Tag Archives: trà đàm

Message đầu tiên

Chào các bạn,

Đầu năm chúc mỗi người chúng ta và mọi người trong gia đình vui vẻ, khỏe mạnh, may mắn, và tư duy tích cực mỗi ngày 🙂

Vườn Chuối là vườn tư duy tích cực. Mọi chúng ta ở đây đều là những người rất bình thường, cố gắng sống tư duy tích cực mỗi ngày và mang tư duy tích cực đến cho đời mỗi ngày.

Chẳng có gì to tát, và chẳng có ai là siêu nhân cả.

Nhưng cuộc đời quanh ta đã có đủ rác rến, tiêu cực, chia rẽ, ngăn cách, đố kỵ, nghi ngờ, thiếu thành thật… Nếu chúng ta tự bước ra khỏi vòng cương tỏa đó được một tí, cuộc đời đẹp thêm một tí. Kéo được người bạn nào đi theo một tí, cuộc đời đẹp thêm một tí.

Mỗi chúng ta có đủ loại gánh nặng, khó khăn, và vấn đề cá nhân, như tất cả mọi người khác trên thế giới. Điều đó không cản được chúng ta tự thắp một ngọn nến nhỏ cho mình và cho thế giới.

Con đường chúng ta đi sẽ không có đích điểm cuối cùng. Vì đích điểm cuối cùng ai cũng đã biết rồi—đó là nghĩa trang, và ta muốn đến đó càng chậm càng tốt :-). Trong thời gian chờ đợi, cuộc hành trình là điều duy nhất có ý nghĩa.

Chúng ta là những lữ hành trong những chuyến đi của cuộc đời. Chỉ có điều cần làm là làm cho cuộc hành trình đó vui hơn, và có một tí ‎ý nghĩa cho chính ta và cho cuộc đời.

No Big Deal.

Chúc các bạn một năm mới tươi vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Nguyên Lý Đầu Tiên

Nếu đến chùa Obaku ở Kyoto ta sẽ thấy một dòng chữ khắc “Nguyên Lý Đầu Tiên”. Các chữ này lớn lạ thường, và những người rành thư pháp luôn luôn thán phục chúng như là những tác phẩm hàng đầu. Các chữ này do Kosen viết hai trăm năm về trước.

Lúc viết, thiền sư viết trên giấy, sau đó các nghệ nhân làm bản khắc lớn hơn bằng gỗ. Trong khi thiền sư viết, có một người đệ tử bạo gan ở bên cạnh, vị này đã hòa nhiều lít mực cho thiền sư để viết mấy chữ này và luôn luôn phê bình thư pháp của thiền sư.

“Chưa được,” vị đệ tử nói với Kosen sau lần viết đầu.

“Cái này thì sao?”

“Nghèo nàn. Dở hơn cái trước,” vị đệ tử nói.

Kosen kiên nhẫn viết hết tờ này đến tờ khác cho đến khi 84 chữ “Nguyên Lý Đầu Tiên” đã được viết, mà vị đệ tử vẫn chưa đồng ý.

Rồi, khi vị đệ tử bước ra ngoài một lúc, Kosen nghĩ: “Đây là cơ hội để mình thoát được con mắt sắc bén của hắn,” và thiền sư viết vội vã, với tâm trống rỗng mọi tạp niệm. “Nguyên Lý Đầu Tiên.”

“Một tác phẩm tuyệt vời,” vị đệ tử tuyên bố.

Bình:

• Ta không thể làm gì tốt nếu ta bị phân tâm. Lý‎ do phân tâm có thể là lý do rất tầm thường như là có học trò đứng phê phán. Ta có thể lo lắng và phân tâm rất phi lý‎, như là thầy sợ trò chê, chuyên gia sợ người không biết gì chê…

• Rộng hơn, trong đời sống hàng ngày, ta có thể bị phân tâm bởi đủ thứ tạp niệm: Sợ mọi người chê cười, sợ mất uy tín, sợ có người giận, sợ không ai khen… Các tạp niệm này làm ta phân tâm hàng ngày và chẳng làm được gì tốt.

• “Tâm trống rỗng mọi tạp niệm”—còn gọi là Vô Tâm–là Nguyên Lý đầu tiên của Thiền.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The First Principle

When one goes to Obaku temple in Kyoto he sees carved over the gate the words “The First Principle.” The letters are unusually large, and those who appreciate calligraphy always admire them as being a masterpiece. They were drawn by Kosen two hundred years ago.

When the master drew them he did so on paper, from which workmen made the larger carving in wood. As Kosen sketched the letters a bold pupil was with him who had made several gallons of ink for the calligraphy and who never failed to criticize his master’s work.

“That is not good,” he told Kosen after the first effort.

“How is that one?”

“Poor. Worse than before,” pronounced the pupil.

Kosen patiently wrote one sheet after another until eighty-four First Principles had been accumulated, still without the approval of the pupil.

Then, when the young man stepped outside for a few moments, Kosen thought: “Now is my chance to escape his keen eye,” and he wrote hurriedly, with a mind free from disctraction. “The First Principle.”

“A masterpiece,” pronounced the pupil.

# 19

Chuyện đời Shunkai

Gian nhân tuyệt sắc Shunkai, còn có tên là Suzu, bị bắt phải lấy chồng khi còn rất trẻ. Sau đó, khi cuộc hôn nhân chấm dứt, nàng đi học đại học, và học triết.

Thấy Shunkai là phải yêu nàng. Hơn nữa, đi đâu nàng cũng yêu. Tình yêu đến với nàng ở đại học, sau đó, khi triết lý không thỏa mãn nàng, nàng vào thăm một ngôi chùa để học Thiền, và thiền sinh si mê nàng. Cả đời nàng thấm ướt tình yêu.

Cuối cùng, ở Kyoto nàng trở thành một thiền sinh thật sự. Các bạn thiền sinh nam ở chùa Kennin đều ca ngợi sự thành tâm của nàng. Một người trong số thiền sinh nam có tâm ‎ý tốt và giúp nàng trong việc thực tập thiền.

Vị thầy trụ trì chùa Kennin là Mokurai, có nghĩa là Sấm Lặng, rất khó khăn. Thầy giữ gìn lề luật nghiêm nghặt và muốn các học trò cũng như thế. Trong nước Nhật của thời đại mới, nhiệt tâm nào các vị sư đã mất về Phật học các vị hình như tìm lại được về các bà vợ. Thầy Mokurai phải lấy chổi đuổi các bà đi khi thấy bà nào trong chùa. Nhưng thầy đuổi nhiều chừng nào, các bà ùa vào lại nhiều chừng nấy.

Trong chùa này, bà vợ của sư trưởng tràng ghen với cố gắng và sắc đẹp của Shunkai. Nghe các học trò ca ngợi sự tập Thiền nghiêm chỉnh của Shunkai, bà khó chịu không yên. Cuối cùng bà phao tin đồn về Shunkai và người thiền sinh đang giúp đở cô. Hậu quả là anh ta và Shunkai bị đuổi ra khỏi chùa.

“Tôi có thể là đã lầm lỗi trong tình yêu,” Shunkai nghĩ, “nhưng bà này cũng không thể ở trong chùa nếu bạn của tôi bị đối xử bất công.”

Đêm đó, Shunkai mang một thùng dầu lửa, đốt rụi ngôi chùa 500 tuổi. Sáng ra cảnh sát bắt nàng.

Một luật sư trẻ thích nàng và cố để giảm án cho nàng. “Đừng giúp tôi,” nàng bảo anh ta. “Có thể là tôi sẽ quyết định làm cái gì đó, lại mang tôi vào tù nữa.”

Cuối cùng, sau khi ở đầy đủ bản án 7 năm , Shunkai được thả khỏi nhà tù, nơi một vị quản giáo 60 tuổi đã yêu cô.

Nhưng bây giờ mọi người nhìn nàng là “tội phạm”. Chẳng ai muốn liên hệ với nàng. Ngay cả các thiền nhân, những người đáng lý ra là tin vào sự giác ngộ ở đời này với thân thể này, cũng tránh xa nàng. Thiền, Shunkai khám phá ra, là một chuyện nhưng các thiền nhân lại là một chuyện khác. Thân nhân nàng cũng không dính dấp với nàng. Nàng lâm bệnh, nghèo, và yếu.

Nàng gặp một vị sư vị sư Tịnh độ tông dạy nàng hồng danh Đức Quán Thế Âm, và nhờ đó nàng tìm được an ủi và bình an trong tâm. Nàng qua đời khi còn rất đẹp và chưa đến 30 tuổi.

Nàng viết câu chuyện về đời nàng trong một nỗ lực hoài công để kiếm sống, và kể lại một phần cho một nhà văn nữ. Vì vậy câu chuyện đời nàng đến với độc giả Nhật. Những người đã xua đuổi nàng, mạ lị nàng, ghét bỏ nàng, giờ đây đọc về cuộc đời nàng với những dòng nước mắt ăn năn.
.

Bình:

• Hồng nhan đa truân.

Nghiệp duyên…
Hay luật công bằng? “Càng nhiều sắc đẹp càng nhiều gian truân. Chữ tài liền với chữ tai một vần”?

• Nhưng…

Chuyện này nói về Shunkai, hay thực ra là nói về chúng ta, những người đang sống?

Chúng ta hay ghen ghét với người có sắc, có tài, có cái gì đó hơn ta. Cho nên người đẹp, người tài, người hấp dẫn, thì đi đâu cũng thường có kẻ thù… Và những người này khi gặp hoạn nạn, dù là oan ức, thì cũng không ai muốn đở cho họ, vì tính ghen ghét nói “Cho đáng đời!”

kỳ thị, cư xử với nhau bằng nhãn hiệu. Thấy người đã có tiền án thì lánh xa, ruồng bỏ (dù họ đã trả hết tội trong tù rồi).

đạo đức giả. Người sống thì ruồng bỏ, người đã chết thì mới nhỏ nước mắt. Tại sao? Vì người đã chết thì không còn gì đề ghen, cho nên bây giờ mới khóc được.

Vậy thì…

Yêu người thì hãy yêu người sống. Yêu bằng hành động thật sự, nhất là khi người ta gặp hoạn nạn. Và yêu không lệ thuộc vào nhãn hiệu.

• “Buddha of love” ở đây là Quán Thế Âm Bồ tát. Nhưng nhiều người ở Nhật còn dùng “Buddha of Love” như là một trong những tên và diện mạo của Phật Di Lặc (Maitreya hay Metteyya). Tên này có từ maitrī (Sanskrit) hay mettā (Pāli), có nghĩa là “loving-kindness” (từ bi), là các chữ đến từ chữ mitra (Sanskrit) hay mitta (Pāli) và có nghĩa là “bạn”.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

The Story of Shunkai

The exquisite Shunkai whose other name was Suzu was compelled to marry against her wishes when she was quite young. Later, after this marriage had ended, she attended the university, where she studied philosophy.

To see Shunkai was to fall in love with her. Moreover, wherever she went, she herself fell in love with others. Love was with her at the university, and afterwards, when philosophy did not satisfy her and she visited a temple to learn about Zen, the Zen students fell in love with her. Shunkai’s whole life was saturated with love.

At last in Kyoto she became a real student of Zen. Her brothers in the sub-temple of Kennin praised her sincerity. One of them proved to be a congenial spirit and assisted her in the mastery of Zen.

