Tag Archives: Văn Hóa

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Rùa Vàng

Vua An Dương Vương nước Âu Lạc là người Ba Thục, họ Thục tên Phán. Tổ tiên ngày trước cầu hôn lấy Mỵ Nương là con gái vua Hùng Vương, nhưng Hùng Vương không gả, nên đem lòng oán giận. Phán muốn hoàn thành chí người trước, cử binh đi đánh Hùng Vương, diệt nước Văn Lang, đổi tên nước thành Âu Lạc, rồi lên làm vua.

Di tích thành Cổ Loa

Xây thành ở đất Việt Thường, nhưng hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy, vua bèn lập đàn trai giới, cầu đảo. Ngày mồng 7 tháng 3, bỗng thấy một cụ già từ phương tây tới trước cửa thành, than rằng: “Xây dựng thành này biết bao giờ mới xong được!”. Vua đón vào trong điện, vái và hỏi rằng: “Ta đắp thành này đã nhiều lần nhưng cứ bị sập đổ, tốn nhiều công sức mà không thành, thế là cớ làm sao?”. Cụ già đáp: “Sẽ có sứ Thanh Giang tới, cùng nhà vua xây dựng mới thành công”, nói xong từ biệt ra về (1).

Hôm sau vua ra cửa đông chờ đợi, chợt thấy một con rùa vàng từ phương đông lại, nổi trên mặt nước, nói được tiếng người, tự xưng là sứ Thanh Giang, thông tỏ việc trời đất, âm dương, quỷ thần. Vua mừng rỡ nói: “Điều đó chính cụ già đã báo cho ta biết trước”. Bèn rước vào trong thành, mời ngồi trên điện, hỏi việc vì sao xây thành không được. Rùa vàng đáp: “Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước, muốn báo thù cho nước. Lại có con gà trắng sống lâu ngàn năm, hóa thành yêu tinh ẩn ở núi Thất Diệu. Trong núi có ma, đó là hồn người nhạc công triều trước chôn ở đây. Ở bên cạnh, có một quán trọ cho khách vãng lai, chủ quán tên là Ngộ Không, có một người con gái và một con gà trắng, vốn là dư khí của quỉ tinh, phàm có khách qua đường nghỉ đêm ở quán, thì quỉ tinh lại biến hóa muôn hình vạn trạng, làm hại người chết rất nhiều. Nay giết được con gà trống trắng và con gái chủ quán ấy thì trấn áp được quỉ tinh. Quỉ tinh sẽ hóa ra lá thư yêu tinh, cho con chim cú ngậm bay đậu lên trên cây chiên đàn, tâu cùng thượng đế để xin phá thành. Thần sẽ cắn rơi lá thư, nhà vua tức tốc nhặt lấy, thì thành sẽ xây được”.

Rùa vàng bảo vua giả làm kẻ đi đường, nghỉ ở quán trọ này, và để rùa vàng ở phía trên khung cửa. Ngộ Không nói: “Quán này có yêu tinh, đêm thường giết người. Hôm nay trời chưa tối, xin ngài mau đi chỗ khác, chớ nghỉ lại kẻo rước hoạ vào thân”. Vua cười, nói: “Người sống chết có mạng, ma quỷ làm gì được, ta không sợ”. Bèn cứ nghỉ lại. Đến đêm, quỉ ở ngoài vào, thét lớn: “Kẻ nào ở đây, sao chẳng mau mở cửa?” Rùa vàng hét lớn: “Cứ đóng cửa thì mày làm gì?”. Quỉ phóng hỏa, biến hóa thiên hình vạn trạng, quỷ quái trăm đường để hòng dọa nạt, sau cùng cũng chẳng nổi. Đến lúc gà gáy sáng, quỷ tinh bỏ chạy. Rùa vàng cùng vua đuổi theo, tới núi Thất Diệu, quỉ tinh thu hình biến mất. Vua bèn quay về quán trọ.

Sáng hôm sau, chủ quán sai người đến định lượm xác khách trọ để chôn, thấy vua vẫn ngồi cười nói như thường (2), bèn chạy tới lạy mà nói rằng: “Ngài vẫn được bình an được như thế này, tất là thánh nhân, vậy xin ban thuốc thần để cứu sinh dân”. Vua nói: “Nhà ngươi giết con gà trắng mà tế thần, quỉ tinh sẽ tan hết”. Ngộ Không y lời, đem gà trắng ra giết, người con gái lập tức quay ra chết. Vua liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông. Trời gần tối, vua và rùa vàng leo lên núi Việt Thường thấy quỉ tinh đã biến thành con chim cú, ngậm lá thư bay lên cây chiên đàn. Rùa vàng liền biến thành con chuột theo sau, cắn vào chân cú, lá thư rơi xuống đất, vua vội nhặt lấy, lá thư đã bị nhấm rách quá nửa.

Từ đó quỉ tinh bị diệt, không thể tác quái được nữa. Thành xây nửa tháng thì xong. Thành đó rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ốc, cho nên gọi là Loa Thành, còn gọi là Quỉ Long thành, người đời Đường gọi là Sát Quỉ Côn Lôn thành, vì cho rằng thành ấy cao lắm.

Rùa vàng ở lại ba năm, rồi từ biệt ra về (3). Vua cảm tạ nói: “Nhờ ơn của thần, thành đã xây được. Nay nếu có giặc đến quấy rối thì lấy gì mà chống?”. Rùa vàng đáp: “Vận nước suy thịnh, xã tắc an nguy đều do mệnh trời, vua có thể tu đức mà kéo dài thời vận, nhà vua có lòng mong muốn thì ta có tiếc chi”. Bèn tháo vuốt đưa cho nhà vua nói rằng: “Đem vật này làm nỏ, nhắm quân giặc mà bắn thì sẽ không lo gì nữa”. Dứt lời thì quay trở về biển đông, nhà vua đích thân đưa tiễn. Vua liền sai bề tôi là Cao Lỗ làm nỏ, lấy vuốt rùa làm lẫy nỏ, gọi là nỏ thần Linh Quang Kim Quá (Vuốt vàng linh thiêng sáng rực).

Về sau Triệu Đà cử binh xâm đánh phương Nam, giao chiến với vua. Vua lấy nỏ thần ra bắn, quân Đà thua lớn, chạy về núi Trâu (Trâu Sơn) cầm cự. Đà biết nhà vua có nỏ thần không dám đối chiến, bèn xin hòa. Vua cả mừng, chia phía bắc sông Tiểu Giang cho Triệu Đà cai trị, phía nam thì thuộc nhà vua (nay thuộc sông Nguyệt Đức). Không bao lâu Đà cho con trai là Trọng Thuỷ sang làm quan Túc Vệ và cầu hôn với Mỵ Châu, là con gái của nhà vua. Vua không rõ kế lược gian manh của cha con Triệu Đà nên gả Mị Châu cho Trọng Thủy. Trọng Thủy dụ dỗ Mỵ Châu cho xem trộm nỏ thần rồi ngầm làm cái lẫy nỏ khác thay vuốt rùa vàng thay vào. Xong rồi Thủy nói dối với Mỵ Châu xin về phương bắc thăm cha. Trước khi đi, Thủy nói rằng: “Tình vợ chồng không thể quên được, nghĩa mẹ cha không thể dứt bỏ. Tôi nay trở về thăm cha, nếu như đến lúc hai nước bất hòa, bắc nam cách biệt, lấy gì làm dấu để tôi tìm được nàng?”. Mỵ Châu nói rằng: “Thiếp phận nữ nhi, nếu gặp cảnh biệt ly, chắc là khổ đau khôn xiết, thiếp có áo gấm lông ngỗng thường mặc trên mình, đi đến đâu sẽ nhổ lông ngỗng trên áo rắc xuống ở ngã ba đường để làm dấu, như vậy sẽ có thể cứu được nhau”. Trọng Thủy mang lẫy nỏ thần về nước (4). Đà được lẫy nỏ cả mừng, liền đem quân sang đánh. Vua cậy có nỏ thần, không phòng ngừa, vẫn điềm nhiên đánh cờ, cười mà nói rằng: “Đà không sợ nỏ thần hay sao?”. Quân Đà tiến sát, vua cầm lấy nỏ, thấy lẫy thần đã hư, thua chạy. Vua đặt Mỵ Châu ngồi sau ngựa rồi chạy về phương Nam. Trọng Thủy nhận dấu đuổi theo dấu lông ngỗng. Vua chạy tới bờ bể, đường cùng, không có thuyền qua sông, bèn than rằng: “Trời hại ta ư, sứ Thanh Giang đâu, mau mau lại cứu ta”. Rùa vàng hiện lên mặt nước, hét lớn: “Kẻ ngồi sau ngựa chính là giặc đó!, giết đi thì ta mới cứu nhà ngươi”. Vua bèn tuốt kiếm chém chết Mỵ Châu. Mỵ Châu trước khi chết, ngưỡng mặt khấn rằng: “Thiếp là phận gái, nếu có lòng phản nghịch mưu hại cha, chết đi sẽ biến thành hạt bụi. Nếu một lòng trung hiếu, bị người lừa dối thì chết đi biến thành châu ngọc để tẩy sạch mối nhục thù”.

Đền thờ An Dương Vương

Mỵ Châu chết ở bên bờ biển, máu chảy xuống nước, trai sò ăn phải đều biến thành hạt châu. Vua cầm sừng tê bảy tấc, Rùa vàng rẽ nước dẫn vua đi xuống biển. Đời truyền rằng nơi đó là đất huyện Dạ Sơn, xã Cao Xá, phủ Diễn Châu. Quân Đà kéo tới đấy không thấy bóng vết gì, chỉ còn lại xác Mỵ Châu. Trọng Thủy ôm xác vợ đem về Loa Thành, xác biến thành ngọc thạch. Trọng Thủy thương tiếc khôn cùng, khi đi tắm tưởng như thấy bóng dáng Mỵ Châu, bèn lao đầu xuống giếng mà chết. Người đời sau mò ngọc ở biển đông lấy nước giếng này mà rửa thì thấy càng trong sáng. Người đời kiêng tên Mỵ Châu nên gọi ngọc minh châu là đại cữu và tiểu cữu (4).

