ngủ trưa gọi là “siesta.”

Theo bài này, ngủ trưa được các thiền sư xem như là phí phạm thời gian. Điều này có lẽ hợp lý với các thiền sư, nhưng đối với nông dân phải làm việc ngoài trời, thì ngủ trưa có lẽ là giúp nông dân làm việc tốt hơn. (Xin đọc thêm về 7 Nguyên Tắc Cho Giấc Ngủ Trưa).

(Thực ra tựa đề bài này nên là “Ngủ trưa” thì đúng hơn là “Ngủ ngày”. Trong văn hóa Việt, ngủ trưa thì được, ngủ ngày thì không. Tuy nhiên, vì bản chính tiếng Anh viết là Daytime, chúng ta dịch là “Ngủ ngày” để tôn trọng bản chính. Nếu là ngủ trưc thì tiếng Anh nên là “noon nap” hay “afternoon nap”.)

• Điểm chính của bài này là Soyen không phí phạm thời gian, hay ảnh hưởng của thầy của cậu bé Soyen trên cách sống của cậu trong suốt cuộc đời?

Cả thầy của Soyen và Soyen đều tôn trọng giấc ngủ trưa của người khác, vì cả hai biết rằng đó cũng là chuyện tự nhiên và thông thường. Cho nên, ngủ trưa không được xem là chuyện xấu, hay lười biếng, dù là các thiền sư có thể nghĩ rằng không ngủ trưa thì vẫn hơn.

Điểm chính là, thầy Soyen xin lỗi cậu học trò 12 tuổi là đã phá giấc ngủ của cậu. Thầy xin lỗi học trò là chuyện hầu như chẳng bao giờ xảy ra ở phương đông, nơi mà thầy tát tai trò là chuyện thường ngày. Ở đây, thầy xin lỗi học trò, mà lại là học trò nhỏ xíu, đang ngủ trưa trong giờ học, tức là làm chuyện chẳng nên làm (dù đó chỉ là bản năng tự nhiên).

Thái độ cực kỳ khiêm tốn của thầy, và cực kỳ tôn trọng học trò của thầy, gây ấn tượng quá lớn trên Soyen, đến nỗi cậu không bao giờ ngủ trưa nữa (để thầy không bao giờ phải xin lỗi cậu lần nữa).

Và Soyen cũng rất tôn trọng [giấc ngủ của] học trò sau nầy như thầy đã tôn trọng mình.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Sleeping in the Daytime

The master Soyen Shaku passed from this world when he was sixty-one years of age. Fulfilling his life’s work, he left a great teaching, far richer than that of most Zen masters. His pupils used to sleep in the daytime during midsummer, and while he overlooked this he himself never wasted a minute.

When he was but twelve years old he was already studying Tendai philosophical speculation. One summer day the air had been so sultry that little Soyen stretched his legs and went to sleep while his teacher was away.

Three hours passed when, suddenly waking, he heard his master enter, but it was too late. There he lay, sprawled across the doorway.

“I beg your pardon, I beg your pardon,” his teacher whispered, stepping carefully over Soyen’s body as if it were that of some distinguished guest. After this, Soyen never slept again in the afternoon.

#39

Amazing Grace – Ân Điển Diệu Kỳ

Chào các bạn,

Đầu năm chúng ta thường cám ơn Trời Đất: Lễ Đàn Nam Giao ở cổ thành Huế, lễ cúng đầu năm tại mỗi gia đình. Tại phương tây, bản nhạc tạ ơn số một trong thế giới Tây phương là Amazing Grace.

Trong vòng hai trăm năm qua, Amazing Grace là một trong những bản nhạc phổ thông nhất trong thế giới nói tiếng Anh, một trong những thánh ca phổ thông nhất của Thiên Chúa Giáo (Christianithy), và là thánh ca hát thường xuyên nhất trong các nhà thờ tin lành (Protestant). Tuy vậy, đã có nhiều khi bản nhạc này chiếm hạng cao trong các danh mục nhạc phổ thông (ngoài nhà thờ) được yêu thích. Continue reading Amazing Grace – Ân Điển Diệu Kỳ

Người phụ nữ phi thường

Maya Angelou có tên khai sinh Marguerite Ann Johnson, sinh ngày 4 / 4/ 1928. Bà được mệnh danh là Nữ Thi Hào Da Đen của nước Mỹ, và được học giả Joanne M. Braxton gọi là người phụ nữ da đen viết tự truyện xuất sắc nhất của nước Mỹ . Anggelou là một ngôi sao sáng đa tài. Bà là nhà thơ nữ, nhà văn, người viết tiểu sử, nhà sử học, giảng sư, nhà báo, nhà làm phim, ca sĩ, diễn viên, người kể chuyện, nhà hoạt động nhân quyền hăng say.