The abbot of Kennin, Mokurai, Silent Thunder, was severe. He kept the precepts himself and expected his priests to do so. In modern Japan whatever zeal these priests have lost of Buddhism they seem to have gained for their wives. Mokurai used to take a broom and chase the women away when he found them in any of his temples, but the more wives he swept out, the more seemed to come back.

In this particular temple the wife of the head priest became jealous of Shunkai’s earnestness and beauty. Hearing the students praise her serious Zen made this wife squirm and itch. Finally she spread a rumor about Shunkai and the young man who was her friend. As a consequence he was expelled and Shunkai was removed from the temple.

“I may have made the mistake of love,” thought Shunkai, “but the priest’s wife shall not remain in the temple either if my friend is to be treated so unjustly.”

Shunkai the same night with a can of kerosene set fire to the five-hundred-year-old temple and burned it to the ground. In the morning she found herself in the hands of the police.

A young lawyer became interested in her and endeavored to make her sentence lighter. “Do not help me,” she told him. “I might decide to do something else which would only imprison me again.”

At last a sentence of seven years was completed, and Shunkai was released from the prison, where the sixty-year-old warden had become enamored of her.

But now everyone looked upon her as a “jailbird.” No one would associate with her. Even the Zen people, who are supposed to believe in enlightenment in this life and with this body, shunned her. Zen, Shunkai found, was one thing and the followers of Zen quite another. Her relatives would have nothing to do with her. She grew sick, poor, and weak.

She met a Shinshu priest who taught her the name of the Buddha of Love, and in this Shunkai found some solace and peace of mind. She passed away when she was still exquisitely beautiful and hardly thirty years old.

She wrote her own story in a futile endeavor to support herself and some of it she told to a woman writer. So it reached the Japanese people. Those who rejected Shunkai, those who slandered and hated her, now read of her live with tears of remorse.

Annotation:

  • Beauty and suffering.

Karma…

Or the rule of compensation? “More beauty, more suffering. Gain rhymes well with pain”?

  • But…

This story is about Shunkai, or is it indeed about us, the living?

We are jealous of people with talents, beauty, or something better than ours. Hence, beautiful people, talented people and attractive people have enemies every where they go. When these people are met with misfortune, even unfairly, no one wants to help them. Jealousy likes to say: “They deserve it!”

And we discriminate, treating each other with labelism. Seeing an ex-convict, we stay away from her, even denying her (though she already paid her dues in jail).

And our hypocracy! We have shooed away the living and now she is dead, we shed tears for her. Why? Because, the dead has nothing to be jealous of?

So…

If we love people, then let’s love the living. Let’s love by action, especially when they are in distress. And let’s love without depending on the labelism.

(Trần Đình Hoành annotated)

Hãy Nhảy Múa Như Thể Không Ai Nhìn

Chúng ta thường tự nhủ rằng cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn sau khi chúng ta kết hôn, sinh con
Sau đó chúng ta vỡ mộng vì con cái chúng ta còn quá nhỏ, và cho rằng chúng ta sẽ đẹp lòng hơn một khi chúng lớn khôn.
Và chúng ta lại thất vọng khi con cái của mình đến tuổi niên thiếu vì chúng ta lại phải chăm sóc và lo lắng cho chúng. Ta thầm nghĩ chắc chắn chúng ta sẽ hạnh phúc hơn khi các con trưởng thành.

Chúng ta lại tự nhủ rằng cuộc sống rồi sẽ hoàn hảo một khi người bạn đời ta ổn định cuộc sống, khi chúng ta tậu được một chiếc xe đẹp hơn, khi chúng ta có thể đi nghỉ hè thoải mái, và là khi chúng ta được về hưu.
Sự thật là không có một thời điểm nào tốt đẹp và hạnh phúc bằng hiện tại cả. Nếu không đúng, vậy thì thời điểm nào là hạnh phúc nhất?
Cuộc sống của bạn luôn bị quay cuồng bởi các thách đố, các đòi hỏi và yêu cầu.
Tốt nhất là bạn nên nhận thấy điều này và quyết định rằng mình phải được hạnh phúc dù cuộc sống có như thế nào.

Một trong những câu danh ngôn của Alfred D. Souza mà tôi ưa thích nhất là :
“Một thời gian rất lâu, tôi cứ ngỡ rằng cuộc đời của tôi sắp bắt đầu – một cuộc đời thật sự.
Nhưng lúc nào cũng có một vài thử thách phải vượt qua, một việc còn phải hoàn tất ngay, vài việc khác dang dở , thời gian còn phải phân chia, còn một món nợ phải thanh toán. Sau đó, thì cuộc sống của ta sẽ bắt đầu.. ”

Cuối cùng tôi mới khám phá ra rằng, chính những trở ngại này là một phần của đời sống của tôi..
Từ cái nhìn này đã giúp tôi thấy được rằng không có con đường nào đi đến hạnh phúc cả.
Hạnh phúc chính LÀ con đường chúng ta đang đi..

Do đó hãy trân quý và tận hưởng mọi phút giây bạn có và trân quý nhiều hơn vì bạn đã chia sẻ nó với một người đặc biệt, rất đặc biệt để bạn có thể dành thời gian với người đó và nhớ rằng thời gian chẳng đợi ai

Vì vậy, không nên chờ đợi nữa, chờ đợi tốt nghiệp ra trường, chờ đợi ngày trở lại trường, chờ đợi xuống thêm vài ký, lên thêm vài ký, chờ đợi ngày có con, chờ đợi các con ra khỏi nhà, chờ đợi kết hôn, chờ nghỉ hưu, chờ đợi li dị, mong đợi đến tối thứ sáu, sáng chủ nhật, đợi sắm một chiếc xe mới, hay ngôi nhà mới, đợi trả nợ xe hay nhà xong, trông chờ xuân đến, hạ về, đợi đến thu đông, đầu tháng, cuối tháng, đợi nghe bản nhạc hay trên đài phát, đợi khi uống say, chờ ngày từ giã cỏi đời, ngày tái sinh …… trước khi quyết định rằng hiện tại là thời gian hạnh phúc nhất của mình.

Hạnh phúc là hành trình, chứ không phải là điểm đến.
Không có một giờ phút nào quý giá cho bằng… HIỆN TẠI!
Hãy sống và tận hưởng từng giây phút.

Huỳnh Huệ dịch

DANCE LIKE NO ONE’S WATCHING

We convince ourselves that life will be better after we get married, have a baby, then another. Then we’re frustrated that the kids aren’t old enough and we’ll be more content when they are. After that, we’re frustrated that we have teenagers to deal with. We think we’ll certainly be happy when they’re out of that stage.
We tell ourselves that our life will be complete when our spouse gets his or her act together, when we get a nicer car, are able to go on a nice vacation, when we retire.
The truth is, there’s no better time to be happy than right now. If not now, when?
Your life will always be filled with challenges. It’s best to admit this to yourself and decide to be happy anyway.

One of my favorite quotes comes from Alfred D. Souza. He said, “For a long time it had seemed to me that life was about to begin – real life. But there was always some obstacle in the way, something to be gotten through first, some unfinished business, time still to be served, or a debt to be paid. Then life would begin. At last it dawned on me that these obstacles were my life.”
This perspective has helped me to see that there is no way to happiness. Happiness IS the way. So, treasure every moment that you have and treasure it more because you shared it with someone special, special enough to spend your time with…and remember that time waits for no one.

So, stop waiting until you finish school, until you go back to school, until you lose ten pounds, until you gain ten pounds, until you have kids, until your kids leave the house, until you start work, until you retire, until you get married, until you get divorced, until Friday night, until Sunday morning, until you get a new car or home, until your car or home is paid off, until spring, until summer, until fall, until winter, until you’re off welfare, until the first or fifteenth, until your song comes on, until you’ve had a drink, until you’ve sobered up, until you die, until you’re born again to decide that there is no better time than right now to be happy.
Happiness is a journey, not a destination.

Crystal Boyd

Đường bùn

Tanzan và Ekido đi chung với nhau trên con đường bùn lầy. Mưa đang rơi nặng hạt.

Đến một khúc quanh, họ gặp một cô gái xinh xắn mặc Kimono và mang đai lưng, không vượt qua ngã tư được.

“Đi, cô em,” Tanzan nói ngay. Bế cô gái trên đôi tay, thiền sư mang cô qua vũng bùn.

Ekido chẳng hề nói một lời nào nữa, cho đến tối khi họ sắp đến chùa tạm nghỉ. Ekido không còn nhịn được. “Người tu hành chúng ta không kề cận phụ nữ,” Ekido nói với Tanzan, “nhất là các cô gái trẻ và đẹp. Nguy hiểm. Sao thầy làm vậy?”

“Thầy bỏ cô ấy xuống đằng đó rồi,” Tanzan nói. “Con còn bế cô ấy sao?”
.

Bình:

• Tanzan là vị giáo sư triết tại Đại Học Hoàng Gia (Nhật), mà ta vừa biết đến trong truyện Một Vị Phật.

• Tâm tỉnh thức, tâm Phật, là tâm không vướng mắc, tâm vô chấp.
Không vướng mắc với lề luật “nam nữ thọ thọ bất thân.”
Không vướng mắc với hình ảnh người đẹp và ái dục trong lòng.
Việc phải làm thì làm. Nên giúp cô ấy qua đường là giúp. Lề luật không quan trọng bằng giúp người.
Làm xong là quên, chẳng còn vướng gì trong tâm—không vướng bận về người đẹp, không vướng bận về chuyện phá luật, không vướng bận về chuyện người đó có nhớ ơn mình không…
Không gì cả. Tâm “Không.”

• Đằng khác, tâm chưa giác ngộ, như Ekido, dễ bị hoảng loạn và vướng bận đủ điều—lề luật, hình ảnh người đẹp, sợ hãi nguy hiểm, nghi ngờ thầy của mình…

• Sống là hành động giúp người khi người cần giúp. Tâm không vướng mắc thì hành động dễ. Tâm vướng mắc thì trói tư tưởng và trói cả tay chân, chẳng làm gì được, chẳng giúp ai được.

• Đầu đề của bài này là “Đường bùn.” Con đường có gì là quan trọng mà phải lấy nó làm đầu đề?

Chúng ta là những khách lữ hành trên con đường bùn của cõi ta bà. Nếu chúng ta tự mình lấm bùn, để bế những người khác qua đường cho khỏi lấm bùn, mà không nệ hà vướng bận gì cả, thì đó là Tâm Bồ Tát.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Muddy Road

Tanzan and Ekido were once travelling together down a muddy road. A heavy rain was still falling.

Coming around a bend, they met a lovely girl in a silk kimono and sash, unable to cross the intersection.

“Come on, girl,” said Tanzan at once. Lifting her in his arms, he carried her over the mud.

Ekido did not speak again until that night when they reached a lodging temple. Then he no longer could restrain himself. “We monks don’t do near females,” he told Tanzan, “especially not young and lovely ones. It is dangerous. Why did you do that?”

“I left the girl there,” said Tanzan. “Are you still carrying her?”

#14

Làm việc nhóm: Bách chiến bách thắng

Chào các bạn,

Có lẽ đến giờ này các bạn đã nghe nhiều lần, không cách này thì cách khác, rằng người Việt chúng ta rất yếu về làm việc nhóm (teamwork). Hồi nhỏ mình học nhu đạo tại trường Nhu Đạo Quang Trung, khu Đa Kao, Sài Gòn, do thượng tọa Thích Tâm Giác sáng lập. Thượng tọa đã học nhu đạo từ bên Nhật về. Có một lần thượng tọa nói với các võ sinh: “Một người Việt thì thông minh hơn một người Nhật, nhưng ba người Việt thì không bằng ba người Nhật.” Theo mình nhận xét, câu nói này đúng khi so sánh chúng ta với nhiều dân tộc khác trên thế giới.