Chú thích:
1) Bản A 2914 chép rằng: “Cụ già bỗng bay lên trời”.
2) Bản A 2914 chép thêm rằng : “Vua nói với chủ quán rằng: Ta là An Dương Vương đến đây để diệt yêu tinh cứu giúp sinh linh”
3) Bản A 2914 chép: “Rồi trở về hồ Động Đình”
4) Cữu 玖 là tên 1 loại ngọc
.

Bình:

• Truyện này có hai phần rõ ràng: Phần đầu là thuật bình định một quốc gia vừa chiếm đóng. Phần sau là câu truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy.

Tượng đá Mỵ Châu cụt đầu, trong am thờ Mỵ Châu

• Ông già đến từ phương Tây vào ngày 7 tháng 3. Ông già là biểu tượng của khôn ngoan thông thái. Phương Tây là phương Phật; đất Phật,Tây Trúc (Ấn Độ), ở phía tây Việt Nam.

Số 3 là số thiếu dương, mầm sống bắt đầu lên. Số 3 được yêu chuộng trong mọi nền văn minh của con người.

Số 7 là số khá thông dụng trong kinh sách Phật. (Xin xem Nguồn gốc của Phật thất, của Thích Chân Tinh.)

• Thần Rùa Vàng (Kim Quy) đóng vai quan trọng trong văn hóa Việt Nam, từ truyện rùa Vàng này đến truyện Hồ Hoàn Hiếm với Lê Lợi.

Rùa thường là biểu tượng của kiên nhẫn và chắc chắn trong nhiều nền văn hóa trên thế giới. Trong cả văn hóa Việt lẫn văn hóa Trung quốc, rùa là một trong tứ linh: Long, Ly, Quy, Phụng. Nhưng trong nền văn hóa Việt thì Rùa và Rồng là có vẻ trội nhất—Rồng: Long Nữ, Lạc Long Quân, Thăng Long; Rùa: Kim Quy. Đây là hai linh vật có liên hệ đến “nước.” Đây cũng là một nét của “văn hóa nước” mà ta đã nói đến trong truyện Hồng Bàng.

Rùa Vàng lại có tên là Thanh Giang, tức Dòng Sông Xanh. Tức là đây không phải là rùa từ biển vào. Có vẻ đây là một liên hệ tế nhị đến gốc “nước ngọt” quê cha—Động Đình Hồ, và rùa ở Hồ Hoàn Kiếm sau này.

Rùa Vàng đến từ phương Đông. Đông là hướng mặt trời mọc, là phương khởi động—một bắt đầu mới. Trong phẩm mở đầu của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa , Phật Thích Ca phóng hào quang từ giữa lông mày đến các cõi ở phương Đông trước khi giảng Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

• Hùng vương đời thứ 18 là vị vua bị Thục Phán chinh phạt. 18 là 2 lần 9, hai lần con số đơn lớn nhất—số thái dương. Đây là ý nói thời đại Hùng Vương đã phát triển đến hết mức của nó. Bây giờ phải nhường chỗ cho một triều đại mới. Tức là việc xâm lăng của Thục Phán hợp luật trời. Đó là lý‎ do tại sao thần Kim Quy ủng hộ Thục Phán.

• Thục Phán mới xâm chiếm Văn Lang, lòng dân chưa thuận, còn nhiều chống đối nên xây thành không được.

• Con vua đời trước (Hùng Vương 18) thành tinh khí trong núi Thất Diệu, muốn báo thù.

Giếng Trọng Thủy (Giếng Ngọc)

Núi Thất Diệu có thể là biểu tượng của Bắc Đẩu Thất Tinh, là chùm sao Đại Hùng Tinh gồm 7 sao tất cả, trong đó sao Bắc Đẩu là sao chính. Đây có lẽ là ‎ý nói Hùng Vương 18 đặt lòng tin vào các vì tinh tú, trong lúc Thục Phán hợp với nhà Phật (Ngộ Không) hơn.

• Ngộ Không là từ của nhà Phật, có nghĩa là đã ngộ được tánh Không của mọi sự, tức là đã giác ngộ. Đây là biểu tượng cho những người hiểu biết—chủ quán là người đã lớn tuổi (là cha của cô gái), làm ăn thành đạt. Đây là loại người ủng hộ chế độ mới mạnh nhất—có kinh nghiệm đời, có kiến thức, hiểu thời thế, có tài sản và thương mãi.

• Gà trắng sống lâu ngàn năm là biểu tượng của tầng lớp trí thức sĩ phu chống đối, luôn lên tiếng “gáy” thường xuyên đế hô hào mọi người.

• Người con gái là thành phần dân chúng đi theo tiếng gọi của đám sĩ phu chống đối này. Con gái là biểu tượng của những người nhiều cảm tính, còn “trẻ người non dạ.”

Con gà trắng chết là cô con gái chết theo, nghĩa là đám sĩ phu chống đối mà mất thì đám dân nhẹ dạ nghe theo cũng mất.

• Nhạc khí cổ và hồn nhạc công là biểu tượng cho nền văn học nghệ thuật cũ. Phải diệt văn học nghệ thuật cũ thì mới bình định được đất mới.

• Chim cú ngậm lá thư bay lên cây chiên đàn để tâu cùng thượng đế xin phá thành là biểu tượng của các nhóm chống đối tìm trợ lực ở nước ngoài. Phải chặn đường tiếp xúc với bên ngoài của họ.

Một câu hỏi đặt ra ở đây là nếu thượng đế có thể nghe theo lời của chim cú để phá thành Thục Phán đang xây, như vậy không phải là lo sợ Thượng đế không ủng hộ Thục Phán sao? Nếu Thục Phán có chính nghĩa, thì việc gì phải sợ thượng đế nghe lời dèm pha?

• Xem ra có vẻ như Hùng Vương 18 không tốt, mất chính nghĩa, và lúc đầu Thục Phán có vẻ như được lòng trời và lòng dân để xâm chiếm Văn Lang.

Nhưng chiếm xong rồi vẫn gặp chống đối. Và thần Rùa Vàng cố vấn cho một kế sách bình định rất sắt máu. Thành công được một tí. Nhưng có phải chính vì cai trị sắt máu thế mà Thục Phán mất chính nghĩa, chỉ làm vua được một thời gian ngắn là mất nước?

Xem ra thần Rùa Vàng cũng có cái nhìn không được xa?

• Về móng Rùa Vang làm lẫy nỏ, không biết đây có phải là một ký‎ ức về nỏ liên hoàn không. Nỏ đã được sử dụng ở Trung quốc và các bộ tộc ở Đông Nam Á khoảng thế kỷ thứ 5, thứ 6 trước công nguyên. Khảo cổ cho thấy nỏ liên hoàn , bắn một loạt các mũi tên rất nhanh, xuất hiện tại Hồ Bắc (phía bắc Động Đình Hồ) khoảng thế kỷ thứ 4 trước công nguyên. Thục Phán sống vào thế kỹ thứ 2 trước công nguyên, cho nên rất có thể là Thục Phán có kiến thức về nỏ liên hoàn, và đây là bí quyết chiến thắng của Thục Phán.

• Mỵ Châu xem ra là người con duy nhất có mặt trong truyện. Chẳng lẽ Thục Phán chỉ có một người con gái vào thời đại vua có biết bao là cung tần mỹ nữ. Hay đây là ký‎ ức của sức mạnh mẫu hệ–chỉ có một cô công chúa nắm giữ bí mật quốc phòng?

• Trọng Thủy xem ra rất gian manh, giả làm đám cưới chỉ để hại người. Tội lỗi tầy đình. Thế tại sao dân Việt chẳng bao giờ lên án, lại yêu quý Trọng Thuỷ đến thế?

Thưa, tại vì Trọng Thủy làm tròn bổn phận làm con, làm dân—trung với quốc gia, hiếu với bố. Gian manh cũng chỉ vì quốc gia của chàng và bố của chàng. Nếu vì bố và tổ quốc mà chống vợ thì cũng là chuyện có thể thông cảm được. Hơn nữa, Trọng Thủy đã trả tội phản bội vợ bằng cách chết chung với vợ–vừa đền tội, vừa trọn tình nghĩa. Rất đúng với tên “Trọng Thủy.” Toàn vẹn mọi bề.

• Mỵ Châu thực ra là nạn nhân, bị lừa lọc. Nhưng không được thương xót, lại bị chém đầu. Tội không giữ kín bí mật quốc phòng, hại cha, hại nước, không thể dung tha. Ngu và cả tin không phải là lý do để được tha tội.

Ở đây ta lại thấy một lần nữa, Rùa Vàng có chính sách rất sắt máu, chẳng vị tình. Phải chăng chính quân sư như thế làm Thục Phán mất nước?

• Lông ngỗng đưa đường. Ngỗng là chim, và chim là vật tổ của dân Việt (như hình khắc trên trông đồng Ngọc Lữ). Chim còn là biểu tượng cho mẹ–Âu Cơ là tiên. Tiên và chim rất gần gũi.

Lông ngỗng đưa đường là lối đi của mẹ, lối đi của tình cảm và yêu ái, gạt ra ngoài mọi quy luật và phân cách chính trị. Trong cơn bão loạn, thì tìm nhau bằng “đường mẹ,” đường của tình yêu, vượt trên mọi chia cách.

• Rùa Vàng rất khắt khe với Mỵ Châu, nhưng xem ra trời không đồng ý với Rùa Vàng—cho Mỵ Châu trở thành những viên ngọc trai lóng lánh nghìn đời. Và dân Việt đồng ‎ý với trời, xem Trọng Thủy Mỹ Châu như là thiên tình sử bất tử về tình yêu, đạo vợ chồng, đạo hiếu nghĩa, trung quân, và ái quốc.

