(Kỷ niệm 3 năm ngày mất của nhà thơ – nhà báo Trần Hòa Bình)
Thị trấn Xuân Hòa – Vĩnh Phúc hai mươi năm trước…
Tối mịt, sau khi ăn uống quấy quá cho xong tại quán cơm bình dân, tôi và Trần Hòa Bình đang định quay lên căn phòng tập thể của Bình ở Đại học Sư phạm Hà Nội II, thì Bình bảo: “Tôi với ông đi dạo quanh thị trấn đi?”
Hồi ấy, chỉ cần ra khỏi khu vực của trường ĐHSP là khung cảnh vắng ngắt, ao chuôm đầm lầy ngổn ngang. Chúng tôi lang thang trong đêm vắng, chỉ có tiếng côn trùng, ếch nhái hân hoan chào đón những bước chân lãng du…
Thỉnh thoảng, tôi lại phóng xe lên Xuân Hòa với Trần Hòa Bình, những hôm anh có giờ dạy ở trường. Quang cảnh tịch mịch của thị trấn nghèo không xa lạ với chúng tôi, nhưng lần nào chúng tôi cũng đều tìm thấy thêm một điều gì đó thi vị, thân thương đối với hai kẻ cô đơn, hạnh phúc gia đình trắc trở… Đi mãi lên gần phía hồ Đại Lải, một cơn mưa giông bất chợt ào xuống, chúng tôi chạy vội trú chân trong một quán lá sơ sài ven đường. Chúng tôi rét run, im lặng nhìn mưa đêm, mỗi đứa âm thầm theo đuổi những nỗi niềm run rẩy mơ hồ của cõi đời phù du…

Tập thơ “Trôi” của Lê Thanh My (NXB Văn nghệ TPHCM năm 2007) – hội viên Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh An Giang có 43 bài, trong đó lục bát chưa đến chục bài, vậy mà người đọc cứ phải suy tư, trăn trở, bởi không chỉ là sự mượt mà trong niêm luật của thể thơ truyền thống, mà còn do những biện pháp tu từ được sử dụng nhuần nhuyễn, ý nhị đầy chất nghệ thuật, chuyển tải một cách nhẹ nhàng, sâu sắc những suy ngẫm, chiêm nghiệm về con người, về cuộc đời và cả những nỗi niềm sâu lắng trong tâm hồn.
Lần đầu tiên tôi được gặp nhà thơ Hoàng Xuân Họa, trong cuộc gặp mặt giữa vợ chồng nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy & Lý Phương Liên với những người hầu hết mới chỉ biết nhau qua mạng, tại Nhà văn hóa TN Hồ Thuyền Quang chiều mùng 3 Tết Tân Mão. Lúc được biết Hoàng Xuân Họa là người đã chép hai bài thơ của LPL để trong ba lô suốt những năm tháng chiến trường và còn giữ tới ngày hôm nay, tôi tò mò thích thú rồi lân la tới làm quen. Ông tặng tôi tập thơ “Trót một thời yêu” mới xuất bản. Trong lúc trò chuyện giao lưu cùng những người bạn mới đều yêu thơ NNB&LPL, tôi lật giở vội vài trang của tập thơ TMTY, và có một tên bài thơ (cùng một vài câu của bài thơ đó) kịp in vào ấn tượng của tôi… Nhưng phải đến hơn một tháng sau, khi tôi lục tìm tư liệu để chuẩn bị cho một phim tài liệu sắp thực hiện, giở đến cuốn sách cũ “Thiên nhiên Việt Nam”, lúc dừng lại khá lâu ở một đoạn do tôi gạch chân ba mươi năm trước và đã từng thuộc nó, thì tôi mới sực nhớ lại tên bài thơ của HXH. Tôi tìm tập thơ tặng để đọc – và trước hết là bài này:
Cứ mỗi lần hành quân qua đây
Những đàn bồ câu hồn nhiên bay lượn và đậu yên bình cũng hồn nhiên như thế trước Hoàng cung dát vàng

Năm 2011, hai tác giả Cà Văn Chung và Trần Vân Hạc đã giúp một sinh viên của Đại học Văn hóa làm khóa luận tốt nghiệp: “Một số làn điệu “khắp” phổ biến của người Thái đen ở huyện Mường La” – Sơn La. Khóa luận này đã đạt 9,9 điểm. Hai tác giả Cà Văn Chung và Trần Vân Hạc trích giới thiệu một phần nói về những đặc trưng cơ bản của thơ Thái, với mong muốn giúp bạn đọc hiểu thêm về thơ Thái và nên dịch sang ngôn ngữ phổ thông như thế nào để gần với nguyên tác nhất cả về nội dung và nghệ thuật:
HẠNH PHÚC
Gửi Ức Trai
Sau những ngày bôn ba du ngoạn Tây Bắc và dự trại sáng tác ở Mộc Châu về. Hà Nội oi nồng nắng nóng nên đành giam mình trong nhà làm bạn với cái máy tính không bao giờ biết kêu ca đòi hỏi, thì bất ngờ nhận được lời bình của nhà thơ Hoàng Xuân Họa về tập thơ: “Mục xó xỉnh cười” của Du Nguyên, XNB Hội Nhà văn-2011.Thơ Du Nguyên đã mới, đã “điêu ngoa”, đã lạ lại được “chàng trai” Hoàng Xuân Họa, sinh năm 1939 với hai lần “Trót một thời yêu” và viết cuốn dạy cách làm thơ bình thì còn gì bằng nữa. Một người “điêu ngoa” trẻ trung gặp một người “điêu toa” thâm trầm, uyên bác. Đúng là một cặp bài trùng trời sinh giữa biển thơ thời mở cửa!Những cái Du Nguyên viết có phải là thơ không nhỉ? Mới đọc vài dòng thì thật không thể nhịn cười rồi lặng đi trong suy ngẫm. Cấu tứ lạ, ngôn từ lạ, tràn ngập âm thanh và hình ảnh lạ, cách thể hiện lạ nhưng đằng sau những con chữ “điêu ngoa” lạ kia là cảm quan của người viết trước bộn bề cuộc sống, trước lòng người và nhân tình thế thái một cách tinh tế và sâu sắc. Cái cách thể hiện độc đáo, đôi khi mang âm hưởng dân gian tạo một ấn tượng khó phai đến mức ám ảnh khi đã hiểu và cảm. Ô! Thế là thơ chứ còn gì nữa, thơ đích thực ấy chứ, mà cái thú là thơ Du Nguyên không hề giống ai, không như bây giờ đọc thơ cứ phải nhấc mũ chào liên tục, hoặc “mới” và ” “hiện đại” đến mức người đọc không hiểu họ viết cái gì!
Nếu được sống trăm lần