This interview is very interesting and informative. It is about Nguyên Ngọc and the historical background of Vietnam which he has seen directly.
Tag Archives: Lịch sử
Ideology in Urban South Vietnam 1950-1975
PhD disertation by Tuấn Hoàng
Notre Dame University
April 2013
Lịch sử Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3
Ngày Quốc tế Phụ nữ (mồng 8 tháng 3) là một dịp được ghi dấu bởi những hiệp hội phụ nữ trên toàn thế giới. Ngày này cũng được Liên Hiệp Quốc kỷ niệm và được xem như ngày lễ quốc gia ở nhiều nước. Khi phụ nữ trên tất cả các châu lục, bị chia cắt bởi những khác biệt về biên giới quốc gia, chủng tộc, ngôn ngữ, văn hóa, kinh tế và chính trị, cùng nhau kỷ niệm Ngày của mình, họ có thể nhìn lại truyền thống tiêu biểu cho ít nhất chín thập kỷ đấu tranh cho bình đẳng, công bằng, hòa bình và phát triển.
Sân bay đầu tiên của Cách mạng Việt Nam và mật ước Việt – Mỹ
VNN – 12/02/2022 09:36 GMT+7
Chắc ít người biết rằng, từ tháng 7/1945, Việt Nam đã có một sân bay đích thực, do ta tự lực thiết kế, xây dựng và điều hành để đảm bảo nhu cầu của tình hình lúc đó.
Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết của ông Lê Giản – nguyên Giám đốc Công an Vụ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa:
![]() |
| Ông Lê Giản (trái) cùng ông Phạm Hùng, Giám đốc Sở Công an Nam Bộ đến thăm Bác Hồ tại Văn phòng Chủ tịch phủ – Thủ tướng phủ ở Tân Trào. Ảnh tư liệu |
Đó chính là sân bay Lũng Cò, thuộc chiến khu Việt Bắc. Gọi là sân bay Lũng Cò, vì nó nằm trên một thung lũng thuộc xóm Lũng Cò, xã Minh Thanh, tỉnh Tuyên Quang.
Giữ liên lạc Việt – Mỹ qua biên giới
Ai quan tâm nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam đều biết rằng, cuối năm 1944, nhân dân quê hương đồng chí Hồng Kỳ, cách thị xã Cao Bằng chừng 4-5km đã cứu được một viên trung úy phi công Mỹ, khi anh ta nhảy dù xuống địa phương này.
Nhân dân xã nhanh chóng đưa viên phi công vào ẩn nấp trong khu rừng sát núi heo hút. Viên trung úy xin sớm được đưa về căn cứ của quân đội Mỹ ở bên kia biên giới Việt – Trung. Sau khi được trao trả lành lặn cho phía Mỹ tại Côn Minh (Trung Quốc) và nghe anh ta báo cáo lại tinh thần nhiệt tình, đón tiếp chu đáo của Việt Minh, viên Tư lệnh quân đội Mỹ tại khu vực ngỏ ý muốn được gặp người đứng đầu Quân đội Việt Nam để tạ ơn, đáp nghĩa.
Nghe báo cáo tình hình, Bác Hồ đã nhận lời và hai bên hẹn một cuộc gặp hữu nghị ở một tiệm ăn tại Tĩnh Tây, ngày 27/4/1945.
Trong cuộc gặp này, hai bên đã đi đến một mật ước: “Phía Việt Nam sẽ tăng cường lực lượng du kích, phát triển căn cứ ở khắp các vùng trong lòng địch. Phía Mỹ lãnh trách nhiệm đưa các phái đoàn quân sự sang giúp huấn luyện, đồng thời giúp trang bị vũ khí, điện đài và các thứ quân trang, quân dụng khác”.
Để tiến hành các hoạt động giao lưu liên lạc cùng với việc vận tải các trang thiết bị quân sự, hai bên đã xác định cần thiết xây dựng một sân bay để giữ liên lạc Việt – Mỹ qua biên giới. Sau khi Bác Hồ và Chính phủ về căn cứ Tân Trào, đã có một số đợt nhảy dù của các tốp quân Mỹ xuống khu vực này. Với tầm nhìn xa, Bác đã chỉ thị cho anh Đàm Quang Trung, Đại đội trưởng Giải phóng quân, chủ trì xây dựng một sân bay.
Nhận nhiệm vụ mới mẻ, anh Trung rất lo lắng. Tuy phía Mỹ có cử một viên thiếu tá làm cố vấn giúp đỡ về kỹ thuật xây dựng sân bay, nhưng do ngôn ngữ bất đồng, nên anh thấy công việc khó khăn. Anh đề nghị Bác cử thêm người giúp đỡ.