Hôm nay chúng ta sẽ bàn về làm việc nhóm vậy.

1. Thái độ tư duy

Điều nền tảng nhất trong làm việc nhóm là tư duy của mỗi người về nhóm. Tư duy đúng, ta làm việc tốt; tư duy sai, ta làm việc tồi.

“Nhóm” không phải chỉ là vài người tụ lại. Đặt bốn người đứng sát nhau, họ không thể thành nhóm, cho đến khi họ quyết định là “chúng ta là một nhóm.” Ngay khi phút giây quyết định đó được làm, một người thứ năm ra đời, đó là “nhóm.”

Nhóm là một thực thể, một con người biệt lập, và mỗi thành viên chỉ là một bộ phận—một cánh tay, một cái chân—của nhóm.

Và tay với chân thì không cãi nhau, không tranh công nhau, không ghen tị nhau, không tranh dành chức vị nhau… Ngược lại tay chân luôn luôn gần gũi và làm việc nhịp nhàng với nhau. Đây chính là thái độ tư duy về làm việc nhóm.

Nghĩa là, khi nghĩ đến nhóm, “cái tôi”, “cái cá nhân” của mỗi chúng ta phải biến mất. Ta không nói chuyện với nhau như những cái tôi biệt lập, mà chỉ như là những cơ phận của nhóm. Điều này nói thì dễ, làm thì khó. Và cũng chính điều này quyết định ta có được một nhóm tốt hay không.

Đây là vấn đề lập trình cái đầu của mình—đến cửa nhóm là “cái tôi” bị tắt và “bộ phận nhóm” được mở. Nếu chúng ta không được lập trình tốt trong đầu như thế, ta có vấn đề lớn.

Chúng ta hãy quan sát một đội bóng trên sân bóng: Mỗi vận động viên không nghĩ đến mình, chỉ nghĩ đến đội, mục đích chiến thắng của đội, chiến lược của đội, và làm thế nào để phối hợp với các vận động viên khác để đưa đến chiến thắng. “Cái tôi” không có chỗ đứng trên sân cỏ.

Tóm lại, khả năng triệt tiêu “cái tôi” khi làm việc nhóm là khả năng nền tảng nhất để một người có thể có được thái độ tư duy đúng về làm việc nhóm và có thể làm việc nhóm giỏi.

II. Phối hợp và trật tự nhóm

Sau khi có được tư duy đúng về làm việc nhóm, chúng ta có thể nói đến một số kỹ năng căn bản đề nhóm có thể hoạt động tốt. Ở đây chúng ta nói đến “phối hợp và trật tự” vì hai ý‎ niệm này không thể tách rời nhau.

Hãy quan sát một nghệ sĩ piano, tay trái đi dòng bass và một hai dòng nhạc thấp, tay phải đi một hai dòng nhạc cao, chân thì đạp pedal. Tay, chân, tai, và mắt phải phối hợp rất nhịp nhàng. Để phối hợp được thế ta phải có một trật tự làm việc—tay nào làm gì trước, tay nào làm gì sau… không thể tự động muốn làm gì thì làm.

Để phối hợp và trật tự tốt, chúng ta cần tuân thủ các quy tắc sau:

1. Lãnh đạo nhóm: Mỗi người phải có một cái đầu, và chỉ một cái đầu. Mỗi nhóm phải có một người lãnh đạo, và chỉ một người lãnh đạo. Người lãnh đạo có thể trở thành lãnh đạo bằng nhiều cách: Các thành viên bầu lên, được cấp trên bổ nhiệm, hay tự động làm lãnh đạo (thường thấy trong các tổ chức thiện nguyện khi một người khởi xướng và các người khác ủng hộ giúp một tay). Dù là thành lãnh đạo qua cách nào, người lãnh đạo phải:

Có trách nhiệm và quyền hành để làm các quyết định cho nhóm: Tức là, không được “bán cái”. Nếu người lãnh đạo gọi các thành viên biểu quyết về một vấn đề để làm quyết định theo số đông, thì đó vẫn là quyết định của người lãnh đạo và anh ta phải chịu trách nhiệm về quyết định đó, và không thể nói “Ê, đây là quyết định của mọi người, sao lại phàn nàn với tôi?”

Chịu trách nhiệm về hậu quả của các quyết định cho nhóm.

2. Quyền hạn và trách nhiệm đóng góp ‎ý kiến sáng tạo của mọi nhóm viên: Mỗi nhóm viên có nhiệm vụ đóng góp ý kiến sáng tạo vào nhóm, dù có được hỏi hay không. Trách nhiệm đóng góp là trách nhiệm tự nhiên, không cần phải đợi hỏi. Cho nên nếu một nhóm viên thấy vấn đế gì đó cần giải quyết, hoặc một phương thức làm việc có thể tốt hơn… thì phải cho các nhóm viên khác, nhất là lãnh đạo nhóm, biết.

Nhưng, đóng góp ‎ý kiến là quyền và nhiệm vụ của nhóm viên, còn quyết định là quyền và nhiệm vụ của trưởng nhóm. Mình cứ làm việc đóng góp của mình, và để trưởng nhóm làm nhiệm vụ quyết định của anh ta. Nếu anh ta quyết định không sử dụng ‎ý kiến của mình thì đừng tự ái vặt và chê bai anh ta là người dốt—“cái tôi” không có chỗ đứng trong nhóm.

3. Tuân thủ hết lòng mục tiêu và quyết định của nhóm. Khi trưởng nhóm đã quyết định, dù đó là quyết định ngược với ý‎ kiến của mình, thì vẫn hăng hái vui vẻ thi hành các quyết định đó như là quyết định của chính mình vậy—“cái tôi” không có chỗ đứng trong nhóm.

Nếu bạn khuyến cáo là nhà sẽ cháy, nhưng trưởng nhóm không nghe lời bạn, thì đừng về nhà cầu nguyện hàng đêm để điều mình tiên đoán thành sự thật. 🙂 Và cũng cứ chuẩn bị sẵn tinh thần, nếu nhà có cháy thật thì bạn sẽ tiếp cứu. Đừng hành động lổ mãng theo kiểu “Tui đã nói trước rồi, không nghe tui, bây giờ cháy nhà tui ngồi xem cho sướng mắt”—“cái tôi” không có chỗ đứng trong nhóm.

4. Thông tin tốt: Tiếng Anh có từ “communication” rất hay. Communicate là nói chuyện, trao đổi, thư từ, họp hành…. nói chung là tất cả mọi cách để mọi người đều có nhiều thông tin, đều am hiểu mọi vấn đề, và đều hiểu nhau.

Căn bản của thông tin là hai chiều: Nói cho mọi người nghe, và nghe mọi người nói.

Về thực hành thì điều này có nghĩa là, người trong nhóm nên nói chuyện thường xuyên với nhau, qua họp hành, email chung gởi đến mọi người, uống cà phê, tán gẫu ngoài hành lang… Thông tin đa chiều càng nhiều, nhóm càng làm việc giỏi…

Đừng làm việc gì gây ra “ngạc nhiên”, tức là làm xong rồi, trưởng nhóm hay các người khác trong nhóm phải hỏi, “Ủa, sao anh làm vậy?”

Đừng bắt nhóm đứng trước việc đã rồi, tức là cứ lẳng lặng quyết định làm một mình, làm trước báo cáo sau. Chúng ta không ở trên chiến trường sống chết trong giây phút để phải quyết định tức thì. Nếu có thời gian thì bàn qua với mọi người, nhất là lãnh đạo nhóm, một tí.—Không có ngạc nhiên.

5. Làm việc nhóm luôn luôn chậm hơn làm một mình: Vì ta không thể quyết định một mình và cần bàn lại với mọi người. Con voi thì nhất định phải chậm hơn con khỉ. Nhưng voi thì mạnh hơn. Kiên nhẫn một tí cho sức mạnh.

6. Trung thành: Nếu cả nhóm bị phàn nàn và chống đối, đừng nói: “Tui đã nói trước rồi. Mấy người đó, không ai thèm nghe.”

Kẻ sĩ đứng cùng chiến hữu trong chiến thắng lẫn trong thất bại.

Bây giờ, suy lại câu nói lúc đầu, “Một người Việt thì hay hơn một người Nhật, nhưng ba người Việt thì không bằng ba người Nhật.” Câu này chỉ đúng trong thời bình. Trong thời chiến tranh, người Việt rất giỏi teamwork, đánh đâu thắng đó.

Tại sao?

Tại vì trong chiến tranh ta cận kề cái chết, chỉ phải lo sống hoặc chết, và quốc gia thắng hay thua, “cái tôi” chẳng hiện diện một tí nào trong suy tư của ta cả.

Cho nên nói rằng người Việt chúng ta làm việc nhóm tồi, thì chỉ đúng một nửa. Hãy mang khả năng làm việc nhóm bách chiến bách thắng trong chiến tranh của ta vào thời bình—dẹp cái tôi, chỉ vì sự nghiệp của nhóm, của thành phố, của quốc gia, của dân tộc…

Dân Việt ta có khả năng bách chiến bách thắng—thời chiến cũng như thời bình. Ta đừng bao giờ quên điều đó.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Khởi sự một tổ chức phi lợi nhuận ở Mỹ

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu với các bạn một số bước căn bản để có thể thành lập một tổ chức phi lợi nhuận (non-profit organization) ở Mỹ.

Tóm tắt sứ mệnh

Cách tốt nhất để thực sự nắm rõ bạn muốn làm gì khi bắt đầu một tổ chức phi lợi nhuận (viết tắt là NPO) (hay kể cả một công ty thương mãi) là viết một bản vắn tắt vể sứ mệnh thật cơ bản về tổ chức của mình. Đây là sao bắc đẩu để mình cà các cộng sự viên đi theo.

Tóm tắt sứ mệnh mô tả mục tiêu chung của tổ chức và trả lời câu hỏi “Vì sao tổ chức này tồn tại?”

1. Tóm lược sứ mệnh có thể có nhiều dạng, độ dài khác nhau, có thể vài câu đến vài trang nhưng thường là nửa trang giấy

2. Khi viết sứ mệnh, bạn cố gắng mô tả NPO mới của mình sẽ làm gì:

a. Các lợi ích và dịch vụ chính dành cho những “người người thừa hưởng” (tương tự như khách hàng của một công ty).

b. Các nhóm “người thừa hưởng” sẽ hưởng lợi từ những dịch vụ này.

c. Các giá trị tinh thần sẽ dẫn hướng cho NPO của bạn hoạt động.

d. Bạn thích người khác nhìn nhận tổ chức của mình như thế nào.

NPO của bạn thuộc hình thức nào?

1. Bạn có thể thành lập một NPO chỉ qua hợp tác với bạn bè, ví dụ như thành lập nhóm tự giúp đỡ (self-help group). Trong trường hợp này, NPO của bạn là không chính thức (nhưng vẫn hợp pháp).

2. Bạn có thể thành lập NPO như một tổ chức hợp pháp riêng rẽ để a) sở hữu tài sản và có tài khoản ngân hàng riêng, b) bảo vệ bạn khỏi các nghĩa vụ nợ từ hoạt động của tổ chức.

