Chỉ có hai việc chính xảy ra trong một cuộc nói chuyện hay thảo luận–đó là nói và nghe. Nhìn là phụ. Nghe quan trọng như nói. Đó là 50% của phần chính của cuộc nói chuyện. Nhưng mấy khi có lớp dạy nghe.
Sau đây là một PPS file rất hay về “Học nghe.” File này bằng tiếng Anh nhưng lại rất dễ theo dõi. Ai cũng đọc được.
Trong chuyên mục Nhạc Xanh hôm nay, mình xin được tiếp tục giới thiệu với các bạn đôi nét về nhà soạn nhạc Robert Schumann và một trong những nhạc phẩm đẹp nhất và lãng mạn nhất của ông – “Widmung” (dịch sang tiếng Anh là “Dedication”)
1) Tiểu sử (theo wikipedia): Robert Schumann, hay Robert Alexander Schumann (8/6/1810 – 29/7/1856) là một nhà soạn nhạc và phê bình âm nhạc nổi tiếng của Đức. Ông là một trong những nhà soạn nhạc lãng mạn lừng danh nhất thế kỷ 19. Đầu đời, Schumann theo đuổi ước mơ trở thành một nghệ sĩ violon và mong muốn này bắt nguồn từ sự động viên của thầy giáo ông là Friedrich Wieck, người đã khuyên Schumann rằng ông có thể trở thành nghệ sĩ violon bậc nhất châu Âu. Tuy nhiên, một chấn thương tay đã cản trở ước muốn này của Schumann và ông đã quyết định dồn sức lực cho việc soạn nhạc. Ông soạn nhạc cho piano và dàn nhạc, sáng tác các tác phẩm lieder, giao hưởng, opera, thánh ca và thính phòng.
Năm 1840, Schumann kết hôn với nghệ sĩ piano Clara Wieck, một nhân vật có tiếng trong thời kỳ âm nhạc lãng mạn của dòng piano. Trong hai năm cuối cuộc đời, sau một vụ tự sát bất thành, Schumann bị đưa vào một viện tâm thần trong những năm cuối cuộc đời.
2) Widmung: (dịch sang tiếng Anh là “Dedication”) là một trong những nhạc phẩm bất hủ của R. Schumann. Ông đã sáng tác bài này để làm quà cưới cho người vợ của mình, nàng Clara Wieck. Ông đã thể hiện được một cách sâu sắc cảm xúc, tình cảm nồng nàn và dâng hiến, sợ hãi và mong chờ, thất vọng và cam chịu, những hy vọng và ước mơ trong cuộc sống hôn nhân của mình trong tác phẩm này. Ông soạn bài nhạc này vào những ngày đầu năm 1840 và hoàn tất vào tháng 4/1840. Đến năm 1849, Franz Liszt – nhạc sĩ chơi piano kiêm nhà soạn nhạc người Hungari đã soạn lại bài này cho độc tấu piano.
Cuộc đời và sự nghiệp của Schumann cũng đã được dựng thành phim – “Song of Love” vào năm 1947, với diễn xuất của nữ diễn viên nổi tiếng Katharine Hepburn.
Sau đây là 2 video clip: 1) Video clip do nghệ sĩ piano Van Cliburn biểu diễn và 2) Video clip trích đoạn trong bộ phim “Song of Love”. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!
Chào các bạn thứ bảy (6/6/2009) là 65 năm kỷ niệm ngày quân đồng minh đổ bộ lên bờ biển Normandy của Pháp ngày 6/6/1944), bắt đầu cuộc phản công chống Phát-Xít Đức (và khối Trục), và cuối cùng là giải phóng Âu châu và toàn thể thế giới. Chấm dứt Thế Chiến II.
Các bạn có thể nhấn ảnh tầu chiến dưới đây để xem chùm ảnh cuộc đổ bộ đó.
Đồng thời, để có thể ôn lại (hay bắt đầu học), một cách thoải mái và thích thú, toàn cảnh Thế Chiến II xảy ra thế nào từ 11/1942 đến 5/1945, các bạn có thể click vào ảnh thứ hai dưới đây để xem PPS file. Rất tốt để ôn lại lich sử trong vài phút.
Chúc các bạn một ngày vui vẻ.
Hoành
.
