Đừng làm tôi thất vọng, đừng làm tôi thất vọng.
Đừng làm tôi thất vọng, đừng làm tôi thất vọng.
Không ai yêu tôi như nàng
Ô như nàng, vâng như nàng
Và nếu có ai yêu tôi như nàng yêu tôi
Ô như nàng yêu tôi, như nàng yêu tôi Continue reading Đừng làm tôi thất vọng→
Thời Hiến Đế nhà Hán, quan thái thú là Sĩ Nhiếp đóng đô thành ở bờ phía nam sông Bình Giang (nay là sông Thiên Đức). Phía Nam thành đó có chùa thờ Phật là chùa Phúc Nghiêm, có vị sư từ phương Tây tới, hiệu là Già La Đồ Lê trụ trì ở đấy, có phép đứng một chân, mọi người đều kính phục gọi là tôn sư, kéo nhau tới học đạo. Chùa Dâu (Chùa Pháp Vân), Bắc Ninh
Hồi ấy có người con gái tên là Man Nương, cha mẹ đều đã mất, nghèo khổ vô cùng, cũng tới đó dốc lòng theo học Phật. Vì có tật nói lắp, không thể cùng chúng tụng kinh, thường ở dưới bếp, vo gạo, nhặt rau, nấu nướng cho các vị tăng trong chùa và khách tứ phương.
Giữa tháng năm, đêm ngắn, Man Nương nấu cháo đã chín mà tăng chúng tụng kinh chưa xong, chưa tới ăn cháo được. Man Nương ngồi đợi bên cửa bếp, không ngờ ngủ quên đi mất. Tăng chúng tụng kinh xong đều về phòng riêng. Man Nương ngủ ở giữa cửa bếp, sư Già Lê bước qua mình Man Nương. Man Nương tự nhiên động thai. Có thai được ba bốn tháng, Man Nương xấu hổ bỏ về. Sư Già Lê cũng thẹn mà bỏ đi. Man Nương về tới một ngôi chùa ở ngã ba sông thì ở lại đó. Đầy tháng sinh ra một đứa con gái, tìm sư Già Lê mà trả. Đêm đến, bế đứa bé gái ấy tới gốc cây bên ngã ba đường nói: “Ta gửi con Phật, mi giữ lấy sẽ thành Phật đạo”. Sư Già Lê và Man Nương từ giã nhau ra về, Già Lê cho Man Nương một cây trượng và bảo: “Ta cho nàng vật này. Nàng về nhà, nếu gặp năm hạn hán thì lấy trượng cắm xuống đất, lấy nước cứu sinh dân”. Man Nương cung kính bái lĩnh, về ở trong chùa. Gặp năm đại hạn, nàng lấy trượng cắm xuống đất, tự nhiên nước cuồn cuộn chảy ra, dân được vì thế được nhờ.
Khi Man Nương ngoài tám mươi tuổi, gặp lúc cây ấy bị đổ, trôi dạt đến bến sông trước cửa chùa, quanh quẩn ở đấy mà không trôi đi. Dân thấy thế, định bổ làm củi nhưng rìu nào cũng đều bị gãy, bèn cho hơn ba trăm người trong làng ra kéo cây gỗ lên mà không chuyển. Gặp lúc Man Nương xuống bến rửa tay, thử kéo chơi thì cây chuyển động. Mọi người đều kinh ngạc, bảo nhờ Man Nương kéo lên bờ, sai thợ tạc bốn pho tượng Phật. Khi xẻ cây gỗ đến chỗ đặt đứa bé gái thì thấy đã hóa thành một tảng đá rất cứng rắn, rìu đều bị mẻ cả. Họ liền vất tảng đá xuống vực sông, một tia sáng chói lên, hồi lâu đá mới chìm xuống nước. Bọn thợ đều chết cả. Dân bèn mời Man Nương đến bái lễ, nhờ dân chài lặn xuống nước vớt lên, rước vào trong chùa, thếp vàng cúng bái. Sư Già Lê đặt hiệu cho bốn tượng Phật là: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện (1). Thiện nam tín nữ ở khắp nơi đều thường tụ họp về chùa vui chơi ca múa, người đời gọi là hội Tắm Phật, ngày nay vẫn còn.
Chú thích:
1) Bản VHV 1473 chép thêm rằng: “Gọi Man Nương là Phật mẫu. Ngày mồng 8 tháng 4, Man Nương không bệnh mà chết, chôn ở trong chùa. Người đời lấy ngày này làm ngày lễ Phật đản.
(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.
Bình:
Tượng Pháp Vân chùa Dâu, phía trước là hộp đặt Thạch Quang Phật
• Truyện này nói về việc phối hợp giữa văn hóa Việt thời cổ đại và văn hóa Phật giáo.
Văn hóa Phật giáo biểu tượng bằng sư Già La Đồ Lê với cái tên rất ngoại quốc (Có bản nói là sư Khâu Đà La. Dù là tên gì thì cũng nghe rất ngoại quốc). Già La Đồ Lê có phép đứng một chân: Đây là ý nói về nhất nguyên luận của Phật giáo–tất cả mọi sự đều là Một, và Một đó là Không. (Nhất thiết pháp giai Không–tất cả mọi thứ đều là Không).
Văn hóa Việt biểu tượng bằng Man Nương. Man là man di, man dã, tức là ngu si dốt nát. Nương là nàng.
Già La Đồ Lê bước ngang Man Nương là biểu tượng của sự phối hợp giữa hai nền văn hóa, 5 người con là kết quả của phối hợp văn hóa này.
• Việc dùng man nương làm biểu tượng văn hóa Việt có thể hiểu ở nhiều cấp độ và góc cạnh khác nhau:
1. Đây là chú tâm về văn hóa mẫu hệ, văn hóa mẹ, lấy mẹ làm chính. Bố chỉ là vai phụ trong truyện. Có 5 con thì 4 con là nữ, và một tảng đá. Chẳng có nam.
2. Nói rằng phụ nữ ngu dốt (Man Nương) có thể thành Phật là một cách mạng văn hóa về bình đẳng nam nữ trong Phật giáo. Trong truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy (Tiểu Thừa) ở Ấn Độ phụ nữ không được đi tu, và không thể thành Phật.
3. Man nương ngu dốt còn là biểu tượng của vô minh (si mê), gặp Phật pháp từ Già La Đồ Lê, mà giác ngộ thành Phật.
• Man nương và Già La Đồ Lê phối hợp tạo nên một người con đầu tiên là con gái. Đây là một nhấn mạnh về truyền thống văn hóa mẫu hệ cổ truyền.
• Đứa con gái này được Man Nương giao lại cho Già La Đồ Lê là biểu tượng cho sự nuôi dưỡng khôn lớn trong tinh thần Phật giáo.
• Mang con bỏ vào trong hốc cây và được cây nuôi dưỡng gợi lại hình ảnh Phật Thích Ca thiền định dưới cội Bồ Đề và giác ngộ.
Cây lại đứng ngay ngã ba, nơi ba đường chụm lại. Đây xem ra là biểu tượng của tam thừa chỉ là một. Trong phẩm Thí Dụ của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật có nói Phật dạy 3 thừa—thanh văn thừa, duyên giác thừa, Bồ tát thừa—thật ra cũng chỉ là một Phật thừa. Ba con đường cũng đều là đường đưa đến giác ngộ.
• Tuy nhiên, cây cổ thụ ở đây còn có thể là tàn tính của tín ngưỡng đa thần xưa cũ. Vào thời cổ xưa phần đông các bộ tộc của loài người đều theo đa thần, trong đó cây cối, mưa, gió, núi, sông… đều là thần, hoặc đều có thần ngự trị. Man Nương nói với cây cổ thụ “Ta gửi con Phật, mi giữ lấy sẽ thành Phật đạo”, tức là cư xử với cây này như một vị thần cây.
• Cây còn là biểu tượng của tổ quốc. Đất, đá, nước, cây đều là biểu tượng của non sông gấm vóc. Con của Man Nương được nuôi dưỡng trong Phật pháp và tinh khí núi sông.
• Cây gãy, trôi theo dòng nước đến cửa chùa. Đây là văn hóa nước, văn hóa quê hương tổ quốc—nước của nguồn gốc dân tộc, Động Đình Hồ. Nước là tổ quốc. Chúng ta đã nói đến việc quan trọng của văn hóa nước trong Truyện Hồng Bàng và Truyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử. Pháp vân (2 ảnh trái), Pháp Vũ (2 ảnh phải)
• Từ cây này tạo thành năm Phật: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện và Thạch Quang Phật (Phật Đá Sáng, hiện nay vẫn còn được tôn thờ trong Chùa Pháp Vân ở Bắc Ninh).
Đây khá rõ là việc biến các thần cũ của thời đa thần thành Phật của nền văn hóa mới. Pháp là Phật pháp, vân là mây, vũ là mưa, lôi là sấm, điện là chớp, thạch là đá. Các thần mây, thần mưa, thần sấm, thần điện, thần đá (hay thần núi) của thời sơ khai nay được tôn thành Phật trong nền văn hóa mới.
• Ngoại trừ đá Thạch Quang Phật không rõ giới tính, bốn Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện đều là phụ nữ, không có Phật nam. Một lần nữa nhấn rất mạnh văn hóa mẫu hệ xưa cũ.
• Thạch Quang Phật, được xem là em út, không có hình dáng người, nhưng là đá, khác với các tượng Phật của các chị khắc từ cây. Đá thì chắc chắn bền vững hơn cây. Đá là núi là đất, là quê hương. Đá Thạch Quang Phật nổi trên mặt nước lâu rồi mới chìm là nhấn mạnh đến Núi(đá) Sông.
“Khi xẻ cây gỗ đến chỗ đặt đứa bé gái thì thấy đã hóa thành một tảng đá rất cứng rắn, rìu đều bị mẻ cả”. Nghĩa là, đá Thạch Quang Phật là người con quan trọng nhất, là linh khí của bé gái. Phật Đá Sáng, Phật Đất Nước Núi Sông, do đó, là quan trọng nhất và bền vững chắc chắn hơn tất cả các Phật.
Ở đây ta thấy tinh thần Phật giáo và tinh thần dân tộc quyện vào nhau thật chặt chẻ. Phật giáo, dù là từ Ấn Độ sang, khi đến Việt Nam nó quyện vào văn hóa dân tộc Việt rất khắng khít, để giúp văn hoá Việt phát triển mạnh mẽ và tự nhiên. Xem ra không có xung đột giữa văn hóa Phật giáo và văn hóa Việt cổ xưa. Và tinh thần dân tộc là một yếu tính tự nhiên của Phật giáo Việt Nam.
