Một ngày nọ Gasan giảng cho các đệ tử: “Những người khuyên không sát sinh và muốn tha mạng cho mọi sinh linh đều đúng. Bảo vệ ngay cả thú vật và côn trùng là điều thiện. Nhưng những người giết thời gian thì sao, hay những người hủy hoại tài sản, và những người phá hoại nền kinh tế chính trị? Chúng ta không bỏ qua được. Hơn nữa, người thuyết giảng mà không giác ngộ thì sao? Hắn đang giết Phật pháp.”
.
Bình:
Đây là tránh nhiệm của người Phật tử trước những vấn đề liên hệ đến xã hội mình đang sống. Đây là câu trả lời rõ ràng nhất cho những người nghĩ rằng phật pháp chỉ là để cho các bà già ngồi gõ mõ tụng kinh trong nhà, và không quan tâm gì đến mọi bất công phá hoại đang xảy ra trong xã hội của ta, và những người nghèo khổ yếu đuối và cô thế quanh ta.
Kinh Pháp Cú, đoạn 183, tóm tắt lời tất cả chư Phật đều dạy: “Không làm điều ác, làm điều lành, và giữ tâm thanh tịnh.”
Không làm các điều ác là không nhúng tay vào áp bức, bất công, tham nhũng, phá hoại Phật pháp.
Nhưng thấy áp bức, bất công, tham nhũng, phá hoại Phật pháp trước mắt, thì “làm điều thiện” không phải là chống các hành động này bằng các cách trong tầm tay mình hay sao? Ít ra cũng nói lên một câu, dạy người nhà một tiếng. Không thể sống như là “không nghe, không thấy, không biết” được.
Điều kiện duy nhất để cái ác thắng toàn thế giới là người thiện chẳng làm gì cả.
(Trần Đình Hoành bình)
.
Killing
Gasan instructed his adherents one day: “Those who speak against killing and who desire to spare the lives of all conscious beings are right. It is good to protect even animals and insects. But what about those persons who kill time, what about those who are destroying wealth, and those who destroy political economy? We should not overlook them. Furthermore, what of the one who preaches without enlightenment? He is killing Buddhism.”
Làm thế nào để chọn được con đường của riêng mình? Làm thế nào để mình là duy nhất, không phải là bản sao của một người nào đó trên Trái Đất này? Đó hẳn là những câu hỏi không dễ trả lời. Hôm nay, Hồng Hải xin giới thiệu đến các bạn một bài viết của Andrea Klee về chủ đề này.
Chúc mọi người một ngày vui vẻ!
Nguyễn Hồng Hải
.
Trong cuộc đời, hãy bước trên con đường của riêng bạn Andrea Klee
Một chân lý cơ bản của cuộc sống là chúng ta chỉ có thể là chính chúng ta – chúng ta không thể là một người nào đó. Chúng ta có thực sự muốn trao đổi cuộc sống của mình với cuộc sống của một ai khác không? Ý tôi là thay đổi toàn bộ cuộc sống không chỉ riêng một khía cạnh. Chúng ta có sẵn sàng đánh mất tất cả thành viên trong gia đình và những người bạn thân yêu của chúng ta, tài năng và những trải nghiệm không ai có của chúng ta hay không? Chúng ta có thực sự muốn thay đổi mọi thứ?
Một số người ghen tị với những người khác; họ nghĩ rằng họ sẽ có công việc tốt hơn, hay một ngôi nhà lớn hơn hoặc một gia đình hạnh phúc hơn nhưng họ không tính xem nếu họ đổi cuộc sống của mình với một người khác thì họ phải thay đổi mọi thứ! Họ không biết về con người đó. Bên ngoài, người khác có thể trông rất tốt nhưng bên trong có thể là những nổi đau khổ hay nhiều vấn đề mà bạn không nhận thấy.
Vậy còn những người không biết họ muốn làm gì thì sao? Họ biết rằng họ không hạnh phúc và đó là lí do để họ định bắt chước những người khác. Họ đang kiếm tìm niềm hạnh phúc đó. Vì thế họ nên tìm xem họ thích làm điều gì. Họ phải hiểu rằng hạnh phúc sẽ không xảy ra nếu họ chỉ làm theo một người nào khác.