Chùm ảnh D-day (Đổ bộ Normandy)
.
PPS file Toàn cảnh Thế Chiến II (Khi xem, click vào mũi tên để đổi trang)
Richard St. John phỏng vấn 500 người thành công, trong 7 năm liền, với câu hỏi “Điều gì mang đến thành công?” và tổng kết kết quả trong 8 điều sau đây:
1. ĐAM MÊ (Passion)
“Tôi được đam mê của tôi thúc đẩy”—Freeman Thomas, thiết kế xe hơi cho DaimlerChrysler.
Làm vì Đam mê, không làm vì tiền
“Tôi bằng lòng trả tiền để được làm việc mà tôi đang làm”—Carol Coletta, giám đốc chương trình radio, Smart City.
2. LÀM VIỆC (Work)
“Toàn là làm việc cực nhọc. Chẳng có gì đến dễ dàng. Nhưng tôi rất thích”—Rupert Murdoch (tài phiệt báo chí truyền thông).
3. LÀM GIỎI (good)
“Để thành công, chúi mũi vào một việc nào đó, và làm việc đó hết sức giỏi”—Alex Garden, chuyên gia sáng tạo games.
Thực hành, thực hành, thực hành.
4. TẬP TRUNG (Focus)
“Tôi nghĩ thành công là do tập trung mình vào một việc”—Norman Jewishson, nhà làm phim.
5. ĐẨY (Push)
“Đẩy mình đi. Về thể chất, về tinh thần, bạn phải đẩy, đẩy, đẩy”—David Gallo, Khoa học gia về hải dương học.
Đẩy mình qua khỏi ngượng ngùng và qua khỏi nghi ngờ chính mình
“Tôi đã luôn luôn nghi ngờ chính mình. Tôi không đủ giỏi. Tôi không đủ thông minh. Tôi đã không nghĩ là mình có thể thành”—Goldie Hawn, sao điện ảnh.
Không phải lúc nào cũng dễ để tự đẩy mình, vì vậy người ta sáng chế ra MẸ.
“Mẹ tôi đẩy tôi”—Frank Gehry, kiến trúc sư.
6. PHỤC VỤ (serve)
“Thực là một ưu quyền để được phục vụ như là một bác sĩ”—Sherwin Nuland, giáo sư giải phẩu Đại học Yale.
Các nhà triệu phú phục vụ mọi người với một cái gì có giá trị.
7. Ý TƯỞNG (ideas)
“Tôi có một ý tưởng—thành lập công ty phần mềm cho máy vi tính ĐẦU TIÊN”—Bill Gates.
Để có ý tưởng: Lắng nghe, quan sát, tò mò, hỏi, giải quyết vấn đề, lập các mối quan hệ với người khác.
8. KIÊN TRÌ (persist)
“Kiên trì là yếu tố số một của thành công”—Joe Kraus, đồng thành lập công ty Excite.
Phải kiên trì qua thất bại, qua rác rến—phê phán, ruồng bỏ, phá phách, áp lực.
Kenichi Ebina tự học vũ, không có thầy. Anh phối hợp mọi loại vũ–mime, hiphop, modern dance, cùng võ thuật và ảo ảnh thị giác, để tạo ra cách vũ có một không hai. Anh có kỹ lục là “grand champion” (đại vô địch) 7 lần tại Apollo Theater, New York, một trong những theaters có uy tín nhất của Mỹ và là theater số một dành cho người da đen (và người da đen, ông tổ của các vũ điệu tân thời ngày nay).
Kenichi đã xuất hiện trên Truyền hình Mỹ, Âu châu, Trung quốc và Nhật. Mời các bạn xem Kininchi trình diễn.
John Denver (31/12/ 1943 –12/10/ 1997) là một trong những nghệ sĩ tiếng tăm được yêu mến nhất thế giới. Denver nổi tiếng không chỉ như một ca sĩ -nhạc sĩ chuyên về nhạc đồng quê – nghệ sĩ nhạc rock, mà còn là diễn viên, nhà hoạt động môi trường và nhà từ thiện. Nhạc của John đã trải dài 4 thập niên kể từ album đầu tiên ra mắt vào năm 1969, tồn tại qua nhiều khuynh hướng và dòng nhạc, và đem lại nhiều giải thưởng âm nhạc cao và vinh dự cho người nghệ sĩ tài hoa này.
