Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn nhạc phẩm “Chiều Tà” (“Serenata ‘Rimpianto’ ”), của hai nhạc sĩ Enrico Toselli và Phạm Duy.
Nhạc sĩ Enrico Toselli (ngày 13 tháng 3 1883 Florence – 15 Tháng Một 1926 Florence) là một nghệ sĩ dương cầm và nhà soạn nhạc người Ý.
Ông sinh ở thành phố Florence, học đàn Piano với Giovanni Sgambati và học hòa âm với Giuseppe Martucci & Reginaldo Grazzini. Trong giai đoạn đầu đời ông khởi nghiệp là một nhạc sĩ dương cầm tài năng thường trình diễn ở Ý, các thủ đô Âu Châu, Bắc Mỹ và địa phận Alexandria thời đó.
José Carreras Gala 1998 – “Serenata” (Toselli) André Rieu & Josep Carreras
Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn nhạc phẩm “Trở Về Mái Nhà Xưa” (“Torna a Surriento”) của đôi anh em Ernesto De Curtis, Giovanni Battista De Curtis (Giambattista) và Nhạc sĩ Phạm Duy.
Thi sĩ Giambattista De Curtis (20 tháng 7 năm 1860 – 15 tháng 1 năm 1926) là một họa sĩ và nhà thơ người Ý, ngày nay được tưởng nhớ đến qua các phần lời đặt cho bài hát.
Ông sinh ra trong một gia đình quý tộc ở Napoli, là con đầu lòng của Giuseppe De Curtis – họa sĩ vẽ bích họa – và Elisabetta Minnon. Ông là chắt của nhà soạn nhạc Saverio Mercadante. Ông thể hiện niềm đam mê đầu tiên là hội họa mà ông học từ người cha, và tài nghệ của ông đạt đến mức mà người ta gọi ông là “Salvator Rosa đương thời”. Ông dành toàn tâm vẽ tranh, làm thơ và sáng tác các tác phẩm dành cho nhà hát cũng như đặt lời cho các ca khúc phổ thông; bên cạnh đó, ông còn là một điêu khắc gia.
Tình yêu dành cho những bài hát tiếng Napoli dẫn dắt ông đến sự cộng tác với nhà soạn nhạc Vincenzo Valente – lúc đó là người ở trọ trong dinh thự nhà De Curtis. Năm 1889, Valente soạn nhạc cho ca khúc đầu tay “A Pacchianella”, sang năm sau (1890) ông phổ nhạc tiếp bài “Muglierema come fa?”, rồi “‘I Pazziava” (1890), “Ninuccia” (1894) và “Tiempe Felice” (1895). Giambattista De Curtis chưa bao giờ ngưng đặt lời cho bài hát và làm thơ. Tuy nhiên, có vẻ vai trò của những việc ấy chưa bao giờ vượt qua mức là chỉ để giết thời gian của ông.
Torna a Surriento – The Three Tenors (Luciano Pavarotti, Spaniards Plácido Domingo, José Carreras. Paris 1998)
Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn nhạc phẩm “Dòng Sông Xanh” (Le Beau Danube Bleu) của hai nhạc sĩ Johann Strauss II và Phạm Duy.
Nhạc sĩ Johann Strauss II (25 tháng 10, 1825 – 3 tháng 6, 1899, tiếng Đức: Johann Baptist Strauß; còn được biết đến với các tên khác như: Johann Baptist Strauss, Johann Strauss, Jr., hay Johann Strauss the Younger) là một nhà soạn nhạc người Áo. Ông chủ yếu sáng tác nhạc nhẹ, đặc biệt là nhạc khiêu vũ và Operetta. Ông đã sáng tác hơn 400 Waltz, Polka, Quadrille và các loại nhạc khiêu vũ, cũng như một số Operetta và Ballet Dancing. Trong cuộc đời của mình, ông được gọi là “Vua nhạc Waltz”, và sau đó phần lớn chịu trách nhiệm phổ biến điệu Waltz tại Wien trong thế kỷ 19.
Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Âm nhạc thời kỳ Cổ Điển (Classical Era/Golden Era) và nhạc phẩm “Yêu Hoa” (“Für Elise”) của 2 Nhạc sĩ Ludwig Van Beethoven và Kiêm Thêm.
Thời kỳ Cổ Điển (Classical Era/Golden Era) trong âm nhạc phương Tây thường được chấp nhận là bắt đầu vào khoảng năm 1730 và kéo dài cho tới năm 1820. Tuy nhiên, thuật ngữ “Âm nhạc Cổ Điển” (Classical Music) được sử dụng trong một ý nghĩa thông tục để mô tả một loạt các phong cách âm nhạc phương Tây từ thế kỷ 9 đến nay, và đặc biệt là từ thế kỷ 16 hoặc thế kỷ 17 đến thế kỷ 19.