(Trần Đình Hoành bình)

Hãy gởi đến tôi một thiên thần

Hiền nhân nói đi lối này
Về hướng hừng đông của ánh sáng
Gió sẽ tạt vào mặt bạn
Trong khi năm tháng đi ngang bạn
Hãy nghe lời nói sâu thẳm trong bạn
Đó là lời gọi của trái tim
Hãy nhắm mắt và bạn sẽ tìm được
Đường ra khỏi bóng tối

Tôi đây
Hãy gởi đến tôi một thiên thần
Tôi đây
Trong miền đất của sao mai

Hiền nhân nói hãy tìm chỗ của bạn
Trong mắt bão
Tìm hoa hồng dọc đường đi
Coi chừng gai nhọn

Tôi đây
Hãy gởi đến tôi một thiên thần
Tôi đây
Trong miền đất của sao mai

Hiền nhân nói giơ tay lên
Và với lấy lời thần chú
Tìm cửa vào miền đất hứa
Hãy tin vào chính bạn
Hãy nghe lời nói sâu thẳm trong bạn
Đó là lời gọi của trái tim
Nhắm mắt và bạn sẽ tìm thấy
Đường ra khỏi bóng tối

Tôi đây
Hãy gởi đến tôi một thiên thần
Tôi đây
Trong miền đất của sao mai
Tôi đây
Hãy gởi đến tôi một thiên thần
Tôi đây
Trong miền đất của sao mai

(TĐH dịch)

“Send Me an Angle” là bản nhạc của ban nhạc Đức Scorpions, phát hành trong album Crazy World năm 1990, cùng với bản Wind of Change. Send Me an Angle trở thành bản nhạc chính của album, lên hạng 44 trên bảng Billboard Hot 100, hạng 8 trên bảng Mainstream Rock Chart [1], và hạng cao trên nhiều bảng ở Âu Châu. Tại Ba Lan, bản nhạc lên đến hạng 3.

Send Me An Angel

Scorpions

The wise man said just walk this way
To the dawn of the light
The wind will blow into your face
As the years pass you by
Hear this voice from deep inside
It’s the call of your heart
Close your eyes and your will find
The passage out of the dark

Here I am
Will you send me an angel
Here I am
In the land of the morning star

The wise man said just find your place
In the eye of the storm
Seek the roses along the way
Just beware of the thorns

Here I am
Will you send me an angel
Here I am
In the land of the morning star

The wise man said just raise your hand
And reach out for the spell
Find the door to the promised land
Just believe in yourself
Hear this voice from deep inside
It’s the call of your heart
Close your eyes and your will find
The passage out of the dark

Here I am
Will you send me an angel
Here I am
In the land of the morning star
Here I am
Will you send me an angel
Here I am
In the land of the morning star

Thiền khơi lửa

Hakuin thường kể cho các đệ tử chuyện về một lão bà chủ một tiệm trà, ca ngợi sức thông hiểu Thiền của bà. Các đệ tử không tin lời thầy và đến tiệm trà để xem thực hư.

Mỗi khi thấy họ đến, lão bà biết ngay là họ đến để uống trà hay tò mò về hiểu biết Thiền của bà. Nếu đến để uống trà, bà sẽ phục vụ tử tế. Nếu đến vì tò mò, bà sẽ gọi họ ra sau bức bình phong. Ngay lúc họ bước vào, bà sẽ dùng cây khơi lửa đánh họ.

9 phần 10 số đệ tử không thoát khỏi ăn đòn của bà.
.

Bình:

• Điều ta suy nghĩ bên trong, thường bộc lộ ra ngoài, kể cả khi ta muốn che dấu. Đây là thân ngữ (body language). Thân ngữ thường bộc lộ tự nhiên, và người nhậy bén về thân ngữ có thể đọc được y’ ‎ tưởng của người khác qua thân ngữ.

Các điều tra viên giỏi thường rất nhậy cảm với thân ngữ. Các thiền sư rất tĩnh lặng thường nhậy cảm về mọi sự, kể cả thân ngữ. Tuy nhiên, giỏi đọc thân ngữ hay không cũng tùy người.

• Đối với thiền sinh, tò mò về sức hiều biết thiền của người khác là một tội, vì nó chẳng giúp được gì cho thiền sinh cả, ngoại trừ làm cho thiền sinh đi lạc đường–so sánh cạnh tranh mình với người khác.

• Thiền không thể thấy, không thể so sánh. Thiền là sống ở đây lúc này, với tâm không vướng mắc. Thế thì làm sao nhìn một người để thấy Thiền của người đó được?

• Ai cũng có thể đạt được Thiền. Lão bà bán trà có thể đạt Thiền, trong khi nhiều thiền sư không thể. Thiền đến từ tâm tĩnh lặng, không vướng mắc. Có gì lạ đâu mà tò mò?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Fire-Poker Zen

Hakuin used to tell his pupils about an old woman who had a teashop, praising her understanding of Zen. The pupils refused to believe what he told them and would go to the teashop to find out for themselves.

Whenever the woman saw them coming she could tell at once whether they had come for tea or to look into her grasp of Zen. In the former case, she would serve them graciously. In the latter, she would beckon the pupils to come behind her screen. The instant they obeyed, she would strike them with a fire-poker.

Nine out of ten of them could not escape her beating.

# 92

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện giếng Việt

Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh.

Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới chân núi Trâu (Trâu Sơn). Hùng Vương cầu cứu với Long Quân, Long Quân hóa thành Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa sắt đi đánh giặc, quân nhà Ân đều thua chạy. Vua nhà Ân chết trận dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, bốn mùa đều phải hương khói. Lâu ngày miếu thành hoang phế. Có người nước ta tên là Thôi Lượng làm quan nhà Tần đến chức Ngự Sử Đại Phu, thường qua lại vùng này, thấy cảnh suy tàn, chạnh lòng thương cảm, bèn sửa sang lại đền miếu. Có thơ đề rằng (1):


Người xưa kể lại chuyện Ân vương
Tuần Thú năm nao đến bên đường
Núi biếc sông dài quanh miếu vắng
Hồn đi mồ để vết còn hương
Một phen thắng bại Ân đức hết
Vạn thế Uy linh ở Việt Thường
Trăm họ rồi đây dâng hương cúng
Phò trì vận nước vững không lường
(Nguyễn Hữu Vinh dịch)

Sau các tướng Nhâm Ngao, Triệu Đà đem quân xâm chiếm phương Nam, đóng quân ở núi này, sai tu sửa lại đền miếu, nghiêm cẩn phụng thờ. Ân Vương cảm cái đức của Lượng xưa, muốn đền ơn, bèn sai tiên nữ Ma Cô đi tìm Lượng. Khi ấy Lượng đã chết, chỉ có đứaq con là Thôi Vỹ hãu còn sống. Khoảng tiết Nguyên Tiêu tháng giêng, dân chúng tới thăm đền này, có người cúng một cặp bình pha lê, tiên nữ Ma Cô cầm lên tay ngắm nghía, lỡ rơi xuống đất đánh vỡ, bị người ta bắt phạt đền. Ma Cô mặc áo rách, mọi người không biết là tiên, nên đánh đập tàn nhẫn. Thôi Vỹ thấy vậy động lòng thương, bèn cởi áo đền, Ma Cô được tha. Ma Cô hỏi Vỹ ở đâu, Vỹ kể lại lai lịch của cha. Ma Cô lúc ấy mới biết là con quan Thôi Ngự sử, mừng rỡ nói với Vỹ rằng: “Nay tôi không có gì báo đáp, sau này tất sẽ tạ ơn”. Rồi đưa cho Vỹ một bó lá ngải mà nói: “Giữ cẩn thận vật này, đừng để rời khỏi mình, sau này thấy ai có bướu , đem cứu cho lành, tất sẽ được phú quý”.

Vỹ nhận lấy, chưa biết đó là thuốc tiên. Ngày kia, đi đến nhà người bạn thân là đạo sĩ Ứng Huyền, Huyền có cái bướu trên đầu. Vỹ nói: “Tôi có bó lá ngải, có thể trị được bịnh này”. Huyền nhờ chữa cho. Vỹ bèn dùng lá ngải ra dùng, bướu lập tức tiêu tan, Huyền nói: “Đây là thuốc tiên, ta nay không có vật gì báo đáp, xin lấy ơn khác đền lại. Ta quen một vị quí nhân cũng mắc bệnh này, thường nói rằng ai chữa được thì sẽ chia cho hết cả gia tài mà không tiếc, ông hãy tới đó chữa”.

Huyền đưa Vỹ tới nhà Nhâm Ngao chữa bệnh, bướu liền tiêu tan. Ngao cả mừng, nuôi Vỹ làm con nuôi, mở trường cho Vỹ học. Vỹ là người thông minh, thích gảy đàn. Con gái Ngao là Phương Dung thấy Vỹ thì phải lòng, bèn cùng tư thông. Con trai Ngao là Nhâm Phu biết chuyện, muốn giết Vỹ, đem Vỹ tế thần Xương Cuồng, bèn dỗ rằng: “Cuối năm phải lễ thần Xương Cuồng mà chưa có người làm đồ lễ cúng. Hôm nay không nên đi ra ngoài, nên ẩn vào phòng để tránh”. Vỹ vô tình nghe theo, Nhâm Phu bèn khóa cửa buồng. Phương Dung biết ý, ngầm lấy dao đưa cho Vỹ, Vỹ đào ngạch mà ra. Ban đêm, Vỹ lẻn đi, muốn tới nương tựa nhà Ứng Huyền.