3. Nếu bạn muốn NPO được miễn thuế liên bang (và có thể là một vài loại thuế khác), bạn nên nộp lên cơ quan thuế IRS để được là tổ chức được phép miễn thuế (hình thức tổ chức này phổ biến nhất là thuộc phân loại 501(c) (3) – tổ chức phi lợi nhuận từ thiện). Chú ý là được miễn thuế khác với được giảm trừ thuế.

4. Vì thế bạn có thể khởi động một NPO hoat động hợp pháp, và được miễn thuế.

Các tổ chức “tìm tiền” chuyên nghiệp cho bạn

Ban có thể nhờ một tổ chức tìm tiền chuyên nghiệp (fund-raising organization) giúp bạn kiếm tiền để hoạt động, trong trường hợp tổ chức của bạn:

– không có đủ nguồn lực để chi trả chi phí khởi sự và các phí nộp hồ sơ thành lập (chi phí này khoảng từ $500 đến $5,000, đặc biệt là các chi phí luật sư để hoàn thành các hồ sơ xin miễn thuế và hồ sơ cho tổ chức từ thiện)

– không có đủ kĩ năng để lên kế hoạch, tổ chức, và bắt đầu quản trị một tổ chức mới

Ở Mỹ, các tổ chức fund-raising chuyên nghiệp chịu trách nhiệm trước cơ quan thuế và các nhà hảo tâm góp quỹ cho bạn, đặc biệt là cách thức mà tổ chức fund-raising thu và chi tiền. Quay trở lại, nhà tài trợ thu phí, thường là phần trăm nào đó (5%-10%), của số tiền doanh thu mà họ thu được cho tổ chức của bạn.

Tuy nhiên, thường thướng các NPO khởi đầu bằng cách vài thành viên trụ cột bỏ một số tiền túi nhỏ lo công việc lúc đầu, và vận động bạn bè cùng làm việc không công. Khi công việc đã phát triển và nhiều người biết đến tổ chức, người ta mới bắt đầu tìm cách quyên góp tiền bạc. Đây là sự trưởng thành tự nhiên của đa số tổ chức từ thiện trên thế giới.

Tuyển dụng các thành viên trong ban quản trị

Bạn cần ít nhất một vài thành viên quản trị để giúp bạn thành lập một NPO mới. Thành viên ban quản trị không nhất thiết phải là những tên tuổi lớn, vì nhiều người cho rằng họ sẽ giúp thu hút được nhiều tiền quyên góp nhưng trên thực tế không như vậy. Tốt nhất thành viên quản trị là người đã từng trong ban quản trị trước đó và có sự hiểu biết sâu sắc về nhu cầu của những “người thừa hưởng” và làm thế nào để đáp ứng các nhu cầu này. Hơn nữa, họ cũng không nên là nhân viên trong tổ chức, không có các quan hệ kinh doanh với tổ chức, và không có bạn bè thân thiết với những người sáng lập, đặc biệt là CEO và chủ tịch hội đồng quản trị.

Ngoài ra một tổ chức mới cần thông qua một vài bước như: tuyển kế toán, tìm đại lý bảo hiểm để bảo hiểm tài sản và các bảo hiểm cho nhân viên, bảo hiểm y tế, đăng kí miễn thuế với địa phương, xin số đăng kí gây quỹ với chính phủ.

Hoàng Khánh Hòa, theo http://www.managementhelp.org

Bài thơ cuối cùng của Hoshin

Thiền sư Hoshin sống ở Trung quốc nhiều năm. Sau đó thiền sư trở về vùng tây bắc Nhật, dạy học trò. Khi thiền sư đã rất già, ông kể một câu chuyện ông đã nghe ở Trung quốc. Câu chuyện thế này:

Vào ngày 25 tháng 12 năm nọ, Tokufu, rất già, nói với đệ tử: “Thầy không sống tới sang năm, vậy các con nên tử tế với thầy năm nay.”

Các đệ tử nghĩ là thiền sư nói đùa, nhưng vì thiền sư là vị thầy tốt bụng nên các đệ tử luân phiên chăm sóc cho thầy mỗi ngày như ngày lễ.

Đến ngày cuối năm, Tokufu nói: “Các con đã tốt với thầy. Thầy sẽ rời các con chiều mai, khi tuyết đã ngừng.”

Các đệ tử cười, và cho rằng thầy đã già nên nói năng lẩm cẩm, bởi vì đêm rất trong và chẳng có tí tuyết nào. Nhưng vào nửa đêm, tuyết bắt đầu rơi, và sáng hôm sau các đệ tử chẳng thấy thầy đâu cả. Họ vào phòng thiền. Thầy đã qua đời ở đó.

Hoshin kể chuyện này và nói với các đệ tử: “Thiền sư không cần phải đoán trước việc ra đi, nhưng thiền sư nào thực sự muốn tiên đoán, ông ta có thể làm được.”

“Thầy làm được không?” ai đó hỏi.

“Được,” thầy sẽ cho các con thấy thầy làm được gì 7 ngày sau.

Chẳng đệ tử nào tin thiền sư, và đa số quên đã luôn cuộc trò chuyện khi thiền sư họp họ lại lần sau đó.

“Bảy ngày trước,” thiền sư nói, “Thầy nói là thầy sẽ rời các con. Theo lệ thường là nên viết một bài thơ từ biệt, nhưng thầy không phải là thi sĩ cũng không giỏi thư pháp. Một trò nào có có thể ghi lại những lời cuối cùng của thầy.”

Các đệ tử cho là thiền sư nói đùa, nhưng một người cũng bắt đầu viết.

“Sẵn sàng chưa?” thiền sư hỏi.

“Dạ, thầy,” người viết trả lời.

Rồi Hoshin đọc:

Tôi đến từ sự sáng
Và về lại sự sáng
Gì đây?

Bài thơ thiếu một câu như lệ thường thơ bốn câu, vì vậy người học trò hỏi: “Thầy, mình còn thiếu một câu.”

Hoshin, với tiếng rống của một sư tử chiến thắng, hét “Kaa!” và từ trần.

Bình:

• Như đã nói trong bài Thông báo về chuyến đi cuối đời của thiền sư Tanzan, tự quyết định về cái chết của mình là một điểm đặc biệt của Phật gia, đánh dấu tự do của con người.

Nhưng trong các truyền thống tâm linh khác thì đây là điều cấm kỵ.

• Tuy nhiên, trong bài có nói cả Tokufu và Hoshin đều rất già, có nghĩa là hai vị đã sống và cống hiến nhiều cho đời. Lại dùng chữ, “tiên đoán” việc chết, có nghĩa là họ không cố tình đi khi chưa đến lúc. Chỉ là, họ biết được khi sinh lực của mình sẽ hết mà thôi.

Nói rõ ra, đây không phải là “tự tử.”

• Phần chính của bài này là bài thơ từ biệt của Hoshin. Các bài thơ từ biệt này là lời dạy cuối cùng của thầy chuyển đến các trò, cho nên nó là tinh túy của thầy.

Và bài thơ này, không thiếu một câu như trong bài có nói. Nó đủ bốn câu. Trong bài, tác giả chỉ dùng kỹ thuật viết, để ta để ý đên câu cuối cùng, mà tác giả cho là rất quan trọng. Đây là bài thơ bốn câu đầy đủ:

Tôi đến từ sự sáng
Và về lại sự sáng
Gì đây?
Kaa!

Hai câu đầu rất rõ là “từ Không tôi đến, trở lại Không tôi đi”–từ Chân Lý Tuyệt Đối tôi đến, trở lại Chân Lý Tuyệt Đối tôi đi.

Nếu nói theo vật lý thì “Từ cát bụi tôi đến, về lại với cát bụi tôi đi.”

Nếu nói theo các tôn giáo thần quyền thì “Từ Thượng đế tôi đến, về lại với Thượng đế tôi đi.”

Câu thứ ba là câu hỏi: Cuộc đời ngay đây, ở giữa đến và đi, là gì?

Câu thứ tư trả lời: Chỉ là một tiếng “Kaa” ngắn ngủi, vang lên và biến mất. Một cái chấm nhỏ xíu trong dòng thời gian vô lượng vô biên, chẳng nghĩa lý gì hết, ngoại trừ là một bằng chứng ngắn ngủi của sự hiện diện của một năng lượng trong một sátna của vũ trụ.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Last Poem of Hoshin

The Zen master Hoshin lived in China many years. Then he returned to the northeastern part of Japan, where he taught his disciples. When he was getting very old, he told them a story he had heard in China. This is the story:

One year on the twenty-fifth of December, Tokufu, who was very old, said to his disciples: “I am not going to be alive next year so you fellows should treat me well this year.”

The pupils thought he was joking, but since he was a great-hearted teacher each of them in turn treated him to a feast on succeeding days of the departing year.

On the eve of the new year, Tokufu concluded: “You have been good to me. I shall leave you tomorrow afternoon when the snow has stopped.”

The disciples laughed, thinking he was aging and talking nonsense since the night was clear and without snow. But at midnight snow began to fall, and the next day they did not find their teacher about. They went to the meditation hall. There he had passed on.

Hoshin, who related this story, told his disciples: “It is not necessary for a Zen master to predict his passing, but if he really wishes to do so, he can.”

“Can you?” someone asked.

“Yes,” answered Hoshin. “I will show you what I can do seven days from now.”

None of the disciples believed him, and most of them had even forgotten the conversation when Hoshin next called them together.

“Seven days ago,” he remarked, “I said I was going to leave you. It is customary to write a farewell poem, but I am neither poet nor calligrapher. Let one of you inscribe my last words.”

His followers thought he was joking, but one of them started to write.

“Are you ready?” Hoshin asked.

“Yes, sir,” replied the writer.

Then Hoshin dictated:

I came from brilliancy.
And return to brilliancy.
What is this?

The poem was one line short of the customary four, so the disciple said: “Master, we are one line short.”

Hoshin, with the roar of a conquoring lion, shouted “Kaa!” and was gone.

#10

Dạy kiểu hà tiện

Một bác sĩ trẻ ở Tokyo tên Kusuda gặp một người bạn học chung ở đại học đang học thiền. Chàng bác sĩ trẻ hỏi thiền là gì.

“Tôi không thể nói với anh nó là gì,” người bạn trả lời, “nhưng tôi chắc một điều là, nếu anh hiểu thiền, anh sẽ không sợ chết.”

“Được,” Kusuda nói. “Thôi sẽ thử. Làm sao tôi tìm được một vị thầy?”

“Đến gặp thiền sư Nan-in,” người bạn nói.

Kusuda đến thăm Nan-in. Anh ta mang theo một con dao 2 tấc rưỡi để thử xem thiền sư có sợ chết không.

Khi Nan-in thấy Kusuda ông nói to: “Chào, bạn quý. Khỏe không? Lâu quá không gặp.”

Kusuda lấy làm lạ, mới trả lời: “Chúng ta chưa gặp nhau bao giờ!”

“Phải rồi,” Nan-in trả lời. “Tôi nhầm anh với một người bác sĩ khác đang học thiền ở đây.”

Với phút đầu tiên như vậy, Kusuda mất cơ hội thử thiền sư, vì vậy bất đắc dĩ anh mới hỏi thiền sư cho học thiền.

Nan-in nói: “Thiền không phải là việc khó. Nếu anh là bác sĩ, hãy chữa bệnh với lòng nhân ái.”

Kusuda thăm Nan-in ba lần. Mỗi lần Nan-in đều bảo một điều duy nhất. “Bác sĩ không nên tốn thời giờ ở đây. Đi về và chăm sóc bệnh nhân.”

