Tag Archives: Nước Việt Mến Yêu

Nồng say xòe Thái Tây Bắc

Nói đến nền văn hóa của dân tộc Thái Tây Bắc là phải nói đến xòe. Xòe là các điệu múa dân gian bắt nguồn từ thực tế cuộc sống, được những người Thái – những nghệ sỹ dân gian thổi vào hơi thở của tình yêu, khát vọng vươn tới tự do, hạnh phúc, làm cho các điệu xòe lung linh, sống động và trường tồn.

Người Thái Tây Bắc sống giữa thiên nhiên hùng vỹ, cần cù sáng tạo trong công cuộc chính phục thiên nhiên, anh dũng quật cường chống lại kẻ thù hai chân và bốn chân. Mỗi khi hoàn thành một công việc trọng đại, mọi người lại nắm tay nhau quanh đống lửa nhẩy múa ăn mừng. Những điệu xòe hình thành, phát triển và hoàn thiện, mô phỏng những bước đi của cha ông khai phá đất đai, phát rẫy, trồng lúa, lấy nước, tung khăn, mời rượu… thực tế cuộc sống và những ước mơ, khát vọng được diễn tả sinh động và tinh thế.

Nói tới xòe Thái là phải nói tới các điệu xòe cổ:

Điệu “Khắm khen”: Quanh đống lửa, mọi người nắm tay nhau nhẩy múa. Đây là điệu múa mang tính sơ khai, biểu lộ sự gắn kết cộng đồng, mong ước một cuộc sống ấm no, hạnh phúc vẹn tròn.

Điệu “Khắm khăn mơi lẩu” – Nâng khăn mời rượu. Đây là điệu múa đầy chất trữ tình và ấm áp tình người, thể hiện lòng hiếu khách.

Điệu “Phá xí” – Bổ bốn, diễn tả tình đoàn kết của cộng đồng, hướng về tổ tiên, quê hương của mỗi thành viên.

Điệu “Đổi hôn” – múa tiến lùi, như muốn khẳng định dù đất trời có đổi thay, cuộc sống có như thế nào thì tình người vẫn luôn sắt son bền chặt.

Điệu “Nhuôm khăn” – tung khăn, là điệu xòe tưng bừng nhất, hay dùng khi mùa vụ bội thu, đám cưới, lên nhà mới…

Dần dần, từ các điệu xòe cổ, các nghệ nhân dân gian xây dựng được tới 32 điệu xòe mang bóng dáng các sinh hoạt thường ngày: “Xe cúp” – múa nón, xe tẳng chai” – múa chai, “Xe kếp phắc” – hái rau, “Xe cáp” – múa sạp…

Các điệu xòe nhịp nhàng sôi động trong tiếng trống, chiêng, khèn, pí, đàn tính, đôi khi có cả lời hát phụ họa cho thêm phần sinh động.

Các điệu xòe vòng sôi nổi bao nhiêu, thì các bài xòe điệu lại tinh tế duyên dáng bấy nhiêu. Triết lý âm dương, đất – trời, lửa – nước và ý nghĩa nhân sinh cao cả ẩn chứa trong các điệu xòe.

Người Thái có câu ca:

“Không xòe không tốt lúa
Không xòe thóc cạn bồ”

Qua mỗi bước xòe, người ta như được gột rửa tinh thần, gần gũi chan hòa với nhau hơn, yêu người, yêu đời để bước vào cuộc sống lao động với một niềm tin sáng trong phơi phới.

Sức hấp dẫn của xòe chính là sự sôi nổi, gần gũi mà đậm tình như hơi thở của cuộc sống. Xòe vòng luôn thu hút được tất cả mọi người, không phân biệt người già hay trẻ, lạ hay quen. Mọi người nắm tay nhau thân ái cùng bước xoay tròn quanh đống lửa theo chiều kim đồng hồ như sự phát triển của cuộc sống. Vì vậy xòe vòng luôn thu hút được cả với khách du lịch trong và ngoài nước. Xòe vòng có thể có số lượng lớn người tham gia. Đã từng có những vòng đại xòe với số lượng đông tới hàng ngàn người ở Yên Bái, Điện Biên vô cùng sôi động.

Trong chế độ thực dân, phong kiến, các điệu xòe và kiếp gái xòe chỉ là trò mua vui cho bọn quan lại thống trị. Ngọn lửa hội xòe bao lần run rẩy tưởng trừng bị tắt lụi, nhưng ngọn lửa trong trái tim những người Thái Tây Bắc vẫn nồng nàn tỏa sáng. Trong các làng bản, các nghệ nhân vẫn âm thầm truyền dạy cho các thế hệ con cháu những tinh hoa văn hóa của dân tộc mình.

Dưới ánh sáng cách mạng, ngọn lửa hội xòe hồi sinh. Lửa rực hồng mỗi đêm xòe ngày hội, lửa nhảy nhót trong những bước đi bay nhẩy, lửa rạo rực trong trái tim mỗi người dân Tây Bắc, những con người chịu thương chịu khó, cần cù anh dũng và làm chủ tương lai.

Ngày nay ở khắp miền Tây Bắc, mỗi làng bản, xã, phường đều có các đội văn nghệ, các đội xòe phục vụ cho đời sống cộng đồng, cho các đợt liên hoan văn nghệ, phục vụ du lịch. Cuộc sống mới chắp cánh cho bước xòe bay bổng.

Nếu có dịp hành hương lên Tây Bắc, có ai không trầm trồ thán phục trước những điệu xòe sôi nổi và tinh tế. Những cô gái, các mẹ, các chị hàng ngày đảm đang trong việc làm nương rẫy, quay ra dệt vải… giờ đây tươi trẻ hồn nhiên trong điệu dân vũ. Rồi khi các cô gái nâng chén rượu thơm, cất tiếng hát chân tình mà say đắm:

Đừng sợ say
Đây tay ngà
Chén đã dâng đầy
Ngọn lửa hội xòe được thắp lên, tiếng trống, tiếng khèn gọi mời tha thiết.
Vào đây anh
Tay cầm tay múa xòe cùng em…
Kìa hội vui
Vào đi anh!
Đừng để em cô đơn một mình…
Đôi tay ngà đón chờ người ơi!

Có ai cầm lòng được, để rồi trái tim thôi thúc bước vào vòng xòe huyền thoại rạng ngời ánh lửa và lòng người cứ phơi phới, rạo rực đắm say.

Trần Vân Hạc

Quê Hương trường ca – Đoạn 5

Ai đang đi kia?
Băng cánh đồng khô chân trần hối hả
Đội giành gốm to đi giữa trưa nắng hạ
Có kịp bữa cơm, đám con đói lao nhao?
Ai đang bước kia?
Quẩy lúa bó ướt nhèm đang vượt lội
Bờ vùng thì trơn mà sân hợp tác thì xa
(Đường nội đồng vỡ trong lũ đêm qua)
Ôi hai vai tuổi đôi mươi đã sớm sần chai lằn đòn gánh
Tóc em nước mưa chưa khô mà lưng em mồ hôi đã đẫm
Có kịp không, cho mơ ước lớn khôn?
Ai đang đi kia?
Gói khăn dằn lên lưng gùi qua đất Thượng
Chàm mình nghèo mà Thượng có giàu đâu
Nhưng đã đi thì phải quến nhau
Có kịp không, với vòng xoay công nơ?
Và ai đi kia?
Ciet gha harơk lên vai đổ xô đất lạ
Hành nghề thầy lang dạo cùng quê khắp chợ
Mình cầu hên còn ai phải gặp xui?
Sẽ có kịp không, cho lương tri hóa thể?
Ôi quê hương! Quê hương
Tất bật thời gian, chật hẹp không gian
Ruộng đất chia phân theo khẩu phần
Khẩu phần tăng mà ruộng đất thì teo
Trời làm nắng trưa, trời làm mưa chiều
Nắng với mưa khi thừa, khi thiếu
Nắng thì nắng tràn cho lúa ngô khô héo
Mưa thì mưa cho nát bờ thửa, bờ vùng
“Có đất nào như đất ấy không”
Sao em vẫn yêu đất quê hương suốt ngoằn ngoèo khúc ruột.
Có đất nào như đất ấy không?
Trí thức là nửa mùa: mảnh bằng cử nhân thì đã đủ
Vốn kiến thức nửa mùa may lắm mới mang nổi cái thân
Chẳng ai nhìn cao hơn, không người nhìn xa hơn
Tự chấm tọa độ đời mình trong sương mù quá khứ
Thế giới rộng lớn vô cùng, ta ngồi nhà đóng cửa
Dòng sống phong phú dường bao, ta mãi đứng bên bờ
Như con rắn nằm cuộn tròn ôm giấc mơ xưa
Tàu cuộc đời vụt qua cho ta hoài lỡ chuyến
Ôi! Lẽ nào ta mãi nhận mình làm người khiếm diện
Ngày hôm nay rồi cả ngàn đêm sau
Ta ru ngủ ta bằng hơi thở phều phào
Một luồng gió mạnh đủ làm ta thở hắt!
Ôi!
Em yêu đất vô cùng nhưng em phải xa rời Đất
Tìm hơi thơ cho Đất hồi sinh.

Inrasara

Sách cho vùng khó

Chào các bạn,

Trong khi tìm ảnh Tây Bắc, mình tình cờ đến trang “Tủ sách cộng đồng” này, thấy có ý nghĩa nên giới thiêu đến các bạn.

Chúng ta cần quan tâm đặc biết đến các anh chị em dân tộc thiểu số ở vùng cao vùng sâu, bởi vì đó là anh chị em của chúng ta, nói chung là sống trong những hoàn cảnh kinh tế xã hội thua kém người Kinh rất xa.  Trong gia đình thì anh chị em thật sự phải quan tâm về nhau, đùm bọc nhau, và đưa nhau đi lên.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

TỦ SÁCH CỘNG ĐỒNG

I. Vì sao phải xây dựng “Tủ sách cộng đồng”?

Miền núi Việt Nam chiếm 3/4 lãnh thổ trải dài trên một không gian địa lý rộng lớn từ Bắc tới Nam, có hơn 1/3 dân số sinh sống với trên 23 triệu người trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Ðây là nơi lưu giữ các thảm rừng nhiệt đới, hình thành các vùng sinh thuỷ, với hệ sinh thái động thực vật phong phú, có tác dụng duy trì cân bằng môi trường sống cho cả nước và khu vực.

Miền núi cũng là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên chủ yếu cho sự nghiệp phát triển kinh tế của cả nước. Sự đa dạng về điều kiện tự nhiên, đa sắc diện về cấu trúc kinh tế – văn hoá của các nhóm dân tộc thiểu số, tạo nên sự phong phú cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Miền núi Việt Nam không những có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong đời sống kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa mà còn góp phần vào sự tồn tại và phát triển chung của thế giới.

Cánh đồng lúc chín vàng – báo hiệu một mùa màng bội thu

Nhiều năm qua, nhất là trong những năm đổi mới, Ðảng và Nhà nước Việt Nam đã thường xuyên quan tâm đến vùng miền núi, thông qua những chủ trương và chính sách quan trọng cùng nguồn lực đầu tư đáng kể nhằm ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Miền núi đang được thay đổi, cơ sở hạ tầng, sản xuất nông lâm nghiệp đã có những chuyển biến mới, nhiều địa phương đã căn bản giải quyết được vấn đề lương thực và bước đầu sản xuất hàng hoá, rừng được bảo vệ và phục hồi, môi trường dần được cải thiện.

Người dân ngày càng được đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về dịch vụ xã hội cơ bản như y tế, giáo dục, phúc lợi khác… Ðời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được nâng lên đáng kể. Những thành tựu ấy là căn bản, tuy nhiên so với mặt bằng chung, miền núi nước ta vẫn là vùng kinh tế chậm phát triển, kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật còn lạc hậu, đời sống đồng bào các dân tộc còn nhiều khó khăn. Sự nghiệp phát triển miền núi gắn liền với các dân tộc thiểu số đang đứng trước những vấn đề mới, với những thách thức mới của sự biến đổi và phát triển của quốc gia cũng như khu vực.

Thiếu nữ Mường đang hoàn thiện

công đoạn cuối cùng của sản phẩm dệt

Trước kia, đặc biệt trong thời kỳ cách mạng dân tộc, dân chủ, mọi chính sách về miền núi và dân tộc chủ yếu phục vụ mục tiêu đảm bảo khối đại đoàn kết dân tộc. Hiện nay, khi cả nước bước vào nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, “khoảng cách” giàu và nghèo, giữa miền núi và miền xuôi ngày càng rộng ra. Nhu cầu bình đẳng trong phát triển gắn với quá trình dân chủ hoá trên các lĩnh vực đời sống xã hội của mọi vùng, và mỗi người dân ngày càng tăng.

Yêu cầu bảo vệ môi trường, bảo vệ bản sắc văn hoá và những giá trị truyền thống cũng tăng lên. Cạnh tranh các nguồn lực cho phát triển cũng trở nên gay gắt hơn. Song tăng cường Ðại đoàn kết dân tộc, thực hiện “Bình đẳng, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc, giữa các vùng miền” lại càng bức thiết hơn bao giờ hết. Vì vậy, nhận thức, quan điểm và các chính sách của chúng ta cũng phải đổi mới cho phù hợp trước yêu cầu thực tiễn phát triển và thực lực chung của cả nước.

Giá trị về chức năng bảo vệ của miền núi là không gì có thể thay thế được. Tuy nhiên, các tài sản, giá trị này rất dễ bị tổn thương nếu không có một chiến lược toàn diện và cách thức tổ chức quản lý thích hợp. Phát triển miền núi theo hướng thúc đẩy miền núi đảm bảo duy trì chức năng của nó là một chiến lược đúng đắn và bền vững.

Thiếu nữ Bana trong trang phục truyền thống

Quan niệm về nghèo đói của vùng miền núi và dân tộc trước đây nay đã đổi khác. Nghèo đói không chỉ đơn thuần xem xét trên khía cạnh kinh tế, mà còn phải bao hàm cả về khía cạnh văn hoá và xã hội như: giáo dục, bảo vệ sức khoẻ cả cộng đồng, bình đẳng về tiếp cận nguồn lực, văn hoá các dân tộc được bảo tồn và phát huy. Mặt khác, miền núi chịu sự chi phối nhiều của các nét đặc trưng và sự khác biệt với mặt bằng chung của quốc gia nên việc giải quyết vấn đề nghèo đói và thúc đẩy phát triển ở miền núi phải chú ý đến các yếu tố xã hội mới bảo đảm sự thành công và hiệu quả.

Lấy phát triển làm cơ sở để giải quyết vấn đề nghèo đói ở miền núi. Miền núi, với tính độc lập tương đối và thích nghi cao hơn, ít phụ thuộc vào biến động của bên ngoài, đầu tư phát triển không nên nặng tính bao cấp toàn bộ, mà giúp cho miền núi có điều kiện tiếp cận nhiều hơn với các nguồn lực, phải hỗ trợ, kích thích, phát huy nội lực sẵn có, đảm bảo cho phát triển bền vững.

Chúng ta cũng nhận thức được rằng tương lai và phúc lợi của nhân dân miền núi tuỳ thuộc vào khả năng sử dụng một cách khôn khéo, bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không làm suy thoái các nguồn tài nguyên và cũng không làm suy thoái môi trường. Vấn đề đặt ra cho chúng ta là làm thế nào để động viên toàn thể nhân dân ở các vùng, miền của cả nước dựa vào sức mình là chính để gìn giữ và khai thác bền vững tài nguyên thiên nhiên vùng miền núi, đó chính là bảo vệ lợi ích của mình và của đất nước.

Miền núi cần được xã hội nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về vị trí, vai trò, tiềm năng phát triển cũng như những khó khăn đang phải đối mặt. Phát triển miền núi phải tập trung quyết tâm xoá hộ đói, giảm hộ nghèo, phấn đấu làm giảm khoảng cách giàu, nghèo và phát triển giữa miền núi với đồng bằng, giữa nông thôn với thành thị.

