Tag Archives: Học tiếng Anh – Learning english

Heaven & Earth (1993)

Dear brothers and sisters,

This is an emotional film. You can watch the film’s introduction below. I’ll just share my feelings about the film and the score.

Right from the first minutes of the film, I saw images of vast rice fields and low mountains that looked quite familiar to me. I thought of the fields in Ngu Hanh Son mountains, across the Han River, in my hometown Da Nang, although until I visited this place when I was in high school, there weren’t many rice fields left. And it’s true that the film was set in Ngu Hanh Son because the main character was born and raised here. Coincidentally, the main actress was also from Da Nang. Continue reading Heaven & Earth (1993)

John

Series on John:
(0)(1)(2)(3)(4)(5)(6)(7)(8)(9)(10), (11),
 (12)(13)(14),(15)(16)(17)(18), (19), (20), (21), (final)

Chào anh chị em,

Mình đã viết rẩt nhiều về Phật pháp trong các bài trà đàm, và sẽ tiếp tục như thế. Minh là luật sư tranh tụng, tập trung vào lý luận trước tòa để thắng, và Phật pháp có trình độ lý luận siêu việt, nên mình thích nói về Phật pháp.

Tuy nhiên mình cũng muốn công bình và phong phú cho các bạn, nên mình muốn viết và gửi đến các bạn một chút về Thánh kinh Kitô giáo (Công giáo, Chính thống giáo và các nhánh Tin lành) với Do thái giáo là gốc rễ đầu tiên. Do thái giáo là một nửa đầu của Thánh kinh Kitô giáo, gọi là Cựu Ước, lời hứa hẹn cũ của Chúa – Thượng đế, Yahweh, YHWH, Adonai, Elohim – với Abraham là sẽ đưa con cháu của Abraham về vùng Đất Hứa. Tân Ước là nửa sau của Thánh kinh Kitô giáo là lời hứa hẹn của Chúa Giêsu (Jesus) cứu rỗi loài người.

Continue reading John

Mad about the boy – Điên vì chàng

Chào các bạn,

Đây là bài hát nổi tiếng với lời và nhạc của diễn viên kiêm nhà viết kịch Noël Coward, phát hành năm 1932, nói về tình yêu không được đáp lại dành cho một ngôi sao điện ảnh.

60 năm sau, vào năm 1992, bài hát này lại trở nên nổi tiếng khi phiên bản của Dinah Washington được dùng trong quảng cáo truyền hình “Swimmer” của Levi, do Tarsem Singh đạo diễn.

Chúc các bạn ngày vui. Continue reading Mad about the boy – Điên vì chàng

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (14)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

IV.  Năng lực của Bát Nhã đem đến Giác ngộ 

Trong câu mở đầu, chúng ta có Bồ tát Quán Tự Tại vượt qua mọi khổ ách nhờ thực hành Bát Nhã. Bây giờ trong phần kết thúc, chúng ta trở lại với năng lực của Bát Nhã đem đến giác ngộ. 

Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố vô hữu khủng-bố; viễn ly điên-đảo mộng tưởng; cứu cánh Niết-bàn. 

(Bởi chẳng có gì để đạt, Bồ tát nương tựa Bát nhã ba la mật đa, nên tâm không vướng mắc; vì không vướng mắc nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, rốt ráo niết bàn).

Continue reading Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (14)

Summer – Joe Hisaishi

Dear brothers and sisters,

Because I love this song, I have introduced it several times. Each time with my different feeling. This time is the same.

This time the song shows me children playing in the sunny and windy summer. They jump, they laugh, they run… They are so happy. They make me happy too. Continue reading Summer – Joe Hisaishi

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (13)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

Nhưng tại sao phủ nhận tất cả mọi giáo lý? Sự phủ nhận này có ý nghĩa gì?

Chúng ta cần nhớ rằng, trong Bát Nhã, phủ định và khẳng định là một—sắc tức thị không, không tức thị sắc; phủ định là khẳng định, khẳng định là phủ định. Và như ta đã thấy Bát Nhã khẳng định tất cả mọi thứ như chính nó là (Bát Nhã affirms every thing as it is).

Continue reading Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (13)

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (12)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

Vô khổ tập diệt đạo. 

(Chẳng có khổ, nguyên nhân khổ, sự diệt khổ, và con đường diệt khổ.) 

(There is no suffering, no cause of suffering, no extinction of suffering, no path to extinction of suffering.) 