Trở thành con người của chính chúng ta tốt nhất có thể là cơ hội duy nhất chúng ta có. Vì chúng ta không thể là một ai đó nên trong cuộc sống, chúng ta cần làm tốt nhất những gì có thể . Để trở thành “phiên bản” tốt nhất của chính chúng ta, nhiệm vụ của chúng ta là tìm ra chúng ta thực sự là ai, vì lí do độc nhất nào mà chúng ta lại xuất hiện trên trái đất này và chúng thích làm gì. Chúng ta nên có những điều tốt nhất có thể và nhìn xem cơ hội nào đang đợi chúng ta ngoài cửa và chúng ta có thể tạo ra những khả năng nào.
Tinh thần đai đen
Tôi đã học cách chọn con đường của riêng mình từ nhưng bài tập Karate. Lúc đầu khi tôi là một đai màu, tôi đã từng hỏi thầy giáo Karate của mình rằng, “Em nên làm cái này thế nào? Em nên làm cái kia thế nào? Cái gì là đúng? Cái gì là sai? Cái gì là đúng? Em nên làm gì?” Cuối cùng, thầy giáo nói với tôi “Em phải chọn con đường của riêng mình, em phải làm mọi việc với lòng nhiệt tình và em phải nghĩ về nó. Vấn đề không phải đó có là điều mọi người mong chờ hay không; hãy chú ý dến việc điều em làm là một điều tốt đẹp.”
Sống với tinh thần đai đen nghĩa là đi con đường của riêng bạn, kỉ luật, đứng lên vì chính bạn khi cần thiết, tự tin trong khi nhún nhường, di chuyển vượt xa các giới hạn và chướng ngại, và ủng hộ sự tốt đẹp, thẳng thắn và công bằng. Hãy học cách tồn tại trong những điều kiện khó khăn và bạn sẽ có nhiều lựa chọn hơn trong cuộc sống. Sống với tinh thần đai đen nghĩa là có sự dũng cảm để là chính bạn và để cố gắng hết sức cho dù bạn làm gì.
Hãy đúng đắn và chính xác
Nếu bạn không đúng và chính xác, bạn sẽ không bao giờ có thể tìm ra con đường của riêng mình bởi những gì bạn tìm thấy sẽ là con đường của một người nào đó. Nó sẽ là con đường của vai mà bạn diễn. Nhiều người thán phục tính sáng tạo vì họ biết rằng việc mở toang và cho thấy phần cốt lõi bên trong con ngườI bạn là khó như thế nào. Nếu bạn cố làm theo một ai đó, bạn sẽ chỉ là một bản sao rẻ tiền của người khác và chẳng ai đánh giá cao điều đó vì một người khác đã ở đó rồi. Thế giới cần những khả năng có một không hai mà bạn phải đóng góp.
Làm thế nào để ngăn cản những người khác khuyên bạn không làm những gì có thể
Bạn không nên để mọi người làm gián đoạn những gì bạn có thể làm chỉ bởi nó không thể được thực hiện. Khi một ai đó bảo bạn không làm điều bạn thích, hãy luôn tự hỏi chính mình rằng “Người này được lợi gì từ việc bạn không theo kế hoạch? Hay người này sẽ gặp bất lợi gì khi bạn theo kế hoạch?” Nếu đó là người không thành kiến hay là người luôn muốn điều tốt nhất cho bạn thì bạn nên xem xét việc nghe theo người này. Tuy nhiên, hãy nhớ rằng thậm chí ngay cả với những người bạn tốt cũng có thể không có khả năng nhìn toàn bộ bức tranh, hoặc hiểu tại xem con đường bạn đã chọn là đúng đối với bạn.
Những điều bạn làm trong cuộc sống luôn tuỳ thuộc vào bạn và bạn phải chịu trách nhiệm cho những gì bạn làm bởi không ai biết điều gì là đúng đối với bạn. Bạn có thể nghe lời khuyên có người khác nếu họ có kinh nghiệm nhưng bạn vẫn phải ra những quyết định của riêng mình vì cuộc sống của bạn là khác biệt và hoàn cảnh cũng cũng có thể hơi khác. Cho dù bạn muốn làm gì, nếu có ai đang làm điều đó hay hình như bạn có thể làm điều đó, khi đó dù sao hãy cũng thử làm bất kể người khác nghĩ và nói gì. Đừng để người khác ngăn cản bạn làm những việc yêu thích. Đừng từ bỏ. Một hơi thở dài chẳng phải đã vượt qua rất nhiều vật cản đó sao!