Bà có một tuổi thơ nghèo khổ và tủi nhục. Khi mới 16 tuổi, mang thai lần đầu, để kiếm sống trong cuộc đời bà, Angelou đã phải làm nhiều nghề khác nhau, kể cả làm vũ nữ, đánh máy thuê, thư ký, nhân viên bán vé rạp hát, đóng kịch, viết báo…
Bà nổi tiếng nhất với bộ tự truyện 6 cuốn, tập trung vào thời thơ ấu và những năm đầu tuổi trưởng thành của bà. Quyển thứ nhất nổi tiếng nhất trên thế giới viết về 17 năm đầu đời của bà, I Know Why the Caged Bird Sings (1969), “Tôi biết tại sao con chim trong lồng hót” gọi tắt là “Chim Hót trong Lồng” .

Chủ đề của tác phẩm này là một con người có thể sống còn trong một thế giới thù nghịch và vươn lên nhờ lòng can đảm và nhân cách. Tác giả Angelou đã giải thích về tư tưởng này như sau : “đầu tiên người đời phải học cách chăm sóc chính mình để rồi có thể chăm sóc người khác. Đó là lý do làm cho chim trong lồng hót”. Ngay sau khi xuất bản, cuốn truyện “Chim Hót Trong Lồng” đã trở thành sách bán chạy nhất, và nhà văn nữ 42 tuổi Maya Angelou được mời diễn thuyết tại nhiều trường Đại Học trong nước và được tặng học bổng của trường Đại Học Yale. Chim Hót Trong Lồng được đề cử Giải Thưởng Sách Quốc Gia. Với tự truyện này, Maya Angelou được xem là một trong những phụ nữ Mỹ gốc Phi đầu tiên dám đưa ra công luận
đời riêng của mình. Và bà trở thành người phát ngôn xuất sắc cho người da đen và giới phụ nữ.

Vốn là một người đa tài và nhiều năng lực, Maya Angelou đã vượt qua nhiều hàng rào ngôn ngữ, biết nói các tiếng Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Ả Rập, Serbo-Croatian, Fanti và đây là một thổ ngữ của xứ Ghana. Các tác phẩm của bà Maya Angelou thuộc loại bán chạy nhất. Tác phẩm thơ của Angelou, Just Give Me a Cool Drink of Water ‘Fore I Diiie (1971) đã được đề cử giải thưởng Pulitzer.

Bà là thành viên của Hội Nhà Văn Harlem vào cuối thập niên 1950, hoạt động tích cực hăng say cho Phong Trào Nhân Quyền, và là điều phối viên Miền Bắc của Martin Luther King. Tại lễ Tuyên Thệ Nhậm Chức của Tổng Thống Bill Clinton (1993), bà đã đọc bài thơ của bà, Trên Nhịp Đập Buổi Sáng (On the Pulse of Morning) với tư cách một nhà giáo dục, sử gia và tác gia.
Bài thơ ấy cổ vũ cho niềm hi vọng rằng con người sẽ vượt qua được mọi gian khổ và bất công, chiến thắng cái ác, nhìn ra Thế Giới với lòng tha thứ và tình yêu.

Maya Angelou đã nhận được nhiều văn bằng danh dự của các trường Đại Học Mỹ. Năm 1976, Maya Angelou được chọn làm “Người Phụ Nữ của Năm 76” (Woman of the Year) về Truyền Thông của tạp chí Ladies’ Home Journal. Maya Angelou nhận nhiều giải thưởng khác như Giải Thưởng Matrix của Hội Women in Communications, Inc., vào năm 1983, Giải Thưởng Văn Chương North Carolina vào năm 1987, Giải Thưởng Candace 1990 của Cơ Quan Liên Minh Quốc Gia Phụ Nữ Da Đen (The National Coalition of Black Women) vì các đức tính, phục vụ và thành quả đóng góp lớn lao cho cộng đồng và xã hội cũng như ảnh hưởng tích cực của bà về dân chủ, tiến bộ và nhân quyền. Các tác phẩm của bà với chủ đề về gia đình, sự thừa nhận bản sắc riêng của cá nhân, và tệ nạn phân biệt chủng tộc được dùng trong chương trình giảng dạy ở các trường trung học và đại học trên toàn thế giới.