Đây là sự phủ nhận những giáo lý cơ bản quan trọng nhất trong tất cả các giáo lý Phật pháp: Tứ Diệu Đế (The Fourth Noble Truths) và Bát Chánh Đạo – the Noble Eightfold Path. 

Tứ diệu đế (The Four Noble Truths) là bốn sự thật cơ bản về đời sống: khổ tập diệt đạo (khổ, nguồn gốc của khổ, chấm dứt khổ, con đường dẫn đến chấm dứt khổ). Tứ Diệu Đế là giáo lý đầu tiên Đức Phật giảng dạy sau khi Người đạt giác ngộ, được viết trong Kinh Chuyển Pháp Luân (Dharma-Wheel Turning Sutra). 

  1. Khổ (Suffering): Đời chất chứa khổ đau. Một cách tổng quát, chúng ta có thể phân chia khổ thành khổ về thể xác và khổ về tinh thần. (a) Khổ về thể xác bao gồm sinh ra, già, bệnh, và chết (sinh lão bệnh tử). (b) Khổ về tinh thần bao gồm mất đi những gì ta thương yêu, gặp phải những gì ta ghét, và muốn những gì không có được. (c) Tuy nhiên, cũng có cái khổ gồm tất cả các nỗi khổ khác gộp lại – đó là cái khổ đến từ “chấp vào bản ngã” như một bản thể thường hằng vĩnh cửu. Tất cả chúng ta có thể tưởng tượng được một người sống như không bao giờ chết thì sẽ đau khổ như thế nào. 
Continue reading Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (12)

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (11)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

Nếu không có bản ngã thường hằng (vô ngã, non-self, no permanent self), vậy thì cái gì sẽ tái sinh nhiều lần, sống qua nhiều kiếp sau khi chết? 

Luân hồi (samsara) và tái sinh (reincarnation) được giảng dạy trong Ấn giáo (Hinduism) trước khi Phật giáo xuất hiện. Trong Ấn giáo, mỗi con người có một linh hồn bất tử hay Tiểu ngã (tự ngã, Atman). Linh hồn này vẫn tồn tại sau cái chết và lại tái sinh vào kiếp sống mới, tùy theo nghiệp của người đó (karma). Nghiệp là kết quả những hành động của mỗi người và là nguồn lực quyết định tái sinh. Vòng tuần hoàn sinh-chết-tái sinh là luân hồi  (samsara). Khi một người đạt được tâm linh tinh khiết, người đó có được sự cứu rỗi và sẽ không bị tái sinh nữa. Khi đó, Tiểu ngã (linh hồn, Atman) của người đó hòa nhập cùng với Đại ngã (Brahman, Cái Toàn Thể, Một, Thượng Đế, the One, God) vĩnh viễn. 

Continue reading Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (11)

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (10)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

Vô vô minh, diệc vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. 

(Chẳng có vô minh, cũng chẳng có chấm dứt vô minh; cho đến chẳng có già chết, cũng chẳng có chấm dứt già chết.) 

(No ignorance or ending of ignorance, up to and including no old age and death or ending of old age and death.) 

Ở đây, một giáo lý Phật giáo quan trọng khác bị phủ nhận —Thập Nhị Nhân Duyên (mười hai nhân duyên, the twelve links of cause and effect, or Law of Causation). Như chúng ta đã đề cập trước đây, mọi thứ đến và đi do nhân duyên. Thập nhị nhân duyên liệt kê mười hai nhân duyên để giải thích làm sao mà vô minh gây ra tuổi già, bệnh tật và cái chết, những cốt lõi của khổ đau. Thập Nhị Nhân Duyên cũng còn được gọi là duyên khởi hay duyên sinh (birth from law of causation, hay là dependent origination). 

Continue reading Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (10)

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (9)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý-thức-giới. 

(Cho nên, trong không chẳng có sắc, chẳng có thọ, tưởng, hành, thức; chằng có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; chẳng có màu sắc, âm thanh, hương thơm, vị nếm, xúc cảm, các pháp; chẳng có nơi để nhìn, cho đến chẳng có nơi để ý thức.) 

(Therefore, in emptiness there is no form, feeling, cognition,  formation, or consciousness; no eyes, ears, nose, tongue,  body, or mind; no sights, sounds, smells, tastes, objects of  touch, or dharmas; no field of the eyes, up to and  including no field of mind-consciousness). 