Bác hoàn toàn đồng ý, nhưng nói: “Thế chú đã có dự kiến nhờ ai chưa”? Anh Trung không do dự trả lời ngay: “Thưa Bác, cháu nghĩ rằng, việc này chỉ có anh Lê (tức là tôi, Lê Giản) có thể đáp ứng được yêu cầu. Anh Lê Giản đã nhiều lần đáp máy bay dân sự và quân sự, qua lại nhiều trường bay lớn nhỏ khác nhau. Hơn nữa anh thông thạo cả tiếng Pháp, tiếng Anh và rất am hiểu địa hình vùng chiến khu”.
Lưỡng lự một lát, anh Trung báo cáo tiếp với Bác: “Có điều cháu biết bây giờ anh Lê Giản đang rất bận rộn, vậy xin Bác xem xét và quyết định”. Nghe anh báo cáo xong, Bác gật đầu và nói: “Được, để Bác viết lá thơ cho chú cầm đi gặp chú Lê bàn định công việc cụ thể”.
Anh vui mừng cầm theo lá thư tay của Bác đến gặp tôi và trình bày nhiệm vụ mới được Bác giao. Tôi rất phấn khởi.
Chuyến bay lịch sử
Chúng tôi siết chặt tay nhau, biểu thị quyết tâm thực hiện nhiệm vụ Bác giao, khẩn trương tìm địa điểm để xây dựng sân bay. Đứng trên ngọn đồi gần nơi sau này Nha Công an đóng trụ sở, tôi và anh Trung nhìn bao quát cả cánh đồng, thung lũng chạy xa đến chân núi Hồng nằm giữa hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang.
Bằng kinh nghiệm của mình, tôi để ý ngay đến thung lũng Lũng Cò. Đây là một vạt đất khá rộng có chiều dài, nơi xưa kia đồng bào vẫn canh tác nhưng từ ngày có chiến tranh, nó bị bỏ hoang.
Tôi và anh Trung trao đổi với nhau xong quyết định mời viên thiếu tá cố vấn Mỹ đến xem địa điểm Lũng Cò. Khi ba người chúng tôi đến đứng giữa cánh đồng bỏ hoang, viên thiếu tá thốt lên: “Chúng ta sẽ xây dựng ở đây một sân bay dã chiến lý tưởng”.
Ngay ngày hôm sau, anh Trung huy động hàng trăm bộ đội và dân công, thanh niên nam nữ trong vùng đến thung lũng Lũng Cò phát quang, sau đó dùng các công cụ thô sơ san bằng, nện đập theo hình một đường băng đất nện. Chỉ khoảng 3-4 ngày (vào khoảng cuối tháng 7/1945), công việc làm sân bay dã chiến ở thung lũng Lũng Cò đã xong, với đường cất hạ cánh dài hơn 400m, rộng 20m.
Chúng tôi thông báo cho phía Mỹ biết và quyết định làm lễ khánh thành sân bay đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bằng một cuộc mít tinh đón chuyến bay đầu tiên. Lúc 11 giờ trưa, chiếc máy bay L-5 đầu tiên, chở theo hai sĩ quan tăng cường cho phái đoàn liên hữu, cùng một số thuốc men, thực phẩm và thư từ đã hạ cánh an toàn xuống sân bay Lũng Cò, mở ra một giai đoạn lịch sử mới.
Một sân bay dã chiến ra đời góp phần mở cửa thông thương với đồng minh, góp phần bổ sung trang thiết bị, tăng cường sức mạnh cho quân đội đánh thắng phát xít. Sau chuyến bay đầu tiên, còn một số chuyến bay của quân Mỹ và đồng minh qua lại, tất cả đều cất hạ cánh an toàn, cho đến khi phát xít Nhật phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Hoạt động hàng không quốc tế
Khi Việt Minh làm chủ tình hình ở hầu khắp các tỉnh phía Bắc, phái đoàn liên hữu của quân đội Mỹ lên chuyến bay cuối cùng rút qua bên kia biên giới. Tiễn đưa viên trung úy (tôi nhớ mang máng tên anh ta là Kent hoặc Fenn), người đến trên chuyến bay đầu tiên và rút về cuối cùng, tôi đã bắt chặt tay, nói lời cảm ơn đóng góp của phái đoàn liên hữu trong thời gian ở Việt Nam.
Viên trung úy Mỹ đã phát biểu đáp lại, trong đó vẫn nhớ mãi câu gây ấn tượng sâu sắc, mà sau này khi Mỹ tham gia vào chiến tranh Việt Nam, tôi vẫn cứ suy nghĩ mãi. Ông ta nói: “Vâng, chiến tranh nay đối với chúng tôi đã kết thúc, nhưng đối với các ông là bắt đầu một cuộc chiến tranh mới, sẽ vô cùng gian khổ, ác liệt, nhưng tôi tin tưởng và chúc các ông lại giành được thắng lợi”.