Maya Angelou quả thực là người phụ nữ phi thường

***********************************************
.

Xin giới thiệu với các bạn một trong những bài thơ nổi tiếng nhất của Maya Angelou, Phenomenal Woman, qua ngòi bút dịch của nhà thơ Lê Vĩnh Tài
.


.

NGƯỜI PHỤ NỮ PHI THƯỜNG

Những người phụ nữ đẹp thường hay tự hỏi
đâu là bí mật của tôi
tôi không dễ thương hay có ba vòng đo của người mẫu
nên khi tôi bắt đầu nói với họ
họ cứ nghĩ rằng tôi nói dối
tôi nói
đó chỉ là những điều trong tầm tay của tôi
vòng hông của tôi, bước chân đong đưa của tôi
cái bĩu môi của tôi
tôi là một người phụ nữ
phi thường
người phụ nữ phi thường đó
là tôi

tôi bước vào một căn phòng
tỉnh bơ như không
và đến gần một chàng
những anh chàng hoặc vẫn đứng
hoặc khụy
Rồi họ cứ vây quanh tôi
như đàn ong thấy mật
tôi nói
ánh mắt tôi nồng nàn như lửa
và hàm răng tôi cười như tỏa nắng
sự đong đưa của vòng eo
niềm vui trong mỗi bước chân tôi
làm họ nghiêng ngã
tôi là một người phụ nữ
phi thường
người phụ nữ phi thường đó
là tôi

những người đàn ông ấy đã tự hỏi mình
họ tìm thấy gì ở tôi.
họ cố gắng rất nhiều nhưng không sao biết được
những bí ẩn của tôi
dù tôi cũng cố gắng chỉ cho họ
họ vẫn không thể thấy
tôi nói
nó ở trong cái ưỡn lưng tinh nghịch của tôi
mặt trời trong nụ cười tôi
sự bềnh bồng của hai bầu ngực
vẻ dịu dàng trong phong thái
của tôi
tôi là một người phụ nữ
phi thường
người phụ nữ phi thường đó
là tôi

bây giờ bạn hiểu
chỉ cần đầu của tôi tại sao không phải cúi
tôi không đong đưa hay nhún nhảy
hay cố nói thật lớn
khi bạn nhìn thấy tôi đi qua
nó làm bạn tự hào
tôi nói
mỗi một cái bén gót của tôi
hay lọn tóc loăn xoăn buông thả của tôi
lòng bàn tay ấm mồ hôi của tôi
nhu cầu tự chăm sóc của tôi
bởi vì tôi là một người phụ nữ
phi thường
người phụ nữ phi thường đó
là tôi


Lê Vĩnh Tài dịch


.

PHENOMENAL WOMAN

Pretty women wonder where my secret lies.
I’m not cute or built to suit a fashion model’s size
But when I start to tell them,
They think I’m telling lies.
I say,
It’s in the reach of my arms
The span of my hips,
The stride of my step,
The curl of my lips.
I’m a woman
Phenomenally.
Phenomenal woman,
That’s me.

I walk into a room
Just as cool as you please,
And to a man,
The fellows stand or
Fall down on their knees.
Then they swarm around me,
A hive of honey bees.
I say,
It’s the fire in my eyes,
And the flash of my teeth,
The swing in my waist,
And the joy in my feet.
I’m a woman
Phenomenally.
Phenomenal woman,
That’s me.

Men themselves have wondered
What they see in me.
They try so much
But they can’t touch
My inner mystery.
When I try to show them
They say they still can’t see.
I say,
It’s in the arch of my back,
The sun of my smile,
The ride of my breasts,
The grace of my style.
I’m a woman

Phenomenally.
Phenomenal woman,
That’s me.