Từ câu này trở đi, Bát Nhã giới thiệu một bản liệt kê tất cả những giáo lý cơ bản mà chính Đức Phật đã thuyết giảng. Những lời giảng này là nền tảng của Phật giáo, tạo nên Phật giáo. Tuy nhiên, Bát Nhã Tâm Kinh bắt đầu phủ nhận mọi lời giảng, từng lời một.

Tại điểm này, chúng ta cần lưu ý những điểm sau:

Continue reading Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (9)

Helichrysum flowers

Sapa corner

Dear Brothers and Sisters,

Can you guess what flower does not fade in colour? 

That was the question my cousin asked me when I was little. To look for the answer, I tried to think about all types of flowers that I had known, but I still had no clue.

Finally, my cousin showed me a bouquet of beautiful dried flowers. She said they were helichrysum flowers. The flowers didn’t lose their colours, despite their leaves and stems withering. This fact truly blew my mind. I couldn’t believe there was such a flower. Since then, the helichrysum has become one of my favorite flowers.  

Continue reading Helichrysum flowers

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (8)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

III.  Phần triển khai về Bát Nhã 

Như chúng ta đã đề cập trên đây, hai câu đầu của Bát Nhã Tâm Kinh tóm tắt toàn bộ tinh thần Bát Nhã. Những câu sau triển khai thêm về Bát Nhã.

Xá-Lợi-Tử! Thị chư Pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. 

(Xá Lợi Tử, mọi sự đều là không, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng tăng chẳng giảm.) 

(Shariputra, all dharmas are emptiness.  They are not born, not destroyed, not defiled, not pure, and they neither increase nor diminish). 

Đây là lần thứ hai và lần cuối cùng Xá-Lợi-Tử được nhắc đến trực tiếp bằng chính tên ngài trong Bát Nhã Tâm Kinh. Lần này để chỉ sự chuyển biến quan trọng của Không từ con người đến tất cả mọi hiện hữu. Hãy nhớ lại câu đầu, chúng ta có ngũ uẩn giai không (five skandhas are emptiness) và ngũ uẩn biểu thị cho bản ngã con người. Trong câu này, chúng ta có chư pháp không tướng (all dharmas are emptiness). Chư pháp có nghĩa là tất cả các pháp, tất cả mọi thứ trong vũ trụ–cả vũ trụ của tâm ta cũng như vũ trụ bên ngoài. Như vậy, giờ đây Bát Nhã đã mở rộng lãnh địa của Không, nhằm xác quyết rằng chẳng những chỉ con người mà tất cả mọi thứ khác trong vũ trụ cũng đều là Không.

Xin nhớ lại, trước đây trong ví dụ về ta bước vào thế giới và chết, chúng ta đã nói rằng “Từ vũ trụ tôi đến, và trở về với vũ trụ, tôi ra đi”, và từ đó ta chuyển thành “Từ Không tôi đến, và trở về Không, tôi ra đi.” Chúng ta cũng có thể nói tương tự như vậy với tất cả những vật khác trong vũ trụ. Từ Không những ngôi sao đến, và trở về Không, những ngôi sao ra đi. Những ngôi sao được sinh ra từ Không và đến một lúc nào đó, những ngôi sao sẽ bùng vỡ và biến mất vào Không.  

Nhưng chính vũ trụ, mặc dù được xem như một ví dụ sinh động về Không, lại vẫn chưa hẳn là Không, bởi vì chúng ta vẫn còn nhìn thấy vũ trụ bằng mắt và bằng tâm trí mình – như vậy vũ trụ vẫn là pháp (dharma), chẳng phải Không. Chúng ta cần đẩy óc luận lý của mình xa hơn, đến tận cùng giới hạn của luận lý, đến cái tuyệt đối – mọi vũ trụ, cả vũ trụ bên ngoài và vũ trụ bên trong tâm trí, đến từ Không và ra đi trở về Không. Không là tuyệt đối, rộng lớn vô giới han, chẳng có biên giới, ta không thể suy nghĩ và ban luận (bât khat tư nghị. Không là bản thể chân thật của vạn vật, và vạn vật chỉ là một biểu hiện thoáng qua của Không, cũng như sóng chỉ là một biểu hiện nhất thời của nước. Không là tuyệt đối, bao trùm, và làm nền cho, mọi thứ ta có thể nghĩ đến hoặc không nghĩ đến, có thể thấy hoặc không thể thấy, mà ta gọi là tương đối, nằm trong tuyệt đối Không.

