Tag Archives: Song ngữ

Lời cầu nguyện cho bình an

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu với các bạn một câu cầu nguyện cho sự an bình trong cuốn sách “Illuminated Prayers” của chị Marianne Williamson.
simple
Mình tình cờ được biết cuốn sách này trong khi đi dạo ở hiệu sách Strand Bookstore ở New York City. Thật ngỡ ngàng, như nói chuyện với một người bạn thân, những bài cầu nguyện mang đầy tinh thần trong trẻo an bình với những câu ngắn, xuống dòng lần lượt như từng dòng suy tư chảy chậm lắng đọng. Thật lạ lùng.

Về nhà, mình xem thêm trên Internet và được biết nhiều người buồn rầu và bị bệnh hiểm nghèo như ung thư tìm thấy trong cuốn sách của chị liều thuốc tinh thần quý giá.

Chúc các bạn một ngày bình an,

Hiển.

.

Thưa Chúa,

Hãy gửi đến cho con tinh thần an bình của Ngài.

Rồi gửi đi,
thưa Chúa,
tinh thần an bình
từ con
đến tất cả thế giới.
peace
Mong rằng mọi người con nghĩ đến
và tất cả những người nghĩ về con
chỉ nhìn thấy sự vô tội
và tình yêu,
bởi đó là con người
của chúng con.

Thưa Chúa,
hãy ban phước
cho mối liên hệ của con với mọi người.
Thánh hóa những mối quan hệ của con,
và ban binh an cho các giao tiếp giữa chúng con,
từ thân thể tới thân thể
và từ linh hồn tới linh hồn.
AMEN.

Nguyến Minh Hiển dịch

.

Dear God,

Please send to me the spirit of your peace.

Then send,
dear Lord,
the spirit of peace
from me
to all the world.
peace4
May everyone I think of
and all who think of me
see only innocence
and love,
for that is who
we are.

Bless,
dear God,
my bond with others.
Make holy my relationships,
and peaceful our communications,
body to body
and soul to soul.
Amen

Marianne Williamson
(Illuminated prayers)

Đường thi: Vô Đề, của Lý Thượng Ẩn

landscape

Các bạn thân mến,

Trong một lần giúp anh Ái tìm tác giả của bài thơ “Vô Đề” mình đã vô tình đọc được bài thơ “Tương kiến thời nan biệt diệc nan” của Lý Thượng Ẩn, mặc dù bài thơ này không đúng với bài thơ mà anh Ái cần tìm nhưng mình vẫn check rất nhiều tài liệu về bài thơ, và hôm nay mình xin được phép gửi đến các bạn và các anh chị trong ĐCN phần dịch phân tích về bài thơ này nhé, chúc mọi người một ngày tươi sáng


chinesepainting-woman
Lý Thượng Ẩn là một nhà thơ vào thời cuối của nhà Đường, đương thời ông cùng Đỗ Mục ngang danh. Nhưng, nếu xét về mặt ảnh hưởng đến đời sau thì ông lại vượt trội hơn hẳn Đỗ Mục. Cống hiến lớn nhất của ông trong lịch sử thơ ca, là làm phong phú thêm nghệ thuật thơ trữ tình. Trong thơ của mình, ông thường dùng những từ ngữ thanh tao để cấu tạo nên hình tượng tốt đẹp, gửi gắm những tình cảm sâu đậm và những hàm ý ẩn giấu vào trong thơ, làm cho người đọc cảm nhận được những vẻ đẹp vừa uyển chuyển nhưng lại rất mông lung. Thất ngôn luật tuyệt được coi là loại tác phẩm thể hiện được phong cách đặc sắc này của ông, trong đó các tác phẩm thuộc thể loại “Vô Đề” (đa phần là thất ngôn cận thể) được coi là điển hình. Thể thơ này không phải nhất thời nhất địa mà đa phần viết về tình yêu, vì nội dung của bài hay vì một lý do nào đó không tiện nói ra hoặc khó khăn trong việc chọn chủ đề để đặt cho bài thơ nên tác giả thường gọi là “Vô Đề”. Sau đây mình sẽ giới thiệu với các bạn một tác phẩm”Vô Đề”-“Tương kiến thời nan biệt diệc nan” của Lý Thượng Ẩn nhé:

无题 Vô Đề Vô Đề -(Tương kiến thời nan biệt diệc nan)

相见时难别亦难, Tương kiến thời nan biệt diệc nan,
东风无力百花残。 Đông phong vô lực bách hoa tàn.
春蚕到死丝方尽, Xuân tám đáo tử ti phương tận,
蜡炬成灰泪始干。 Lạp cự thành khôi lệ thủy can.
晓镜但愁云鬓改, Hiểu kính đản sầu vân tấn cải,
夜吟应觉月光寒。 Dạ ngâm ứng giác nguyệt quang hàn.
蓬山此去无多路, Bồng sơn thử khứ vô đa lộ,
青鸟殷勤为探看。 Thanh điểu ân cần vi thám khán.

    (phiên âm-Kiều Tố Uyên)

missing
Khó gặp nhau mà cũng khó xa,
Gió xuân đành để rụng trăm hoa.
Con tằm đến thác tơ còn vướng,
Chiếc nến chưa tàn lệ vẫn sa.
Sáng ngắm gương buồn thay mái tuyết,
Đêm ngâm thơ thấy lạnh trăng ngà.
Bồng lai tới đó không xa mấy,
Cậy với chim xanh dọ lối mà.

    (dịch thơ-Khương Hữu Dụng và Tương Như)

Bài thơ này, thông qua lời nói của một người con gái để viết lên tâm trạng khi yêu. Trong đau thương, thống khổ nhưng vẫn luôn thể hiện được tình yêu nóng bỏng, khát vọng, kiên nhẫn… danh giới tình cảm sâu đậm dai dẳng, và rất phong phú.

Hai câu đầu, viết về mối tình trắc trở không có hạnh phúc và tâm trạng trữ tình của người con gái: vì gặp phải những trở ngại lớn, đôi tình nhân đã không còn cơ hội gặp được nhau, nỗi thống khổ vì xa cách làm cho người con gái này khó có thể chịu đựng được. Chữ “别” tức “biệt” trong câu đầu không phải chỉ lời nói chia tay trong hiện tại, mà chỉ sự xa cách trong quá khứ. Hai chữ “ 难”, chữ thứ nhất chỉ cơ hội gặp nhau khó, chữ thứ hai chỉ nỗi thống khổ khó có thể chịu đựng được. Các bậc tiền bối trong thơ đã từng viết “别日何易会日难” tức “Biệt nhật hà dị hội nhật nan” hay “别易会难得” tức “Biệt dị hội nan đắc”…đều nhấn mạnh sự khó khăn trong việc gặp lại, và nỗi khổ khi phải biệt ly.

