Người có óc sáng tạo sẵn sàng sống chung với sự mơ hồ. Anh ta không cần vấn đề phải được giải quyết ngay lập tức và đủ khả năng để chờ đợi một ý tưởng thích hợp.
Đặng Nguyễn Đông Vy dịch
.
The creative person is willing to live with ambiguity. He doesn’t need problems solved immediately and can afford to wait for the right ideas.
Chào các bạn,
Trong những dịp bầu cử tổng thống Mỹ hay bầu cử lãnh đạo, người dân Mỹ thường cầu nguyện tập thể trong các nhà thờ, nơi công cộng để lắng lòng xuống, cùng nhìn vềThượng đế để cầu xin sự che chở cho dân tộc, sự khôn ngoan để tìm được người lãnh đạo tốt nhất cho đất nước hay tổ chức.
Người Mỹ tin rằng, quyền chọn lựa người lãnh đạo thực sự cho đất nước thuộc về Thượng Đế. Hoạt động bầu cử là hình thức thi đua để tìm ra người lãnh đạo tốt nhất.
Bởi vậy, nếu ai đã được bầu làm lãnh đạo, thì dù trước đó mình đã bầu cho ứng cử viên đối thủ, nhưng bây giờ “He’s my President and I will serve him”, như những người dân Mỹ trên một góc phố nói.
Hôm nay, mình giới thiệu với các bạn bài Cầu nguyện cho Lãnh đạo của chị Joan D. Chittister, một nữ tu sĩ thuộc dòng Benedictine.
Bài cầu nguyện này được cầu nguyện ở nhiều nhà thờ mỗi dịp bầu cử, và đăng trên nhiều website cộng đồng của nước Mỹ, bất kể tôn giáo (interfaith).
Chúc các bạn một ngày tuyệt vời,
Hiển.
.
CẦU NGUYỆN CHO LÃNH ĐẠO
(trong dịp bầu cử và những dịp khác)
Joan D. Chittister, OSB
Hởi Chúa, hãy cho chúng con
những nhà lãnh đạo có trái tim đủ lớn
để rộng đủ cho tâm hồn chúng con
và cho tâm hồn chúng con đủ sức mạnh
để đi theo nhà lãnh đạo có tầm nhìn và trí tuệ
Trong khi tìm kiếm nhà lãnh đạo,
hãy cho chúng con tìm kiếm điều lớn hơn sự phát triển
của chúng con –
mặc dù chúng con hy vọng có phát triển –
lớn hơn an ninh cho chính mảnh đất của chúng con –
mặc dù chúng con cần an ninh –
lớn hơn sự thỏa mãn cho những nhu cầu của chúng con –
mặc dù chúng con muốn có nhiều điều.
Hãy cho chúng con trái tim để chọn lựa
nhà lãnh đạo sẽ làm việc
với những nhà lãnh đạo khác để đem đến an toàn
cho toàn thế giới
Cho chúng con những nhà lãnh đạo
sẽ dẫn dắt đất nước này tới đức hạnh
mà không tìm cách áp đặt kiểu đức hạnh của chúng con
lên trên đức hạnh của người khác
Cho chúng con một chính phủ
tạo nên sự phát triển
cho đất nước này
mà không lấy đi tài nguyên của nước khác
để đạt được điều đó.
Cho chúng con hiểu biết đủ chính mình
để chọn nhà lãnh đạo có thể phân biệt
sức mạnh với quyền lực,
sự tăng trưởng với lòng tham,
lãnh đạo với áp bức,
và sự vĩ đại thật sự với những cái bẫy
của sự hoành tráng rởm.
Chúng con tin ở Chúa, hởi Chúa Cao Cả,
hãy mở lòng chúng con để chúng con học hỏi từ những người
mà Chúa nói chuyện bằng những ngôn ngữ khác nhau
và kính trọng cuộc đời và lời nói
của những người Chúa đã ủy thác
nhiệm vụ làm tốt những phần còn lại của trái đất này.
Chúng con nài xin ngày, hởi Chúa Cao Cả,
cho chúng con tầm nhìn của một dân tộc
để biết sự lãnh đạo toàn cầu thực sự nằm ở đâu,
để cần mẫn theo đuổi sự lãnh đạo đó,
để yêu cầu bảo vệ nhân quyền
cho mọi con người khắp mọi nơi.
Chúng con cầu xin nhiều điều này, hởi Chúa Cao Cả
với trí óc chúng con mở rộng cho lời Chúa
và trái tim tin tưởng vào sự chăm sóc vĩnh cửu của Chúa.
Amen
.
PRAYER FOR LEADERSHIP
(On Election Day and Other Times
Joan D. Chittister, OSB)
Give us, O God,
leaders whose hearts are large enough
to match the breadth of our own souls
and give us souls strong enough
to follow leaders of vision and wisdom.
In seeking a leader,
let us seek more than development
for ourselves —
though development we hope for —
more than security for our own land —
though security we need —
more than satisfaction for our wants —
though many things we desire.
Give us the hearts to choose
the leader who will work with other
leaders to bring safety
to the whole world.
Give us leaders
who lead this nation to virtue
without seeking to impose our kind of virtue
on the virtue of others.
Give us a government
that provides for the advancement
of this country
without taking resources from others
to achieve it.
