Tag Archives: trà đàm

Vui, buồn từ Festival cồng chiêng quốc tế Tây Nguyên

Tôi háo hức đi Plei ku. Cồng chiêng Tây Nguyên thì xem mãi rồi , nhưng có dịp thưởng thức & thêm chút hiểu biết về cồng chiêng Đông Nam Á thì hay biết mấy.

19h ngày 12-11-09. Người ơi là người. Chen chúc đến ngộp thở, giơ thật cao tấm phù hiệu khách mời màu vàng, vào được đến quảng trường 17-3 thì mọi hàng ghế đã chật. Chẳng phân biệt được ai là dân, ai là khách; thôi thì ai ngồi cũng được, vì sao lại nỡ trách những người muốn được một lần tham dự một lễ hội quốc tế lớn như thế này chứ ? Chỉ tiếc rằng, mặc dù ban tổ chức đã đổ ba bậc đất cao hơn phía sau khán đài, nhưng mọi khán giả đứng sau các hàng ghế đại biểu chỉ có thể nhìn tới bốn tầng sân khấu xa tít tắp, chứ không thể thấy được lòng sân rộng của quảng trường.Khán giả bên ngoài lại càng ít hy vọng được xem, bởi hàng rào người đã chắn ở cả hai đầu đường dẫn vào sân khấu.

Tranh thủ lúc chờ khai mạc, tôi len lỏi khắp sân chào các nghệ nhân quen mặt, quen tên, nào các amí người Bih, ama Êđê Đăk Lăk phục sức vô cùng trang trọng; nào là già làng K’Bét nụ cười rung cả chòm râu bạc đứng giữa nhóm tộc người K’Ho Lâm Đồng ; anh bạn Kpă Na Nao người Jrai ở Gia Lai với chiếc trống luôn gắn trên vai, vòng hai chừng lớn hơn lần gặp năm ngoái ở Đà Lạt, trong Liên hoan hát dân ca; Điểu Mai và nhóm Mnông Đăk Song của cô ấy súng sính trong bộ váy áo thổ cẩm màu xanh lá cây; các chị em người Thái che dù duyên dáng đứng đợi bên Khua luống; Nhóm Ca Tu thị trấn Đông Giang khoe nửa bộ ngực trần ấm cả mắt; mấy chị em người Cor Quảng Nam áo trắng, váy đen, những chuỗi hạt cườm vàng đỏ thật lộng lẫy. Cô gái Hrê, chàng trai Bâhnar, già làng Vân Kiều, bà mẹ S’Tiêng kề bên nhóm Ta Ôi, Châu Ro…

Chật kín sân nghệ nhân của 45 đội cồng chiêng thuộc 25 tỉnh thành, từ bộ cồng núm 5 chiếc của người Thái đen ( mà cô gái nào cũng da trắng muôn muốt như hoa ban) tận Điện Biên địa đầu phía bắc; tới dàn cồng 16 chiếc và các nhạc cụ ngũ âm của các nghệ nhân Khơmer đạo mạo, đệm cho những chú khỉ Hanuman nghịch ngợm nhảy nhót, đến từ miền đồng bằng chín Rồng, bên cạnh những con rối lá, rối dây ngộ nghĩnh cười cợt……Hòa vào không khí náo nức đó là tâm trạng vui vẻ của các nghệ nhân Lào, Căm Pu Chia và Maiamy, Philipin cho dẫu kẻ đóng khố, người trong trang phục kín đáo (đoàn Indonesia hôm sau mới tới được). Không chỉ là nhịp điệu thanh thoát của những dàn ching chêng, mà còn cả tiếng kèn saranai réo rắt, tiếng trống sazam bập bùng hòa điệu …Người già, người trẻ, nữ, nam…chao ôi là tiếng cười, giọng nói ríu rít làm quen hay mừng gặp lại.Cả những tiếng nói to hơn thường ngày qua điện thoại di động, đua nhau kể với ở nhà ( vùng xa vùng sâu nào đó) không khí náo nức chờ đến giờ khai mạc ngày hội.…

Cái được nhất của Liên hoan có lẽ chính là sự gặp gỡ, không khí hồ hởi và thân mật này ( Ngoài việc biểu diễn ở bốn sân khấu lớn trong nội và ngoại thành Plei Ku, các nghệ nhân 6 nước còn có cuộc giao lưu với nhau tại khu du lịch Đồng xanh vào tối ngày 14/11 ).Sau nữa là sự xuất hiện của đa số các “ nghệ nhân” trẻ, thế hệ kế tục để bảo tồn “ di sản”, không chỉ múa mà còn diễn tấu ching. Không kể các bé em còn nằm trên lưng mẹ, thì nhỏ nhất có lẽ là hai thành viên Ksor Sia 6 tuổi & Siu Khái 8 tuổi của đội Jrai huyện Chư Sê, điêu luyện trong những bước nhảy theo nhịp ching, làm tốn không biết bao nhiêu phim của các nghệ sỹ nhiếp ảnh.

Đến với Festival cồng chiêng quốc tế lần đầu tiên này, có thể nhận thấy rất nhiều nét tương đồng và khác biệt giữa các dàn cồng chiêng của Việt Nam & các nước Đông Nam Á.

Ví dụ như dàn ngũ âm & trang phục của hai đội cồng chiêng Khơmer đến từ Bạc Liêu & Sóc Trăng không khác mấy so với cách trình diễn và cơ cấu dàn ngũ âm của Đoàn nghệ nhân CamPuChia : từ hàng chục chiếc cồng nhỏ xếp thành từng hai dàn một trên một chiếc giá đỡ hình vòng cung, cho đến bộ trống Sazam, trang phục xaroong của các nghệ nhân nam.

Hay đoàn nghệ nhân đến từ Philipin cũng cởi trần đóng khố, đep chuỗi vòng răng thú và xử dụng 7 chiếc chiêng không có núm, như một số tộc người Tây Nguyên thuộc nhóm ngôn ngữ Môn –Khơmer, nhưng lại dùng dùi cứng ( trong khi hầu hết các nhóm Tây Nguyên đều dùng dùi mềm). Hoặc nhóm nghệ nhân tộc người Prao của đoàn Lào, lại sử dụng 7 chiếc ching có núm, khác với nhóm Brâo ( một nhánh khác ở Kon Tum) chỉ có hai chiếc chiêng không có núm…

Hoặc cùng nhóm ngữ hệ Môn – Khơmer nhưng tộc người Châu Ro đến từ Đồng Nai, lại diễn tấu 8 chiếc chiêng có núm, không có chiêng bằng, như người anh em S’Tiêng, K’Ho cận kề…

Cho dù dưới hình thức diễn tấu nào, thì âm thanh và giai điệu của mọi dàn ching đều có sức lan toả,lôi cuốn bởi tính độc đáo riêng biệt của âm nhạc dân gian mỗi tộc người. Đối với những người nghiên cứu cồng chiêng, đây thật là một dịp thú vị để tìm hiểu.

Cũng không thể không nói tới tình cảm mến khách tuyệt vời của người dân Plei Ku, bởi tôi và nhiều bạn bè đã được hướng dẫn tận tình khi gặp bất cứ trở ngại gì trên đường phố.

Vui là thế, buồn là gì bạn biết không? Xin hãy cùng tôi quay trở lại với đêm 12-11. Sau màn khai mạc dài dòng, hơn 50.000 người ngồi kín quảng trường 17-3 ở thành phố Plei Ku, lẫn triệu triệu khán giả màn ảnh nhỏ chờ đợi, tiếng ching chêng đã vang lên rộn rã. 3.000 diễn viên & nghệ nhân trên quảng trường cùng rùng rùng chuyển động.

Có thể nói Tổng đạo diễn phần âm nhạc : nhạc sỹ Nguyễn Cường đã thành công khi chọn lọc và sắp xếp hài hoà giữa âm nhạc cồng chiêng, dân ca các dân tộc Tây Nguyên và phần nhạc – hát mới (dẫu phần âm nhạc Êđê được dùng làm âm hưởng chủ đạo trong cả hai đêm khai mạc lẫn bế mạc và có tới vài ca khúc của tác giả). Và trên bốn tầng sân khấu là các tiết mục múa Tây Nguyên, do các sinh viên Trường Đại học VHNT Quân đội trình bày tạo được vẻ đẹp của hình thể trong những động tác múa Tây Nguyên.

Nhưng chiếm trọn vẹn quảng trường và thời lượng đến hơn 60’/90’ của chương trình là các nam nữ thanh niên người mang hoa, kẻ mang khiêl, trống, lần lượt xuất hiện hết màn trình diễn này đến màn trình diễn khác, không có chút gì là Tây Nguyên, trong cả động tác múa lẫn trang phục với đặc trưng là vài trăm bộ váy đầm kiểu dạ hội. (May mà Camera của Đài Truyền hình Việt Nam chỉ hướng cố định lên sân khấu, nên khán giả màn ảnh nhỏ không phải “ thưởng thức” màn trình diễn này), còn những khán giả tại chỗ chỉ thấy ngợp vì ấn tượng ở số người quá đông chính diện ngay trước mắt mà thôi.

May nữa là bày voi 11 con từ Đăk Lăk sang, chỉ có một “ chú” không quen với ánh sáng, tiếng động dữ dội ở nơi đông người, nên một mình quay lưng lại khi cả đàn quỳ xuống chào khán giả và không gây nên sự hỗn loạn đáng tiếc nào ( bởi voi chỉ cách người ngồi bên lề chừng 3m). May nữa là trong những phút cuối của chương trình, với tài nghệ và sự hồn nhiên của mình, giọng hát của ca sỹ Siu Black đã lôi cuốn được người xem khi xuất hiện trên chiếc xe ngựa và trên sân khấu với ca khúc “ Đôi mắt Plei Ku” sôi động, kéo theo hàng ngàn bạn trẻ vào vũ điệu xoang kết thúc.

