Tag Archives: Văn Hóa

Đừng bỏ cuộc với giấc mơ

Tượng Terry Fox gần Thunder Bay, trên Trans Canada Highway, gần nơi Terry Fox phải ngưng Marathon vì ung thư.

Nếu có nghi ngờ và bạn bị lạnh, (*)
đừng lo lắng về ngày mai.
Chúng ta cần có những người hùng để dạy ta
không bao giờ bỏ cuộc với giấc mơ.
Nắm con đường, sờ mặt trời,
không sức mạnh nào trên trái đất có thể cản bạn chạy.
Continue reading Đừng bỏ cuộc với giấc mơ

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt

Vào năm Tân Tỵ, đời vua Lê Đại Hành, Thiên Phúc nguyên niên (1), Tống Thái Tổ sai hai tướng binh là bọn Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng (2) đem quân sang xâm lược phương Nam, đến sông Đại Than. Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng kéo quân tới sông Đồ Lỗ cự địch, hai bên đối đầu cầm cự. Đại Hành đêm đến mộng thấy hai thần nhân ở trên sông, đến vái mà nói rằng:

“Anh em thần, tên là Trương Hống và Trương Hát, xưa kia theo Triệu Việt Vương (3) cầm quân chinh phạt nghịch tặc mà lấy được thiên hạ. Sau, Lý Nam Đế (4) soán ngôi, nghe biết và triệu hai anh em thần về theo. Bọn thần vì nghĩa cũ không thể theo được, uống thuốc độc mà chết. Thượng đế thương anh em thần có công lại trung nghĩa một lòng, mới phong làm quan tướng trong hàng các thần linh, thống lĩnh âm binh. Nay thấy, quân Tống sang xâm chiếm, khổ hại sinh linh nước ta, cho nên hai anh em thần đến xin yết kiến, nguyện với nhà vua cùng đánh giặc này để cứu sinh linh”.
Continue reading Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt

Một giọt nước

Một thiền sư tên Gisan bảo một đệ tử trẻ mang đến cho thiền sư một gàu nước để làm nguội bớt nước trong bồn tắm của thầy.

Cậu đệ tử mang nước đến, và sau khi làm nguội bồn tắm, đổ ra đất tí nước còn lại trong gàu. “Đồ ngu!” thiền sư mắng cậu đệ tử. “Tại sao con không dùng nước đó để tưới cây? Con có quyền gì mà phí phạm dù chỉ một giọt nước trong chùa này?”
Continue reading Một giọt nước

Những máy xay gió của tâm trí

Tròn, như một vòng tròn trong một vòng trốt xoáy
Như một bánh xe trong một bánh xe
Không bao giờ chấm dứt hay khởi đầu,
Trên một bánh xe mãi mãi quay
Như quả cầu tuyết lăn xuống núi
Hay một bong bóng trong lễ hội
Như vòng kéo quân đang quay
Chạy những vòng quanh mặt trăng
Continue reading Những máy xay gió của tâm trí

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Núi Tản Viên

Núi Tản Viên ở phía tây kinh thành nước Nam Việt (1). Núi cao ngất, tròn như cái tán cho nên có tên ấy (2).

Xưa, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sinh ra 1 bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con trai. Long Quân đem 50 người xuống biển, còn lại 50 người con trai theo mẹ Âu Cơ chia trị các xứ, hiệu là Hùng Vương. Thần núi Tản Viên là một trong 50 người con trai theo cha xuống biển.

Continue reading Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Núi Tản Viên

Ba bài hát cho Mẹ

Chào các bạn,

Nhân ngày Mother’s Day ở Mỹ, mình gởi đến các bạn 3 bài hát về mẹ.

Bài đầu tiên là bài nhạc rap vui của Mr. T, Treat Your Mother Right (Xử Tốt Với Mẹ)

Bài thứ hai là bài Ave Maria của Shubert, một thánh ca lừng danh kim cổ.

Bài thứ ba là vũ khúc Thiên Thủ Quán Âm của các vũ công câm điếc Trung quốc, cùng với nhạc trống.
Continue reading Ba bài hát cho Mẹ

Help! – Giúp tôi !

Help! là một bài hát của ban the Beatles được dùng làm bản nhạc chính cho phim Help! năm 1965 và album Help! cho nhạc của phim này. Bản nhạc cũng được phát hành trên đĩa đơn, và thành bản số 1 trong 3 tuần liền ở Anh và Mỹ.