Sân bay Lũng Cò là sân bay đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do chính Bác Hồ chỉ đạo xây dựng. Đến năm 1949, Bác lại chỉ đạo xây dựng sân bay Soi Đúng ở Chiêm Hóa, Tuyên Quang.
Nếu sân bay Lũng Cò mở ra thời kỳ mới cho hoạt động hàng không quốc tế và để lại dấu ấn về những mối quan hệ ngoại giao, quân sự ban đầu với Mỹ, thì sân bay Soi Đúng mở ra giai đoạn đầu cho sự ra đời của Quân chủng Không quân Việt Nam anh hùng, mà đối thủ lớn nhất lại chính là Không quân và Hải quân Mỹ.
Trong ráng chiều hoàng hôn, tôi đứng nhìn về dãy núi Hồng xa xa, cảm nhận sâu sắc tầm nhìn chiến lược của Bác Hồ, bồi hồi xúc động nhớ về những bạn chiến đấu cũ, các anh chị em bộ đội, dân công đã tham gia xây dựng sân bay. Tôi vẫn như thấy trước mắt không khí náo nức của những tháng ngày kháng chiến, khi bộ đội và nhân dân đã xây dựng nên sân bay, đón những chuyến bay đầu tiên cất và hạ cánh.
| Ông Lê Giản (1913-2003) là Giám đốc Nha Công an Bắc Bộ, Giám đốc Việt Nam Công an vụ từ 1946-1952, sau chuyển sang là Phó chánh án Tòa án nhân dân Tối cao đến khi về hưu. Bài do ông viết tay năm 1995. |
Lê Giản
(Tiêu đề và tiêu đề phụ do VietNamNet đặt)
A Stroll Along Saigon’s Tet Flower Streets in the 1960s
Flowers never go out of fashion.
Along with banh tet, fireworks and red envelopes filled with lucky money, no visual represents the Tet holiday in Vietnam more than fresh flowers. Symbolizing wealth and passionate love, they adorn alters and tables as colorful manifestations of the joy that the Lunar New Year ushers into people’s homes.

In Saigon, the ochna integerrima (Vietnamese mickey-mouse plant) are most common thanks to their preference for hot, sunny climates, while the north’s gloomy growing season ushers in peach flowers and marumi kumquat. Farmers in the Mekong Delta fastidiously tend to the plants for months in the lead-up to the holiday, and to meet demand, Vietnam has even taken to importing them from abroad.
For decades, temporary flower markets have opened in response to every household’s desire to purchase the verdant delights. In these photos taken in the 1960s, one can observe Saigon’s stylish citizens mingling with vendors at one such market. The holiday atmosphere provides an opportunity for shoppers to wear their snazziest outfits and pose for photos amongst the rows of flowers.
Continue reading A Stroll Along Saigon’s Tet Flower Streets in the 1960s
A Look Back at Tết in Hanoi 100 Years Ago
It is easy to remark on how drastically Tết has changed over the years, but have the core elements really evolved that much?
For many, this most recent Tết probably included meeting friends at fancy bubble tea shops, snacking on junk food in front of Netflix, spending countless hours on social media, and perhaps even traveling to luxury resorts.
Certainly, none of these activities were available to Hanoi residents 100 years ago, but like today, a century ago markets bustled in the days leading up to the holiday, and then the streets emptied; people spent hours preparing special dishes and dressing up for photos and to honor their ancestors; and families spent hours leisurely strolling the streets or lounging in living rooms.
Have a look at these photos below and question how different the Lunar New Year in Hanoi was a century ago:

The bustling market leading up to the holiday.
19-1: Hướng về Hoàng Sa, máu thịt của Tổ quốc
PLO – Tân Việt – 19/01/2022 – 16:53
Đòi công lý cho Hoàng Sa là điều rất chính đáng và được đặt ra thường xuyên, đòi hỏi sự chung tay góp sức của mỗi người dân Việt Nam.
Ngày này 48 năm trước (19-1-1974), Trung Quốc (TQ) đã dùng vũ lực chiếm đóng trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam (VN). Nhân sự kiện này, báo Pháp Luật TP.HCM có cuộc trao đổi với ông Võ Ngọc Đồng, Giám đốc Sở Nội vụ TP Đà Nẵng kiêm Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa.
Chủ tịch huyện Hoàng Sa nói: “Ngày này, cả nước hướng về Hoàng Sa như cuộc hành hương về lòng yêu nước và nỗi nhớ về một vùng lãnh thổ đang bị TQ chiếm đóng”.

Continue reading 19-1: Hướng về Hoàng Sa, máu thịt của Tổ quốc
Hồi hương cổ vật: Làm gì để những báu vật quay về?