Vậy nên sau đêm khai mạc, đông đảo khán giả tại chỗ vừa giải tán, vừa than phiền vì thiếu sự ra mắt cụ thể một cách trang trọng theo đúng thông lệ, của cả 40 dàn chiêng trong nước và 5 dàn chiêng ngoài nước ( chắc các đạo diễn định thử tài tiên đoán của khán giả qua trang phục và cờ tổ quốc chạy như đuổi bắt trên sân khấu). Cũng như suốt 90’ của chương trình không hề thấy được sự tôn vinh xứng đáng các “di sản của nhân loại” , khi đạo diễn chỉ cho các đoàn diễn tấu ching và múa hai bên lề quảng trường, sau đó cuối chương trình chạy qua sân khấu chính được một vòng rồi xuống ngay. (Điều này Ban Tổ chức “để dành” vào đêm bế mạc: tất cả các đoàn đều diễu hành qua khán đài để chào quan khách, tuy nhiên không phải bằng chính âm nhạc ching chêng của họ, mà trên nền nhạc chung của lễ hội).

Chúng tôi tiếc hùi hụi vì đã không được xem trình diễn tại lễ khai mạc; lịch biểu diễn xoay vòng lại chỉ có mỗi ngày một buổi, tại những địa điểm cách nhau đến cả chục cây số, nên dẫu muốn lắm cũng không có dịp xem được các đoàn nước ngoài khác như Inđonesia, CamPuChia hay Maiamy… biểu diễn.

Chưa hết, Lễ đâm trâu mừng chiến thắng của các nghệ nhân Bâhnar huyện K’Bang, chỉ là nhảy nhót tượng trưng, vì Bộ trưởng cho rằng “khách nước ngoài phản đối việc sát sinh trâu”. Trong khi đó lại chấp nhận việc giới thiệu công khai “tác giả kịch bản, đạo diễn” Lễ đâm trâu là những cán bộ người Kinh của Sở Văn hoá.

Yang ơi, du khách đâu đến nỗi không hiểu rằng đó là nghi lễ truyền thống trong tín ngưỡng “Vạn vật hữu linh” của Tây Nguyên. Đồng thời họ cũng hiểu như các nghệ nhân rằng “giả dối với các vị thần linh nào phải chuyện đùa”. Cảm ơn các vị viết lời dịch tiếng Bâhnar từng công đoạn, từng câu khấn cho du khách hiểu, nhưng cho dẫu có trân trọng việc đã công tác ở Tây Nguyên hàng chục năm, nhờ văn hoá Tây Nguyên mà có học vị Thạc sỹ hay Tiến sỹ đi nữa, thì làm sao các vị “đạo diễn” lễ cổ truyền của “người ta” được?

Dẫu vui buồn lẫn lộn vậy, cũng phải công nhận rằng: hơn 1.500 nghệ nhân cồng chiêng từ khắp đất nước Việt Nam và năm nước anh em Đông Nam Á, đã hoàn thành sứ mệnh gửi tới nhân loại thông điệp của hòa bình và sự đoàn kết các dân tộc, bằng những âm thanh tuyệt vời của một trong những “ Di sản văn hoá phi vật thể truyền khẩu”. Và những hoạt động khác như Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao, Hội chợ Làng nghề thủ công truyền thống, Làng ẩm thực, Triển lãm tranh – ảnh nghệ thuật và ảnh về Anh hùng Núp, Trưng bày sinh vật cảnh, Trưng bày văn hoá truyền thống Tây Nguyên, trình diễn chỉnh chiêng, tác tượng, phục dựng một vài lễ hội cổ truyền…đã thật sự góp phần làm nên thành công của Festival Cồng chiêng Quốc tế 2009 này.

Mong những Festival sau sẽ được tổ chức đúng nghĩa hơn và cồng chiêng Tây Nguyên được tôn vinh một cách xứng đáng hơn.

Linh Nga Niê Kdăm

Hòa giải – Nữ giới nói với nam giới

Nếu tôi hay bất kỳ thành viên nào của phái nữ đã từng làm bất kỳ điều gì khiến anh hay bất kỳ người đàn ông nào đau đớn hay xúc phạm, hãy tha thứ cho tôi và hãy tha thứ cho chúng tôi.

Nếu cuộc đời đàn ông của anh đã bị làm héo mòn hay bị cản trở bởi bất kỳ người đàn bà nào, tôi bây giờ thay mặt cho cô ấy và xin lỗi cho tôi, cho cô ấy, và cho tất cả phụ nữ.

Mong Chúa cho chúng ta một tầm nhìn đã được chữa lành về ý nghĩa của việc làm đàn ông.

Mong những người đàn ông nhận được sự chữa lành này.

Mong những người đàn bà nhận được sự chữa lành này.

Mong chúng tôi nhìn thấy sức mạnh của các anh.

Mong chúng tôi không làm yếu ớt các anh.

Mong chúng tôi tôn trọng năng lực của các anh và kính trọng trí óc của các anh.

Tôi sẽ dạy những con gái của tôi tốt.

Mong quá khứ của anh được chữa lành, tương lai của anh được làm mới và mạnh.

Mong anh đạt tới niềm vui sướng đầy đủ nhất của mình.

Đi với tình yêu của tôi, và tình yêu của tất cả phụ nữ, mãi mãi.

AMEN.

Nguyễn Minh Hiển dịch

.

If I or any member of my sex has ever done anything to hurt you or offend you or any man, please forgive me and please forgive us.

If your life as a man has been stunted or thwarted by any woman, I now stand in her stead and apologize for me, for her, for all womankind.

May God give us a healed vision of what it means to be a man.

May men receive this healing.

May women receive this healing.

May we see your strength.

May we not emasculate.

May we honor your power and respect your mind.

I shall teach my daughters well.

May your past be healed, your future made new and strong.

May you reach your fullest joy.

Go with my love, and the love of all women, forever.

Amen.

Marianne Williamson

Bài liên hệ: Hòa giải – Nam giới nói với nữ giới

Thế giới màu gì?

Chào các bạn,

Nếu một người sinh ra với thủy tinh thể mắt màu đỏ, người đó chỉ có thể thấy một màu cho cả thế giới—đỏ nhạt, đỏ trung bình, đỏ đậm, đỏ đậm hơn… Tương tự như thế với người có thủy tinh thể màu xanh, màu tím, màu cam… Với những người này, họ chỉ có thể nhìn thế giới một màu, và dù bạn có giải thích thế nào về hàng chục màu khác, họ cũng không thể nào hiểu được. Thế giới thật muôn màu không thể hiện diện với họ.

Đó là hậu quả của cái mà ta gọi là thành kiến, hay nhà Phật gọi là chấp. Cái tâm của ta, hay còn gọi là cá tính của ta, là màu thủy tinh thể của ta. Với người hay ganh tị, cả thế giới chỉ có một màu ganh tị–mọi người ganh tị nhau và chèn ép nhau để sống. Với người có máu tham lam, thế giới chỉ là những con người tham lam tranh giành nhau. Người có máu kiêu căng, thì thế giới chỉ là những cái tôi lớn tìm cách đè bẹp nhau và tự trương phình mình. Người có máu ghen tương thì thế giới chỉ là những con người giành giật tình yêu nhau. Người có máu nghi ngờ thì thế giới chỉ là một sự dối trá lớn. Người có máu thiếu an ninh thì thế giới chỉ là một cái nhà bằng giấy carton có thể sụp đổ bất kỳ lúc nào…

Chính ta tạo ra thế giới của mình. Không ai tạo ra thế giới của mình cho mình được.

Trừ khi các người này tự cởi bỏ màu thủy tinh thể của mình, các công sức của người khác để giải thích cho họ về bản chất thật của cuộc đời thường chẳng đem lại tí kết quả nào cả. Lại có thể làm mất lòng nhau.

Vấn đề lại càng phức tạp hơn vì mỗi chúng ta không chỉ có một màu thủy tinh thể, mà lại có rất nhiều màu—tùy lúc và tùy người đối diện, màu thủy tinh thể của ta tự động đổi. Ví dụ: Gặp ông A thì màu thủy tinh thể ta tự động đổi ra màu “ghét”—ông này làm điều gì ta cũng thấy sai, cũng thấy dốt, cũng thấy có hại cho xã hội. Gặp ông B thì màu đổi ra thành nghi ngờ–ông này nói gì thì cũng nhất định nghĩ là ông ta nói dối. Gặp bà C thì lại tự động đổi ra màu ganh tị–bà này làm gì ta cũng muốn làm hơn và luôn luôn thầm mong cho bà ta không khá…

Kẹt một nỗi là thủy tinh thể thì không phải là kính đeo mắt để ta biết là ta có đeo một màn màu to tướng trước mắt. Thủy tinh thể chính là mắt và ta không biết được là ta đang bị màu mắt che hình ảnh của thế giới.

Chính vì thế mà ta thấy rất nhiều người trên thế giới nói năng điên rồ, hành động điên rồ, suy nghĩ điên rồ, làm hại cho bao nhiêu người chung quanh, để khổ cho bao nhiêu người chung quanh, nhưng không thể nào ta có thể giải thích cho họ hiểu để họ tự biết điều khiển màn màu mắt cả. Họ đơn giản là không thể tưởng tượng được họ đang bị màn màu che mắt.

Bởi vì sự cực kỳ khó khăn trong việc nhận thấy và xóa bỏ thành kiến của mình như thế, các truyền thống tâm linh đều có những từ đặc biệt để chỉ khả năng thấy được màu mắt mình và tự biến đổi màu mắt thành không màu. Khả năng đó gọi là Giác Ngộ (hay Ngộ) trong Phật giáo, và trong các tôn giáo thuộc truyền thống Moses (Do Thái giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo) thì gọi là Mặc Khải của Thượng đế (Relevatlion of God) hay Mặc khải của Thánh Linh (Revelation of the Holy Spirit).