Give us insight enough ourselves
to choose as leaders those who can tell
strength from power,
growth from greed,
leadership from dominance,
and real greatness from the trappings
of grandiosity.
We trust you, Great God,
to open our hearts to learn from those
to whom you speak in different tongues
and to respect the life and words
of those to whom you entrusted
the good of other parts of this globe.
We beg you, Great God,
give us the vision as a people
to know where global leadership truly lies,
to pursue it diligently,
to require it to protect human rights
for everyone everywhere.
We ask these things, Great God,
with minds open to your word
and hearts that trust in your eternal care.
Amen.
Con đường tìm đến an bình nội tâm không quá đơn giản, không phải một sớm một chiều. Chúng ta không thể một sáng đẹp trời thức dậy và tư nhủ với mình rằng ta sẽ có an bình nội tâm từ hôm nay.
Nói như thế không có nghĩa là ta không tìm được an bình nội tâm
An bình nội tâm là một quá trình, một cuộc hành trình.
Để làm được trước hết phải nhận diện chính mình và những cảm xúc tiêu cực thường chế ngự mình, và tập kiểm soát chúng , chuyển hóa chúng để cho những cảm xúc tích cực sẽ thay thế. Không ai có thể làm thay bạn việc đó. Chính bạn phải nhận thức được những cách mà bạn phải làm để cải thiện cách tư duy, cách hành động, và ứng xử nhằm làm cho cuộc sống của bạn tốt đẹp hơn.
Và bài học lớn với mọi người vẫn là buông xả và tha thứ, yêu thương và trách nhiệm, sống cho hiện tại…
Xuất phát điểm cho những tư tưởng trên là tư duy tích cực, yêu đời.
Mời các bạn xem file Power Point dưới đây để có thêm một số ý tưởng về an bình nội tâm. Chúc các bạn an lạc .
Dưới đây là bài bài báo nhà thơ Vương Trọng vừa viết về bài thơ Lời Thỉnh Cầu ở Nghĩa Trang Đồng Lộc, mà anh viết năm 1995, khắc lên bia xi-măng năm 2002, mình dịch ra Anh ngữ năm 2005 (biên tập lại năm 2008), và khắc song ngữ lên bia đá tại Nghĩa Trang Đồng Lộc tháng 1 năm 2009.
Mình thăm Đồng Lộc tháng 5 năm 1995, trên một chuyến về thăm quê hương cụ Hồ tại Nghệ An, với một số Việt Kiều khác, do anh Nguyễn Ngọc Trân, trưởng Ban Việt Kiều Trung Ương tổ chức. Trên đường anh Trân cho xe ghé vào Đồng Lộc. Lúc đó mình hoàn toàn chẳng biết Đồng Lộc là gì cả.
Ấn tượng đầu tiên của mình là, đó là một vùng rất nghèo khổ, xác xơ, nóng đổ lửa… và nó làm cho mình có cảm giác buồn buồn vì cái nghèo của quê hương và cái khổ của dân quê. Mình vẫn luôn luôn như thế từ hồi 16, 17 tuổi.
Vào đến nơi, thấy mười ngôi mộ xi măng khiêm tốn nằm trên một ngọn đồi với vài bóng cây lưa thưa, giữa một vùng đồng khô cỏ cháy. Rồi từ từ hiểu chuyện, nhìn hố bom nơi các cô hy sinh, nhận biết rằmg các cô này cở tuổi mình hay có người chỉ sinh trước một hai năm, nhưng cuộc đời có quá nhiều khác biệt… làm cho mình thật là nhức nhối. Lúc đó mình “try to be connected” với các cô bằng cách nhờ anh Trân chụp một tấm ảnh mình ngồi bên cạnh một ngôi mộ. Tấm ảnh này có đăng trong báo Quê Hương (của Ban VKTW) sau chuyến đi đó.
Vì các cô trẻ mãi không già, cho nên mình luôn luôn có cảm tưởng các cô này là những người em gái bất hạnh của mình. Vì vậy, mình không quên các cô được những tháng năm sau đó. Hơn 10 năm sau, khi đọc nhật ký Đặng Thùy Trâm lần đầu, ý tưởng đầu tiên đến trong đầu mình là 10 cô gái Đồng Lộc.
Đến năm 2005, 10 năm sau khi anh Vương Trọng viết bài thơ và 3 năm sau khi nó được khắc vào bia xi măng, chị Diệu Ánh (admin của VNBIZ forum) trong một chuyến du hành trên quốc lộ Trường Sơn, ghé qua Đồng Lộc, thấy bài thơ, chụp và gởi cho mình. Mình dịch ngay ra tiếng Anh và post trên VNBIZ. Đây là bài thơ duy nhất mà mình ứa nước mắt rất nhiều lần trong khi dịch.
Đến đầu năm 2008 chị Diệu Ánh gặp chị Minh Lý, phóng viên Hà Tĩnh nhưng hiện sống ở Vũng Tàu, chị Minh Lý biết anh Vương Trọng. Thế là mình chỉnh sửa lại bài thơ một tí nữa rồi nhờ chị Diệu Ánh và Minh Lý chuyển đến anh Vương Trọng. Anh Vương Trọng nói chuyện với anh Thế Ban, sở Văn Hóa Thể Thao Hà Tĩnh. Sở quyết định khắc cả bài nguyên thủy lẫn bài dịch vào bia đá, thay bia xi măng đã hao mòn quá nhiều. Tháng giêng 2009, bia đá hoàn thành.