Đi gấp lên trên núi, Vỹ lỡ chân rơi xuống hang sâu, chung quanh đều là vách đá, không có bậc lên. Ở trên có một hòn đá, thạch nhũ rủ xuống bàn đá, có một con rắn trắng mình dài trăm trượng, mào vàng, miệng đỏ, râu đỏ, vảy trắng, dưới cổ có cái bướu, trên trán có dòng chữ vàng đề “Ngọc Kinh Tử Xà”. Rắn ra ăn thạch nhũ, để lại bàn đá trống không, thấy Vỹ ở trong hang thì định nuốt. Vỹ kinh sợ, sụp lạy mà nói: “Tôi đi tránh nạn, rơi xuống dưới hang này, không có gì ăn, đói dạ nên phải ăn vụng, thực là đắc tội. Nay thấy dưới cổ ngài có cái bướu thịt, tôi có lá ngải để trị bệnh này, xin khoan tha cho tôi để tôi thi thố tài mọn”. Rắn ngẩng đầu xin cứu. Bỗng thấy ánh lửa sáng, một mảnh than rơi xuống hang. Vỹ lấy lửa mà cứu, bướu lập tức tiêu tan. Rắn quẫy mình tới trước mặt Vỹ như có ý bảo Vỹ cưỡi lên lưng. Vỹ cưỡi lên, rắn bèn tức thì đưa Vỹ ra khỏi hang. Đúng canh một thì lên tới cửa hang, nhìn không thấy ai qua lại, rắn bèn vẫy đuôi bảo Vỹ xuống, sau đó rắn lại trở vào trong hang.

Vỹ đi lạc đường, chợt thấy trước mặt có một cửa thành, trên cổng thành có lầu cao lợp ngói đỏ lộng lẫy, ánh sáng mờ mờ chiếu tỏa. Trên cổng treo biển đỏ viết chữ vàng “Ân Vưong Thành” (Thành vua nhà Ân). Vỹ ngồi bên cạnh cổng, không thấy có người qua lại. Vỹ bước vào trong thành, nhìn thấy trong sân có ao, giữa ao có sen ngũ sắc, cạnh ao có mấy hàng cây hòe, cây liễu. Đường sá phẳng lỳ, điện ngọc cung châu, lầu cao gác rộng. Trên điện kê đôi giường bằng vàng, trải chiếu hoa bằng bạc, có hai cây đàn cầm, đàn sắt. Vỹ từ từ đi đến, thử đánh vào đàn. Hồi lâu, thấy kim đồng ngọc nữ, hàng trăm người theo hầu hoàng hậu vua Ân, mở cửa mà ra. Vỹ cả kinh, xuống điện quỳ lạy. Ân hậu cười phán rằng: “Thôi quan nhân ở đâu tới đây?”. Rồi lại mời lên điện nói: “Xưa kia điện Ân Vương hoang phế lâu ngày, nhờ có Thôi ngự sử sửa chữa, người đời mới theo gương mà cúng thờ mãi mãi. Vua đã sai tiên nữ Ma Cô đi tìm để báo ơn, không gặp ngự sử mà chỉ gặp công tử. Vẫn chưa có gì báo đáp, nay may được trông thấy mặt công tử, nhưng hiềm vì Thượng đế có sắc gọi cho nên Vua lên chầu trời, chỉ có Ma Cô ở nhà”. Bèn ban tiệc rượu, cho ăn uống no say. Bỗng thấy có một người râu dài, bụng to tiến lên dâng biểu, quỳ xuống mà tâu rằng: “Ngày mồng 3 tháng giêng, người phương Bắc là Nhâm Ngao đã bị thần Xương Cuồng đánh chết”. Tâu xong, Hậu bèn nói: “Dương quan nhân hãy đưa Thôi công tử trở về trần thế”. Ân hậu tiễn khách quay vào. Dương quan nhân bèn bảo Vỹ nhắm mắt, ngồi lên vai mình. Hơn một khắc sau đã đến tới đỉnh núi. Dương quan nhân biến thành một con dê đá đứng ở trong núi, nay con dê ấy còn ở sau chùa Việt Vương (Việt Vương từ) trên núi Trâu (Trâu sơn).

Vỹ trở về nhà Ứng Huyền, kể lại đầu đuôi câu chuyện. Đêm mồng 1 tháng 8, Vỹ và Huyền cùng đi dạo bên ngoài, thấy tiên nữ Ma Cô dắt một người con gái tới ban cho Vỹ để kết làm vợ chồng, lại cho cả viên ngọc Long Tụy. Vốn xưa, ngọc đó có hai viên thư, hùng (nam, nữ), suốt từ đời vua Hoàng Đế tới triều nhà Ân vẫn được lưu truyền là vật quí ở đời. Trong trận đánh ở núi Trâu, vua Ân đeo ngọc đó mà chết, ngọc bị vùi xuống đất mà hào quang của nó vẫn chiếu tỏa đến tận trời. Thời binh lửa đời Tần, báu ngọc đều cháy hết, người ta xem linh khí mà biết rằng viên ngọc quí Long Tụy vẫn còn ở nước Nam, mới từ xa tới tìm. Đến nay Vua Ân lấy ngọc quý này báo đáp ơn Vỹ. Người thời ấy đem vàng bạc lụa là, đáng giá trăm mươi ngàn quan tiền tới mua, Vỹ do đó giàu to.

Sau, tiên nữ Ma Cô tới đón vợ chồng Vỹ đi đâu không biết. Nay giếng đã cạn, hoang phế thành cái huyệt, còn giấu tích ở núi Trâu. Tục gọi là là Việt Tỉnh Cương (sườn núi giếng Việt).

Chú thích: 1. Bài thơ chữ Hán như sau:

Cổ nhân truyền đạo thị Ân vương
Tuần thú đương niên đáo thử phương
Sơn tú thủy lưu không kiến miếu
Tinh thăng tích tại thượng văn hương
Nhất triều thắng bại vô Ân đức
Vạn tải Uy Linh trấn Việt Thường
Bách tính tùng tư giai phụng tự
Mặc phù quốc tộ vĩnh vô cương

(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.

Bình:


• Bài này nói về đạo sống nhân hậu lễ nghĩa của người Việt. Người Việt chính trong này là Thôi Lượng và sau đó là con Thôi Vỹ. “Lượng” là thành thật, trung tín, tha thứ. “Vỹ” là đuôi, tức là ý nói nối tiếp–con nối tiếp lòng thành thật, trung tín, tha thứ của cha.

• Chết là xóa hết ân oán. Vua Ân khi còn sống là kẻ thù của người Việt, khi chết được người Việt lễ bái như thần và ngược lại cũng giúp đỡ dân Việt. “Nhất triều thắng bại vô ân đức – Một phen thắng bại ân đức hết”. Ân đức ở đây nên hiểu rộng là ân oán, chết là hết ân oán.

Và vì vua Ân là vua nên, theo lẽ thường, là người có nhiều đức trọng, chết thành thần linh hiển, nên người sống thành tâm thờ thần là chuyện phải làm. Thù oán chính trị khi còn sống không còn nghĩa lý gì hết. Người chết vào một thế giới mới với suy nghĩ tâm tư mới hoàn toàn, và người sống cần cư xử với người chết với tâm tư mới tương ứng.

• Vỹ có lòng rộng lượng và lễ nghĩa và với vua Ân, cựu thù khi nhà vua còn sống. Và Vỹ nhân hậu với Ma Cô, rách rưới nghèo nàn cơ khổ. Rộng lượng với kẻ thù đã chết, trên thì kính trọng thần thánh, dưới thì nhân hậu với kẻ khốn cùng. Đó là đạo sống. Và đạo sống này sẽ mang đến nhiều may mắn thành công trong đời.

• Phần thưởng đầu tiên Vỹ được là bó lá ngải chữa bệnh bướu của Ma Cô. Bệnh bướu đầu và bướu cổ là biểu tượng của chất độc từ trong tâm người tụ lại—như là ba độc tham sân si trong kinh Phật. Người có lòng rộng lượng với người chết, kính trọng thần thánh, nhân hậu với kẻ khốn cùng, sẽ tự nhiên có ảnh hưởng tốt đến những người có tâm tham sân si nặng. Đức hạnh tự nhiên từ người thiện tỏa ra sẽ ảnh hưởng tốt đến người xấu và có thể làm tâm họ trở thành sáng suốt lành mạnh.

• Sức mạnh chuyển hóa của người có thiện tâm đi từ gần tới xa—trước hết là bè bạn, như Ứng Huyền, sau đó là kẻ thù từ nước ngoài, như Nhâm Ngao. Và ngay cả khi trong vòng kẻ thù có người muốn hại người thiện–như Nhâm Phu—thì vẫn có người bảo vệ–như Phương Dung.

• Người thiện, như Vỹ, khi sa cơ thất thế, như Vỹ rơi xuống giếng sâu, cũng có thể đổi xấu thành lành, có thể làm lành tâm ác của những người đại ác—biểu tượng bằng rắn chúa: Mào vàng là biểu tượng của vua, miệng đỏ râu đỏ là biểu tượng của quyền lực—và người thiện sẽ được cả những kẻ đại ác giúp đỡ.

Dùng than đỏ mà chữa bệnh bướu cho rắn thần, tức là dùng ánh sáng của thiện tâm mà cải hóa lòng ác.

• Ngược lại người có tâm ác muốn hại người thiện—như Nhâm Phu muốn hại Thôi Vỹ–thì người thiện không những không hề hấn gì mà người ác lại trả giá, như Nhâm Phu rốt cuộc làm cha (Nhâm Ngao) bị Thần Xương Cuồng đánh chết.

• Việc Dê thần Dương quan nhân (dương là dê) cho Vỹ ngồi lên vai để đưa về trần thế có vẻ như là nói đến chiếc xe dê trong Phẩm Thí Dụ của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, là biểu tượng của Phật Giáo Tiểu Thừa hay Phật Giáo Nguyên Thủy (Theravada).

• Ngay cả việc vợ chồng và giàu sang cũng là phần thưởng đến từ thiện tâm của mình–biểu tượng bằng việc Ma Cô đem giai nhân và ngọc Long Tụy đến tặng Vỹ.