TRẦN ĐỨC ANH SƠN 13/1/2022 6:00 GMT+7
TTCT – Vô số các cổ vật quý giá của Việt Nam đang lưu lạc ở những bảo tàng và bộ sưu tập tư nhân khắp thế giới, đã tới lúc cần có một sách lược tổng thể để “hồi hương” những di vật đó.

Ngày 11-12-2021 báo Ngày Nay đăng bài “Tượng Quan Âm độc nhất vô nhị Việt Nam sắp ‘hồi hương’ nhờ công nghệ số”, phản ánh việc pho tượng Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm, được tạo tác từ thế kỷ 19 và xuất xứ từ chùa Báo Ân ở Hà Nội, nhưng nay là tài sản của Bảo tàng Guimet ở Paris (Pháp), sắp được “hồi hương” bằng phiên bản in 3D.
Vì bản gốc tượng không thể hồi hương, nên bài báo coi việc hồi hương bản sao là một thành công. Trong khi đồng ý với nhận định đó, tôi vẫn lấy làm tiếc và buồn trước câu hỏi không thể không đặt ra: Tại sao chúng ta không tìm cách hồi hương bản gốc các cổ vật Việt Nam đang lưu lạc ở nước ngoài?
Continue reading Hồi hương cổ vật: Làm gì để những báu vật quay về?
Cổ Loa: Liệu có thể cứu vãn?
TS – 19/06/2018 07:30 – Hảo Linh
Có lẽ, hầu hết người Việt Nam đều thuộc nằm lòng truyện An Dương Vương và Mỵ Châu Trọng Thủy, vốn là bài học được nhắc đến nhiều lần trong sách Ngữ Văn và sách Lịch sử phổ thông. Nhưng Thành Cổ Loa, nằm cách Hà Nội chưa đầy 20 km, là nơi khởi nguồn của truyền thuyết từ 2300 năm trước, vẫn còn dấu tích kiến trúc độc đáo của Kinh thành năm xưa lại không nằm trong tâm trí của nhiều người Việt và du khách quốc tế đến Hà Nội.

Ảnh “Một thoáng Loa Thành” do Ban quản lý khu di tích Cổ Loa cung cấp.
Mỗi năm, khu di tích Cổ Loa đón khoảng 130 nghìn lượt khách (để tiện so sánh, cố đô Huế đón một triệu lượt khách trong ba tháng) nhưng chỉ tập trung vào những ngày xung quanh thời điểm Lễ hội Cổ Loa diễn ra vào tháng Giêng. Hơn nữa, mang trong mình những huyền sử đầy bi tráng và lãng mạn, đậm chất Phương Đông, nhưng kì lạ là, nếu tìm kiếm trên mạng Internet, Cổ Loa chỉ có một bài review Tiếng Anh duy nhất trên trang blog du lịch Rusty Compass, được lập ra bởi một người Úc yêu Đông Nam Á đang ở Việt Nam, Mark Bowyer. Mark viết rằng, Cổ Loa được ít người biết đến một cách đáng kinh ngạc, và anh là khách du lịch duy nhất trong hai lần đến thăm.
TS. Richard A. Engelhardt, nguyên là chuyên gia tư vấn khu vực về Văn hóa vùng Châu Á Thái Bình Dương của UNESCO cho biết, lần đầu tiên đến Cổ Loa cách đây 20 năm, ông đã bị ấn tượng bởi kiến trúc thành nhiều lớp được tạo nên bằng đất, hệ thống hào và kênh mương, dựa trên hiểu biết về địa thế và sông nước, thể hiện tài năng quy hoạch địa hình đầy tiên tiến và đổi mới sáng tạo thời kì bấy giờ. Theo nhận định của ông, một nhà Nhân học, Khảo cổ và Lịch sử học tốt nghiệp tại Đại học Yale và Harvard, Mỹ, đó là một công trình độc nhất vô nhị, dung hòa được cả mục đích quân sự và dân sinh, mang tính tiên phong và có ảnh hưởng trên khắp các công trình kiến trúc quân sự và quy hoạch của khu vực Đồng Bằng Sông Hồng và phía Nam Trung Quốc sau đó. Lúc bấy giờ, ông ngạc nhiên về sự nguyên vẹn của ba vòng thành của Cổ Loa và đường nét của nó vẫn có thể thấy rõ trên thực địa, sau hơn 2000 năm. Nhưng vào thời điểm cách đây hai năm khi quay trở lại thăm một lần nữa, ông vô cùng thất vọng bởi những gì mình chứng kiến trước đó đã xuống cấp thê thảm, đến mức không còn nhận ra hình dáng của ba vòng thành nữa trước quá trình hiện đại hóa ở vùng quê này.