Nhưng Lý Thượng Ẩn đã tiến xa hơn một bước trong việc bộc bạch: vì “tương kiến thời nan” cho nên “biệt diệc nan”- khó có thể cắt đứt, thống khổ khó có thể chịu đựng. Nhà thơ trong cùng một câu đã sử dụng hai lần từ “nan” tức”khó”, sự xuất hiện của chữ “nan” thứ hai vì trùng lập nên tạo cho người đọc có cảm giác đột ngột, nhưng thông qua đó lại có thể thấy được đây là sự biệt ly không có ngày gặp lại. Trạng thái đau khổ triền miên này người đọc không thể cảm nhân được trong câu “biệt dị hội nan đắc” nhưng trong “tương kiến thời nan biệt diệc nan” thì lại rất rõ.

morning

Cách dùng cảnh vật để phản ánh cảnh ngộ và tình cảm của con người dưới ngòi bút của Lý Thượng Ẩn là rất thường gặp, ta có thể cảm nhận được điều đó ngay trong bài thơ này trong việc phân tích câu thứ hai: Người con gái chữ tình này đã bị tổn thương đến mức vậy, lại đối mặt với cảnh vật vào cuối mùa xuân, tất nhiên càng làm người con gái này đau lòng và khó quên. Vào tiết cuối xuân, gió đông thổi lực không mạnh, trăm hoa tàn lụi, và hương sắc của mùa xuân cũng dần mất theo, sức người trước cảnh vật đó cũng không có cách nào cứu vãn được, lại thêm cảnh ngộ bất hạnh của bản thân và vết thương trong tâm linh, người con gái này cũng trôi theo mùa xuân và lụi tàn giống những bông hoa ngoài kia. Câu “Đông phong vô lực bách hoa tàn”, vừa miêu tả cảnh thiên nhiên, lại vừa phản ánh tâm trạng của người con gái trữ tình này, người vật giao nhau, tâm linh và tự nhiên đã kết hợp với nhau một cách tinh vi.

Bốn câu tiếp theo viết về tình cảm uẩn khúc một cách rõ nét hơn. Chữ “丝” tức “ti” trong câu “Xuân tám đáo tử ti phương tận” có cách đọc giống với chữ “思” tức “tư” nên chữ “ti” ở đây ngụ ý chỉ tương tư. Ý của toàn câu là chỉ sự tưởng nhớ của người con gái đến đối phương, giống như con tằm chỉ khi nào nhả hết tơ đến khi chết mới chịu dừng.

“Lạp cự thành khôi lệ thủy can” là một cách tự ví von bản thân, vì không được hội tụ nên đau khổ, nỗi đau này kéo dài mãi không kết thúc giống như nước mắt của cây nến chỉ đến khi nào nến cháy hết thành tro mới chịu thôi. Tưởng nhớ trong vô tận, mọi thứ trước mắt đều là vô vọng, do đó, người con gái này đã để cho nỗi đau của mình trôi theo dòng đời. Mặc dù biết là vô vọng nhưng người con gái này sống chết vẫn tưởng nhớ đến đối phương, và nguyện dành quãng đời còn lại của mình để yêu người đó.

Do đó trong hai câu này vừa thể hiện nỗi đau và bi thương trong thất vọng, lại vừa thể hiện tình yêu nóng bỏng và lòng kiên nhẫn theo đuổi đến cùng.Theo đuổi ở đây là vô vọng, nhưng trong vô vọng vẫn quyết tâm theo đuổi, do đó theo đuổi ở đây cũng đã được Lý Thượng Ẩn nhuộm màu bi quan. Những tình cảm này hình như tuần hoàn trong vô tận, khó có thể đoán nó sẽ dừng lại ở đâu. Nhà thơ chỉ thông qua hai hình ảnh để so sánh đã diễn tả được trạng thái tâm lý phức tạp của người con gái, qua đó có thể thấy khả năng liên tưởng của nhà thơ phong phú đến mức nào.
moon-chinese
Trong câu năm: “云鬓改” tức “vân tấn cải”, chỉ người con gái bị nỗi đau khổ giày vò nên đêm đến xoay ngang xoay dọc vẫn không ngủ được, đến mức tóc mái cũng rụng, dung mạo tiều tụy. “晓镜”tức “hiểu kính” chỉ sáng sớm dậy soi gương phát hiện tóc bị rụng nên sầu khổ, mà ở đây Lý Thợng Ẩn lại nhấn mạnh là “đản sầu”. Nếu chú ý các bạn sẽ phát hiện Lý Thượng Ẩn đã miêu tả một cách rất sinh động tâm trạng uẩn khúc của người con gái này. Bản thân vì đau khổ mà mất ngủ tiều tụy, sáng dậy vì phát hiện dung mạo tiều tụy mà đau khổ. Đau khổ trong đêm là vì tình yêu mà mình theo đuổi không thực hiện được, đến sáng hôm sau vì tiều tụy mà sầu, vì tình yêu mà hy vọng giữ được nét thanh xuân của mình. Nói tóm lại người con gái này vì tình yêu mà tiều tụy, vì đau khổ mà phiền muộn.

Đến câu thứ sáu “夜吟”tức “dạ ngâm”, người con gái từ bản thân mình đã tưởng tượng ra đối phương cũng đang đau khổ giống mình, đêm đến cũng mất ngủ và thường ngâm thơ để tưởng nhớ đến mình.  Ở đây nhà thơ đã mượn hình ảnh lạnh lẽo của ánh trăng để phản ánh tâm trạng cô đơn, lạnh giá của người con trai. Và từ “应” tức “ứng” trong câu này là một điều ước đoán, lường trước đã được Lý Thượng Ẩn khéo léo đưa vào trong câu thơ để qua đó giúp người đọc hiểu rằng những tâm tư của đối phương đều là do người con gái tưởng tượng ra mà thôi.