• 5 Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện và Thạch Quang Phật: Từ góc độ triết lý Phật giáo, Phật pháp hiện diện trong tất cả mọi thứ, kể cả mây, mưa, sấm, chớp và đá.
• Tại sao lại một Phật mẹ và năm Phật con, chúng ta không rõ. Nhưng cũng có thể đây là biểu tượng của văn hóa âm dương ngũ hành đã có trong văn hóa Việt Nam từ trước. Mẹ cha là âm dương và 5 con là ngũ hành – kim mộc thủy hỏa thổ.
• Cây trượng sư Già La Đồ Lê tặng Man Nương là biểu tượng của Phật pháp, tương tự như cây gậy của Chử Đồng Tử, của thiền tổ Bồ Đề Đạt Ma, và của Phật Di Lặc và mà ta đã nói đến trong Truyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử.
• Chùa Pháp Vân, còn gọi là Chùa Dâu, Diên Ứng Tự, hay Cổ Châu Tự, hiện nay vẫn còn ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km. Đây là ngôi chùa được đánh giá là xưa nhất Việt Nam.
Chùa nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu. Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam. Tại vùng Dâu có năm ngôi chùa cổ: chùa Dâu thờ Pháp Vân, chùa Đậu thờ Pháp Vũ, chùa Tướng thờ Pháp Lôi, chùa Dàn thờ Pháp Điện, và chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ của Tứ Pháp. Năm chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần. Do chùa Đậu (Bắc Ninh) bị Pháp phá hủy, nên tượng Bà Đậu (Pháp Vũ) cũng được đưa về thờ ở chùa Dâu.
Bridge over Troubled Water là bài hát của Paul Simon và được bộ đôi Simon & Garfunkel ghi âm và phát hành năm 1970 trong album thứ 5 và là album cuối của bộ đôi có cùng tên Bridge over Troubled Water. Bài hát và album thắng 4 giải Grammy tại Grammy thứ 13 năm 1971 gồm: Đĩa của năm (Record of the Year), Hòa âm hay nhất (Best Arrangement), Bài hát đương thời hay nhất (Best Contemporary Song), Kỹ thuật ghi âm tốt nhất (Best Engineered Recording).
Bridge over Troubled Water trở thành bài hát chữ ký (signature song) của Simon & Garfunkel. Lên hạng nhất trên Billboard Hot 100 sáu tuần liền, và cũng lên đầu bảng ở Anh, Canada, Pháp, và New Zealand. Bài hát cũng lên top five trong 8 nước khác. Bài hát là một trong những bài được trình diễn nhiều nhất trong thế kỷ 20 với hơn 50 nghệ sĩ ghi âm, trong đó có Elvis Presley và Aretha Franklin.
Mọi người đều ngã một lúc nào đó
Phải tìm sức vươn lên
Từ đống tro tàn và làm khởi sự mới
Ai cũng cảm được đau nhức
Bạn nghĩ là nó nặng hơn bạn có thể chịu
Nhưng bạn mạnh hơn, manh hơn là bạn biết
Đừng bỏ cuộc
Mặt trời sắp sáng
Bạn phải đối diện đám mây
Để tìm lớp lót bạc
Tôi đã thấy những giấc mơ chuyển dời núi non
Hy vọng không bao giờ ngưng
Ngay cả khi trời sập
Tôi đã thấy phép lạ xảy ra
Những lời cầu lặng lẽ được giải đáp
Những quả tim tan vỡ thành mới toanh
Đó là điều lòng tin có thể làm
Dù là bạn đã nghe gì
“Không thể” không phải là một từ
Nó chỉ là cớ để ai đó không cố gắng
Mọi người đều rất sợ
Khi họ quyết định bước bước đó
Trên mặt nước
Mọi sự sẽ tốt đẹp
Cuộc đời có nhiều hơn
Là những gì mắt bạn đang thấy
Bạn sẽ tìm ra đường đi
Nếu bạn giữ vững lòng tin
Tôi đã thấy những giấc mơ chuyển dời núi non
Hy vọng không bao giờ ngưng
Ngay cả khi trời sập
Tôi đã thấy phép lạ xảy ra
Những lời cầu lặng lẽ được giải đáp
Những quả tim tan vỡ thành mới toanh
Đó là điều lòng tin có thể làm.
Vượt thắng nghịch cảnh
Không chừa cho bạn cơ hội nào
(Đó là điều lòng tin có thể làm)
Khi cả thế giới nói bạn không thể
Tôi sẽ nói bạn có thể!
Tôi đã thấy những giấc mơ chuyển dời núi non
Hy vọng không bao giờ ngưng
Ngay cả khi trời sập
Tôi đã thấy phép lạ xảy ra
Những lời cầu lặng lẽ được giải đáp
Những quả tim tan vỡ thành mới toanh
Đó là điều lòng tin có thể làm
Đó là điều lòng tin có thể làm
Dù bạn ngã đôi khi
Bạn sẽ có sức để vươn lên
(TĐH dịch)
Kutless là một ban nhạc Christian, thành lập năm 2000 ở thành phố Portland, tiểu bang Oregon, Mỹ. Đến nay ban nhạc đã ra được 6 albums và bán trên 1,5 triệu CDs.
What Faith Can Do – Cutless
What Faith Can Do
Kutless
Everybody falls sometimes
Gotta find the strength to rise
From the ashes and make a new beginning
Anyone can feel the ache
You think it’s more than you can take
But you are stronger, stronger than you know
Don’t you give up now
The sun will soon be shining
You gotta face the clouds
To find the silver lining
I’ve seen dreams that move the mountains
Hope that doesn’t ever end
Even when the sky is falling
I’ve seen miracles just happen
Silent prayers get answered
Broken hearts become brand new
That’s what faith can do
It doesn’t matter what you’ve heard
Impossible is not a word
It’s just a reason for someone not to try
Everybody’s scared to death
When they decide to take that step
Out on the water
It’ll be alright
Life is so much more
Than what your eyes are seeing
You will find your way
If you keep believing
I’ve seen dreams that move the mountains
Hope that doesn’t ever end
Even when the sky is falling
I’ve seen miracles just happen
Silent prayers get answered
Broken hearts become brand new
That’s what faith can do
Overcome the odds
You don’t have a chance
(That’s what faith can do)
When the world says you can’t
It’ll tell you that you can!
I’ve seen dreams that move the mountains
Hope that doesn’t ever end
Even when the sky is falling
And I’ve seen miracles just happen
Silent prayers get answered
Broken hearts become brand new
That’s what faith can do
That’s what faith can do!
Even if you fall sometimes
You will have the strength to rise
Hôm đến di tích Lam Kinh, khi đi qua một chiếc cầu, người hướng dẫn cho biết: cầu này thời xưa xây dựng theo kiểu “thượng gia hạ kiều”, bên trên có mái lợp như mái nhà, bên dưới là cầu, ngày nay mái lợp không còn.
Loại cầu này đã gặp ở Hội An với Chùa Cầu. Gọi là Chùa Cầu vì chùa đồng thời là một chiếc cầu bắc ngang qua một con lạch. Mái chùa lợp ngói âm dương che kín cây cầu dài 12m. Công trình này được người Nhật xây dựng khoảng cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII. Một bên đầu cầu có tượng con chó, đầu bên kia là tượng con khỉ. Cầu ngói Ninh Bình
Đến Thừa Thiên nghe câu ca dao:
Ai về cầu ngói Thanh Toàn Cho em về với một đoàn cho vui
Hay
Ai về cầu ngói Giạ Lê
Cho tôi theo với thăm quê bên chồng
Cầu ngói Thanh Toàn ở thôn Vân Khê huyện Hương Thủy, cũng là cầu có mái che bên trên lợp ngói âm dương. Người dân ở đây cho biết cầu do một cung phi thời nhà Nguyễn bỏ tiền ra làm để tỏ lòng yêu quý quê hương, nơi bà đã được sinh trưởng. Còn một Giạ Lê nữa là Giạ Lê Gót, chuyên làm bồ cót, tiếng địa phương là gót.
Ở Cao Bằng cũng có cầu ngói mới làm, trên đường vào mộ Kim Đồng.
Chúng tôi chợt nhớ đến những chiếc cầu này khi về Phát Diệm. Huyện Kim Sơn đang trong tầm mắt mọi người, gần và xa rất nhiều nhà thờ. Những thánh giá màu trắng bạc nổi lên khắp cả bầu trời, trông cao vút. Đoạn đường dài khoảng 4km dọc theo sông đào. Dưới sông có những chiếc thuyền với hình dáng khá dài. Nhiều cây cầu bắc qua sông, có một cây cầu bên trên lợp mái ngói, nằm giữa khoảng đồng không. Cầu có hai nhịp, hai bên thành là lan can, hai bên đầu cầu là lối đi xi măng nối với gờ xi măng của con đường có bậc cấp bước xuống sông. Một cây phượng không cao lắm đang nở hoa đỏ rực. Gặp chiếc cầu chúng tôi cảm thấy thêm niềm vui như gặp lại người bạn cũ trước khi bước vào một trung tâm lớn của Thiên Chúa giáo nước nhà: Phát Diệm.
Vào năm 1862, Phát Diệm chỉ có một ngôi nhà thờ lợp bằng tranh. Năm 1871, được một ngôi nhà thờ khác rộng rãi hơn. Năm 1891 thì có nhà thờ nguy nga tráng lệ. Đây là một quần thể kiến trúc độc đáo, khi đường nét Đông phương với lối mái uốn cong của các điện, các chùa phối hợp hài hòa vào một cơ sở tôn giáo xuất phát từ Tây phương. Toàn thể nhà thờ rộng 22 mẫu, chia làm hai khu vực chính: khu nhà thờ và khu nhà chung. Nhà thờ Phát Diệm
Nhà thờ chánh tòa dài 80m, rộng 24m, cao 18m, bao gồm 48 cột lim, mỗi cột chu vi 2,40m. Bàn thờ là một khối đá liền dài 3,10m, rộng 0,80m. Thánh đường phân làm 9 gian với ngũ môn (5 lối ra vào). Có những phù điêu bằng đá mô tả cuộc đời của Chúa Giê-su. Trong Phương đình treo một quả chuông nặng 150kg, cao 1,90m. Nhà nguyện Trái tim Đức Mẹ bốn mái cong, có lầu gác, từ nền đến cột tất cả đều bằng đá, chung quanh lối đi lót đá. Bốn ngôi nhà thờ nhỏ thờ: Trái tim Chúa Giê-su, Thánh Gioan, Thánh Giu-se và Thánh Phê-rô. Trước mặt nhà thờ là một hồ nước rộng 4 mẫu, trên đảo nhỏ giữa hồ có tượng Chúa cao 3m.