Đặc điểm chính của Âm nhạc thời kỳ Cổ Điển có kết cấu nhẹ hơn và đơn giản hơn so với Âm nhạc thời kỳ Baroque. Tính đa dạng và tương phản ngày càng trở nên rõ rệt hơn trước cùng với sự thay đổi phổ biến thường xuyên về âm sắc, giai điệu có xu hướng ngắn hơn và nhịp điệu rõ ràng hơn.
Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn nhạc phẩm Mối Tình Xa Xưa (Germania, Célèbre Valse de Brahms, Loin de ton ceur) của hai nhạc sĩ Johannes Brahms và Phạm Duy.
Nhạc sĩ Johannes Brahms (7 tháng 5 năm 1833 tại Hamburg – 3 tháng 4 năm 1897 tại Wien) là một nhà soạn nhạc, nghệ sĩ dương cầm và chỉ huy dàn nhạc người Đức. Các tác phẩm của ông được xếp vào chủ nghĩa lãng mạn (Romanticism).
Sinh ra trong một gia đình theo đạo Luther tại Hamburg, Brahms sống phần lớn cuộc đời sự nghiệp tại Wien, Áo. Danh tiếng và ảnh hưởng của Brahms lúc sinh thời đã được công nhận; theo sau bình luận của nhà chỉ huy thế kỷ XIX, Hans von Bülow, ông thường được nhóm chung với Johann Sebastian Bach và Ludwig Van Beethoven thành “Ba B”.
Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn nhạc phẩm “Sầu Chopin” (Tristesse) của hai nhạc sĩ Frédéric François Chopin và Phạm Duy.
Nhạc sĩ Frédéric François Chopin (IPA: [Fʁedeʁik Fʁɑ̃swa ʃɔpɛ̃]; 1810–1849) là một nhà soạn nhạc người Ba Lan.
Ông sinh ngày 1 tháng 3 năm 1810 tại làng Żelazowa Wola (Ba Lan) dưới tên Fryderyk Franciszek Chopin; bố là Mikołaj Chopin, một nhạc sĩ gốc Pháp, mẹ là Tekla Justyna Krzyzanowska, một người Ba Lan. Tài năng của Chopin nảy nở từ rất sớm, và được so sánh với thần đồng âm nhạc Mozart. Khi mới 7 tuổi, Chopin đã là tác giả của 2 bản polonaise cung Sol thứ và Si giáng trưởng.
HAUSER performing Etude Op. 10 No. 3 (Tristesse) by Frédéric Chopin with the London Symphony Orchestra
Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn nhạc phẩm “Khúc Hát Thanh Xuân” (“Wer Uns Getraut”, “One Day When We Were Young”) của các nhạc sĩ Johann Strauss II, Oscar Hammerstein II và Phạm Duy.
Nhạc sĩ Johann Strauss II (25 tháng 10 1825 – 3 tháng 6 1899, tiếng Đức: Johann Baptist Strauß; còn được biết đến với các tên khác như: Johann Baptist Strauss, Johann Strauss, Jr., hay Johann Strauss the Younger) là một nhà soạn nhạc người Áo. Ông chủ yếu sáng tác nhạc nhẹ, đặc biệt là nhạc khiêu vũ và Operetta. Ông đã sáng tác hơn 400 Waltz, Polka, Quadrille và các loại nhạc khiêu vũ, cũng như một số Operetta và Ballet Dancing. Trong cuộc đời của mình, ông được gọi là “Vua nhạc Waltz”, và sau đó phần lớn chịu trách nhiệm phổ biến điệu Waltz tại Wien trong thế kỷ 19. Continue reading Tân Nhạc VN – Nhạc Ngoại Quốc Lời Việt – Thời Kỳ Cổ Điển – “Khúc Hát Thanh Xuân” (“Wer Uns Getraut”) – Johann Strauss II→
Bản nhạc Người Chăn Cừu Cô Đơn này được Gheorge Zamfir, nghệ sĩ panflute lừng danh sáng tác, và James Last viết xuống thành nốt nhạc. Bản nhạc được Zamfir trình tấu thành soundtrack trong phim Kill Bill năm 2003, và trở thành một trong những bản nhạc nổi tiếng nhất của Zamfir. Cuốn phim thì máu me, nhưng bản nhạc này thì hiều dịu và có chiều sâu văn hóa rất đậm, nhất là ở Mỹ. Chính vì vậy bản nhạc được đưa vào bối cảnh văn hóa của phim. Đạo diễn Quentin Tarantino luôn mang nhạc có ảnh hưởng văn hóa sâu đậm vào các phim hành động của ông.
Sau đây ta chúng có 3 video: (1) Zamfir cùng dàn nhạc James Last, soundtrack của Kill Bill, (2) video ca sĩ lừng danh Âu châu Nana Mouskouri cùng trình diễn với Zamfir bản Lonely Sheperd, và (3) Zamfir cùng dàn nhạc André Rieu.