Ở đây chúng ta có thể thấy mối quan hệ giữa bản thể (substance) và hiện tượng”(phenomenon)   Nước là bản thể, sóng là hiện tượng. Bản thể và hiện tượng không phải là hai thứ khác nhau; bản thể và hiện tượng chỉ là hai cách khác nhau để nói về cùng một thứ. Sóng không khác với nước, nước không khác với sóng; nước là sóng, và sóng là nước. 

Tương tự như nước, Không là bản thể của mọi vật.  Và, tương tự như sóng, mọi vật là hiện tượng của Không.  Mọi vật chẳng khác với Không, Không chẳng khác với bất kỳ vật gì; mọi vật là Không, Không là tất cả mọi vật.

(Nhà Phật thường dùng chữ “tánh” để chỉ bản thể, và chữ “tướng” để chỉ hiện tượng.  Không là tánh của vạn vật.  Vạn vật là tướng của Không).  

Đứng trên bờ nhìn ra biển, nếu chúng ta nhìn vào sóng (tức là hiện tượng), chúng ta sẽ thấy rằng có những con sóng mới sinh ra, có những con sóng cũ tan biến đi, có những con sóng vẩn đục bùn, có những con sóng sạch trong, có những con sóng dâng cao, có những con sóng lụi tàn. Tuy nhiên, nước (tức là bản thể) vẫn chỉ là nước, luôn luôn ở đó, không sinh ra, không mất đi, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm. Vì thế, khi chúng ta nhìn tất cả mọi thứ trong vũ trụ, chúng ta thấy những cái đến rồi đi, cùng tất cả mọi chuyển động và biến đổi. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào bản thể của mọi vật, tức là nhìn vào Không, thì Không chỉ là Không, luôn luôn ở đó, không sinh ra, không mất đi, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm. Đó là ý nghĩa của câu “Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm.” (“Mọi sự đều là không, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng dơ chẳng sạch, chẳng tăng chẳng giảm.”)

Vậy là giờ đây chúng ta có định nghĩa về tính chất của Không: 

  1. Không là bản thể của mọi thứ trong vũ trụ (và mọi thứ trong vũ trụ là biểu hiện của Không). 
  2. Không là tuyệt đối – luôn luôn ở đó, không sinh, không diệt, không dơ, không sạch, không tăng, không giảm. 

Quan niệm về Không này có gì đó tương đồng như quan niệm về Thượng Đế trong các tôn giáo hữu thần, với một khác biệt quan trọng: Thượng Đế có một nhân cách tích cực và chủ động can thiệp vào đời sống con người và cuộc sống của vũ trụ, trong khi đó, Không thì trung tính tuyệt đối.

o0o

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (8)

Series A brief exposition on the Heart Sutra:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

III. Further expansion of Prajna 

As we’ve mentioned previously, the first 2 verses summarize the gist of prajna teaching.  The following verses are further expansion of prajna.   

Shariputra, all dharmas are emptiness.  They are not born, not destroyed, not defiled, not  pure, and they neither increase nor diminish.

This is the second and last time Saraputra is addressed directly by name in the Heart Sutra.  This time is to indicate the major shift of emptiness from human being to all things in existence.  Recall in the first verse, we have “five skandhas are emptiness” and five skandas indicates human being.  In this verse we have “all dharmas are emptiness.”  All dharmas means all things in the universe–both in the universe of the mind and in the external universe.  Thus, now prajna expands emptiness’s territory to affirm that not only human being but everything else in the universe is emptniess.

Recall, previously in the example of my coming into the world and death, we said “From the universe I come, and back to the universe I go,” and from that we changed to “From emptiness I come, and back to emptiness I go.”  The same thing can be said about everything else in the universe.  From emptiness the stars come, and back to emptiness the stars go.  Stars are born from emptiness, and in due time, stars burst and disappear back to emptiness. 

But the universe itself, although seen as a vivid example of Emptiness, is not really Emptiness, because we still see the universe with our eyes and with our minds – so the universe is still dharma, not Emptiness. We need to push our logic further, to the very limit of logic, to the absolute – all universes, both the outer universe and the universe within the mind, come from Emptiness and return to Emptiness. Emptiness is absolute, boundless, borderless, beyond our thinking and discussion. Emptiness is the true nature of all things, and all things are but a passing manifestation of Emptiness, just as waves are but a passing manifestation of water. Emptiness is absolute, encompassing, and underlying everything we can think of or cannot think of, can see or cannot see, which we call relative, lies within absolute Emptiness.

Here we can see the relationship between substance and phenomenon.  Water is the substance, wave is the phenomenon.  Substance and phenomenon are not two different things; substance and phenomenon are just two different ways to talk about the same thing.  Wave is not different from water, water is not different from wave; wave is water, water is wave.   