Mình đã viết một bài hồi tháng ba năm nay (2009) về bài thơ này để chia sẻ với các bạn. Hôm nay chúng ta nghe câu chuyện từ phía anh Vương Trọng. Bài này của anh Vương Trọng đã đăng trên Văn Nghệ Công An ngày 20 tháng 7 năm 2009.
Cám ơn anh Vương Trọng. Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành
.
Bài thơ song ngữ ở Nghĩa Trang Đồng Lộc
Vương Trọng
Vương Trọng
Từ khi Ngã ba Đồng Lộc trở thành khu di tích lịch sử của Thanh niên xung phong cả nước, khách tìm đến nơi này mỗi ngày một đông, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, học sinh, sinh viên. Có người nói rằng, chỉ cần đến nơi này một lần, bài học về giáo dục truyền thống tự nhiên thấm vào người, và lớp trẻ có điều kiện để nhận thức được cái giá của độc lập, tự do.
Gần đây có nhiều bạn trẻ sau khi viếng thăm Ngã ba Đồng Lộc, ra Hà Nội có tìm gặp tôi để trò chuyện. Có người tôi quen biết từ trước, nhưng cũng có kẻ tôi mới được gặp lần đầu. Nguyên nhân là vì một bài thơ của tôi đã được khắc đá và dựng lên ở nghĩa trang này. Hơn nữa, bài thơ đó lại được dịch ra tiếng Anh, khắc trên tấm bia đá cao 2,5 mét, rộng 1 mét, mặt này là bài thơ Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc của tôi, mặt kia là bản dịch của ông Trần Đình Hoành, một Việt kiều ở Mỹ. Bởi vậy tôi muốn có đôi lời tâm sự với bạn đọc về chuyện này. Đài tưởng niệm Đồng Lộc
Mùa hè năm 1995, lần đầu tôi đến thăm nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc. Mặc dù mười cô gái đã hy sinh trước đó 27 năm trời, thế nhưng khi đứng lặng trước hố bom đã giết các cô, khi thắp hương lần lượt cắm lên mười nấm mộ, cũng như khi chứng kiến những kỷ vật các cô để lại…, tôi tự nhủ phải viết một cái gì đấy để giải tỏa nỗi xúc động. Bút ký, tuỳ bút cũng có thể chuyển tải được cảm xúc này, nhưng vì trong đoàn còn có nhà văn Xuân Thiều, nhà văn Nam Hà, nên tôi nghĩ nên “nhường” văn xuôi cho hai vị cao niên này. Bởi thế trước mắt tôi chỉ còn một cửa hẹp là thơ.
Nhưng thơ về Đồng Lộc cũng không phải dễ, vì trước đó đã có nhiều người viết rồi, có bài khá nổi tiếng như của nhà thơ Huy Cận. Thế thì mình phải viết thế nào để không bị chìm lấp bởi những bài đã có. Sự hy sinh cùng một lúc của mười cô gái trẻ khi đang san lấp hố bom làm mọi người cảm động, nên khi nào trên mười ngôi mộ cũng có thật nhiều hương khói. Khi cắm những nén hương đang cháy lên mộ các cô, tôi tự hỏi, nếu mười cô gái hiển linh, họ sẽ nghĩ thế nào? Bức ảnh cuối cùng của 10 cô gái Ngã ba Đồng Lộc (Nhiếp ảnh gia Văn Sắc)
Qua tài liệu thu thập được, tôi biết số người hy sinh ở ngã ba này thật nhiều, riêng Trung đoàn phòng không 210 đã có 112 liệt sĩ đã hy sinh khi bảo vệ mảnh đất này. Thế mà họ không có bia mộ để thắp hương, bởi thịt xương họ đã hoà trộn vào đất. Thế là cái ý tưởng dùng lời mười cô gái trò chuyện với các đoàn khách thăm viếng được nẩy sinh, và tôi thấy thuận lợi khi muốn chở ý tưởng: mọi chính sách, chế độ đối với những người đã hy sinh, nghĩ cho cùng là vì những người đang sống. Bởi vậy, xây dựng cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc cũng là một cách thể hiện sự biết ơn đối với các liệt sỹ đã hy sinh.
Bài thơ có bốn khổ thì ba khổ đầu là lời mười liệt sĩ nhắc người đến nghĩa trang nên nhớ thắp hương cho những liệt sĩ mà thân xác đã tan trong đất, khuyên các em nhỏ nên trồng cây, các bạn cùng trang lứa cố gắng sản xuất. Còn các cô chỉ ước có vài cây bồ kết…
Bài thơ tôi viết và in lần đầu vào năm 1995, đến năm 1998 lại xuất hiện trong tuyển tập thơ về Đồng Lộc. Điều đáng nói là tập thơ này đã đến tay anh Nguyễn Tiến Tuẫn, là một trong ba anh hùng ở Đồng Lộc, thời mà mười cô gái hy sinh, anh đang phụ trách đơn vị Cảnh sát giao thông ở trọng điểm ác liệt này. Anh bảo rằng, anh bị bài thơ ám ảnh, và tự đặt cho mình phải làm một việc gì đó để giải toả sự ám ảnh này. Việc anh làm là lên huyện Hương Sơn tìm hai cây bồ kết con để đáp ứng lời thỉnh cầu của mười cô gái: ” Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang/ Cho mọc dậy vài cây bồ kết/ Hương chia đều trong hư ảo khói nhang”. Hai cây bồ kết anh trồng rất cẩn thận, hố đào to, phân tro nhiều nên tốt rất nhanh.