Thiếu nữ Thái đang trang trí cho chiếc khăn Piêu của mình

Ổn định và phát triển bền vững miền núi không chỉ là mục tiêu của Việt Nam mà cả các quốc gia trên toàn thế giới. “Phấn đấu vì sự phát triển bền vững của miền núi Việt Nam”, đó là bức thông điệp “miền núi” muốn gửi tới toàn thể chúng ta.

Mạng Tủ sách cộng đồng là một Website phi lợi nhuận với mục đích mong muốn góp một phần công sức và nhiệt huyết của sức trẻ Việt nam trong thời đại mới vào công cuộc “nâng cao dân trí” cho đồng bào, thông qua việc kêu gọi đồng bào cả nước, mỗi một người dân, mỗi một tổ chức, mỗi một doanh nghiệp hãy cùng nhau chung tay góp sức để đem những cuốn sách về với “vùng khó” của cả quốc gia. Ban Biên tập Website vì vậy cũng sẽ là một cộng đồng mở với sự tham gia tình nguyện của tất cả những ai quan tâm đến văn hoá miền núi trong cả nước.


II. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN “Tusachcongdong.com.vn”


1. Tên gọi của dự án

– Tên đầy đủ của dự án: “Tủ sách cộng đồng – sách cho vùng khó”

2. Mô tả chung về dự án

“Tủ sách cộng đồng” là một website vì dân trí cho vùng khó, đặc biệt nông thôn miền núi do nhóm sinh viên trẻ năng động từ các trường ĐH sáng lập .Đứng đầu là Sinh viên Đặng Thị Hơn, sinh viên trường ĐH Văn hóa Hà Nội khởi xướng với mong muốn “nâng cao dân trí” cho đồng bào thông qua việc kêu gọi đồng bào cả nước, một người dân, mỗi một tổ chức, mỗi một doanh nghiệp hãy cùng nhau chung tay góp sức để đem những cuốn sách dầy ý nghĩa về với “vùng khó” trên khắp đất nước

3. Hoài bão của dự án (Vision)

Trước dự án này đã có dự án “One book” do Sachhay.com khởi xướng và PACE điều hành đã triển khai rộng rãi trên khắp Việt nam từ năm 2004 và đạt được những thành công nhất định. Ở đây chúng tôi chỉ tập trung vào nhóm đối tượng là người dân ở nông thôn miền núi. Hoài bão của chúng tôi mong muốn được các nhà đầu tư quan tâm đến dự án này để chúng tôi có thể xây dựng “Tủ sách cộng đồng” trên các bản làng vùng cao trên khắp đất nước Việt Nam với khát vọng “thu hẹp khoảng cách giữa miền ngược và miền xuôi và mang sách đến với các em nhỏ, cũng như giúp người dân biết đến các ứng dụng của KHKT để áp dụng vào sản xuất”

4. Sứ mệnh của dự án

Chúng tôi mong muốn có thể là trung gian để đưa những cuốn sách đến với người dân nơi đây và làm cho bộ mặt xã hội dần thay da đổi thịt.

5. Mục tiêu của dự án

Mục tiêu hướng tới là có thể xây dựng tủ sách cộng đồng tại tất cả các bản làng vùng cao. Đến tận ngõ nhỏ của bản bản làng để các em đều có sách đọc.

Mạng Tủ sách cộng đồng là một Website phi lợi nhuận với mục đích mong muốn góp một phần công sức và nhiệt huyết của sức trẻ Việt nam trong thời đại mới vào công cuộc “nâng cao dân trí” cho đồng bào, thông qua việc kêu gọi đồng bào cả nước, mỗi một người dân, mỗi một tổ chức, mỗi một doanh nghiệp hãy cùng nhau chung tay góp sức để đem những cuốn sách về với “vùng khó” của cả quốc gia.

Mạng Tủ sách cộng đồng rất mong nhận được sự ủng hộ và tham gia nhiệt tình của các anh chị và các bạn trên mọi miền tổ quốc.
Mọi hồi âm xin liên lạc theo địa chỉ e-mail: tusachcongdong@gmail.com

Xin trân trọng cảm ơn

Hương sắc rừng xuân Tây Bắc

Núi ngàn Tây Bắc mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng, đầy bí ẩn và đam mê, quyến rũ. Song mùa xuân có một vẻ đẹp không mùa nào có được. Trên nền xanh non mướt mát căng đầy nhựa sống, là những sắc mầu tinh khôi, hài hòa đến tuyệt đỉnh của các loại hoa rừng, mà mỗi sắc mầu, mỗi hương thơm như thấm đẫm, tan hòa trong thiên nhiên, trong mỗi bản mường, trên muôn sắc mầu thổ cẩm tay búp măng rừng thêu dệt, trên sắc má đào thơm thơm thiếu nữ và trong ánh mắt cười lung linh của người già, trẻ nhỏ, đơn sơ mộc mạc thế thôi nhưng say đắm lạ kỳ.

Tây Bắc núi non trùng điệp. Khi nàng xuân khoác tấm áo choàng như sương như khói nương ánh bình minh lướt trên đỉnh núi, lòng thung, bàn tay dịu hiền, ấm áp như bàn tay thân thương của bà, của mẹ, của em chạm vào vạn vật. Đất bỗng chuyển mình trong cồn cào sinh nở, những rừng cây thu mình lại tránh cái giá rét của mùa đông giá như thoáng ngỡ ngàng rồi bừng tỉnh e ấp những chồi xanh, những dòng suối đang nhẹ nhàng róc rách thì thầm bản tình ca mùa đông, bỗng reo vui ngời muôn ánh bạc, trên những cành cây xù xì thô ráp chợt hé muôn nụ xuân, ngơ ngác trước sự hoàn sinh diệu kỳ của vạn vật, rồi đua nhau bừng nở những bông hoa đầy hương sắc chào xuân mới.

Xuân Tây Bắc ngàn thứ hoa rừng, những hoa lê, hoa mận, hoa đào, hoa ban, hoa chuối, hoa dó, các loại lan rừng… những loài hoa có tên và không tên. Khắp núi ngàn như được dát bằng một tấm thảm nhung gấm ngồn ngộn sắc mầu, ngây ngất hương thơm, hôi hổi một sức sống diệu kỳ bất tận. Mỗi làn gió xuân nhẹ thổi, muôn sắc mầu lại hân hoan, nao nức trong những đợt sóng xanh reo vui đuổi nhau xa tít tắp. Những bông hoa dập dờn, thấp thoáng như muôn ngọn lửa ấm áp. Nếu hoa lê, hoa mận, hoa ban, hoa dó… trắng đến nao lòng, thì hoa đào phớt hồng lại như gợi bao nỗi niềm về một mùa hò hẹn. Mùa hoa mận đến sớm nhưng thật là độc đáo, vừa mới chiều qua đấy thôi, những nụ hoa còn e ấp, chúm chím nét cười duyên trên cao nguyên Mộc Châu (Sơn La), Bắc Hà (Lào Cai)… cho lòng người cứ thấp thỏm đợi chờ, vậy mà sáng xuân nay đã mênh mông một mầu trắng đến nghiêng cả đất trời.

Cái khoảng khắc diệu kỳ đến nao lòng ấy để lại trong ta một ấn tượng khó phai. Chỉ một bước chân mà cái khoảng cách của hai mùa Đông – Xuân bỗng trở thành gần gũi. Còn sắc hồng phơn phớt của hoa đào Tây Bắc lại như một thông điệp của mùa xuân. Đào Tây Bắc không rực rỡ kiêu sa, nhưng lại đi vào chiều sâu của không gian và thời gian và tình người đằm lắng. Những cánh hoa đơn hồng nhạt, dung dị, mà không kém phần thanh cao ấy chuyên chở cả mối tình bất tử. Người xưa đã dùng dòng máu từ trái tim yêu nhuộm thắm những bông hoa trên tấm thổ cẩm dệt bằng khát vọng một tình yêu trắng trong chung thủy mãi hồng trên khắp non ngàn và trái tim của người Tây Bắc.

Người Mông Tây Bắc còn gọi hoa này là “Tớ Dảy”, người Mông có câu:“Làm mùa xem hoa tớ dảy /Xây lứa đôi xem bàn tay”. Hội chơi núi đầu xuân – “Sài sán”, từng đôi trai gái Mông ô hồng nghiêng chao, đôi mắt huyền tình tứ, sắc hoa đào hồng trên má thắm, tiếng khèn, đàn môi, kèn lá thổn thức cả rừng xuân. Du khách chỉ một lần được chiêm ngưỡng hoa đào Tây Bắc chắc sẽ không khỏi trầm trồ thán phục vẻ đẹp dung dị nhưng thánh thiện ấy, để rồi ký ức cứ ùa về rộn rã trong nhịp vó ngựa của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ gửi nhành đào báo tiệp tới Ngọc Hân công chúa và cứ tự hỏi: Có phải tự ngàn xưa hồn thiêng dân tộc đã hòa trong sắc hoa đào, nên những cánh hoa đào rơi như những giọt nước mắt hồng, khi quân giặc treo và bắn người anh hùng nhỏ tuổi Vừ A Dính vì không chịu chỉ nơi ở của du kích, cùng những hạt mầm của cây đào Tô Hiệu xanh biếc trên đá xám nhà giam đã bừng nở những mùa xuân bất diệt cho dân tộc?

Nếu hoa đào được coi là hoàng hậu của mùa xuân, thì hoa ban lại được coi là hoa của tình yêu, của lòng hiếu thảo. Người Thái Tây Bắc có bao nhiêu câu chuyện tình về hoa ban, câu chuyện nào cũng thấm đẫm một khát vọng về tự do hôn nhân và tình yêu đôi lứa. “Hoa ban nở thành người con gái Thái” – (Dân ca Thái), mỗi bông hoa năm cánh trắng ngần tỏa hương thơm dịu như búp tay em, trên nền lá xanh trung trinh hình tim hai nửa. Có phải vậy không mà từ bàn tay em gọi lúa lên xanh, gọi ngô mẩy hạt, bông ngời sắc trắng, hóa thân trong muôn sắc mầu thổ cẩm, đến những dòng suối già nua trầm tư kia mỗi khi tay em hồn nhiên khỏa nước, bỗng thổn thức một trái tim yêu trẻ trung cháy bỏng một ước mơ hạnh phúc vẹn tròn.

Trong Hội hái hoa ban, những đôi người yêu nhau gửi gắm bao ước nguyện trong mỗi nhành hoa trao nhau: “Hoa ban nở, hoa ban tàn/ Tình ta đẹp như hoa ban/ Còn dài lâu thì như hoa nào /Hỡi người ta yêu…”. “Đôi ta yêu nhau không tính mùa ban nở/ Không thấy ngày ban tàn/ Mãi mãi như mùa ban bắt đầu, ngày ta yêu nhau”, “Trăm năm ngắm ban nở vẫn còn ngắm mãi. Mỗi mùa ban lại thêm trẻ, không già” (tình ca Thái). Cũng vì vậy người Mông Tây Bắc gọi hoa ban là: ‘Pà lầu”, pà là hoa, lầu là già, xuân về, ngắm hoa ban người già thấy lòng trẻ lại. Giữa mênh mông rạo rực chồi non lộc biếc của đại ngàn ngút ngát, từng chùm hoa ban trắng bồng bềnh như áng mây trên đầu núi, bâng khuâng trong không trung rồi ùa xuống các lòng thung và ngời trên tận những đỉnh núi chọc trời, sáng bừng từng nếp nhà, bản nhỏ. Hoa ban từ lâu gắn bó với đất và người Tây Bắc và được xem là biểu tượng của Tây Bắc.

Tây Bắc còn bao nhiêu loại hoa rừng: Hoa dó mang một hương sắc riêng như một cung bậc tinh tế trong bản hòa tấu sắc mầu, dịu dàng trong câu si, câu lượn: “Hoa dó giục đàn ông vào rừng lấy củi/ Giục đàn bà vào rừng lấy lá dong/ Giục mọi nhà khẩn trương cày, bừa, cấy lúa/ Khắp nơi nhộn nhịp tưng bừng”. “Bên suối, bên nương hoa dó thả từng chùm/ Như những bàn tay trắng xinh vẫy gọi/ Hoa khoác vai nhau soi mình bên suối/ Hương ngọt ngào dưới trăng/ Có chiều xuân gió khẽ đu cành/ Cả rừng dó lao xao ca hát”. Chính vì vậy, tết đến xuân về, trên mâm cúng tổ tiên của người Tày không thể thiếu đĩa hoa dó. Rồi một bông hoa chuối đỏ rực trong đại ngàn xanh, mỗi con gió dập dờn, bông hoa lửa lập lòe, bập bùng như trái tim đỏ thắm, hoa gạo thắp lửa đỏ trời, hoa dã quỳ vàng rực ven đường, hoa cải trắng làm duyên bên triền nương và còn bao loại lan rừng kiêu sa, tiên cách… tất cả như được một bàn tay tuyệt vời vẽ vờn trên lụa, thực mà sao cứ như mơ.

Mùa xuân trên mọi nẻo đường Tây Bắc, du khách được thỏa thích ngắm những bông hoa rừng đủ loại, gợi nhớ, gợi thương. Hương hoa thấm đẫm trong từng ngọn gió, thơm trong tiếng khèn thanh thoát vút cao, ngọt ngào trong tiếng hát ai thiết tha, nồng cháy trong tiếng đàn môi thầm thì gọi bạn, ngây ngất đam mê trong làn tóc ai náo nức hội xòe. Những đàn bướm hàng ngàn con dập dờn trong vũ điệu giao duyên, những chú ong say hương mùa mật ngọt, những tiếng chim gọi bạn cặp đôi xanh trong vòm lá…

Hương sắc rừng xuân Tây Bắc ấy chân thật, tự nhiên, đồng hành và tự lúc nào đã ăn sâu vào tiềm thức người dân Tây Bắc, trở thành một phần không thể thiếu, mỗi độ xuân về lại náo nức hồi hộp đợi chờ như lời hẹn hò với một mối tình thuở hoa niên. Còn với những người con xa xứ, tình yêu, nỗi nhớ với hương sắc rừng xuân Tây Bắc thật khó mà đặt tên, cứ dư ba, đau đáu day dứt khôn cùng trong ký ức và khát khao một cuộc hành hương về cội.

Xuân 2010
Trần Vân Hạc

Lễ rước dâu độc nhất vô nhị bằng 20 chú voi

Mời các bạn đọc một bài viết về một đám cưới với lễ rước dâu vô cùng độc đáo được tác giả Hoàng Thiên Nga tường thuật, với những hình ảnh minh họa đẹp của Kỹ sư Nguyễn Quyền.

Về kỹ sư Nguyễn Quyền, những người dân Balme không mấy ai chưa nghe đến tên ông như Ông chủ nhà máy điện tư nhân đầu tiên ở Việt Nam, được giới thiệu trên báo Tiền Phong (2006).Đài THVN đã làm 2 chương trình Phóng sự Nhân Vật & Người Đương Thời về ông, Đài PTTH DakLak cũng có mấy chương trình phỏng vấn ông.

Hiện tuổi gần 70, ông vẫn làm việc không ngưng nghỉ, giải trí bằng niềm đam mê nhiếp ảnh, với bốn cậu con trai thành đạt, giỏi giang.

Các bạn sẽ biết thêm về người kỹ sư là chuyên gia hàng đầu VN về thủy điện vừa và nhỏ một ngày gần đây trong Mục Chứng Nhân của ĐCN.

Huỳnh Huệ
.

Lễ rước dâu độc nhất vô nhị bằng 20 chú voi

Chủ nhật 24-1-2010, tức mồng mười tháng chạp âm lịch Kỷ Sửu, tại huyện Lăk, tỉnh Đăk Lăk đã diễn ra một lễ cưới với nghi thức đưa dâu rất đặc biệt.