Help! có tên tác giả là Lennon-McCarthy. John Lennon người viết chính, nhưng sau đó bản nhạc được phát triển thêm khi John Lennon làm việc chung với Paul McCartney. Trong một lần interview với báo Playboy năm 1980, John Lennon kể lại: “Toàn bộ câu chuyện the Beatles nằm ngoài sức tưởng tượng. Tôi đã khóc gọi ‘Giúp tôi!’ trong vô thức.”

Báo Rolling Stone xếp bản nhạc hạn 29 trong 500 Bài hát hay nhất mọi thời đại.

 

Giúp tôi!

Giúp tôi, tôi cần một người
Giúp tôi, không phải bất kì ai
Giúp tôi, tôi cần một người, hãy giúp tôi.

Khi tôi còn trẻ, trẻ hơn bây giờ rất nhiều,
Tôi chẳng bao giờ cần ai giúp bất kì chuyện gì.
Nhưng bây giờ thời đó đã qua, tôi không còn nhiều tự tin,
Bây giờ tôi thấy tôi đã thay đổi suy nghĩ và đã mở cửa.

Hãy giúp tôi nếu bạn có thể, tôi đang thấy ủ rủ
Và tôi rất biết ơn là bạn đang gần tôi.
Giúp tôi, giúp tôi đứng lại trên mặt đất
Làm ơn, làm ơn, bạn sẽ giúp tôi không?

Và bây giờ đời tôi đã thay đổi, ôi, nhiều chuyện,
Tính độc lập của tôi hình như tan biến trong trời mờ.
Nhưng thỉnh thoảng tôi cảm thấy rất bất ổn,
Tôi biết rằng tôi phải cần bạn như chưa bao giờ thế.

Hãy giúp tôi nếu bạn có thể, tôi đang thấy ủ rủ
Và tôi rất biết ơn là bạn đang gần tôi.
Giúp tôi, giúp tôi đứng lại trên mặt đất
Làm ơn, làm ơn, bạn sẽ giúp tôi không?

Khi tôi còn trẻ, trẻ hơn bây giờ rất nhiều,
Tôi chẳng bao giờ cần ai giúp bất kì chuyện gì.
Nhưng bây giờ thời đó đã qua, tôi không còn nhiều tự tin,
Bây giờ tôi thấy tôi đã thay đổi suy nghĩ và đã mở cửa.

Hãy giúp tôi nếu bạn có thể, tôi đang thấy ủ rủ
Và tôi rất biết ơn là bạn đang gần tôi.
Giúp tôi, giúp tôi đứng lại trên mặt đất
Làm ơn, làm ơn, bạn sẽ giúp tôi, giúp tôi không? Ôi!

(TĐH dịch)

Help!
The Beatles

Help, I need somebody,
Help, not just anybody,
Help, you know I need someone, help.

When I was younger, so much younger than today,
I never needed anybody’s help in any way.
But now these days are gone, I’m not so self assured,
Now I find I’ve changed my mind and opened up the doors.

Help me if you can, I’m feeling down
And I do appreciate you being round.
Help me, get my feet back on the ground,
Won’t you please, please help me?

And now my life has changed in oh so many ways,
My independence seems to vanish in the haze.
But every now and then I feel so insecure,
I know that I just need you like I’ve never done before.

Help me if you can, I’m feeling down
And I do appreciate you being round.
Help me, get my feet back on the ground,
Won’t you please, please help me.

When I was younger, so much younger than today,
I never needed anybody’s help in any way.
But now these days are gone, I’m not so self assured,
Now I find I’ve changed my mind and opened up the doors.

Help me if you can, I’m feeling down
And I do appreciate you being round.
Help me, get my feet back on the ground,
Won’t you please, please help me, help me, help me, oh.

Lá thư cho người sắp chết

Bassui viết lá thơ sau đây cho một đệ tử sắp chết”

“Thể tính của tâm của con không hề được sinh ra, nên nó không bao giờ chết. Nó không phải là hiện hữu–hiện hữu có thế hư mất. Nó không phải là hư không—hư không chỉ là một khoảng trống. Nó không có sắc màu và hình thái. Nó không hưởng thụ khoái lạc và không đau đớn với khổ nạn.