Người ta phải dùng các từ lạ thường như thế, thay vì các từ thông thường như “hiểu biết”, “thấy được”, “tìm ra”… vì tinh cách lạ lùng của “sự mở mắt” này. Nó chẳng liên hệ gì đến sự thông minh của một người , hay thời gian học tập nghiên cứu, hay mức cố gắng tìm hiểu luyện tập, hay họ siêng đi nhà thờ hay đi chùa, hay họ siêng cầu nguyện mỗi ngày… Giác Ngộ hay Mặc Khải thường đến một cách bất ngờ, dưới những điều kiện không l‎y’ giải được bằng các tính toán thông thường. Vì vậy người ta thường nói đến Giác Ngộ và Mặc Khải như là một hiện tượng tâm linh, hơn là một kết quả tìm kiếm khoa học.

Dù khó khăn như thế, qua các kinh nghiệm Mặc Khải hay Giác Ngộ của nhiều người kể lại, cũng như qua kinh nghiệm của bản thân chúng ta, ta có thể nhận thấy vài điểm căn bản trên con đường đi đến Giác Ngộ hay Mặc Khải.

1. Phải có ước muốn, thật sự và mạnh mẽ, để hiểu được Sự Thật. Sự Thật viết hoa. Những người cho rằng tôi đã hiểu rõ con người tôi, tôi đã thánh thiện trước mặt Chúa, thế gian chỉ toàn người dối trá chỉ tôi là thành thật, thế gian say chỉ mình ta tỉnh, “thế” là “gian” tôi đi tu quách cho được việc…, những người như thế thường là sẽ mù suốt đời, vì họ hoàn toàn không có một mong ước nào để biết gì về họ. Họ tự mãn về kiến thức của mình về mình như thế, họ sẽ không bao giờ thấy con người thực của mình, không bao giờ thấy được tình yêu thực sự (ngoài “tình yêu” cho những người và những cái họ “yêu”), không bao giờ nghe được lời thầm thì của Thượng đế, không bao giờ nghe được tiếng sét của Thượng đế đánh ngang mày… Tự cho là mình biết đủ, hiểu đủ, tốt đủ về chính mình và về Sự Thật là màn Vô Minh lớn nhất và dày nhất–mà nhà Phật gọi là “cái Ngã” và Thiên chúa giáo gọi là Tội Đầu số một (The First Cardidnal Sin)—tội kiêu ngạo.

2. Các màu mắt của mình là do “Cái Tôi” biến hóa ra mà thành. Muốn cất hết các màu mắt thì chỉ có một cách duy nhất là cất đi cái tôi. Và ta có thể thấy hàng nghìn quyển sách chỉ ta cách giảm đi cái tôi. Mình không muốn lập đi lập lại các điều đó ở đây.

Mình chỉ muốn chia sẻ với các bạn một cách mà theo quan sát của mình thì nó vừa dễ để thực hiện vừa có công hiệu tốt cho mọi người. Trong truyền thông Thiên chúa giáo có câu: What Would Jesus Do? (Chúa Giê Su sẽ làm gì trong trường hợp tương tự?) Ở Mỹ ta thường thấy bán các lắc đeo tay có khắc bốn chữ WWJD, đó là câu What Would Jesus Do?

Tức là mỗi khi đối diện với một tình huống hay một suy tư nào đó trong đầu, ta tự hỏi “Chúa Giê Su sẽ làm gì nếu người là ta lúc này?” Người Thiên chúa giáo (nếu có đọc Thánh Kinh), hiểu được cách sống của Chúa Giê Su, đương nhiên là biết Chúa Giê Su sẽ làm gì, và noi gương người mà hành động như thế.

Ta cũng nên có một cái lắc tay ghi WWBD – What Would Buddha Do? Phật Thích Ca sẽ làm gì trong tình huống tương tự?

Nếu chúng ta thực hành cách này hàng ngày, trong tất cả mọi tình huống trong ngày, ngưng lại một giây và hỏi câu đó, thì từ từ ta sẽ rất khiêm tốn, cái tôi sẽ biết mất, và các màu mắt từ từ biến đi luôn…

Các bạn a, để mình nói cho các bạn nghe nhé. Các bạn đang còn đi học và chỉ nghĩ đến các mảnh bằng và công việc kiếm tiền. Không trường nào dạy các bạn các điều chúng ta đang bàn cả. Và các bạn có thể nghĩ là mảnh bằng và công việc là việc khó khăn và quan trọng nhất trên đời. Mình đã qua đoạn đó để biết là mấy thứ đó quan trọng và khó khăn, nhưng không “nhất.” Quan trong và khó khăn nhất là khả năng không để cho chính mình lừa dối và làm mù mắt mình. Và điều đó chẳng có đại học nào dạy bạn cả.

Các đại gia tham nhũng, dốt nát, hiếp dân hại nước nhất ngày nay, thường là người có bằng cấp cao và đã từng là những sinh viên trẻ trong sạch và nhiều nhiệt huyết.

Họ chỉ không học những điều cần thiết nhất trong khi họ trưởng thành.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Hòa giải – Nam giới nói với nữ giới

Chào các bạn,

Chị Marianne Williamson nói rằng tha thứ lẫn nhau là chìa khóa cho việc chữa lành những xung đột giữa nam giới và nữ giới. Nếu chúng ta không chữa lành sự cay đắng và hiểu lầm giữa hai giới tính, tăng cường mối quan hệ giữa hai giới, thì những xung đột giữa hai giới sẽ tiếp tục bị phản chiếu vào một bức tranh thế giới rộng lớn hơn.

Hôm nay mình giới thiệu với các bạn phần đầu tiên của mục cầu nguyện tha thứ, Hòa giải giữa nam giới và nữ giới.

Nam giới nói với nữ giới

Nếu tôi hay bất kỳ người đàn ông nào đã từng làm bất kỳ điều gì khiến chị bị tổn thương hay bị xúc phạm, và bao nhiêu xúc phạm đối với tất cả phụ nữ–chính chị hay người phụ nữ nào khác–tôi xin lỗi.

Hãy tha thứ cho tôi và hãy tha thứ cho đàn ông chúng tôi.

Nếu chị đã từng cảm thấy bị hạ nhục, xem thường, hay phẩm giá phụ nữ của chị bị phản bội bằng cách nào đó, nếu tôi hay bất kỳ người đàn ông nào không nhìn thấy được ánh sáng của phái nữ và sự tỏa sáng của tinh thần phụ nữ, đại diện cho tất cả chúng tôi, tôi rất xin lỗi.

Mong sao vẻ đẹp của phụ nữ và năng lực của phụ nữ và tầm nhìn của phụ nữ bây giờ nở tung trên thế giới chúng ta và trong ý thức của chúng ta.

Mong sao trí óc của đàn ông được chữa lành.

Mong sao trái tim của phụ nữ được hàn gắn.

Tôi cam kết với chị và với Chúa rằng tôi đang là, và sẽ là, người đàn ông nhìn thấy giá trị của chị.

Tôi nhìn thấy ánh sáng của chị.

Chúa ban phước cho chị và các chị em của chị, mẹ của chúng ta và các con gái của chúng ta.

Tôi sẽ dạy những con trai của tôi kính trọng chị.

Mong sao chúng ta không bao giờ đi ngược về thời cũ.

Amen.

Nguyễn Minh Hiển dịch

If I or any other man has ever done anything to hurt you or offend you, and for the manifold transgressions against women, you and every other, I apologize.

Please forgive me and please forgive us.

If you have ever felt demeaned, uncherished, or your womanhood betrayed in any way, if I or any other man has failed to see the light of your sex and the brilliance of your female spirit, on behalf of all of us, I am so sorry.

May the beauty of women and the power of women and the vision of women now burst forth in our world and in our consciousness.

May the mind of man be healed.

May the heart of woman repair.

I commit to you and to God that I am, and shall be, a man who sees your value.
I see your light.

God bless you and your sisters, our mothers and our daughters.

I shall teach my sons to honor you.

May we never go back.

AMEN.

Marianne Williamson

Bài liên hệ: Hòa giải – Nữ giới nói với nam giới

Tất cả những điều tốt đẹp

Cậu nhóc học lớp 3 đầu tiên tôi dạy ở trường Saint Mary tại Morris,Minn.Tất cả 34 học trò đều thân với tôi,duy chỉ có Mark Eklund là khác biệt.Vẻ ngoài tươm tất,nhưng với suy nghĩ” hạnh-phúc-để-được-sống” làm cho tính nghịch ngợm thi thoảng của cậu bé rất ngộ nghỉnh.

Mark nói liên hồi.Tôi phải nhắc nhở suốt rằng nói chuyện riêng là không được chấp nhận.Tuy nhiên điều làm tôi ấn tượng nhiều nhất chính là cách đáp lại thành thật của nó mỗi khi tôi chỉnh cách xử sự xấu đó.”Cảm ơn cô đã nhắc nhở em”Ban đầu tôi không hiểu rõ lắm,nhưng chẳng bao lâu tôi trở nên quen với việc nghe điều đó nhiều lần một ngày.

Một buổi sáng sự kiên nhẫn của đi đến giới hạn khi Mark nói một việc quá thường xuyên,và sau đó tôi phạm phải sai làm của giáo viên mới vào nghề.Tôi nhìn nó và nói,”Nếu em còn nói nữa,cô sẽ dán miệng em lại.”

Chưa đầy mười phút sau Chuck thốt lên,”Mark lại đang nói chuyện nữa ạ.”Tôi không yêu cầu bất kì học trò nào giúp tôi trông chừng Mark.Nhưng kể từ khi tôi đưa ra hình phạt trước lớp,tôi buộc phải thực hiện.

Tôi nhớ cảnh đó như thể nó đã diễn ra vào buổi sáng đó.Tôi đi đến bàn,cố tình mở ngăn kéo và lấy ra 1 cuộn băng dính.Rồi tôi tiến đến bàn Mark mà không nói một lời,xé hai mảnh băng dính và làm thành chữ X trên miệng cậu bé.Sau đó tôi quay lại trước lớp.Khi tôi ghé mắt xem Mark đang làm gì,nó đang nháy mắt với tôi,Chính là nó!Tôi bắt đầu cười.Cả lớp hoan hô khi tôi đến lại Bàn của Mark,lột lớp băng keo và nhún vai.Câu nói đầu tiên của nó là,”Cảm ơn cô đã sửa sai cho em.”