Nhưng tại sao nhà thơ lại có ngụ ý như vậy, chẳng phải vì muốn thông qua sự chủ động trong tưởng tượng của người con gái để nói lên người con gái này đã thấu hiểu được hết những suy nghĩ, tâm tư của đối phương đó sao. Càng tưởng tượng cụ thể, nỗi nhớ càng sâu sắc, càng làm cháy lên khát vọng hội ngộ.
blue bird after rain
Vì biết hội ngộ là vô vọng nên người con gái đành phải thông qua sứ giả để thay mình đến thăm đối phương và đây cũng là nội dung của hai câu kết cục . Trong thơ thời Đường thường dùng tiên lữ để ví von với người bạn tình, Thanh Điểu là một nàng tiên, Bồng Sơn là một núi tiên trong thần thoại truyền thuyết, cho nên Lý Thượng Ẩn đã dùng Bồng Sơn tượng trưng cho nơi ở của người con trai, và dùng Thanh Điểu làm sứ giả thay cho người con gái. Lý Thượng Ẩn thông qua việc gửi gắm hy vọng vào sứ giả làm kết cục, chứ không thay đổi cảnh ngộ đau khổ “tương kiến thời nan” của người con gái, và đó là hy vọng trong tuyệt vọng, con đường phía trước vẫn là xa tít mù tắp. Bài thơ đã kết thúc tại đây, nhưng nỗi đau khổ và sự quyết tâm đeo đuổi tình yêu của người con gái đó thì vẫn tiếp tục.

Bài viết này phần phiên âm do mình dịch, còn phần thơ do Khương Hữu Dụng và Tương Như dịch.

Cảm ơn anh Ái nhiều vì đã tìm giúp em  phần dịch thơ nhé.. À nếu các bạn có thể gửi lời dịch thơ thêm nữa cho bài thơ này thì rất hay.

Kiều Tố Uyên

Cổng Trời Si Ma Cai

Dân phiêu lưu miền núi thích ví Si Ma Cai, một huyện nằm ở phía bắc tỉnh miền núi Lào Cai, như một thiếu nữ e ấp với nét đẹp riêng nép mình trong dãy núi do vẻ đẹp của bản làng ít được biết này chính ở cái yên lặng và cuộc sống bình dị hàng ngày của những đồng bào dân tộc thiểu số.
sí 1

Si Ma Cai không có nhiều du khách ghé thăm như Bắc Hà hay Sa Pa, cũng là hai thị trấn nằm ở miền núi, bởi vì bản này nằm khuất xa phía cuối con đường gần biên giới Trung Quốc. Du khách lên trên đấy phải giữ chặt mũ và ghế khi ngồi trên ô tô hay xe máy do cung đường từ Bắc Hà lên dài gần 40 km hết sức quanh co và gập ghềnh.

Những năm gần đây, vẻ đẹp của Si Ma Cai đã được đánh thức và ngày càng thu hút nhiều khách du lịch bởi những bộ trang phục đầy màu sắc hoa văn của đồng bào dân tộc thiểu số người Mông và Dao Đỏ, bởi rừng cây xanh thẳm của núi đồi và bởi những câu truyện truyền thuyết.
Si2

Người dân bản địa giải thích rằng Si Ma Cai có nghĩa là Chợ Ngựa hay là nơi để buộc ngựa. Tuy nhiên, người Mông lại thích nói về Si Ma Cai như là nơi có những chú ngựa huyền thoại với tiếng vó vang vọng khắp núi rừng trong vùng.

Tất nhiên bây giờ chẳng còn những chú ngựa huyền thoại ở Si Ma Cai nữa, nhưng du khách vẫn có thể nghe thấy tiếng vó ngựa bước khoan thai, hòa cùng tiếng bước chân của người đồng bào trên chặng đường từ miền đồi núi về khu chợ trung tâm bản, đặc biệt là ngày Chủ nhật.

cho-phien-si-ma-cai-lao-cai

Si Ma Cai tĩnh lặng trở nên nhộn nhịp vào ngày Chủ nhật bởi vì người Mông, Dao và những đồng bào thiểu số từ những nơi khác đến tụ tập ở khu chợ phiên của người dân tộc. Ở đấy, họ bán và mua thịt, rau quả, quần áo và những nhu yếu phẩm khác cũng như kể nhau nghe những câu chuyện vui sau một tuần làm việc vất vả.

Chợ phiên Si Ma Cai vẫn còn giữ được nét riêng biệt của ngày trước bởi vì người dân bản địa bán những gì họ thu được từ núi rừng, và buôn bán chỉ là việc của người bản địa, chẳng có dân buôn mang hàng hóa từ Hà Nội hay nơi khác lên cả.

Vào thời gian này, người dân tộc đang gieo trồng vụ mùa chính trong năm.

SI MA CAI HEAVEN GATE

Mountain adventurers like to compare Si Ma Cai, a district in the northern mountainous province of Lao Cai, to a shy lass with discrete charms sleeping in the mountain as the beauty of the little-known village lies in the quiet and simple daily lives of different peoples.

Si Ma Cai is not as frequented as Bac Ha or Sa Pa, also located in the mountainous province, since it is nestled at the far end of a road near the border with China. Travelling there, visitors have to hold onto their hats and their seats either in a car or on a motorcycle for nearly 40 kilometres of bumpy, winding road from Bac Ha.

In recent years, the charms of Si Ma Cai have been awakened and have become attractive to travellers due to the flower-coloured clothes of the Mong and Red Dao ethnic peoples, by the greenery of mountains and hills, and by the legends.
The local people explain that Si Ma Cai means horse market or a place where horses are tied. However, Mong people like to talk about Si Ma Cai as a place for legendary horses whose steps resound on the hills and mountains of the region.
si.6
Of course, there are no legendary horses in Si Ma Cai now, but visitors can hear the steps of horses pleasantly mingling with the footsteps of ethnic peoples on a long trip from the hills and mountains to the village’s central market, particularly on Sundays.

The quiet Si Ma Cai bustles on Sundays as Mong, Dao and other ethnic peoples arrive from different directions for a hill-tribe market. There, they buy and sell meat, vegetables, fruit, clothes and other necessities of life as well as swap fun stories after a week of hard work.

The Si Ma Cai market remains distinct to its origins since the locals sell what they harvest from the forest and business is just a matter for locals, no traders bring items from Hanoi or elsewhere.
At this moment, ethnic people are planting the major crop of the year.

Quan Jun

Thái độ nghiêm chỉnh

insearchofGod

Theo đuổi nghiêm chỉnh sẽ đưa ta tới đích mặc dù ta không chắc chắn về đường đi, Ramakrishna Paramahamsa nói như vậy. Với ao ước được biết Thượng đế, cùng với sự tận tụy, lối đi rốt cuộc sẽ hé lộ dẫn tới Thánh linh.

Một người bắt đầu hành hương tới Puri để thờ thần Jaganatha yêu quý, mặc dù không chắc chắn về đường đi. Anh khởi đầu đi sai hướng. Tuy vậy, bằng những tìm kiếm nghiên chỉnh, anh vẫn đến được đích và sùng bái thần Jaganatha của anh.

Một thái độ nghiêm chỉnh, cùng với tận tụy, đưa người ta tới đích.