• Tóm lại là thiện tâm của con người—rộng lượng, lễ nghĩa, nhân hậu—là chủ cho đời sống của ta. Thiện tâm giúp ta cải hóa mọi người—từ người thân, đến kẻ thù, từ người thường đến người xấu—mang lại may mắn, cứu ta khi sa cơ thất thế, mang lại hanh phúc gia đình và giàu sang vật chất.

(Trần Đình Hoành bình)

Mùi vị của thanh kiếm của Banzo

Matajuro Yagyu là con của một kiếm sĩ nổi tiếng. Cha của Matajuro tin rằng con mình quá tầm thường để có thể thành đại kiếm sĩ, nên từ con.

Vì vậy Matajuro lên núi Mount Furata và tìm gặp kiếm sĩ lừng danh Banzo. Nhưng Banzo xác nhận sự định giá của người cha. “Cậu muốn học kiếm đạo của tôi?” Banzo hỏi. “Cậu không thể làm tròn các yêu cầu được đâu.”

“Nhưng nếu con tập luyện chăm chỉ thì cần bao nhiêu năm để thành cao thủ?” cậu nhỏ kiên trì.

“Cả đời cậu,” Banzo trả lời.

“Con không đợi lâu thế được,” Matajuro giải thích. “Con sẵn sàng chịu đựng mọi cực khổ, nếu thầy bằng lòng dạy con. Nếu con trở thành người đầy tớ trung tín của thầy, thì sẽ tốn bao lâu?”

“Ô, có thể là 10 năm.” Banzo lùi bước.

“Cha của con đã già rồi, và con sẽ phải lo cho cha sớm thôi,” Matajuro tiếp tục. “Nếu con làm việc cực nhọc hơn rất nhiều, thì sẽ tốn bao lâu?”

“Ô, có thể là 30 năm,” Banzo nói.

“Sao vậy?” Matajuro hỏi. “Lúc đầu thầy nói 10 năm và bây giờ lên 30 năm. Con sẽ chịu bất kì cực khổ nào để thuần thục kiếm thuật trong thời gian ngắn nhất!”

“À,” Banzo nói, ‘trong trường hợp đó cậu sẽ phải ở với tôi đến 70 năm. Một người hấp tấp đòi kết quả như cậu ít khi học nhanh được.”

“Vâng được,” cậu nhỏ tuyên bố, cuối cùng cậu cũng hiểu là cậu đang bị mắng vì thiếu kiên nhẫn, “con đồng ý.”

Matajuro được ra lệnh không bao giờ được nhắc đến kiếm thuật và không bao giờ được sờ đến thanh kiếm. Cậu nấu ăn cho sư phụ, rửa chén, dọn giường, dọn dẹp sân, chăm sóc vườn, làm tất cả mà không nói một lời về kiếm thuật.

Ba năm trôi qua. Matajuro vẫn tiếp tục lao động. Nghĩ đến tương lai, cậu buồn. Cậu chưa được ngay cả bắt đầu để tập môn nghệ thuật mà cậu đã hiến dâng cả đời mình.

Nhưng một ngày nọ Banzo lén bò đến sau lưng Matajuro và cho cậu một đập dữ dội với thanh kiếm gỗ.

Ngày hôm sau, khi Matajuro đang nấu cơm, Banzo lại nhảy đến tấn công bất ngờ.

Từ ngày đó, ngày cũng như đêm, Matajuro phải lo chống đỡ các cú tấn công bất ngờ. Chẳng có lúc nào Matajuro lại không nghĩ đến mùi vị của thanh kiếm của Banzo.

Cậu học nhanh đến nỗi cậu mang nụ cười đến trên mặt của sư phụ. Matajuro trở thành kiếm sĩ vĩ đại nhất trong nước Nhật.
.

Bình:

• Tĩnh lặng là căn bản của võ học. Khi tĩnh lặng thì cả ngũ quan lẫn tư tưởng của ta nhạy bén hơn để chiến đấu.

• Kiên nhẫn là căn bản của luyện tập. Tất cả mọi môn học trên thế gian đều cần kiên nhẫn, vì sự tiến hóa cần thời gian, và người ta chỉ có thể tăng tiến từ từ theo thời gian. Không ai có thể đi từ 1 đến 10 trong một bước. Những người thiếu kiên nhẫn thường bỏ học nữa chừng, hoặc thường tìm cách đi đường tắt, là đường dở hơn.

• Các công việc của đầy tớ–nấu ăn, rửa bát, dọn dẹp—là các công việc tốt nhất để tập chúng ta kiên nhẫn và khiêm tốn—càng khiêm tốn ta càng kiên nhẫn và càng tĩnh lặng. Cái tôi lớn thường làm cho tâm ta ồn ào xung động và không kiên nhẫn.

• Trong “cuộc chiến” với đời sống, chúng ta cũng cần tĩnh lặng để chiến thắng, và cần kiên nhẫn để học nghệ thuật chiến thắng.

Và làm các việc đầy tớ hàng ngày là cách huấn luyện ta rất tốt. Các bạn, nhất là các bạn nam, có nấu ăn, rửa bát, quét sân, giặt đồ, chùi toilette thường không?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Taste of Banzo’s Sword

Matajuro Yagyu was the son of a famous swordsman. His father, believing that his son’s work was too mediocre to anticipate mastership, disowned him.

So Matajuro went to Mount Futara and there found the famous swordsman Banzo. But Banzo confirmed the father’s judgment. “You wish to learn swordsmanship under my guidance?” asked Banzo. “You cannot fulfill the requirements.”

“But if I work hard, how many years will it take to become a master?” persisted the youth.

“The rest of your life,” replied Banzo.

“I cannot wait that long,” explained Matajuro. “I am willing to pass through any hardship if only you will teach me. If I become your devoted servant, how long might it be?”

“Oh, maybe ten years,” Banzo relented.

“My father is getting old, and soon I must take care of him,” continued Matajuro. “If I work far more intensively, how long would it take me?”

“Oh, maybe thirty years,” said Banzo.

“Why is that?” asked Matajuro. “First you say ten and now thirty years. I will undergo any hardship to master this art in the shortest time!”

“Well,” said Banzo, “in that case you will have to remain with me for seventy years. A man in such a hurry as you are to get results seldom learns quickly.”

“Very well,” declared the youth, understanding at last that he was being rebuked for impatience, “I agree.”

Matajuro was told never to speak of fencing and never to touch a sword. He cooked for his master, washed the dishes, made his bed, cleaned the yard, cared for the garden, all without a word of swordmanship.

Three years passed. Still Matajuro labored on. Thinking of his future, he was sad. He had not even begun to learn the art to which he had devoted his life.

But one day Banzo crept up behind him and gave him a terrific blow with a wooden sword.

The following day, when Matajuro was cooking rice, Banzo again sprang upon him unexpectedly.

After that, day and night, Matajuro had to defend himself from unexpected thrusts. Not a moment passed in any day that he did not have to think of the taste of Banzo’s sword.

He learned so rapidly he brought smiles to the face of his master. Matajuro became the greatest swordsman in the land.

# 91

AIMER – YÊU – TO LOVE

Thân tặng hai bạn Minh Hiển và Khánh Hòa
Quỳnh Linh

Romeo:

Yêu, đó là khi có điều đẹp nhất
Yêu, là bay lên thật cao
Và chạm đến cả những cánh chim
Yêu, đó là có được điều đẹp nhất

Juliette:

Yêu, đó là đánh cắp thời gian
Yêu, đó là sống mãi (1)
Và cháy lên như lòng núi lửa
Yêu, đó là khi có điều vĩ đại nhất

Romeo và Juliette:

Yêu, đó là điều mạnh hơn mọi sự
Là trao cho nhau những gì tốt đẹp nhất của mình
Là yêu và cảm nhận trái tim người ấy
Yêu để bớt đi nỗi sợ hãi

Hợp xướng:

Yêu, đó là khi có điều đẹp nhất
Yêu, là bay lên thật cao
Và chạm đến cả những cánh chim
Yêu, đó là có được điều đẹp nhất
Yêu, đó là đánh cắp thời gian
Yêu, đó là sống mãi
Và cháy lên như lòng núi lửa
Yêu, đó là khi có điều vĩ đại nhất

Hợp xướng và Juliette:

Yêu, đó là thắp sáng những đêm tối của người ấy
Yêu, đó là sẵn sàng trả giá
Và trao cho cuộc sống người ấy một cảm giác
Yêu, đó là thắp sáng những đêm tối của người ấy

Hợp xướng và Romeo:

Yêu, đó là khi có điều đẹp nhất
Yêu, là bay lên thật cao
Và chạm đến cả những cánh chim
Yêu, đó là khi có điều đẹp nhất
Yêu …

Quỳnh Linh dịch

(1) mình không hiểu ý này lắm, chắc tác giả muốn nói là khi yêu người ta có “cảm tưởng”như là sẽ sống mãi trong lòng nhau!

Đây là “bản tuyên ngôn tình yêu” của Roméo và Juliette trong vở nhạc kịch của Pháp “Romméo et Jullietted – De la haine à l’amour” (Romeo và Juliette – Từ thù hận đến tình yêu) – nhạc và lời của Gérard Presgurvic (dựa trên vở kịch “Romeo & Juliet”của William Shakespeare).

Trích đoạn này chắc không cần giới thiệu mọi người cũng có thể đoán được đó là cảnh Cha xứ làm lễ kết hôn kín cho Romeo và Juliette trong nhà thờ.

Đây là lời gốc bằng tiếng Pháp của bài hát.