Vào cuối năm học tôi được đề nghị dạy toán trung học. Các năm học trôi qua,và tôi biết Mark lại ở trong lớp tôi.Cậu bé đẹp trai hơn bao giờ và rất lịch sự.Bởi vì cậu phải chú ý vào lời hướng dẫn của tôi trong môn”toán mới”,khi học lớp 9 cậu không nói nhiều như hồi lớp 3.

Một buổi sáng thứ sáu,tôi có cảm giác mọi việc không ổn lắm.Chúng tôi phải làm việc cật lực về một khái niêm mới cả tuần,và tôi thấy đám học trò đang kiệt sức, chán nản-và cáu kỉnh với người khác.Tôi cần phải chấm dứt việc cáu kỉnh này trước khi nó đi quá xa. Vì vậy tôi hỏi chúng liệt kê tên những học sinh khác trong lớp học lên hai mặt giấy,để khoảng trống giữa mỗi tên. Sau đó tôi bảo chúng viết ra giấy những điều đẹp nhất chúng có thể nói về mỗi bạn cũng lớp chúng có thể nghĩ đến.

Cả lớp cần đến cả một tiết để hoàn thành bài tập,và khi đám học trò rời khỏi phòng,mỗi đứa nộp giấy cho tôi,Charlie mỉm cười.Mark nói,”Cảm ơn cô đã dạy em.Chúc ngày cuối tuần tốt đẹp.”

Tối thứ bảy đó,tôi viết tên của mỗi học sinh lên một tờ giấy đơn riêng biệt,và liệt kê những điều bọn trẻ nói về một bạn trong lớp.Vào thứ hai tôi đưa mỗi học sinh một danh sách viết về chúng.Chẳng mấy chốc,toàn bộ lớp mỉm cười. “Thật ư?Tớ chưa từng biết điều đó lại có ý nghĩa với người khác !Tớ không biết những người khác thích tớ nhiều như thế,” tôi nghe tiếng thầm thì.

Không một ai đề cập đến những tờ giấy đó nữa.Tôi không bao giờ để ý liệu bọn trẻ có thảo luận về nhau sau giờ học hay kể với bố mẹ hay không,điều dó chẳng có vấn đề gì.Bài tập đã hoàn thành tốt mục tiêu.Đám học trò lại hãnh diện về chính mình và các bạn khác.

Nhóm học sinh ấy cứ tiếp tục.Vài năm sau, khi tôi đi nghỉ về , cha mẹ đón tôi ở sân bay.Trên đường về nhà, Mẹ hỏi tôi những câu thường lệ đại khái là về chuyến đi,thời tiết và những kinh nghiệm ở trường.Cuộc trò chuyện có những khoảng lặng. Mẹ liếc sang nhìn cha và nói: “Anh?” Cha tôi hắng giọng như thường lệ trước khi nói điều gì quan trọng. ”Nhà Ekunds gọi đến tối qua.” ”Thật hả cha?” Tôi nói. ”Con đã không nhận được tin gì về họ mấy năm nay. Không biết biết Mark thế nào rồi.”

Cha trả lời điềm tĩnh:” Mark đã chết ở Việt Nam,” cha nói.”Lễ tang tiến hành vào ngày mai, và cha mẹ cậu ta rất muốn con đến.”

Trước kia, tôi chưa từng thấy một sĩ quan trong quan tài bao giờ.Trông Mark thật đẹp và vô cùng chín chắn.
Tất cả những gì tôi có thể nghĩ vào khoảnh khắc đó là, Mark, tôi sẽ tặng cậu tất cả băng dính trên thế giới miễn là cậu ta có thể nói chuyện với tôi.

Nhà thờ chật ních những người bạn của Mark.Mục sư đọc những bài kinh cầu nguyện thường lệ, và lính kèn gõ những tiếng nhẹ. Từng người một đi vòng quanh chiếc quan tài lần cuối và rắc những giọt nước thánh.
Tôi là người cuối cùng cầu nguyện. Khi tôi đứng đó, một trong những người lính thay mặt người hộ tang, đến gần tôi.”Cô có phải là giáo viên dạy toán của Mark không?” Anh ta hỏi. Tôi chỉ gật đầu tiếp tục nhìn chăm chăm vào chiếc quan tài.”Mark đã nói về cô rất nhiều.” Anh ta tiếp lời.

Sau lễ tang, hầu hết những cậu bạn cùng lớp Mark trước kia đi thẳng về nông trại nhà Chucks dùng bữa trưa.Cha mẹ Mark đã ở đó,rõ ràng đang chờ tôi.”Chúng tôi muốn đưa cho cô vài thứ”,cha Mark nói, và lấy trong túi ra một cái ví.”Họ tìm thấy vật này trên người Mark khi nó chết.Chúng tôi nghĩ cô có lẽ sẽ nhận ra nó.”

Cha Mark mở ví , cẩn thận lấy ra hai mảnh giấy viết đã sờn và bị gấp đi gấp lại nhiều lần. Không cần nhìn tôi cũng biết đó chính là những mảnh giấy mà tôi đã liệt kê tất cả những điều tốt mà bạn Mark nói về cậu ấy. “Cảm ơn cháu rất nhiều,” Mẹ Mark bảo. “Như cháu thấy đó, Mark trân trọng mảnh giấy đó.”

Bạn học của Mark vây quanh chúng tôi. Charlie cười bẽn lẽn và nói “Em vẫn giữ danh sách của mình. Nó ở ngăn trên cái bàn làm việc của em ở nhà.” Vợ Chuck nói: “Chuck đã nhờ tôi đặt nó vào album cưới.” “Em cũng có,” Marilyn nói. “Nó ở trong nhật kí của em”. Rồi Vicky, một học trò khác, lấy cái danh sách mòn và nhàu nát từ quyển sổ tay ra và nói: ’Khi nào em cũng mang nó theo.” Vicky nói không chớp mắt: “Em nghĩ tất cả chúng em đều giữ danh sách của mình.”

Đó là lúc tôi ngồi bệt xuống và khóc. Khóc vì Mark và vì bạn Mark- những người sẽ không bao giờ gặp lại cậu ấy nữa.

Hồng Hải – Nhất Thương- Vĩnh Thanh dịch

.

All The Good Things

He was in the first third grade class I taught at Saint Mary’s School in Morris, Minn. All 34 of my students were dear to me, but Mark Eklund was one in a million. Very neat in appearance, but had that happy-to-be-alive attitude that made even his occasional mischievousness delightful.

Mark talked incessantly. I had to remind him again and again that talking without permission was not acceptable. What impressed me so much, though, was his sincere response every time I had to correct him for misbehaving. “Thank you for correcting me, Sister!” I didn’t know what to make of it at first, but before long I became accustomed to hearing it many times a day.

One morning my patience was growing thin when Mark talked once too often, and then I made a novice-teacher’s mistake. I looked at him and said, “If you say one more word, I am going to tape your mouth shut!”
It wasn’t ten seconds later when Chuck blurted out, “Mark is talking again.” I hadn’t asked any of the students to help me watch Mark, but since I had stated the punishment in front of the class, I had to act on it.

I remember the scene as if it had occurred this morning. I walked to my desk, very deliberately opened my drawer and took out a roll of masking tape. Without saying a word, I proceeded to Mark’s desk, tore off two pieces of tape and made a big X with them over his mouth. I then returned to the front of the room. As I glanced at Mark to see how he was doing he winked at me. That did it! I started laughing. The class cheered as I walked back to Mark’s desk, removed the tape and shrugged my shoulders. His first words were, “Thank you for correcting me, Sister.”

At the end of the year I was asked to teach junior-high math. The years flew by, and before I knew it Mark was in my classroom again. He was more handsome than ever and just as polite. Since he had to listen carefully to my instructions in the “new math,” he did not talk as much in ninth grade as he had in the third.
One Friday, things just didn’t feel right. We had worked hard on a new concept all week, and I sensed that the students were frowning, frustrated with themselves – and edgy with one another. I had to stop this crankiness before it got out of hand. So I asked them to list the names of the other students in the room on two sheets of paper, leaving a space between each name. Then I told them to think of the nicest thing they could say about each of their classmates and write it down.

It took the remainder of the class period to finish the assignment, and as the students left the room, each one handed me the papers. Charlie smiled. Mark said, “Thank you for teaching me, Sister. Have a good weekend.”

That Saturday, I wrote down the name of each student on a separate sheet of paper, and I listed what everyone else had said about that individual. On Monday I gave each student his or her list. Before long, the entire class was smiling. “Really?” I heard whispered. “I never knew that meant anything to anyone!” “I didn’t know others liked me so much!”

No one ever mentioned those papers in class again. I never knew if they discussed them after class or with their parents, but it didn’t matter. The exercise had accomplished its purpose. The students were happy with themselves and one another again.

That group of students moved on. Several years later, after I returned from vacation, my parents met me at the airport. As we were driving home, Mother asked me the usual questions about the trip, the weather, and my experiences in general. There was a light lull in the conversation. Mother gave Dad a side-ways glance and simply says, “Dad?” My father cleared his throat as he usually did before something important. “The Eklunds called last night,” he began. “Really?” I said. “I haven’t heard from them in years. I wonder how Mark is.”

Dad responded quietly. “Mark was killed in Vietnam,” he said. “The funeral is tomorrow, and his parents would like it if you could attend.”

I had never seen a serviceman in a military coffin before. Mark looked so handsome, so mature. All I could think at that moment was, Mark, I would give all the masking tape in the world if only you would talk to me.
The church was packed with Mark’s friends. The pastor said the usual prayers, and the bugler played taps.

One by one those who loved Mark took a last walk by the coffin and sprinkled it with holy water.
I was the last one to bless the coffin. As I stood there, one of the soldiers who had acted as pallbearer came up to me. “Were you Mark’s math teacher?” he asked. I nodded as I continued to stare at the coffin. “Mark talked about you a lot,” he said.