Similar to water, emptiness is the substance of everything.  And similar to wave, everything is the phenomenon of emptiness.  Every thing is not different from emptiness, emptiness is not different from anything; all things are emptiness, emptiness is everything. 

Standing on the beach to watch the sea, if we look at the waves (i.e., the phenomenon), we can see that some new waves are born, some old waves are destroyed, some waves are muddy, some waves are clean, some waves increase, some waves decrease.  However, the water (i.e., the substance) is just water, always there, not born, not destroyed, not dirty, not clean, not increasing, not decreasing.  Thus, when we look at all things in the universe, we see comings and goings and all kinds of movements and changes.  But if we look at the substance of all things, which is emptiness, then emptiness is just emptiness, always there, never born, never destroyed, never dirty, never clean, never increasing, never decreasing.  That is the meaning of the sentences:  “All dharmas are emptiness.  They are not born, not destroyed, not defiled, not pure, and they neither increase nor diminish.” 

So now we have the defining characteristics of emptiness:

  1. Emptiness is the substance of all things in the universe (and everything in the universe is the manifestation of emptiness).
  2. Emptiness is absolute—always there, never born, never destroyed, never dirty, never clean, never decreasing, never increasing.

This concept of emptiness here is somewhat similar to the concept of God in theist religions, with one major difference:  God has an active personality that actively engages in human life and the life of the universe, while emptiness is absolutely neutral.

o0o

© copyright 2025
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
http://www.dotchuoinon.com

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (7)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

Trung đạo của Phật giáo có khác với trung dung của Khổng giáo? 

Cả trung đạo và trung dung có thể được dịch là con đường chính giữa (middle way), nhưng chúng thực sự khác nhau. Trong Khổng giáo, trung dung là cách sống điều độ và hài hòa – chừng mực trong mọi thứ, gồm cả việc ứng dụng những quy tắc xử thế (nhân lễ nghĩa trí tín; humanity, respect, loyalty, wisdom, honesty)—nhằm tạo nên sự hòa hợp với người khác và với trời đất (heaven and earth). Nói một cách tổng quát, vị trí đứng giữa là một vị trí yêu thích của Trung Dung. 

Continue reading Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (7)

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (6)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

Nhưng, liệu triết lý sắc-không có liên quan gì đến cuộc sống của chúng ta không?

Có, triết lý sắc-không hàm chứa nhiều ngụ ý quan trọng giúp ta sống trong đời.

(1) Khẳng định cuộc sống: Ngôn ngữ liên tục phủ định của Bát Nhã—với trống, rỗng và không – khiến nhiều người hiểu lầm rằng Bát Nhã phủ nhận mọi thứ.  Nhưng nếu đọc kỹ Bát Nhã, ta sẽ thấy rằng Bát Nhã không phủ nhận bất cứ điều gì. Thực ra, Bát Nhã xác định mọi thứ trong cuộc sống. “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác sắc. Sắc tức là Không, Không tức là sắc”. Làm sao câu nói này lại có thể mang ý nghĩa phủ nhận bất cứ điều gì? Nó là lời khẳng định mạnh mẽ và rõ ràng về cả sắc và Không, hai  cực đoan hiển nhiên của đời sống. Vì thế, Bát Nhã xác nhận, một cách mạnh mẽ, cuộc đời và tất cả mọi sắc thái của cuộc đời.

Continue reading Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (6)

Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (5)

Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1)(2)(3)(4)(5)(6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.

 Nhưng tại sao Sắc và Không lại là một? Tại sao hai thứ rõ ràng đối nghịch nhau lại chỉ là một? 

Ở đây chúng ta cần đi vào “Tam Pháp Ấn” (Three Dharma Seals) để tìm câu trả lời. 

Pháp (dharma) là một chữ dễ gây lẫn lộn trong Phật giáo, bởi vì tùy theo trường hợp mà nó có nhiều ý nghĩa khác nhau. Ở đây chúng ta sẽ giới hạn chữ “pháp” trong hai ý nghĩa mà thôi. Thứ nhất, pháp có nghĩa là tất cả mọi thứ tinh thần và vật chất trong vũ trụ như cái cây, cái bàn, cảm giác, suy nghĩ… Thứ hai, pháp cũng có nghĩa là giáo lý, lời dạy của Đức Phật, hay một cách thức thực tập trong Phật giáo (một pháp tu). Continue reading Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (5)