Điều đặc biệt nữa ở đây là có những câu đối chữ Hán, bởi linh mục chủ trương xây dựng nhà thờ Phát Diệm là một bậc uyên thâm Nho học. Đó là một người trải bao gian khổ vẫn nguyện dâng hiến trọn đời cho Đức Tin: Linh mục Phê-rô Trần Lục, tục gọi là Cụ Sáu, từng có tên là Hữu, Triêm, sinh năm 1825 tại Mỹ Quan huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa, tức xứ Kẻ Dừa, được thụ phong linh mục năm 1860, được bổ nhiệm Chánh xứ Phát Diệm năm 1865, tạ thế 1899, thọ 75 tuổi.Tên Trần Lục là do vua Tự Đức đổi khi phong cho ngài chức Trấp an và ban kim khánh, kim tiền. Vua Đồng Khánh phong ngài là Tham tri bộ Lễ sung Khâm sai Tuyên phủ sứ, vua Thành Thái gia phong Thượng thư bộ Lễ, vua Khải Định truy tặng Phát Diệm Nam tước.
Về Phát Diệm không thể không nhắc đến Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ, một người văn võ song toàn, kinh bang tế thế, luôn luôn theo đúng đường lối Nho giáo là nhập thế, hành động, khuyến khích nam nhi cố gắng tạo nên công danh, sự nghiệp, nhưng về mặt lãng mạn, trữ tình thì chẳng những không kém thua ai mà còn hơn hẳn thiên hạ bao nhiêu bậc. Đậu giải nguyên, từng phục vụ ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, với công cuộc dinh điền ông đã lập ra hai huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình).
Ngẫm lại đời ông biết bao nỗi thăng trầm, từng làm đến Thượng thư bộ Binh cũng từng bị hạ xuống đi tiền quân hiệu lực như một binh nhì, vẫn giữ tròn tiết tháo. Bản chất kẻ sĩ của ông là:
Trong lăng miếu ra tài lương đống Ngoài biên thùy rạch mũi can tương
Cho dẫu có pha một chút ngậm ngùi khi trách ông xanh:
Kiếp sau xin chớ làm người Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Cũng chất ngất nét hào sảng và tràn đầy sự tự tại.
Trong chúng ta, khi cảm thấy bất phùng thời, ai chẳng muốn làm một cây thông như vậy.
Nhiều thiền sinh đang học thiền với thiền sư Sengai. Có một cậu thường thức dậy nửa đêm, leo tường ra ngoài, và vào thành phố du hí.
Sengai, kiểm tra phòng ngủ, khám phá cậu này vắng mặt đêm nọ và còn khám phá ra cái ghế cao cậu dùng để leo qua tường. Sengai chuyển cái ghế đi nơi khác và đứng vào thế cái ghế.
Khi chàng lãng tử trở về, không biết Sengai là cái ghế, đạp chân ngay trên đầu của thầy và nhảy xuống đất. Khám phá ra mình vừa mới làm gì, cậu thất kinh.
Sengai nói: “Sáng sớm trời rất lạnh. Coi chừng bị cảm.
Cậu thiền sinh không bao giờ lẻn đi chơi đêm nữa.
.
bình:
• Đi chơi đêm bị thầy bắt gặp cho mấy gậy là chuyện thường. Đi chơi về đạp trên đầu thầy để vào nhà, nếu bị ăn mấy hèo và bị đuổi vĩnh viễn, cũng là chuyện thường, vì mọi người đều có thể chờ đợi hình phạt như vậy xảy ra.
Nhưng nói nhẹ nhàng như chẳng xảy ra việc gì, lại còn lo lắng học trò đi chơi đêm bị cảm, thì chẳng ai chờ đợi cả, nhất là chàng lãng tử nhà ta. Đây là điều hoàn toàn ngạc nhiên. Bởi vì quá ngạc nhiên nên nó làm cho lãng tử nhà ta sốc dữ dội, sốc mạnh đến nỗi đánh tiêu luôn tật ham đi chơi đêm của cậu.
• Không cần phải bom nguyên tử mới tạo ra sốc. Im lặng cũng có thể tạo ra sốc cực mạnh. Sốc đến vì không chờ đợi, chứ không phải vì phải có bom nổ.
Sự khác biệt giữa sốc im lặng và sốc bom là ở chỗ sốc bom thường tàn phá kinh khủng dù là nó đạt được mục đích hay không, nhưng sốc im lặng thì thường chẳng hại gì cả và thường hiệu quả hơn.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Midnight Excursion
Many pupils were studying meditation under the Zen master Sengai. One of them used to arise at night, climb over the temple wall, and go to town on a pleasure jaunt.
Sengai, inspecting the dormitory quarters, found this pupil missing one night and also discovered the high stool he had used to scale the wall. Sengai removed the stool and stood there in its place.
When the wanderer returned, not knowing that Sengai was the stool, he put his feet on the master’s head and jumped down into the grounds. Discovering what he had done, he was aghast.
Sengai said: “It is very chilly in the early morning. Do be careful not to catch cold yourself.”
“Lord of the Dance” là một chương trình ca vũ nhạc Ai-len (Ireland) do một vũ sư Michael Flatley người Mỹ gốc Ireland sáng tạo và là vũ công chính. Nhạc của chương trình này do nhạc sĩ Ronan Hardiman viết.
Michael Flatley nổi tiếng nhờ vũ đoàn Riverdance, một vũ đoàn về vũ Ai-len, nhưng bất đồng ý kiến với ban giám đốc về nghệ thuật trình diễn–Michael muốn trình diễn trong những sân rộng thay vì hạn hẹp trong các hí viện cổ điển–cho nên Machael rời Riverdance và thành lập Lord of the Dance. Cả Riverdance và Lord of the Dance đều nổi tiếng quốc tế về vũ Ai-len.
Bài vũ sau đây có tên là Cry of the Celts (Tiếng Thét Của Người Celts, tổ tiên người Ai-len ngày nay) do Michael Flatley và toàn ban trình bày.
Chúc các bạn một ngày nhiều nhịp chân 🙂
Hoành
.
Lord Of the Dance – Cry of the Celts [Michael Flatley]
Ờ nó dồn ứ trong tôi
Ô tôi chẳng biết đã bao lâu
Tôi chẳng biết sao nhưng tôi cứ nghĩ là
Chuyện gì đó sẽ hỏng
Nhưng nàng nhìn vào mắt tôi
Và làm tôi hiểu ra
Khi nàng nói “Đừng lo, anh yêu”
Đừng lo, anh yêu
Mọi sự sẽ tốt đẹp
Đừng lo, anh yêu
Đừng lo, anh yêu
Tôi nghĩ lẽ ra tôi đã nên ngậm miệng
Khi tôi bắt đầu khoác lác về chiếc xe của tôi
Nhưng tôi không thể ngưng được rồi
Vì tôi đã đẩy những chàng khác quá xa
Nàng làm tôi sống lại
Và làm tôi muốn lái
Khi nàng nói “Đừng lo, anh yêu”
Đừng lo, anh yêu
Đừng lo, anh yêu
Mọi sự sẽ tốt đẹp
Đừng lo, anh yêu
Đừng lo, anh yêu
Đừng lo, anh yêu
Nàng nói, “Anh yêu, khi anh đua hôm nay
Mang theo tình yêu của em với anh
Và nếu anh biết em yêu anh nhiều đến thế nào
Anh yêu, chẳng chuyện gì có thể hỏng được với anh”
Ôi nàng làm gì với tôi
Khi nàng yêu tôi
Và nàng nói “Đừng lo, anh yêu”
Đừng lo, anh yêu
Đừng lo, anh yêu
Mọi sự sẽ tốt đẹp
Đừng lo, anh yêu
Đừng lo, anh yêu
Đừng lo, anh yêu
(TĐH dịch)
Don’t Worry Baby – the Beach Boys – 1964
Don’t Worry Baby Lyrics
Artist(Band):Beach Boys
Well its been building up inside of me
For oh I don’t know how long
I don’t know why but I keep thinking
Something’s bound to go wrong
But she looks in my eyes
And makes me realize
When she says “Don’t worry baby”
Don’t worry baby
Everything will turn out alright
Thời gian: Tháng 4 âm lịch.
Địa điểm: Bãi Tếch Lìm, xã Mỹ Hòa, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
Đặc điểm: Lễ cầu mưa được tổ chức ở bãi Tếch Lìm, chủ xóm dọn mâm lễ. Xóm Đon và Chuông bày binh diễn trận giả và khấn cầu vua nước làm mưa. (Chi tiết)
Thời gian: Tháng 4 âm lịch.
Địa điểm: Huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
Đặc điểm: Hội cầu mưa của người Thái ở Mai Châu được mở vào những đêm trăng quầng đỏ của tháng 3, tháng 4 âm lịch. Mọi người đi hát cầu mưa ở khắp các nhà trong bản, rồi rước đuốc vòng quanh bản. (Chi tiết)
Thời gian: 1/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Đối tượng suy tôn: Tam tòa Thánh Mẫu.
Đặc điểm: Lễ cầu cho dân khang, vật thịnh, mùa màng tươi tốt, hát giao duyên. (Chi tiết)
Thời gian: 18/3 âm lịch.
Địa điểm: Xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Ông Bính, một vị tướng thời Hùng Vương thứ 18.
Đặc điểm: Rước lớn, thi thả diều, bơi chải. (Chi tiết)
Thời gian: 23-24/3 âm lịch
Địa điểm: Xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Đức Phật
Đặc điểm: Lễ cúng Phật; lễ dâng hương; lễ cúng đàn trần tế cầu phúc; lễ cúng Tổ; hát quan họ trên thuyền; hội thi thả chim bồ câu. (Chi tiết)
Thời gian: 8/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Phật Mẫu Man Nương và bốn con gái bà là Pháp Vân (Mây – Bà Dâu – thờ ở chùa Dâu), Pháp Vũ (Mưa – Bà Đậu – thờ ở chùa Thành Đạo), Pháp Lôi (Sấm, Sét – Bà Tương – thờ ở chùa Phi Tương), Pháp Điện (Chớp – Bà Dàn – thờ ở chùa Phương Quan).