(Nguyễn Minh Hiển dịch)

.

An Earnest Attitude

Earnestness in pursuit leads one to the goal even if he is unsure of the path, says Ramakrishna Paramahamsa. With the desire to know God coupled by devotion, the path would reveal itself ultimately leading to the divine.

A man set out on a pilgrimage to Puri to worship his beloved Jaganatha despite being unsure of the way. He set out on the opposite direction. However by making earnest enquirers, he reached the destination and worshiped his Jaganatha.

An earnest attitude with devotion takes one to the goal.

Priya Devi R

Hồ Lắc Huyền Thoại

Bắt đầu cho loạt bài Nước Việt mến yêu, giới thiệu về những nét hay, cái đẹp và điểm lạ ở các vùng đất trên khắp đất nước Việt Nam, hôm trước chúng ta đã biết đến thành phô Buôn Ma Thuột đáng yêu qua bài Phố Núi Ban Mê của Quan Jun (Văn Quân).
LakLake2

Hôm nay xin mời các bạn đến với hồ Lak, một điểm đến ưa thích của rất nhiều du khách trong và ngoài nước khi đến thăm Daklak. Hồ Lak là hồ nước ngọt lớn nhất Daklak. Hồ rộng trên 5 km², thông với con sông Krông Ana. Hồ Lak là một thắng cảnh nên thơ với mặt hồ uốn khúc như một dải lụa thiên thanh, mềm mại và quyến rũ phản chiếu hàng cây in bóng, có thuyền độc mộc và voi lội trên sông, với không khí trong lành, thoáng mát, và hoa sen, hoa súng nở rực cả mặt hồ. Mặt nước hồ xanh thẳm như một chiếc gương khổng lồ. Vào mùa mưa, nước hồ lên cao và trong vắt tạo ra một khoảng không gian rộng lớn, đem lại cảm giác ngất ngây trước cảnh đẹp thiên nhiên tuyệt vời và an bình giữa đất trời mây nước.

Bên Hồ Lắk có buôn Jun và buôn M’Liêng, những buôn làng tiêu biểu của dân tộc M’Nông. Hai buôn này trở thành một điểm du lịch quan trọng ở Đăk Lăk như những buôn bảo tồn, giới thiệu văn hóa dân tộc bản địa Tây nguyên. Ở đây còn lưu giữ được rất nhiều những ngôi nhà dài truyền thống với mái lợp cỏ tranh vách thưng liếp nứa và một đàn voi 15 con. Du khách đến đây không chỉ thăm quan hồ Lắk mà còn thưởng thức những nét văn hóa Tây Nguyên như điệu múa lửa, múa ngày mùa, diễn xướng cồng chiêng, t’rưng, k’lông pút, đàn đá,cưỡi voi hoặc dùng thuyền độc mộc đi dạo trên hồ hoặc vượt qua hồ.
dant'rưng
đàn t’rưng
Các bạn sẽ thú vị khi biết tên gọi của tỉnh Daklak bắt nguồn từ một truyền thuyết gắn liền với hồ Lak. Cũng giống như Buôn Ma Thuột, gốc tiếng Ê đê ( tiếng của đồng bào dân tộc lâu đời nhất bản địa), có nghĩa là bản hay làng của cha Thuột (A Ma Thuột, một vị tù trưởng tài ba có công sáng lập, và bảo vệ buôn làng). Theo truyền thuyết, tỉnh Daklak, tỉnh lớn nhất của Tây Nguyên đã được cứu nguy bởi một vị anh hùng dân tộc tên gọi là Lak. Người anh hùng này đã tìm ra và bảo vệ nguồn nước thoát khỏi một con rồng hung dữ chiếm cứ, vì thế đã cứu cả làng khỏi bị chết khát. Kể từ đó, tỉnh này có tên Lak.

“Dak Lak”, theo thổ ngữ của sắc tộc M’nông. “Dak” có nghĩa là nước, “Lak” là “hồ nước.

Bài viết này được bạn Văn Quân dịch ra Tiếng Anh từ nguồn daktra.com.vn.

Hồ Lắc không chỉ trước mắt bạn, mà còn hiện ra trong những câu chuyện huyền thoại truyền miệng từ đời này sang đời khác. Nằm cách thành phố Buôn Ma Thuột khoảng 52km về phía Nam, dọc theo quốc lộ 27 đi Đà Lạt, hồ Lắc là một trong những hồ nước tự nhiên rộng và đẹp nhất Việt Nam.

lak

Hồ Lắc được bao bọc bởi những dãy núi và cánh rừng nguyên sinh, tạo nên cảnh quan rất ngoạn mục. Nước hồ thăm thẳm in bóng thông trên các ngọn đồi. Mặt hồ được phủ kín bởi sen, mùa sen nở sắc trắng xen lẫn sắc hồng đẹp tựa chốn bồng lai. Trên đỉnh đồi cao, con đường xoắn ốc men theo sườn đồi dẫn lên Biệt Điện Bảo Đại rợp bóng cây cổ thụ, cùng cỏ xanh và hoa dại.

Về hồ Lắc để nghe chuyện kể ngày xưa, để du thuyền độc mộc, hay đủng đỉnh cưỡi voi đi dạo. Rồi đêm về, nhấp chút rượu cần, nghe những chàng trai cô gái Tây Nguyên múa hát bên ánh lửa hòa cùng tiếng cồng chiêng, lắng nghe người già kể khan, ăn chén cơm dẻo thơm mùi lúa mới, và thưởng thức món chả cá thác lác đặc sản nơi này.

Nguồn: daktra.com.vn

Về đây với chúng tôi bạn nhé. Dalklak hân hoan chào đón bạn. Và Hồ Lak vẫn mơ màng trong làn gió nhẹ chờ bước chân khách lãng du.

LEGENDARY LAK LAKE

Lak Lake appears not only in front of your eyes but also in legends orally transmitted from many generations. Located about 52 km South of Buon Ma Thuot City, along National Highway 27 up to Dalat, Lak Lake is one of the most beautiful and largest natural lakes in Vietnam.

Lak Lake2
The lake is surrounded by many mountain ranges and primitive forests, creating spectacular landscapes. The water is very deep green, reflecting pine-trees in the hills. The surface is fully covered with lotus flowers and it’s as beautiful as the elysium when these flowers, white and pink, are in full bloom. From the summit of the high hill, the twisty path along hillsides leads to Bao Dai Palace, framed with old trees, green grass and wild flowers.

Back to Lak Lake to hear stories in the past, take dug-out canoes or have elephant rides. Then when night falls, try some jar wine, hear central highlands’ boys and girls sing and dance by the firelight together with gong sounds, listen to the old people tell khan, eat mountainous rice of fragrant newly-harvested seasons and enjoy fried fish thac lac, one of this area’s specialties.