Cổ Loa có số phận khá long đong, lận đận cả về mặt được công nhận giá trị, công tác quản lý cho đến quy hoạch. Được Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa công nhận là Di tích Quốc gia từ năm 1962 nhưng đến mãi gần đây, năm 2012, Cổ Loa mới được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt, có giá trị về Lịch sử, Kiến trúc nghệ thuật và Khảo cổ. Trước năm 1995, Cổ Loa được quản lý bởi chính quyền địa phương. Sau đó, được chuyển qua nhiều đơn vị quản lý, từ Ban Quản lý Di tích – Danh thắng thuộc Sở Văn hóa đến Trung tâm Bảo tồn di tích Cổ Loa – Thành cổ Hà Nội (hiện là Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội) nhưng phụ trách trực tiếp chỉ là một tổ trong một phòng với quyền hạn vô cùng khiêm tốn. Đến năm 2014, Ban Quản lý khu di tích Cổ Loa mới được thành lập, là đơn vị hành chính cấp hai trực thuộc Trung tâm Bảo tồn di sản Thăng Long – Hà Nội. Sau hai năm được công nhận là Di tích Quốc gia đặc biệt, Thủ tướng đã phê duyệt quy hoạch tổng thể Khu di tích Cổ Loa thành Công viên Lịch sử – Sinh thái – Nhân văn với tỉ lệ 1/2000. Để thực hiện qui hoạch này thì công việc tiếp theo là phải triển khai lập quy hoạch chi tiết 1/500 để có cơ sở cắm mốc bảo vệ di tích. Ban đầu, Trung tâm được giao lập qui hoạch “Vùng lõi” (tức vùng trung tâm di tích) nhưng đến năm 2017, nhiệm vụ lập qui hoạch chi tiết cho toàn bộ Khu di tích đã được Thành phố giao cho tập đoàn Bất động sản Sun Group thực hiện.
Khi ban quản lý không thể bảo vệ di tích
Một đoạn thành Nội đang bị san phẳng chỉ vài ngày trước khi chúng tôi đi Cổ Loa thực địa. Trước thực trạng này, TS Trịnh Hoàng Hiệp, Viện Khảo cổ học Việt Nam kiến nghị: “Cần tiến hành bảo vệ và khai quật khẩn cấp với những đoạn thành đang bị phá”. Ảnh: Hảo Linh.
Điều gì là giá trị lớn nhất của Cổ Loa mà từ trước đến nay đều bị đánh giá một cách sai lầm trong các quy hoạch?
Đến thăm Cổ Loa, đa số du khách thường chỉ tập trung tham quan ở “vùng lõi”, thuộc khu vực Thành Nội, với các địa điểm nổi bật như Đền Thượng thờ An Dương Vương, Hồ Giếng Ngọc, đình Ngự Triều, am thờ Mỵ Châu, … Và, không ngạc nhiên, quy hoạch chi tiết cũng ưu tiên khu vực này và Ban quản lý khu di tích chỉ được phép phụ trách các địa điểm trên, cùng vài khu đất gần trụ sở làm việc với tổng diện tích khoảng 04 ha. Trong khi đó, toàn bộ khu di tích Cổ Loa rộng gần 900 ha và ba vòng thành đất mà ông Lê Viết Dũng, Phó ban Quản lý (phụ trách) khu di tích Cổ Loa khẳng định rằng “đó mới là giá trị cốt lõi, là cái quý nhất ở đây” thì lại do chính quyền địa phương và người dân quản lý, (khai thác) không phải như với đối tượng là đất di tích mà như là đất đai thông thường. Vì thế, vì nhu cầu dân sinh, người dân canh tác trên thành, nuôi cá dưới hào, những hộ dân ở sát chân thành đã được cấp sổ đỏ, một số đoạn trên mặt thành được xẻ, làm thành đường nhựa cho xe cơ giới qua lại… Giờ đây, vòng thành nội đã gần như mất đi toàn bộ hình dáng, chỉ còn sót lại một vài ụ đất rải rác. Hào trong Thành Nội thì đã được lấp để xây nhà và đường hoặc không thì cây và cỏ dại mọc um tùm. Còn hai vòng Thành Trung và Thành Ngoại, mặc dù vẫn còn nguyên đường nét nhưng không còn giữ được độ cao như trước (chiều cao gốc của thành là từ 7-8m, có nơi có thể lên tới 10m, nhưng giờ đây chỉ còn là 3m trở xuống, có nơi chưa đầy 1m) còn hào thì được trưng dụng để làm diện tích trồng lúa. Đó còn chưa kể, các di tích khảo cổ học (chẳng hạn như di chỉ Đồng Vông ở trên doi đất bên sông Hoàng hết sức quan trọng, thể hiện các giai đoạn khảo cổ học phát triển liên tục từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn) đều đang trên bờ vực xóa sổ vì các công trình dân sinh.
