
Em đi rồi, mai thành phố cô đơn…
Những bông hoa mùa xuân thôi không nở
Đi dưới bóng điện đêm lòng chợt rất buồn.


THƠ TẶNG NGƯỜI VỀ
Phút ngừng ký mọi chức danh
Là khi con chữ chỉ dành cho em
Là khi tình được tô tem
Vinh danh thi tứ anh đem tặng đời
Bàn tay đã với sao trời
Thôi, về chải tóc cho người ta thương
Dắt tay đưa cháu đến trường
Bật ga nấu bữa cơm thường chiều nhau
(trích trong tập Bàn tay ấm giọt sương đông- NXB Hội Nhà văn 2010)
Nguyễn Nguyên Bảy đò đưa
Giã tên Hậu, nghệ là Thiên Ca, tuồi nhỏ thua con trai tôi một đoạn. Tôi tình cờ còn giã vẻ như cố ý mà thành duyên “thầy trò”. Ngay lần gặp nhất, khi tôi đến tòa báo T, nơi giã đang “làm”, bàn công việc với H, giã chào tôi là thầy và xưng con. Tôi hơi ngỡ, nhưng quen thói lòa xòa mới bảo Mình vừa quen nhau mà. Giã đáp: Với con, thầy đã là thầy của con tử lâu rổi. Hỏi thêm: Lâu là bao giờ? Giã thoáng bẽn lẽn: Từ ngày con lên tầu đi hoang… Tôi hết hồn: Ta dạy nhà ngươi đi hoang hồi nào? Rồi cả ba, tôi H và giã cùng cười ngất.
Giã đã ấn tượng với tôi ngay lần gặp đầu tiên ấy. Sau đó vài đôi ngày, gặp giã lần hai, tôi hoàn toàn bị choáng vì giã, giã và H. bất ngờ tổ chức tặng tôi một bữa cà phê tiệc khá tráng để tôi tự “tung hô” mình nhân ra mắt quyển thơ Nguyễn Nguyên Bảy 1, tại Quán XO trên đường Nguyễn Huệ ( Quán XO, đã từng có tiếng và nay đã buộc phải dẹp để xây building ). Bữa cà phê tiệc này khiến tôi cảm động túy lúy tình bạn xưa xưa của tôi với H. và tình bạn tân toanh của tôi với giã, hai chữ tình bạn viết hoa. Bữa đó giã ôm đàn và hát tặng tôi, giã hát không hay như ca sĩ “xịn”, nhưng thật đắm say, đắm say chân tình dìm trong đôi mắt mặc áo kính thời “Hoàng Đế Trung Hoa cuối cùng”. Tôi và có lẽ nhiều cử tọa khác đã mềm lòng trong tiếng hát. Bài hát ấy, tên, Mơ Về Hà Nội

Dung Thị Vân
Vì anh nên biển có em
Để bờ cát trắng về đêm thầm thì
Sóng xô như lệ vương mi
Vỡ òa nỗi nhớ bước đi ngập ngừng
Em ngồi trước biển rưng rưng
Dã tràng xe cát mấy trùng sóng xô
Nhìn đâu cũng chỉ một bờ
Mênh mang biển cả mịt mờ bóng đêm
Từ anh lời nói dịu êm
Em giờ thổn thức bên thềm đẫm trăng
Ước gì một ánh sao băng
Vớt lời thề hẹn rồi giăng mái trời
(Trích trong tập “Miền gió ngược” – NXB Thanh niên, 2010)
Lời bình của Trần Vân Hạc

Ráng chiều lung linh vườn cũ
Thì thầm tán lá đung dưa
Mải miết dấu chân rêu phủ
Nghe lòng thổn thức dâng mưa
Hạt nắng trôi ngang loáng bạc
Lung lay tầu lá che nghiêng
Lộp bộp gieo từng nốt nhạc
Gọi về khúc nhớ chung chiêng
(Nhân đọc bài “Thay đổi” của Ngọc Chấn,
Hội văn học nghệ thuật tỉnh Yên Bái)
THAY ĐỔI
Lửa có thể biến lâu đài thành tro bụi
Sấm sét rạch nát bầu trời
Lũ lụt đổi thay mặt đất
Giông bão làm ngả nghiêng núi rừng
Rượu biến ta thành người khác
Tiền bạc đưa ta tới tận cùng vinh – nhục
Trí tuệ. Sự chinh phục…
Miệng lưỡi thế gian có thể làm ta gục ngã.
Ánh mắt của con người
Có thể làm ta tin.
(Rút trong tập:“Nơi dòng sông gặp biển”- NXB Văn hóa Thông tin năm 2010)

Ngút ngàn
Xanh dịu một thảo nguyên
Mênh mông,
Bờ này em đứng lặng
Từng bước,
Khe khẽ
U sậm mắt buồn
Mây trôi về đâu
Ru tình dịu vợi
Thấp thoáng, nhạt nhòa
Bóng người câm vọng
Nhức nhối
Đợi chờ
Chân tình còn lạ lẫm… Continue reading Thảo nguyên xanh