Roméo:
Aimer c’est ce qu’y a d’plus beau
Aimer c’est monter si haut
Et toucher les ailes des oiseaux
Aimer c’est ce qu’y a d’plus beau

Juliette:
Aimer c’est voler le temps
Aimer c’est rester vivant
Et brûler au cœur d’un volcan
Aimer c’est c’qu’y a de plus grand

Roméo et Juliette:
Aimer c’est plus fort que tout
Donner le meilleur de nous
Aimer et sentir son cœur
Aimer pour avoir moins peur

Chœurs:
Aimer c’est ce qu’y a d’plus beau
Aimer c’est monter si haut
Et toucher les ailes des oiseaux
Aimer c’est ce qu’y a d’plus beau

Aimer c’est voler le temps
Aimer c’est rester vivant
Et brûler au cœur d’un volcan
Aimer c’est c’qu’y a de plus grand

Chœurs et Juliette:
Aimer c’est brûler ses nuits
Aimer c’est payer le prix
Et donner un sens à sa vie
Aimer c’est brûler ses nuits

Chœurs et Romeo:
Aimer c’est ce qu’y a d’plus beau
Aimer c’est monter si haut
Et toucher les ailes des oiseaux
Aimer c’est ce qu’y a d’plus beau

Aimer…

Cú đầu lần cuối

Tangen đã học với Sengai từ hồi còn bé. Lúc lên 20 Tangen muốn rời thầy và thăm viếng các thầy khác để học đối chiếu. Nhưng Sengai không cho phép. Mỗi lần tangent nhắc đến chuyện đó, Sengai lại cho Tangen một cái cú đầu.

Cuối cùng Tangen hỏi một sư huynh xin thầy hộ. Sư huỵnh làm được và cho tangent biết: “Xong rồi. Anh đã sắp xếp để em bắt đầu cuộc hành hương ngay lập tức.”

Tangen đến găp Sengai để cám ơn thầy đã cho phép. Sư phụ trả lời Tangen bằng một cái cú đầu.

Khi Tangen kể lại chuyện cho sư huynh, sư huynh nói: “Chuyện gì vậy? Thầy không thể cho phép xong rồi thay đổi ‎ý kiến. Anh sẽ nói với thầy như vậy.” Và sư huynh đến gặp thầy.

“Thầy đâu có hủy phép,” Sengai nói. “Thầy chỉ muốn cho nó cái cú đầu cuối cùng, vì khi nó trở về nó sẽ giác ngộ và thầy không thể la mắng nó nữa.”
.

Bình:

• Bài này tóm tắt triết lý giáo dục thiền tông mà ta đã quen thuộc trong những bài trước. Thầy dùng đủ hình thức giáo dục để giúp học trò tỉnh thức, từ dịu dàng nhẹ nhàng, đến la mắng, đập bàn, gõ nền nhà, đôi khi cho cái tát tai, cái cú đầu, hay một gậy. Nhưng các hình thức “giáo dục nặng” không vì thầy giân dữ, mà chỉ là một phương cách để đánh động tâm trí học trò tỉnh thức.

• Khi học trò đã tỉnh thức, tức là đã đạt ngộ, người học trò trở thành thầy, và mọi hình thức giáo dục cũ chấm dứt. Bây giờ thầy trò đều là thầy cả, đều đã đạt ngộ, không cần và không thể giáo dục nặng nữa. Cùng lắm là bàn với nhau vài ba câu.

• Ngày nay chúng ta cũng có các câu hỏi trong hệ thống giáo dục: Giáo viên có nên sử dụng hình phạt thể chất (physical punishment—quỳ gối, khẻ mông, v.v..) với học sinh? Nếu có thì trong những trường hợp nào, và những hình phạt nào có thể chấp nhận được? Giáo viên có được huấn luyện để biết rằng hình phạt là giáo dục, chứ không phải là cách để làm cho mình hả giận không?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Last Rap

Tangen had studied with Sengai since childhood. When he was twenty he wanted to leave his teacher and visit others for comparative study, but Sengai would not permit this. Every time Tangen suggested it, Sengai would give him a rap on the head.

Finally Tangen asked an elder brother to coax permission from Sengai. This the brother did and then reported to Tangen: “It is arranged. I have fixed it for you to start your pilgrimage at once.”

Tangen went to Sengai to thank him for his permission. The master answered by giving him another rap.

When Tangen related this to his elder brother the other said: “What is the matter? Sengai has no business giving permission and then changing his mind. I will tell him so.” And off he went to see the teacher.

“I did not cancel my permission,” said Sengai. “I just wished to give him one last smack over the head, for when he returns he will be enlightened and I will not be able to reprimand him again.”

# 90

Ngay sau khúc quanh của dòng sông

Cái tôi thích nhất về các dòng sông là:
Bạn không thể bước hai lần vào một dòng sông
Nước luôn thay đổi, luôn trôi đi
Nhưng con người, tôi đoán, không thể sống như vậy
Mọi chúng ta đều phải trả giá
Để được an toàn, chúng ta mất cơ hội để có bao giờ biết
Cái gì nằm sau khúc quanh của dòng sông
Đang đợi ngay sau khúc quanh của dòng sông

Tôi nhìn lần nữa
Ngay sau khúc quanh của dòng sông
Qua khỏi bờ sông
Nơi hải âu bay tự do
Chẳng biết để làm gì
Cái tôi mơ ngày sẽ gởi đến
Ngay sau khúc quanh của dòng sông
Cho tôi
Đến cho tôi
Tôi cảm được nó ở đó, bên kia hàng cây
Hay ngay sau các thác nước
Có thể nào tôi gạt đi tiếng trống xa xôi
Để ở với một anh chồng chắc chắn và đẹp trai
Xây những vách tường chắc chắn và đẹp
Và chẳng bao giờ mơ rằng có gì đó đang đến?
Ngay sau khúc quanh của dòng sông
Ngay sau khúc quanh của dòng sông

Tôi nhìn một lần nữa
Ngay sau khúc quanh của dòng sông
Qua khỏi bờ sông
Một nơi nào đó sau biển
Chẳng biết để làm gì…
Tại sao mọi cơn mơ của tôi đi xa
Chỉ ngay sau khúc quanh của dòng sông?
Chỉ ngay sau khúc quanh của dòng sông?

Tôi nên chọn khúc quanh trơn tru nhất
Đều như nhịp trống?
Tôi nên lấy anh Kocoun?
Mọi mơ mộng của tôi chấm dứt?
Hay người vẫn còn đợi tôi, hỡi Người Cho Giấc Mơ
Ngay sau khúc quanh của dòng sông?

(TĐH dịch)

Pocahontas – Just Around The River Bend – Judy Kuhn

Click vào đây để xem video trên Youtube

Just Around The Riverbend

Vocals: Pocahontas (Judy Kuhn)
Music: Alan Menken
Lyrics: Stephen Schwartz

Pocahontas
What I love most about rivers is:
You can’t step in the same river twice
The water’s always changing, always flowing
But people, I guess, can’t live like that
We all must pay a price
To be safe, we lose our chance of ever knowing
What’s around the riverbend
Waiting just around the riverbend
I look once more
Just around the riverbend
Beyond the shore
Where the gulls fly free
Don’t know what for
What I dream the day might send
Jut around the riverbend
For me
Coming for me
I feel it there beyond those trees
Or right behind these waterfalls
Can I ignore that sound of distant drumming
For a handsome sturdy husband
Who builds handsome sturdy walls
And never dreams that something might be coming?
Just around the riverbend
Just around the riverbend
I look once more
Just around the riverbend
Beyond the shore
Somewhere past the sea
Don’t know what for …
Why do all my dreams extend
Just around the riverbend?
Just around the riverbend …
Should I choose the smoothest curve
Steady as the beating drum?
Should I marry Kocoum?
Is all my dreaming at an end?
Or do you still wait for me, Dream Giver
Just around the riverbend?

Đối thoại Thiền

Thiền sư thường dạy học trò biểu lộ chính mình. Có hai thiền viện, mỗi thiền viện có một thiền sinh nhỏ. Một em, mỗi sáng đi mua rau, gặp em kia trên đường đi.

“Bạn đi đâu đó?” một em hỏi.

“Tôi đi nơi nào chân tôi đi,” em kia trả lời.

Câu trả lời làm em này bối rối, nên em về hỏi thầy giúp đở. “Sáng mai,” thầy bảo em, “khi con gặp bạn, hỏi câu hỏi đó lại. Nó sẽ trả lời y như cũ, rồi con hỏi nó: ‘Nếu bạn không có chân, thì bạn đang đi đâu?’ Vậy sẽ chỉnh được nó.”

Hai bé lại gặp nhau sáng hôm sau.

“Bạn đang đí đâu dó?” em thứ nhất hỏi.

“Tôi đi nơi nào gió thổi đi,” em kia trả lời.

Câu trả lời này lại làm em choáng váng. Em mang thất bại về hỏi thầy.

“Hỏi nó đang đi đâu nếu không có gió,” thầy chỉ.

Hôm sau hai bé gặp nhau lần thứ ba.

“Bạn đang đi đâu dó?” em thứ nhất hỏi.

“Tôi đang đến chợ mua rau,” em kia trả lời.
.

Bình:

• “Biểu lộ chính mình” là nói điều gì mình muốn nói, bằng cách mình muốn nói. “Tôi đi nơi nào chân tôi đi” hay “Tôi đi nơi nào gió thổi đi” cũng như chúng ta hay nói “Đi vòng vòng” hay “Đi lang thang”, tức là đi nơi nào hai chân đưa đi.

• Đối thoại có nghĩa là nếu hỏi thì trả lời, không phải là đấu chữ. Thiền sư đôi khi dùng từ rất thi ca trong cách nói, làm người ta tưởng các vị đấu chữ. Không phải là một vị nói ra một câu văn vẻ, vị khi phải đối lại bằng một câu văn vẻ hơn, hay câu siêu hơn có thể làm cho vị trước bị bí—đó không phải là đối thoại. Và đó là thái độ sai lầm của em bé hỏi đầu tiên, và thầy của em.

• “Biểu lộ chính mình” là nói điều gì đang xảy ra. Đó là đối thoại thành thật, với thực tại đang xảy ra.

Nếu dùng công thức, hôm qua nói sao hôm nay nói vậy, thì đó là không thành thật, vì hôm qua khác nay khác, nói cùng một câu sao được? Đối thoại chứ đâu phải trả bài học thuộc lòng!