Gái huyện Lăk trai Bảo Lộc rất đẹp đôi trên lưng voi

Cô dâu Đặng Thị Họa Mi – kiều nữ huyện Lăk, nay là nhân viên Ngân hàng Đầu tư và phát triển Đà Lạt , chú rể Lê Mạnh Thắng – tài nam Bảo Lộc đang là cảnh sát giao thông tỉnh Lâm Đồng.

Cả hai đều là con đầu lòng, giỏi giang tài sắc, niềm tự hào của hai họ nên đã được cha mẹ đôi bên quyết định tổ chức một lễ cưới độc đáo, vui vẻ không đâu sánh bằng.

Đội voi đẹp nhất của tỉnh Đăk Lăk rước dâu

Bố của cô dâu in tên trên thiệp cưới là Đặng Vân Long, còn tên cúng cơm ít người biết là Đàng Năng Long, tổng quản 7 con voi trẻ khỏe, đàn voi gia đình hùng hậu nhất Việt Nam hiện giờ.

Ông nội cô dâu là Đàng Nhảy, chồng thứ hai của bà Sao Thong Chăn – người phụ nữ duy nhất làm nghề buôn voi (Phóng sự “Mỹ nhân buôn voi”), từng giúp Chính phủ Cách mạng mua voi tặng các nước có quan hệ ngoại giao. Gia phả phía cô dâu có hơn 5 đời làm nghề thuần dưỡng, nuôi dạy và mua bán voi.

Đoàn rước dâu diễu hành qua thị trấn Liên Sơn.

Chín giờ sáng, sau lễ gia tiên long trọng tổ chức tại nhà gái ở 27 N’Trang Lơng, thị trấn Liên Sơn, đoàn rước dâu khởi hành. Một đài voi chắc chắn được dựng sẵn trước sân, 20 con voi khỏe đẹp nhất của huyện Lăk xếp thẳng hàng, lễ phép cúi đầu chờ đợi.

Quan viên hai họ lần lượt thượng đài rồi từng đôi bước sang bành voi gắn trên chiếu lụa đỏ rực lộng lẫy.

Đoàn đưa dâu diễu hành hơn một cây số qua thị trấn, thẳng tiến tới khu du lịch buôn Jun ven hồ Lăk. Tại đó, phông rạp đã dựng sẵn, mâm bàn đã bày dưới gầm nhà sàn, âm thanh cồng chiêng tưng bừng rộn rã.

Trai tài gái sắc trong lễ cưới

Trong hơn 600 quan khách được mời dự tiệc, có Gru (thợ săn voi giỏi) Ay Ngơn xã Ea Rbin, huyện Lăk, Gru Ama Bích ở Buôn Đôn là rể trưởng thay mặt gia đình Vua Voi Ama Kông.

Còn ông Lê Văn Quyết người dân tộc M’Nông nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh về hưu ở huyện Lăk, hiện cũng là chủ sở hữu 2 con voi thì vui vẻ thay mặt nhà gái tiếp quan viên hai họ.

Ông cho biết đồng bào M’Nông từ xa xưa đã có tục đưa voi đi rước dâu, tuy nhiên chưa bao giờ có đám cưới nào huy động tới 20 voi đông đúc như thế này!

Cồng chiêng không thể thiếu trong tiệc cưới

Tiệc cưới diễn ra thân mật, đầm ấm, gọn ghẽ, mang ấn tượng đẹp về văn hóa độc đáo của cả xứ Voi Đăk Lăk lẫn xứ Hoa Lâm Đồng. Tan tiệc, hai họ lại lên lưng voi tiễn dâu đến hết thị trấn. Tại đó, đoàn ô tô phía đàng trai đã chờ sẵn để đón dâu qua vùng đất bạt ngàn trà Bảo Lộc.

Phía sau những du khách thích thú cưỡi voi dạo chơi bên hồ Lăk trong nắng gió cao nguyên hào phóng, thấm đẫm phong vị yên vui thời đất nước thanh bình.

Hoàng Thiên Nga

Ảnh chụp ở Hồ Lăk chia sẻ với Vườn Chuối

HTN và con gái Thiên Thảo, 13 tuổi
Bên cạnh cây Kơ-nia - Nghệ sĩ nhiếp ảnh Nguyễn Quyền và Thiên Hải, lớp 1, con trai của HTN
Thiên Hải và mẹ

Tìm về núi cũ xem mai nở

Cam Ranh quê tôi là đất mai, là một phần của rừng mai Phước Hải (Khánh Hoà) xưa, kéo dài từ Nha Trang đến Cà Ná, nay đã bị thu hẹp khá nhiều. Tháng Chạp, mai biển nở bạt ngàn cả một vùng cát trắng Thủy Triều. Làm sao không rung động khi đứng trước phong cảnh hoang sơ, một bên là biển, một bên là cát trắng, và trên những cồn nhỏ ở giữa, là mai vàng nở rực.

Lần đầu tiên ăn Tết ở Sài Gòn, tôi rất lạ khi thấy người ta cắm mai mà không cần đốt gốc, chỉ hai ba cành mai rừng nhỏ, cắm vào một cái bình sứ rất đẹp, đã được lau bóng lưỡng từ mấy hôm trước…Chưa bao giờ tôi nghĩ mai có thể được cắm một cách dễ dàng và đơn giản như những loài hoa khác. Ở quê tôi, những cành mai chặt về phải được đốt gốc trên lửa nóng, để giữ lại nguồn nhựa sống cho mai, nuôi những đoá hoa còn ươm nụ. Nếu không đốt kỹ, có khi, cả hoa lẫn nụ đều gục đầu héo rũ ngay vào ngày mồng Một.

Đến nhà ông chú, thấy hai ba người đang lui cui khiêng một chậu mai kiểng lớn vào nhà. Đây là cây mai chưng từ mấy năm nay, do một người bạn tặng, giá vài triệu đồng, hết Tết thì gửi cho mấy vườn mai, 28 Tết năm sau người ta lại đem tới. Mất có trăm ngàn mà khoẻ re. Tết vẫn cứ có mai chưng, hoa lá đầy đủ, ra hoa đúng độ, lại chẳng cần bận tâm gì đến chuyện chăm sóc. Và lặt lá mai trở thành một khái niệm hết sức xa vời. Tiện thật đấy, nhưng sao tôi vẫn thấy thiêu thiếu một chút tình…

Những đứa trẻ như tôi ngày xưa háo hức theo cha đi chặt mai, vượt đầm Thủy Triều ra đến cồn từ sang sớm để chọn cho được cây mai “có thế” nhất, hoa đều nhất. Khi trở về thì mặt trời đứng bóng, bọn trẻ giành vác cành mai lùm xùm những cành, bước từng bước khó khăn theo chân cha đi trên vùng cát mênh mông. Dưới cái nắng ấm vàng rực rỡ của miền Trung những ngày giáp Tết, những hạt cát trắng loá, lấp lánh một màu trắng tinh khôi sạch sẽ. Những cơn gió thổi nhẹ qua lại xoá tan hết dấu chân người, trả lại vẻ hoang sơ và thanh tịnh rất hợp với mai. Nhớ đến run người những khoảnh khắc đó, khi mỏi chân dừng lại, hít một hơi sâu làn không khí đầy ắp gió biển, trong trẻo và thanh sạch vô cùng, ngoái nhìn trước sau chỉ thấy một màu cát trắng, chợt nhớ Hàn Dũ xưa kia lúc “đạp tuyết tầm mai”, chắc cũng chỉ hạnh phúc và đầy rung cảm như ta ngày nay “đạp cát tầm mai” là cùng!

Ấy vậy mà cái hạnh phúc khi gặp mai của người “tầm mai” cũng chưa so được cái hạnh phúc gặp mai bất chợt. Không biết bây giờ còn bao nhiêu người của lớp Báo chí A-K97 nhớ ngày “dụ dỗ” được thầy chủ nhiệm đi chơi tận thác Mai (Đồng Nai). Cả nhóm cứ đi mãi, vượt qua sông La Ngà, con đường xuyên rừng chập choạng buổi chiều tối ngoằn nghèo dẫn vào thác. Đêm đó, tuổi 20 ngẫu hứng và bốc đồng nên vừa lội suối vừa ngắm trăng, rồi nằm dài trên đá mà hát cho nhau nghe đến sáng. Để mai dậy mắt ai nấy đỏ kè, loạng choạng lái xe trở về mà đầu óc dường như còn chưa tỉnh. Chợt tất cả đột ngột dừng xe sững sờ khi bắt gặp bên rừng mấy bụi mai nở sớm, màu vàng mơ nhẹ nhàng, và mong manh quá trong làn sương sớm còn ướp đầy mùi nhựa cây và hương thảo mộc. Trong suốt những năm tháng ở đại học, tôi chưa bao giờ cảm thấy yêu bạn bè mình đến thế, trong giây phút cùng lặng thinh không nói nên lời cạnh những bụi mai bên rừng. Khi trong trái tim mỗi người dường như có một niềm vui sướng và xúc động như nhau.

Hình như mai đẹp nhất không phải khi được đặt trong bình sang chậu đẹp. Ở Cam Ranh, xã được xếp loại “vùng sâu vùng xa” nhất có lẽ là Cam Hiệp, nơi học trò muốn đi học phải lội bộ cả chục cây số. Nhóm bạn rủ nhau đi thăm cô giáo cũ ở vùng này, loanh quanh cả ngày chợt nhận ra ở đây nhà nào cũng có vài ba cây mai núi trước sân, bình thản nở ngay cạnh những vách nhà xù xì rơm khô trộn đất. Buổi chiều trên đường về bỗng gặp cảnh thần tiên. Một ngôi nhà gỗ giản dị, Một khung cửa sổ mở ra vườn. Một cô gái nhỏ tóc buông dài chống cằm nhìn ra sân. Tất cả, là cái nền cho một cây mai vàng, có thể gọi là cổ thụ, gốc to, rễ lồi, thân xù xì những nhánh lớn như cây ổi, lác đác những lá xanh to, cao gần bốn mét, đang nở hoa rực rỡ ở độ mãn khai nhất ngay bên ngoài cửa sổ. Không hiểu sao, sắc vàng của mai trong buổi chiều tà lại buồn đến vậy, hay tại đôi mắt trong đen rất đẹp của cô gái ấy thoáng nét u sầu. Hai chàng trai trong nhóm không dời chân được, đánh bạo bước vào nhà xin… uống nước. Cô gái ngượng ngùng trốn ra nhà sau, chỉ có ông chủ nhà niềm nở mời trà khách lạ. Kể rằng khi cha ông đến dựng nhà trên mảnh đất này thì cây mai đã ở đó, mùa xanh lá không ai để ý đấy là mai. Đến mùa đông, nó tự rụng lá rồi trổ hoa vào mùa xuân. Không ai lặt lá, cây lớn quá hơi đâu mà lặt. Nên mai tự nhiên nở, có năm sớm, năm muộn. Một tay lái ở Nha Trang tình cờ thấy, mê mẩn, dụ dỗ ông già cho bứng luôn gốc đem về thành phố bán, bộn tiền lắm. Nhưng ông chắc nịch :“Mấy anh coi, không có cây mai đó nhà tui còn gì. Nó chính là cái tinh thần của gia đình này từ mấy chục năm nay!”…

Những năm sau có bận mấy, nhóm bạn cũng trở lại căn nhà ấy vào ngày mồng Năm. Cô gái đã lấy chồng, chỉ còn người cha và cậu em trai. Trở lại, như chàng Thôi Hộ, chỉ để ngồi uống trà nơi cái bàn gỗ thấp đơn sơ, hỏi thăm như bâng quơ về cô gái và say sưa ngắm khung cảnh thần tiên như tranh vẽ bên ngoài cửa sổ, nơi những đoá hoàng mai nở rực khắp vòm bên những chiếc chồi xanh.

Tết này ở Sài Gòn, thêm một cái Tết xa quê, lại thèm quá một ngày được “Tìm về núi cũ xem mai nở. Mộng bén ngàn xa hạc điểm canh” (thơ Quách Tấn)

Đông Vy

Tết Kinh

Thuở nhỏ, được nắm váy mẹ đi ăn Tết nhà ông Tỵ người Kinh ở dưới Từ Tâm, sướng không gì bằng. Vậy mà năm đó mẹ không cho đi. Không biết sao nữa. Năm ngoái mẹ còn dẫn đi mà. Đi, vừa được bữa no nê, vừa có tiền lì xì với lại được quà bánh xách về.

Từ năm 1961, cha hết làm ruộng ở Hiếu Thiện – Palau quê ngoại, mà về Caklaing làm ăn. Ông Tỵ dân Từ Tâm, có mấy đám ruộng Gađak cho cha làm rẽ. Ruộng gò khó theo nước, chỉ mỗi đất tốt nên sau vụ lúa người ta có thể gieo đậu. Cha làm hai vụ. Ngoài vụ chính, cha tranh thủ vài đám ruộng cạnh bờ sông làm chiêm. Lúa bareng (lúa chiêm, dường như xuất phát điểm từ Champa) hạt màu nâu vàng, nhỏ và khá thơm, chỉ cần ba tháng là thu hoạch được. Giống này năng suất rất thấp, có thể nói thấp nhất trong các loại giống. Lại gieo trái vụ, nên cần canh me chim chóc. Nhưng được cái là nó giúp cứu đói ngắn ngày. Sau khi gặt chiêm, cha gieo giống ba trăng, để kịp với vài đám gieo lúa mùa khác.

Ông Tỵ là giáo viên làng, say xỉn suốt. Mỗi lần ông có việc (hay nổi hứng) ghé qua nhà là mỗi lần dáng ông lảo đảo. Vậy mà ông cứ đòi. Mẹ phải chạy ra quán Bà Hai đong xị rượu gạo cho ông ăn cơm với cha. Cha hiền từ, ít nói. Cũng không rượu chè. Thế là có mỗi ông lai rai. Và nói. Đúng là một cực hình.

– Thế nào tết này anh chị cũng phải xuống tui. Ông Phó uống với tui chén rượu chi. Ông kéo dài chữ “chi” cuối câu rất ư là Từ Tâm.

Tôi chỉ mong có thế. Nhớ là dường như cha chưa lần đi Tết ông. Có mỗi mẹ. Kèm theo tôi với anh Đạm. Nhưng lần này mẹ đổi ý. Không hiểu sao. Chỉ nhớ là mẹ không cho đi. Rất dứt khoát. Tôi khóc, chạy theo ôm tảng đá to trước cổng nằm giữa đường nhà bà Cò, lăn lộn. Thằng này chăng dai, không dễ bảo như anh nó – mẹ hay bảo thế. Chắc không có áo mới. Mà không áo mới làm sao mà đi ăn Tết. Mấy đứa bạn được mẹ dắt đi kìa, tôi thì không. Tại sao không mua áo mới trước đó? Có lẽ tôi đã làm dữ lắm, nên cuối cùng, mẹ cũng chiều. Không dép cũng được, miễn là có áo mới. Mẹ mượn của ai đó.

*

Ở thị xã Phan Rang, người ta biết đến Tết khi dưới bãi sông Dinh ở cầu Đạo Long cắm đầy mấy trăm cây mai rừng do lính cộng hòa chặt trên núi chất lên chiếc GMC chạy thẳng vào phố. Chiến tranh mất an ninh, nên họ độc quyền. Gọi là bù lỗ, cũng hay.

Với sắp nhỏ chúng tôi, khi có đợt rét của gió bấc tới, đồng lúa vãn mùa, lũ trâu được thả bừa trên mênh mông cánh đồng đầy rạ. Là Tết đến.

– Ông bà người đằng quê thế mà thiêng, mẹ nói khi gió cứ vần làm cho bà khó giê hết đống lúa. Khiến trời đứng gió cho con cháu họ dựng nêu ấy mà.
– Năm sau mẹ sẽ lặp lại chính câu đó cho mà xem, tôi bảo anh Đạm.