Bốn năm sau, năm 2002 thì hai cây bồ kết đã cao tới ba, bốn thước; cây lớn vào mùa thu đã nở hoa. Một lần trở lại thăm nghĩa trang đúng lúc gặp một đoàn khách, biết anh là người đã trồng hai cây bồ kết này, mọi người rất cảm phục và hỏi anh từ ý nghĩ nào mà làm được việc hết sức độc đáo và tuyệt vời này? Anh trả lời là từ cảm xúc một bài thơ, thế là họ hỏi anh có nhớ bài thơ đó không. Anh nói rằng bài thơ đó anh đã thuộc, nhưng không quen đọc thơ trước đám đông, anh hứa với họ là nếu lần sau quay lại thì thế nào cũng được đọc bài thơ đó ở đây. Mọi người nghe, kể cả người giới thiệu khu di tích, ai cũng nghĩ anh nói thế cho qua chuyện, ai ngờ anh bắt đầu ý định khắc bài thơ ấy lên đá. Điều trước tiên là phải liên hệ với Tỉnh đoàn Hà Tĩnh, đơn vị phụ trách khu di tích này. Nghe anh trình bày ý định khắc đá bài thơ đó, mọi người tán thành và coi đây là một việc làm văn hoá. Thế là chiều ngày 14 tháng 8 năm 2002, bia đá cỡ 80cm . 40cm với bài thơ 25 câu chia thành bốn khổ, được khắc sâu và tô màu sơn vàng rất dễ đọc đã dựng lên cạnh hai cây bồ kết bên nghĩa trang Mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc. 10 Mộ
Mấy năm năm nay, nhiều tờ báo đã đăng bài về chuyện này, và có nhiều bài đã gây xúc động người đọc. Ông Trịnh Xuân Tòng là cán bộ giảng dạy trường đại học Cần Thơ, đã nghỉ hưu; sau khi đọc bài báo của Ngô Vĩnh Bình nói về chuyện bài thơ và hai cây bồ kết, ông đã bỏ công mấy tuần liền để vẽ một bức tranh cỡ lớn với nhan đề : Múa dưới trăng, nỗi vui mừng khi có cây bồ kết . Trong bức tranh, ông đã vẽ mười cô gái liệt sĩ ở ngã ba Đồng Lộc, khi trăng lên đã cùng nhau nhảy múa, năm cô leo lên cây, năm cô múa trên đất. Trong bức tranh lớn đó, ông trích bốn câu thơ làm đề từ:
Ngày bom vùi, tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết…
Đặc biệt hơn, ông còn viết một bức thư cảm động Gửi mười em gái ngã ba Đồng Lộc. Bức tranh và bức thư này, báo QĐND đã giới thiệu trong số đặc biệt ra ngày 22- 12- 2002.
Gần đây tôi có dịp trở lại Đồng Lộc. Khác hẳn với quang cảnh tôi đã chứng kiến năm 1995, bây giờ ở khu di tích Đồng Lộc, đường sá rộng rãi, nhà cửa xây dựng khang trang, và đặc biệt cây cối quanh vùng tươi xanh như một vùng du lịch sinh thái. Không còn những vạt “cỏ may khâu nặng ống quần” khách đến thăm, không còn đồi Trọ Voi trọc lóc, lở lói. Nhiều cảnh tôi nhắc đến trong bài thơ đã lạc hậu so với bây giờ. 10 Cô
Đồng chí giới thiệu khu di tích hướng dẫn đoàn chúng tôi đi thắp hương trên từng nấm mộ và đốt những quả bồ kết khô. Mấy năm nay, nhiều đoàn khách đến thăm khu di tích này thường đem theo những chùm quả bồ kết khô để đốt sau khi thắp nhang. Người đầu tiên đốt bồ kết ở đây là nhà văn Nguyễn Thế Tường, quê Quảng Bình, công tác tại Tuần báo Văn nghệ. Tháng 10 năm 2002, anh Tường gặp tôi ở Tuần báo Văn nghệ, khi anh sắp vào nghĩa trang Đồng Lộc, anh hỏi tôi có nhắn gì không. Tôi nói rằng, hai cây bồ kết mới ra hoa nhưng chưa có quả, tôi muốn nhờ anh mua hộ tôi một chùm bồ kết, vào đó đốt để viếng mười cô gái. Anh đã làm thế, và ngạc nhiên, khi vừa đốt mấy quả bồ kết thì bát hương lớn bỗng hoá, cháy bùng lên, làm mọi người ngạc nhiên và anh gọi điện cho tôi ngay. Ngẫu nhiên hay tâm linh? Anh bảo rằng mọi người có mặt hôm đó, kể cả những người quản lý khu di tích, không ai nghĩ là ngẫu nhiên.