• Đối thoại Thiền là sống Thiền—sống ở đây lúc này, nói ở đây lúc này, với tâm trống rỗng, không màu mè, không đóng kịch, không ngầm hạ nhau.

Mỗi ngày chúng ta đối thoại thế nào? Chúng ta đối thoại, hay chỉ lảm nhảm công thức đã thuộc lòng, chẳng nghĩa l‎y’ gì cả? Đối thoại thật sự hay ngầm đấu đá để tìm cách hạ nhau?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

Zen Dialogue

Zen teachers train their young pupils to express themselves. Two Zen temples each had a child protégé. One child, going to obtain vegetables each morning, would meet the other on the way.

“Where are you going?” asked the one.

“I am going wherever my feet go,” the other responded.

This reply puzzled the first child who went to his teacher for help. “Tomorrow morning,” the teacher told him, “when you meet that little fellow, ask him the same question. He will give you the same answer, and then you ask him: ‘Suppose you have no feet, then where are you going?’ That will fix him.”

The children met again the following morning.

“Where are you going?” asked the first child.

“I am going wherever the wind blows,” answered the other.

This again nonplussed the youngster, who took his defeat to his teacher.

“Ask him where he is going if there is no wind,” suggested the teacher.

The next day the children met a third time.

“Where are you going?” asked the first child.

“I am going to the market to buy vegetables,” the other replied.

# 89

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Lý Ông Trọng

Cuối đời Hùng Vương có người tên Lý Thân, huyện Từ Liêm, đất Giao Chỉ (1). Khi đẻ ra rất to lớn, cao đến 2 trượng 3 thước, tính tình hung hãn, phạm tội giết người, tội ác đáng chết, Hùng Vương tiếc mà không nỡ giết đi.

Đình Chèm, thở Lý Ông Trọng ở xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, Hà Nội

Đến đời An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng muốn đem quân sang đánh nước ta, An Dương Vương bèn đem Lý Thân tiến dâng cho nhà Tần. Thủy Hoàng mừng lắm, phong cho làm chức Tư Lệ Hiệu Úy. Khi Thủy Hoàng đã lấy được thiên hạ, sai Lý Thân đem quân giữ đất Lâm Thao, Hung Nô không dám xâm phạm cửa ải. Thủy Hoàng phong Lý làm Phụ Tín Hầu, cho trở về nước. Về sau, Hung Nô lại sang xâm phạm cửa ải. Thủy Hoàng nhớ tới Lý Thân, sai sứ người sang triệu về. Lý Thân không chịu đi, trốn vào rừng núi. Vua Tần trách quở, An Dương Vương tìm mãi không được, nói dối là Lý đã chết vì bệnh tả. Tần sai sứ sang khám. An Dương Vương bèn nấu cháo đổ xuống đất để làm chứng cứ. Vua Tần đòi mang xác sang, Lý Thân bất đắc dĩ phải tự vẫn. An Dương Vương sai lấy thủy ngân bôi lên xác rồi đem nộp vua Tần. Thủy Hoàng rất thương tiếc, mới đúc tượng đồng, đặt hiệu là Ông Trọng, đem dựng ở ngoài cửa Tư Mã, đất Hàm Dương. Trong bụng tượng chứa mấy chục người để lay cho tượng cử động. Hung Nô trông thấy tưởng là quan Hiệu Úy còn sống, không dám đến gần cửa ải.

Tới đời Đường, Triệu Xương sang làm quan Đô Hộ đất Giao Châu, đêm mộng thấy cùng Lý Thân giảng sách Xuân Thu, Tả Truyện. Vì thế nên hỏi thăm nhà cũ, lập đền thờ cúng. Đến lúc Cao Biền dẹp giặc Nam Chiếu, Lý hiển linh cứu trợ, Cao Biền bèn sửa sang lại đền miếu, tạc gỗ làm tượng, gọi là đền Lý Hiệu Úy, nay gần bên sông lớn, thuộc xã Bố Nhi, huyện Từ Liêm (2), cách phía tây kinh thành khoảng 50 dặm, (Bố Nhi nay là xã Thụy Hương).
Mỗi năm giữa mùa xuân đều có tế lễ (3).

Chú thích:

1) Bản A 2914 chép: có người ở xã Thụy Hương, huyện Từ Liêm, nay là huyện Từ Liêm đất Giao Chỉ, gần bên sông lớn.
2) Bản HV 486 chép: thuộc xã Bố Hiện, bản A 2914 chép: thuộc xã Thuỵ Hương
3) Bản A 2914 còn có đoạn: Đến năm thứ nhất đời Trùng Hưng (Dịch giả: tức năm 1285, đời vua Trần Nhân Tông) được sắc phong làm Uy Mãnh, năm thứ 4 phong thêm làm Anh Liệt. Năm thứ 21 đời Hưng Long (Dịch giả: tức năm 1313 đời vua Trần Anh Tông) sắc phong làm Phụ Tín. Bản A 2914 không có hàng chữ “Mỗi năm giữa mùa xuân đều có tế lễ”.
.

Bình:

• Truyện này nói về trung quân ái quốc và bang giao giữa Âu Lạc và nhà Tần của Trung quốc.

“Thân” là thân thể chỉ con người của ta. Trọng là nặng, hay là tôn trọng. Thân đi với Trọng, rất rõ là nới về việc đạo nghĩa sống cho chính mình để mình được tôn trọng, kính trọng.

• Vào thời phong kiến và quân chủ, trung quân và ái quốc thường trùng nghĩa với nhau. Trung với vua (trung quân) cũng chính là yêu nước (ái quốc).

Khi An Dương Vương mang L‎ý Thân tặng Tần Thủy Hoàng làm của lễ ngoại giao, Lý‎ Thân vâng lời.

Sau khi được chức tước của nhà Tần và được cho về quê sinh sống, Lý‎ Thân vẫn trung thành với An Dương Vương, dù đã làm tướng nhà Tần. Điểm này rất rõ trong văn hóa Việt lòng trung đặt ở đâu. Dân Việt thì luôn là dân Việt, luôn trung thành với vua Việt, nước Việt—dù đã có thời làm quan xứ người.

• Vào thời chến tranh bằng gươm dáo, sức mạnh của một người luôn luôn là lợi thế trong chiến tranh, nên luôn luôn được tôn trọng. Tặng dũng sĩ là một món quà tặng rất quý giá, thường là chỉ tặng cho bạn đang giao hảo tốt. Không ai tặng dũng sĩ cho kẻ có thể là thù, vì đó là thêm sức mạnh cho địch.

Dũng sĩ Lý‎ Thân ở đây còn là biểu tượng của sức mạnh quân sự. An Dương Vươg và Tần Thủy Hoàng lúc đầu có liên hệ tốt để An Dương Vương có thể trợ lực với Tần Thủy Hoàng về quân sự.

• Khi không còn tin nhau nữa, tức là lúc nói dối nhau—An Dương Vương nói dối Lý Thân bệnh chết, Tần Thủy Hoàng không tin sai sứ sang xét, An Dương Vương phải mang cháo đổ ra đất để gạt, Tần Thủy Hoàng vẫn không tin đòi mang xác đi. Rốt cuộc Lý‎ Thân phải tự vẫn.

Khi hai vua, hai nước, không còn tin nhau nữa, thì các trợ lực hay liên minh quân sự là điều không thể.

• Đây có lẽ là truyện dẫn nhập về đoạn Tần Thủy Hoàng sai Triệu Đà xâm chiếm Âu Lạc sau này.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

Đều như nhịp trống

(Lời thổ dân da đỏ)
Hega hega yam-pi-ye-hega
Yam-pi-ye-he-he hega

Hega hega yam-pi-ye-hega
Yam-pi-ye-he-he hega

Đều như nhịp trống
Hát cho sáo tuyết tùng
Mọi mùa đi và mọi mùa đến
Mang ngô và sinh trái

Gần nguồn nước ngọt và sạch
Nơi cá sturgeon vĩ đại sống
Trồng bầu và hái đậu
Cả trái đất mà mẹ ta đã cho

O Thánh Linh Vĩ Đại, nghe bài ca của chúng con
Giúp chúng con giữ đường lối cổ truyền
Giữ ngọn lửa thiêng cháy mạnh
Bước đi quân bình suốt cả đời

Mọi mùa đi và mọi mùa đến
Đều như nhịp trống
Từ mận đến hạt đến nụ đến mận
(Hega hega yam-pi-ye hega)
Đều như nhịp trống

Hega hega yam-pi-ye-hega
Yam-pi-ye-he-he hega

Pocahontas – Steady As The Beating Drum

Click vào đây để nghe trên Youtube

Steady As The Beating Drum

[Native Americans]
Hega hega yam-pi-ye-hega
Yam-pi-ye-he-he hega

Hega hega yam-pi-ye-hega
Yam-pi-ye-he-he hega

Steady as the beating drum
Singing to the cedar flute
Seasons Go and seasons Come
Bring the corn and bear the fruit

By the waters sweet and clean
Where the mighty sturgeon lives
Plant the squash and reap the bean
All the earth our mother gives

O Great Spirit, hear our song
Help us keep the ancient ways
Keep the sacred fire strong
Walk in balance all our days

Seasons go and seasons come
Steady as the beating drum
Plum to seed to bud to plum
(Hega hega yam-pi-ye hega)
Steady as the beating drum

Hega hega yam-pi-ye-hega
Yam-pi-ye-he-he hega

Giỗ tổ Hùng Vương 2010

denhung-cong
Hôm nay, mùng 10 tháng 3 âm lịch là Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, mặc dù nghiều nơi đã mừng Giỗ tổ vài ngày trước đây. Nhiều nơi trong nước và trên thế giới (tại những thành phố đông người Việt) tổ chức Giỗ tổ, tuy nhiên nơi chính vẫn là Đền Hùng ở Phú Thọ, vì vậy ngày này còn gọi là Lễ hội Đền Hùng.