Đó là mùa mai vạn thọ vàng rực núi đồi. Cả rừng mai vạn thọ. Kéo dài từ cánh rừng làng Văn Lâm sang tận khu rừng Vĩnh Hảo. Lên trên nữa là mai núi. Cũng bạt ngàn. Kể rằng, bên cạnh suối thiên nhiên, khi xưa chính Chế Mân cho trồng thả hai loại mai này để cùng công chúa Huyền Trân du xuân. Nhưng ông vua hào hoa này đã chẳng hưởng thụ được hơn một mùa mai, rồi đi biệt. Mang theo luôn bí ẩn cuộc tình đẹp nhưng đầy éo le vào đêm mờ lịch sử.

Ông đi, nhưng rừng mai ở lại. Ở lại cho đến cuối những năm tám mươi của thế kỉ thứ XX, khi kế hoạch triệt phá rừng đã hoàn tất, thì cây mai cuối cùng cũng làm cuộc chia li không hẹn ngày về.

Còn thuở học Pô-Klong, Tết – tôi ít khi về quê, mà tình nguyện ở lại Kí túc xá. Chúng tôi ăn Tết kiểu khác. Tuổi học sinh, quậy thì khỏi nói rồi. Hết giờ trực, hai ông anh lớp trên rủ tôi vào phố cà phê, không quên bảo tôi mang theo cái túi xách. Mãi mười giờ mới về. Anh Tr. kêu nhỏ: Trạm đứng đây chờ anh nhé. Anh chạy biến đi, mang về nải chuối, hộp bánh qui, miếng cốm,… Rồi cứ tiếp tục thế. Dọc đường bao nhiêu là đồ cúng! Anh lại bảo tôi chờ. Tôi hỏi anh:

– Không sợ ư?
– Ma ăn rồi mà, không sao đâu. Anh trấn an tôi.
– Nhưng đồ ma…!
– Chăm vẫn ăn đồ padơng đám ma đấy thôi. Nhưng ma Kinh không sao đâu, họ xơi nhanh lắm. Thế là đến lượt mình…

Về đến Kí túc xá thì túi xách tôi mang đã đầy cứng.

*

Bên cạnh Ramưwan (tức Ramadan) của người Chăm Bàni hay Hồi giáo cũ, Katê là Tết chung của cộng đồng Chăm, là dĩ nhiên rồi. Đầu tháng Bảy Chăm lịch, Chăm lên tháp cúng tế trời đất, ông bà tổ tiên. Rồi kéo nhau về làng ăn Tết. Nhưng từ lâu lắm rồi, người Chăm vẫn cứ xem Tết, cả Ramưwan, Nguyên đán,… tất tần tật đều là Tết của mình. Lạ, tôn giáo Chăm, Bàlamôn giáo, một tôn giáo rất cổ, tưởng khép kín, không ngờ lại rất mở. Văn hoá dân tộc Chăm cũng thế. Hãy tưởng tượng dân tộc cư trú dọc miền duyên hải Trung bộ nhìn mở ra biển Đông, suốt mười mấy thế kỉ.

Nói sang chuyện thờ cúng. Trước tiên ngay thế kỉ thứ II, Chăm xem Ppo Inư Nưgar – Bà Thiên Y Ana là người tạo lập xứ sở. Vị trí thờ phượng luôn được đặt ở hàng đầu. Sau đó, thế kỉ XIV, khi Hồi giáo nhập địa Champa, vị trí này được nhường lại cho Allah. Chăm coi Ngài là đấng sáng tạo vũ trụ, trong khi Ppo Nưgar chỉ được xem như người tạo lập xứ sở. Ai nhất thì tôi thứ nhì!

Trong các cuộc lễ, tôn giáo Bàlamôn Chăm mở ngõ cúng bái cả các vị thánh trong Kura-ưn (Koran). Rồi khi có xung đột ý hệ tôn giáo Hồi – Bàlamôn trong lịch sử, Chăm hóa giải và hòa giải bằng sáng tạo ra một giáo phái mới: Mưdwơn, phục vụ cho cả hai phía: Chăm Bàlamôn và cả Chăm Bàni. Vui vẻ.

Trong lễ lớn là Ramưwan (tháng Chín chay tịnh), hình ảnh mở đẹp nhất của tôn giáo-tín ngưỡng Chăm có lẽ là từng đoàn cô gái Chăm Bàlamôn đội ciet bánh trái cúng dường nhà Chùa Hồi giáo (sang mưgik). Thành kính và trang trọng. Các dịp lễ gia tộc khác cũng thế, Chăm Bàlamôn luôn mời các vị thầy Acar về tận nhà hành lễ. Lạ!
Lạ mà đẹp.
Với người Kinh – xen cư hay cộng cư trong khu vực có cộng đồng Chăm sinh sống – cũng vậy. Tết Nguyên đán gần như được người Chăm coi như Tết của mình, dù lâu nay người dân quê Chăm chưa xem nó là Tết chung cả dân tộc Việt Nam. Đây chỉ là hành xử rất ư tự phát, một tự phát có nguồn gốc từ ý thức (hay vô thức cộng đồng) rất mở của văn hóa Chăm suốt quá trình lịch sử, tồn tại mãi đến hôm nay. Người Chăm đội giạ nếp, cặp gà qua ăn Tết Kinh cùng hay khác làng có quan hệ quen biết hoặc làm ăn buôn bán. Ăn Tết đã đời rồi còn có quà bánh mang về nữa. Nhất là sắp trẻ, cũng háo hức đón Tết. Mừng dựng nêu, đốt pháo – xưa; hoặc đạp xe xuống phố, qua khu vui chơi giải trí – nay. Tết như có thêm ngày hội. Còn với người lớn, mùa Tết nhằm ngày vụ vừa xong nên người ta cũng không tiếc nhau lời chúc, quà tặng.

Chúng tôi nói đùa nhau Chăm hân hạnh đón đến bốn cái Tết mỗi năm là vậy.

*

Thế hệ trẻ con chúng tôi hưởng sái tinh thần mở ấy.

Lạ là tôi chưa lần nào thấy cha đi Tết. Cha ít được vui như mẹ, dù cha rất vô tư, mẹ hay la cha thế. Cha luôn ngủ ngon để hôm sau ra đồng sớm. Cha không văn nghệ, mẹ thì ưa nói chữ. Mẹ khoe mẹ học sáng. Khi có chuyện mắng chị Hai, mẹ thích đem vụ học sáng ấy ra dạy. Dân quê Chăm thuở đó ai biết chữ quốc ngữ đâu. Mãi đến thời Ngô Đình Diệm, ngoài vụ cấm Chăm mặc váy với vài thứ phong tục tập quán dân tộc, ông còn lệnh buộc tất cả công dân tối phải xách đèn theo lớp bình dân học vụ. Mẹ nói mẹ học
sáng nhất lớp.

Sau này khi có gia đình, quen biết và kết thân với nhiều bạn bè Kinh đủ lứa tuổi, tôi nhiều dịp Tết Kinh. Ông Thả ở Hải Sơn bạn vong niên tôi thuở nhà tôi làm rau muống xuống xóm biển nhờ ông sắm thuyền thúng. Mười năm và mãi lúc này, tình cảm hai bên vẫn khắng khít. Rồi ông Mười – Long Bình, bạn và là sư phụ câu của tôi. Ông với đứa con trai mỗi sáng sớm vác cần câu lội khắp mấy vùng sông nước mà mấy bạn tôi đùa không khác gì thầy trò Don Quichotte! Đi Tết mấy nhà này thì khỏi nói: ngon, no và vui vẻ.

Đấy là nói Tết nhà quê. Tết thành phố thì khác.

Ba mươi năm sau, tôi đèo Hani trên chiếc xe đạp cà tàng hơn mươi cây số qua ăn Tết nhà ông bạn tại Bình Chánh. Vẫn mâm cỗ đầy, hấp dẫn nhưng, chủ nhà chỉ dọn lên mà không mời khách. Lạ quá. Năm trước đó, tại nhà bạn văn ở Bình Thạnh “ăn Tết” cũng hệt vậy. Anh chỉ đãi vài chung rượu (rượu Tây, dĩ nhiên) với ít bánh mứt. Cả lời chúc tụng nữa. Ngoài ra: không gì cả! Bụng đói meo. Lẽ nào mình nhắc vở. Bà xã liếc mình mấy lượt, cười nhăn nhó.

Hay Tết ở thành phố nó thế? Hèn gì, Tết là mọi người đổ xô về quê.

Cứ nhớ cái Tết nhà quê. Có dựng nêu, có ngồi canh xoong bánh tét,… Và nhất là, có rất nhiều màu áo mới.

Inrasara (Trong Những mảnh đời chắp vá)

Có một giấc mơ Voi

TP – Một sáng mùa xuân, chàng Gru Buôn Đôn có mặt ở Trung tâm bảo tồn Voi bên bờ Sêrêpôk để thuần dưỡng lũ voi con thông minh khỏe mạnh. Cạnh đó, đàn voi già được chăm sóc chu đáo trong bệnh viện.

Giữa đại ngàn Yok Đôn, các cô cậu voi trưởng thành thong thả dạo chơi, yêu đương, sinh nở… Đó là giấc mơ có khả năng trở thành hiện thực của dự án bảo tồn voi sắp trình lên chính phủ.


Đếm từng dấu chân voi...

Từ hơn bốn năm trước, tháng 5 – 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 733, phê duyệt kế hoạch “Hành động khẩn trương đến năm 2010 để bảo tồn voi ở Việt Nam”, giao nhiệm vụ cho ba tỉnh Nghệ An, Đồng Nai, Đăk Lăk triển khai xây dựng dự án bằng nguồn ngân sách.

Được gọi là “Khu dự trữ sinh quyển thế giới”, nhưng dù rất cố gắng tìm kiếm, cho tới cuối năm 2008, dự án bảo tồn voi (BTV) do Vườn Quốc gia Phù Mát xây dựng cũng chỉ đếm được 15 con voi hoang qua ảnh chụp trong vùng rừng phía Tây Nghệ An.
Sau đó, phát hiện thêm hình như có 2 voi rừng con mới chào đời. Đầu năm 2009, lãnh đạo tỉnh Nghệ An đã thông qua và đồng ý với 5 phương án hành động BTV của dự án. Riêng tỉnh Đăk Lăk đã 2 lần triển khai lập dự án BTV.

Lần thứ nhất, đề án bảo tồn và phát triển đàn voi nhà do GS.TS Lê Huy Bá cùng nhóm cộng sự thuộc Trung tâm Sinh thái- Môi trường và Tài nguyên được Sở Thương mại – Du lịch tỉnh đặt hàng nghiên cứu trong thời hạn 1 năm, đã được lãnh đạo tỉnh nghiệm thu tháng 10-2007.
Đề án này còn nằm trên giấy thì Chi cục Kiểm lâm tỉnh lại được cấp trên giao nhiệm vụ lập dự án bảo tồn cả voi nhà lẫn voi rừng. Trên cơ sở đề án có sẵn, dự án lần hai được nhóm nghiên cứu của PGS.TS Bảo Huy trường Đại học Tây Nguyên đào sâu, mở rộng, mở hội thảo tham vấn cộng đồng vào giữa tháng 12-2009.

Bằng phương pháp điều tra theo tuyến, điểm habitat (nơi có sinh cảnh đặc biệt voi thường lui tới), đo đếm phân tích vết chân và phân voi để xác định số voi theo tuổi và giới dựa vào kinh nghiệm của đồng bào bản địa, lập sơ yếu lý lịch từng con… Nhóm nghiên cứu đã xác định trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk còn khoảng 83 đến 110 con voi hoang dã, và 61 voi nhà.

Ở tỉnh Đồng Nai, nhiệm vụ “hành động khẩn trương” còn trầy trật hơn. Suốt mùa khô 2009, trong lúc các sở ngành còn tranh cãi gay gắt xem khoản kinh phí 108 triệu đồng dành cho quy trình khảo sát thực hiện dự án BTV có thể lấy từ đâu, đã có tới 6 con voi rừng bị chết không rõ nguyên nhân và thủ phạm.
Kéo qua đầu năm 2010, cán bộ Chi cục vẫn còn miệt mài viết dự thảo, dự kiến sang tháng hai quá trình gọt giũa, bảo vệ dự án mới hoàn tất để trình lãnh đạo tỉnh.
Ông Lê Việt Dũng, Chi cục phó chuyên trách mảng Bảo tồn của CCKL tỉnh Đồng Nai cho biết, tại thời điểm này, trong hơn 100 nghìn ha rừng ở Đồng Nai lẩn khuất chừng 11 đến 14 con voi. Chi cục trưởng Nguyễn Văn Thịnh than xót: Tiếc quá, nếu chương trình BTV được triển khai sớm hơn, số voi hoang dã của Đồng Nai không tới nỗi giảm mạnh thế này.

Trông voi người, xót voi ta

Trong 8 nước có nghề săn bắt, thuần dưỡng voi rừng từ lâu đời ở khu vực châu Á là Ấn Độ, Sri Lanca, Bangladesh, Thái Lan, Myanma, Nepan, Việt Nam, hai quốc gia có công nghệ tiên tiến về chăm sóc nuôi dưỡng voi là Thái Lan và Sri Lanca.

Từ năm 1969, Thái Lan đã thành lập Trung tâm thuần dưỡng voi châu Á đầu tiên trên thế giới. Gần 10 năm qua, Viện Voi Quốc gia đặt ở tỉnh Lampang dưới sự bảo trợ thuận lợi của Hoàng gia Thái Lan, hoạt động mạnh với các dự án :
Bệnh viện voi, Đội cứu hộ voi, Đội khám chữa bệnh lưu động cho voi trên khắp đất nước, Đào tạo quản tượng, Dạy voi vẽ tranh và làm xiếc, Sản xuất biogar và giấy từ phân voi v.v…

Đặc biệt, Trung tâm nghiên cứu của Viện liên kết với khoa thú y trường đại học Chiang Mai và Kasetsart đã nghiên cứu thành công quy trình thụ tinh nhân tạo cho voi, mở ra hướng phát triển mới cho voi châu Á. Trên diện tích 122 ha của Viện Voi, hiện nay 83 con voi ngày ngày được nuôi dưỡng dạy dỗ cẩn thận để bảo tồn giống nòi và… trở thành nghệ sĩ!

Trại voi Pinnawela của quốc đảo Sri Lanca được xây dựng năm 1975, với nhiệm vụ ban đầu là chăm sóc 5 bé voi con hoang dã lạc bầy. Nay trại đã phát triển thành một Trung tâm sinh sản bảo tồn voi, với 86 con voi đa số trẻ khỏe, thu hút đông đảo du khách trong ngoài nước đến ngắm voi, xem voi con được cho bú dặm bằng sữa bình tới 5 lần mỗi ngày, hoặc cưỡi voi đi dạo thong dong dưới bóng mát vườn dừa.
Voi ốm được chăm sóc kỹ lưỡng bằng các phương tiện y tế chuyên dùng cho voi như máy chụp X-quang, siêu âm chẩn đoán, theo dõi thân nhiệt, chích vac xin, tẩy giun, cho uống kháng sinh, bôi thuốc sát trùng, nhỏ mắt…

Tại Malaysia, từ năm 1974 tới nay Ban Quản lý voi thuộc Sở Động vật hoang dã đã chuyên tổ chức các cuộc di chuyển voi từ nơi dễ xung đột với người đến các vùng rừng quốc gia rộng lớn phía đông. Nhờ vậy, khoảng 500 con voi được di cư thành công. Tại Ấn Độ, chính phủ cho thực hiện Dự án voi từ năm 1992 với 25 trung tâm BTV Ấn được thành lập.