“Thầy biết con bệnh nặng. Là một thiền sinh sinh giỏi, con đang đối diện bệnh tật thẳng mặt. Con không biết chính xác là ai đang đau khổ, nhưng hãy tự hỏi mình: Cái gì là thế tính của tâm này? Quán chiếu điều này thôi. Con chẳng cần gì hơn nữa. Đừng ham muốn gì. Tận cùng của con là vô tận, là một hoa tuyết tan trong không khí trong lành.”
.

Bình:

“Tôi từ đâu đến, và sau khi chết thì tôi đi đâu?” Đây là câu hỏi cốt yếu nhất, câu hỏi khởi đầu và là câu hỏi cuối cùng, của tất cả mọi truyền thống triết l‎ý hay tâm linh.

Một câu hỏi khác, cùng ‎ nghĩa như câu trên nhưng chỉ khác từ, là: “Cái tinh yếu của tôi là gì? Thể tính của tôi là gì?”

Phật gia trả lời:

    Hoa tuyết tan trong không khí, vì hoa tuyết từ không khí mà đến—hơi nước trong không khí gặp lạnh đông thành hoa tuyết, tuyết tan thành nước lại bốc hơi vào không khí. Hoa tuyết là không khí tạm xuất hiện khi gặp lạnh, biến mất vào không khí khi hết lạnh.

    Ta là Không, tạm xuất hiện là người khi gặp đủ điều kiện thành người, và biến mất vào Không khi gặp đủ điều kiện để tan rã.

Thể tính của tâm ta, cũng như thể tính của tất cả mọi thứ trong vũ trụ là “Không”.

“Không” bất sinh bất diệt bất cấu bất tịnh bất tăng bất giảm—“Không” chẳng sinh chẳng diệt chẳng dơ chẳng sạch chẳng tăng chẳng giảm (Bát Nhã Tâm Kinh), chẳng là có, cũng chẳng là không có…

“Không” là tuyệt đối.

Tất cả mọi “tính cách” mà ta gán cho một vật –sáng, dài, tối, lớn, nhỏ, đẹp, xấu, hiện hữu, chẳng hiện hữu, màu sắc, hình thế, hưởng thụ khoái lạc, đau đớn với khổ nạn, có giới hạn, có tuổi tác…–đều không dùng được với “Không”, vì “tính cách” là tương đối, mà “Không” là tuyệt đối.

“Không” vượt ra ngoài mọi giới hạn của tính cách, nên ta không thể mô tả “Không” cách nào cho đúng, ngoài cách gọi “Không” là “Không”, và chẳng nói thêm gì cả.

Từ “Không” mọi sự sinh ra, kể cả tâm ta và thân ta. “Không” là thể tính của tâm ta và thân ta.

Nếu ta biết là ta từ “Không” mà đến và lại trở về “Không” thì ta biết rằng ta chẳng có khởi đầu, chẳng có kết thúc, chẳng có sinh chẳng có tử, chỉ thỉnh thoảng hiện ra trong thân thể này hay hình thể khác, như những con sóng lên xuống của đại dương, thế thôi. Sóng không có sinh và tử, vì thực ra sóng là đại dương, luôn ở đó.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

A Letter to a Dying Man

Bassui wrote the following letter to one of his disciples who was about to die:

“The essence of your mind is not born, so it will never die. It is not an existence, which is perishable. It is not an emptiness, which is a mere void. It has neither color nor form. It enjoys no pleasures and suffers no pains.

“I know you are very ill. Like a good Zen student, you are facing that sickness squarely. You may not know exactly who is suffering, but question yourself: What is the essence of this mind? Think only of this. You will need no more. Covet nothing. Your end which is endless is as a snowflake dissolving in the pure air.”

# 95

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Man Nương

Thời Hiến Đế nhà Hán, quan thái thú là Sĩ Nhiếp đóng đô thành ở bờ phía nam sông Bình Giang (nay là sông Thiên Đức). Phía Nam thành đó có chùa thờ Phật là chùa Phúc Nghiêm, có vị sư từ phương Tây tới, hiệu là Già La Đồ Lê trụ trì ở đấy, có phép đứng một chân, mọi người đều kính phục gọi là tôn sư, kéo nhau tới học đạo.