Now you understand
Just why my head’s not bowed.
I don’t shout or jump about
Or have to talk real loud.
When you see me passing
It ought to make you proud.
I say,
It’s in the click of my heels,
The bend of my hair,
the palm of my hand,
The need of my care,
‘Cause I’m a woman
Phenomenally.
Phenomenal woman,
That’s me.

Maya Angelou

Sự nghiệp của Gisho

Gisho được truyền giới ni cô khi cô chỉ mới 10 tuổi. Cô được huấn luyện cũng như các sư nam. Khi cô được 16 tuổi, cô đi khắp nơi tim học với mọi thiền sư.

Cô học với Unzan ba năm, sáu năm với Gukei, nhưng không nắm được trí tuệ sáng suốt. Cuối cùng cô đến với thiền sư Inzan.

Inzan chẳng đối xử với cô khác với các thiền sinh nam tí nào. Thiền sư la mắng cô như sấm động. Ông trói buộc ni cô đủ cách để đánh thức bản chất bên trong của ni cô.

Gisho học với thiền sư Inzan mười ba năm, rồi ni cô tìm được cái cô đang tìm.

Để ca ngợi ni cô, Inzan làm một bài thơ:

    Ni cô này học mười ba năm với tôi
    Chiều tối cô quán chiếu công án thâm sâu
    Sáng ra lại vùi đầu vào công án khác
    Ni cô Hoa Tetsuma đã hơn tất cả, trừ Gisho.
    Và kể từ Mujaku chẳng ai thật như Gisho!
    Nhưng vẫn còn nhiều cửa cô phải đi qua
    Cô còn phải chịu nhiều đấm từ bàn tay sắt của tôi

Sau khi Gisho đã giác ngộ, ni cô đến tỉnh Banshu, lập thiền viện và dạy hai trăm ni cô khác cho đến khi cô qua đời vào tháng 8 năm nọ.
.
Bình:

• Gisho đi tu năm 10 tuổi. Học với nhiều thầy, kể cả ba thầy lớn từ năm 16 tuổi, trong vòng 22 năm, chịu đủ mọi la mắng xỉ vả, để được giác ngộ, vào năm 38 tuổi. Tức là muốn nắm được chân l‎ý nhà Phật không phải là chuyện dễ, cần cố công kiên trì nhiều năm.

(1) Một phần lý do là vì trí tuệ Phật gia bao hàm l‎ý luận thâm sâu, đến mức vượt cả lý luận.

(2) Một phần là do cái “tâm” của hành giả đã mất “cái tôi” đến mức nào, nhưng cùng lúc lại vững tin vào chính mình đến mức nào. Đây là một điều nghe như đối nghịch, nhưng người thực hành thì biết là không. Cái tôi của ta càng mất đi, ta lại càng tăng tự tin.

(3) Một phần là do chín muồi nhờ trực nghiệm cuộc đời. (Có nhiều điều mình đọc năm học triết 18 tuổi, đến năm 40 tuổi mới bắt đầu hiểu hơi rõ rõ).

• Các thiền sư lúc nào cũng nhẹ nhàng thong thả với mọi người, trừ học trò của mình. Nhiều đại sư xử với học trò rất dữ dằn.

Thực ra thì ngày nay cũng thế thôi. Ở cấp giáo dục thấp cho mọi người, các vị thầy lúc nào cũng vuốt ve khuyến khích. Nhưng ở mức thượng đẳng, mức học để làm thầy thiên hạ, thì đó là giáo dục elite, nhằm đào tạo một lớp lãnh đạo rất nhỏ. Người học trò ở mức này thực ra cũng đã là thầy, và phải đủ sức chịu đựng kỹ luật thép, để thành “thép đã tôi thế đấy”, nếu không thì xìu xìu ển ển như cọng bún, chẳng lãnh đạo ai được cả.

Trong các công ty (hay nhà nước) cũng thế. Ở cấp cao, chẳng ai vuốt ve ai cả, mà mọi người đòi hỏi nhau phải chịu được kỹ luật thép để đạt được phẩm chất cao nhất.

Và kỹ luật thép đó thực ra cũng chỉ là để đòi hỏi ta đánh mất cái tôi của mình.