Come here with us, my friends. Elated is Daklak to welcome you. And dreamy is Lak Lake in the gentle breeze to wait for the travellers’ steps.

Quan Jun ( Văn Quân)

Óc sáng tạo

creativepeople
Người có óc sáng tạo sẵn sàng sống chung với sự mơ hồ. Anh ta không cần vấn đề phải được giải quyết ngay lập tức và đủ khả năng để chờ đợi một ý tưởng thích hợp.

Đặng Nguyễn Đông Vy dịch

.

The creative person is willing to live with ambiguity. He doesn’t need problems solved immediately and can afford to wait for the right ideas.

Abe Tannenbaum

Cầu nguyện cho lãnh đạo

Chào các bạn,
stained glass
Trong những dịp bầu cử tổng thống Mỹ hay bầu cử lãnh đạo, người dân Mỹ thường cầu nguyện tập thể trong các nhà thờ, nơi công cộng để lắng lòng xuống, cùng nhìn vềThượng đế để cầu xin sự che chở cho dân tộc, sự khôn ngoan để tìm được người lãnh đạo tốt nhất cho đất nước hay tổ chức.

Người Mỹ tin rằng, quyền chọn lựa người lãnh đạo thực sự cho đất nước thuộc về Thượng Đế. Hoạt động bầu cử là hình thức thi đua để tìm ra người lãnh đạo tốt nhất.

Bởi vậy, nếu ai đã được bầu làm lãnh đạo, thì dù trước đó mình đã bầu cho ứng cử viên đối thủ, nhưng bây giờ “He’s my President and I will serve him”, như những người dân Mỹ trên một góc phố nói.

Hôm nay, mình giới thiệu với các bạn bài Cầu nguyện cho Lãnh đạo của chị Joan D. Chittister, một nữ tu sĩ thuộc dòng Benedictine.

Bài cầu nguyện này được cầu nguyện ở nhiều nhà thờ mỗi dịp bầu cử, và đăng trên nhiều website cộng đồng của nước Mỹ, bất kể tôn giáo (interfaith).

Chúc các bạn một ngày tuyệt vời,

Hiển.

.

CẦU NGUYỆN CHO LÃNH ĐẠO

    (trong dịp bầu cử và những dịp khác)
    Joan D. Chittister, OSB

praying-hands
Hởi Chúa, hãy cho chúng con
những nhà lãnh đạo có trái tim đủ lớn
để rộng đủ cho tâm hồn chúng con
và cho tâm hồn chúng con đủ sức mạnh
để đi theo nhà lãnh đạo có tầm nhìn và trí tuệ

Trong khi tìm kiếm nhà lãnh đạo,
hãy cho chúng con tìm kiếm điều lớn hơn sự phát triển
của chúng con –
mặc dù chúng con hy vọng có phát triển –
lớn hơn an ninh cho chính mảnh đất của chúng con –
mặc dù chúng con cần an ninh –
lớn hơn sự thỏa mãn cho những nhu cầu của chúng con –
mặc dù chúng con muốn có nhiều điều.

Hãy cho chúng con trái tim để chọn lựa
nhà lãnh đạo sẽ làm việc
với những nhà lãnh đạo khác để đem đến an toàn
cho toàn thế giới

Cho chúng con những nhà lãnh đạo
sẽ dẫn dắt đất nước này tới đức hạnh
mà không tìm cách áp đặt kiểu đức hạnh của chúng con
lên trên đức hạnh của người khác

Cho chúng con một chính phủ
tạo nên sự phát triển
cho đất nước này
mà không lấy đi tài nguyên của nước khác
để đạt được điều đó.

Cho chúng con hiểu biết đủ chính mình
để chọn nhà lãnh đạo có thể phân biệt
sức mạnh với quyền lực,
sự tăng trưởng với lòng tham,
lãnh đạo với áp bức,
và sự vĩ đại thật sự với những cái bẫy
của sự hoành tráng rởm.

Chúng con tin ở Chúa, hởi Chúa Cao Cả,
hãy mở lòng chúng con để chúng con học hỏi từ những người
mà Chúa nói chuyện bằng những ngôn ngữ khác nhau
và kính trọng cuộc đời và lời nói
của những người Chúa đã ủy thác
nhiệm vụ làm tốt những phần còn lại của trái đất này.

Chúng con nài xin ngày, hởi Chúa Cao Cả,
cho chúng con tầm nhìn của một dân tộc
để biết sự lãnh đạo toàn cầu thực sự nằm ở đâu,
để cần mẫn theo đuổi sự lãnh đạo đó,
để yêu cầu bảo vệ nhân quyền
cho mọi con người khắp mọi nơi.

Chúng con cầu xin nhiều điều này, hởi Chúa Cao Cả
với trí óc chúng con mở rộng cho lời Chúa
và trái tim tin tưởng vào sự chăm sóc vĩnh cửu của Chúa.
Amen

.

PRAYER FOR LEADERSHIP

    (On Election Day and Other Times
    Joan D. Chittister, OSB)

silhouette-of-woman-praying
Give us, O God,
leaders whose hearts are large enough
to match the breadth of our own souls
and give us souls strong enough
to follow leaders of vision and wisdom.

In seeking a leader,
let us seek more than development
for ourselves —
though development we hope for —
more than security for our own land —
though security we need —
more than satisfaction for our wants —
though many things we desire.

Give us the hearts to choose
the leader who will work with other
leaders to bring safety
to the whole world.

Give us leaders
who lead this nation to virtue
without seeking to impose our kind of virtue
on the virtue of others.

Give us a government
that provides for the advancement
of this country
without taking resources from others
to achieve it.

Give us insight enough ourselves
to choose as leaders those who can tell
strength from power,
growth from greed,
leadership from dominance,
and real greatness from the trappings
of grandiosity.

We trust you, Great God,
to open our hearts to learn from those
to whom you speak in different tongues
and to respect the life and words
of those to whom you entrusted
the good of other parts of this globe.

We beg you, Great God,
give us the vision as a people
to know where global leadership truly lies,
to pursue it diligently,
to require it to protect human rights
for everyone everywhere.

We ask these things, Great God,
with minds open to your word
and hearts that trust in your eternal care.
Amen.

An bình nội tâm slideshow

Con đường tìm đến an bình nội tâm không quá đơn giản, không phải một sớm một chiều. Chúng ta không thể một sáng đẹp trời thức dậy và tư nhủ với mình rằng ta sẽ có an bình nội tâm từ hôm nay.