Suối róc rách bìa rừng
Cứ kêu hoài chân vực
Một thành phố quê hương
Hiện lên trong đáy mắt!
Là một người thơ yêu thiên nhiên, yêu hoa cỏ đến độ ” Tình có nụ cười bối rối các loài hoa”, NNB – người tự nhận là “một lãng du yêu”, trong khi nói về các loài hoa như trà mi, hoa sữa, hoa quỳnh, cả loại “hoa chân chim” – bước chân của “chim trống lặn lội đi tìm” chim cái, v.v, anh không thể không nói đến Hoa nhài. Phải chăng, “Hoa thơm ai giắt mái đầu/Mây kia bất tử một mầu nhớ thương” mà NNB ngẩn ngơ, trước hết chính là hoa nhài? Ta có thể hình dung, trong một đêm nọ, “Sân trăng tình lại ngồi kề bên nhau/ Mái đầu lại chụm mái đầu “, người thơ đã kể về một loài hoa thực đáng yêu song từng bị chịu đựng nhiều bất công hơn cả – đó là hoa nhài:
Continue reading Bàn thêm về Hoa Nhài sau khi đọc thơ Nguyễn Nguyên Bảy

Tam Đảo hừng lên trong nắng mai
Bồng bềnh mây sữa ngậm sương phai
Mắt em huyền ảo vương hoa khói
Lằng lặng đêm đi giấc mộng dài
Ta dắt nhau về lối vết xưa
Rêu phong dấu cũ nắng đung đưa
Lâu đài hoa lệ trăm năm cũ
Còn lại trong anh dấu hỏi thừa

(Ngọc Bái đọc “Tiếng Khèn” của Trần Vân Hạc)
Vút lên từ con tim
Rộn ràng như vó ngựa
Chuốt chọn từng sợi gió
Thông vi vút non ngàn
Gom muôn ánh trăng rằm
Sóng núi dâng mê mướt
Chắt bình minh chợt thức
Lửa tình đầu tinh khôi
Anh hái cả sao trời
Đợi chờ đêm thao thức
Khèn ngân rung tha thiết
Cháy bỏng lời yêu thương
Anh gửi vào mênh mông
Núi mờ sương đồng vọng
Tiếng đơn côi day dứt
Vấp lẻ loi chơi vơi
Lọc tiếng thác trào sôi
Lựa bão giông chớp giật

Ai như đứa trẻ thèm Trăng sáng
Muốn hái Trăng chơi, hái được nào?
Hồn dẫu vấn vương bên bóng Nguyệt
Chân chồn đâu kiễng đến Trời cao!
(Nhân Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII)
Em tuổi hai mươi như tất cả mọi người
Chọn số phận ở thời mình đang sống…
Lý Phương Liên
Tôi sẽ không gọi Lý Phương Liên là nhà thơ – mặc dù chị xứng đáng và cần được gọi như vậy, nhất là khi danh xưng “nhà thơ” đang bị lạm dụng. Tôi cũng sẽ không dám nói nhiều tới nội dung – nghệ thuật những sáng tác thơ ca của chị, vì “Sau biết bao chìm nổi, nương dìu nhau mà sống, 40 năm sau, tập thơ “Ca bình minh” của Lý Phương Liên và tập “Thơ Nguyễn Nguyên Bảy” ra mắt bạn đọc” (Thanh niên Oline), đã có nhiều người viết làm công việc đó một cách công tâm, sòng phẳng. Với tư cách là một người yêu thơ, và là một người bạn vong niên rất lâu của chị, nhân Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ VIII đang diễn ra, tôi chỉ muốn nhìn lại đôi chút về “Hiện tượng Lý Phương Liên” sau một quãng thời gian đủ hình thành dăm bảy thế hệ người viết…
Continue reading Nhìn lại “Hiện tượng Lý Phương Liên” của 40 năm trước

Ngày xa xanh
Tiếng cọn nước trong mơ
Đưa anh về ngày hoang vãng
Áo chàm xanh chiều lặng
Và em
Đôi mắt vắt xanh
Ngăn ngắt lá về cành
Bìm bịp triền non khắc khoải
Ngày gội sương loang vãi
Gọi khói lam mái chiều
Sàn gió liêu xiêu
Trâu về gõ nhạc

Tôi được gặp tác giả đôi ba lần, trong mấy cuộc giao lưu ra mắt sách thơ của vợ chồng thi sĩ Nguyễn Nguyên Bảy- Lý Phương Liên, chưa có điều kiện để trò chuyện nhiều với ông và cũng bởi có cảm giác ông là người sống thu mình, không cởi mở. Nếu chưa gặp ông, chỉ đọc thơ ông, ta cũng có thể mường tượng ra một con người sống trầm lặng, không nói to bao giờ, thường xuyên mơ mộng, hay ngẫm ngợi, chỉ kín đáo quan sát để không bỏ sót một sắc thái nào của thiên nhiên, một biểu hiện nào của tâm lý những người xung quanh…