Kusuda vẫn không rõ là tại sao các lời dạy như thế có thể làm người ta hết sợ chết. Vì vậy trong lần thăm thứ tư, anh phàn nàn: “Bạn tôi nói khi người ta học thiền người ta hết sợ chết. Mỗi lần tôi đến đây thầy chỉ bảo tôi lo cho bệnh nhân của tôi. Chuyện đó tôi biết rồi. Nếu thiền của thầy chỉ có vậy, tôi sẽ không đến đây học thầy nữa.”

Nan-in mỉm cười và vỗ vai chàng bác sĩ. “Tôi đã quá khắt khe với anh. Để tôi chỉ cho anh một công án.” Thiền sư nói cho Kusuda nghe công án Không của Thiền sư Joshu, là công án đầu tiên để làm sáng tỏ trí óc trong sách Vô Môn Quan.

Kusuda suy nghĩ về công án Không trong hai năm. Cuối cùng chàng cảm thấy tâm mình đã vững chải. Nhưng thiền sư bình phẩm: “Anh vẫn chưa vào bên trong.”

Kusuda tiếp tục tập trung tư tưởng thêm một năm rưỡi nữa. Tâm của chàng trở nên lặng. Các vấn đề tan biến. “Không” trở thành chân lý. Anh chăm sóc cho bệnh nhân rất tử tế và, dù là không biết chuyện đó, anh đã thoát khỏi lo âu về sống hay chết.

Và khi anh đến thăm Nan-in, vị thầy chỉ mỉm cười.

Bình:

• Chỉ nhờ hỏi thăm vui vẻ lần gặp nhau đầu tiên mà thiền sư Nan-in vô tình làm tiêu đi ý‎ định thử dữ dằn của Kusuda.

• Tinh yếu của thiền là “Hãy chăm sóc cho bệnh nhân tử tế.” Tức là: (1) Hãy làm những việc hàng ngày (2) với từ tâm (3) đối với người khác.

Vì là tinh yếu cho nên lần nào Nan-in cũng lập đi lập lại bao nhiêu đó.

• Nhưng Kusuda phàn nàn (vì chưa đủ trí tuệ và trực nghiệm để hiểu), cho nên Nan-in mới nói “thầy quá khắt khe”, cho trò xuống cấp thấp hơn một tí, học công án vậy.

• Công án Joshu’s Mu là “Cái không của Triệu Châu.” Joshu là tên tiếng Nhật của thiền sư Trung quốc Triệu Châu. Công án này còn được gọi là “Con chó của Triệu Châu” và như thế này:

Một vị sư hỏi Triệu Châu.
“Con chó có Phật tánh không?”
Triệu Châu trả lời: “Không”

Mu trong tiếng Nhật là Vô trong tiếng Trung, và Không trong tiếng Việt. Mu còn có âm như tiếng sủa của chó.

Nói theo “có” với “không”, thì mọi sinh linh đang ở trong 6 nẻo luân hồi—trời, người, Atula, súc sinh, địa ngục, ngạ quỷ–đều có thể thành Phật, tức là đều có Phật tánh. Chó là súc sinh, đương nhiên là có Phật tánh.

Nhưng Phật tánh là gì? Là “Không”. Đây không phải là “không có” mà là “Không” của Bát Nhã Tâm Kinh: “Khi Bồ tát Quán-tự-tại thực hành trí tuệ Bát Nhã thâm sâu, thấy rõ [mọi thứ] là Không, ngài liền vượt qua mọi khổ nạn.”

“Không” đây là “Tuyệt Đối”, là căn tánh thật của cả vũ trụ tương đối quanh ta và trong ta.

• Suy tư về “Không”, dù là đi đường vòng, cũng sẽ đưa ta đến đích—yêu thương mọi người và không còn sợ hãi.

• Tóm lại: Đi đường trí óc suy nghĩ phức tạp khoa bảng là đi đường vòng, đường thấp. Đường trực tiếp, đường cao là “Sống bằng từ tâm với mọi người, hàng ngày.” Đó là tinh yếu của Thiền.

Thiền là sống, không phải là lý thuyết.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Stingy in Teaching

A young physician in Tokyo named Kusuda met a college friend who had been studying Zen. The young doctor asked him what Zen was.

“I cannot tell you what it is,” the friend replied, “but one thing is certain. If you understand Zen, you will not be afraid to die.”

“That’s fine,” said Kusuda. “I will try it. Where can I find a teacher?”

“Go to the master Nan-in,” the friend told him.

So Kusuda went to call on Nan-in. He carried a dagger nine and a half inches long to determine whether or not the teacher was afraid to die.

When Nan-in saw Kusuda he exclaimed: “Hello, friend. How are you? We haven’t seen each other for a long time!”

This perplexed Kusuda, who replied: “We have never met before.”

“That’s right,” answered Nan-in. “I mistook you for another physician who is receiving instruction here.”

With such a beginning, Kusuda lost his chance to test the master, so reluctantly he asked if he might receive Zen instruction.

Nan-in said: “Zen is not a difficult task. If you are a physician, treat you patients with kindness. That is Zen.”

Kusuda visited Nan-in three times. Each time Nan-in told him the same thing. “A physician should not waste time around here. Go home and take care of you patients.”

It was not yet clear to Kusuda how such teaching could remove the fear of death. So on his fourth visit he complained: “My friend told me when one learns Zen one loses the fear of death. Each time I come here all you tell me is to take care of my patients. I know that much. If that is your so-called Zen, I am not going to visit you any more.”

Nan-in smiled and patted the doctor. “I have been too strict with you. Let me give you a koan.” He presented Kusuda with Joshu’s Mu to work over, which is the first mind enlightening problem in the book called The Gateless Gate.

Kusuda pondered this problem of Mu (No-Thing) for two years. At length he thought he had reached certainty of mind. But his teacher commented: “You are not in yet.”

Kusuda continued in concentration for another year and a half. His mind became placid. Problems dissolved. No-Thing became the truth. He served his patients well and, without even knowing it, he was free from concern over life and death.

Then when he visited Nan-in, his old teacher just smiled.

#17

Viết Cho Dã Quỳ

(…nhưng em nói dã quỳ vào mùa nào/ mùa
đông/ đúng rồi mùa hoa/ uh cây non mọc lên
nở hoa và tàn rụi trong vòng một năm…)

1.

Từ tàn rụi nụ mầm vươn lên vào lúc không ai còn nhớ (sự lãng quên luôn thường trực trong tâm trí con người) những mầm xanh không như lá cỏ mà được xem như lá cỏ cứ khuất lấp trong ngăn ngắt rậm rạp cứ lặng lẽ bên vệ đường trước thềm nhà khắp chân đồi (giờ đồi hoang cũng không còn nhiều vì loài người sinh sôi nẩy nở bung chiếm còn nhanh hơn cả cỏ cây)

Rồi những chiếc lá hình bàn tay xoè ra run rẩy hân hoan trong mưa bụi (dường như tất cả hạnh ngộ thuở ban sơ đều như vậy) mưa càng dấm dứt đất càng đỏ ứ cây lá càng xanh non tươi rờn rợn mưa mưa mưa mưa nước nuôi dưỡng sự sống bằng những ngập tràn thấm sâu dịu nhẹ (cũng có khi lắm khi hung tợn trào dâng) mưa mưa mưa mưa dã quỳ theo mưa mà lớn

Đó là cách tồn tại cổ xưa nguyên thuỷ nhất tồn tại theo bầy đàn mỗi đơn lẻ là một trong nhiều trong những của cộng đồng mỗi đơn lẻ tưởng như giống nhau về hình thể về tính cách về thân phận đứng bên nhau làm nên thế giới (tưởng công bằng bình đẳng) hướng về ánh sáng hướng về bầu trời mà ngờm ngợp mà mải miết mà vươn cao mà xoè tay mà ươm nụ mà hồn nhiên mà chờ đợi


2.

Có xứ sở chọn khắc nghiệt làm tính cách đặc thù (không chừng mực không điều độ không sắc màu trung tính) xứ sở dã quỳ không có mùa thu không có mùa xuân (chỉ hai mùa mưa nắng) xứ sở buồn muôn thuở bụi mù trời (bụi lừng lững đi lừng lững dựng từng cột đỏ trên những con đường mòn vắng vẻ khô khát) tháng mười hai lạnh lẽo khô ngùn ngụt nắng là tín hiệu để dã quỳ mở bung.

Đó là không gian mênh mông (đồi nối tiếp đồi thung lũng kéo dài thung lũng) là cuồng nộ gió (gió như đoàn chiến mã ràn rạt lao qua không cần biết sẽ về đâu không cần biết gì đang đón đợi cứ phía trước mà phi mà lồng lộn sải vó) là bướm hoang là ong rừng là bước chân bồn chồn của những người đàn bà luôn mơ những giấc mơ bất ổn

Là dã quỳ tồn tại như một dâng hiến không cần lý do

3.

Dã quỳ dã quỳ dã quỳ cứ vàng mơ vàng tươi vàng xuộm vàng cháy cứ rừng rực mê đắm miên man trên nền xanh của lá nền đỏ của đất bazan cứ tạo nên những đối cực nhức nhối xốn xang đôi khi khó chấp nhận trong mắt người không chờ đợi không khát khao không hoài vọng dã quỳ (dường như) hồn nhiên bung nở hồn nhiên toả hương hồn nhiên vàng vào nắng vào sương vào bụi đỏ hồn nhiên làm mặt trời thắp nắng trong hoang lạnh hồn nhiên làm nên linh cảm bất an mùa xao xác

Đã có những ngợi ca đã có những cười cợt đã có những rắp ranh đòi chia sẻ đã có những dự tính can thiệp riêng tư dã quỳ (dường như) vô tâm (dường như) ngoài cuộc cứ vàng cho hết đời sống mình (vì đó chính là mình) rồi rời rã rũ rượi trong gió đông rồi khô đi nâu sẫm trên những cành nhánh trụi trơ rồi khuất lấp rồi biến tan

Mùa đã khô ngày đã không còn hoang hoải gió
dã quỳ bình thản đợi hồi sinh

4.

Những người đàn bà mang giấc mơ bất ổn chôn trên sườn đồi đêm đêm chờ mưa chờ quên lãng nghe trong tiếng sấm khắc khoải có niềm âu lo rồi đồi hoang sẽ không còn là đồi hoang nữa

Đinh thị Như Thúy

Shoun và mẹ

Shoun là một vị thầy về thiền Tào Động. Khi còn là học trò, bố của Shoun qua đời, Shoun phải chăm sóc mẹ.

Mỗi khi vào phòng thiền, Shoun luôn luôn mang mẹ đi theo. Vì có mẹ đi theo, mỗi khi Shoun viếng một tu viện, ông không thể sống chung với các vị sư khác. Vì vậy Shoun xây một nhà nhỏ để lo cho mẹ. Shoun chép lại kinh sách, và thi ca nhà Phật, và nhờ đó nhận được ít tiền mua thực phẩm.

Khi Shoun mua cá cho mẹ, người ta chế giễu ông, vì người tu hành không được ăn cá. Nhưng Shoun không màng. Tuy nhiên, mẹ của Shoun thì buồn, thấy con mình bị cười chê. Cuối cùng bà nói với Shoun: “Mẹ nghĩ là mẹ sẽ thành ni cô. Mẹ cũng có thể ăn chay được.” Bà thành ni cô, và mẹ con nghiên cứu chung với nhau.

Shoun yêu nhạc và là nhạc sĩ giỏi về đàn hạc, Mẹ shoun cũng chơi đàn hạc. Những đêm trăng tròn hai mẹ con chơi đàn với nhau.