.
Walking on Your Own Path in Life
By Andrea Klee
The basic wisdom of life is that we can only be ourselves – we cannot be someone else. Would we really like to exchange our life with the life of someone else? I mean really changing the whole life, not just an aspect? Would we be willing to lose all our dear family members and friends, our talents and unique experiences? Do we really want to change everything?
Some people are envious about other people; they think they have a better job or a bigger house or a nicer family, but they don’t take into account that if they change their lives with the other person, then they have to take everything! They don’t know about that other person. The other person may look fine on the outside, but on the inside there may be torment or a lot of issues that you don’t see.
How about those that don’t know what they would like to do? They know that they are not happy, and that is some of the reason why they are looking to imitate others. They are looking and searching for that happiness. Therefore, they should find out what they love doing. They have to understand that happiness won’t happen if they are just copying another person.
The only chance we have is to be the best version of ourselves that is possible. Since we cannot be someone else, we need to make the best of what is possible in our lives. In order to become the best version of ourselves, our task is to find out who we really are, for what unique reason we are on earth, and what we love doing. We should get as good as we can at it and see what opportunities knock at our door and what possibilities we can create.
Black Belt Spirit
I have learned to choose my own way in my Karate lessons. At first when I was a color belt, I used to ask my Karate teacher, “How should I do this? How should I do that? What is right? What is wrong? What is correct? What should I do?” He finally told me “You have to choose your own way, you have to show what you do with enthusiasm and you have to mean it. It doesn’t matter if this is what someone else expects or not; care about that what you do is a good thing.”
Living with the black belt spirit means walking your own path, showing discipline, standing up for yourself when necessary, showing self confidence while being modest, moving beyond limitations and obstacles, and supporting the good, fair and just. Learn to endure difficult circumstances, and you’ll have more options in life. Living with the black belt spirit means to have the courage to be yourself, and to give your all to whatever you do.
Being true and authentic
If you are not true and authentic, you will never be able to find your own path, because what you find is the path of someone else. It will be the path of the role that you play. Many people worship originality, since they know how hard it is to open up and to show your inner core. If you try to copy someone else, you will just be a cheap copy of the other person and nobody will appreciate that because the other person is already there. The world needs the unique talents that you have to contribute.
How to prevent other people from dissuading you from doing what can be done
You shouldn’t let people interrupt you doing what can be done just because they believe it cannot be done. When someone tells you to not do what you would like to do, always ask yourself “How would this person benefit from you not following your plan? Or what disadvantage would this person suffer from when you followed your plan?” If it is an unbiased person and somebody who wants your best, then you should consider listening to this person. However, keep in mind that even good friends might not be able to see the whole picture, or to understand why your chosen path is right for you.
It is always up to you what you do in your life, and you have to take responsibility for what you do because nobody else knows what is right for you. You can listen to the advice of others if they have experience, but you still have to make your own decisions because your life is different and also the situation might be slightly different. Whatever you would like to do, if there is someone else who is doing it, or if it seems possible to you, then try it anyhow, no matter what others think or say. Don’t let others stop you from doing what you love to do. Don’t give up. A long breath has already overcome many obstacles.
Hãy cầm lấy quá khứ của con và cầm lấy tương lai của con,
Chuyển đổi chúng, bằng phép lạ của quyền năng của Chúa, thành năng lượng của tình yêu và chỉ tình yêu mà thôi.
Mong sao con biết về hiện tại như cách Chúa muốn con nhìn thấy nó.
Mong con chỉ thấy Chúa trong mọi người mọi vật để con có thể bị chói mắt bởi anh sáng, nâng lên bởi ánh sáng, được vui sướng bởi ánh sáng, và được tạo mới bởi ánh sáng.
Giải thoát con khỏi quá khứ của con và đưa con vào tương lai.
Con tin vào Chúa; không nơi nào khác là thật cả.
Trong Chúa con có niềm tin; không điều gì khác có quyền năng.
Và như vậy là con ở ngay tại nơi chốn của con, và con sẽ không cố điều gì nữa.
Con ở tại nhà; mong sao con cảm xúc được điều này và được bình an.