Hơn nữa, nhìn thấy những “vi phạm” trên, Ban quản lý di tích chỉ có chức năng “kiểm tra, phát hiện và báo cáo” chứ không được xử phạt. Gửi báo cáo và góp ý nhiều lần nhưng ý kiến của Ban quản lý thường không được lắng nghe. Một ví dụ nhỏ, đó là Cửa Trấn Nam – một điểm rất quan trọng của di tích, bị che khuất hoàn toàn bởi hàng quán. “Tôi đã làm việc với lãnh đạo xã nhiều lần, kể cả đã phát biểu trong một số cuộc họp trên huyện, đề nghị ủy ban nhân dân xã lưu ý dẹp hàng quán, giao cho ai đó quản lý, có thể giao cho thôn, mà nếu khó khăn thì giao cho chúng tôi. Thì hiện nay nó vẫn cứ như thế thôi. Lời nói vẫn cứ như là viên gạch ném xuống hồ” – ông Dũng nói.
Có một cách trao thêm quyền cho Ban quản lý di tích mà không chồng chéo lên nhiệm vụ của các cơ quan chức năng khác đó là tham gia giám sát độc lập việc xây dựng, thi công trong khu vực Cổ Loa, theo đó bất cứ công trình nào cũng chỉ được triển khai sau khi xin ý kiến và được Ban quản lý chấp thuận. Đó là gợi ý từ quy chế Quản lý, Bảo tồn Phố cổ Hà Nội, mà ông Lê Viết Dũng là người viết Đề án thành lập Ban Quản lý Phố cổ Hà Nội vào năm 1997. Tuy nhiên, điều đáng nói là sau khi công bố Qui hoạch Tổng thể 1/2000 thì Qui chế Quản lý qui hoạch, trong đó có xác định trách nhiệm của từng cơ quan vẫn chưa được ban hành.
“Vừa làm vừa dò dẫm”
Một đoạn thành nội đã bị một nhà dân san lấp và xây nhà ở. Ảnh: Bảo Như.
Khi chưa có quy hoạch chi tiết 1/500, mọi hoạt động bảo tồn di tích cổ Loa đều bị ngưng trệ. Là một người nhiệt tình với việc bảo vệ di sản và “đau xót” với Cổ Loa từ cách đây hơn 20 năm lúc còn làm trong Ban quản lý Phố cổ Hà Nội, khi đến với Ban quản lý di tích Cổ Loa cách đây hai năm, ông Dũng “ngay trong tuần đầu tiên” đã đề ra một số việc cần làm ngay, trong số đó là làm biển chỉ dẫn cho khách tham quan đi từ các tuyến đường chính vào Khu di tích Cổ Loa và đi khắp các vòng thành. Ngay cả khi huy động được nguồn vốn xã hội hóa, ý tưởng đơn giản này cũng không dễ thực hiện, vì các doanh nghiệp đầu tư, tài trợ sẽ e ngại một khi biết rằng sẽ có một tập đoàn khác tiếp quản khu vực. Ông Dũng kể lại: “Từ khi tôi mới về đây tôi đã phát tín hiệu với rất nhiều người, anh em bạn bè chiến hữu, những người có quan tâm đến di tích, thậm chí là những nhà đầu tư. Nhưng khi đến đây tìm hiểu xong thì họ đều lặng lẽ không thấy quay trở lại bởi vì họ đã biết là khu này rồi sẽ được giao cho ai, rồi làm gì, xu thế như thế nào.”.
“Hiện tại các công việc mà chúng tôi làm vẫn trong tình trạng là vừa làm vừa dò dẫm, vừa nghe ngóng chứ chả dám làm gì lớn” – ông Dũng nói và cho rằng Ban quản lý di tích đang huy động bằng tất cả những gì có thể khai thác được để quảng bá di tích đến với mọi người. Họ cũng đề xuất kế hoạch quản lý di tích đến năm 2020, bản kế hoạch đã hoàn chỉnh qua nhiều lần lấy ý kiến của người dân, của các sở, ngành, chính quyền xã, huyện và cấp lãnh đạo cao nhất của Thành phố nhưng đến nay còn đang chờ Thành phố phê duyệt thì mới có kinh phí. Tuy nhiên, đó chỉ là hoạt động quản lý thường xuyên còn chiến lược phát triển Cổ Loa vẫn là câu chuyện quy hoạch, đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên (bao gồm nhà khoa học, doanh nghiệp, các cấp chính quyền) với một sự cam kết lớn. Hiện nay, Ban quản lý di tích cũng chưa được biết Sun Group có “động tĩnh” gì về qui hoạch 1/500 hay chưa.
Lợi thế chưa thể đánh thức
Một đoạn Thành Nội đã bị xẻ đôi để làm nhà ở từ nhiều năm nay. Ảnh: Hảo Linh.