After the funeral, most of Mark’s former classmates headed to Chucks farmhouse for lunch. Mark’s mother and father were there, obviously waiting for me. “We want to show you something,” his father said, taking a wallet out of his pocket. “They found this on Mark when he was killed. We thought you might recognize it.”
Opening the billfold, he carefully removed two worn pieces of notebook paper that had obviously been taped, folded and refolded many times. I knew without looking that the papers were the ones on which I had listed all the good things each of Mark’s classmates had said about him. “Thank you so much for doing that.” Mark’s mother said. “As you can see, Mark treasured it.”

Mark’s classmates started to gather around us. Charlie smiled rather sheepishly and said, “I still have my list. It’s in the top drawer of my desk at home.” Chuck’s wife said, “Chuck asked me to put this in our wedding album.” “I have mine too,” Marilyn said. “It’s in my diary.” Then Vicki, another classmate, reached into her pocketbook, took out her wallet and showed her worn and frazzled list to the group. “I carry this with me at all times,” Vicki said without batting an eyelash. “I think we all saved our lists.”

That’s when I finally sat down and cried. I cried for Mark and for all his friends who would never see him again.

Unknown Author

Thank you God – Cảm ơn Chúa

Thank you God
For giving me a life
For making me who I was
Who I am
And who I will be
For all the easy times and hard times
All the smooth roads and rough roads
All the successes and failures
All the fortunes and misfortunes
All the days and nights
All the sunshine and darkness
All the pains and pleasures
All strengths and weaknesses
All the loneliness and companions
All the friends and enemies
All the joys and miseries
All the tears and laughters
All of me
All of Life
And All of You

Amen

.

Cảm ơn Chúa
Đã cho con cuộc đời
Đã tạo ra con là con như thế
Trong quá khứ
Hiện tại,
Và tương lai
Đã cho con thời dễ và khó
Đường êm và lởm chởm
Thành công và thất bại
Tài sản và thất tán
Ngày và đêm
Anh nắng và bóng tối
Đau khổ và sướng vui
Cô đơn và gắn bó
Bạn và thù
Nước mắt và tiếng cười
Tất cả con
Tất cả Đời
Tất cả Chúa

Amen

Trần Đình Hoành

Về Quê Nghe Tiếng Chim Bắt Cô Trói Cột


Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh
Ta xuống đồng, lúa mừng vui vẫy gọi
Cánh cò chao nghiêng ướm hỏi đôi điều
Ừ, nơi đây ta từng gieo kỉ niệm
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Ta cứ ngỡ quê nhà xưa vẫn vậy
Còn người thương gội bồ kết ướt lưng ong
Trăng vẫn cũ – con đường xưa lại mới
Hết đá vấp chân- sao lại nhói đau lòng!
Biết sao được chuyện của đời dâu bể
Sông có tự ngàn xưa chừ cũng xoay dòng
Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong.
Chim chỉ gọi- chẳng bắt ai trói cột
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa vườn xưa buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Trích từ tập TRƯỚC SÔNG THU.- Thơ Dương Quang Anh

Cảm nhận:

Một lần đêm quê, ngồi chơi cữ rượu độ gần tàn, người hàng xóm hứng chí ngâm lên:

Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh

Cả bàn rượu lặng im. Còn tôi, câu thơ thứ nhì cứ treo lơ lửng trong đầu. Về sau, tôi đã tìm đọc trọn vẹn bài thơ ấy. Bài thơ tôi giới thiệu ở trên.

Bài thơ có cái duyên ngầm bởi bắt được một điệu quê. Với đa phần người, cái hồn quê thường thức dậy từ cánh diều mùa thu hay điệu lí mỗi chiều. Với Dương Quang Anh, thật đến bất ngờ là cái hồn quê lại dóng lên khắc khoải từ một loài chim chẳng mấy khi được chọn làm thi liệu: Chim bắt cô trói cột.

Và theo âm vang của nốt nhạc lạc loài ấy, khách tình quê đi về với cánh cò, đồng lúa, mùa trăng xưa và con đường cũ. Những bước lang thang mà định hướng cho cả một mùa kí ức.

Bắt được giai âm, tác giả như tình cờ được tặng luôn cả một giai điệu. Toàn bài thơ tuy có đôi chỗ phá cách nhưng chung qui vẫn nền nả mặn mà bằng điệu thơ tám chữ có phần xưa cũ. Ấy vậy mà giọng điệu rất quen thuộc ấy, tôi nghĩ, mới thật là một chọn lọc.

Có tình, có điệu. Chưa hết, tôi muốn bàn đến cái tứ của bài thơ. Phải nói thơ anh vừa xúc cảm vừa chắc trong cấu tứ. Ở mỗi khổ thơ, tác giả đã biết để lại một câu hay, một ý đắc để làm những chiếc đinh giữ vững bộ khung của thơ mình.

Ngang đồng lúa, người thơ tự hỏi:
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Và trên quê xưa, đường nhựa phẳng lì thay cho những bậc đá ngày nào còn mấp mô trong kí ức, sao lòng lại xốn xang:

Hết đá vấp chân sao lại nhói đau lòng

Và đây là thái độ của người đã quá cái ngưỡng tri thiên mệnh trước mọi ngã đời dâu bể:

Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong

Và bài thơ kết lại đúng nghĩa trữ tình. Kết mà không mở ra một cục diện mới nào, kết trong một thủy chung cảm xúc:

Chim vẫn gọi chẳng bắt ai trói buộc
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa đường làng buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Tôi cũng thế, vùng vẫy mãi mà chẳng thể thoát ra khỏi những sợi tơ chăng mắc bằng ngôn ngữ trữ tình ấy. Bỡi tôi cũng là một người quê. Cũng đôi lần đi về quê xưa mà nghe thời gian còn phảng phất một màu kí ức. Và như để trả nợ cho một tình quê, tôi giải tỏa bằng một vài cảm nhận. Hẳn cũng quê kệch như tiếng “bắt cô trói cột” kia. Song lại là một điệu quê, có ai người đồng điệu?

Nguyễn Tấn Ái

Nữ Thần Tự Do – Bài thơ “The New Collosus” của Emma Lazarus

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu với các bạn bài thơ “New Collosus” của thi sĩ  Emma Lazarus. Bài thơ này được khắc trên một tấm biển ở dưới chân tượng Nữ thần tự do ở thành phố New York vào năm 1903.

Xa xa phía ngoài khơi, những đoàn người nhập cư mệt mỏi vượt biển đi đến thành phố New York qua hơn hai thế kỷ nay. Họ bỏ đi tất cả, quê hương, của cải, người thân để đem đánh cuộc tính mạng  mình trên một con tàu vượt đại dương đi tìm sự sống mới.

Họ là ai? Những người Ba Lan chạy sang Mỹ từ chiến tranh thế giới thứ nhất? Những người Tiệp chạy khỏi nhà độc tài Milosevic? Những người Âu sang đi tìm miền đất hứa? Những người tị nạn tôn giáo qua Mỹ từ thế kỷ 17? Những người muốn tìm cuộc sống kinh tế tốt hơn vì ở nước họ nghèo quá?

Hơn một thế kỷ qua, Nữ thần Tự do đứng đó nghiêm nghị trong gió buốt lạnh của hải cảng New York, đôi mắt bà nhìn xa xôi. Làn da bà đã phai màu vì gió và nước biển. Một tay bà cầm quyển hiến pháp nước Mỹ, và tay kia cầm một ngọn đuốc đỏ. Ngọn đuốc đó là tia sáng âm ỉ gần tàn, tia sáng bị đe dọa dập tắt trong con tim của bao thế hệ con người, tia sáng của Tự do.

Bài thơ “New Collosus” ở dưới chân tượng đó khiến mình suy nghĩ nhiều về ước vọng của con người. Sao một người ăn mày trên vỉa hè thành phố New York vất vả vô cùng mà mắt họ vẫn ánh lên vẻ sung sướng, và một anh đại gia trọc phú ở một nước xa xa bên kia bờ đại dương sao khuôn mặt u tối làm vậy? Phải chăng đó là Tự do? Hít thở được không khí của Tự do? Cái thứ không khí vào mọi  con đường, ngõ ngách, và lồng ngực con người.

Ở dưới đây, là đoạn nhật ký ngắn diễn tả cảm xúc của mình về bài thơ này và ngày mùng 4 tháng 7 năm 2009, và sau đó là bài thơ

”Bài thơ này nằm bên dưới suy nghĩ của mình vào ngày 4/7/2009 khi mình ngắm pháo hoa từ thành phố Jersey City. Ở đó, người ta có thể thấy cả tượng Nữ thần Tự do và Trung Tâm Macy, nơi mà những ngọn pháo hoa được bắn lên trời cao. Chúng đứng cạnh nhau (trung tâm Macy với pháo hoa và tượng Nữ thần Tự do). Thành phố đầy ánh sáng, tii đang bật và những talkshow đang chạy trên màn hình. Nữ thần đứng nghiêm, lạnh lẽo trong gió, và đưa cái nhìn của bà ra xa.

”Tượng khổng lồ mới” được khắc trên một tấm biển ở chân tượng Nữ thần Tự do. “

This poem underlined my thought on 7/4/2009 witnessing the fireworks from Jersey City. There, one could see both the Lady of Liberty and the Macy’s center where the fireworks were shot into the sky. They stood side by side. The city was full of light, television was on and and the talk was running. The lady stood sharp, cold in the wind, extending her look.

“The New Colossus” was engraved on a tablet in the pedestal on which the statue stands.
.

Tượng khổng lồ mới

    Emma Lazarus

Không giống như tượng đồng danh tiếng của Hy Lạp,

Với những cánh tay chinh phục sải dài từ xứ này sang xứ khác;

Nơi đây tại cửa biển hoàng hôn sóng vỗ

Đứng người đàn bà phi thường với ngọn đuốc, mà lửa đuốc

Là sấm sét bị cầm tù, và tên nàng

Di dân - Ellis Island (New York) - 1912

Mẹ Của Những Kẻ Tha Hương. Từ bàn tay cầm đèn hiệu đó

Sáng rực lời chào tỏa khắp thế giới; đôi mắt dịu hiền của nàng trị vì

Hải cảng lộng gió giữa hai thành phố. *

“Cứ giữ lấy những mảnh đất xa xưa, những cổ tích hoa lệ của các ngươi!”, nàng kêu gào.