Vương quốc Nepal ngoài việc xây dựng nhiều khu bảo vệ và nuôi voi, còn đầu tư huấn luyện voi nhà vào mục đích giám sát bảo tồn voi hoang dã. Các Trung tâm BTV của Indonesia vài năm gần đây đã bắt đầu lúng túng với việc trở nên quá chật chội, không còn đủ chỗ chứa voi…

Tiến sĩ Cao Thị Lý, giảng viên trường Đại học Tây Nguyên, trong dịp tập huấn 1 tuần về Sức khỏe và sinh sản voi châu Á tổ chức tại Sri Lanca đã thu thập được nhiều thông tin, kiến thức và các mối quan hệ quý giá cho dự án BTV Đăk Lăk.
Chị cho biết, bên cạnh cơ chế chính sách điều hành thông thoáng hiệu quả, Thái Lan và Sri Lanca còn chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ thú y chuyên về cứu hộ động vật hoang dã, làm việc với tinh thần đầy tâm huyết và trách nhiệm.
Bộ môn thú y ở ta trước chỉ giảng dạy về gia súc gia cầm, gần đây mới bổ sung 30 tiết kiểu cưỡi ngựa xem… voi về mảng kiến thức này cho sinh viên .
Nhớ chuyện bé voi Khăm Bun với cái chân thương tật suýt bị cưa, tới bây giờ vẫn tù đày trong xích xiềng trường kỳ giữa thủ đô mà tội nghiệp. Nhưng dẫu sao Khăm Bun còn may mắn chán so với nhiều đồng loại khác đã được, hay bị thuần dưỡng ở xứ mình, đang ngày càng mòn mỏi suy kiệt do thiếu dinh dưỡng, bị khai thác quá mức cho trình diễn, du lịch và lễ hội; bị cưa ngà và nhổ lông đuôi đầy đau đớn, thậm chí xúc phạm tận thâm sâu bản chất kiêu hãnh của những Ông Tượng chúa tể rừng già.

Bởi Khăm Bun nổi tiếng hơn cả với lý lịch trích ngang đặc biệt, là một trong vài chú voi con xinh xắn đáng yêu cuối cùng bị săn trái phép giữa Vườn Quốc gia, đánh động dư luận tới mức văn phòng Thủ tướng phải ký lệnh giao về cho Liên đoàn Xiếc trông nom…
100 tỉ đồng cho tương lai voi Việt
Dự án BTV Nghệ An dự trù kinh phí hơn 11 tỉ đồng trong 5 năm 2009 – 2013 cho các giải pháp bảo tồn giám sát, truyên truyền quảng bá, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phục hồi sinh cảnh voi rừng, chống xung đột giữa người và voi.

Dự án BTV Đồng Nai dự kiến cần có 30 tỉ đồng trong 10 năm triển khai, ngoài những chương trình hành động tương tự Nghệ An còn chú trọng xây dựng các đội phản ứng nhanh, lập hàng rào điện tử ở vùng dân cư hay bị voi phá.
Riêng phương án mua khoảng bốn voi nhà từ Buôn Đôn về đồng bằng để xua đuổi voi rừng còn đang tiếp tục cân nhắc, trên cơ sở tiếp thu những ý kiến chắt lọc từ cuộc hội thảo BTV do Bộ Nông nghiệp & PTNT tổ chức ngày 26 – 11 – 2009 tại Vườn quốc gia Cát Tiên.
Giấc mơ voi hoàn hảo hơn trong dự án BTV Đăk Lăk, với khoản kinh phí dự trù hơn 58 tỉ đồng, dự kiến triển khai từ năm 2010 – 2014 nếu được lãnh đạo tỉnh và Chính phủ thông qua, bắt đầu từ việc xây 2 trạm BTV ở nơi voi thường xung đột với người ở 2 huyện Ea Súp và Lăk; đồng thời nhanh chóng gửi cán bộ đi đào tạo, học tập kinh nghiệm ở Thái Lan, Ấn Độ, Sri Lanca .

Một Trung tâm BTV Đăk Lăk được phác thảo trên diện tích 200 ha thuộc phân khu hành chính dịch vụ của Vườn Quốc gia Yok Đôn, giáp sông Sêrêpôk.
Trong đó, 100 ha rừng khộp được dành cho việc chăn thả và tạo môi trường tự nhiên kín đáo để voi tự do giao phối, phần diện tích còn lại sẽ xây dựng một bệnh viện voi, nhà cung cấp thức ăn và chăm sóc voi, ươm trồng bảo vệ khoảng bảy chục loại cây voi thích ăn để thực đơn voi thêm phần phong phú và tạo cảnh quan.

Tỉ lệ sinh sản quá thấp trong số voi nhà hiện có trong suốt ba thập kỷ trở lại đây, bình quân chỉ 0,6%/năm, ngoài lý do voi bị tận dụng phục vụ du lịch quanh năm, còn có phần do cơ chế phân chia lợi ích giữa các chủ voi chưa hợp lý.
Tập quán của đồng bào M’Nông: Voi con sinh ra thuộc về chủ voi cái, thế nhưng nếu voi cái bị thương trong quá trình giao phối thì chủ voi đực phải chịu phạt, cúng đền cả con trâu. Muốn khỏi rước vạ vào thân, chủ voi đực chỉ việc… cấm chúng nó gần nhau, thế là xong! Nghề săn voi bị cấm, voi nhà không đẻ, lại còn chết dần và bị bán ra ngoài tỉnh.

Ông Voong Nhi, Phó Bí thư huyện Ea Súp, đồng thời cũng là một trong những chủ voi sắp hết voi, từng đề đạt lên nhiều cấp nguyện vọng tha thiết của giới Gru (thợ săn voi giỏi):

Xin Chính phủ mở cơ chế cho đồng bào mỗi năm được mở vài cuộc săn voi với chỉ tiêu nhất định, để nghề săn bắt thuần dưỡng voi rừng không bị thất truyền, và để bản sắc văn hóa vùng miền, để biểu tượng voi Đăk Lăk còn sống mãi…
Ngay trong cuộc Hội thảo tham vấn cộng đồng do Chi cục kiểm lâm tỉnh tổ chức nhằm góp ý cho dự án BTV, Gru Ama Bích cũng đọc một “lá sớ” nắn nót viết sẵn : Nhân dân Bản Đôn chúng tôi đề nghị Nhà nước mỗi năm cho phép bắt 3 con voi rừng, giao cho nhà nước 1 con dân lấy 2 con để làm nhiệm vụ bảo tồn đàn voi nhà cho tỉnh…

PGS-TS Bảo Huy phân tích: Số voi rừng con hiện quá ít, chỉ khoảng 7-10 con trong tự nhiên, chưa phải là lúc có thể cho phép săn bắt. Tỉnh nên xem xét chuyển trả lại một số diện tích rừng đang kinh doanh khai thác thành rừng bảo tồn, tạo điều kiện cho đàn voi rừng phát triển ổn định.
Khi Trung tâm BTV ra đời, các chủ voi và nài voi cần được hưởng chính sách chi trả hợp lý để có thu nhập xứng đáng từ việc đưa voi về theo định kỳ để chăm sóc và thúc đẩy quá trình sinh sản tự nhiên.

Trả lời câu hỏi của báo Tiền Phong về giấc mơ voi Việt Nam liệu tới bao giờ mới trở thành hiện thực? ông Hà Công Tuấn, Cục trưởng Cục Kiểm lâm trầm ngâm:
Thẩm quyền duyệt dự án thuộc về UBND các tỉnh, sau đó mới đến phần trung ương quyết mức hỗ trợ thông qua ngân sách của từng địa phương. Tiến độ triển khai các dự án BTV hiện đã quá chậm, Cục rất nóng ruột đôn đốc nhưng tinh thần hành động khẩn trương theo lệnh Thủ tướng hơn 4 năm rồi vẫn chưa thấy!

Phải! Cứ lần chần mãi thế này, liệu tới lúc trăm tỉ rót về, chắc gì còn nổi trăm voi để nuôi lớn giấc mơ…
Từ năm 2004, nhóm chuyên gia voi châu Á thuộc tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế IUCN/SSC đã công bố bảng thống kê số voi rừng và voi nhà ở 13 nước trong khu vực.
Theo đó, voi hoang dã dao động từ 38 nghìn đến 52 nghìn con, tập trung nhiều nhất ở Ấn Độ, ít nhất ở Việt Nam. Voi nhà ước có khoảng từ 14,5 nghìn đến 15,3 nghìn con. Nhiều nhất ở Myanma , Việt Nam kế chót với 165 cá thể, chỉ hơn Bangladesh còn tròn 100.

Dẫu số liệu thống kê voi mang tính tương đối, nhưng rõ ràng sự cảnh báo tồn vong đã gióng lên dưới tán rừng nhiệt đới của nước ta.

Hoàng Thiên Nga

Lễ hội Tăm nghét

( Của người Mnông Đăk Nông)

Khi lúa đã ngủ yên trong kho , bắp treo lủng liểng đầy sà nhà, năm cũ với những buồn vui cũ đã bay đi cùng những cơn gió từ rừng đại ngàn tràn về. Mùa xuân mới sà xuống đậu trên búp non của những cành cây, người Pu Noong lại tổ chức lễ Tăm Nghét. Không phải là lễ ăn cơm mới như của tộc người Êđê, tổ chức sau khi gặt những gùi lúa đầu tiên , mà thu hoạch xong mùa màng, người ta làm thịt một con gà, buộc một ghè rượu nhỏ để xin Yang đóng cửa kho lúa. Rồi mới làm lễ tăm nghét để xin chính thức mở cửa kho xử dụng, hoặc sum họp gia đình vào đầu năm mới.

Hàng năm, lễ này chỉ này chỉ cúng rượu và heo. Chỉ khi thu được hơn 100 gùi lúa, sẽ phải ăn trâu. Sau khi thày cúng đã chọn ngày chính thức, gia đình cho người đi báo tin và mời họ hàng ở buôn xa ,buôn gần về dự lễ. Trai gái các bon cũng nhân lúc này mà có lời hẹn hò.

Gia chủ phải lo chuẩn bị cho lễ tăm nghét này từ hàng tháng trước đó, nhất là việc ủ những ghè rượu thật ngon, sau khi suốt được những gùi lúa đầu tiên.

Ngày đầu, những người đàn ông đi chặt cây Blang để làm cột mới buộc trâu. Cũng trong ngày này , đàn ông khéo tay trong gia đình phải dùng gỗ Blang thay những chiếc khung D’rang day vẽ hoa văn màu đen, nẹp chung quanh dàn kho lúa trên bếp lửa và chiếc giá để bầu cơm trong nhà, làm lại cho đẹp, cho mới để cúng vị thần coi sóc kho lúa, và còn đón khách quý các bon đến nhà nữa chứ .Đám phụ nữ trong nhà tíu tít chuẩn bị lương thực, thực phẩm, ai cũng có việc của mình.Chỉ riêng lũ con nít chộn rộn, hết chạy tới lại chạy lui vô ra ngắm nhìn. Xem cho kỹ nghe,những lễ hội sau là của các con đấy.

Dựng cột buộc trâu Gơng rga và cột nêu Gơng la là công việc quan trọng nhất trong ngày thứ hai.Việc này chỉ chọn người khéo tay.Từ khi mây mù còn vây bủa khắp thung lũng, tiếng chày giã gạo của lũ con gái đã len lỏi khắp trong bon lan. Thậm thịch thậm thịch tiếng chày nện xuống lòng cối.Lốc cốc, lộc cộc tiếng va nhau của chày đôi, chày ba.Cứ từng nhóm hai ba cô gái trẻ, váy na put n’rưng dệt đẹp dài ngang bắp chân thon, chuyện trò ríu rít, mắt sáng ngời, má hồng rạng rỡ, vồng ngực căng lên như những quả đồi đang thở vì luôn tay nhanh nhẹn nâng chày lên, giã xuống.

Người đàn bà chủ nhà – U ruanh – chỉ huy đám phụ nữ lớn tuổi lo phần nấu nướng.Những món gì ngon nhất của riêng gia đình mình hôm nay phải làm cho thêm ngon hơn nhé. đám đàn ông phân công nhau ai làm thịt heo, đi dắt trâu về, ai dựng cột . cây cột bằng gỗ Blang cao quá đầu người , có tượng Kon Nuih – một người đàn ông và một người đàn bà – ngồi hai bên, tay chống lên đùi, để chào tiễn biệt con trâu.Phía trước dựng một khung tre ngăn cách với chỗ người ngồi, lại thêm một cây cọc để ghì trâu cho chắc.Sát bên cạnh là cột nêu- Gơng la, trên đỉnh có chim kring giang cánh như sắp bay lên, sáu chùm lá cọ Lha sra xé tua rua trang trí như hoa dọc thân cột gơng, với bốn sợi dây prei jum – chỉ khi được mùa mới có- kết dài những hạt cườm , tượng trưng cho bày ong, và những mảnh gỗ vẽ hoa văn các màu.Khác với trong nhà dùng màu đen, tất cả ở đây chỉ dùng màu đỏ.Một chiếc dàn N’rơng rla buộc chắc ở lưng chừng cột, để người ngồi thổi kèn Rlet khi cúng và ngồi canh trâu.Tiếng chiêng đã nối lên từ lúc bắt đầu chôn cột.dựng xong, đội chiêng đi ba vòng quanh nhà như một hình thức thông báo cho các thần xung quanh, để chuẩn bị đón trâu về buộc. Váy, khố, áo đẹp cất kỹ trong gùi, nay thơm mùi nắng xuân mới phơi, đung đưa theo những bắp chân,cánh tay nâu bóng.Vồng ngực trần đàn bà mẩy hồng, đôi vai và bắp chân trai tráng rắn đanh trong ánh ban mai và trong hàng trăm ánh mắt long lanh ngưỡng mộ của cả bon lan.

Trâu đã dắt về, cột chắc bằng những sợi dây mây và da trâu bện xuắn vào nhau. Bà chủ nhà sẽ cất tiếng ca bài “ khóc trâu” , an ủi và sẻ chia :

“ Ơ Pô, ơ Pô!/ Lâu nay sống trong nhà/ Ta với mày thương nhau/ Hôm nay dâng trâu cúng lúa/ Cầu mọi điều an lành/ Mở cửa kho/ Cho chủ nhà no/ Ơ Pô ! ơ Pô”

Thày cúng bắt đầu phần nghi lễ của mình. ông hút rượu từ trong ché, hoà với huyết heo, lẩm bẩm khấn khứa, rồi bôi rượu huyết lên dàn kho lúa, cột nhà, cột buộc trâu, trong tiếng Rlét dìu dặt.Rlét này sau lễ cúng, sẽ mang cất lên gác bếp chiếc bầu, còn ống nứa Tưng kar phải chôn ngay xuống chỗ chân cột nêu ấy. Sang năm nếu Yang cho 100 gùi lúa nữa , được anư trâu, sẽ lại làm Rlét khác với chiếc bầu đó.Còn đây là rượu, này là huyết cúng dân lên các vị thần linh đó nhé.Cha, mẹ, vợ chồng, con gái đầu lòng cùng đứng vị tay vào cột Gơn rla, đọc lời khấn theo thày cúng. Này là cả gia đình chúng tôi cùng đồng lòng cầu khấn các Yang đây :

“ Ơ Yang , lúa đã ngủ kín trong kho! Hãy cho chúng tôi năm sau lúa bắp nhiều hơn năm trước, được thuận hoà năm mưa tháng gió,cây cối sinh sôi nảy chồi ,đâm lộc. Con người không bệnh tật ốm đau.Mở kho này cho cả năm no đủ, chúng tôi xum họp ở đây cầu xin các Yang. Ơ Yang ! ”

Mặt trời đã lên cao quá đỉnh núi Jôk Nghi Pran, cái nắng như mật ong trải vàng trên đồng cỏ hoe hoe, lốm đốm sáng dưới bóng lá cây cà phê xanh rậm rịt trong vườn, nhà, thắp sáng bừng những gương mặt hớn hở của cả Bon lan.Gần 100 mùa rẫy rồi, cả bon không nhà nào đủ lúa để được “ ăn trâu” mà. Dù đã có nhiều nhà trồng cà phê, làm ruộng nước , học người Kinh gieo giống lúa có năng suất cao theo kỹ thuật mới. Nhưng cái thơm , cái ngon của hương lúa bay xa ba Bon, bốn làng để cúng tế các vị thần linh, thì chỉ trong giống lúa cũ của ông bà ta để lại mới đậm đà thôi.