• Và giác ngộ cũng có nhiều cấp. Giác ngộ tầng thấp thì vẫn còn nhiều gian khổ tiếp tục trí tuệ thâm sâu hơn. Luôn luôn phải học thêm hậu tiến sĩ. 🙂

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Gisho’s Work

Gisho was ordained as a nun when she was ten years old. She received training just as the little boys did. When she reached the age of sixteen she traveled from one Zen master to another, studying with them all.

She remained three years with Unzan, six years with Gukei, but was unable to obtained a clear vision. At last she went to the master Inzan.

Inzan showed her no distinction at all on account of her sex. He scolded her like a thunderstorm. He cuffed her to awaken her inner nature.

Gisho remained with Inzan thirteen years, and then she found that which she was seeking!

In her honor, Inzan wrote a poem:

    This nun studied thirteen years under my guidance.
    In the evening she considered the deepest koans,
    In the morning she was wrapped in other koans.
    The Chinese nun Tetsuma surpassed all before her,
    And since Mujaku none has been so genuine as this Gisho!
    Yet there are many more gates for her to pass through.
    She should receive still more blows from my iron fist.

After Gisho was enlightened she went to the province of Banshu, started her own Zen temple, and taught two hundred other nuns until she passed away one year in the month of August.

# 38

Try to remember – Hãy cố nhớ

Hãy cố nhớ loại tháng chín
Khi đời trôi chậm và, ôi, rất dịu dàng.
Hãy cố nhớ loại tháng chín
Khi cỏ xanh và hạt lúa chín vàng.
Hãy cố nhớ loại tháng chín
Khi bạn là anh chàng hiền hậu và khờ khạo.
Hãy cố nhớ, và nếu bạn nhớ,
Thì đi theo.

Đi theo…

Hãy cố nhớ khi cuộc đời thật hiền dịu
Nên không ai khóc, ngoại trừ cây liễu.
Hãy cố nhớ khi cuộc đời thật hiền dịu
Nên giấc mơ đặt nằm bên gối.
Hãy cố nhớ khi cuộc đời thật hiền dịu
Nên tình yêu là viên than hồng sắp cuộn thành biển cả.
Hãy cố nhớ, và nếu bạn nhớ,
Thì đi theo.

Đi theo…

Tận trong tháng chạp, thật hay để nhớ,
Dù  bạn biết tuyết sẽ đến.
Tận trong tháng chạp, thật hay để nhớ,
Không đau nhưng quả tim vẫn trống vắng.
Tận trong tháng chạp, thật hay để nhớ,
Lửa tháng chín làm ta hiền dịu.
Tận trong tháng chạp, quả tim chúng ta nên nhớ
Và đi theo.

(TĐH dịch)

Try to remember

Try to remember the kind of September
When life was slow and oh, so mellow.
Try to remember the kind of September
When grass was green and grain was yellow.
Try to remember the kind of September
When you were a tender and callow fellow.
Try to remember, and if you remember,
Then follow.

Follow, follow, follow, follow, follow,
Follow, follow, follow, follow.

Try to remember when life was so tender
That no one wept except the willow.
Try to remember when life was so tender
That dreams were kept beside your pillow.
Try to remember when life was so tender
That love was an ember about to billow.
Try to remember, and if you remember,
Then follow.

Follow, follow, follow, follow, follow,
Follow, follow, follow, follow.

Follow, follow, follow, follow, follow,
Follow, follow, follow, follow.

Follow, follow, follow, follow, follow,
Follow, follow, follow, follow.

Deep in December, it’s nice to remember,
Although you know the snow will follow.
Deep in December, it’s nice to remember,
Without a hurt the heart is hollow.
Deep in December, it’s nice to remember,
The fire of September that made us mellow.
Deep in December, our hearts should remember
And follow.

Music: Harvey Schmidt
Lyrics: Tom Jones

Try to Remember là bản nhạc đầu tiên của vở ca kịch hài hước The Fantasticks. Bản nhạc do Harvey Schmidt viết nhạc và Tom Jones viết lời.

Try to Remember ra mắt lần đầu tiên với Jerry Orbach hát trong vở kịch trên sân khấu Broadway.

Bản này đứng đầu Billboard Hot 100 năm 1965 ba lần với ba ca sĩ Ed Ames, Roger Williams, và ban The Brothers Four.

Năm 1975 Gladys Knight dùng lời của Try to Remember để nói lời giới thiệu trước khi hát The Way We Were của Barbra Streisand và biến nó thành một international hit. Bản nhạc lên hạng 11 trên bảng Hot 100.