Môi mím chặt. “Trao ta những kẻ mệt mỏi, nghèo đói của các ngươi,

Những đám đông chen chúc của các ngươi đang mong ước hít thở tự do,

Những rác rưởi khốn cùng trên bờ biển đông đúc của các ngươi.

Trao ta, những người vô gia cư, dập vùi trong bão tố,

Ta sẽ nâng đèn rọi bên cạnh cánh cửa vàng!”

(Nguyễn Minh Hiển dịch)

Chú Thích: (*) Hai thành phố là New York và New Jersey

.

The New Colossus

    by Emma Lazarus

Not like the brazen giant of Greek fame,
With conquering limbs astride from land to land;
Here at our sea-washed, sunset gates shall stand
A mighty woman with a torch, whose flame
Is the imprisoned lightning, and her name
Mother of Exiles. From her beacon-hand
Glows world-wide welcome; her mild eyes command
The air-bridged harbor that twin cities frame.
“Keep ancient lands, your storied pomp!” cries she
With silent lips. “Give me your tired, your poor,
Your huddled masses yearning to breathe free,
The wretched refuse of your teeming shore.
Send these, the homeless, tempest-tost to me,
I lift my lamp beside the golden door!”

Cư trần lạc đạo

Chào các bạn,

Trần Nhân Tông (1258-1308) là vua Đại Việt thứ ba của nhà Trần. Trước đó là Trần Thái Tông và Trần Thánh Tông.

Sau khi nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, vua Trần Nhân Tông, dưới sự hướng dẫn của Tuệ Trung Thượng Sĩ, lên núi Yên Tử tu thiền, và tập hợp ba dòng thiền tại Việt Nam lúc đó là dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci), dòng Vô Ngôn Thông, và dòng Thảo Đường, thành Thiền phái Trúc Lâm, còn tồn tại cho đến ngày nay với Trúc Lâm Thiền Viện ở Đà Lạt do thiền sư Thích Thanh Từ chủ trì.

Hôm nay chúng ta sẽ nghiên cứu một bài thiền thi ngắn nhưng rất sâu sắc của vua Trần Nhân Tông, là bài Cư trần lạc đạo, vừa đăng gần đây trong slideshow Thiền Thi.

Cư trần lạc đạo

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu báo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền

    Trần Nhân Tông
    (Trần Khâm 1258-1308)


Sống đời vui đạo

Sống đời vui đạo cứ tùy duyên
Đói thì ăn no mệt ngủ liền
Trong nhà có của, đừng tìm nữa
Nhìn cảnh vô tâm, hỏi chi thiền

    TĐH dịch

Sống đời vui đạo cứ tùy duyên. Sống đời vui đạo. Không phải là “trốn đời vui đạo” theo kiểu “Lan và Điệp” như mọi người thường lầm tưởng. Đời và đạo là sống và vui.

“Đời đạo là sống vui. Đạo đời là vui sống.”

Có “sống đời” thì mới “vui đạo” được. Vì đời là đạo và đạo là đời. Ngoài đời không có đạo, ngoài đạo không có đời. Như thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác nói trong Chứng Đạo Ca :

Vô minh thực tính tức phật tính
Huyễn hóa không thân tức pháp thân

Giải thích:

Bản tính thực của vô minh (si mê) chính là tính phật
“Thân không thực” huyền ảo này chính là thân (thực) của tất cả mọi thứ

Đây cũng chính là “sắc bất dị không, không bất dị sắc” (sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc) của Bát Nhã Tâm Kinh.

• Muốn “sống đời vui đạo” thì phải “tùy duyên” Chữ “duyên” là chữ bao gồm toàn bộ tư tưởng Phật học.

“Duyên” là nhân quả. Những gì xảy ra bây giờ là kết quả của tất cả mọi nguyên nhân (mọi nhân duyên) trước đó—một tích tắc trước cũng như vô lượng kiếp trước—và là nguyên nhân của những gì sau đó—một tích tắc sau cũng như vô lượng kiếp sau.

(Chỉ cần hiểu hết được lý‎ lẽ của chữ duyên—thập nhị nhân duyên, mười hai bước nhân duyên của cuộc đời—là đã có thể giác ngộ thành Bích Chi Phật)

“Tùy duyên” là “theo duyên”. Nghĩa là chuyện gì xảy đến cũng có l‎ý do của nó, cứ thuận theo đó mà sống–không cần phải chống lại nó, không cần phải phàn nàn về nó, không cần phải lo âu về nó, không cần phải stress về nó, như là:

Đói thì ăn no, mệt ngủ liền.

Chẳng ai phàn nàn tại sao đói. Chẳng ai thắc mắc tại sao mệt. Chẳng ai đau khổ mỗi khi đói bụng hay buồn ngủ.

Vậy thì, bệnh thì tìm thuốc chữa, cần tiền thì đi làm kiếm tiền, cần thi đậu thì học, cần hết stress thì giải stress…

Việc gì phải làm thì làm, chẳng lý do gì phải stress, phải phàn nàn, phải trách móc, phải giận dữ, phải đau khổ, phải than thân trách phận, phải tiêu cực.

Trong nhà có của, đừng tìm nữa.

Cái gì là báu vật vậy? USD? Hột xoàn mười mấy cara?

Không. Báu vật đó là cái tất cả mọi người trong thiên hạ đi tìm: Hạnh phúc.

Hạnh phúc: Nhà Phật gọi là Niết Bàn—hoàn toàn tĩnh lặng, hoàn toàn an lạc, thành người tĩnh thức, thành Phật.

Nhưng Niết Bàn không nằm ngoài ta—Niết Bàn đã có sẵn trong tâm ta. Phật cũng không nằm ngoài ta, Phật đã nằm sẵn trong tâm. Mỗi người chúng ta là Phật đang thành, là Niết Bàn sắp hiện.

Đừng tìm Phật bên ngoài, đừng tìm Niết Bàn bên ngoài. Trong nhà có của, đừng tìm nữa.

Nhìn cảnh vô tâm, hỏi chi thiền.

Nhìn cảnh thì thấy cảnh, đừng “chú giải” thêm vào cảnh đó. Như là nhìn“mưa rơi trên mái hiên” thì thấy “mưa rơi trên mái hiên”, chứ đừng chú giải thêm là “mưa rơi trên mái hiên buồn tênh” hay “mưa rơi trên mái hiên như những bước nhảy nhót của người yêu.”

Phụ chú tình cảm chủ quan vào “cảnh” ta thấy, là có tâm ý.

Chỉ nhìn cảnh, thấy cảnh, nhưng không phụ chú, không tam quốc diễn nghĩa thêm vào, gọi là “không tâm ý”, tức là “vô tâm.”

“Nhìn cảnh vô tâm” tức là nhìn người chửi mình mà không nổi giận; nhìn bệnh tật đến với mình mà không sợ hãi; nhìn nguy hiểm trước mắt mà không kinh khiếp; nhìn đống vàng mà không hoa mắt; nhìn danh vị mà không ham hố; nhìn quyền lực mà không say mê; nhìn túi quần không một xu teng mà không mặc cảm; nhìn thân thể tật nguyền mà không tủi thân, nhìn thế lực địa vị trong tay mà không kiêu mạn…

Điều gì đến thì đến, điều gì phải làm thì làm. Đến thì đến, nhìn thì nhìn, làm thì làm, nhưng tâm luôn bình lặng, luôn thoải mái, luôn an lạc.

Đó là vô tâm.

Và đó là Hạnh phúc, là Niết Bàn, là Phật tính.

Đối cảnh vô tâm. Nhìn cuộc đời với con tim hoàn toàn tĩnh lặng.

Như thế thì không còn tham lan, sân hận, si mê, kiêu mạn, sợ hãi, làm cho tâm bị mù lòa nữa.

Lúc đó tự nhiên ta thấy được của báu đã có sẵn trong nhà—cái tâm tĩnh lặng của mình, Phật tính của mình, Niết Bàn của mình.

“Đối cảnh vô tâm” là Phật, là Niết Bàn, là an lạc, là Hạnh phúc.

Thế thì đâu cần phải hỏi chi đến thiền, hay tu, hay pháp?

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Nói chuyện với Thượng đế

Trong mơ tôi thấy mình được gặp Thượng Đế.
Thượng Đế hỏi tôi: “Nhà ngươi có điều gì muốn hỏi ta chăng?”
Tôi đáp:”Con rất muốn được hỏi chuyện ngài, nhưng con không biết ngài có thời gian không ạ”
Thượng Đế cười và nói: “Thời gian của ta là vĩnh hằng, ngươi muốn hỏi điều gì thì cứ hỏi đi”

“Ngài thấy điều kì quặc nhất của loài người là gì?”

Thượng Đế trả lời:

“Họ chán ngán với cuộc sống của một đứa con nít, chỉ muốn nhanh chóng được làm người lớn, nhưng khi già rồi lại hi vọng được trở lại tuổi thơ ấu.”

“Họ hy sinh sức khỏe của bản thân để đổi lấy tiền bạc, sau đó lại hy sinh tiền bạc để hồi phục sức khỏe.”

“Họ luôn lo lắng cho tương lai, mà quên mất hiện tại; điều đó có nghĩa, họ không sống với thực tại và cũng không sống với tương lai.”

“Khi sống họ sống giống như họ sẽ không bao giờ chết, nhưng khi sắp chết họ lại giống như mình chưa bao giờ được sống …”

Thượng Đế nắm lấy tay tôi rồi dừng lại trong giây lát.

Tôi lại hỏi: “Là Thượng Đế, ngài có kinh nghiệm gì truyền đạt cho chúng con không?”

Thượng Đế cười và nói:

“Họ nên biết rằng sống trên đời không thể lấy lòng hết tất cả mọi người, điều mà họ có thể làm và nên làm là sống sao cho mọi người yêu quý lấy mình.”