Đặc điểm: Lễ rước lớn, múa rồng. (Chi tiết)
Thời gian: 7/4 âm lịch.
Địa điểm: Làng Ngọc Khám, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Ba thành hoàng: Lạc Long Quân, Tri Sơn (Sơn thần), Tri Thủy (Thủy thần).
Đặc điểm: Lễ rước Lạc Long Quân về đình, hội đồng Thành hoàng, tế lễ cầu mùa, đón trận mưa đầu mùa. (Chi tiết)
Thời gian: 27/3 âm lịch.
Địa điểm: Huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đặc điểm: Thi từng đàn 10 con (5 đôi đực cái) vào cuối xuân, trời trong không mây, ít gió, mùa vắng bóng chim cắt, diều hâu (hay đánh chim bồ câu). Các vùng chơi nổi tiếng: Hoàng Mai, Đông Anh (Hà Nội), sông Đuống, Vùng Dâu (Bắc Ninh). (Chi tiết)
Thời gian: 12 – 15/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Chi Lăng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Đối tượng suy tôn: Đức Phật, Thần Nông, Quan Công và Lưu Bị.
Đặc điểm: Lễ cầu mùa, cúng lễ, chơi cờ người. (Chi tiết)
Thời gian: 1/4 dương lịch.
Địa điểm: Thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải, Tp. Hải Phòng.
Đối tượng suy tôn:Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đến nghề cá.
Đặc điểm: Đua thuyền kỷ niệm ngày Bác Hồ về thăm làng cá Cát Bà năm 1959 và cũng là ngày truyền thống của ngành thủy sản. (Chi tiết)
Đối tượng suy tôn: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện.
Đặc điểm: Ngày hội giao hiếu cầu hòa ở một số làng tổ chức rước lễ giữa các làng thờ Bà, nhưng chỉ rước 3 Bà Vân, Vũ, Lôi đến với Bà Điện. Vì tục kiêng đưa Bà Điện ra khỏi chùa, làng sẽ bị cháy.
Thời gian: 11/4 âm lịch.
Địa điểm: Thị trấn Bần, xã Yên Nhân, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
Đối tượng suy tôn: Tướng quân Đoàn Thượng (Đông Hải đại vương) thuộc triều Lý.
Đặc điểm: Rước, cờ bỏi, chọi gà, hầu đồng, xin quẻ. (Chi tiết)
Thời gian: 12 – 16/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Lê Công Hành, tổ nghề là trạng nguyên thời Mạc Đăng Dung.
Đặc điểm: Lễ dâng hương, lễ cúng tưởng niệm. (Chi tiết)
Thời gian: 1/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Chử Đồng Tử, Tiên Dung công chúa, Tây Sa công chúa và Đào Thành (tướng của Hai Bà Trưng).
Đặc điểm: Rước nước, cờ bỏi. (Chi tiết)
Thời gian: 1 – 3/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Đối tượng suy tôn: Ông Nguyễn Kim Lâu, ông tổ nghề chạm bạc thế kỷ 15.
Đặc điểm: Lễ hội gồm: lễ hạ trải đua, rước thánh sư, đua thuyền, ca trù, hát chèo. (Chi tiết)
Địa điểm: Xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.
Đối tượng suy tôn: Quốc sư Dương Không Lộ, Thái úy Lý Thường Kiệt.
Đặc điểm: Rước nước, rước tượng, múa bát dật do 32 cô gái đồng trinh biểu diễn, múa tứ linh, kéo chữ, cờ tướng, thả diều, bắt vịt, hát trống quân trên hồ nước.
Thời gian: 4/4 âm lịch.
Địa điểm: Phường Bưởi, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thần Đồng Cổ – Thần Trống Đồng.
Đặc điểm: Lễ hội tưởng nhớ vua Lý Thái Tông cho rước thần Trống Đồng ở Đan Nê (Thanh Hóa) về lập đền thờ ở Thăng Long. (Chi tiết)
Thời gian: 14 – 16/4âm lịch.
Địa điểm: Xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Lễ hội suy tôn: Lý Ông Trọng và vợ là Bạch Tinh công chúa.
Đặc điểm: Rước nước trên sông, thả chim bồ câu. (Chi tiết)
Thời gian: ngày 23/3 âm lịch hàng năm.
Địa điểm: Làng Lệ Mật, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Đối tượng suy tôn: Thành Hoàng làng họ Hoàng.
Đặc điểm:Hội có múa rắn. (Chi tiết)
Địa điểm: Làng Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Hoàng tử Lý Thầm, thiền sư Hồ Bà Lam.
Đặc điểm: Thi bơi thuyền trên sông, năm thì bơi thuyền gỗ, năm bơi thuyền thúng. Thổi cơm thi, đôi nam nữ vừa đi vừa thổi cơm, vừa múa. Buổi tối có hát trống quân trên thuyền.
Thời gian: 9/4 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Hội Xá, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Dực Hòa Bảo Chính và 2 em gái.
Đặc điểm: Múa hổ. (Chi tiết)
Thời gian: 5-7/4 và 13-15/11 âm lịch.
Địa điểm: Xã Liên Hà, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Vợ chồng ông Đinh Dự và bà Mãn Hoa Đường (dạy nghề hát ả đào).
Đặc điểm: Giỗ tổ nghề ca trù có tế lễ và múa hát. (Chi tiết)
Thời gian: 29-30/3 âm lịch.
Địa điểm: Làng Phong Lệ, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng
Đặc điểm: Hội dành riêng cho trẻ chăn trâu, Lễ rước Thần Nông, cầu cho mùa bội thu. Thi tiện các con giống : tứ linh, tứ nghệ, dụng cụ sản xuất nông nghiệp, trình diễn trò chơi dân gian. (Chi tiết)
Thời gian: 14 – 16/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Đối tượng suy tôn: Nhân thần (hai cha con người đánh cá) và Cá Ông (cá voi).
Đặc điểm: Lễ rước cốt Ông, diễn “hò khoan, chèo cạn”, múa bông. Hội xuống biển có lễ thả thuyền giấy, cá giấy xuống biển, cầu khấn. Đua thuyền sáu làng. (Chi tiết)
Thời gian: 14/4 âm lịch.
Địa điểm: Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Đối tượng suy tôn: Cá Ông (cá voi).
Đặc điểm: Rước cốt Ông (cá voi) từ làng về đình. (Chi tiết)
Thời gian: 20 – 23/3 âm lịch.
Địa điểm: Phường Vĩnh Phước, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Đối tượng suy tôn: Nữ thần Xứ Sở (người Chăm).
Đặc điểm: Các nghi lễ: tắm tượng và thay y, múa dâng Bà, đua ghe và đêm có hát bội. (Chi tiết)
Thời gian: 16/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
Đối tượng suy tôn: Ông Phạm Văn An, người đầu tiên khai hoang lập ấp.
Đặc điểm: Hội đình long trọng với các nghi thức: đội kỵ mã, đội lân binh, đội học trò lễ… để tưởng nhớ ông Phạm Văn An. (Chi tiết)
Thời gian: 16 – 17/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Tân Phú Trung, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
Đối tượng suy tôn: Thành Hoàng làng.
Đặc điểm: Tưởng niệm những người có công lập làng và cầu cho dân khang vật thịnh. (Chi tiết)
Thời gian: 12 – 14/4 âm lịch.
Địa điểm: Phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ.
Đối tượng suy tôn: Thành Hoàng Bổn Cảnh (Thổ Thần).
Đặc điểm: Lễ Thượng điền (cúng Thổ Thần sau khi thu hoạch), cúng thành hoàng làng, cầu an, cúng tế, rước thần trên xe rồng tán phượng, thỉnh sắc thần bằng bè ghép 3 thuyền trang trí lộng lẫy, hát bội ba đêm liền. (Chi tiết)
Thời gian: 18/4 âm lịch.
Địa điểm: Tỉnh Long An.
Đặc điểm: cúng lễ truyền thống, lễ cầu mưa còn được thể hiện bằng những cuộc đua ghe trên sông rạch (Ghe đua bằng tre thon dài, chứa được 20 tay bơi). (Chi tiết)
Thời gian: 18 – 19/3 âm lịch (Lễ kỳ yên) và 9 – 10/11 âm lịch (Lễ cầu bông).
Địa điểm: Ấp Phú Khương, xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Đối tượng suy tôn: Thành Hoàng Bổn Cảnh.
Đặc điểm: Lễ kỳ yên cầu mưa thuận gió hòa, lễ cầu bông cầu mùa màng tươi tốt. (Chi tiết)
Đặc điểm: Lễ vía Bà tại chùa Bà Thiên Hậu, một trong những ngôi chùa cổ của người Hoa ở Chợ Lớn có kiến trúc theo lối Trung Hoa. Ngày hội, người Hoa về đây rất đông, họ làm hai hình nộm Ông Thiện, Ông Ác cao 3 thước. Cuối ngày đốt 2 hình nộm để cúng.
Encho là người kể truyện rất nổi tiếng. Những truyện tình anh kể làm rung động con tim của người nghe. Khi anh kể truyện chiến tranh, người nghe có cảm tưởng như là họ đang ở trên bãi chiến trường.
Ngày nọ Encho gặp Yamaoka Tesshu, một người thường sắp đạt đỉnh cao của Thiền. “Tôi hiểu,” Yamaoka nói “anh là người kể truyện hay nhất trong nước ta và anh làm người ta khóc hay cười khi anh muốn. Vậy hãy kể cho tôi nghe truyện Cậu Đào mà tôi yêu thích. Hồi còn bé tôi hay nằm ngủ bên cạnh mẹ, và mẹ hay kể cho tôi huyền thoại đó. Vào khoảng giữa truyện tôi hay thiếp ngủ. Hãy kể cho tôi như là mẹ tôi kể.”
Encho không dám thử. Anh xin một tí thời gian để nghiên cứu. Vài tháng sau anh đến gặp Yamaoka và nói: “Cho tôi cơ hội để kể truyện cho anh.”
“Để khi khác đi,” Yamaoka trả lời.
Encho rất thất vọng. Anh nghiên cứu thêm và thử lại lần nữa. Yamaoka từ chối anh nhiều lần. Khi Encho bắt đầu nói Yamaoka liền chận lại và nói: “Anh chưa giống mẹ tôi.”