John Denver sinh ở Roswell, New Mexico, có tên khai sinh là Henry John Deutschendorf, Jr., là con của một sĩ quan không lực Mỹ thuộc gia đình gốc Đức, rất nghiêm khắc với con cái. Chính gia đình bên ngoại là những người Thiên chúa Giáo Ireland và Scotland đã khuyến khích và khơi dậy tình yêu âm nhạc nơi John với cây đàn ghi ta bà ngoại tặng năm ông 12 tuổi.
Từ năm 12 tuổi John đã học chơi đàn guitar và đến khi vào đại học đã chơi rất hay ở các câu lạc bộ địa phương.
Vì nghề nghiệp của cha, gia đình thường di chuyển và sống ở nhiều nơi như Arizona, Alabama, Texas, John rất khó kết bạn và hòa hợp với các bạn đồng trang lứa. Sau này, chính âm nhạc, khả năng đàn hát đã giúp cậu bé sống nội tâm có được nhiều bạn hơn. Năm thứ ba ở trường Trung học Arlington Heights ở Forth Worth, Texas, John bỏ học, lái xe của cha lên California để theo đuổi sự nghiệp âm nhạc. Tuy nhiên khi bố bay đến đó, cậu vâng lời quay về học ở trường cũ và tốt nghiệp trung học. Năm 1963, chàng sinh viên 20 tuổi, rời bỏ giảng đường ngành Kiến trúc ở ngôi trường Đại học Texas Technological College một mình lên Los Angeles, California, trung tâm sôi động của các hoạt động âm nhạc.
Denver hát trong các câu lạc bộ nhạc Folk đầy khói thuốc dưới tầng hầm; đến năm 1965 tham gia ban nhạc folk Chad Mitchell Trio, sau đổi tên thành Mitchell Trio. Với vai trò ca sĩ chính của ban nhạc rất được mến mộ, John đã trau chuốt được tài ca hát và phát triển phong cách sáng tác độc đáo của riêng mình. Năm 1969, Denver từ bỏ ban nhạc và theo đuổi sự nghiệp hát solo, đồng thời ra mắt album đầu tay cho hảng RCA Records, trong đó có bài Leaving On A Jet Plane, được Peter, Paul, và Mary thu âm; bài hát này thành bài hát nổi tiếng xếp hạng 1 trên Billboard 100.
Không đầy 2 năm sau,John tiếp tục nổi danh như một ngôi sao hàng đầu của thập niên 70 trên bảng xếp hạng với những bài như “Take Me Home, Country Roads,” “Rocky Mountain High,” “Sunshine On My Shoulders,” “Annie’s Song,” “Back Home Again,” “Thank God I’m A Country Boy,” and “Calypso,”
Những chuyến lưu diễn qua nhiều nước trên thế giới của John và mỗi album mới phát hành lại được nhiều fan say mê và nồng nhiệt đón mừng. Denver có 14 album vàng và 8 album bạch kim ở Mỹ và không ít album vàng, bạch kim ở nhiếu nước khác
Có hai album vàng được Denver thu âm vào năm 1970: “Whose Garden Was This?” và “Take Me To Tomorrow”, là cảm hứng sáng tác của ông trong khi lái xe giong ruỗi trên những nẻo đường Trung Tây của nước Mỹ. Đặc biệt, bài hát “Whose Garden Was This?” là bài đầu tiên mà ông gửi đi một thông điệp về môi trường và nhân ái trong loạt bài hát về môi trường của ông.
Các fan hưởng ứng ngay các thông điệp này trong các bài hát, các buổi trình diễn live của John, họ ra sức thúc đẩy và xúc tiến các hoạt động về môi trường, trái đất, hòa bình và từ thiện.
Những bài hát trữ tình, ca từ đẹp như một bài thơ, với những hình ảnh quen thuộc dung dị của quê nhà, mà rất nên thơ, êm ái, hữu tình và sâu lắng, đi vào lòng người nghe, khiến những người xa quê hương thấy lòng thổn thức:
” Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua, lòng lại chẳng yêu thương?