Tôi tới bia đá khắc bài thơ của mình thì thấy có nhiều em sinh viên đang xúm xuýt mở sổ chép thơ. Biết tôi là tác giả, nhiều em xin chụp ảnh lưu niệm và hỏi chuyện quanh bài thơ. Bằng vi tính, nét chữ khắc đẹp, chỉ tiếc cắt khổ phần đầu không thật chính xác, vì bài thơ của tôi gồm bốn khổ, khổ đầu sáu câu chứ không phải bốn câu như đã khắc. Tương đài Đồng Lộc, khi còn hoang vu, tháng 5 năm 1995, khi TĐH đến thăm
Sau đó không lâu, trong đoàn Việt kiều Mỹ về nước đến viếng nghĩa trang Đồng Lộc, có ông Trần Đình Hoành, một luật sư nhưng ham mê văn học, người đã từng dịch nhiều bài thơ của các nhà thơ Việt Nam ra tiếng Anh, xuất bản ở Mỹ. Ông xúc động khi đọc bài thơ “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc” và muốn truyền sự xúc động đó cho du khách nước ngoài nên đã dịch bài thơ này. Giám đốc sở Văn hoá và Du lịch Hà Tĩnh là nhà văn Đức Ban, người rất hiểu tác dụng của thơ văn vào cuộc sống, đã cho bài thơ và bản dịch đó hiển hiện lên bia đá như các bạn đã thấy vào sáng 17 tháng giêng năm 2009.
Nhân đây tôi chép lại bản tiếng Việt và tiếng Anh đã khắc trên hai mặt bia đó.
Ô. Trương Tấn Sang, Bộ Chính Trị, trong lễ khánh thành bia đá
Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc
– Mười bát nhang, hương cắm thế đủ rồi
Còn hương nữa hãy dành phần cho đất
Ngã xuống nơi này đâu chỉ có chúng tôi
Bao xương máu mới làm nên Đồng Lộc
Lòng tưởng nhớ xin chia đều khắp
Như cỏ trong thung, như nắng trên đồi.
– Hoa cỏ may khâu nặng ống quần, kìa
Ơi các em tuổi quàng khăn đỏ
Bên bia mộ xếp hàng nghiêm trang quá
Thương các chị lắm phải không, thì hãy quay về
Tìm cây non trồng lên đồi Trọ Voi và bao vùng đất trống
Các chị nằm còn khát bóng cây che.
– Hai mươi bảy năm qua, chúng tôi không thêm một tuổi nào
Ba lần chuyển chỗ nằm, lại trở về Đồng Lộc
Thương chúng tôi, các bạn ơi, đừng khóc
Về bón chăm cho lúa được mùa hơn
Bữa ăn cuối cùng, mười chị em không có gạo
Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường.
– Cần gì ư ? Lời ai hỏi trong chiều
Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu
Ngày bom vùi tóc tai bết đất
Nằm xuống mộ rồi, mái đầu chưa gội được
Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang
Cho mọc dậy vài cây bồ kết
Hương chia đều trong hư ảo khói nhang.
Đồng Lộc, 5 – 7- 1995
Vương Trọng
.
Học sinh trường THCS Đồng Lộc A Request at Dong Loc Cemetery
That’s enough for ten bowls
The rest of incense, let’s save for others
We’re not the sole fallen ones
So much blood and bone was spent for Dong Loc
Memories, let’s spread evenly
Like grass in the valley, sunlight on the hill.
Look! Tongue-grass buds cling to the pants!
O you red-scarfed children standing straight by the tombs
You love us so much, don’t you?
Then, go home, find little plants
Plant them on Tro Voi Hill and on these bare lands
We’re so thirsty longing for some tree shades!
Twenty-seven years have passed, we haven’t grown a day
Three times changing bed, we’re now back in Dong Loc
Friends, if you love us, don’t cry!
Go back and tend the rice for better harvest
The last meal we ten had no rice
Just a handful of cassava, then out with hoes we went.
Our needs? One afternoon someone has asked
We’re not yet married and haven’t got a chance to love
When the bomb buried us all, our hair was enmeshed in dust
Lying here in these tombs, we haven’t got a chance to wash our hair
We ask that on the parched ground of this cemetery
Someone would grow some carob trees
That spread fragrance evenly in the ethereal incense smoke…
Dong Loc July 5, 1995
VUONG TRONG
Translated by TRAN DINH HOANH
( A Vietnamese Resident in The USA)
Tất cả mọi người đếu có thể nảy ra những ý tưởng trong khi đang tắm. Nhưng chỉ những người bước ra khỏi phòng tắm, lau khô mình và làm điều gì đó với ý tưởng của mình thì mới làm nên sự khác biệt.
Đặng Nguyễn Đông Vy dịch
.
Everyone who has ever taken a shower has had an idea. It’s the person who gets out of the shower, dries off, and does something about it that makes a difference.
Hàng ngày ở ngoài đường có bao nhiêu người, những em bé bán vé số, những người thồ rau quả qua cầu Long Biên qua Hà Nội từ sáng sớm để bán, những người phu quét đường, những người vá yếm trên vỉa hè, ta có “thấy” họ không?