Encho tốn mất 5 năm để có thể kể cho Yamaoka chuyện huyền thoại như mẹ Yamaoka đã kể cho anh.
Bằng cách này, Yamaoka đã truyền Thiền cho Encho.
.
Bình:
• Yamaoka là kiếm sĩ, sau này thành thiền sư, và là thầy của Thiên hoàng.
• Muốn kể truyện được như mẹ của Yamaoka, Encho phải làm vài chuyện:
1. Làm cho tâm của mình hoàn toàn trống rỗng, không con một tí tư tưởng và cảm xúc gì của mình trong đó.
2. Hiểu được tình cảm và xúc cảm của hai mẹ con Yamaoka đối với nhau.
3. Nói được với Yamaoka với mọi tình cảm và xúc cảm như mẹ Yamaoka, và phải thật đến độ Yamaoka tưởng là mình đang nghe mẹ.
Tức là Encho phải làm được tâm trống rỗng hoàn toàn, hiểu được tâm của người khác rất sâu sắc, và hành động như người khác hành động.
Chỉ cần đạt được bước số một, để tâm trống rỗng hoàn toàn, là đã đạt được Thiền rồi.
* Thiền là sống ở đây lúc này với tâm rỗng lặng. Có nhiều cách để đạt Thiền, không nhất thiết là phải ngồi Thiền và tụng kinh.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Storyteller’s Zen
Encho was a famous storyteller. His tales of love stirred the hearts of his listeners. When he narrated a story of war, it was as if the listeners themselves were in the field of battle.
One day Encho met Yamaoka Tesshu, a layman who had almost embraced masterhood of Zen. “I understand,” said Yamaoka, “you are the best storyteller in our land and that you make people cry or laugh at will. Tell me my favorite story of the Peach Boy. When I was a little tot I used to sleep beside my mother, and she often related this legend. In the middle of the story I would fall asleep. Tell it to me just as my mother did.”
Encho dared not attempt this. He requested time to study. Several months later he went to Yamaoka and said: “Please give me the opportunity to tell you the story.”
“Some other day,” answered Yamaoka.
Encho was keenly disappointed. He studied further and tried again. Yamaoka rejected him many times. When Encho would start to talk Yamaoka would stop him, saying: “You are not yet like my mother.”
It took Encho five years to be able to tell Yamaoka the legend as his mother had told it to him.
Sáng ngày
Thấy giọt sương trên cánh hướng dương
Và một đóa hồng đang phai
Những đóa hồng đang héo úa
Như hoa hướng dương
Tôi thèm quay mặt về phía hừng đông
Tôi đang đợi ngày đến…
Nửa đêm
Chẳng một âm thanh nào trên mặt đường
Mặt trăng mất ký ức rồi sao?
Nàng đang cười một mình
Trong ánh đèn
Lá khô cuộn vào chân tôi
Và gió bắt đầu rên rỉ
Ký ức
Một mình trong ánh trăng
Tôi có thể mỉm cười với những ngày xưa
Thuở đó tôi đẹp
Tôi nhớ thời gian tôi biết hạnh phúc là gì
Hãy để ký ức sống lại lần nữa
Mỗi ngọn đèn đường
Hình như gõ một cảnh báo định mệnh
Ai đó lầu bầu
Và ngọn đèn đường khọt khẹt
Và chút nữa trời sẽ sáng
Sáng ngày
Tôi phải đợi mặt trời lên
Tôi phải nghĩ đến một đời mới
Và tôi không được đầu hàng
Khi hừng đông đến
Tối nay cũng sẽ là một ký ức
Và một ngày sẽ bắt đầu
Đầu cuối cháy đen của những ngày đầy khói
Mùi lạnh tanh của buổi sáng
Đèn đường chết, một đêm nữa đã qua
Một ngày mới đang bình minh
Hãy sờ em
Thật là dễ để bỏ em
Một mình với ký ức
Của những ngày trong ánh nắng
Nếu anh sờ em
Anh sẽ hiểu hạnh phúc là gì
Nhìn kìa
Một ngày mới đã bắt đầu
(TĐH dịch)
.
Elaine Paige- Memory (in the musical Cats)
.
Elaine Paige- Memory (Live performance, London 1998)
Musical “Cats” – Memory
Daylight
See the dew on the sunflower
And a rose that is fading
Roses whither away
Like the sunflower
I yearn to turn my face to the dawn
I am waiting for the day . . .
Midnight
Not a sound from the pavement
Has the moon lost her memory?
She is smiling alone
In the lamplight
The withered leaves collect at my feet
And the wind begins to moan
Memory
All alone in the moonlight
I can smile at the old days
I was beautiful then
I remember the time I knew what happiness was
Let the memory live again
Every streetlamp
Seems to beat a fatalistic warning
Someone mutters
And the streetlamp gutters
And soon it will be morning
Daylight
I must wait for the sunrise
I must think of a new life
And I musn’t give in
When the dawn comes
Tonight will be a memory too
And a new day will begin
Burnt out ends of smoky days
The stale cold smell of morning
The streetlamp dies, another night is over
Another day is dawning
Touch me
It’s so easy to leave me
All alone with the memory
Of my days in the sun
If you touch me
You’ll understand what happiness is
Ngày 1/5 là Ngày Quốc tế Lao Động, còn gọi là “Ngày Tháng Năm” (May Day). Đây là ngày lễ tại nhiều quốc gia trên thế giới, dành để tôn vinh lao động và gây dựng đoàn kết lao động trên thế giới.
Tại Mỹ và Canada, Ngày Lao Động là ngày Thứ hai đầu tiên của tháng 9. Cho năm nay (2009), Ngày Lao Động ở Mỹ và Canada là ngày 7 tháng 9. Ngày Lao Động tháng 9 này có nguồn gốc từ Canada. Ngày 3 tháng 9 năm 1872, một số nghiệp đoàn ở Canada biểu tình chống việc chính phủ bắt một số nhân công tuần hành “đòi tuần làm việc 58 giờ” trong một cuộc biểu tình trước đó vài tháng. Cuộc biểu tình tháng 9 thành công. Ngày 23.7.1894, thủ tướng Canada John Thompson ký sắc lệnh ấn định Ngày Lao Động trong tháng 9.
Tại Mỹ, kể tử ngày 5 tháng 9 năm 1882, nghiệp đoàn cũng đã bắt đầu tuần hành hàng năm vào đầu tháng 9 như ở Canada. Và năm 1894, năm Canada chính thức nhận Ngày Lao Động tháng 9, thống thống Mỹ Grover Celveland cũng chấp nhận Ngày Lao Động tháng 9 như Canada, để cạnh tranh với Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5, là ngày Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đã chọn là Ngày Quốc Tế Lao Động và được cả thế giới đồng ý.
Nhưng, lịch sử có nhiều chuyện buồn cười, và lãnh đạo thế giới đôi khi hành động như trẻ con :-), vì Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5 có nguồn gốc từ Mỹ !!
Truyền đơn kêu gọi biểu tình ở Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Khởi đầu với biến cố Haymarket, ngày Thứ ba, 4.5.1886, tại Quảng trường Haymarket ở Chicago. Ba ngày trước đó, 1.5.1886, hàng chục nghìn nhân công ở Chicago và các thành phố khác đã biểu tình đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Ngày 4/5, cảnh sát đàn áp, một trái nổ không biết ai ném, giết chết một nhân viên cảnh sát. 8 lãnh đạo nghiệp đoàn bị bắt. 7 người bị tuyên án tử hình và 1 người án tù 15 năm, dù là không có bằng chứng gì nối cuộc ném bom với các lãnh đạo nghiệp đoàn, và cho đến ngày nay người ta vẫn không xác minh được là ai đã ném bom. Hai người án tử hình sau đó được thống đốc bang Illinois giảm xuống thành án chung thân. Trước ngày tử hình, một người tự tử trong tù, 4 người bị đưa ra pháp trường.
Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Vụ án này làm giới lao động và báo chí nước Mỹ phẩn nộ, đưa đến nhiều đấu tranh của lao động ở Mỹ cũng như tại các nơi khác trên thế giới. Năm 1888, Hiệp Hội Lao Động Mỹ (AFL — American Federation of Labor) quyết đinh chọn ngày 1.5.1890 (kỷ niệm biến cố Haymarket) để biểu tình tranh đấu đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Năm 1889, chủ tịch AFL, Samuel Gompers, gửi một lá thư đến hội nghị đầu tiên của Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đang họp ở Paris, đề nghi một cuộc đấu tranh quốc tế cho “Ngày làm việc 8 tiếng.” Đệ Nhị Quốc Tế liền quyết định gọi một “cuộc biểu tình quốc tế vĩ đại” cùng một ngày trên khắp thế giới, vào ngày 1 tháng 5. Bảng Di Tích Lịch Sử tại Haymarket ngày nay
Chúng ta có thể đọc bài sau đây trên VietNamNet, viết ngày 1.5.2007.
(VietNamNet) – Hằng năm, người lao động trên toàn thế giới lại cùng nhau kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5. Tại Việt Nam, đây là một ngày mà mọi người dân ai ai cũng được nghỉ ngơi, vui chơi không phải làm việc. Tuy vậy, không phải ai cũng biết được lịch sử cũng như ý nghĩa trọng đại của ngày Quốc tế Lao động, nhất là các bạn trẻ thế hệ 8X, 9X.
Trong cuộc đấu tranh giữa tư bản và lao động, vấn đề thời gian lao động có ý nghĩa quan trọng. Ngay sau khi thành lập Quốc tế I năm 1864, Mác coi việc rút ngắn thời gian lao động là nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề đấu tranh cho ngày làm việc 8 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu ngày làm 8 giờ sớm xuất hiện trong một số nơi của nước Anh, nước có nền công nghiệp phát triển sớm nhất. Yêu sách này dần lan sang các nước khác.
Chuẩn bị cho 1/5, Senaatintori square, Helsinki, Finland
Do sự kiện giới công nhân viên chức Anh di cư sang Mỹ, phong trào đòi làm việc 8 giờ phát triển mạnh ở nước Mỹ từ năm 1827, đi đôi với nó là sự nảy nở và phát triển phong trào Công đoàn. Năm 1868, giới cầm quyền Mỹ buộc phải thông qua đạo luật ấn định ngày làm 8 giờ trong các cơ quan, xí nghiệp thuộc Chính phủ. Nhưng các xí nghiệp tư nhân vẫn giữ ngày làm việc từ 11 đến 12 giờ.