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn” ( Chế Lan Viên )
Hãy lắng nghe những giai điệu của John Denver về :
Những ngọn núi, những hàng cây xưa, dòng sông quê hương, ánh trăng mờ ảo lung linh, tiếng mẹ gọi buổi sớm mai, kỷ niệm ùa về, lệ bỗng tràn lên khóe mắt, ta chợt nhớ rằng đang cách xa quê nghìn trùng, những nẻo đường quê thân yêu ơi hãy đưa ta về với quê nhà ( Take Me Home Country Road ).
Ông đã đoạt được nhiều giải thưởng như Country Music Asssociation Entertainer of the Year vào năm 1975; Emmy cho Best Variety or Musical Special năm 1977; Giải Bình Chọn của Nhân Dân 1977 và Đệ Nhất Thi Nhân bang Colorado 1977; giải thưởng Carl Sandburg năm 1983. Đặc biệt, John đã được giải thưởng Âm Nhạc danh giá Albert Schweitzer năm 1993, và vinh danh trong Bảo Tàng Âm Nhạc năm 1996.
Niềm đam mê xây dựng một cộng đồng quốc tế hiểu biết nhau ( Đông Tây) và âm nhạc không biên giới thúc đẩy ông làm một cánh én đầu tiên của mùa xuận, mở đường đến trình diễn ở những vùng đất từng là thù địch với đất nước của ông. Năm 1985, ông được Hội Nhạc Sĩ Liên Xô lúc bấy giờ mời sang biểu diễn, và đã làm xúc động người nghe toàn thế giới với bài hát ““Let Us Begin ” thu âm cùng một nghệ sĩ Nga (What Are We Making Weapons For?) . Ông còn trở lại với 2 chuyến lưu diễn ở nước này vào năm 1986, và 1987 để hoạt động từ thiện cho nạn nhân của thảm họa Chernobyl ), và đây cũng là những hoạt động trao đổi văn hóa đầu tiên trong bang giao 2 nước Mỹ Nga.
Ông cũng là nghệ sĩ phương Tây đầu tiên sang Trung quốc trong chuyến lưu diễn nhiều thành phố. Ông ngạc nhiên bởi bài hát “ Country Roads” nổi tiếng của ông viết ở phương Tây rất được ưa chuộng bởi người dân nước này.
John cũng đã đóng góp tài năng vào nhiều hoạt động từ thiện và môi trường bền vững cho các dự án cứu trợ Đói Nghèo của World Hunger, nhiều lần sang Châu Phi trong thập niên 80, tận mắt chứng kiến những đau khổ của nạn nhân, và đề xuất các giải pháp với các lãnh đạo Châu Phi, cũng như các hoạt động gây quỹ cho UNICEF v.v và nhận rất nhiều giải thưởng vinh danh những người xuất sắc về hoạt động nhân đạo.
Ngày nay, hàng triệu người hâm mộ trên toàn thế giới, xưa và nay, vẫn tiếp tục say mê các ca khúc nhạc đồng quê cũa người nhạc sĩ –ca sĩ lớn – người không biết mệt mỏi trong những nỗ lực làm gần nhau hơn thế giới Đông -Tây, kêu gọi con người quên đi thù hận và xung đột màu da, chính trị và tôn giáo. Và trên hết tiếng hát, giai điệu và ca từ của âm nhạc John Denver về tình yêu quê hương, cuộc sống, thiên nhiên, lòng nhân ái, vẫn làm rung động tâm hồn người nghe và là nguồn cảm hứng mạnh mẽ của biết bao người trên thế giới.