den-hung-thuong
Khu di tích Đền Hùng thuộc thôn Cổ Tích – xã Hy Cương – huyện Lâm Thao – tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm thành phố Việt Trì 7 km về phía Bắc, cách thủ đô Hà Nội 90 km. Đền Hùng là di tích lịch sử văn hoá đặc biệt quan trọng của quốc gia, được xây dựng trên núi Hùng – thuộc đất Phong Châu – vốn là đất kế đô của Nhà nước Văn Lang 4.000 năm trước đây. Toàn bộ Khu di tích có 4 đền, 1 chùa và 1 lăng hài hoà trong cảnh thiên nhiên, có địa thế cao rất ngoạn mục, hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thuỷ hội tụ. Chúng ta có thể đọc thêm chi tiết về Đền Hùng tại đây.

den-hung-trung
Lễ hội Đền Hùng là lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam, và có một đặc thù riêng là: Phần lễ nặng hơn phần hội. Tâm tưởng người về dự hội là hướng về tổ tiên, cội nguồn với sự tôn kính và lòng biết ơn sâu sắc (Ẩm hà tư nguyên – Uống nước nhớ nguồn). 41 làng xã thuộc tỉnh Vĩnh Phú tham gia rước kiệu lễ dâng Tổ. Từ ngàn xưa, trên các cổ kiệu có bày lễ vật, đi kèm có phường bát âm tấu nhạc, cờ quạt, bát bửu, lọng che cùng chiêng trống. Những làng ở xa thường phải rước 2-3 ngày mới tới” . “Xưa kia, việc cúng Tổ (cử hành) vào ngày 12 tháng 3 (âm lịch) hằng năm. Thường khi con cháu ở xa về làm giỗ trước một ngày, vào ngày 11 tháng 3 (âm lịch)… Đến thời nhà Nguyễn định lệ 5 năm mở hội lớn một lần (vào các năm thứ 5 và 10 của các thập kỷ), có quan triều đình về cúng tế cùng quan hàng tỉnh và người chủ tế địa phương cúng vào ngày 10 tháng 3 (âm lịch). Do đó ngày giỗ Tổ sau này mới là ngày 10 tháng 3 (âm lịch ) hàng năm”.

lehoidenhung
Những năm hội chính thì phần lễ gồm: Tế lễ của triều đình sau đó là phần lễ của dân. Có 41 làng được rước kiệu từ đình làng mình tới Đền Hùng. Đó là những cuộc hành lễ thể hiện tính tâm linh và nhân văn sâu sắc. Các kiệu đều sơn son thếp vàng, chạm trổ tinh vi, được rước đi trong không khí vừa trang nghiêm vừa vui vẻ với sự tham gia của các thành phần chức sắc và dân chúng trong tiếng chiêng, trống, nhạc bát âm rộn rã một vùng. Phần hội gồm các trò chơi dân gian như đánh vật, đu tiên, ném còn, cờ người, bắn cung nỏ… và đặc biệt là các đêm hát xoan, hát ghẹo – hai làn điệu dân ca độc đáo của vùng đất Châu Phong.

Tại các liên kết này chúng ta có thể đọc thêm về lịch sử Lễ hội Đền Hùng và một số hình ảnh các tiết mục lễ hội dân gian.


Theo baophutho.org.vn:

Năm 2010, ngày giỗ Tổ và Lễ hội Đền Hùng được tổ chức với một qui mô lớn nhất từ trước đến nay. Thứ trưởng Bộ Văn hoá-Thể thao và Du lịch, Phó Trưởng ban Thường trực Ban tổ chức Giỗ Tổ Hùng Vương – ông Huỳnh Vĩnh Ái cho biết, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, yêu cầu của lễ hội lần này phải thể hiện được sự tôn vinh văn hoá dân tộc, khẳng định được vị trí và ý nghĩa to lớn của ngày giỗ Tổ Hùng Vương, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, đoàn kết các dân tộc. Chính phủ chủ trương 63 tỉnh, thành trong cả nước tổ chức lễ dâng hương, có tổ chức các hoạt động văn hoá tuỳ theo từng tỉnh, nhưng không quá 2 ngày.

Tại Phú Thọ, ngày 14/4 (tức mùng 1/3 Âm lịch), Lễ khai mạc Lễ hội Đền Hùng năm 2010 được tiến hành đồng thời với khai mạc Ngày hội Văn hóa, thể thao, du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc lần thứ VII với chủ đề Linh thiêng đất Tổ Hùng Vương. Trọng tâm của Lễ hội Đền Hùng là Lễ dâng hương giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra lúc 7h ngày 23/4 (10/3 âm lịch) tại Điện Kính Thiên với sự tham gia của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Ngoài ra, các hoạt động văn nghệ, triển lãm, thể thao, du lịch và các trò chơi dân gian tiêu biểu… sẽ diễn ra liên tục suốt 10 ngày của Lễ hội (từ ngày 14/4 – 23/4) tại thành phố Việt Trì và Khu di tích lịch sử Đền Hùng.

Theo ông Huỳnh Vĩnh Ái, lễ hội năm nay có nhiều điểm mới. Đây là một trong những lễ hội lớn mở màn cho các hoạt động quan trọng kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long. Vì thế, một trong những điểm nhấn của Lễ hội năm nay là Chương trình nghệ thuật hướng tới kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội với chủ đề: Kinh đô Văn Lang – Thăng Long – Hà Nội ngàn năm tỏa sáng. Chương trình sẽ được tổ chức tại Khu di tích lịch sử Đền Hùng vào ngày 21/4 (8/3 âm lịch).

Sau đây mời các bạn xem vài video:

1. Lễ Hội Hùng Vương.
2. Tháng 3 Đi Hội Đền Hùng – Nhac: Trần Tiến, Thơ: Nguyễn Chí Vượng; Trình bày: Nhật Huyền, Anh Phương.
3. Đền Giếng (trong khu di tích Đền Hùng)

Trần Đình Hoành
.

Lễ Hội Đền Hùng


.

Tháng 3 đi hội đền Hùng – Nhac: Trần Tiến, Thơ: Nguyễn Chí Vượng; Trình bày: Nhật Huyền, Anh Phương


.

Đền Giếng (trong khu Đền Hùng)

Chào mừng Ngày Trái Đất 22/4

earthbluemarblewestterra

Chào các bạn,

Hàng năm, khắp nơi trên thế giới chào đón hai ngày Trái Đất: ngày Trái Đất và là ngày Xuân Phân, khoảng 20 hay21 tháng 3, năm nay là 20.3.2010 và ngày Trái Đất 22 tháng 4. Ngày Trái Đất xuân phân là ngày Liên Hiêp Quốc công nhận, nhắm vào tình yêu và đoàn kết giữa mọi người. Ngày Trái Đất 22 tháng 4 được tổ chức nhằm nâng cao ý thức của mọi người về môi trường cũng như có những hành động thiết thực cho mô trường thế giới mà ta đang sống.

Ngày Trái Đất 22 tháng 4 được sáng lập bởi Thượng Nghị Sĩ người Mỹ Senator Gaylord Nelson và lần đầu tiên được tổ chức vào mùa xuân 1970, đánh dấu sự khởi đầu về phong trào môi trường trên thế giới, và khuyến khích mọi người đưa ra các ý tưởng về sinh thái, bảo vệ môi trường, nâng cao nhận thức về ô nhiễm đất đai, không khí và nước.

Từ đó đến nay, ngày 22 tháng 4 được xem là ngày quốc tế về Trái Đất, và được hưởng ứng cũng như được tổ chức rộng rãi ở 140 quốc gia trên khắp thế giới.

Trần Đình Hoành

Chào mừng Ngày Hành Chính 21.4.2010

secretaryday

Hôm nay, ngày Thứ Tư, 21 tháng 4 năm 2010 là Ngày Hành Chính.

Ngày Hành Chính (tên gọi trước đây là ngày Thư ký) là ngày các sếp thường chuẩn bị cho người trợ lý đắc lực của mình một món quà nhỏ nhưng đầy ý nghĩa như hoa, quà tặng, một ngày nghỉ có trả lương hoặc một bức thiệp chức mừng. Ngày lễ hội này được tổ chức hàng năm vào ngày thứ tư của tuần cuối cùng trong tháng tư.

Ngày Thư ký được ra đời từ năm 1952 tại Mỹ, nhờ vào nỗ lực của ông Harry F.Klemfuss nhằm khuyến khích và nâng cao giá trị nghề thư ký, vốn được coi là một công việc bận rộn nhưng buồn chán và không nhiều danh vọng. “Tuần Lễ Thư ký quốc gia” đầu tiên được tố chức vào tuần từ ngày 1 tháng 6 đến ngày 7 tháng 6 năm 1952, trong đó, ngày 4 tháng 6 là “Ngày Thư ký quốc gia”. Tuy nhiên, năm 1955, thời điểm tổ chức “Tuần lễ Thư ký quốc gia” thay đổi và dời vào tuần cuối cùng của tháng 4.

Năm 1981, tên gọi của nó được đổi thành “Tuần Lễ Thư ký”, và đến năm 2000, một lần nữa lại được đổi tên thành “Tuần Lễ Hành Chính”, với đối tượng không chỉ là Thư ký, mà bao gồm cả nhân viên làm công việc hành chính, những người quanh năm bận rộn với một núi việc không tên, luôn biết lắng nghe, luôn luôn chia sẻ, cẩn thận và nhẫn nại.

Tuần cuối tháng tư là “Tuần Lễ Hành Chính” và ngày thứ tư của tuần đó là Ngày Hành Chính. Năm nay ngày thứ tư của tuần cuối tháng tư là 21.4.2010–Ngày Hành Chính.

Chúc các bạn hành chính một tuần tươi đẹp và một ngày thứ tư tươi đẹp. 🙂

Mến,

Hoành