Bởi con sẽ không còn cướp chính con qua những tưởng tượng hão huyền và những ý nghĩ đau khổ của con.
Chúa là đời con.
Chúa ở đây bây giờ.
Amen
Nguyễn Minh Hiển dịch
.
Dear God,
Please take my past and take my future,
Transform them both through the miracle of Your power into energies of love and love only.
May I know the present as You would have me see it.
May I see only You in everyone and everything that I might be dazzled by the light, lifted up by the light, given joy by the light, and made new by the light.
Release me from my past and deliver me to my future.
In You I trust; nothing else is real.
In You I have faith; nothing else has power.
And so it is that I am where I belong, and I shall strive for nothing.
I am at home; may I feel this and be at peace.
For I would rob myself no longer through my vain imaginings and tormented thoughts.
Một Hiệp Sĩ Đạo thượng thừa tên Nobunaga quyết định tấn công quân địch dù quân số của ông chỉ bằng một phần mười số quân bên địch. Ông biết rằng ông sẽ thắng, nhưng quân của ông thì rất nghi ngại.
Trên đường đi ông ghé vào một đền thờ Thần đạo và nói với lính của của ông: “Sau khi ta viếng đền ta sẽ thẩy đồng bạc cắc. Nếu là đầu, chúng ta sẽ thắng; nếu là đuôi, chúng ta thua. Định mệnh nắm chúng ta trong tay ngài.”
Nobunaga vào đền thờ và cầu nguyện thầm lặng. Rồi ông bước ra và thẩy đồng bạc. Đầu hiện ra. Lính của ông hăng chiến đấu đến mức họ thắng trận chiến thật dễ dàng.
“Không ai có thể thay đổi bàn tay định mệnh,” người hầu cận của Nobunaga nói với ông sau cuộc chiến.
“Đúng vậy, không ai có thể,” Nobunhaga nói, cho anh hầu cận thấy đồng bạc cắc với cả hai mặt đều là “đầu”.
.
Bình:
• Tất cả các hình thức lễ bài thần thánh chung qui cũng chỉ là các hiện tượng tâm lý cho con người. Định mệnh của ta nằm trong ý chí của ta, dù ta biết điều đó hay không.
Kinh Pháp Cú mở đầu: “Tâm dẫn đầu các pháp, tâm làm chủ, tâm tạo.”
(Trần Đình Hoành bình)
.
In the Hands of Destiny
A great Japanese warrior named Nobunaga decided to attack the enemy although he had only one-tenth the number of men the opposition commanded. He knew that he would win, but his soldiers were in doubt.
On the way he stopped at a Shinto shrine and told his men: “After I visit the shrine I will toss a coin. If heads comes, we will win; if tails, we will lose. Destiny holds us in her hand.”
Nobunaga entered the shrine and offered a silent prayer. He came forth and tossed a coin. Heads appeared. His soldiers were so eager to fight that they won their battle easily.
“No one can change the hand of destiny,” his attendant told him after the battle.
“Indeed not,” said Nobunaga, showing a coin which had been doubled, with heads facing either way.
Thiên hoàng Goyozei học Thiền với Gudo. Thiên hoàng hỏi: “Trong Thiền, tâm này là Phật. Phải không? Thiên hoàng Go-Yōzei
Gudo trả lời: “Nếu bần tăng nói ‘đúng’, hoàng thượng sẽ nghĩ là hoàng thượng hiểu trong khi không hiểu. Nếu bần tăng nói ‘sai’, bần tăng có thể nói ngược lại với điều hoàng thượng đã hiểu rất rõ.”
Một hôm khác Thiên hoàng hỏi Gudo:: “Người giác ngộ đi đâu khi chết?”
Gudo trả lời: “Bần tăng không biết.”
“Tại sao thầy không biết?” Thiên hoàng hỏi.
“Tại vì bần tăng chưa chết,” Gudo trả lời.
Thiên hoàng ngại hỏi thêm về những điều mà trí óc Thiên hoàng không hiểu nổi. Nên Gudo vỗ tay xuống sàn như là để đánh thức Thiên hoàng, và Thiên hoàng giác ngộ!