Tiếng chưng của các Bon lan xa gần đến dự hội đang vang lên thì thụp xa xôi đâu đó trong nắng. Bà chủ hối hả dục dàn chưng mau đi đón khách.Theo lệ của người Pu Noong, chủ nhà phải ra tận đầu bon , mang theo đĩa đựng trầu cau , thanh nứa dài cắm sẵn những miếng trầu đã têm sẵn, nhiều ống nứa khác cột dây đỏ đựng rượu cần, trong tiếng chưng rộn ràng đón khách. Trầu được mời trên môi, rượu được đổ vào tận miệng trong tiếng chưng bung boong, rồi cùng vừa tấu chưng , vừa đưa nhau vào Bon, vào nhà.Lại những hồi chiêng dài, những ống rượu nghiêng vào vai nhau mà uống cho đến cạn, miếng trầu cay ấm nồng như tấm lòng Bon lan thơm thảo, để rồi đến phần các dàn chưng đua tài. Này là bài Pep kon jun, hay bài Dôk khleng đảo nhịp vui đến khiến cả người chơi lẫn người nghe đều ngả nghiêng, nhún nhảy.Nào là bài T’rơ chưng pu pét chững chạc, tự tin trong địa vị chủ lễ. Hay bài “ Tiếng chim hót trong rừng” tiết tấu chầm chậm vừa phải mà thanh thoát và khắc khoải ?

Ngày thứ ba, ngày chính thức của lễ hội. Mọi lễ thức khẩn cầu lại được lặp lại, trước khi hiến tế. Người được chọn để đâm trâu phải thật sự thành thạo với nghi thức này. Bởi sau khi đã chặt hai khuỷu chân sau , mà lại đâm không trúng tim, trâu không chịu chết ngay, lồng lộn lên là bị xui xẻo đấy.Thịt trâu này sẽ chia đều cho mọi người đến cùng tham gia lễ hội,mỗi người một rẻo nhỏ. Vâng, rất nhỏ thôi , những là sự sẻ chia vui buồn, là sợi dây kết nối tình nghĩa cộng đồng , tồn tại mãi hàng bao đời nay trong các lễ hội Tây Nguyên.Phần xương và bộ lòng, bà chủ làm canh đãi đằng chủ khách. Bộ da sẽ được lóc sạch dùng làm mặt trống hay dây buộc rất chắc chắn.

Ngày thứ tư của lễ, gia chủ mang chiếc đầu trâu vẫn đặt trên dàn cúng xuống, nấu bữa ăn chia tay khách gần, khách xa. Tiêng chưng lại vang lên bài đưa tiễn. Hẹn gặp lại trong những lễ Tăm Nghét của bon nào thu 100 gùi lúa nhé.

Linh Nga Niê Kdăm

Đà Lạt Trong Tôi Và Những Điều Đã Mất

1.

Có lần tôi và mấy người bạn đã tìm về quán cafe Tùng. Chúng tôi ngồi vào bộ bàn ghế nhỏ xíu dưới chân cầu thang cuối căn phòng. Nơi có cái rào chắn nho nhỏ, làm bằng gỗ thông sơn trắng, ngăn lối lên tầng hai của ngôi nhà. Nơi ngày xưa Trịnh Công Sơn và Khánh Ly, trong thời gian ở Đà Lạt, vẫn ngồi uống cafe với nhau sau mỗi đêm đi hát về.

Chúng tôi đã ngồi vào bộ bàn ghế đó trong tâm trạng thật hoài nhớ. Lẽ ra trong không gian đó, ánh sáng đó, những hoài niệm đó, chúng tôi phải nói với nhau về những điều thật đẹp. Về những bài hát đã từng ám ảnh chúng tôi, về một thứ âm nhạc gần gũi mà chúng tôi vẫn nghe, như thể vẫn hít thở mỗi ngày. Lẽ ra chúng tôi phải nói về họ, về Khánh Ly, về Trịnh Công Sơn, về Từ Công Phụng, về Lê Uyên Phương… Lẽ ra chúng tôi phải nói về những điều kỳ diệu họ đã đem đến cho chúng tôi trong cuộc sống.

Quán cafe Tùng những năm đầu của thế kỷ này, giữa một khu phố có quá nhiều thay đổi, vẫn như xưa. Vẫn hai hàng ghế tựa bọc da chạy dài theo vách, những chiếc ghế nhỏ xinh rải rác, bức tranh treo tường, khung cửa kính nhìn ra phố.. Tất cả ấm cúng sang trọng theo một kiểu rất riêng. Ấm cúng và buồn bã khiến con người ngồi trong quán bỗng muốn gần nhau, thấy cần thiết phải có nhau. Vậy mà chúng tôi đã sai lầm, chúng tôi đã cãi vã vì một chuyện chẳng ra sao. Cãi nhau, khích bác nhau, giận dỗi nhau, làm tổn thương nhau chỉ vì vô tâm, ích kỷ chỉ vì không muốn chấp nhận nhau, dù chỉ là chấp nhận về cách nhìn những hoa rêu trên mái cũ nhà Đà Lạt.

Lẽ ra đã có một buổi tối khác, nhưng có cách gì để làm lại ? Có lẽ chẳng bao giờ chúng tôi lại có dịp cùng đi chung. Cùng xuýt xoa vì hơi sương lạnh buốt, cùng leo lên một chiếc xe ngựa, rồi cùng không nói gì, chỉ ngồi im nghe tiếng vó ngựa gõ vào đêm lốc cốc. Tiếng vó ngựa như đệm vào tiếng kể chuyện của người đánh xe. Bằng một giọng khàn mệt, ông kể về những con đường ông và con ngựa đã đi, kể về những ngôi nhà ma, những oan khuất trong cuộc đời của nhiều con người. Câu chuyện của ông huyền hoặc đến nỗi đêm Đà Lạt bỗng thâm u thêm, như thể tất cả sương mù đều tụ họp về đây, trong đêm nay, theo một tiếng gọi bí ẩn nào đó.

Chúng tôi đã mất một buổi tối Đà Lạt đẹp vô cùng chỉ vì hẹp hòi, dại dột, và vô tâm.

2.

Nhưng đó là mất mát của riêng chúng tôi, chúng tôi đã phải trả giá cho sai lầm của mình bằng những dằn vặt, nuối tiếc.

Còn Đà Lạt ?

Có quá nhiều thứ đã mất đi ở đây. Mất đi không chỉ do hẹp hòi, dại dột, và vô tâm. Mất đi do thời cuộc, thời gian, mất đi do những quyết định vội vàng, tư lợi, thiếu hiểu biết của một số người.

Mất đi trong xót xa, đắng chát nhưng hình như không một ai tự thấy mình có lỗi để ân hận, giày vò.

Những mất đi đó đã làm nên bao hệ luỵ đau đớn, nuối tiếc, buồn bã trong rất nhiều người. Những người đã gắn bó với Đà Lạt bằng một tình yêu máu thịt. Những người đã sống, và gửi gắm vào Đà Lạt cả một cuộc đời với bao kỷ niệm, mà thiếu nó người ta không làm sao thoát được cảm giác bị bứt khỏi mặt đất, bị quăng quật trong bão giông với những bất ổn kéo dài không ngưng nghỉ.

Tôi nhớ Đà Lạt những năm 80 của thế kỷ trước, vắng vẻ, nhiều sương mù, nhiều thông và hoa dại. Những đêm cuối năm nằm ở ký túc xá khoa Văn trên đồi thông khu Đa Thiện, chúng tôi nghe tiếng xe ngựa. Không phải những xe ngựa dành cho du khách bây giờ, mà là những chuyến xe rau củ đi về trong sương lạnh.

Con dốc rất cao từ quán cháo lòng La Si Mi Fa của Giáo sư- Tiến sĩ Sử học Nguyễn Hồng Giáp, đến bãi đất trống đối diện ký túc xá khoa Văn quả là một thách thức cho những con ngựa kéo xe luôn già và gầy yếu. Để tiếng lóc cóc mày (một) cắc / tao (một) cắc thêm rã rời mỏi mệt. Tiếng vó ngựa rời rạc và tiếng gió hú u u sau đồi thông khiến đêm như ướt mềm ra, dài mướt. Và chúng tôi khi đó chợt không thể vô lo, không thể không nghĩ đến gánh nặng cuộc đời với những buồn vui được mất.

Thầy Nguyễn Hông Giáp đã rời đại học Sorbonne để về quê hương, có một thời gian ông không được giảng dạy. Ông mở quán cháo bán cho sinh viên. Cháo lòng heo ăn kèm bánh tráng nướng. Và khoai lang Đà Lạt ruột đỏ au dẻo quẹo chấm muối ớt. Những bát cháo ở quán La Si Mi Fa đã trở thành nỗi ám ảnh trong tâm trí tôi, cũng như hình ảnh vị giáo sư đáng kính vẫn đi trên con đường từ ngả năm Phù Đổng Thiên Vương về ký túc. Ông mỉm cười chào, một tay ông xách chiếc xô thiếc, tay kia là cặp que ông dùng để gắp những tảng phân ngựa. Ông đi nhặt phân về bón cho cỏ hoa và cafe trong vườn nhà… Thầy Giáp giờ đã về sống ở Sài Gòn. Hồi đó tôi đã từng nhiều lần muốn hỏi mà không dám, vì biết vậy là quá táo bạo. Rằng có khi nào thầy nuối tiếc ? Vì đã rời Paris, xa người vợ lai Pháp xinh đẹp để về đây, để nấu cháo lòng và nhặt phân ngựa ? Để cười chào và đặt vào tâm trí những sinh viên chúng tôi một nỗi băn khoăn không nguôi về số phận con người ?

Quán cháo mất đi như là một tất nhiên, tôi không biết có bao nhiêu người khi nhớ về Đa Thiện – Đà Lạt lại nhớ đến cái không gian quán chật hẹp như chiếc hầm khoét sâu vào ngọn đồi, với những bộ bàn ghế bằng gỗ thông, và cái tên La Si Mi Fa reo vang những nốt nhạc. Còn tôi vẫn hình dung trọn vẹn nó, cũng như tôi vẫn hình dung rõ rệt cây thánh giá nằm bên trong ngôi sao, trên ngọn tháp tam giác cao vút trong khu Năng Tĩnh trường Đại Học Đà Lạt. Tôi nghe kể hồi đó thầy Giáp là một trong ba người đã leo lên đỉnh tháp cao 38 mét này, để lấy bù lon xiết các cánh ngôi sao ôm chặt cây thánh giá, và cây thánh giá vẫn nằm nguyên vẹn trong ngôi sao đó.

Không chỉ mình tôi hình dung. Tôi còn nhớ một buổi tối, Liêng Hót Ha Suê, người chơi guitar bass trong dàn nhạc của đội văn nghệ trường, đã đứng nguyện cầu giữa sân trường. Anh nhìn lên đỉnh tháp với đôi mắt thành kính, và lời cầu kinh, và bàn tay làm dấu thánh. Giờ khắc đó, anh đã không nhìn thấy ngôi sao, anh đã nhìn vào bên trong để chỉ thấy cây thánh giá. Niềm tin của anh đã làm cho khuôn mặt anh sáng rỡ đẹp đến kỳ lạ.

3.

Người Đà Lạt than rằng sương mù Đà Lạt đang ngày càng ít ỏi. Và đã có lý giải đó là một tất nhiên khi trái đất nóng dần lên, khi con người sinh sôi nẩy nở bung chiếm nhiều thêm ra.

Liệu có hoàn toàn đúng như vậy?

Vả lại không chỉ sương mù, Đà Lạt còn đang mất đi quá nhiều.

Những ngôi nhà gỗ đẹp như bài thơ đang mất dần. Những con đường quanh co uốn lượn theo các sườn đồi đang mất dần. Thông Đà Lạt đang mất dần không sao cầm giữ được. Không gian tĩnh lặng rất riêng của Đà Lạt cũng không còn như xưa. Và đồi Cù, từ lâu người Đà Lạt đã mất đồi Cù ngay trong lòng thành phố của mình.

Tôi nhớ lại cảm giác của mình khi nghe tin đồi Cù – Đà Lạt bị rào giậu vây bọc kín bưng để biến thành sân golf. Lúc đó tôi đã rời Đà Lạt được vài năm. Nhưng cũng như những người đã đến và yêu Đà Lạt, Đà Lạt luôn ám ảnh tôi. Thật lạ lùng cho mảnh đất này, bởi nhớ nhung một vùng đất mà như thể nhớ nhung một người tình, đã cùng đi với mình qua bao hoang tưởng kỳ diệu, thì tôi nghĩ chỉ có Đà Lạt mới làm được.

Khi nghe tin, tôi đau đến sững người, tôi đã có cảm giác của một người đi xa nghe tin căn nhà của mình bị bán, bị đập vỡ, bị cày nát mà mình không có cách gì quay về, để bảo vệ để chia sẻ, gánh vác. Và tiếp đó là cảm giác nuối tiếc, cay đắng tràn ngập tâm hồn tôi.

Cho đến bây giờ, sau mười mấy năm sử dụng, sân golf đồi Cù – Đà Lạt đã thu được lợi nhuận bao nhiêu? Và lợi nhuận đó có đáng không? Có là bao so với những ảnh hưởng của nó đối với môi trường? So với nỗi đau buồn của bao nhiêu con người đã từng gắn bó với đồi Cù bằng một tình yêu máu thịt?

Ngày đó, tôi đã đến Đà Lạt trong khao khát khờ dại của một người ở biển mà mải mê hoài vọng núi, mải mê mơ về những quả đồi, và tiếng reo thầm thĩ của loài thông. Đồi Cù đã là tất cả tưởng tượng của chúng tôi về thảo nguyên, những thảo nguyên vô cùng thanh sạch, phóng khoáng, đẹp đẽ trong sách vở. Nhất là vào buổi chiều khi đi ngược nắng, chúng tôi nhìn về chân trời xa rộng, để choáng ngợp trước đường chân trời vòng cong rực sáng. Những đôi tình nhân đan tay dạo trên đồi dưới mắt nhìn của chúng tôi khi đó đẹp như những thiên thần. Tôi đã mường tượng họ có thể bay lên trời nhờ đôi cánh, và sự nâng bổng của ánh sáng lộng lẫy trên đồi chiều.

Đồi Cù trở thành sân golf. Đã từ lâu người Đà Lạt và những người đã từng đến từng gắn bó với Đà Lạt đã không còn được tự do ra vào đồi Cù. Mà đồi Cù cũng đã khác, ngay cả màu cỏ trên đồi cũng đã khác xưa mất rồi. Những con người ngày xưa đã từng dạo chơi trên đồi, đã từng ngồi tựa vào những gốc thông cô độc trên đồi, đã từng hôn người mình yêu ở đó, làm sao họ còn tìm lại được dấu vết kỷ niệm. Mà không còn dấu vết kỷ niệm con người ta sống hụt hẫng ra sao ?

Tôi nhớ một lần Liêng Hot Ha Suê đưa tôi đến một góc đồi, nhìn về ngôi nhà ngày xưa của anh mà ngồi buồn suốt buổi. Anh đang nhớ người cha làm mục sư của mình và tuổi thơ với những tháng ngày vô tư, thánh thiện. Có lần, sau một tối tập văn nghệ ở trường Đại học, chúng tôi mang nhạc cụ trả về kho. Khi mọi người đã ra ngoài, và đèn điện đã tắt, từ bóng tối chúng tôi nghe tiếng dương cầm vang lên. Liêng Hót Ha Suê đang chơi đàn (cây dương cầm của trường đã hỏng nhiều phím và từ lâu không ai sử dụng). Tiếng đàn thanh thoát mà ám ảnh. Đó là giai điệu của một bài thánh ca. Tôi đã không còn nhớ tên bài hát, nhưng buổi tối đó và tiếng đàn như tiếng đập thổn thức của trái tim anh, vẫn trở về trong tôi, mỗi lúc tôi về lại Đà Lạt, đi trong sương lạnh nghe tiếng gió và tiếng thông reo. Liêng Hót Ha Suê đã mất ngôi nhà tuổi thơ của mình và không nguôi hoài nhớ. Còn bao nhiêu người Đà Lạt khác đã mất những gì yêu thương của họ theo những đổi thay dâu bể trong đời ?