Harry Balefonte đã thu âm Try to Remember nhiều lần, và Nana Mouskouri đã thu âm với 3 thứ tiếng: Đức, Pháp và Ý.

July Andrews hát trên show TV đặc biệt của cô.

Try to Remember cũng đã được dùng trong soundtrack của phim The Man Who Fell to Earth và phin City of Glass của Hồng Kông.

Sau đây mời các bạn nghe:

1.  Jeery Orbach trên Broadway (1960)

2.  Harry Belefonte

3.  Julie Andrews

4.  Nana Mouskouri và Harry Balefonte

5.  The Brothers Four

6.  Gladys Knight “Try To Remember/The Way We Were” (1980)

The Fantasticks (Broadway) – Try To Remember (Jerry Orbach) 1960

.

Harry Belafonte – Try to Remember (There is so much to remember of Harry Belafonte’s life in the entertainment industry. Enjoy some special moments with Danny Kaye, Nat King Cole and Dinah Shore).

.

The Julie Andrews Show “Try to Remember” (Julie sings from her NBC television special).

.

Nana Mouskouri và Harry Belafonte – Try to Remember

.

The Brothers Four ~ Try to Remember (1965)

.

Gladys Knight “Try To Remember/The Way We Were” (1980)

Xao nọong ơi em đẹp như cầu vồng

Ai đã từng lên Tây Bắc đều không khỏi trầm trồ thán phục, rung động trước vẻ đẹp trẻ trung, thanh tân, duyên dáng của các cô gái Thái. Chiếc váy đen lấp lánh vòng xà tích bạc, thắt lưng xanh, áo cỏm dịu dàng đôi hàng cúc bạc như cánh bướm và khăn piêu vời vợi trên đầu. Sự đồng nhất hài hòa kỳ diệu ấy tạo cho người ta một cảm giác thanh thản trước bộn bề dòng chảy của cuộc sống.

Khăn piêu

Trang phục của con gái Thái vừa đơn giản, vừa cầu kỳ; vừa kín đáo, vừa phô trương đường nét; vừa rực rỡ trang nhã và không kém phần trang trọng.

Váy Thái bao giờ cũng là mầu đen, thường bằng vải mộc tự dệt nhuộm chàm, lanh hoặc nhung the, mặt trong gấu váy bao giờ cũng táp bằng vải đỏ hoặc vải hoa sặc sỡ, mỗi bước đi chân váy uốn lượn thấp thoáng sắc mầu, kiểu làm dáng này kín đáo mà duyên. Điểm xuyết bên hông là bộ xà tích bằng bạc buông lơi tạo một điểm nhấn rất bắt mắt. Tiếp nối giữa váy và áo là chiếc thắt lưng xanh. Từ khi còn nhỏ, các bé gái đã được các bà, các mẹ dậy cách thắt “Xài yêu” – thắt lưng bằng vải, để lớn lên có thân hình theo tiêu chí: “Eo kíu manh po” – thắt đáy lưng như con tò vò. Tiêu chí về vẻ đẹp của người con gái Thái cũng giống như các thiếu nữ Kinh là phải “thắt đáy lưng ong” thì mới có thể được như mong ước tự bao đời: “Khuôn ẹt tẹt dú lai non lai/ Khuôn liệng ngúa bấu tai, liệng quái bấu sẩu/ Khuôn cót nảu phua mình non song…” – có nghĩa là: Vía đi vía không chờ/ Vía nuôi bò không chết, nuôi trâu không gầy còm/ Vía ôm chồng nằm kề/ Lứa đôi dây tình bện chặt…”, giống như câu ca của miền xuôi: “Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con”.