Tiếp theo “Nhạc Vàng”, mình giới thiệu đến các bạn “Nhạc Trẻ/Kích Động Nhạc” hôm nay.
Nhạc Trẻ/Kích Động Nhạc là một hiện tượng âm nhạc xuất hiện ở miền Nam vào đầu thập niên 1960, ảnh hưởng bởi âm nhạc đương đại của Âu Châu và Mỹ Châu.
“Nhạc kích động Âu Mỹ bắt đầu xâm nhập thị trường miền Nam vào cuối năm 1959. Giới trẻ, con của các thương gia và giới trưởng giả theo học chương trình Pháp thường nghe các loại nhạc kích động của Mỹ và Pháp. Phải đợi tới khoảng 1963-65, phong trào nghe nhạc kích động tây phương bành trướng mạnh qua các buổi tổ chức khiêu vũ tại gia. Các danh ca của Mỹ như Paul Anka, Elvis Presley, The Platters, của Anh quốc nhu Cliff Richard, The Shadows, The Beatles, The Rolling Stones, của Pháp như Johnny Halliday, Sylvie Vartan, Françoise Hardy, Christophe, Dalida, vv…. là thần tượng của giới thanh niên nam nữ dưới 18 tuổi. Continue reading Tân Nhạc Việt Nam – Nhạc Trẻ→
Mời các bạn cùng nghe ba clips của Vicky Leandros (hát tiếng Pháp và phiên bản tiếng Anh What May Come), và Thùy Dung (hát tiếng Pháp và tiếng Việt) trong phiên bản ngắn gọn này.
Đây là bài hát nổi tiếng do Nacio Herb Brown sáng tác nhạc và Gus Kahn viết lời, phát hành vào năm 1940. Bài hát đã trở thành chuẩn mực của nhạc pop và jazz, với nhiều phiên bản được thu âm.
Mình lên youtube tìm cách làm sốt cà chua đậm đặc (tomato paste), nhưng bên cạnh lại có video clip này trên trang web chính thức của chị Thanh Tuyền, ca sĩ bolero hàng đầu của miền Nam trước 1975. Tên chính thức chị trên trang web là Thanh Tuyền Bolero. Tên đầy đủ của clip này là “TỪNG BỊ CẤM NGHE VÌ QUÁ HAY – Liên Khúc Nhạc Vàng Hải Ngoại Mang Nhiều Nỗi Buồn – Nhạc Vàng Xưa.” Mình muốn giới thiệu clip này đến các bạn thế hệ sau chiến tranh chống Mỹ, vì nhạc thì ít hơn, mà vì ý nghĩa lịch sử thì nhiều hơn. Continue reading Liên Khúc Nhạc Vàng Hải Ngoại Mang Nhiều Nỗi Buồn – Nhạc Vàng Xưa→
Harry Lillis “Bing” Crosby Jr. (3-5-1903 – 14-10-1977) là ca sĩ và diễn viên người Mỹ. Ông là ngôi sao đa phương tiện đầu tiên, nên là một trong những nghệ sĩ âm nhạc nổi tiếng và có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20 trên toàn thế giới. Crosby là người dẫn đầu về doanh số bán đĩa, xếp hạng phát thanh mạng và doanh thu phim ảnh từ năm 1926 đến năm 1977. Ông là một trong những biểu tượng văn hóa toàn cầu đầu tiên. Crosby đã thực hiện hơn 70 bộ phim truyện và thu âm hơn 1.600 bài hát. (Trích Bing Crosby.)
Dưới đây là clip Bing Crosby hát ‘Let’s start the new year right’ và Fred Astaire vũ trong phim Holiday Inn (1942).
Hallelujah trong trường ca Messiah là một đoạn nhạc rất nổi tiếng.
Trong suốt gần ba thế kỷ kể từ khi trường ca Messiah này xuất hiện, vào mỗi mùa Giáng Sinh, các ban hợp xướng thánh ca thường trình diễn toàn bộ 53 đoạn của trường ca này hoặc một vài đoạn, đặc biệt là đoạn 44 – Hallelujah.
Holly và ivy – The holly and the ivy – là ca mừng Giáng sinh dân gian truyền thống của nước Anh.
Giai điệu của bài ca mừng vô danh cổ xưa này được cho là đã hơn một nghìn năm. Lời bài hát truyền thống có từ thế kỷ 17 khi bài hát trở thành bài Giáng sinh tiếng Anh nổi tiếng. Có nhiều giai điệu khác nhau cho các đoạn thơ, nhưng phổ biến nhất là giai điệu được Cecil Sharp xuất bản đầu tiên vào năm 1911, được cho là do phụ nữ ở vùng Gloucestershire (Anh) hát cho Cecil Sharp nghe. Continue reading Holly và ivy – The holly and the ivy→