Sau khi giác ngộ Thiên hoàng càng tôn trọng Thiền và sư già Gudo hơn trước, ngay cả cho phép Gudo đội mũ trong cung trong mùa đông. Khi Gudo quá 80 tuổi, thiền sư thường ngủ gục trong khi giảng bài, và Thiên hoàng chỉ lặng lẽ lui sang phòng khác để người thầy yêu quý hưởng được giấc nghỉ cơ thể già lão của thầy đòi hỏi.
.
Bình:
• Các thiền sư cho học trò câu hỏi, nhưng không cho câu trả lời. Người học trò phải tự tìm ra câu trả lời bằng trực nghiệm (không phải bằng đọc sách hay nghe người khác). Và khi các câu trả lời đến, đó là lúc giác ngộ.
• Thiền sư không bao giờ đoán (bằng lý luận) chuyện mình không biết được bằng trực nghiệm, như là khi chết thì đi đâu.
(Ngoại trừ một câu trả lời ai trong chúng ta cũng thấy được, là khi ta chết ta tan rã vào vũ trụ, mà các thiền sư nói là “trở về với Không” như sóng tan vào biển. Xem bài thơ Các Bộ Xương của thiền sư Ikkyu).
• Giác ngộ xong càng trọng Thiền và thầy vì lúc đó mới biết được Thiền sâu đến đâu, thầy sâu đến đâu và mình chỉ mới đến đâu. Chưa giác ngộ thì chưa thấy được các điều này.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Gudo and the Emperor
The emperor Goyozei was studying Zen under Gudo. He inquired: “In Zen this very mind is Buddha. Is this correct?”
Gudo answered: “If I say yes, you will think that you understand without understanding. If I say no, I would be contradicting a fact which you may understand quite well.”
On another day the emperor asked Gudo: “Where does the enlightened man go when he dies?”
Gudo answered: “I know not.”
“Why don’t you know?” asked the emperor.
“Because I have not died yet,” replied Gudo.
The emperor hesitated to inquire further about these things his mind could not grasp. So Gudo beat the floor with his hand as if to awaken him, and the emperor was enlightened!
The emperor respected Zen and old Gudo more than ever after his enlightenment, and he even permitted Gudo to wear his hat in the palace in winter. When Gudo was over eighty he used to fall asleep in the midst of his lecture, and the emperor would quietly retire to another room so his beloved teacher might enjoy the rest his aging body required.
Nhà thơ Hữu Loan, tác giả của tuyệt tác Màu Tím Hoa Sim, đã qua đời tại quê nhà ở Thanh Hóa, ngày 18 tháng 3, 2010, lúc 21 giờ, hưởng thọ 95 tuổi.
Màu Tím Hoa Sim, ai đọc qua mà không buồn da diết!
Cuộc tình trong thời nhiễu loạn phân ly…
Nhưng không chết người trai chiến sĩ
Mà chết người gái nhỏ hậu phương…
Chiến tranh không có quy luật phân ly!
Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt…
Tiểu sử
Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông học Thành chung ở Thanh Hóa, đậu tú tài Tây năm 1938 tại Hà Nội (vì vậy ở quê thường gọi là cậu Tú Loan). Thời đó, bằng tú tài rất hiếm, rất ít người có nên ông được mời vào làm trong Sở Dây thép (Bưu điện) Hà Nội nhưng ông không làm mà đi dạy học và đã từng là cộng tác viên của các tập san văn học xuất bản tại Hà Nội. Năm 1939 ông tham gia Mặt trận Bình Dân rồi về tham gia Mặt trận Việt Minh tại thị xã Thanh Hóa.
Năm 1943, ông gây dựng phong trào Việt Minh ở quê nhà, và khi cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, ông làm Phó chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn, rồi được cử làm Ủy viên Văn hóa trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính.
Trong kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tình nguyện đi bộ đội, phục vụ trong sư đoàn 304 và làm chính trị viên tiểu đoàn, đồng thời làm chủ bút tờ Chiến Sĩ của sư đoàn.