4

Hôm nay, đọc bài Mãi mãi Đà Lạt của nhà văn Nguyễn Đạt tôi chợt quá nao lòng. Thực ra tôi đã biết quá ít về Đà Lạt, về những con người đã từng sống ở đây, đã làm nên những điều kỳ diệu đẹp đẽ cho văn chương, cho hội hoạ, cho âm nhạc… Những con người đã và đang tồn tại lặng lẽ để làm nên lịch sử Đà Lạt. Nhưng tôi đã yêu Đà Lạt bằng trái tim tuổi trẻ trinh nguyên, và thương yêu đó đã không nguôi ngoai dù theo thời gian bao nhiều điều khác đã như nước chảy dưới chân cầu. Thương yêu đó đã khiến tôi không thể không nuối tiếc, xót xa khi đi qua những mất mát của Đà Lạt trong cảm nhận của riêng tôi.

Tiếc nuối xót xa vì đã có quá nhiều những nói một đằng làm một nẻo, đã có quá nhiều những đập vỡ, giấu che. Như bức tượng Đức Mẹ tuyệt đẹp trước hội trường A1, hay cây thánh giá trên đỉnh tháp Sao trường Đại học. Và bao nhiêu điều khác nữa. Và ở nhiều nơi khác nữa. Những đập vỡ, giấu che xuất phát từ những quan niệm độc đoán, ấu trĩ đến đau lòng.

Đâu đó người ta đang nhìn vào festival hoa, đâu đó nhan nhản những lời kêu gọi vì tương lai thành phố. Đôi khi tôi mơ hồ rối rắm trước những lời kêu gọi ồn ào mà rỗng tuếch đó, trước những festival có quá nhiều sắc màu rực rỡ giả tạo đó. Tôi thấy mình như đang đi trong sương mù. Nhưng không phải sương mù thanh sạch mát lạnh của Đà Lạt xưa, mà là một thứ sương mù độc địa, có sức mê hoặc và giấu che bản chất. Tôi thấy mình mất phương hướng, và lại tràn ngập lòng tôi một cảm giác cay đắng, tiếc nuối.

Khi mất một đêm Đà Lạt đẹp vô cùng bên nhau, ít ra chúng tôi cũng biết mình đã đánh mất và không nguôi dằn vặt. Còn Đà Lạt với những cây thông chết, những ngôi biệt thự hoang tàn. Đà Lạt với những con đường, những trảng cỏ biếc xanh, những hiền lành chân chất mất đi, thì chẳng biết nhìn vào ai, nhìn vào đâu để thở than trách móc !

Ai đó đã nói tiếc nuối là một cảm giác vô ích, tôi nghĩ là tôi hiểu được điều đó, nhất là khi sự tiếc nuối đó lại là của những người dân với thân phận bé nhỏ, không chức quyền. Nhưng tôi đã không làm sao thoát được cảm giác đó, tôi cứ phải buồn thương, xót đắng mãi cho những mất còn. Có lẽ tôi phải tự an ủi mình như nhà văn Nguyễn Đạt, là Đà Lạt xưa vẫn còn trong ký ức của bao con người. Những con người tồn tại lặng lẽ khuất lấp đâu đó với một tình yêu chân thành vô vụ lợi dành cho Đà Lạt. Những con người đang sống với những khát vọng tự do và tình yêu dành cho cái đẹp. Đà Lạt đã có một lịch sử và lịch sử Đà Lạt vẫn còn đó. Có thể nhờ vậy mà chúng ta mãi mãi vẫn hình dung được trong tâm trí một Đà Lạt vẹn nguyên. Một Đà Lạt xưa với đồi Cù với thông và sương và hoa dại. Một Đà Lạt với quán cafe Tùng và những huyền thoại vô cùng đẹp.

Ngày xưa…

Đinh Thị Như Thúy

Âm thanh gói cả đất trời

Đấy là cảm nhận của nhiều người khi được thả hồn trong sự hài hòa, cộng sinh đến tuyệt vời âm thanh của nhạc cụ gõ của người Thái Tây Bắc. Nhạc cụ gõ của người Thái Tây Bắc gồm trống, chiêng, chũm chọe và quả nhạc. Bộ gõ này có vai trò rất quan trọng trong đời sống nghệ thuật và tâm linh. Bộ gõ là vật linh thiêng của mỗi bản, không bao giờ được để mất, không để kẻ thù chiếm đoạt, không được đổi chác mua bán. Mỗi khi những âm thanh của bộ gõ này vút lên, người nghe như cảm nhận được sự sâu xa, tinh tế và huyền diệu của đất trời cùng tình người đằm lắng.


Việc chế tác bộ gõ được tiến hành với những bước rất nghiêm ngặt: Cúng tế xin phép thần linh, cầu mong thần cho phép, chứng giám và phù hộ rồi tiến hành ở nơi kín đáo, sạch sẽ. Khi chế tác xong phải cử hành lễ tế trang trọng và cất giữ ở nhà sàn hoặc gian thờ ma nhà của trưởng bản hoặc người có chức sắc và chỉ được dùng trong dịp tết hoặc lễ cúng xên bản, xên mường. Người Thái cho rằng nếu dùng trống chiêng tùy tiện sẽ có hại cho bản mường.

Trống có hai loại “cống” và “cong”. Thông thường “cống” hay được dùng trong hội xuân, lễ cúng ma bản mường; còn “cong” dùng khi chủ mường qua đời hoặc khi có giặc, báo động…
Tang trống dùng cây gỗ tròn được đục bỏ lõi, thường là gỗ xâng hoặc mít. Tang dài 0,8 – 1 m, mặt có đường kính từ 30cm đến 50 cm, bịt bằng da trâu bò, âm thành trầm và gần.
“Cong” là loại trống dài từ 1,5m đến 3 m, mặt bịt da bò, có đường kính từ 50cm đến 70cm, âm thanh trong hơn, vọng rất xa.

Khi chế tác tang trống, để có âm thanh như ý, các nghệ nhân cạo nhẵn bên trong và mặt ngoài chứ không dùng sơn.

Tác giả bên cô gái Sơn La

Chiêng và chũm chọe được chế tác công phu, đặc biệt là rốn chiêng. Để có âm thanh mong muốn, các nghệ nhân pha thêm vào đồng một tỷ lệ vàng theo công thức bí truyền.
Chiêng có âm thanh trầm được gọi “tô me”, tức là con mái, chiếc có âm thanh cao gọi là “tô po”, tức là con trống, chiếc có âm thanh ở khoảng giữa gọi là “tô lụ” tức là con con.
Chũm chọe gọi là “xánh”, chùm nhạc là “mắc hính”.

Chiêng có thể dùng riêng hoặc phối hợp cả ba cái tạo ra một hợp âm độc đáo mà các nhà nghiên cứu cho rằng đậm đà ý nghĩa nhân sinh.

Thường là đàn ông đánh trống, đàn bà đánh chiêng, trẻ con dùng chũm chọe, con gái trẻ dùng quả nhạc tạo ra những âm thanh sôi động, lôi cuốn lòng người. Nghe những âm thanh tinh tế bộ gõ của người Thái, người ta như cảm nhận được sự giao hòa của đất trời và vạn vật, ngân rung bay bổng khát vọng một cuộc sống sinh sôi, phát triển, ấm no, hạnh phúc, làm cho tâm hồn người trong sáng hơn, thêm tin yêu vào cuộc sống, hướng mỗi người đến giá trị đích thực của Chân – Thiện – Mỹ.

Nghe tiếng trống, chiêng, người ta có thể biết ở bản Thái ấy đang có việc vui hay buồn: Nghe tiếng trống nhịp 2/4 theo kiểu 3 tiếng cùng với 7 tiếng, tiếng chuông gõ trên con mái và con trống rơi vào nhịp mạnh, tiếng của con con rơi vào nhịp nhẹ của trống, thì chắc chắn rằng ở đó có hội xòe. Còn khi nghe tiếng “cong” dồn dập 3 tiếng hoặc 5 tiếng là có việc khẩn cấp như: cháy nhà, có lũ bão, có giặc. Các quả nhạc cùng phụ trợ cho hát và các điệu xòe làm tăng sự vui tươi, sôi động.

Bộ gõ nói chung và chiêng trống nói riêng là những nhạc cụ không thể thiếu của người Thái Tây Bắc, góp phần làm cho đời sống nghệ thuật thêm phong phú, đồng thời còn chứa đựng những ý nghĩa tâm linh và nhân sinh cao cả, gửi gắm vào đó cả tình yêu, tinh thần lạc quan tin tưởng vào cuộc sống no ấm, hạnh phúc.

Trần Vân Hạc

Da diết nhớ bản hòa tấu của ngàn xanh


Mỗi ban mai Hà Nội, khi bình minh ngưng lại giây lát trên cầu Thê Húc, rồi dịu dàng lan tỏa sáng trong mỗi con đường, góc phố, tôi như tan hòa trong những tiếng chim lảnh lót chào ngày mới. Đây tiếng sơn ca như tiếng ngọc rơi từ chốn cao xanh, đánh thức những hạt mầm hy vọng trong mỗi người và những hạt mầm đang say giấc nồng trong đất, những mầm non mới nhú trên cành. Đây chú họa mi ngân rung những cung đàn say đắm, tấu lên khúc nhạc cháy bỏng khát vọng một cuộc sống tự do được sống, được yêu. Chú khiếu từ nhà bên trổ tài luyến láy những âm thanh muôn điệu của những giọng ca tài tử. Chú cu gáy vẫn trầm ngâm như một triết gia trong dòng hồi tưởng của một thời oai dũng, chí khí của đấng trượng phu quân tử lay động cả đất trời. Chú chích chòe hồn nhiên nhả những hợp âm trong vắt… trong lòng chợt dâng lên một cảm giác trong trẻo, lạc quan, yêu đời và khát vọng sống lạ kỳ. Vậy mà sao tôi vẫn bồn chồn, khắc khoải, day dứt với cảm giác như vẫn thiếu một cái gì rất đỗi thân thương, gắn bó; chẳng khác nào một mình xa quê giữa chốn phồn hoa, chợt da diết nhớ về quê hương yêu dấu, nơi có người mẹ hiền nắng mưa tần tảo, người cha nghiêm nghị nhưng độ lượng bao dung, người vợ dịu hiền thủy chung chờ đợi… và tiếng chim xanh ngắt giữa đại ngàn hòa cùng mây trời gió núi…

Tây Bắc gắn bó với tôi mấy chục năm trời: Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên… những con sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Chảy… những con suối Thia, suối Tiên, suối Mơ, Nậm Na, Nậm Rốm…chở đầy lịch sử và huyền thoại, lúc dịu dàng như áng mây đầu núi, lúc như chú ngựa bất kham tung vó chốn thảo nguyên. Những cánh rừng huyền bí miên man bất tận, hôi hổi một sức sống diệu kỳ. Những con đèo quanh co uốn lượn ù ù gió hú đầy những bất ngờ thích thú. Đây đó những ngôi nhà sàn ấm áp khói lam, thấp thoáng bóng ai dịu dàng sắc chàm, tay búp măng rừng gọi lúa lên xanh, gọi ngô mẩy hạt, giục bông hóa thân thành muôn sắc mầu thổ cẩm lung linh như bẩy sắc cầu vồng, hay nồng say trong vòng xòe rực lửa… và mỗi bình minh cao vút những tiếng chim xanh ngắt bản hòa tấu của nhạc sỹ thiên tài của thiên nhiên, ngân rung tinh tế, thánh thiện sự giao hòa của đất trời và tình người huyền diệu, say đắm đam mê đến nao lòng.

Cái kỳ thú đến ảo diệu của những tiếng chim rừng Tây Bắc chính là cái quyền lực và ma lực vô hình tưởng như bất tận, đem lại một nguồn năng lượng mới, giục giã thôi thúc vạn vật khát sống, khát tìm tòi khám phá vươn lên không bao giờ cạn. Khi vạn vật còn đắm mình trong giấc ngủ sương giá, chợt giật mình e không bắt kịp vòng xoay của tạo hóa, dẫu còn như ngái ngủ, thoáng giật mình rồi vươn vai cất lên bản hòa tấu của đại ngàn hòa cùng vòng quay minh triết của vũ trụ. Những tiếng chim rừng như mũi tên rời dây ná của một xạ thủ kỳ tài xuyên qua tĩnh lặng, đánh thức muôn loài. Muôn hạt mầm và những lá xanh non thoáng chút ngỡ ngàng xòe đôi mắt biếc, rì rào gọi nhau vươn cành xanh tán. Những hạt sương trong vắt, tinh khôi, bỗng hồng tươi, ngời lên roi rói như chuỗi vòng của tiên nữ mải vui trong khúc nghê thường, rơi xuống trần gian. Các bản mường còn chìm trong sương bỗng rộn vang tiếng nói, tiếng cười, tiếng các thiếu nữ gọi nhau ra suối lấy nước, chuẩn bị ra ruộng, lên nương. Tiếng chày cối nước thậm thình như nhịp trái tim của suối. Tiếng mõ trâu đàn lốc cốc ấm cúng. Tiếng chú gà trống gáy vang gọi mặt trời đầy quyền uy. Tiếng gà mái cục tác nhảy ổ. Tiếng mèo kêu nũng nịu. Tiếng chó sủa thân thuộc…

Trên cái nền tráng lệ của ngàn xanh cùng mây trời gió núi và nhịp sống sớm mai ấy, vút lên những tiếng chim đầy sinh lực, với những giai điệu hào hoa, tuyệt vời đầy chất ngẫu hứng được bàn tay tài tình của vị thần âm nhạc vô hình điều khiển. Mỗi giọng ca đều là tuyệt tác của tạo hóa, hài hòa cộng hưởng, thăng hoa đến tuyệt đỉnh trong dàn đại hợp xướng. Tiếng trầm như tiếng sấm mùa xuân. Tiếng thanh như gió reo, lá hát, như tiếng khèn xuân cất cao những cung bậc bất tận của tình yêu. Có âm thanh du dương, khoan thai nhẹ nhàng như cánh bướm dập dờn trong vũ điệu giao duyên, lúc réo rắt sang trọng kiêu kỳ, nhưng thầm kín cao sang. Có tiếng thì thầm như dòng nước mang trong mình bao tâm sự, như lời của đôi bạn tri âm tri kỷ. Lúc ríu ran như bầy trẻ nhỏ vô tư, hồn nhiên trong khúc đồng dao trong sáng. Khi rộn ràng hùng tráng như tiếng kèn xung trận, trầm hùng như nhịp cồng chiêng ngày hội, như những bước xòe nồng say gọi lúa lên xanh, ủ hồng bếp lửa mùa hạnh phúc. Lúc thổn thức, day dứt như nỗi nhớ người thương khi gió lạnh về. Khi như lời duyên e ấp của đôi người yêu nhau hẹn ngày xây tổ; có lúc như khẩn cầu chân thành, đắm đuối, khi hân hoan niềm hạnh phúc ngập tràn. Có lúc ấm áp như nắng xuân hồng gọi cây đời xanh mãi. Có khi chợt lặng đi như lắng chút suy tư trải nghiệm, bi tráng, rồi chợt vút cao lảnh lót tiếng vĩ cầm réo rắt ngân một khát vọng xanh. Lúc mong manh tơ mảnh, như một lời nhắc nhở phải biết trân trọng nâng niu những gì đã có… Có lúc cả dàn nhạc say mê hùng tráng trong khúc cao trào, lúc tất cả lặng đi nhường cho giọng ca tuyệt vời của giọng opera lĩnh xướng. Bầy chim thi nhau trổ tuyệt kỹ trước bình minh, kể cho nhau bao câu chuyện buồn vui của những tháng ngày trong hành trình nhân thế, trao nhau muôn lời yêu.