Nói như thế không có nghĩa là ta không tìm được an bình nội tâm

An bình nội tâm là một quá trình, một cuộc hành trình.

Để làm được trước hết phải nhận diện chính mình và những cảm xúc tiêu cực thường chế ngự mình, và tập kiểm soát chúng , chuyển hóa chúng để cho những cảm xúc tích cực sẽ thay thế. Không ai có thể làm thay bạn việc đó. Chính bạn phải nhận thức được những cách mà bạn phải làm để cải thiện cách tư duy, cách hành động, và ứng xử nhằm làm cho cuộc sống của bạn tốt đẹp hơn.

Và bài học lớn với mọi người vẫn là buông xả và tha thứ, yêu thương và trách nhiệm, sống cho hiện tại…

Xuất phát điểm cho những tư tưởng trên là tư duy tích cực, yêu đời.

Mời các bạn xem file Power Point dưới đây để có thêm một số ý tưởng về an bình nội tâm. Chúc các bạn an lạc .

Bài thơ song ngữ ở Nghĩa Trang Đồng Lộc

Chào các bạn,

Dưới đây là bài bài báo nhà thơ Vương Trọng vừa viết về bài thơ Lời Thỉnh Cầu ở Nghĩa Trang Đồng Lộc, mà anh viết năm 1995, khắc lên bia xi-măng năm 2002, mình dịch ra Anh ngữ năm 2005 (biên tập lại năm 2008), và khắc song ngữ lên bia đá tại Nghĩa Trang Đồng Lộc tháng 1 năm 2009.
dongloc
Mình thăm Đồng Lộc tháng 5 năm 1995, trên một chuyến về thăm quê hương cụ Hồ tại Nghệ An, với một số Việt Kiều khác, do anh Nguyễn Ngọc Trân, trưởng Ban Việt Kiều Trung Ương tổ chức. Trên đường anh Trân cho xe ghé vào Đồng Lộc. Lúc đó mình hoàn toàn chẳng biết Đồng Lộc là gì cả.

Ấn tượng đầu tiên của mình là, đó là một vùng rất nghèo khổ, xác xơ, nóng đổ lửa… và nó làm cho mình có cảm giác buồn buồn vì cái nghèo của quê hương và cái khổ của dân quê. Mình vẫn luôn luôn như thế từ hồi 16, 17 tuổi.

Vào đến nơi, thấy mười ngôi mộ xi măng khiêm tốn nằm trên một ngọn đồi với vài bóng cây lưa thưa, giữa một vùng đồng khô cỏ cháy. Rồi từ từ hiểu chuyện, nhìn hố bom nơi các cô hy sinh, nhận biết rằmg các cô này cở tuổi mình hay có người chỉ sinh trước một hai năm, nhưng cuộc đời có quá nhiều khác biệt… làm cho mình thật là nhức nhối. Lúc đó mình “try to be connected” với các cô bằng cách nhờ anh Trân chụp một tấm ảnh mình ngồi bên cạnh một ngôi mộ. Tấm ảnh này có đăng trong báo Quê Hương (của Ban VKTW) sau chuyến đi đó.

Vì các cô trẻ mãi không già, cho nên mình luôn luôn có cảm tưởng các cô này là những người em gái bất hạnh của mình. Vì vậy, mình không quên các cô được những tháng năm sau đó. Hơn 10 năm sau, khi đọc nhật ký Đặng Thùy Trâm lần đầu, ý tưởng đầu tiên đến trong đầu mình là 10 cô gái Đồng Lộc.

Đến năm 2005, 10 năm sau khi anh Vương Trọng viết bài thơ và 3 năm sau khi nó được khắc vào bia xi măng, chị Diệu Ánh (admin của VNBIZ forum) trong một chuyến du hành trên quốc lộ Trường Sơn, ghé qua Đồng Lộc, thấy bài thơ, chụp và gởi cho mình. Mình dịch ngay ra tiếng Anh và post trên VNBIZ. Đây là bài thơ duy nhất mà mình ứa nước mắt rất nhiều lần trong khi dịch.

Đến đầu năm 2008 chị Diệu Ánh gặp chị Minh Lý, phóng viên Hà Tĩnh nhưng hiện sống ở Vũng Tàu, chị Minh Lý biết anh Vương Trọng. Thế là mình chỉnh sửa lại bài thơ một tí nữa rồi nhờ chị Diệu Ánh và Minh Lý chuyển đến anh Vương Trọng. Anh Vương Trọng nói chuyện với anh Thế Ban, sở Văn Hóa Thể Thao Hà Tĩnh. Sở quyết định khắc cả bài nguyên thủy lẫn bài dịch vào bia đá, thay bia xi măng đã hao mòn quá nhiều. Tháng giêng 2009, bia đá hoàn thành.

Mình đã viết một bài hồi tháng ba năm nay (2009) về bài thơ này để chia sẻ với các bạn. Hôm nay chúng ta nghe câu chuyện từ phía anh Vương Trọng. Bài này của anh Vương Trọng đã đăng trên Văn Nghệ Công An ngày 20 tháng 7 năm 2009.

Cám ơn anh Vương Trọng. Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

.

Bài thơ song ngữ ở Nghĩa Trang Đồng Lộc

    Vương Trọng
Vương Trọng
Vương Trọng

Từ khi Ngã ba Đồng Lộc trở thành khu di tích lịch sử của Thanh niên xung phong cả nước, khách tìm đến nơi này mỗi ngày một đông, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên. Có người nói rằng, chỉ cần đến nơi này một lần, bài học về giáo dục truyền thống tự nhiên thấm vào người, và lớp trẻ có điều kiện để nhận thức được cái giá của độc lập, tự do.

Gần đây có nhiều bạn trẻ sau khi viếng thăm Ngã ba Đồng Lộc, ra Hà Nội có tìm gặp tôi để trò chuyện. Có người tôi quen biết từ trước, nhưng cũng có kẻ tôi mới được gặp lần đầu. Nguyên nhân là vì một bài thơ của tôi đã được khắc đá và dựng lên ở nghĩa trang này. Hơn nữa, bài thơ đó lại được dịch ra tiếng Anh, khắc trên tấm bia đá cao 2,5 mét, rộng 1 mét, mặt này là bài thơ Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc của tôi, mặt kia là bản dịch của ông Trần Đình Hoành, một Việt kiều ở Mỹ. Bởi vậy tôi muốn có đôi lời tâm sự với bạn đọc về chuyện này.