Sau đây mời các bạn thưởng thức ba bài hát nổi tiếng do chính John Denver sáng tác và trình bày
1. TAKE ME HOME COUNTRY ROAD
Almost heaven, West Virginia
Blue Ridge Mountains
Shenandoah River –
Life is old there
Older than the trees
Younger than the mountains
Growin like a breeze
Country roads, take me home
To the place I belong
West Virginia, mountain momma
Take me home, country roads
All my memories gathered round her
Miners lady, stranger to blue water
Dark and dusty, painted on the sky
Misty taste of moonshine
Teardrops in my eye
Country roads, take me home
To the place I belong
West Virginia, mountain momma
Take me home, country roads
I hear her voice
In the morning hour she calls me
The radio reminds me of my home far away
And driving down the road I get a feeling
That I should have been home yesterday, yesterday
Country roads, take me home
To the place I belong
West Virginia, mountain momma
Take me home, country roads
Country roads, take me home
To the place I belong
West Virginia, mountain momma
Take me home, country roads
Take me home, now country roads
Take me home, now country roads
2. SUNSHINE ON MY SHOULDERS
Sunshine on my shoulders makes me happy
Sunshine in my eyes can make me cry
Sunshine on the water looks so lovely
Sunshine almost always makes me high
If I had a day that I could give you
I’d give to you a day just like today
If I had a song that I could sing for you
I’d sing a song to make you feel this way
Sunshine on my shoulders makes me happy
Sunshine in my eyes can make me cry
Sunshine on the water looks so lovely
Sunshine almost always makes me high
If I had a tale that I could tell you
I’d tell a tale sure to make you smile
If I had a wish that I could wish for you
I’d make a wish for sunshine all the while
Sunshine on my shoulders makes me happy
Sunshine in my eyes can make me cry
Sunshine on the water looks so lovely
Sunshine almost always makes me high
Sunshine almost all the time makes me high
Sunshine almost always
3. LEAVING ON A JET PLANE
All my bags are packed
I’m ready to go
I’m standing here outside your door
I hate to wake you up to say goodbye
But the dawn is breaking
It’s early morn
The taxi’s waiting
He’s blowin’g his horn
Already I’m so lonesome
I could die
So kiss me and smile for me
Tell me that you’ll wait for me
Hold me like you’ll never let me go
cause I’m leaving on a jet plane
Don’t know when I’ll be back again
Oh babe, I hate to go
Theres so many times I’ve let you down
So many times I’ve played around
I tell you now, they don’t mean a thing
Evry place I go, I’ll think of you
Evry song I sing, I’ll sing for you
When I come back, I’ll bring your wedding ring
So kiss me and smile for me
Tell me that you’ll wait for me
Hold me like you’ll never let me go
cause I’m leaving on a jet plane
Don’t know when I’ll be back again
Oh babe, I hate to go
Now the time has come to leave you
One more time
Let me kiss you
Then close your eyes
I’ll be on my way
Dream about the days to come
When I won’t have to leave alone
About the times, I won’t have to say
Oh, kiss me and smile for me
Tell me that you’ll wait for me
Hold me like you’ll never let me go
cause I’m leaving on a jet plane
Don’t know when I’ll be back again
Oh babe, I hate to go
But, I’m leavin on a jet plane
Don’t know when I’ll be back again
Oh babe, I hate to go
Như thường lệ, Nhạc Xanh hoan nghênh các bạn chia sẻ lời dịch các bài hát mình ưa thích.
Thân ái chúc các bạn một ngày vui, dào dạt tình yêu miền thôn quê, hồn quê và quê hương đất nước mình nhiều hơn với những giai điệu nhạc đồng quê
Một đàn sư tử bắt một chú trâu con để ăn. Cả đàn trâu xông vào đánh cả đàn sư tử tơi bời. Cả đàn sư tử chạy te tua. Chú trâu con được cứu khỏi miệng sư tử. Một câu chuyện thật khó tin và thật cảm động về sức mạnh của tình yêu và đoàn kết.
Kaki King là phụ nữ duy nhất có tên trong danh sách “guitar gods” (thần guitar) của tạp chí Rolling Stones (của ban nhạc Rolling Stones). Mời các bạn xem Kaki King biểu diễn một số bản nhạc trong đĩa Playing with Pink Noise của cô. Với lối sử dụng guitar cực kỳ sáng tạo. Có một không hai.
.
Trong chuyên mục Nhạc Xanh lần trước, mình đã giới thiệu với các bạn một số nhạc phẩm được chơi bằng piano, violon, violoncell…Hôm nay, mình xin được tiếp tục giới thiệu với các bạn nhà soạn nhạc nổi tiếng cho đàn guitar Francisco Tarrega và nhạc phẩm lừng danh của ông – “Recuedos de la Alhambra” (Hoài niệm về thành Alhambra). Mình chắc rằng, những bạn nào chơi guitar cổ điển đều biết bài này vì nó rất nổi tiếng với kỹ thuật reo dây.