Mình cả hồi bé cho tới trước khi vào đại học lớn lên trong một xóm lao động, có những người đi tù về ở trong xóm, học những nghề như vá yếm xe máy, sửa xe đạp trên vỉa hè để sống. Thỉnh thoảng mọi người có “choảng” nhau cũng vì những thứ lặt vặt hay tranh nhau miếng cơm manh áo.
Hồi đó mình thấy phát điên vì bản tánh tự nhiên, sách vở và nhà trường một kiểu, thực tế nhìn thấy ngay ở hàng xóm nhà mình lại một kiểu.
Về sau mình sống ở môi trường khác đi, nghĩ lại, và thường chạnh lòng khi đi qua phố Nguyễn Công Trứ thấy những người hàng xóm cũ, dù chỉ thoáng qua. Các bác ý vẫn nhìn mình cười vui như không. 🙂
Ai cũng có nỗi khổ riêng và đáng thông cảm. Nghĩ lại, thay vì “đánh nhau” với họ về ý nghĩ, mình đã có thể nhìn mọi thứ theo cách “mình hiểu anh có nỗi khổ là như thế này, mình cũng thế, ai cũng có nỗi khổ riêng”.
Mình tư duy tích cực, yêu người và thông cảm với nhau một tý, sẽ giảm được nhiều sự bực tức không cần thiết.
Người ta, ai cũng yêu một cái gì đó, cũng nhiều như mình yêu một cái gì đó. Có thể người ta yêu cái đó khác cách mình yêu. Nhưng có khi, người ta yêu cái đó còn tha thiết mãnh liệt hơn mình. Đấy là cách mình dần dần tìm được sự thông cảm và đỡ được “đau” trong cuộc sống. 🙂
Sau đây, là một lời cầu nguyện về sự cảm thông rất hay, đầy khoan dung tình cảm. Xin giới thiệu với các bạn.
Chúc các bạn một ngày khoan dung,
Hiển.
.
Hỡi Cha, giúp chúng con nghi nhớ, rằng đứa khốn cắt ngang đường chúng con hôm qua là một người mẹ đơn thân, làm việc chín tiếng đồng hồ ngày hôm đó và đang lao vội về nhà để nấu cơm, giúp đám con làm bài tập, giặt giũ, và dành một chút thời gian quý giá với con của chị.
Giúp chúng con ghi nhớ, rằng cậu thanh niên người khoen lỗ, xăm mình, và thờ ơ, không đếm được tiền thối lại, là một cậu sinh viên đại học 19 tuổi, đang cân bằng nỗi lo lắng của cậu về bài thi cuối kỳ và nỗi sợ không có được khoản tiền vay cho kỳ học sau.
Nhắc nhở với chúng con, Chúa ơi, rằng đứa bụi đời đáng sợ, ăn xin tiền mỗi ngày tại đúng một chỗ (lẽ ra là nên có việc làm!) là một nô lệ của nghiện ngập mà chúng con chỉ có thể tưởng tượng được trong cơn ác mộng kinh khủng nhất.
Giúp chúng con ghi nhớ, rằng đôi vợ chồng già đi bộ chậm đến bực mình giữa hai quầy hàng và chắn đường mua sắm của chúng con, đang hưởng thụ khoảnh khắc này, vì biết rằng, dựa theo kết quả chẩn bệnh bà lão nhận được tuần trước, đây sẽ là năm cuối cùng họ đi mua sắm cùng nhau.
Hỡi Cha, nhắc nhở chúng con mỗi ngày rằng, trong tất cả những món quà Cha ban cho chúng con, món quà vĩ đại nhất là tình yêu. Chia sẻ món quà đó với những người chúng con yêu quý mà thôi, thì không đủ. Hãy mở lòng chúng con, không chỉ với những người thân cận với chúng con, nhưng với cả nhân loại. Hãy để cho chúng con chậm chạp khi phê phán, nhanh chóng khi tha thứ và khi biểu hiện kiên nhẫn, đồng cảm, và tình yêu.
.
Heavenly Father, Help us remember that the jerk who cut us off in traffic last night is a single mother who worked nine hours that day and is rushing home to cook dinner, help with homework, do the laundry and spend a few precious moments with her children.
Help us to remember that the pierced, tattooed, disinterested young man who can’t make change correctly is a worried 19-year-old college student, balancing his apprehension over final exams with his fear of not getting his student loans for next semester.
Remind us, Lord, that the scary looking bum, begging for money in the same spot every day (who really ought to get a job!) is a slave to addictions that we can only imagine in our worst nightmares.
Help us to remember that the old couple walking annoyingly slow through the store aisles and blocking our shopping progress are savoring this moment , knowing that, based on the biopsy report she got back last week, this will be the last year that they go shopping together.
Heavenly Father, remind us each day that, of all the gifts you give us, the greatest gift is love. It is not enough to share that love with those we hold dear. Open our hearts not to just those who are close to us, but to all humanity. Let us be slow to judge and quick to forgive, show patience, empathy and love.
Mỗi khi mình cùng đường, xuống tinh thần đến độ tuyệt vọng, không còn biết phải làm gì, thì mình hay lấy đoạn văn ngắn này ra đọc. Và khi một người bạn nào của mình có chuyện không vui, mình gởi đoạn văn này đến bạn.