Năm 1884, tại thành phố công nghiệp lớn Chicago, Đại hội Liên đoàn Lao động Mỹ thông qua nghị quyết nêu rõ: “…Từ ngày 1/5/1886, ngày lao động của tất cả các công nhân sẽ là 8 giờ”. Sở dĩ ngày 1/5 được chọn bởi đây là ngày bắt đầu một năm kế toán tại hầu hết các nhà máy, xí nghiệp ở Mỹ. Vào ngày này, hợp đồng mới giữa thợ và chủ sẽ được ký. Giới chủ tư bản có thể biết trước quyết định của công nhân mà không kiếm cớ chối từ. 1.5.1948 New York City
Ngày 1/5/1886, do yêu cầu của công nhân không được đáp ứng một cách đầy đủ, giới công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago. Khoảng 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ chức mit-tinh, biểu tình trên thành phố với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!” Cuộc đấu tranh lôi cuốn ngày càng đông người tham gia. Cũng trong ngày hôm đó, tại các trung tâm công nghiệp khác trên nước Mỹ đã nổ ra 5.000 cuộc bãi công với 340 nghìn công nhân tham gia. Ở Washington, New York, Baltimore, Boston… hơn 125.000 công nhân giành được quyền ngày chỉ làm 8 giờ.
Những cuộc biểu tình tại Chicago diễn ra ngày càng quyết liệt. Giới chủ đuổi những công nhân bãi công, thuê người làm ở các thành phố bên cạnh, thuê bọn khiêu khích và cảnh sát đàn áp, phá hoại cuộc đấu tranh của công nhân. Các xung đột xảy ra dữ dội khiến hàng trăm công nhân chết và bị thương, nhiều thủ lĩnh công đoàn bị bắt… Báo cáo của Liên đoàn Lao động Mỹ xác nhận: “Chưa bao giờ trong lịch sử nước Mỹ lại có một cuộc nổi dậy mạnh mẽ, toàn diện trong quần chúng công nghiệp đến như vậy”. 1.5.2008 New York City
Ngày 20/6/1889, ba năm sau “thảm kịch” tại thành phố Chicago, Quốc tế cộng sản lần II nhóm họp tại Paris (Pháp). Dưới sự lãnh đạo của Frederic Engels, Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản II đã quyết định lấy ngày 1/5 hàng năm làm ngày biểu dương lực lượng và đấu tranh chung của tầng lớp vô sản các nước.
Từ đó, ngày 1/5 trở thành Ngày Quốc tế Lao động, ngày đấu tranh của giai cấp công nhân, ngày nghỉ ngơi và biểu dương lực lượng, ngày hội của công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.
Năm 1920, dưới sự phê chuẩn của Lê Nin, Liên Xô (cũ) là nước đầu tiên cho phép người dân được nghỉ làm vào ngày Quốc tế Lao động 1/5. Sáng kiến này dần dần được nhiều nước khác trên thế giới tán thành.
Tại Việt Nam, sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (1930), giai cấp công nhân Việt Nam đã lấy ngày l/5 hàng năm làm ngày đỉnh cao của phong trào đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập – tự do – dân chủ, giành những quyền lợi kinh tế – xã hội. Trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, việc kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5 phần nhiều phải tổ chức bí mật bằng hình thức treo cờ, rải truyền đơn. Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp và Mặt trận dân chủ Đông Dương, ngày Quốc tế Lao động lần đầu tiên được tổ chức công khai tại Hà Nội, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Đặc biệt, ngày 1/5/1938, một cuộc biểu tình lớn gồm hàng chục ngàn người đã diễn ra ở khu Đấu xảo Hà Nội với sự tham gia của 25 ngành, giới: thợ hoả xa, thợ in, nông dân, phụ nữ, người cao tuổi, nhà văn, nhà báo… Đây là cuộc mit-tinh lớn nhất trong thời kỳ vận động dân chủ (1936 – 1939), một cuộc biểu dương sức mạnh đoàn kết của nhân dân lao động do Đảng lãnh đạo. Nó đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật tổ chức và lãnh đạo của Đảng ta.
Ngày nay, ngày Quốc tế Lao động đã trở thành ngày hội lớn của hai giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đây cũng là ngày biểu thị tình đoàn kết hữu nghị với giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, cùng đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội.
L.A (dịch từ Internet)
Chúc các bạn một Ngày Quốc Tế Lao Động vui vẻ thoải mái, không lao động !
Mỗi người dân dù là người Mỹ hay ngoại quốc, giàu hay nghèo, không ai là không biết đến Goodwill.
Bạn sinh viên du học mới sang Mỹ cần mua một chiếc microwave. Đến Goodwill.
Đôi vợ chồng dọn về nhà mới, cần một số đồ trang trí lặt vặt. Đến Goodwill.
Một anh chàng nhạc sĩ sắp chuyển đến nơi khác, không thể mang hết mấy bộ đồ điện tử, đàn guitar cũ. Đến Goodwill.
Một cô gái con nhà khá giả mới mua thêm mấy bộ đồ mới nên muốn dọn bớt đống quần áo cũ cho rộng tủ. Đến Goodwill.
Goodwill là cái gì vậy mà ai ai cũng nhắc đến thế nhỉ?
Good will có nghĩa là thiện tâm, thiện ý. Goodwill là một thương hiệu cửa hàng bán đồ cũ giá rẻ nổi tiếng và lớn nhất nước Mỹ. Goodwill được sáng lập từ những năm 1890 bởi mục sư Reverend Edgar J. Helms. Là người sáng lập một nhà thờ ở Boston, mục sư Helms tổ chức các hoạt động giúp đào tạo kĩ năng để giúp mọi người xin việc dễ dàng hơn. Trong giai đoạn chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha, mục sự Helms đi đến các gia đình giàu có gõ cửa từng nhà để xin quần áo cũ và các đồ thừa khác. Sau đó ông thuê những người đàn ông và phụ nữ nghèo đến sửa lại các vật dụng này để bán chúng lấy tiền. Số tiền đó dùng để trả công cho chính những người nghèo này. Và ý tưởng ban đầu hình thành Goodwill Industries như một công ty kiểu self-help đã hình thành từ đó.
Cho đến nay nguyên lý hoạt động của Goodwill vẫn thật đơn giản: lấy của người giàu cho người nghèo. Nói chính xác hơn, lấy của người “không cần” cho người “cần”.
Đôi khi bạn có một số đồ cũ nhưng vẫn còn dùng tốt. Vứt đi thì không đành mà cho thì chẳng biết cho ai. Vậy thì bạn có thể mang chúng đến các thùng nhận đồ ủng hộ của Goodwill hoặc mang chúng trực tiếp đến cửa hàng của Goodwill.
Những đồ đạc này dù ít có giá trị với bạn nhưng với những người đang cần chúng hay nhất là những người nghèo khổ, vô gia cư, sống dựa vào trợ cấp xã hội, thì lại vẫn hữu dụng vô cùng. Goodwill cung cấp dịch vụ sửa chữa lại những đồ đạc này và bán chúng trong cửa hàng do những người nghèo, người khuyết tật quản lý.
Đi mua đồ ở Goodwill đôi khi trở thành thú vui của nhiều người Mỹ, vì họ có thể tìm được nhiều đồ tốt mà giá rất rẻ so với mua đồ mới 100%. Không hẳn chỉ có người nghèo mới tìm đến Goodwill, những người có thu nhập khá khi có nhu cầu mua sắm đồ đạc vẫn đến Goodwill để tiết kiệm ngân sách.
Một điểm nữa giúp Goodwill khá phát triển ở Mỹ có lẽ một phần là do nước Mỹ rất rộng. Chuyện di chuyển chỗ ở từ bang này sang bang khác đi hàng trăm dặm khiến nhiều người có nhu cầu cho đồ đạc mỗi khi chuyển nhà cửa. Goodwill trở thành một thị trường giúp cho người muốn cho (cung) và người muốn nhận (cầu) gặp nhau.
Điểm đặc biệt ở đây là Goodwill chỉ nhận đồ tài trợ, cho không (donate) chứ không mua lại. Và Goodwill là một tổ chức phi lợi nhuận, vì thế mà doanh thu và lãi từ hoạt động bán hàng của Goodwill không dùng để chia cổ phần mà chỉ dùng để trả lương và cho các hoạt động phát triển của Goodwill.
Cho đến những năm 1930, hoạt động của Goodwill tập trung vào đáp ứng nhu cầu của những người khuyết tật, vốn trước đó bị xã hội Mỹ lãng quên. Ngày nay Goodwill đã có mạng lưới bao gồm 205 tổ chức phi lợi nhuận độc lập tại địa phương và là tổ chức phi lợi nhuận lớn nhất bắc Mỹ về số lượng tạo công ăn việc làm và dịch vụ đào tạo nghề. Giá trị thương hiệu Goodwill hiện nay là 3.2 tỉ USD.
Ngoài Mỹ, Canada, Goodwill còn hoạt động ở 22 quốc gia khác và tạo việc làm cho những người khuyết tật bằng cách tạo việc làm cho họ cũng như hỗ trợ sau tuyển dụng. Qua đó Goodwill góp phần giúp mọi người vượt qua rào cản khi xin việc làm và trở thành những thành viên độc lập, đóng thuế cho cộng đồng của mình.
Từ một “goodwill” thật giản dị ban đầu mà ngày nay đã phát triển thành một tổ chức Goodwill lớn mạnh, thật là tuyệt vời phải không các bạn.
Chúc các bạn có nhiều goodwill cho ngày hôm nay nhé.
Vua An Dương Vương nước Âu Lạc là người Ba Thục, họ Thục tên Phán. Tổ tiên ngày trước cầu hôn lấy Mỵ Nương là con gái vua Hùng Vương, nhưng Hùng Vương không gả, nên đem lòng oán giận. Phán muốn hoàn thành chí người trước, cử binh đi đánh Hùng Vương, diệt nước Văn Lang, đổi tên nước thành Âu Lạc, rồi lên làm vua.