Chùa Dâu (Chùa Pháp Vân), Bắc Ninh

Hồi ấy có người con gái tên là Man Nương, cha mẹ đều đã mất, nghèo khổ vô cùng, cũng tới đó dốc lòng theo học Phật. Vì có tật nói lắp, không thể cùng chúng tụng kinh, thường ở dưới bếp, vo gạo, nhặt rau, nấu nướng cho các vị tăng trong chùa và khách tứ phương.

Giữa tháng năm, đêm ngắn, Man Nương nấu cháo đã chín mà tăng chúng tụng kinh chưa xong, chưa tới ăn cháo được. Man Nương ngồi đợi bên cửa bếp, không ngờ ngủ quên đi mất. Tăng chúng tụng kinh xong đều về phòng riêng. Man Nương ngủ ở giữa cửa bếp, sư Già Lê bước qua mình Man Nương. Man Nương tự nhiên động thai. Có thai được ba bốn tháng, Man Nương xấu hổ bỏ về. Sư Già Lê cũng thẹn mà bỏ đi. Man Nương về tới một ngôi chùa ở ngã ba sông thì ở lại đó. Đầy tháng sinh ra một đứa con gái, tìm sư Già Lê mà trả. Đêm đến, bế đứa bé gái ấy tới gốc cây bên ngã ba đường nói: “Ta gửi con Phật, mi giữ lấy sẽ thành Phật đạo”. Sư Già Lê và Man Nương từ giã nhau ra về, Già Lê cho Man Nương một cây trượng và bảo: “Ta cho nàng vật này. Nàng về nhà, nếu gặp năm hạn hán thì lấy trượng cắm xuống đất, lấy nước cứu sinh dân”. Man Nương cung kính bái lĩnh, về ở trong chùa. Gặp năm đại hạn, nàng lấy trượng cắm xuống đất, tự nhiên nước cuồn cuộn chảy ra, dân được vì thế được nhờ.

Khi Man Nương ngoài tám mươi tuổi, gặp lúc cây ấy bị đổ, trôi dạt đến bến sông trước cửa chùa, quanh quẩn ở đấy mà không trôi đi. Dân thấy thế, định bổ làm củi nhưng rìu nào cũng đều bị gãy, bèn cho hơn ba trăm người trong làng ra kéo cây gỗ lên mà không chuyển. Gặp lúc Man Nương xuống bến rửa tay, thử kéo chơi thì cây chuyển động. Mọi người đều kinh ngạc, bảo nhờ Man Nương kéo lên bờ, sai thợ tạc bốn pho tượng Phật. Khi xẻ cây gỗ đến chỗ đặt đứa bé gái thì thấy đã hóa thành một tảng đá rất cứng rắn, rìu đều bị mẻ cả. Họ liền vất tảng đá xuống vực sông, một tia sáng chói lên, hồi lâu đá mới chìm xuống nước. Bọn thợ đều chết cả. Dân bèn mời Man Nương đến bái lễ, nhờ dân chài lặn xuống nước vớt lên, rước vào trong chùa, thếp vàng cúng bái. Sư Già Lê đặt hiệu cho bốn tượng Phật là: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện (1). Thiện nam tín nữ ở khắp nơi đều thường tụ họp về chùa vui chơi ca múa, người đời gọi là hội Tắm Phật, ngày nay vẫn còn.

Chú thích:

1) Bản VHV 1473 chép thêm rằng: “Gọi Man Nương là Phật mẫu. Ngày mồng 8 tháng 4, Man Nương không bệnh mà chết, chôn ở trong chùa. Người đời lấy ngày này làm ngày lễ Phật đản.

(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.

Bình:

Tượng Pháp Vân chùa Dâu, phía trước là hộp đặt Thạch Quang Phật

• Truyện này nói về việc phối hợp giữa văn hóa Việt thời cổ đại và văn hóa Phật giáo.

Văn hóa Phật giáo biểu tượng bằng sư Già La Đồ Lê với cái tên rất ngoại quốc (Có bản nói là sư Khâu Đà La. Dù là tên gì thì cũng nghe rất ngoại quốc). Già La Đồ Lê có phép đứng một chân: Đây là ý nói về nhất nguyên luận của Phật giáo–tất cả mọi sự đều là Một, và Một đó là Không. (Nhất thiết pháp giai Không–tất cả mọi thứ đều là Không).

Văn hóa Việt biểu tượng bằng Man Nương. Man là man di, man dã, tức là ngu si dốt nát. Nương là nàng.