Mount of Beatitude, Đồi cùa (bài giảng) Hạnh Phúc Thật, Capernaum và Biển Galilee (Do Thái)
Đoạn văn này, lúc bình thường thì đọc nghe rất tầm thường, chẳng có gì là đặc sắc cả. Nhưng khi mình rất buồn , khi mình tuyệt vọng, khi mình không còn biết phải làm gì cả, mang nó ra đọc, thì nó sống dậy như một hơi thở ấm, luồn qua được những kẻ hở li ti trên vách núi, vào tận đáy hang sâu, vào tận đáy quả tim lạc lõng trống vắng của mình. Thật là lạ lùng.
Trong Thánh kinh, Chúa Giêsu có một bài giảng dài rất nổi tiếng, giảng cho mấy ngàn người nghe trên đồi cao, gọi là Bài giảng trên đồi cao (The sermon on the mount). Đoạn văn ngắn này là đoạn mở đầu của Bài giảng trên đồi cao, và có tên là Beatitudes (Hạnh Phúc Thật).
Hôm nay mình dịch và post bài Beatitudes ở đây, đặc biệt cho Sesame và Leo Pretty, và các bạn đang nhiều đau khổ trong lòng. Bởi vì mình không biết có gì hay hơn để gởi gấm.
Chúc các bạn môt ngày an bình.
Mến,
Hoành
. Hạnh Phúc Thật
Phúc cho người nghèo khổ trong tâm linh
vì nước thiên đàng là của họ.
Phúc cho người than khóc,
vì họ sẽ được an ủi.
Phúc cho người khiêm nhu
vì họ sẽ thừa hưởng trái đất.
Phúc cho người đói khát sự công chính
vì họ sẽ no đủ.
Phúc cho người nhiều thương xót
vì họ sẽ được xót thương.
Phúc cho người có trái tim tinh khiết
vì họ sẽ thấy Thượng đế.
Phúc cho người xây dựng hòa bình
vì họ sẽ được gọi là con Thượng đế.
Phúc cho người bị bách hại khi làm điều công chính
vì nước thiên đàng là của họ.
. Beatitudes
Blessed are the poor in spirit,
for theirs is the kingdom of heaven.
Blessed are those who mourn,
for they will be comforted.
Blessed are the meek,
for they will inherit the earth.
Blessed are those who hunger and thirst for righteousness,
for they will be filled.
Blessed are the merciful,
for they will be shown mercy.
Blessed are the pure in heart,
for they will see God.
Blessed are the peacemakers,
for they will be called sons of God.
Blessed are those who are persecuted because of righteousness,
for theirs is the kingdom of heaven.
Các bạn có bao nhiêu bạn trên facebook, 360 độ yahoo và twitter followers nhỉ?
Những công cụ truyền thông Internet thật tuyệt để gửi thông điệp của ta đến nhiều người, chia sẻ và nhận những ý tưởng với tận đầu bên kia thế giới.
Nhưng, có nhiều yếu tố mà công nghệ không thể truyền đạt được, như khát vọng, khí chất của con người đằng sau bản kế hoạch kinh doanh, tính cách và con người thật đằng sau những cái nick, những địa chỉ email…
Trong bài viết này, thương gia Larry Bock chia sẻ với các bạn sinh viên trường Berkeley về bí quyết thành công trong kinh doanh – Tập trung vào Con Người!
Chúc các bạn một ngày tuyệt vời,
Hiển
.
Hãy nhớ rằng, Đời thuộc về loài động vật hai chân
Đối tác kinh doanh của tôi thường nói với những người muốn biết tại sao anh ta kiếm được rất nhiều tiền: “Tôi đầu tư vào LOÀI 2 CHÂN”. Trong sự nghiệp của tôi, một nhà khởi nghiệp công ty con, tôi chủ định giữ vững sự chú ý của tôi vào giá trị con người, ngay cả giữa sự tôn thờ ngày càng cao của chúng ta về công nghệ. Tôi không tìm kiếm những ý tưởng vĩ đại và công nghệ xì tin; quan trọng hơn, tôi tìm kiếm trước tiên những con người có can đảm và động lực để phát triển những ý tưởng vĩ đại.
Tôi luôn bị choáng váng bởi những người lợi dụng quá khả năng (của công nghệ) để tăng cường giao tiếp và nuôi dưỡng những mối quan hệ. Những công nghệ như là:
– Email
– Chat
– Second Life
– Và, đúng rồi, tường facebook
Theo quan điểm của tôi, không có gì thay thế giao tiếp trực tiếp, để vượt quá cái hời hợt, và liên hệ với tâmhồn của một người khác. Thực tế, tôi thấy rằng những công cụ truyền thông công nghệ cao có thể phản hiệu năng… Ước gì tôi được 10 xu cho mỗi cái thư điện tử bị hiểu sai ý mà tôi nhận được hay gửi đi. Vợ tôi thường hỏi tôi, “Larry, tại sao anh không làm việc bằng điện thọai nhiều hơn và đi ít hơn?” Và, câu trả lời của tôi luôn luôn rất rõ ràng, “Anh không làm vậy được”
Tôi không thể làm thế bởi vì đọc đơn xin việc và kế hoạch kinh doanh thì không đủ. Những báo cáo và phân tích đơn giản không thể truyền đạt các phẩm chất như là đam mê, cảm hứng, trí tưởng tượng, và, nhất là, cơn đói khát quặn ruột muốn thành công .