Có một đêm một cô gái trẻ đi ngang nhà và nghe nhạc. Cảm xúc quá, cô bèn mời Shoun đến nhà cô đêm hôm sau và đánh đàn. Shoun đồng ‎ý. Vài ngày sau Shoun gặp lại cô ấy ngoài phố và cám ơn lòng hiếu khách của cô. Mọi người cười chê, vì Shoun đã đến nhà một cô gái làng chơi.

Ngày nọ Shoun đi thuyết giảng ở một chùa xa. Vài tháng sau ông trở về nhà và biết mẹ vừa chết. Các bạn không biết tìm ông ở đâu, nên tang lễ đã bắt đầu.

Shoun bước lên, dùng gậy gõ vào quan tài. “Mẹ, con đã về đây,” ông nói.

“Mẹ mừng con đã về,” ông trả lời thế cho mẹ.

“Vâng, con cũng mừng,” Shoun trả lời. Rồi ông nói mới mọi người quanh ông: “Lễ tang đã xong. Các bạn có thể hỏa táng.”

Khi Shoun đã rất già, ông biết ngày cuối đã gần kề. Một buổi sáng, ông gọi các đệ tử lại quanh ông, nói cho họ biết ông sẽ ra đi vào lúc trưa. Thắp nhang trước ảnh mẹ và thầy cũ, ông viết một bài thơ:

Năm mươi sáu năm gắng sống tử tế
Đi đường tôi trong thế giới này
Giờ mưa đã ngừng, mây đã hết
Trời trong xanh một mảnh trăng đầy

Các đệ tử đứng quanh ông, tụng kinh, và Shoun ra đi khi kinh còn đang tụng.
.

Bình:

• Người ta nghĩ rằng xuất gia là “ra khỏi nhà”, bỏ cha bỏ mẹ đi tu. Nhưng đâu có Phật nào cản con lo cho mẹ từng ngày, ngay cả lúc ngồi thiền là lúc cần yên tĩnh nhất, cũng mang mẹ theo bên cạnh để chăm sóc.

Ngoài gánh nặng tiền bạc và công khó, còn gánh nặng bị người đời cười chê. Mang gánh nặng để lo cho mẹ, đó chính là bằng chứng cụ thể nhất của tình yêu.

• Không chỉ lo về thể chất, mà Shoun còn lo về phát triển tinh thần của mẹ–chơi nhạc cùng mẹ, nghiên cứu Phật pháp cùng mẹ, và mẹ rốt cuộc cũng thành ni cô, mở rộng tâm mẹ trên đường tu học. Còn cái lo nào lớn cho bằng.

• Vì yêu mẹ, nên Shoun kính trọng phụ nữ, kể cả gái làng chơi. Và kính trọng phụ nữ, ngay cả khi người khác cười mình là giao du với người xấu.

• Khi mẹ chết Shoun thay mẹ để nói chuyện với mình, đó là do cảm thấy gần gũi mẹ đến mức thấy có mẹ trong mình, và mẹ nói được lời mẹ qua miệng mình.

• Thực sự thì, trong ta có cha mẹ và tất cả tổ tiên ta.

Bởi vì Shoun biết mẹ đã ở trong Shoun, nên Shoun chẳng buồn gì cả. Nói chuyện với mẹ xong là điềm tĩnh bảo mọi người có thể hỏa táng xác mẹ.

• Cho đến ngày cuối đời, vẫn không quên mẹ và thầy.

• Đến ngày cuối đời, Shoun mới xác nhận là mình đã giác ngộ–Giờ mưa đã ngừng, mây đã hết, trời trong xanh môt mảnh trăng đầy.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)

.

Shoun and His Mother

Shoun became a teacher of Soto Zen. When he was still a student his father passed away, leaving him to care for his old mother.

Whenever Shoun went to a meditation hall he always took his mother with him. Since she accompanied him, when he visited monasteries he could not live with the monks. So he would build a little house and care for her there. He would copy sutras, Buddhist verses, and in this manner receive a few coins for food.

When Shoun bought fish for his mother, the people would scoff at him, for a monk is not supposed to eat fish. But Shoun did not mind. His mother, however, was hurt to see the others laugh at her son. Finally she told Shoun: “I think I will become a nun. I can be a vegaterian too.” She did, and they studied together.

Shoun was fond of music and was a master of the harp, which his mother also played. On full-moon nights they used to play together.

One night a young lady passed by their house and heard music. Deeply touched, she invited Shoun to visit her the next evening and play. He accepted the invitation. A few days later he met the young lady on the street and thanked her for her hospitality. Others laughed at him. He had visited the house of a woman of the streets.

One day Shoun left for a distant temple to deliver a lecture. A few months afterwards he returned home to find his mother dead. Friends had not known where to reach him, so the funeral was then in progress.

Shoun walked up and hit the coffin with his staff. “Mother, your son has returned,” he said.

“I am glad to see you have returned, son,” he answered for his mother.

“Yes, I am glad too,” Shoun responded. Then he announced to the people about him: “The funeral ceremony is over. You may bury the body.”

When Shoun was old he knew his end was approaching. He asked his disciples to gather around him in the morning, telling them he was going to pass on at noon. Burning incense before the picture of his mother and his old teacher, he wrote a poem:

For fifty-six years I lived as best I could,
Making my way in this world.
Now the rain has ended, the clouds are clearing,
The blue sky has a full moon.

His disciples gathered about him, reciting a sutra, and Shoun passed on during the invocation.

#15

Ý nghĩa đích thực của Giáng Sinh

Chỉ 1 tuần trước Giáng Sinh tôi có gặp 1 vị khách. Cuộc gặp gỡ đã xảy ra như thế này. Tối hôm đó tôi vừa mới làm xong việc nhà và chuẩn bị đi ngủ, thì tôi nghe 1 tiếng động vang lên từ trước nhà. Tôi mở cửa hướng vô phòng khách và, trước sự ngạc nhiên của tôi, Ông Già Noel đang bước ra gần bên lò sưởi.

“Ông đang làm gì thế?” Tôi bắt đầu hỏi. Câu nói như nghẹn lại trong cổ tôi và tôi thấy ông như đang khóc. Dáng vẻ vui đùa thường lệ của ông không còn. Cũng biến mất tâm hồn hăm hở, náo nhiệt mà chúng ta đều biết. Sau đó ông bắt đầu trả lời tôi bằng một câu nói…

“HÃY DẠY TRẺ NHỎ!” Tôi cảm thấy bối rối. Ông ấy có ý gì? Ông như đoán trước được câu hỏi của tôi và với một chuyển động mau chóng, ông ấy đưa ra một túi quà nhỏ từ sau cây Noel. Trong khi tôi vẫn còn đứng bối rối thì Ông Già Noel nói “Hãy dạy con trẻ!”

Dạy cho chúng ý nghĩa nguyên thủy của ngày lễ Noel, ý nghĩa mà những lễ Noel hiện nay đã mất. Sau đó ông thò tay vô túi lấy ra một cây thông nhỏ rồi để nó trước lò sưởi. Dạy cho trẻ nhỏ rằng màu xanh thuần khiết của cây thông trang nghiêm xanh cả năm, chỉ niềm hy vọng không bao giờ dứt của nhân loại, tất cả những chiếc lá nhọn hướng lên trời là biểu tượng cho y’ tưởng của con người hướng đến thiên đàng.”

Ông lại thò tay vô túi lấy ra một ngôi sao sáng chói. “Hãy dạy cho con trẻ rằng ngôi sao là dấu hiệu của các lời hứa từ trời lâu lắm rồi. Chúa đã hứa là sẽ gửi một vị cứu tinh cho thế giới và ngôi sao đã là dâu hiệu cho việc hoàn thành lời hứa đó.

Sau đó Ông lại lôi từ túi ra một CÂY NẾN. “Hãy dạy cho con trẻ biết rằng cây nến tượng trưng cho Chúa Kitô là ánh sáng cho thế giới, và khi chúng ta thấy nến, chúng ta lại nhớ về Chúa, người xua đi bóng tối”.

Lại một lần nữa, Ông lấy ra một VÒNG HOA và đặt nó trên cây. “Hãy dạy cho con trẻ rằng vòng hoa này tượng trưng cho tình yêu đích thực. Rằng tình yêu đích thực không bao giờ biến mất. Tình yêu là một chuỗi yêu thương liên tục.

Tiếp theo, Ông thò tay vô túi và lấy ra một hình nộm trang trí của chính mình. “Hãy dạy cho con trẻ biết rằng, ta, Santa Claus, tượng trưng cho sự khoan dung và những cảm nhận chúng ta có được trong những ngày cuối năm”.

Sau đó, Ông đưa ra một nhánh lá Holly. “Hãy dạy cho con trẻ biết rằng nhánh cây Holly tượng trưng cho cho tính bất tử. Nó biểu trưng cho chiếc vương miện đầy chông gai của Người Cứu Chuộc chúng ta. Màu đỏ của quả berry tượng trưng cho những sự hi sinh đổ máu của Chúa Giêsu.

Minh Phương, Việt Thảo và Bảo Quyên dịch

.

True Meaning Of Christmas

Just a week before Christmas I had a visitor. This is how it happened. I just finished the household chores for the night and was preparing to go to bed, when I heard a noise in the front of the house. I opened the door to the front room and to my surprise, Santa himself stepped out next to the fireplace.

“What are you doing?” I started to ask. The words choked up in my throat and I saw he had tears in his eyes. His usual jolly manner was gone. Gone was the eager, boisterous soul we all know. He then answered me with a simple statement . . .

“TEACH THE CHILDREN!” I was puzzled. What did he mean? He anticipated my question and with one quick movement brought forth a miniature toy bag from behind the tree. As I stood bewildered, Santa said, “Teach the children!

Teach them the old meaning of Christmas. The meaning that now-a-days Christmas has forgotten. “Santa then reached in his bag and pulled out a FIR TREE and placed it before the mantle. “Teach the children that the pure green color of the stately fir tree remains green all year round, depicting the everlasting hope of mankind, all the needles point heavenward, making it a symbol of man’s thoughts turning toward heaven.”


He again reached into his bag and pulled out a brilliant STAR. “Teach the children that the star was the heavenly sign of promises long ago. God promised a Savior for the world, and the star was the sign of fulfillment of His promise.”

He then reached into his bag and pulled out a CANDLE. “Teach the children that the candle symbolizes that Christ is the light of the world, and when we see this great light we are reminded of He who displaces the darkness.”

Once again he reached into his bag and removed a WREATH and placed it on the tree. “Teach the children that the wreath symbolizes the real nature of love. Real love never ceases. Love is one continuous round of affection.”

He then pulled from his bag an ORNAMENT of himself. “Teach the children that I, Santa Claus, symbolize the generosity and good will we feel during the month of December.”

He then brought out a HOLLY LEAF. “Teach the children that the holly plant represents immortality. It represents the crown of thorns worn by our Savior. The red holly berries represent the blood shed by Him.

Next he pulled from his bag a GIFT and said, “Teach the children that God so loved the world that he gave his begotten son.” Thanks be to God for his unspeakable gift.

Santa then reached in his bag and pulled out a CANDY CANE and hung it on the tree. “Teach the children that the candy cane represents the shepherds’ crook. The crook on the staff helps to bring back strayed sheep to the flock. The candy cane is the symbol that we are our brother’s keeper.”