“Họ nên biết rằng, cái quý giá nhất của cuộc đời không phải là họ có những của cải gì mà là bên cạnh họ sẽ là những ai.”

“Họ nên biết rằng, so bì với người khác là điều không tốt.”

“Họ nên biết rằng, người giàu không có nghĩa sẽ phải có thật nhiều yêu cầu mà họ nên yêu cầu ít đi một chút.”

“Họ nên biết rằng, để tạo ra một vết thương lòng lên người mình yêu thương sẽ chỉ cần có vài giây, nhưng để làm lành vết thương đó họ phải cần đến vài năm thậm chí dài hơn thế nữa.”

“Họ nên học cách làm thế nào để có thể khoan dung, độ lượng với người khác.”

“Họ nên biết rằng, có vài người yêu họ rất nhiều, nhưng không biết cách làm thế nào để diễn đạt tình cảm của mình.”

“Họ nên biết rằng, tiền có thể mua được rất nhiều thứ, nhưng tiền không thể mua được hạnh phúc.”

“Họ nên biết rằng, khi hai người cùng nhìn chung một sự vật, những điều mà họ nhìn ra được không hề giống nhau”

“Họ nên nhớ rằng, nhận được sự khoan dung của người khác thôi là không đủ, họ cũng cần phải biết khoan dung với bản thân”

“Họ nên biết rằng, ta luôn luôn tồn tại.”

Kiều tố Uyên dịch từ Trung văn

Glorify Vietnamese Teachers

Teachers’ Day has long rooted into Vietnamese mind and whenever this day comes, the atmosphere of student’s excitement and teacher’s happiness shrouds everyplace. Nov 20th is a wonderful chance for us to show respect and appreciation to our teachers, who inspire the passion of learning and lead the way for us. We have nine months to go to school but just one day to glorify our beloved teachers; therefore, this day is much more meaningful and special to Vietnamese people, and no one can forget it.


Education is one of the national policies and teaching always has a significant footing in Vietnamese society. Mentioning to this career, we can’t miss the ones who bring the letters to kids and raise their dreams high up to the sky. These teachers’ merits should be endless and nothing in the world can be preciously compared. Without the teachers we can’t become who should be today. No matter how you are rich or successful, you also can’t forget the one who taught you what’s right or wrong, nor deny their overflowing devotion to you. What they teach you will become the luggage and guide that follow you for the whole life!

Although the majority of remote areas in Vietnam still stay poor and isolated away from the centers, not quite a few of teachers, with all their love to distant kids, overcome their own difficulties and devote their life to bring education for the students. In fact the way the teachers call for kids to go to school is not easy at all; especially in Northwest region, rural places and Central Highlands, this matter gives much more challenges. All the teachers do is just satisfying the thirst for schooling and awaking the love for studiousness of their tender children.

To be honest, expensive gifts are not the best ones that your teachers would like to take. The teachers never expect that you will become this gentleman or that lady, but they would be so elated to see that you can apply what you learn at school into reality and set foot into life. It’s a priceless spiritual gift for them! Over many years Vietnam has remarkably changed, but the good tradition of Nov 20th still remains. The students are so eager to take part in their schools’ entertainment activities such as art, writing, sports, singing, party, etc… in order to welcome this special, sacred day. In the meantime, they also prepare lovely presents together with beautiful flowers for their great teachers.

To all Vietnamese people, just one day to show thank and gratitude to the teachers seems not enough because their distinguished services to many generations of students can’t be revealed. A special day for both teachers and students to sit side by side, sharing feelings and enjoying holy moments altogether. It’s just one day, but one day of meaningfulness!

Quan Jun

.

TÔN VINH NHÀ GIÁO VIỆT NAM

Ngày Nhà Giáo từ lâu đã ăn sâu vào trong tâm trí người Việt nam và bất cứ khi nào đến ngày này, không khí phấn khởi của học sinh và niềm vui của những người thầy tràn ngập khắp nơi. Ngày 20 – 11 là cơ hội tuyệt vời cho chúng ta thể hiện lòng kính yêu và sự biết ơn đối với những người thầy của mình, những người đã truyền cảm hứng vào những bài học và dẫn lối cho chúng ta. Chúng ta đi học 9 tháng những chỉ có 1 ngày để tôn vinh những người thầy giáo yêu quý của mình; vì vậy, ngày này càng có nhiều ý nghĩa hơn và rất đặc biệt đối với người Việt Nam, và không ai có thể quên được.

Giáo dục là một trong những chính sách của quốc gia và việc dạy học luôn có một chỗ đứng rất quan trọng trong xã hội Việt Nam. Nhắc đến nghề này, chúng ta không thể bỏ qua được những người đã đem những con chữ đến với những đứa trẻ và nâng những giấc mơ của chúng cao lên tới bầu trời xanh. Công lao của những người thầy này là vô tận và không có gì trên thế giới này có thể quý giá bằng. Nếu không có những người thầy, chúng ta sẽ không thể nào được như hôm nay. Cho dù bạn có giàu có hay thành đạt như thế nào, bạn cũng không thể nào quên được những người đã dạy cho bạn biết phân biệt đúng sai, hay phủ nhận sự tận tâm của họ giành cho bạn. Những điều mà họ dạy sẽ trở thành hành trang và sự chỉ dẫn cho bạn trong suốt cuộc đời!

Mặc dù phần lớn vùng xa của Việt Nam vẫn còn nghèo đói và cách xa trung tâm, không ít những người thầy, cùng với tấm lòng yêu mến của họ dành cho những đứa trẻ vùng xa, đã vượt qua những khó khăn của chính họ và dành cuộc đời mình dạy dỗ học trò. Thực tế là cách những người thầy đó kêu gọi học sinh tới trường không dễ chút nào; nhất là ở vùng Tây Bắc, vùng nông thôn và Tây Nguyên , vấn đề này còn đặt ra nhiều thử thách hơn nữa. Tất cả những gì những người thầy làm được chỉ là thỏa mãn niềm khao khát được đi học và đánh thức lòng yêu thích học tập của những đứa trẻ non nớt của họ.

Thật sự là, những món quà đắt tiền không phải là những món quà tốt nhất mà thầy giáo của bạn muốn nhận. Người thầy không bao giờ trông chờ bạn sẽ trở thành quý ông này hay quý bà nọ, nhưng họ sẽ rất tự hào khi thấy rằng bạn có thể áp dụng những gì học được ở trường vào cuộc sống và bước chân vào đời. Đó mới chính là món quà tinh thần vô giá cho họ. Qua nhiều năm Việt Nam đã thay đổi rất nhiều, nhưng truyền thống tốt đẹp của ngày 20-11 vẫn còn lại. Học trò rất háo hức tham gia vào những hoạt động giả trí của trường như là mỹ thuật, viết văn, thể thao, ca hát, tiệc tùng, . . . để chào mừng ngày đặc biệt và thiêng liêng này. Trong lúc đó, chúng cũng chuẩn bị những món quà đáng yêu cùng với những đóa hoa thật đẹp cho những người thầy vĩ đại của mình.

Đối với tất cả người Việt nam, chỉ có một ngày để biểu lộ lòng biết ơn với thầy cô có vẻ như không đủ bới vì chúng ta không thể cảm nhận hết được sự giúp đỡ đặc biệt của họ đối với nhiều thế hệ học sinh . Một ngày đặc biệt cho cả giáo viên và học sinh ngồi cạnh nhau, chia sẻ những cảm xúc và tận hưởng giây phút thiêng liêng cùng nhau. Chỉ có một ngày, nhưng đó là một ngày đầy ý nghĩa.

Lưu Anh Trí dịch

Thiên đàng và Địa ngục

Vị sư già ngồi bên vệ đường. Mắt nhắm nghiền, hai chân xếp bằng, hai tay đặt trên gối, sư ngồi đó, đắm chìm trong thiền định.

Bất thình lình, cất lên một giọng cộc cằn, khe khắt của một võ sĩ samurai.

“Này lão sư, hãy giảng cho ta nghe về Thiên đàng và Địa ngục!”

Ban đầu, như thể vị sư không nghe thấy gì hết, không một chút lay động trên gương mặt người. Rồi từ từ, ngài bắt đầu mở mắt, hơi thoáng một nụ cười trên môi, trong khi chàng võ sĩ đứng đó… chờ đợi… bồn chồn… từng giây trôi qua.. mỗi lúc thêm sốt ruột.

“Ngươi mà cũng muốn biết đâu là thiên đàng, đâu là địa ngục ư!?” cuối cùng vị sư cất tiếng. “Ngươi, kẻ trông thật nhếch nhác. Ngươi, với chân tay đầy ghét bẩn! Ngươi, đầu tóc bù xù, hơi thở thối tha, thanh gươm thì rỉ sét! Ngươi mà cũng muốn hỏi ta về Thiên đàng và Địa ngục sao?!”

Chàng võ sĩ thốt ra một tiếng chửi thề khủng khiếp. Anh giật phắt thanh kiếm ra khỏi vỏ và giơ lên cao khỏi đầu. Mặt đỏ tía tai, gân máu chạy rần rật quanh cổ khi anh chuẩn bị chém đầu vị sư già.

“Đó là Địa ngục,” Vị sư già nói với vẻ khoan dung, ngay lúc thanh kiếm đã bắt đầu chém xuống.

Trong tích tắc, chàng võ sĩ bừng tỉnh, ngạc nhiên tột độ, lòng vừa kính sợ vừa ngập tràn tình yêu thương dành cho vị đạo sĩ cao quý đã dám liều chính mạng sống của mình để chỉ cho anh một bài học. Anh ngừng thanh kiếm lại, mặt tràn đầy những giọt nước mắt biết ơn.

”Và đây,” nhà sư nói tiếp, “đây là Thiên đàng.”

LÊ THỊ HỒNG VÂN dịch

……………………………………………………….

THE SECRETS OF HEAVEN AND HELL

The old monk sat by the side of the road. With his eyes closed and his legs crossed and his hand folded in his lap, he sat in deep meditation, he sat.