Áo của con gái Thái gọi là “xửa cỏm”, một kiểu áo dài tay may bó sát người, vừa tạo dáng, vừ vun đầy bộ ngực thanh xuân, thường có hai kiểu cổ: Cổ chữ V của người Thái trắng và cổ đứng của người Thái đen. Trước ngực là hai hàng cúc bạc hình ve sầu, nhưng thường là hình bướm, một bên là hàng bướm đực với đầu hình tam giác cùng đôi râu vểnh lên kiêu hãnh; một bên là hàng bướm cái đầu tròn, có lỗ hình thoi. Khi gài cúc (luồn đầu bướm đực vào lỗ trên đầu bướm cái) hai vạt áo khép lại kín đáo, hai hàng bướm chụm đầu vào nhau như trong vũ điệu giao duyên. Con gái chưa chồng, cổ áo cao kín đáo, hàng cúc mang số lẻ như còn chờ đợi cặp đôi. Con gái có chồng cổ áo thấp hơn, hàng cúc áo mang số chẵn như ước mong hạnh phúc vẹn tròn.

Nổi bật trong bộ trang phục của người con gái Thái là chiếc khăn piêu, piêu là một trong những thước đo sự khéo tay của cô gái. Người con gái khi dệt vải, thêu piêu đã gửi cả tâm tình vào đường kim mũi chỉ:

Em làm chiếc khăn piêu
Trao anh cả tấm tình
(Tình ca Thái)


Khăn piêu dài độ một sải rưỡi bằng vải bông nhuộm chàm, hai đầu khăn được thêu cầu kỳ những hoa văn, họa tiết hình mặt trời, hoa lá, dây leo, búp cây guột… với các mầu chủ đạo là đỏ, hồng, vàng, xanh. Các góc và rìa khăn viền vải đỏ và trang trí những “cút piêu” – nút thắt bằng vải, hoặc hạt cườm bọc vải và “xài peng” – tua vải mầu. Truyện cổ dân tộc Thái kể rằng: “Xưa có một mường toàn đàn bà con gái, những người khác giới không được vào, nếu cố tình vào sẽ bị sát hại. Một hôm có chàng trai đi săn “vô tình” “lạc” vào mường mẹ, được một cô gái xinh đẹp che chở và đem lòng yêu. Hai người quyết chí cùng chung bếp lửa.

Chàng trai trốn về thưa chuyện với mường bố. Mường bố cho đó là duyên trời định và đem người sang “thưa chuyện” với mường mẹ. Mường mẹ yếu thế lại đuối lý phải gả cô gái cho chàng trai và bỏ lệ cũ, trai gái từ đó được tự do yêu nhau. Mường bố yêu cầu mường mẹ làm chiếc khăn rồi điểm chỉ vào đó “cút piêu” và làm những tua vải hẹn ước “sài peng”.

Câu chuyện về tình yêu bất tử vượt lên những định kiến và hủ tục lạc hậu ấy sống mãi trong lòng các thế hệ người Thái Tây Bắc, để rồi hôm nay, mỗi khi chàng trai đón nhận chiếc khăn piêu hẹn ước là lồng ngực trẻ trung lại rộn ràng khúc nhạc về tình yêu, trân trọng nâng niu ước mơ cao đẹp về một cuộc sống gia đình hạnh phúc.

Váy áo tôn khăn piêu, khăn piêu tôn váy áo. Khăn piêu không chỉ để đội đầu, mà còn gắn liền với nhiều sinh hoạt cộng đồng: Trong hội xòe piêu là đạo cụ không thể thiếu, piêu lóng lánh như núi rừng Tây Bắc đang độ xuân thì; piêu bay lên như áng cầu vồng trong điệu xòe tung khăn tuyệt đẹp; hội tung còn, piêu là phần thưởng quí giá cho bên trai khi thắng cuộc; trong tình yêu piêu là tín vật; khi đông về giá lạnh piêu giữ ấm cổ, ngực ai…

Khi piêu phối hợp với chiếc áo cỏm trắng tinh, với chiếc thắt lưng xanh như lá rừng, với chiếc váy đen như màn đêm huyền hoặc đã tạo nên một vẻ đẹp thật khó mà đặt tên, cứ dư ba thổn thức trong lòng người mỗi khi nhớ về Tây Bắc. Đặc biệt ở đây còn có sự phối hợp tinh tế giữa văn hóa vải vóc: Bông, lanh, nhung, lụa mềm ấm như làn nước suối xuân với văn hóa kim loại quí: Bạc trắng tinh khôi ẩn chứa đầy bất ngờ như núi rừng mùa đông. Trang phục ấy đâu chỉ che thân, trang phục ấy còn là cốt cách, là văn hóa của người Thái Tây Bắc nói chung và của các cô gái Thái nói riêng.