Đài tưởng niệm Đồng Lộc
Đài tưởng niệm Đồng Lộc

Mùa hè năm 1995, lần đầu tôi đến thăm nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc. Mặc dù mười cô gái đã hy sinh trước đó 27 năm trời, thế nhưng khi đứng lặng trước hố bom đã giết các cô, khi thắp hương lần lượt cắm lên mười nấm mộ, cũng như khi chứng kiến những kỷ vật các cô để lại…, tôi tự nhủ phải viết một cái gì đấy để giải tỏa nỗi xúc động. Bút ký, tuỳ bút cũng có thể chuyển tải được cảm xúc này, nhưng vì trong đoàn còn có nhà văn Xuân Thiều, nhà văn Nam Hà, nên tôi nghĩ nên “nhường” văn xuôi cho hai vị cao niên này. Bởi thế trước mắt tôi chỉ còn một cửa hẹp là thơ.

Nhưng thơ về Đồng Lộc cũng không phải dễ, vì trước đó đã có nhiều người viết rồi, có bài khá nổi tiếng như của nhà thơ Huy Cận. Thế thì mình phải viết thế nào để không bị chìm lấp bởi những bài đã có. Sự hy sinh cùng một lúc của mười cô gái trẻ khi đang san lấp hố bom làm mọi người cảm động, nên khi nào trên mười ngôi mộ cũng có thật nhiều hương khói. Khi cắm những nén hương đang cháy lên mộ các cô, tôi tự hỏi, nếu mười cô gái hiển linh, họ sẽ nghĩ thế nào?

Bức ảnh cuối cùng của 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc (Nhiếp ảnh gia Văn Sắc)
Bức ảnh cuối cùng của 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc (Nhiếp ảnh gia Văn Sắc)

Qua tài liệu thu thập được, tôi biết số người hy sinh ở ngã ba này thật nhiều, riêng Trung đoàn phòng không 210 đã có 112 liệt sĩ đã hy sinh khi bảo vệ mảnh đất này. Thế mà họ không có bia mộ để thắp hương, bởi thịt xương họ đã hoà trộn vào đất. Thế là cái ý tưởng dùng lời mười cô gái trò chuyện với các đoàn khách thăm viếng được nẩy sinh, và tôi thấy thuận lợi khi muốn chở ý tưởng: mọi chính sách, chế độ đối với những người đã hy sinh, nghĩ cho cùng là vì những người đang sống. Bởi vậy, xây dựng cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc cũng là một cách thể hiện sự biết ơn đối với các liệt sỹ đã hy sinh.

Bài thơ có bốn khổ thì ba khổ đầu là lời mười liệt sĩ nhắc người đến nghĩa trang nên nhớ thắp hương cho những liệt sĩ mà thân xác đã tan trong đất, khuyên các em nhỏ nên trồng cây, các bạn cùng trang lứa cố gắng sản xuất. Còn các cô chỉ ước có vài cây bồ kết…
ngabaDong Loc
Bài thơ tôi viết và in lần đầu vào năm 1995, đến năm 1998 lại xuất hiện trong tuyển tập thơ về Đồng Lộc. Điều đáng nói là tập thơ này đã đến tay anh Nguyễn Tiến Tuẫn, là một trong ba anh hùng ở Đồng Lộc, thời mà mười cô gái hy sinh, anh đang phụ trách đơn vị Cảnh sát giao thông ở trọng điểm ác liệt này. Anh bảo rằng, anh bị bài thơ ám ảnh, và tự đặt cho mình phải làm một việc gì đó để giải toả sự ám ảnh này. Việc anh làm là lên huyện Hương Sơn tìm hai cây bồ kết con để đáp ứng lời thỉnh cầu của mười cô gái: ” Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang/ Cho mọc dậy vài cây bồ kết/ Hương chia đều trong hư ảo khói nhang”. Hai cây bồ kết anh trồng rất cẩn thận, hố đào to, phân tro nhiều nên tốt rất nhanh.

Bốn năm sau, năm 2002 thì hai cây bồ kết đã cao tới ba, bốn thước; cây lớn vào mùa thu đã nở hoa. Một lần trở lại thăm nghĩa trang đúng lúc gặp một đoàn khách, biết anh là người đã trồng hai cây bồ kết này, mọi người rất cảm phục và hỏi anh từ ý nghĩ nào mà làm được việc hết sức độc đáo và tuyệt vời này? Anh trả lời là từ cảm xúc một bài thơ, thế là họ hỏi anh có nhớ bài thơ đó không. Anh nói rằng bài thơ đó anh đã thuộc, nhưng không quen đọc thơ trước đám đông, anh hứa với họ là nếu lần sau quay lại thì thế nào cũng được đọc bài thơ đó ở đây. Mọi người nghe, kể cả người giới thiệu khu di tích, ai cũng nghĩ anh nói thế cho qua chuyện, ai ngờ anh bắt đầu ý định khắc bài thơ ấy lên đá. Điều trước tiên là phải liên hệ với Tỉnh đoàn Hà Tĩnh, đơn vị phụ trách khu di tích này. Nghe anh trình bày ý định khắc đá bài thơ đó, mọi người tán thành và coi đây là một việc làm văn hoá. Thế là chiều ngày 14 tháng 8 năm 2002, bia đá cỡ 80cm . 40cm với bài thơ 25 câu chia thành bốn khổ, được khắc sâu và tô màu sơn vàng rất dễ đọc đã dựng lên cạnh hai cây bồ kết bên nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc.

10 Mộ
10 Mộ

Mấy năm năm nay, nhiều tờ báo đã đăng bài về chuyện này, và có nhiều bài đã gây xúc động người đọc. Ông Trịnh Xuân Tòng là cán bộ giảng dạy trường đại học Cần Thơ, đã nghỉ hưu; sau khi đọc bài báo của Ngô Vĩnh Bình nói về chuyện bài thơ và hai cây bồ kết, ông đã bỏ công mấy tuần liền để vẽ một bức tranh cỡ lớn với nhan đề : Múa dưới trăng, nỗi vui mừng khi có cây bồ kết . Trong bức tranh, ông đã vẽ mười cô gái liệt sĩ ở ngã ba Đồng Lộc, khi trăng lên đã cùng nhau nhảy múa, năm cô leo lên cây, năm cô múa trên đất. Trong bức tranh lớn đó, ông trích bốn câu thơ làm đề từ:

Ngày bom vùi, tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết…

Đặc biệt hơn, ông còn viết một bức thư cảm động Gửi mười em gái ngã ba Đồng Lộc. Bức tranh và bức thư này, báo QĐND đã giới thiệu trong số đặc biệt ra ngày 22- 12- 2002.