Cổ Loa bây giờ vẫn giữ được không khí thanh bình của làng quê Việt Nam với hàng chục ngôi nhà cổ, mỗi xóm đều có điếm, trong số đó nhiều nơi có kiến trúc và không gian đẹp và nếp sinh hoạt truyền thống gắn với nghề trồng lúa. Tuy nhiên, người dân nơi đây chưa có ý định biến những đặc trưng này thành lợi thế du lịch. Ban đầu, họ còn không dành nhiều thiện cảm cho Ban quản lý di tích. Khi Ban quản lý di tích tạo lập Không gian Việt – một chỗ vui chơi cho người tham quan, giới thiệu về văn hóa Việt và tổ chức các trò chơi dân gian trên nền của khu trường cấp II cũ (do Ban đang quản lý) đã chịu sự phản đối kịch liệt của người dân mà đại diện là Hội người cao tuổi xã Cổ Loa, họ cho là “xẻ thịt di tích”. Đối với chính quyền địa phương cũng vậy, lúc đầu cũng tưởng Ban quản lý khu di tích sử dụng vào mục đích kinh doanh thu lợi. Phải mất nhiều thời gian mới có thể thuyết phục được họ.
Đánh thức tiềm năng của Cổ Loa đòi hỏi việc xây dựng ý thức của cộng đồng, để người dân tham gia vào làm du lịch là điều không hề đơn giản đối với ban quản lý. Ông Dũng mong ước có thể tổ chức những buổi nói chuyện hằng tuần về phát huy giá trị di sản, về du lịch cộng đồng cho những người dân trong xã Cổ Loa nhưng ý định này chưa nhận được được sự quan tâm của các cấp quản lý.
Từng có kinh nghiệm bảo tồn phố cổ Hà Nội, ông Dũng cho biết, một tác động lớn mà khu phố cổ này trở nên nổi tiếng và sôi động trong một thời gian ngắn là nhờ một loạt các dự án nghiên cứu và truyền thông của các tổ chức nước ngoài (từ Thụy Điển, Úc, Pháp, Bỉ và Nhật Bản) trong nhiều năm liền đã làm thay đổi nhận thức người dân qua việc treo paneau, áp phích khắp các đường phố cho đến trao đổi trong các cuộc họp tổ dân phố. Làm về quản lý di sản hơn 20 năm, ông Dũng quá rõ quá trình từ ý tưởng đến thực tế trong lĩnh vực này đòi hỏi sự kiên nhẫn như thế nào (ông đã chứng kiến việc nhỏ như chỉnh trang mặt phố và lát gạch trên đoạn ngắn phố cổ Tạ Hiện ở Hà Nội theo nghiên cứu bảo tồn của chuyên gia người Pháp phải mất gần mười năm mới có thể hoàn thành) nhưng hiện nay số phận của khu di tích Cổ Loa đang hết sức mong manh: “tốc độ di tích bị hủy hoại càng ngày càng lớn và điển hình trong mấy tháng trước, chỉ cần một ca máy xúc là đã đi một đoạn thành rồi” – ông Lê Viết Dũng nói.
Bảo tồn Khu di tích Cổ Loa không chỉ là việc của Ban quản lý khu di tích, của người dân, của chính quyền mà còn là của tất cả các cơ quan trong hệ thống chính trị cũng như các doanh nghiệp, các nhà Khoa học, … và của tất cả những người yêu nước Việt, yêu văn hoá Việt và có trách nhiệm với truyền thống lịch sử của Tổ tiên người Việt. – ông Lê Viết Dũng.
Replica history complex inspires young students
VNN – November, 28/2021 – 09:17|
A corner of the complex in theTrần Mai Ninh Secondary School. VNA Photos Khiếu Tư
By Nguyễn Bình
Newly built replicas of relic sites and landscapes at the Trần Mai Ninh Secondary School are making history and geography classes more vivid for junior students in the central province of Thanh Hoá.
Autumn sunlight is spread out over the replica complex in the schoolyard inspiring students to learn a new subject — location education.
Continue reading Replica history complex inspires young students
Bình Quới – Khúc đường Thiên lý bị bỏ quên
PHẠM HOÀNG QUÂN 27/11/2021 6:10 GMT+7
TTCT – Đâu là con đường Thiên lý từ thành Gia Định ra bắc? Các nghiên cứu trước giờ chỉ nói vắn tắt, chung chung và nói sai cũng nhiều.

Đã có nhiều bài viết vắn dài nói về đường Thiên lý hay còn gọi đường quan, đường cái quan, xuyên Việt nói chung và ở thành Gia Định nói riêng.