He reached in again and pulled out an ANGEL. “Teach the children that it was the angels that heralded in the glorious news of the Savior’s birth. The angels sang Glory to God in the highest, on earth peace and good will toward men.”

Suddenly I heard a soft twinkling sound, and from his bag he pulled out a BELL,. “Teach the children that as the lost sheep are found by the sound of the bell, it should ring mankind to the fold. The bell symbolizes guidance and return.

Santa looked back and was pleased. He looked back at me and I saw that the twinkle was back in his eyes. He said, “Remember, teach the children the true meaning of Christmas and do not put me in the center, for I am but a humble servant of the One that is, and I bow down to worship him, our LORD, our GOD.”

Bức Tranh

Ngày Lễ Giáng Sinh, ngày người cha trong câu chuyện dưới đây nhận được món quà ý nghĩa nhất đời mình, ngày thực hiện ước nguyện của ông: bán đấu giá tất cả những bức tranh ông có.

Bên cạnh câu chuyện này, xin cầu chúc mọi người tràn đầy hạnh phúc với tất cả tình yêu thương và quà tặng mà mình nhận được trong mùa Giáng Sinh.

Phương Thảo & Phạm Tuyết

Bức Tranh

Một người đàn ông giàu có đã chia sẻ niềm đam mê nghệ thuật với người con trai đầy nhiệt huyết của mình. Họ cùng nhau đi chu du khắp thế giới, chỉ để bổ sung thêm vào bộ sưu tập của mình những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc nhất. Những tác phẩm vô giá của Picasso, Van Gogh, Monet và nhiều tác giả khác đã tô điểm cho những bức tường như là di sản của gia đình họ.

Người cha già góa vợ chiêm ngưỡng chúng với sự hài lòng khi đứa con duy nhất đã trở thành một nhà sưu tầm các tác phẩm nghệ thuật giàu kinh nghiệm. Đôi mắt nhà nghề và óc kinh doanh sắc bén của cậu ấy khiến người cha luôn tự hào khi họ giao thiệp với những nhà sưu tầm tác phẩm nghệ thuật trên khắp thế giới.
Khi mùa đông đến, chiến tranh bao trùm khắp đất nước, và chàng trai trẻ đã ra trận để bảo vệ tổ quốc của mình. Chỉ sau một vài tuần, người cha nhận được một bức điện báo. Đứa con trai yêu quý của ông đã mất tích trong trận chiến. Người cha vô cùng nóng ruột chờ đợi tin tức của con, sợ rằng sẽ không bao giờ nhìn thấy con trai mình nữa. Vài ngày sau, nỗi lo sợ của ông thành sự thật. Chàng trai trẻ đã hy sinh khi áp tải một đồng đội bị thương. Vô cùng quẩn trí và cô đơn, ông phải đối mặt với một mùa Giáng sinh đau lòng và buồn bã sắp tới. Mùa lễ vui sẽ không đến nữa, mùa lễ mà hai cha con hằng trông đợi.

Vào buổi sáng Giáng sinh, một tiếng gõ cửa đánh thức người đàn ông đau khổ. Khi ông tiến về phía cửa, những kiệt tác trên tường như nhắc rằng con trai ông sẽ không về nữa. Ông mở cửa, một người lính chào ông với một gói giấy lớn trong tay. Anh ta tự giới thiệu rằng, “Tôi là bạn của con trai ông. Tôi là người được cứu sống khi cậu ấy hy sinh. Tôi có thể vào vài phút được không? Tôi có thứ này muốn cho ông xem”

Khi cả hai bắt đầu đi vào câu chuyện, người lính kể rằng con trai ông đã nói với mọi người – mà không nhắc đến cha mình, về tình yêu nghệ thuật của cậu ấy như thế nào. “Tôi là một họa sĩ,”- người lính nói, “và tôi muốn cho ông xem thứ này.” Khi người cha mở gói giấy, bên trong lộ ra bức chân dung của con trai ông. Mặc dù thế giới sẽ không bao giờ công nhận nó là tác phẩm của một thiên tài, nhưng bức tranh phác họa khuôn mặt người thanh niên với những chi tiết rất nổi bật.

Sau vài phút vô cùng xúc động, người cha cảm ơn người lính, hứa sẽ treo bức tranh phía trên lò sưởi. Vài giờ sau đó, khi người lính đi rồi, ông tiến hành công việc của mình. Đúng như lời ông hứa, bức tranh đã được treo phía trên lò sưởi, bỏ lại phía sau những bức tranh khác có trị giá hàng ngàn đôla. Sau đó, ông ngồi vào ghế và tận hưởng Giáng sinh bằng cách nhìn ngắm chăm chú vào món quà ông nhận được.

Trong những ngày và những tuần tiếp theo đó, ông nhận ra rằng mặc dù con trai ông không còn nữa, nhưng hình ảnh của cậu ấy vẫn mãi tồn tại bởi những điều mà ông cảm nhận được. Ông sớm hiểu rằng con trai ông đã cứu sống hàng chục chiến binh bị thương trước khi một viên đạn xuyên qua tim cậu ấy. Chính những câu chuyện cảm động về lòng dũng cảm của con trai mình luôn hiện hữu trong tâm trí, cộng với niềm tự hào và mãn nguyện đã giúp ông vơi đi nỗi đau mất con. Bức tranh của con trai ông sẽ sớm trở thành tác phẩm nghệ thuật có giá trị nhất, làm lu mờ bất cứ sự quan tâm nào đến những tác phẩm được công bố ở các bảo tàng trên khắp thế giới. – Ông nói với những hàng xóm của mình rằng đó là món quà lớn nhất mà ông từng nhận được trong đời.

Mùa xuân năm sau, người đàn ông tuổi cao trở bệnh và qua đời. Thế giới nghệ thuật dường như mong chờ điều tiếp theo với bộ sưu tập tranh kia! Không ai quan tâm đến câu chuyện về người con trai của ông, nhưng để vinh danh ông; người ta đem bán đấu giá những bức tranh.

Theo nguyện vọng của ông, tất cả những tác phẩm nghệ thuật sẽ được bán đấu giá vào ngày lễ Giáng sinh, ngày mà ông đã nhận được món quà lớn nhất đời mình. Rồi ngày đó cũng đến và những nhà sưu tầm tác phẩm nghệ thuật từ khắp nơi đã tụ họp về để tham gia buổi bán đấu giá những bức tranh đặc sắc nhất trên thế giới. Những mơ ước sẽ được thỏa nguyện trong ngày này; vinh dự lớn sẽ được công nhận khi nhiều người tuyên bố “Tôi có bộ sưu tập tuyệt vời nhất.” Cuộc đấu giá bắt đầu với một bức tranh không nằm trong danh sách của bảo tàng. Đó là bức chân dung con trai ông. Người bán đấu giá công bố giá mở cửa. Cả khán phòng im lặng. “Ai sẽ đặt giá đầu 100$?”- ông hỏi. Một vài phút trôi qua. Không ai lên tiếng. Có tiếng nói từ phía sau khán phòng,”Ai mà quan tâm đến bức tranh này? Nó chỉ là một bức hình của một cậu con trai. Hãy quên nó đi và tiếp tục với những tác phẩm đáng giá hơn.” Có nhiều giọng nói đồng tình vang lên. “Không, chúng ta phải bán bức tranh đầu tiên này”- người bán đấu giá đáp. “Bây giờ, ai sẽ mua bức tranh này?”

Cuối cùng, một người bạn của ông lên tiếng “Tôi trả 10$ cho bức tranh này được chứ? Đó là tất cả số tiền tôi có. Tôi biết chàng trai này, vì vậy tôi muốn có nó”. “Có người trả 10$. Ai sẽ trả cao hơn?”- Người bán đấu giá nói. Sau nhiều phút im lặng, người bán đấu giá hô:”10$ lần thứ 1, 10$ lần thứ 2, hết giờ!”. Tiếng búa vang lên. Tiếng vỗ tay rộn lên khắp phòng và ai đó kêu lên,”Bây giờ chúng ta có thể xúc tiến và đấu giá những tác phẩm có giá trị tiếp theo rồi!” Người bán đấu giá nhìn mọi người trong khán phòng và tuyên bố buổi bán đấu giá kết thúc.

Sự hoài nghi bao phủ căn phòng. Ai đó đã lên tiếng và hỏi: “Kết thúc là thế nào? Chúng tôi không đến đây chỉ vì một bức chân dung của cậu con trai đó?. Thế tất cả những bức tranh khác thì sao? Chúng đáng giá hàng triệu đô la ở đây đấy! Tôi yêu cầu ông hãy giải thích những gì đang xảy ra ở đây!” Người bán đấu giá đáp: “Đơn giản thôi. Theo nguyện vọng của người cha, bất cứ ai có bức chân dung cậu con trai ông là có tất cả.”

Hãy thử đặt mình vào hoàn cảnh đó mà xem? Cũng như những nhà sưu tầm tác phẩm nghệ thuật chứng kiến vào ngày Giáng sinh năm đó, cùng nhận ra thông điệp của bức tranh đó là tình yêu của người cha- một người cha với niềm tự hào vô bờ bến về người con trai đã mất của ông đã hy sinh tính mạng của mình để cứu sống những người khác. Và chính bởi tình yêu ấy mới là điều quý giá nhất của bức tranh này .

Nguyễn Thị Phương Thảo và Phạm thị Tuyết

THE PAINTING

Years ago, there was a very wealthy man who, with his devoted young son, shared a passion for art collecting. Together they traveled around the world, adding only the finest art treasures to their collection. Priceless works by Picasso, Van Gogh, Monet and many others adorned the walls of the family estate. The widowed, elder man looked on with satisfaction as his only child became an experienced art collector. The son’s trained eye and sharp business mind caused his father to beam with pride as they dealt with art collectors around the world.

As winter approached, war engulfed the nation, and the young man left to serve his country. After only a few short weeks, his father received a telegram. His beloved son was missing in action. The art collector anxiously awaited more news, fearing he would never see his son again. Within days, his fears were confirmed. The young man had died while rushing a fellow soldier to a medic. Distraught and lonely, the old man faced the upcoming Christmas holidays with anguish and sadness. The joy of the season, a season that he and his son had so looked forward to, would visit his house no longer.

On Christmas morning, a knock on the door awakened the depressed old man. As he walked to the door, the masterpieces of art on the walls only reminded him that his son was not coming home. As he opened the door, he was greeted by a soldier with a large package in his hand. He introduced himself to the man by saying, “I was a friend of your son. I was the one he was rescuing when he died. May I come in for a few moments? I have something to show you.”

As the two began to talk, the soldier told of how the man’s son had told everyone of his, not to mention his father’s, love of fine art. “I’m an artist,” said the soldier, “and I want to give you this.” As the old man unwrapped the package, the paper gave way to reveal a portrait of the man’s son. Though the world would never consider it the work of a genius, the painting featured the young man’s face in striking detail.

Overcome with emotion, the man thanked the soldier, promising to hang the picture above the fireplace. A few hours later, after the soldier had departed, the old man set about his task. True to his word, the painting went above the fireplace, pushing aside thousands of dollars of paintings. Then, the man sat in his chair and spent Christmas gazing at the gift he had been given.

During the days and weeks that followed, the man realized that even though his son was no longer with him, the boy’s life would live on because of those he had touched. He would soon learn that his son had rescued dozens of wounded soldiers before a bullet stilled his caring heart. As the stories of his son’s gallantry continued to reach him, fatherly pride and satisfaction began to ease the grief. The painting of his son soon became his most prized possession, far eclipsing any interest in the pieces for which museums around the world clamored. He told his neighbors it was the greatest gift he had ever received.