Bí mật để thành công trong những công ty khởi nghiệp, hay bất kỳ hợp tác nào, là tìm ra và làm việc với những người sẽ đẩy và kéo bạn tới thành công! Và không có lối đi tắt kỹ thuật nào cho việc đó được cả.
. REMEMBER THAT LIFE IS ABOUT TWO-LEGGED MAMMALS
My former business partner used to say to those who wanted to know how he made so much money: “I invest in ‘TWO-LEGGED MAMMALS.'” In my career as a start-up entrepreneur, I have deliberately remained focused on the value of people even amidst our ever-rising worship of technology. I don’t look for great ideas and cool technology; more importantly, I look first for people who have the courage and drive to develop great ideas.
I’m always dumbfounded by people who over-utilize in order to enhance communication and foster relationships. Technology such as:
* email
* instant messaging
* Second Life
* and, yes, the Face Book Wall
In my view, there just is no substitute for direct communication in order to get past the superficial and connect with the soul of another human. In fact, I’ve found that these high-tech communication tools can be counter-productive…I wish I had a dime for every miss-construed email I’ve sent or received. My wife used to ask me, “Larry, why don’t you do more of your work over the phone and travel less?” And, my answer to that was an unequivocal, “I just can’t!”
I just can’t because it’s not enough to read the resumes and business plans. Reports and analyses just can’t communicate qualities such as passion, such as inspiration, such as imagination, and, especially, that overwhelming hunger to succeed.
The secret to success in start-ups, or any other collaboration, is to find and team up with people who will drive and drag you to success! And there’s just no technological short cut for that.
Larry Bock –
Businesmann
University of California – Berkeley, College of Chemistry
Berkeley
May 19, 2007
Tôi đơn giản là không thể bởi không thể đủ việc đọc đơn xin việc và kế hoạch kinh doanh. Những báo cáo và phân tích đơn giản không thể truyền đạt những yếu tố như là sự đam mê, như là nguồn cảm hứng, như là trí tưởng tượng, và, đặc biệt, sự đói khát muốn thành công ngập tràn. Bí mật để thành công trong những công ty khởi nghiệp, hay bất kỳ sự hợp tác nào, là tìm và phối hợp nhóm với những người sẽ lái và kéo lê bạn tới thành công! Và không có lối đi tắt kỹ thuật nào cho việc đó cả.
Ý tưởng cũng giống như những ngôi sao, bạn sẽ không thành công nếu muốn chạm tay vào chúng, nhưng giống như một người đi biển ở trên sa mạc nước, bạn chọn chúng làm kim chỉ nam, và đi theo chúng, bạn nắm được vận mệnh của mình…
Đặng Nguyễn Đông Vy dịch
.
Ideas are like stars; you will not succeed in touching them with your hands, but like the seafaring man on the desert waters, you choose them as your guides, and following them, you reach your destiny…
Trân Sa, hiện đang ở Canada, là thi sĩ mình rất ái mộ. Chị sinh ra và lớn lên ở Nha Trang, khu xóm mới, cũng cùng khu với và nhà bà thím mà mình ở trọ năm lớp 7 tại Trung Học Võ Tánh (ngày nay là Lý Tự Trọng).
Bài thơ này, mình đã phổ nhạc nhiều năm về trước (hình như khoảng 1992, và trong thập niên 90s mình hay đàn cho Phượng hát trong các sinh hoạt văn hóa cộng đồng). Mình dịch bài này ra tiếng Anh lần đầu năm 2000. Hôm nay lấy ra, mài dũa thêm một tí trước khi post.
Bài này có lẽ Trân Sa viết trong thập niên 80s hay đầu thập niên 90s, lúc liên hệ với Việt Nam còn chưa tốt, và các giấc mơ là những chuyến về thăm nhà thường xuyên cho mỗi người (dĩ nhiên là kể cả mình).
Chia sẻ cùng các bạn.
Hoành
. Rendezvous In Dream
In dream I rush back
No one is left
In the yard of the ancient vows
The moon etches my lone shadow
Not even a goodbye
Life’s too short for waiting
Turbulent times have taken all
Leaving me with a color-turning leaf
The past returns not
Autumn weighs down on the shoulders
All around is wild grass
For what is a shoe mark left?
In dream I miss the rendezvous
Waking up—sunlight has whitened the sky
On the pillow, the teardrop has just dried
Looking out… a sole piece of cloud flows
Looking out… yes, a sole piece of cloud flows
Translated by TDH
. Hẹn chiêm bao
Chiêm bao tất tả tôi về
Thấy không còn ai ở đó
Mảnh sân xưa đã hẹn thề
Trăng tôi còn in một bóng
Không cả vài lời chia biệt
Đời quá ngắn để chờ nhau
Ly loạn dành phần tất cả
Chừa tôi chiếc lá thay màu
Dĩ vãng không còn trở lại
Mùa thu nặng xuống hai vai
Bốn bề hoang tàn cỏ dại
Làm chi còn một dấu hài
Chiêm bao tôi đành lỗi hẹn
Tĩnh ra nắng trắng khung trời
Giọt lệ vừa khô trên gối
Nhìn ra một chiếc mây trôi
Nhìn ra… ừ, chiếc mây trôi