Tổng thể và đại khái thì thành Gia Định thời Nguyễn ứng với cả miền Nam, nên ba con đường huyết mạch thuộc khu vực trung tâm đầu não Sài Gòn – Gia Định này tỏa đi gồm: Đường đi theo hướng bắc đến Biên Hòa, Bà Rịa để nối đường trạm ra Huế; đường theo hướng nam đến Định Tường; và đường theo hướng tây đến Quang Hóa sang Cao Miên.
Mũ quan triều Nguyễn và gian nan “hồi hương” của cổ vật lưu lạc

LĐ – Chiếc mũ quan triều Nguyễn đã không thể trở về Việt Nam khi kết thúc cuộc bán đấu giá vào tối 28.10. Lần này, Thừa Thiên Huế lại bỏ qua cuộc đấu giá chiếc mũ quan triều Nguyễn còn nguyên vẹn nhất từ trước tới nay ở Tây Ban Nha, cũng như cách đây 11 năm Thừa Thiên Huế từng bỏ lỡ trong cuộc đấu giá mua bức tranh “Chiều tà” của vua Hàm Nghi tại Pháp vì không đủ tiền. Và mũ quan triều Nguyễn, lần nữa cho thấy con đường “hồi hương” của cổ vật lưu lạc xứ người vô cùng lận đận.
Continue reading Mũ quan triều Nguyễn và gian nan “hồi hương” của cổ vật lưu lạc
Đại tướng Võ Nguyên Giáp ‘vắng mặt’ trong sách giáo khoa – 2 kỳ
Đại tướng Võ Nguyên Giáp ‘vắng mặt’ trong sách giáo khoa – Kỳ 1: Sách giáo khoa ‘bỏ quên’ Đại tướng!
TN – 08:00 – 21/10/2013
Sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để lại sự xúc động mạnh mẽ đối với hàng triệu đồng bào. Các học sinh, sinh viên, thanh niên, thiếu nhi đã dành những tình cảm thiêng liêng đối với Đại tướng. Với họ, ông không chỉ là một vị tướng tài mà còn là một tấm gương về lòng yêu nước, sự giản dị và đức hi sinh. Ông chính là những bài học lịch sử gần gũi và sinh động nhất.
![]() |
Điều đáng ngạc nhiên là nhân vật lịch sử rất đặc biệt này lại không hề có mặt trong các sách giáo khoa (SGK) Lịch sử ở phổ thông. “Lỗ hổng” ấy, xuất phát từ nhiều nguyên nhân lịch sử, cho thấy một lối biên soạn SGK có nhiều khiếm khuyết và đấy chính là một trong những nguyên nhân khiến học sinh không hứng thú với các bài học lịch sử.
Cuộc kháng chiến chống Pháp, với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, rồi tới kháng chiến chống Mỹ kết thúc bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đều hiện diện trong SGK. Nhưng tại sao tên tuổi, cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng tư lệnh quân đội đã có những đóng góp quan trọng trong các chuỗi sự kiện lịch sử ấy, lại hoàn toàn vắng bóng?
Continue reading Đại tướng Võ Nguyên Giáp ‘vắng mặt’ trong sách giáo khoa – 2 kỳ
Chúa Sãi và tự do thương mại
MTG – 21/07/2016, 20:37
Sự thịnh vượng của Sài Gòn, có thời được thế giới vinh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông, có thể nói xuất phát từ một nguyên nhân căn bản : tự do thương mại. Tư tưởng tự do thương mại, từ đó dẫn đến sự thịnh vượng của Sài Gòn, khởi nguồn từ tầm vóc của một con người vĩ đại: Chúa Sãi.

Một góc Hội An
Chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên – 1563-1635) để lại nhiều di sản đồ sộ cho dân tộc, trong đó có 3 di sản bất diệt mà hễ ai là người Việt Nam đều không được phép quên: Đem Sài Gòn và Nam bộ về cho Tổ Quốc một cách hòa bình, xác lập và thực thi chủ quyền đối với Hoàng Sa-Trường Sa (cùng các hòn đảo khác trên biển Đông) và đặt nền móng đầu tiên cho một nền kinh tế thị trường.
Vua Minh Mệnh và tự do ngôn luận
MTG – 17/05/2016, 04:48
Một trong những điểm lạ lùng độc đáo của vua Minh Mệnh là chủ trương mà ngày nay chúng ta ghi trong Hiến Pháp : tự do ngôn luận. Quốc sử quán triều Nguyễn khi biên soạn bộ Minh Mệnh chính yếu đã dành hẳn một thiên, gọi là “Quảng ngôn lộ”, nghĩa là mở rộng đường ngôn luận.

Dưới sự trị vì của vua Minh Mệnh, nước Việt ta không những là quốc gia có cương thổ rộng lớn nhất trong lịch sử dân tộc, bao gồm đất liền và biển đảo, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa, mà còn là quốc gia cường thịnh nhất ở châu Á thời bấy giờ, vượt xa cả Nhật Bản.