The following spring, the old man became ill and passed away. The art world was in anticipation! Unmindful of the story of the man’s only son, but in his honor; those paintings would be sold at an auction.

According to the will of the old man, all of the art works would be auctioned on Christmas day, the day he had received his greatest gift. The day soon arrived and art collectors from around the world gathered to bid on some of the world’s most spectacular paintings. Dreams would be fulfilled this day; greatness would be achieved as many would claim “I have the greatest collection.” The auction began with a painting that was not on any museum’s list. It was the painting of the man’s son. The auctioneer asked for an opening bid. The room was silent. “Who will open the bidding with $100?” he asked. Minutes passed. No one spoke. From the back of the room came, “Who cares about that painting? It’s just a picture of his son. Let’s forget it and go on to the good stuff.” More voices echoed in agreement. “No, we have to sell this one first,” replied the auctioneer. “Now, who will take the son?”

Finally, a friend of the old man spoke. “Will you take ten dollars for the painting? That’s all I have. I knew the boy, so I’d like to have it.” I have ten dollars. Will anyone go higher?” called the auctioneer. After more silence, the auctioneer said, “Going once, going twice. Gone.” The gavel fell. Cheers filled the room and someone exclaimed, “Now we can get on with it and bid on these treasures!” The auctioneer looked at the audience and announced the auction was over.

Stunned disbelief quieted the room. Someone spoke up and asked, “What do you mean it’s over? We didn’t come here for a picture of some old guy’s son. What about all of these paintings? There are millions of dollars of art here! I demand that you explain what’s going on here!” The auctioneer replied, “It’s very simple. According to the will of the father, whoever takes the son … gets it all.”

Puts things into perspective, doesn’t it? Just as those art collectors discovered on that Christmas day, the message is still the same-the love of a Father, a Father whose greatest joy came from His Son who went away and gave His life rescuing others. And because of that Father’s love, whoever takes the Son gets it all.

By Author unknown

Hãy Cho

Gửi đến các bạn một lời chúc Giáng sinh an hòa trong yêu thương và trao tặng vì “chính khi cho đi là khi ta nhận lại tặng vật lớn lao nhất.”

Ta kiếm sống bằng những gì ta có, nhưng chúng ta tạo cuộc đời bằng cách cho đi
-Albert Schweitzer

Đôi khi ánh sáng của chúng ta lụi đi, nhưng lại được thổi bùng lên bời một cuộc gặp gỡ với một người nào khác. Mỗi chúng ta biết ơn sâu sắc những ai đã nhen nhóm ngọn lửa nội tâm này.
-Albert Schweitzer

Giáng sinh, về nhiều phương diện, là thời điểm tuyệt vời nhất của năm. Những cơ hội gắn bó với gia đình, thư giãn, và tự soi lại mình, và tập trung lại vào các mặt chính của đức tin không dễ có ngày nay. Tuy nhiên, tuần này cho phép ta thời gian làm chỉ một việc: tập trung cho hiện tại.

Có một món quà tôi hằng nghĩ đến. Đi lại giữa các cửa hiệu và trung tâm mua sắm, tôi bị choáng ngợp bởi các hàng trưng bày đẹp đẽ. Tôi có quá nhiều quà để chọn lựa đến độ tệ liệt : Tôi sợ mua phải một món quà dở hay hay đắt nên kết cục tôi ra khỏi tiêm tay không. Thực trớ trêu, vào sáng Noel khi người nhà tôi quyết định mở những món quà mà cuối cùng tôi đã chọn cho họ, họ luôn dường như thích chúng. Điều này khẳng đinh hiểu biết từ đáy lòng tôi rằng chính ý nghĩ mới quan trọng.

Mùa này có thể đôi khi khiến ta mang đầu óc kiểu tiêu dùng. Để tránh được kiểu tư duy ấy, theo tôi ta cần chậm lại, đếm lại những ân phúc đời mình, và nghĩ về việc làm sao chúng ta có thể giúp người khác. Chúng ta biết ơn về những điều gì? Bằng cách nào chúng ta có thể làm cho ngày của một ai đó tươi đẹp hơn? Theo kinh nghiệm của tôi, nếu chúng ta giữ những ý nghĩ này trong đầu ta sẽ tìm được tặng vật phù hợp cho những người khác… thậm chí nếu quà tặng về vật chất vẫn không trọn vẹn.
Năm nay, để thực hành ý tưởng này, chúng tôi quyết định tặng cho các tổ chức từ thiện nhân danh ban hữu tôi và gia đình, thay vì tặng quà vật chất cho họ. Các quà tặng từ thiện cho ta cơ may đôc nhất để cám ơn những người yêu dấu của ta cũng như ủng hộ các tổ chức mà muốn nhìn thấy thế giới cải thiện.

Huỳnh Huệ dịch

We Make A Living By What We Get, But We Make A Life By What We Give..

By Matt

“Sometimes our light goes out, but is blown again into flame by an encounter with another human being. Each of us owes the deepest thanks to those who have rekindled this inner light.” -Albert Schweitzer

Christmas is, in many ways, the most wonderful time of the year. Opportunities to reconnect with family, to relax and reflect, and to refocus on the key aspects of faith are hard to come by these days. However, this week allows us the time to do just that: focus on the present.

There is another kind of “present” that I have been thinking about. Walking through the malls and stores, I feel a bit overwhelmed by the auspicious displays. I have so many gift choices that I get a little bit of shopper’s paralysis: I am so afraid of making a poor or expensive choice in a gift that I end up walking out empty handed. Ironically, when my family members open the gifts that I finally decided to choose for them on Christmas morning, they always seem to love them. It confirms what I know in my heart, that it truly is the thought that counts.

This season can, at times, put our minds into consumer mode. In order to snap out of that mindset, I believe we need to slow down, count our blessings, and think about how we can bless others. For what things are you thankful? How can you make another person’s day brighter? In my experience, if we keep those questions in mind we will find the perfect present for others . . . even if the physical gift is not perfect.

This year, in order to put this idea into practice, my wife and I decided to donate to charities on behalf of our friends and family members, rather than giving physical gifts to them. These charitable gifts give us the unique chance to thank our loved ones, as well as support causes that they would like to see improve in the world. We have not distributed any of the gifts, but I will let you know what they think!

Ông Già Nô-En Không Quên

    Tác giả : M.A. Haley

Bertie là một cậu bé rất ngoan. Cậu bé tử tế, biết vâng lời, thật thà, và không ích kỉ. Tuy nhiên, cậu có một khuyết điểm lớn – cậu rất hay quên.
Dù việc lặt vặt có quan trọng thế nào đi nữa , câu trả lời của cậu bé luôn luôn là, “Con quên.” Khi cậu được sai đem một bản ghi chú cho người thợ may, mẹ cậu sẽ tìm thấy bản ghi chú ấy trong túi cậu vào buổi tối. Nếu cậu bé được sai đến cửa hàng một cách vội vã, để mua vài món cho tiệc trà, cậu sẽ trở về muộn, chẳng có món hàng nào ngoài câu trả lời thường lệ.
Cha mẹ cậu bé đã bàn bạc kĩ vấn đề này, và quyết định phải làm gì đó để làm cho thằng nhỏ nhớ.
Giáng sinh đã gần kề, và Bertie đang bận lập danh sách những thứ mà ông già Nô-en phải mang cho cậu.

“ Ông già nô-en có thể quên một vài trong số những thứ đó, ” mẹ cậu nói.
” Ông ấy không thể, ” Bertie đáp lại ; ” vì con sẽ viết xe trượt tuyết, giầy trượt pa-tanh, trống, vĩ cầm, và hết mọi thứ lên tờ giấy này. Sau đó khi ông già Nô-en tới gần chiếc tất của con ông ấy sẽ tìm thấy bản danh sách. Ông ấy có thể bắt gặp nó và bỏ quà vào liền ngay sau khi đọc.”

Vào sáng Giáng sinh , Bertie dậy rất sớm để xem có gì trong vớ của mình. Mẹ cậu bé cố gắng tránh mặt cậu , vì bà ấy biết những gì ông già Nô-en đã làm.
Cuối cùng bà nghe thấy tiếng cậu bé đi chầm chậm vào phòng mình. Cậu từ từ mở cửa và tiến lại gần bà. Cậu bé giữ trong tay một danh sách còn dài hơn nhiều cái mà cậu đã viết ra. Cậu đặt nó vào tay mẹ, trong khi những giọt nước mắt thất vọng lăn dài từ mắt cậu.

” Mẹ hãy xem những gì ông già Nô-en để lai cho con; nhưng con nghĩ ông ấy có lẽ đã mang lại cho con thứ khác bên cạnh đó.”
Mẹ cậu mở cuộn giấy ra. Đó là một danh sách những việc lặt vặt Bertie đã được yêu cầu làm trong sáu tháng. Ở cuối tất cả được viết, bằng chữ in hoa đập vào mắt, ” CON QUÊN.”
Bertie khóc cả tiếng đồng hồ. Sau đó mẹ nói với cậu rằng cả nhà sắp đến nhà ông ngoại. Lần đầu tiên cậu bé thấy cây thông Nô – en. Có lẽ cái gì đó đang được chuẩn bị cho cậu ở đó.
Thật kỳ lạ với Bertie, nhưng trên cây của ông cậu bé tìm thấy mọi thứ mình đã viết trong danh sách. Vậy là cậu đã chữa khỏi thói quen xấu của mình ? Cũng không hẳn ngay lập tức ; nhưng khi mẹ cậu thấy cậu đặc biệt lơ là bà ấy sẽ nói, ” Nhớ đó, ông già Nô-en không quên.”

Thùy Trang và Anh Thư dịch

SANTA CLAUS DOES NOT FORGET
Story written by M.A. Haley

Bertie was a very good boy. He was kind, obedient, truthful, and unselfish. He had, however, one great fault,—he always forgot.
No matter how important the errand, his answer always was, “I forgot.” When he was sent with a note to the dress-maker his mother would find the note in his pocket at night. If he was sent to the store in a great hurry, to get something for tea, he would return late, without the article, but with his usual answer.

His father and mother talked the matter over, and decided that something must be done to make the little boy remember.
Christmas was near, and Bertie was busy making out a list of things which Santa Claus was to bring him.
“Santa Claus may forget some of those things,” said his mother.
“He cannot,” replied Bertie; “for I shall write sled, and skates, and drum, and violin, and all the things on this paper. Then when Santa Claus goes to my stocking he will find the list. He can see it and put the things in as fast as he reads.”
Christmas morning came, and Bertie was up at dawn to see what was in his stocking. His mother kept away from him as long as she could, for she knew what Santa Claus had done.

Finally she heard him coming with slow steps to her room. Slowly he opened the door and came towards her. He held in his hand a list very much longer than the one he had made out. He put it in his mother’s hand, while tears of disappointment fell from his eyes.
“See what Santa Claus left for me; but I think he might have given me one thing besides.”

His mother opened the roll. It was a list of all the errands Bertie had been asked to do for six months. At the end of all was written, in staring capitals, “I FORGOT.”
Bertie wept for an hour. Then his mother told him they were all going to grandpa’s. For the first time he would see a Christmas-tree. Perhaps something might be growing there for him.

It was very strange to Bertie, but on grandpa’s tree he found everything he had written on his list. Was he cured of his bad habit? Not all at once; but when his mother saw that he was particularly heedless she would say, “Remember, Santa Claus does not forget.”