Gần đây tôi có dịp trở lại Đồng Lộc. Khác hẳn với quang cảnh tôi đã chứng kiến năm 1995, bây giờ ở khu di tích Đồng Lộc, đường sá rộng rãi, nhà cửa xây dựng khang trang, và đặc biệt cây cối quanh vùng tươi xanh như một vùng du lịch sinh thái. Không còn những vạt “cỏ may khâu nặng ống quần” khách đến thăm, không còn đồi Trọ Voi trọc lóc, lở lói. Nhiều cảnh tôi nhắc đến trong bài thơ đã lạc hậu so với bây giờ.

10 Cô
10 Cô

Đồng chí giới thiệu khu di tích hướng dẫn đoàn chúng tôi đi thắp hương trên từng nấm mộ và đốt những quả bồ kết khô. Mấy năm nay, nhiều đoàn khách đến thăm khu di tích này thường đem theo những chùm quả bồ kết khô để đốt sau khi thắp nhang. Người đầu tiên đốt bồ kết ở đây là nhà văn Nguyễn Thế Tường, quê Quảng Bình, công tác tại Tuần báo Văn nghệ. Tháng 10 năm 2002, anh Tường gặp tôi ở Tuần báo Văn nghệ, khi anh sắp vào nghĩa trang Đồng Lộc, anh hỏi tôi có nhắn gì không. Tôi nói rằng, hai cây bồ kết mới ra hoa nhưng chưa có quả, tôi muốn nhờ anh mua hộ tôi một chùm bồ kết, vào đó đốt để viếng mười cô gái. Anh đã làm thế, và ngạc nhiên, khi vừa đốt mấy quả bồ kết thì bát hương lớn bỗng hoá, cháy bùng lên, làm mọi người ngạc nhiên và anh gọi điện cho tôi ngay. Ngẫu nhiên hay tâm linh? Anh bảo rằng mọi người có mặt hôm đó, kể cả những người quản lý khu di tích, không ai nghĩ là ngẫu nhiên.

Tôi tới bia đá khắc bài thơ của mình thì thấy có nhiều em sinh viên đang xúm xuýt mở sổ chép thơ. Biết tôi là tác giả, nhiều em xin chụp ảnh lưu niệm và hỏi chuyện quanh bài thơ. Bằng vi tính, nét chữ khắc đẹp, chỉ tiếc cắt khổ phần đầu không thật chính xác, vì bài thơ của tôi gồm bốn khổ, khổ đầu sáu câu chứ không phải bốn câu như đã khắc.

Tương đài Đồng Lộc, khi còn hoang vu, tháng 5 năm 1995, khi TĐH đến thăm
Tương đài Đồng Lộc, khi còn hoang vu, tháng 5 năm 1995, khi TĐH đến thăm

Sau đó không lâu, trong đoàn Việt kiều Mỹ về nước đến viếng nghĩa trang Đồng Lộc, có ông Trần Đình Hoành, một luật sư nhưng ham mê văn học, người đã từng dịch nhiều bài thơ của các nhà thơ Việt Nam ra tiếng Anh, xuất bản ở Mỹ. Ông xúc động khi đọc bài thơ “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc” và muốn truyền sự xúc động đó cho du khách nước ngoài nên đã dịch bài thơ này. Giám đốc sở Văn hoá và Du lịch Hà Tĩnh là nhà văn Đức Ban, người rất hiểu tác dụng của thơ văn vào cuộc sống, đã cho bài thơ và bản dịch đó hiển hiện lên bia đá như các bạn đã thấy vào sáng 17 tháng giêng năm 2009.

Nhân đây tôi chép lại bản tiếng Việt và tiếng Anh đã khắc trên hai mặt bia đó.

Ô. Trương Tấn Sang, ủy viên Bộ Chính Trị, trong lễ khánh thành bia đá
Ô. Trương Tấn Sang, Bộ Chính Trị, trong lễ khánh thành bia đá

Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc

– Mười bát nhang, hương cắm thế đủ rồi
Còn hương nữa hãy dành phần cho đất
Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi
Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc
Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp
Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi.

– Hoa cỏ may khâu nặng ống quần, kìa
Ơi các em tuổi quàng khăn đỏ
Bên bia mộ xếp hàng nghiêm trang quá
Thương các chị lắm phải không, thì hãy quay về
Tìm cây non trồng lên đồi Trọ Voi và bao vùng đất trống
Các chị nằm còn khát bóng cây che.

– Hai mươi bảy năm qua, chúng tôi không thêm một tuổi nào
Ba lần chuyển chỗ nằm, lại trở về Đồng Lộc
Thương chúng tôi, các bạn ơi, đừng khóc
Về bón chăm cho lúa được mùa hơn
Bữa ăn cuối cùng, mười chị em không có gạo
Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường.

– Cần gì ư ? Lời ai hỏi trong chiều
Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu
Ngày bom vùi tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết
Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.

Đồng Lộc, 5 – 7- 1995
Vương Trọng

.

Học sinh trường THCS Đồng Lộc
Học sinh trường THCS Đồng Lộc

A Request at Dong Loc Cemetery

That’s enough for ten bowls
The rest of incense, let’s save for others
We’re not the sole fallen ones
So much blood and bone was spent for Dong Loc
Memories, let’s spread evenly
Like grass in the valley, sunlight on the hill.

Look! Tongue-grass buds cling to the pants!
O you red-scarfed children standing straight by the tombs
You love us so much, don’t you?
Then, go home, find little plants
Plant them on Tro Voi Hill and on these bare lands
We’re so thirsty longing for some tree shades!

Twenty-seven years have passed, we haven’t grown a day
Three times changing bed, we’re now back in Dong Loc
Friends, if you love us, don’t cry!
Go back and tend the rice for better harvest
The last meal we ten had no rice
Just a handful of cassava, then out with hoes we went.

Our needs? One afternoon someone has asked
We’re not yet married and haven’t got a chance to love
When the bomb buried us all, our hair was enmeshed in dust
Lying here in these tombs, we haven’t got a chance to wash our hair
We ask that on the parched ground of this cemetery
Someone would grow some carob trees
That spread fragrance evenly in the ethereal incense smoke…

Dong Loc July 5, 1995
VUONG TRONG
Translated by TRAN DINH HOANH
( A Vietnamese Resident in The USA)

Thực hiện ý tưởng

work
Tất cả mọi người đếu có thể nảy ra những ý tưởng trong khi đang tắm. Nhưng chỉ những người bước ra khỏi phòng tắm, lau khô mình và làm điều gì đó với ý tưởng của mình thì mới làm nên sự khác biệt.

Đặng Nguyễn Đông Vy dịch

.

Everyone who has ever taken a shower has had an idea. It’s the person who gets out of the shower, dries off, and does something about it that makes a difference.

Nolan Bushnell