Già La Đồ Lê bước ngang Man Nương là biểu tượng của sự phối hợp giữa hai nền văn hóa, 5 người con là kết quả của phối hợp văn hóa này.

• Việc dùng man nương làm biểu tượng văn hóa Việt có thể hiểu ở nhiều cấp độ và góc cạnh khác nhau:

1. Đây là chú tâm về văn hóa mẫu hệ, văn hóa mẹ, lấy mẹ làm chính. Bố chỉ là vai phụ trong truyện. Có 5 con thì 4 con là nữ, và một tảng đá. Chẳng có nam.

2. Nói rằng phụ nữ ngu dốt (Man Nương) có thể thành Phật là một cách mạng văn hóa về bình đẳng nam nữ trong Phật giáo. Trong truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy (Tiểu Thừa) ở Ấn Độ phụ nữ không được đi tu, và không thể thành Phật.

3. Man nương ngu dốt còn là biểu tượng của vô minh (si mê), gặp Phật pháp từ Già La Đồ Lê, mà giác ngộ thành Phật.

• Man nương và Già La Đồ Lê phối hợp tạo nên một người con đầu tiên là con gái. Đây là một nhấn mạnh về truyền thống văn hóa mẫu hệ cổ truyền.

• Đứa con gái này được Man Nương giao lại cho Già La Đồ Lê là biểu tượng cho sự nuôi dưỡng khôn lớn trong tinh thần Phật giáo.

• Mang con bỏ vào trong hốc cây và được cây nuôi dưỡng gợi lại hình ảnh Phật Thích Ca thiền định dưới cội Bồ Đề và giác ngộ.

Cây lại đứng ngay ngã ba, nơi ba đường chụm lại. Đây xem ra là biểu tượng của tam thừa chỉ là một. Trong phẩm Thí Dụ của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật có nói Phật dạy 3 thừa—thanh văn thừa, duyên giác thừa, Bồ tát thừa—thật ra cũng chỉ là một Phật thừa. Ba con đường cũng đều là đường đưa đến giác ngộ.

• Tuy nhiên, cây cổ thụ ở đây còn có thể là tàn tính của tín ngưỡng đa thần xưa cũ. Vào thời cổ xưa phần đông các bộ tộc của loài người đều theo đa thần, trong đó cây cối, mưa, gió, núi, sông… đều là thần, hoặc đều có thần ngự trị. Man Nương nói với cây cổ thụ “Ta gửi con Phật, mi giữ lấy sẽ thành Phật đạo”, tức là cư xử với cây này như một vị thần cây.

• Cây còn là biểu tượng của tổ quốc. Đất, đá, nước, cây đều là biểu tượng của non sông gấm vóc. Con của Man Nương được nuôi dưỡng trong Phật pháp và tinh khí núi sông.

• Cây gãy, trôi theo dòng nước đến cửa chùa. Đây là văn hóa nước, văn hóa quê hương tổ quốc—nước của nguồn gốc dân tộc, Động Đình Hồ. Nước là tổ quốc. Chúng ta đã nói đến việc quan trọng của văn hóa nước trong Truyện Hồng Bàng Truyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử.

Pháp vân (2 ảnh trái), Pháp Vũ (2 ảnh phải)

• Từ cây này tạo thành năm Phật: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện và Thạch Quang Phật (Phật Đá Sáng, hiện nay vẫn còn được tôn thờ trong Chùa Pháp Vân ở Bắc Ninh).

Đây khá rõ là việc biến các thần cũ của thời đa thần thành Phật của nền văn hóa mới. Pháp là Phật pháp, vân là mây, vũ là mưa, lôi là sấm, điện là chớp, thạch là đá. Các thần mây, thần mưa, thần sấm, thần điện, thần đá (hay thần núi) của thời sơ khai nay được tôn thành Phật trong nền văn hóa mới.

• Ngoại trừ đá Thạch Quang Phật không rõ giới tính, bốn Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện đều là phụ nữ, không có Phật nam. Một lần nữa nhấn rất mạnh văn hóa mẫu hệ xưa cũ.