Di tích thành Cổ Loa
Xây thành ở đất Việt Thường, nhưng hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy, vua bèn lập đàn trai giới, cầu đảo. Ngày mồng 7 tháng 3, bỗng thấy một cụ già từ phương tây tới trước cửa thành, than rằng: “Xây dựng thành này biết bao giờ mới xong được!”. Vua đón vào trong điện, vái và hỏi rằng: “Ta đắp thành này đã nhiều lần nhưng cứ bị sập đổ, tốn nhiều công sức mà không thành, thế là cớ làm sao?”. Cụ già đáp: “Sẽ có sứ Thanh Giang tới, cùng nhà vua xây dựng mới thành công”, nói xong từ biệt ra về (1).
Hôm sau vua ra cửa đông chờ đợi, chợt thấy một con rùa vàng từ phương đông lại, nổi trên mặt nước, nói được tiếng người, tự xưng là sứ Thanh Giang, thông tỏ việc trời đất, âm dương, quỷ thần. Vua mừng rỡ nói: “Điều đó chính cụ già đã báo cho ta biết trước”. Bèn rước vào trong thành, mời ngồi trên điện, hỏi việc vì sao xây thành không được. Rùa vàng đáp: “Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước, muốn báo thù cho nước. Lại có con gà trắng sống lâu ngàn năm, hóa thành yêu tinh ẩn ở núi Thất Diệu. Trong núi có ma, đó là hồn người nhạc công triều trước chôn ở đây. Ở bên cạnh, có một quán trọ cho khách vãng lai, chủ quán tên là Ngộ Không, có một người con gái và một con gà trắng, vốn là dư khí của quỉ tinh, phàm có khách qua đường nghỉ đêm ở quán, thì quỉ tinh lại biến hóa muôn hình vạn trạng, làm hại người chết rất nhiều. Nay giết được con gà trống trắng và con gái chủ quán ấy thì trấn áp được quỉ tinh. Quỉ tinh sẽ hóa ra lá thư yêu tinh, cho con chim cú ngậm bay đậu lên trên cây chiên đàn, tâu cùng thượng đế để xin phá thành. Thần sẽ cắn rơi lá thư, nhà vua tức tốc nhặt lấy, thì thành sẽ xây được”.
Rùa vàng bảo vua giả làm kẻ đi đường, nghỉ ở quán trọ này, và để rùa vàng ở phía trên khung cửa. Ngộ Không nói: “Quán này có yêu tinh, đêm thường giết người. Hôm nay trời chưa tối, xin ngài mau đi chỗ khác, chớ nghỉ lại kẻo rước hoạ vào thân”. Vua cười, nói: “Người sống chết có mạng, ma quỷ làm gì được, ta không sợ”. Bèn cứ nghỉ lại. Đến đêm, quỉ ở ngoài vào, thét lớn: “Kẻ nào ở đây, sao chẳng mau mở cửa?” Rùa vàng hét lớn: “Cứ đóng cửa thì mày làm gì?”. Quỉ phóng hỏa, biến hóa thiên hình vạn trạng, quỷ quái trăm đường để hòng dọa nạt, sau cùng cũng chẳng nổi. Đến lúc gà gáy sáng, quỷ tinh bỏ chạy. Rùa vàng cùng vua đuổi theo, tới núi Thất Diệu, quỉ tinh thu hình biến mất. Vua bèn quay về quán trọ.
Sáng hôm sau, chủ quán sai người đến định lượm xác khách trọ để chôn, thấy vua vẫn ngồi cười nói như thường (2), bèn chạy tới lạy mà nói rằng: “Ngài vẫn được bình an được như thế này, tất là thánh nhân, vậy xin ban thuốc thần để cứu sinh dân”. Vua nói: “Nhà ngươi giết con gà trắng mà tế thần, quỉ tinh sẽ tan hết”. Ngộ Không y lời, đem gà trắng ra giết, người con gái lập tức quay ra chết. Vua liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông. Trời gần tối, vua và rùa vàng leo lên núi Việt Thường thấy quỉ tinh đã biến thành con chim cú, ngậm lá thư bay lên cây chiên đàn. Rùa vàng liền biến thành con chuột theo sau, cắn vào chân cú, lá thư rơi xuống đất, vua vội nhặt lấy, lá thư đã bị nhấm rách quá nửa.
Từ đó quỉ tinh bị diệt, không thể tác quái được nữa. Thành xây nửa tháng thì xong. Thành đó rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ốc, cho nên gọi là Loa Thành, còn gọi là Quỉ Long thành, người đời Đường gọi là Sát Quỉ Côn Lôn thành, vì cho rằng thành ấy cao lắm.
Rùa vàng ở lại ba năm, rồi từ biệt ra về (3). Vua cảm tạ nói: “Nhờ ơn của thần, thành đã xây được. Nay nếu có giặc đến quấy rối thì lấy gì mà chống?”. Rùa vàng đáp: “Vận nước suy thịnh, xã tắc an nguy đều do mệnh trời, vua có thể tu đức mà kéo dài thời vận, nhà vua có lòng mong muốn thì ta có tiếc chi”. Bèn tháo vuốt đưa cho nhà vua nói rằng: “Đem vật này làm nỏ, nhắm quân giặc mà bắn thì sẽ không lo gì nữa”. Dứt lời thì quay trở về biển đông, nhà vua đích thân đưa tiễn. Vua liền sai bề tôi là Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy nỏ, gọi là nỏ thần Linh Quang Kim Quá (Vuốt vàng linh thiêng sáng rực).
Về sau Triệu Đà cử binh xâm đánh phương Nam, giao chiến với vua. Vua lấy nỏ thần ra bắn, quân Đà thua lớn, chạy về núi Trâu (Trâu Sơn) cầm cự. Đà biết nhà vua có nỏ thần không dám đối chiến, bèn xin hòa. Vua cả mừng, chia phía bắc sông Tiểu Giang cho Triệu Đà cai trị, phía nam thì thuộc nhà vua (nay thuộc sông Nguyệt Đức). Không bao lâu Đà cho con trai là Trọng Thuỷ sang làm quan Túc Vệ và cầu hôn với Mỵ Châu, là con gái của nhà vua. Vua không rõ kế lược gian manh của cha con Triệu Đà nên gả Mị Châu cho Trọng Thủy. Trọng Thủy dụ dỗ Mỵ Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm làm cái lẫy nỏ khác thay vuốt rùa vàng thay vào. Xong rồi Thủy nói dối với Mỵ Châu xin về phương bắc thăm cha. Trước khi đi, Thủy nói rằng: “Tình vợ chồng không thể quên được, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Tôi nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước bất hòa, bắc nam cách biệt, lấy gì làm dấu để tôi tìm được nàng?”. Mỵ Châu nói rằng: “Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt ly, chắc là khổ đau khôn xiết, thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ nhổ lông ngỗng trên áo rắc xuống ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy sẽ có thể cứu được nhau”. Trọng Thủy mang lẫy nỏ thần về nước (4). Đà được lẫy nỏ cả mừng, liền đem quân sang đánh. Vua cậy có nỏ thần, không phòng ngừa, vẫn điềm nhiên đánh cờ, cười mà nói rằng: “Đà không sợ nỏ thần hay sao?”. Quân Đà tiến sát, vua cầm lấy nỏ, thấy lẫy thần đã hư, thua chạy. Vua đặt Mỵ Châu ngồi sau ngựa rồi chạy về phương Nam. Trọng Thủy nhận dấu đuổi theo dấu lông ngỗng. Vua chạy tới bờ bể, đường cùng, không có thuyền qua sông, bèn than rằng: “Trời hại ta ư, sứ Thanh Giang đâu, mau mau lại cứu ta”. Rùa vàng hiện lên mặt nước, hét lớn: “Kẻ ngồi sau ngựa chính là giặc đó!, giết đi thì ta mới cứu nhà ngươi”. Vua bèn tuốt kiếm chém chết Mỵ Châu. Mỵ Châu trước khi chết, ngưỡng mặt khấn rằng: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành hạt bụi. Nếu một lòng trung hiếu, bị người lừa dối thì chết đi biến thành châu ngọc để tẩy sạch mối nhục thù”.
Đền thờ An Dương Vương
Mỵ Châu chết ở bên bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu. Vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển. Đời truyền rằng nơi đó là đất huyện Dạ Sơn, xã Cao Xá, phủ Diễn Châu. Quân Đà kéo tới đấy không thấy bóng vết gì, chỉ còn lại xác Mỵ Châu. Trọng Thủy ôm xác vợ đem về Loa Thành, xác biến thành ngọc thạch. Trọng Thủy thương tiếc khôn cùng, khi đi tắm tưởng như thấy bóng dáng Mỵ Châu, bèn lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò ngọc ở biển đông lấy nước giếng này mà rửa thì thấy càng trong sáng. Người đời kiêng tên Mỵ Châu nên gọi ngọc minh châu là đại cữu và tiểu cữu (4).
Chú thích:
1) Bản A 2914 chép rằng: “Cụ già bỗng bay lên trời”.
2) Bản A 2914 chép thêm rằng : “Vua nói với chủ quán rằng: Ta là An Dương Vương đến đây để diệt yêu tinh cứu giúp sinh linh”
3) Bản A 2914 chép: “Rồi trở về hồ Động Đình”
4) Cữu 玖 là tên 1 loại ngọc
.
Bình:
• Truyện này có hai phần rõ ràng: Phần đầu là thuật bình định một quốc gia vừa chiếm đóng. Phần sau là câu truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy.
Tượng đá Mỵ Châu cụt đầu, trong am thờ Mỵ Châu
• Ông già đến từ phương Tây vào ngày 7 tháng 3. Ông già là biểu tượng của khôn ngoan thông thái. Phương Tây là phương Phật; đất Phật,Tây Trúc (Ấn Độ), ở phía tây Việt Nam.
Số 3 là số thiếu dương, mầm sống bắt đầu lên. Số 3 được yêu chuộng trong mọi nền văn minh của con người.
Số 7 là số khá thông dụng trong kinh sách Phật. (Xin xem Nguồn gốc của Phật thất, của Thích Chân Tinh.)
• Thần Rùa Vàng (Kim Quy) đóng vai quan trọng trong văn hóa Việt Nam, từ truyện rùa Vàng này đến truyện Hồ Hoàn Hiếm với Lê Lợi.
Rùa thường là biểu tượng của kiên nhẫn và chắc chắn trong nhiều nền văn hóa trên thế giới. Trong cả văn hóa Việt lẫn văn hóa Trung quốc, rùa là một trong tứ linh: Long, Ly, Quy, Phụng. Nhưng trong nền văn hóa Việt thì Rùa và Rồng là có vẻ trội nhất—Rồng: Long Nữ, Lạc Long Quân, Thăng Long; Rùa: Kim Quy. Đây là hai linh vật có liên hệ đến “nước.” Đây cũng là một nét của “văn hóa nước” mà ta đã nói đến trong truyện Hồng Bàng.