Trong tiếng chim rừng Tây Bắc như có ánh ban mai tràn ngập núi rừng, sáng trên ngọn cỏ biếc, ngời trên sóng bạc, nâng áng mây hồng e ấp đầu non. Có ngọn gió thơm trên áng tóc mây như làn rêu suối. Có những tà áo chàm thấp thoáng, nếp váy thổ cẩm đong đưa, mặn mòi thương nhớ. Có bóng ô hồng tinh nghịch nghiêng chao. Có tiếng đàn môi, kèn lá thầm thì tình tứ. Có nụ cười hàm tiếu hoa ban. Có dáng mẹ áo bạc mầu yêu thương trăn trở. Ăm ắp ánh vàng ruộng bậc thang dập rờn sóng nhạc mùa no ấm. Có tiếng gió reo vi vút đầu non. Có tiếng róc rách của những dòng suối hát. Có tiếng thác đổ ầm vang… Tất cả hòa quyện vào nhau, hài hòa cộng sinh trong sự sinh tồn và phát triển của tạo hóa.

Đã bao lần được thả hồn trong tiếng chim rừng tuyệt diệu của ngàn xanh Tây Bắc, vậy mà lần nào tôi cũng tràn ngập một cảm giác lạ lẫm, nguyên sơ; chẳng khác nào tuổi hoa niên, một sáng mùa xuân, chợt nhận ra trong ánh mắt trong veo của cô bạn gái tóc đuôi gà những tia sáng bồi hồi, lạ lẫm, như một dòng điện nhẹ lan tới từng tế bào cơ thể, thắp lên ngọn lửa tình yêu trinh trắng đầu đời. Tiếng chim như nối đất với trời, như sợi tơ hồng se bao duyên thắm, đánh thức vạn vật, đơm hoa kết trái dưới ánh mặt trời.

Ôi! Có bản nhạc nào tài hoa, diệu kỳ, bất tử đến say lòng như thế! Tiếng chim như những giai điệu thần tiên, đánh thức những hạt mầm tốt đẹp trong ta, để rồi ta chợt nhận ra: Cuộc sống vốn tươi đẹp biết nhường nào, chỉ có điều ta có biết trân trọng nâng niu và phấn đấu vì một ngày mai tươi sáng hơn hay không? Tiếng chim như hòa vào máu thịt, làm ta thêm quí trọng sự hiện hữu của chính ta trên đời, để rồi trong buổi sáng tinh sương này, ta nhủ thầm một câu hỏi lớn: Ta đang sống hay ta chỉ tồn tại như chiếc bóng lờ mờ?

Trần Vân Hạc
Hà Nội

Tây Nguyên Việt Nam

Chào các bạn,

Mình vừa làm xong PPS Tây Nguyên, để tặng các bạn Tây nguyên, đặc biệt là các bạn Balme yêu quý.

Hoàng Triều Cương Thổ của một thời. Rừng núi bao la tĩnh lặng.

Ban Mê gió nhẹ bước vào đông
Trời đã ngủ quên ánh nắng hồng
Mưa phùn lất phất mềm lối cỏ
Phố nhỏ thơm nồng tách cà phê

    Thơ Minh Tâm

Và những con dốc quanh co

Tiếng ai cười trên dốc nhỏ lao xao.
Hạnh phúc trong tôi quá đổi ngọt ngào!

    Thơ Huỳnh Huệ

Những thác nước đẹp như thác mây

Trên cao đổ xuống một màn
sương trắng bao phủ những hàng núi non

    Thơ Kim Hoa

Những đồi thông, những rừng hoa trong nắng sáng

Hừng sáng mặt trời lên rực rỡ
Trăm hoa đua nở ngát hương bay
Cúc quỳ vàng rực,lung linh sắc
Vi vút thông reo dạ ngất ngây

    Thơ Hồng Phúc

Những con đường nhiều vương vấn

Dốc dài, lối cỏ mù sương
Bao nhiêu kỉ niệm còn vương vấn đời…

    Thơ Trần Can

Làm ta rơi vào chuyện thần tiên

…có phải thiên đường
Nở đầy hoa cổ tích?
Để em bên anh trong một chiều tĩnh mịch
Trao anh, bàn tay em…

    Thơ Kiêm Yến

Tây nguyên của ngày xưa, đất rộng dân thưa, các bộ lạc sống thong dong với rừng xanh.

Ngày nay các dự án xã hội và phát triển kinh tế đã đảo lộn cuộc sống của những người bạn của rừng xanh và làm rừng xanh biến dạng…

Gùi trĩu
Mắt hoang
Lạc lõng chân trần qua phố

Giữa ngã sáu
Bỗng gặp
Mắt hoang chân trần ngơ ngác
Giọt mặn nào
Lòng ta ngấm thật sâu…

    thơ Hoàng Thiên Nga

Tây Nguyên mùa xuân
Trước đoàn xe cây nghiến nát nền đường đất đỏ
Tôi dừng lại
Chân trần
Em khóc
Cầm trên tay đoá hoa rừng bé nhỏ

    thơ Hoàng Thiên Nga

Dù vậy những người con Tây Nguyên vẫn chia ngọt sẻ bùi, cùng ca trong đêm cho những buốt đau và hy vọng của núi rừng

Họ hát nồng nàn
Giọng thầm thĩ yêu thương gọi chân lạc bước
Giọng dào dạt thác nguồn mùa nai gọi bạn
Giọng vút trong vui lúa chín vàng.

Họ hát dịu dàng
Đau đáu nỗi chim không còn rừng biết thả vào đâu giọng hót
Nỗi bazan cây thôi không trĩu quả
Nỗi ai nỡ quên bến nước buôn làng.

    Thơ Tôn Nữ Ngọc Hoa

Mong rằng tất cả chúng ta sẽ cố gắng gìn giữ nét đẹp của rừng xanh cũng như nét đẹp của văn hóa Tây Nguyên.

Mai nầy nếu các bạn có ảnh và thông tin cho mỗi tỉnh của Tây Nguyên, mình có thể làm PPS riêng cho từng tỉnh. Nhưng mình cần các bạn “thổ địa” hướng dẫn làm việc đó.

Chúc các bạn một ngày thênh thang gió núi 🙂

Xin các bạn click vào ảnh dưới đây để xem slideshow và download.

Bình an & Sức khỏe,

Túy-Phượng

.

Trường ca Bini – Cham (Ariya Bini – Cam)

Chào các bạn,

Ariya Bini – Cam là một trong những thi phẩm cổ điển xuất sắc nhất của Chăm, nhưng ít được phổ biến. Nguyên tác và bản dịch Việt ngữ được Inrasara đưa ra lần đầu trong cuốn Văn học Chăm – khái luận, Nxb. Văn hóa Dân tộc, H., 1994.

Ariya Bini- Cam là hồi ký bằng thơ, ghi lại những hồi tưởng và cảm nhận của một hoàng thân Champa (thuộc tiểu quốc Chàm Panduranga, tức là Ninh Thuận và Bình Thuận ngày nay) về tình yêu của chàng với nàng công chúa đến từ Makah (tiểu bang Kelantan, Malaysia), cũng như tình yêu của chàng đối với đất nước trong bối cảnh đặc biệt của lịch sử Champa.

Cuộc tình tan vỡ, đất nước tiêu vong, Arya Bini – Cam là một tuyệt tác văn chương Chăm, thấm đẫm buồn đau và nước mắt…

Đọc bài dịch tiếng Việt ta cũng có thể nhận ra ngay dịch giả vừa là nhà thơ xuất sắc vừa là một học giả uyên thâm. Dịch giả là Inrasara (xem ảnh bên trên), tên thật là Phú Trạm, sinh 957 tại làng Chăm Caklaing – Mỹ Nghiệp, thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Công việc đang làm của Inrasara là nghiên cứu văn hóa Chăm; làm thơ, viết văn, dịch & viết tiểu luận – phê bình văn học. Các tác phẩm của Inrasara đến nay gồm có:

Tác phẩm:

Về văn chương

– Tháp nắng – thơ và trường ca, NXB Thanh niên, H., 1996.
– Sinh nhật cây xương rồng – thơ song ngữ Việt Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1997.
– Hành hương em – thơ, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh., 1999.
– Lễ tẩy trần tháng Tư – thơ và trường ca, NXB Hội Nhà văn, H., 2002.
– Inrasara – Thơ cho tuổi thơ, NXB Kim Đồng, H., 2003.
– The Purification Festival in April, thơ song ngữ Anh – Việt, NXB Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2005.
– Chân dung Cát – tiểu thuyết, NXB Hội Nhà văn, H., 2006.
– Chuyện 40 năm mới kể & 18 bài thơ tân hình thức, NXB Hội Nhà văn, H., 2006.
– Chưa đủ cô đơn cho sáng tạo, tiểu luận-phê bình, NXB Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2006.
– Song thoại với cái mới, tiểu luận, NXB Hội Nhà văn, H., 2008.

Về nghiên cứu văn hóa Chăm

– Văn học Chăm – Khái luận, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1994.
– Văn học dân gian Chăm – Ca dao, Tục ngữ, câu đố.
+ In lần thứ nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1995.
+ In lần thứ hai: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 2006.
– Văn học Chăm – Trường ca, sưu tầm – nghiên cứu.
+ In lần nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1995.
+ In lần thứ hai: NXB Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh, 2006.
– Từ điển Chăm – Việt (viết chung), NXB Khoa học Xã hội, H., 1995.
– Từ điển Việt – Chăm (viết chung), NXB Khoa học Xã hội, H., 1996.
– Văn hóa – xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại, tiểu luận
+ In lần thứ nhất: NXB Văn hóa Dân tộc, H., 1999.
+ In lần thứ hai: NXB Văn học, H., 2003.
+ In lần thứ ba: NXB Văn học, H., 2008.
– Tự học tiếng Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, H., 2003.
– Từ điển Việt – Chăm dùng trong nhà trường (viết chung), NXB Giáo dục, H., 2004.

Chủ biên

Tagalau, tuyển tập sáng tác – sưu tầm – nghiên cứu Chăm (10 tập, 2000-09); Tủ sách văn học Chăm (10 tập, đã xuất bản 4 tập).

Giải thưởng chính

– CHCPI – Sorbonne (Pháp), Văn học Chăm I (1995).
– Hội đồng Dân tộc – Quốc hội khóa IX, Văn học Chăm II (1996).
– Hội Nhà văn Việt Nam, Tháp nắng (1997), Lễ tẩy trần tháng Tư (2003).
– Hội Văn học – Nghệ thuật các DTTS Việt Nam, Sinh nhật cây xương rồng (1998), Văn hóa – xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại (2003), Ca dao – tục ngữ – thành ngữ – câu đố Chăm (2006).
– Giải thưởng Văn học Đông Nam Á, Lễ tẩy trần tháng Tư (2005).
– Giải thưởng sách Việt Nam, Từ điển Việt – Chăm (2006).
– Tặng thưởng Work of the Month, Tienve.org, tháng 9.2006.
– Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, Trường ca Chăm (2006).

Chúng ta rất biết ơn Inrasara đã dịch Trường Ca Bini – Cam ra Việt văn, để chúng ta có cơ hội thưởng thức một tuyệt tác văn chương Chăm, đồng thời hiểu biết thêm về văn minh Chăm và Chiêm quốc cũ. Hãy cùng nhau hướng lòng đến các anh em Chăm của chúng ta còn lại ngày nay.

Trường ca này gồm 164 câu. Phần tiếng Việt đi trước tiếng Chăm. Trong phần tiếng Việt có một số các ghi chú. Tất cả các chú giải này đều nằm ở cuối phần tiếng Việt.

Thành thật cám ơn anh Trần Can của Balme đã chia sẻ các thông tin quý báu này.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành
.

Thị Trấn Trong Sương

Tam Đảo được bao bọc bởi rừng nguyên sinh với khí hậu mát mẻ, địa hình độc đáo.

Vào những năm đầu thế kỷ XX, nhà cầm quyền Pháp có ý định tìm một địa điểm trên núi cao, gần Hà Nội để xây dựng khu điều dưỡng phục vụ cộng đồng người Âu làm việc ở Bắc Kỳ lên nghỉ mát. Sau gần 3 tháng khảo sát trên dãy Tam Đảo, đội thám hiểm tìm được một cao nguyên nhỏ có địa hình lòng chảo tọa lạc trên sườn núi cao gần 1000m, cách Vĩnh Yên khoảng 20km theo đường chim bay. Đến trước 1945, người Pháp đã xây dựng tất cả 143 biệt thự lớn, nhỏ tại Tam Đảo. Các biệt thự được xây bằng đá khai thác tại chỗ, nằm cách biệt men theo sườn núi, không trùng lặp về kiểu dáng thiết kế và được chủ nhân đặt những tên gọi lãng mạn như Đường Chân Trời, Belle Vue… Hầu hết các biệt thự có tường được xây bằng đá dày 60 – 120cm, một số nhà được xây dựng bằng gạch, mái lợp đá mỏng Acđoa được chở đến từ Toulouse, Marseille; nội thất được bố trí lò sưởi, có bể bơi, phòng khiêu vũ, hầm rượu…

Năm 1947 do phải thực hiện tiêu thổ kháng chiến, làm vườn không nhà trống ngăn chặn địch lên đánh đồn ở đỉnh Tam Đảo, ta đành phải phá bỏ khu nghỉ mát. Kháng chiến tháng lợi, hòa bình lập lại ở miền Bắc, Nhà nước ta bắt đầu phục hồi khu nghỉ mát. Điều kiện kinh tế con khó khăn, ta mới làm được một số nhà nghỉ mát bằng gỗ thép; kiến trúc kiểu nhà sàn dân gian miền núi của ta, có dáng dấp nhà nghỉ dưỡng trên núi của châu Âu, trang nhã, hài hòa với cảnh vật rừng núi xung quanh…

Cho tới nay, càng ngày khu nghỉ mát Tam Đảo càng được xây dựng với tốc độ nhanh hơn, với nhiều công trình to lớn và đẹp hơn.

Source: ThoiTrangTre Magazine

THE TOWNLET IN FOG

Tam Dao is framed by primeval forests, along with its cool climate and unique topographies.

In the beginning years of the XX century, French authorities wanted to seek for a location in high mountains, nearby Hanoi to build a retreat zone serving the European community of expats who worked in Vietnamese Tonkin and would go up there for vacation. After the three months investigating the Tam Dao Ranges, the exploration group found a small plateau with the terrain of hollowness, located on a hillside at its elevation of about 1000m, 20km away from the northern city of Vinh Yen, measuring a straight line. Before 1945, the French built a total of 143 villas of small and big sizes in Tam Dao. The villas were made of rocks mined on the premises lay isolated along hillsides, without repetiting architectural styles; and their owners gave them romantic names such as L’Horizon, Belle Vue… Most of them had walls made of rocks of 60 – 120cm in thickness while some was made of bricks and roofed with thin rocks imported from Toulouse, Marseille; and the interiors were equipped with fireplaces, swimming-pools, ballrooms, wine-cellars…

In 1947, due to the scorched-earth policy for the anti-French resistance–making gardens and houses empty in order to prevent enemies from attacking the military posts in Tam Dao, the Vietnamese side had to ruin the resort. After winning the war and restoring peace in the North, our State started restoring it. Because of economic difficulties, we just built a few resort houses from wood and steel and designed them in the style of our hill-tribe traditional stilt-houses, resembling a bit of mountainous European retreat villas, elegant and harmonious with surrounding forest vistas…

Up till now, the resort of Tam Dao has been built more and more at a faster speed, with large numbers of bigger and more charming buildings.


Quan Jun translated