• Thạch Quang Phật, được xem là em út, không có hình dáng người, nhưng là đá, khác với các tượng Phật của các chị khắc từ cây. Đá thì chắc chắn bền vững hơn cây. Đá là núi là đất, là quê hương. Đá Thạch Quang Phật nổi trên mặt nước lâu rồi mới chìm là nhấn mạnh đến Núi(đá) Sông.

“Khi xẻ cây gỗ đến chỗ đặt đứa bé gái thì thấy đã hóa thành một tảng đá rất cứng rắn, rìu đều bị mẻ cả”. Nghĩa là, đá Thạch Quang Phật là người con quan trọng nhất, là linh khí của bé gái. Phật Đá Sáng, Phật Đất Nước Núi Sông, do đó, là quan trọng nhất và bền vững chắc chắn hơn tất cả các Phật.

Ở đây ta thấy tinh thần Phật giáo và tinh thần dân tộc quyện vào nhau thật chặt chẻ. Phật giáo, dù là từ Ấn Độ sang, khi đến Việt Nam nó quyện vào văn hóa dân tộc Việt rất khắng khít, để giúp văn hoá Việt phát triển mạnh mẽ và tự nhiên. Xem ra không có xung đột giữa văn hóa Phật giáo và văn hóa Việt cổ xưa. Và tinh thần dân tộc là một yếu tính tự nhiên của Phật giáo Việt Nam.

• 5 Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện và Thạch Quang Phật: Từ góc độ triết lý Phật giáo, Phật pháp hiện diện trong tất cả mọi thứ, kể cả mây, mưa, sấm, chớp và đá.

• Tại sao lại một Phật mẹ và năm Phật con, chúng ta không rõ. Nhưng cũng có thể đây là biểu tượng của văn hóa âm dương ngũ hành đã có trong văn hóa Việt Nam từ trước. Mẹ cha là âm dương và 5 con là ngũ hành – kim mộc thủy hỏa thổ.

• Cây trượng sư Già La Đồ Lê tặng Man Nương là biểu tượng của Phật pháp, tương tự như cây gậy của Chử Đồng Tử, của thiền tổ Bồ Đề Đạt Ma, và của Phật Di Lặc và mà ta đã nói đến trong Truyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử.

Chùa Pháp Vân, còn gọi là Chùa Dâu, Diên Ứng Tự, hay Cổ Châu Tự, hiện nay vẫn còn ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km. Đây là ngôi chùa được đánh giá là xưa nhất Việt Nam.
Chùa nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu. Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam. Tại vùng Dâu có năm ngôi chùa cổ: chùa Dâu thờ Pháp Vân, chùa Đậu thờ Pháp Vũ, chùa Tướng thờ Pháp Lôi, chùa Dàn thờ Pháp Điện, và chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ của Tứ Pháp. Năm chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần. Do chùa Đậu (Bắc Ninh) bị Pháp phá hủy, nên tượng Bà Đậu (Pháp Vũ) cũng được đưa về thờ ở chùa Dâu.

(Trần Đình Hoành bình)

Bridge over Troubled Water – Chiếc cầu bắc ngang nước siết

500 Greatest Songs of All Times

Bridge over Troubled Water là bài hát của Paul Simon và được bộ đôi Simon & Garfunkel ghi âm và phát hành năm 1970 trong album thứ 5 và là album cuối của bộ đôi có cùng tên Bridge over Troubled Water. Bài hát và album thắng 4 giải Grammy tại Grammy thứ 13 năm 1971 gồm: Đĩa của năm (Record of the Year), Hòa âm hay nhất (Best Arrangement), Bài hát đương thời hay nhất (Best Contemporary Song), Kỹ thuật ghi âm tốt nhất (Best Engineered Recording).

Bridge over Troubled Water trở thành bài hát chữ ký (signature song) của Simon & Garfunkel. Lên hạng nhất trên Billboard Hot 100 sáu tuần liền, và cũng lên đầu bảng ở Anh, Canada, Pháp, và New Zealand. Bài hát cũng lên top five trong 8 nước khác. Bài hát là một trong những bài được trình diễn nhiều nhất trong thế kỷ 20 với hơn 50 nghệ sĩ ghi âm, trong đó có Elvis Presley và Aretha Franklin.

Báo nhạc Rolling Stone xếp Bridge over Troubled Water hạng 48 trong 500 Bản nhạc hay nhất trong mọi thời đại.
Continue reading Bridge over Troubled Water – Chiếc cầu bắc ngang nước siết