Tháng 2 năm 1948, lúc ấy ông 32 tuổi, được nghỉ phép hai tuần lễ, về quê cưới cô Lê Đỗ Thị Ninh là người học trò cũ mới 16 tuổi, con gái của ông bà tham Kỳ, một gia đình nền nếp, gia sản có tới hàng trăm mẫu ruộng ở Thanh Hoá mà trước đây ông đã từng làm gia sư dạy kèm cho các con của ông bà suốt nhiều năm liền. Cô Ninh yêu ông bằng một tình yêu kỳ lạ, nửa như người anh, nửa như người thầy. Ông cũng coi cô bé xinh đẹp 16 tuổi đó nửa như em gái, nửa như cô học trò vì khi ông mới đậu tú tài, được ông bà tham Kỳ nhờ đến dạy học cho hai người anh của cô Ninh thì cô mới 8 tuổi. Sau, ông cũng làm gia sư cho cô luôn.
Cưới nhau xong, ông lại lên đường ra mặt trận. Sư đoàn lúc ấy ở vùng Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Ba tháng sau, tháng 5 – 1948, từ ngoài mặt trận, ông được tin người vợ trẻ tuổi ở nơi quê nhà vắn số: cô giặt đồ ở ngoài sông, xảy chân ngã xuống sông, bị nước cuốn đi, chết đuối. Ông quá đau khổ, định sẽ ở vậy suốt đời, đồng thời đem nỗi lòng mình viết thành những câu thơ rồi dần dần thành bài Màu tím hoa sim đầy kỷ niệm. Mấy năm sau – khoảng các năm 1951-1953 – bài thơ này nổi tiếng, được lưu truyền trong dân chúng nhưng bị phê bình là ủy mị, mang tính chất tiểu tư sản!
Năm 1954, sáu năm sau ngày vợ chết, hoà bình lập lại nhưng chuyện đấu tố diễn ra. Bộ đội đóng ở Nghệ An, ông về nhà chơi, được biết ở làng bên có một gia đình địa chủ ngày trước vẫn tiếp tế lương thực cho sư đoàn của ông, nay bị đấu tố chết rất thê thảm, chỉ trừ cô gái 17 tuổi tên Phạm Thị Nhu thì được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà, cấm không cho ai được phép liên lạc. Ông nhớ tới ơn xưa, bèn đi tìm xem cô ta ra sao thì gặp cô đang đói khát, mặt mũi lấm lem, quần áo rách rưới, đang đi mót những củ khoai người ta bới xong còn sót lại ở ngoài cánh đồng, chùi sơ rồi bỏ vào miệng ăn sống. Thấy ông, cô khóc rưng rức vì cảnh khốn cùng của mình và cho biết ban đêm cô ngủ trong một ngôi miếu hoang, chỉ sợ có kẻ làm bậy và không hiểu mình sẽ tồn tại được bao lâu. Ông rất thương xót, đồng thời cũng nhớ tới những kỷ niệm mà hồi trước, khi cô còn nhỏ, ông dạy học ở xã bên ấy, cô thường núp nghe ông giảng truyện Kiều.
Ông quyết định đem cô về nhà cha mẹ và lấy cô làm vợ. Cấp trên không đồng ý. Ông là đảng viên, lại trưởng phòng Tuyên huấn kiêm chính trị viên tiểu đoàn, không được lấy con cái địa chủ, nếu lấy thì sẽ bị đuổi khỏi quân đội và bị khai trừ khỏi đảng. Tính ông ngang bướng, ông chấp nhận điều kiện thứ hai và cô Phạm Thị Nhu trở thành người vợ sống với ông cho đến bây giờ, sinh cho ông được 10 người con cùng với 37 đứa cháu như chúng ta sẽ biết.
Đầu năm 1955, ra khỏi quân đội, ông về Hà Nội xin vào làm việc tại báo Văn Nghệ. Trong thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Ông sáng tác những tác phẩm lên án quyết liệt những tiêu cực của các cán bộ nịnh hót, đố kỵ, ám hại lẫn nhau vv… Như trong tác phẩm Cũng những thằng nịnh hót và trong truyện ngắn Lộn sòng, ông coi mình là nạn nhân và phê phán một cách gay gắt.
Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan bị đi cải tạo mấy năm rồi được thả, cho về địa phương và bị quản chế tại địa phương. Hiện nay tất nhiên lệnh quản chế đó đã hết từ lâu nhưng ông vẫn sống tại quê nhà.