Rùa Vàng lại có tên là Thanh Giang, tức Dòng Sông Xanh. Tức là đây không phải là rùa từ biển vào. Có vẻ đây là một liên hệ tế nhị đến gốc “nước ngọt” quê cha—Động Đình Hồ, và rùa ở Hồ Hoàn Kiếm sau này.
Rùa Vàng đến từ phương Đông. Đông là hướng mặt trời mọc, là phương khởi động—một bắt đầu mới. Trong phẩm mở đầu của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa , Phật Thích Ca phóng hào quang từ giữa lông mày đến các cõi ở phương Đông trước khi giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
• Hùng vương đời thứ 18 là vị vua bị Thục Phán chinh phạt. 18 là 2 lần 9, hai lần con số đơn lớn nhất—số thái dương. Đây là ý nói thời đại Hùng Vương đã phát triển đến hết mức của nó. Bây giờ phải nhường chỗ cho một triều đại mới. Tức là việc xâm lăng của Thục Phán hợp luật trời. Đó là lý do tại sao thần Kim Quy ủng hộ Thục Phán.
• Thục Phán mới xâm chiếm Văn Lang, lòng dân chưa thuận, còn nhiều chống đối nên xây thành không được.
• Con vua đời trước (Hùng Vương 18) thành tinh khí trong núi Thất Diệu, muốn báo thù.
Giếng Trọng Thủy (Giếng Ngọc)
Núi Thất Diệu có thể là biểu tượng của Bắc Đẩu Thất Tinh, là chùm sao Đại Hùng Tinh gồm 7 sao tất cả, trong đó sao Bắc Đẩu là sao chính. Đây có lẽ là ý nói Hùng Vương 18 đặt lòng tin vào các vì tinh tú, trong lúc Thục Phán hợp với nhà Phật (Ngộ Không) hơn.
• Ngộ Không là từ của nhà Phật, có nghĩa là đã ngộ được tánh Không của mọi sự, tức là đã giác ngộ. Đây là biểu tượng cho những người hiểu biết—chủ quán là người đã lớn tuổi (là cha của cô gái), làm ăn thành đạt. Đây là loại người ủng hộ chế độ mới mạnh nhất—có kinh nghiệm đời, có kiến thức, hiểu thời thế, có tài sản và thương mãi.
• Gà trắng sống lâu ngàn năm là biểu tượng của tầng lớp trí thức sĩ phu chống đối, luôn lên tiếng “gáy” thường xuyên đế hô hào mọi người.
• Người con gái là thành phần dân chúng đi theo tiếng gọi của đám sĩ phu chống đối này. Con gái là biểu tượng của những người nhiều cảm tính, còn “trẻ người non dạ.”
Con gà trắng chết là cô con gái chết theo, nghĩa là đám sĩ phu chống đối mà mất thì đám dân nhẹ dạ nghe theo cũng mất.
• Nhạc khí cổ và hồn nhạc công là biểu tượng cho nền văn học nghệ thuật cũ. Phải diệt văn học nghệ thuật cũ thì mới bình định được đất mới.
• Chim cú ngậm lá thư bay lên cây chiên đàn để tâu cùng thượng đế xin phá thành là biểu tượng của các nhóm chống đối tìm trợ lực ở nước ngoài. Phải chặn đường tiếp xúc với bên ngoài của họ.
Một câu hỏi đặt ra ở đây là nếu thượng đế có thể nghe theo lời của chim cú để phá thành Thục Phán đang xây, như vậy không phải là lo sợ Thượng đế không ủng hộ Thục Phán sao? Nếu Thục Phán có chính nghĩa, thì việc gì phải sợ thượng đế nghe lời dèm pha?
• Xem ra có vẻ như Hùng Vương 18 không tốt, mất chính nghĩa, và lúc đầu Thục Phán có vẻ như được lòng trời và lòng dân để xâm chiếm Văn Lang.
Nhưng chiếm xong rồi vẫn gặp chống đối. Và thần Rùa Vàng cố vấn cho một kế sách bình định rất sắt máu. Thành công được một tí. Nhưng có phải chính vì cai trị sắt máu thế mà Thục Phán mất chính nghĩa, chỉ làm vua được một thời gian ngắn là mất nước?
Xem ra thần Rùa Vàng cũng có cái nhìn không được xa?
• Về móng Rùa Vang làm lẫy nỏ, không biết đây có phải là một ký ức về nỏ liên hoàn không. Nỏ đã được sử dụng ở Trung quốc và các bộ tộc ở Đông Nam Á khoảng thế kỷ thứ 5, thứ 6 trước công nguyên. Khảo cổ cho thấy nỏ liên hoàn , bắn một loạt các mũi tên rất nhanh, xuất hiện tại Hồ Bắc (phía bắc Động Đình Hồ) khoảng thế kỷ thứ 4 trước công nguyên. Thục Phán sống vào thế kỹ thứ 2 trước công nguyên, cho nên rất có thể là Thục Phán có kiến thức về nỏ liên hoàn, và đây là bí quyết chiến thắng của Thục Phán.
• Mỵ Châu xem ra là người con duy nhất có mặt trong truyện. Chẳng lẽ Thục Phán chỉ có một người con gái vào thời đại vua có biết bao là cung tần mỹ nữ. Hay đây là ký ức của sức mạnh mẫu hệ–chỉ có một cô công chúa nắm giữ bí mật quốc phòng?
• Trọng Thủy xem ra rất gian manh, giả làm đám cưới chỉ để hại người. Tội lỗi tầy đình. Thế tại sao dân Việt chẳng bao giờ lên án, lại yêu quý Trọng Thuỷ đến thế?
Thưa, tại vì Trọng Thủy làm tròn bổn phận làm con, làm dân—trung với quốc gia, hiếu với bố. Gian manh cũng chỉ vì quốc gia của chàng và bố của chàng. Nếu vì bố và tổ quốc mà chống vợ thì cũng là chuyện có thể thông cảm được. Hơn nữa, Trọng Thủy đã trả tội phản bội vợ bằng cách chết chung với vợ–vừa đền tội, vừa trọn tình nghĩa. Rất đúng với tên “Trọng Thủy.” Toàn vẹn mọi bề.
• Mỵ Châu thực ra là nạn nhân, bị lừa lọc. Nhưng không được thương xót, lại bị chém đầu. Tội không giữ kín bí mật quốc phòng, hại cha, hại nước, không thể dung tha. Ngu và cả tin không phải là lý do để được tha tội.
Ở đây ta lại thấy một lần nữa, Rùa Vàng có chính sách rất sắt máu, chẳng vị tình. Phải chăng chính quân sư như thế làm Thục Phán mất nước?
• Lông ngỗng đưa đường. Ngỗng là chim, và chim là vật tổ của dân Việt (như hình khắc trên trông đồng Ngọc Lữ). Chim còn là biểu tượng cho mẹ–Âu Cơ là tiên. Tiên và chim rất gần gũi.
Lông ngỗng đưa đường là lối đi của mẹ, lối đi của tình cảm và yêu ái, gạt ra ngoài mọi quy luật và phân cách chính trị. Trong cơn bão loạn, thì tìm nhau bằng “đường mẹ,” đường của tình yêu, vượt trên mọi chia cách.
• Rùa Vàng rất khắt khe với Mỵ Châu, nhưng xem ra trời không đồng ý với Rùa Vàng—cho Mỵ Châu trở thành những viên ngọc trai lóng lánh nghìn đời. Và dân Việt đồng ý với trời, xem Trọng Thủy Mỹ Châu như là thiên tình sử bất tử về tình yêu, đạo vợ chồng, đạo hiếu nghĩa, trung quân, và ái quốc.
Hiền nhân nói đi lối này
Về hướng hừng đông của ánh sáng
Gió sẽ tạt vào mặt bạn
Trong khi năm tháng đi ngang bạn
Hãy nghe lời nói sâu thẳm trong bạn
Đó là lời gọi của trái tim
Hãy nhắm mắt và bạn sẽ tìm được
Đường ra khỏi bóng tối
Tôi đây
Hãy gởi đến tôi một thiên thần
Tôi đây
Trong miền đất của sao mai
Hiền nhân nói hãy tìm chỗ của bạn
Trong mắt bão
Tìm hoa hồng dọc đường đi
Coi chừng gai nhọn
Tôi đây
Hãy gởi đến tôi một thiên thần
Tôi đây
Trong miền đất của sao mai
Hiền nhân nói giơ tay lên
Và với lấy lời thần chú
Tìm cửa vào miền đất hứa
Hãy tin vào chính bạn
Hãy nghe lời nói sâu thẳm trong bạn
Đó là lời gọi của trái tim
Nhắm mắt và bạn sẽ tìm thấy
Đường ra khỏi bóng tối
Tôi đây
Hãy gởi đến tôi một thiên thần
Tôi đây
Trong miền đất của sao mai
Tôi đây
Hãy gởi đến tôi một thiên thần
Tôi đây
Trong miền đất của sao mai
(TĐH dịch)
“Send Me an Angle” là bản nhạc của ban nhạc Đức Scorpions, phát hành trong album Crazy World năm 1990, cùng với bản Wind of Change. Send Me an Angle trở thành bản nhạc chính của album, lên hạng 44 trên bảng Billboard Hot 100, hạng 8 trên bảng Mainstream Rock Chart [1], và hạng cao trên nhiều bảng ở Âu Châu. Tại Ba Lan, bản nhạc lên đến hạng 3.
Send Me An Angel
Scorpions
The wise man said just walk this way
To the dawn of the light
The wind will blow into your face
As the years pass you by
Hear this voice from deep inside
It’s the call of your heart
Close your eyes and your will find
The passage out of the dark
Here I am
Will you send me an angel
Here I am
In the land of the morning star
The wise man said just find your place
In the eye of the storm
Seek the roses along the way
Just beware of the thorns
Here I am
Will you send me an angel
Here I am
In the land of the morning star
The wise man said just raise your hand
And reach out for the spell
Find the door to the promised land
Just believe in yourself
Hear this voice from deep inside
It’s the call of your heart
Close your eyes and your will find
The passage out of the dark
Here I am
Will you send me an angel
Here I am
In the land of the morning star
Here I am
Will you send me an angel
Here I am
In the land of the morning star