Suddenly his zazen was interrupted by the harsh and demanding voice of a samurai warrior.

“Old man! Teach me about Heaven and Hell!”

At first, as though he had not heard, there was no perceptible response from the monk. But gradually, he began to open his eyes, the faintest hint of a smile playing around the corners of his mouth as the samurai stood there waiting… impatient… growing more and more agitated with each passing second.

“You would know the secrets of Heaven and Hell?” replied the monk at last. “You who are so unkempt. You whose hands and feet are covered with dirt. You whose hair is uncombed, whose breath is foul, whose sword is all rusty neglected. You would ask me of Heaven and Hell?”

The samurai uttered a vile curse. He drew his sword and raised it high above his head. His face turned to crimson, the veins on his neck stood out in bold relief as he prepared to sever the monk’s head from its shoulders.

“That is Hell,” said the old monk gently, just as the sword began its descent.

In that fraction of a second, the samurai was overcome with amazement, awe, compassion and love for this gentle being who had dared to risk his very life to give him such a teaching. He stopped his sword in mid-flight and his eyes filled with grateful tears.

“And that,” said the monk, “is Heaven.”

UNKNOWN

Kiên Trì

Khi thế giới tối dần
Sự vật không rõ nữa
Khi bóng đêm luẩn quất
Chúa ơi, con kiên trì.

Khi mọi thứ rời rã
Không tìm thấy lối đi
Hãy giúp con nhớ ra
Hành trình đôi khi chậm

Con nên dừng và nghỉ
Trên con đường đang đi
Là lúc để suy nghĩ
Trò chuyện với Chúa trời

Thêm sức mạnh con đi
Không hoài nghi lo sợ
Mọi thứ sẽ ổn thôi
Và thế, con kiên trì.

Hoàng Khánh Hòa dịch

.

Perseverance

When all the world is looming dark
And things seem not so clear
When the shadows seems to hover around
Lord I may persevere

When it seems everything’s been tired
And there’s no way to go
Just keep me remembering
Sometimes the journey’s slow

I may just need to stop and rest
Along the way I trod
A time I try to understand
And have my talk with God

As I gain new strength to carry on
Without a doubt or fear
Somehow I know things will be right
And so, I persevere.

By Anne Stortz

Các từ quan trọng nhất

Sáu từ quan trọng nhất: Tôi thừa nhận lỗi của tôi.

Năm từ quan trọng nhất: Bạn đã làm rất tốt.

Bốn từ quan trọng nhất: Bạn nghĩ thế nào?

Ba từ quan trọng nhất: Bạn làm ơn.

Hai từ quan trọng nhất: Cảm ơn.

Từ quan trọng nhất: Ta.

Từ kém quan trọng nhất: Tôi.

(Hoàng Khánh Hòa dịch)

.

The six most important words: I admit I made a mistake.
The five most important words: You did a good job.
The four most important words: What is YOUR opinion?
The three most important words: If you please.
The two most important words: Thank You.
The one most important word: We.
The least important word: I.” –

(Author Unknown)

Tình Bạn

Ở mẫu giáo, quan niệm của ta về một người bạn tốt là ai đó sẵn lòng nhường cho ta cây bút chì màu đỏ khi mà thứ duy nhất còn lại chỉ là mẫu bút chì đen xấu xí.

Vào lớp một, quan niệm của ta về một người bạn tốt là ai đó sẵn lòng cùng
ta vào nhà tắm, cùng nắm tay ta băng qua dãy hành lang đáng sợ kia.

Vào lớp hai, quan niệm của ta về một người bạn tốt là ai đó luôn đứng bảo vệ ta trước những đứa đầu gấu chuyên bắt nạt bạn bè.

Vào lớp ba, quan niệm của ta về một người bạn tốt là ai đó sẵn lòng chia sẽ bữa ăn trưa với ta những khi ta lỡ bỏ quên hộp cơm trưa trên xe buýt.

Vào lớp bốn, quan niệm của ta về một người bạn tốt là ai đó luôn sẵn lòng bắt cặp với ta trong điệu nhảy bốn đôi trong phòng tập để ta khỏi phải lung-ta-lúng-túng với thằng Nicky đáng ghét hoặc con bé Susan hôi hám kia.

Vào lớp năm, quan niệm của ta về một người bạn tốt là ai đó luôn giữ cho ta một chỗ ngồi trên xe buýt.

Vào lớp sáu, quan niệm của ta về một người bạn tốt là ai đó luôn đến gặp Nick hoặc Susan, người mà ta đang muốn làm quen, và đề nghị người đó ra nhảy với ta, để lỡ như người ấy có từ chối ta cũng không phải bị quê mặt.

Vào lớp bảy, quan niệm của ta về một người bạn tốt là ai đó sẵn lòng cho ta chép bài tập về nhà môn xã hội học mà đêm trước ta đã quên khoáy không kịp làm.

Vào lớp tám, quan niệm của ta về một người bạn tốt là ai đó sẵn lòng giúp ta đóng thùng cất đi mấy con thú cưng nhồi bông và mấy cái thẻ chơi bóng bầu dục cũ kỹ để giúp căn phòng của ta trông ra dáng “phòng của một học sinh lớp lớn”, nhưng sẽ không cười nhạo sau khi ta đã dọn xong và ngồi bật khóc.

Vào lớp chín, quan niệm của ta về một người bạn tốt là ai đó sẵn sàng cùng ta đến tham dự bữa tiệc “hoành tráng” của một học sinh lớp trên và giúp ta không bị cảm giác nhút nhát sợ sệt của kẻ mới bước chân vào trường trung học.

Vào lớp mười, quan niệm của ta về một người bạn tốt là ai đó sẵn lòng thay đổi lịch hẹn của mình để ta có bạn cùng ngồi ăn trưa.

Vào lớp mười một, quan niệm của ta về một người bạn tốt là ai đó sẵn lòng chở ta đi trên chiếc xe mới cáu của mình, giúp thuyết phục bố mẹ ta khỏi phải quá lo lắng về ta, an ủi khi ta chia tay với anh bạn trai Nick hoặc cô bé Susan, giúp tìm cho ta một người để hẹn hò khi ta cần đi dự một buổi tiệc khiêu vũ.

Vào lớp mười hai, quan niệm của ta về một người bạn tốt là ai đó sẵn lòng giúp ta chọn một trường đại học, giúp ta vững tin nộp đơn thi vào trường đó đồng thời giúp ta thuyết phục bố mẹ đồng ý với quyết định chọn trường của ta.

Khi tốt nghiệp, quan niệm của ta về một người bạn tốt là ai đó mặc dù đang có chuyện phải khóc thầm nhưng vẫn nở nụ cười rạng rỡ nhất khi bước đến chúc mừng ta.

Giờ đây, quan niệm của ta về một người bạn tốt vẫn là ai đó luôn dành cho ta chọn phần tốt hơn, nắm tay khi ta sợ hãi, đứng bên ta trước những kẻ luôn muốn phần hơn, nghĩ về ta những khi ta không có mặt ở đó, nhắc nhở ta những việc ta lỡ quên, giúp ta rũ bỏ quá khứ lại sau lưng, nhưng cũng sẽ là người luôn hiểu ta những khi ta muốn níu kéo quá khứ lại một chút; ai đó ở bên ta để giúp ta lấy lại tự tin; ai đó sẵn sàng gác lại công việc của mình để dành chút thời gian cho ta; ai đó giúp ta sửa lại lỗi lầm, giúp ta giải quyết áp lực và căng thẳng do những kẻ khác mang lại; ai đó luôn mỉm cười nghĩ về ta những khi người ấy buồn, ai đó giúp ta thành kẻ sống tốt hơn, và quan trọng hơn hết, ai đó luôn yêu thương ta!

LÊ THỊ HỒNG VÂN dịch
……………………………………………..

THOUGHTS OF FRIENDS

In kindergarten your idea of a good friend was the person who let you have the red crayon when all that was left was the ugly black one.

In first grade your idea of a good friend was the person who went to the bathroom with you and held your hand as you walked through the scary halls.

In second grade your idea of a good friend was the person who helped you stand up to the class bully.

In third grade your idea of a good friend was the person who shared their lunch with you when you forgot yours on the bus.

In fourth grade your idea of a good friend was the person who was willing to switch square dancing partners in gym so you wouldn’t have to be stuck do-si-do-ing with Nasty Nicky or Smelly Susan.

In fifth grade your idea of a friend was the person who saved a seat on the back of the bus for you.

In sixth grade your idea of a friend was the person who went up to Nick or Susan, your new crush, and asked them to dance with you so that if they said no you wouldn’t have to be embarrassed.

In seventh grade your idea of a friend was the person who let you copy the social studies homework from the night before that you had forgotten.

In eighth grade your idea of a good friend was the person who helped you pack up your stuffed animals and old baseball cards so that your room would be a “high schooler’s” room, but didn’t laugh at you when you finished and broke out into tears.

In ninth grade your idea of a good friend was the person who went to that “cool” party thrown by a senior so you wouldn’t wind up being the only freshman there.

In tenth grade your idea of a good friend was the person who hanged their schedule so you would have someone to sit with at lunch.

In eleventh grade your idea of a good friend was the person who gave you rides in their new car, convinced your parents that you shouldn’t be grounded, consoled you when you broke up with Nick or Susan, and found you a date to the prom.

In twelfth grade your idea of a good friend was the person who helped you pick out a college, assured you that you would get into that college and helped you deal with your parents who were having a hard time adjusting to the idea of letting you go.

At graduation your idea of a good friend was the person who was crying on the inside but managed the biggest smile one could give as they congratulated you.

Now, your idea of a good friend is still the person who gives you the better of the two choices, holds your hand when you’re scared, helps you fight off those who try to take advantage of you, thinks of you at times when you are not there, reminds you of what you have forgotten, helps you put the past behind you but understands when you need to hold on to it a little longer, stays with you so that you have confidence, goes out of their way to make time for you, helps you clear up your mistakes, helps you deal with pressure from others, smiles for you when they are sad, helps you become a better person, and most importantly loves you!

Unknown