Các tác phẩm
Hữu Loan chưa xuất bản tập thơ nào. Một số bài thơ đã được phổ biến trên các báo chí của ông: Màu tím hoa sim, Đèo Cả, Yên mô, Hoa lúa, Tình Thủ đô…
Tại miền Nam, bài Màu tím hoa sim đã được các nhạc sĩ Dũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng và Duy Khánh phổ nhạc… Trong đó bài của Dzũng Chinh và Phạm Duy là nổi tiếng nhất.
Vào tháng 10 năm 2004, Màu tím hoa sim đã được Công ty Cổ phần Công nghệ Việt (viết tắt: vitek VTB) mua bản quyền với giá 100 triệu đồng. (Nguồn: datviet.com)
Để tưởng niệm Hữu Loan, sau đây là:
1. Nguyên văn bài thơ Màu Tím Hoa Sim
2. Bản dịch bài thơ sang tiếng Anh (“Berryflower Violet”) của TĐH.
3. Video bài thơ Màu Tím Hoa Sim, do Quốc Anh ngâm.
4. Video bản nhạc “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà”, Phạm Duy viết, do Elvis Phương hát.
5. Video bản nhạc “Những Đồi Hoa Sim”, Dzũng Chinh, do Phương Dung hát.
6. Audio link “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh, do Hương Lan và Duy Quang hát.
7. Video bản “Chuyện Hoa Sim” của Anh Bằng, do Như Quỳnh hát.
8. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do chính Duy Khánh hát.
9. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do Giao Linh hát.
10. Tiếp theo đó là lời kể của Hữu Loan về cuộc tình đã tạo nên bài thơ này.
Cầu xin cho linh hồn Hữu Loan được an lạc nơi chín suối.
Hoành
Màu Tím Hoa Sim
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh.
Tôi người vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái.
Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh bết bùn
Đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi.
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…
Nhưng không chết
Người trai khói lửa
Mà chết
Người gái nhỏ hậu phương.
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được nhìn nhau một lần.
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
trước tin em lấy chồng;
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí.
Chiều hành quân
Qua những đồi sim
những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát
trong màu hoa
(áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…).
Hữu Loan
Berryflower Violet
She had three brothers in the army
The younger ones
some weren’t yet talking
When her hair was still soft
I was a soldier
away from home
Loving her as a little sister
The wedding day
she didn’t ask for a new dress
I wore army uniform
The hobnail boots
Battlemud-smeared
Lovely she smiled
beside the odd husband
I came back from the front
Wedding done, I left.
From the far war zone
I thought of her, uneasy
Marrying in war time
Who leaves and would return?
If I don’t come back
how pitied would it be
for the little wife waiting
in the country evenings…
Yet the boy in the firing lines didn’t die
but died
the little girl behind
I came back
seeing her not
My mother sat by her tomb in darkness
The wedding day’s flowerpot
had become an incense vessel
besieged in expired coldness
Her hair was soft
too short to pin up
O my beloved, the last minute
we couldn’t hear each other
we couldn’t see each other even once
Those days she loved violet berryflowers
Her dress was berryflower violet
Those days
night lamp
small shadow
She mended for her husband the shirt
those days…
An afternoon
rain over the forest
the three brothers in the northeastern front
received words of the sister’s death
before the wedding news
An early autumn wind
made the river waters creep
The little brother grew up
lost
looking at the sister’s picture
When came the early autumn wind
the grass withered by the tombstone
In the afternoons
my platoon passes through berry hills
berryflower hills infinitely long in the afternoons
Berryflower violet
endlessly purples the desolate afternoons
Looking at the torn shirt shoulder
I sing
in the flower’s color
“My shirt is torn by the seam
My wife died
My mother has not yet mended it.”
TĐH translated
(June 13, 1998, March 2, 2000; March 18, 2010)
Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất ,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.
Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi: -Thầy có thích ăn sim không ? Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ….Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng. -Thầy ăn đi. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: -Ngọt quá.
Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa…
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”. Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!
Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.
Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.
Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn….Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng có em chưa biết nói “Khi tóc nàng đang xanh …” …Tôi về không gặp nàng…
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.
Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chổ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : Chiều hành quân, qua những đồi sim Những đồi sim, những đồi hoa sim Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt Và chiều hoang tím có chiều hoang biết Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
Đến vụ Nhân văn Giai phẩm
Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?
Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi…
Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Phần 2: Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ…
Vợ nhà thơ Hữu Loan – Bà Phạm Thị Nhu
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.
Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.
Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.
Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no….Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai , 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.
Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác , nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.