Trong ký ức của tôi bỗng hiện lên một đêm xòe nồng say ở Mường Thanh mừng ngày chiến thắng Điện Biên, hay vòng đại xòe náo nức trong tuần văn hóa du lịch ở Yên Bái. Các “xao nọong” – em gái trong trang phục truyền thống lướt đi trong điệu dân vũ. Tiếng trống, tiếng khèn, pí pặp, pí thiu… rộn ràng tha thiết, rừng núi âm vang rộn rã. Tôi như được đắm mình trong tiếng vọng của ngàn xưa huyền thoại về đôi vợ chồng “Ải Lạc Cậc” – Bố khổng lồ, thần thoại dân tộc Thái đã khai thiên lập địa nên xứ Tây Bắc thuở nào.

Bộ trang phục này sinh ra cho các “xao nọong” thêm xinh đẹp và chính các em đã làm cho trang phục tuyệt vời kia sống động cái hơi cái hồn của dân tộc mình giữa Tây Bắc ngàn năm vẫn trẻ!


Trần Vân Hạc

Ấn hành kinh sách

Tetsugen, một người sùng mộ Thiền ở Nhật, quyết định sẽ ấn hành kinh sách, vào thời kinh sách chỉ có bằng tiếng Hán. Sách phải in với những khối khắc gỗ, bảy ngàn bản in một lần, tốn rất nhiều công sức.

Tetsugen bắt đầu đi khắp nơi và quyên góp tiền bạc. Vài người ủng hộ cho vài trăm đồng vàng, nhưng thường thì Tetsugen chỉ nhận được vài xu lẻ. Ông cám ơn mỗi người bố thí với lòng tri ân như nhau. Sau mười năm Tetsugen đã có đủ tiền để bắt đầu in.

Nhưng vào lúc đó Sông Uji gây lụt lội. Nạn đói theo sau. Tetsugen dùng tiền đã quyên góp cho sách để giúp mọi người khỏi chết đói. Rồi ông lại bắt đầu quyên góp tiền.

Bảy năm sau một trận dịch lan khắp nước. Tetsugen lại dùng tiền quyên góp, để giúp mọi người.

Ông lại quyên góp tiền lần thứ ba, và sau 20 năm ước mơ của ông thành hiện thực. Những khối gỗ khắc in những bản kinh đầu tiên ngày nay còn trưng bày trong tu viện Obaku ở Kyoto.

Người Nhật dạy con cái họ là Tetsugen in ba bộ kinh, và hai bộ đầu vô hình vượt trội hơn cả bộ cuối cùng.
.

Bình

• Tetsugen cám ơn người cho trăm đồng vàng và người cho vài xu lẻ “vói lòng tri ân như nhau.”

• In kinh sách không quan trọng bằng cứu người.

• Sách in sớm hay muộn cũng không chết chóc ai, người đói người bệnh mà không cứu ngay thì chết. Thời tính ấn định ưu tiên lúc này.

• Việc gì cần phải làm thì làm, đừng nhắm mắt mù quáng theo đúng “kế hoạch”. “Kế hoạch được sinh ra để được điều chỉnh.” (Plan is made to be changed).

• 37 năm để hoàn thành tâm nguyện in một bộ kinh. Nhẫn.

Trần Đình Hoành dịch và bình

.

Publishing the Sutras

Tetsugen, a devotee of Zen in Japan, decided to publish the sutras, which at that time were available only in Chinese. The books were to be printed with wood blocks in an edition of seven thousand copies, a tremendous undertaking.

Tetsugen began by traveling and collecting donations for this purpose. A few sympathizers would give him a hundred pieces of gold, but most of the time he received only small coins. He thanked each donor with equal gratitude. After ten years Tetsugen had enough money to begin his task.

It happened that at that time the Uji River overflowed. Famine followed. Tetsugen took the funds he had collected for the books and spent them to save others from starvation. Then he began again his work of collecting.

Several years afterwards an epidemic spread over the country. Tetsugen again gave away what he had collected, to help his people.

For a third time he started his work, and after twenty years his wish was fulfilled. The printing blocks which produced the first edition of sutras can be seen today in the Obaku monastery in Kyoto.

The Japanese tell their children that Tetsugen made three sets of sutras, and that the first two invisible sets surpass even the last.

# 37