1) Tiểu sử (theo wikipedia):
Francisco de Asís Tárrega y Eixea, thường gọi tắt là Francisco Tárrega (18/11/1852 – 15/12/1909) là một nhà soạn nhạc nổi tiếng cho đàn guita người Tây Ban Nha. Ông được xem như là người đặt nền móng cho vị trí của cây đàn guitar là nhạc cụ dành cho độc tấu. Ngoài các bản nhạc do ông sáng tác cho đàn guitar, ông còn chuyển soạn một số tác phẩm của các nhà soạn nhạc khác sang trình tấu với đàn guitar. Francisco Tárrega đã đặt nền móng cho guitar cổ điển thế kỷ 20, đã đưa vào guitar cổ điển các kỹ thuật trước đây chưa từng có và vẫn được dùng đến ngày nay, chẳng hạn ông sử dụng cả ngón đeo nhẫn để gảy đàn trong khi trước đó người ta chỉ dùng ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Kỹ thuật reo dây (tremolo) dành cho guitar cổ điển là phát minh của ông: dùng các ngón trỏ, giữa, đeo nhẫn gảy liên tục vào cùng một dây tạo nên cảm giác tiếng đàn ngân nga không dứt, một ví dụ điển hình cho kĩ thuật này chính là “Recuedos de la Alhambra” lừng danh.
2) Thành Alhambra và “Recuedos de la Alhambra”
Thành Alhambra (1238 – 1527) ở Tây Ban Nha là một di sản văn hoá thế giới, đã bị bỏ hoang cho tới cuối thế kỷ thứ 19. Trải qua bao biến động của lịch sử, cung điện Alhambra phần lớn vẫn giữ nguyên diện mạo thế kỷ 14 của mình, không có sự thay đổi nào đáng kể.
Cung điện Alhambra xây dựng trên đỉnh đồi nhìn xuống thành phố Granada. Tên cung điện lấy từ al-Qalat al Hamra, có nghĩa là “lâu đài đỏ”, vì màu gạch và đất lấy từ pháo đài trước kia. Điểm ấn tượng nhất của cung điện Alhambra là công trình trát vữa không xoa láng, trang trí bằng các mô típ thực vật và những câu đề khắc…Cung điện là nơi ở của các vị vua người Maure ở Grenade (thế kỷ XIII-XIV), rộng khoảng 4.000 m2, được tường kiên cố bao quanh với 13 tháp canh liên hoàn khiến nhìn từ bên ngoài vào, lâu đài có dáng dấp một pháo đài. Đây là một tập hợp kiến trúc gồm thành quách, dinh thự và các kiến trúc phụ cho gia nhân cùng nhiều khu vườn tráng lệ, lâu đài được đánh giá là tuyệt tác của đời sống dân sự, quân sự và nghệ thuật của Hồi giáo Bắc Phi. Có thể gọi Alhambra là một pháo đài lẫn dinh thự tiêu khiển. Đây là một cung điện mang quá nhiều sư tráng lệ trên nền mồ hôi nước mắt, sự đói khát và cả tính mạng những người dân Hồi giáo vương quốc Granada.
Cung điện Alhambra được xây dựng để nhằm mục đích quảng bá nền văn hóa, sở thích và chấn chỉnh nền văn minh của Hồi giáo. Sự khẳng định đặc điểm này liên kết mật thiết với nền nhận thức yếu kém của riêng mình trên vương quốc Granada và có lẽ vì lí do này, cung điện Alhambra đã bị bao trùm một tâm trạng luyến tiếc quá khứ, không tưởng và thi vị. Chủ đề hồi tưởng quá khứ cũng có thể nhìn thấy rõ ràng trong kết cấu kiến trúc của cung điện, ngoài sự ám chỉ đặc biệt về đạo hồi, cung điện còn mang tư tưởng và nền văn hóa của Hy Lạp, La mã cổ đại, vì thế cung điện Alhambra còn mang chứa những kiến thức cực kỳ uyên bác về Hy-La cổ điển.
“Recuedos de la Alhambra” với tên dịch ra tiếng Việt là “Tưởng nhớ thành Alhambra”, được sáng tác vào năm 1896, ở Granada. Nét tuyệt vời của bài này là giai điệu tremolo, cùng với tiếng bass ban đầu rất trầm ấm, nhưng sau đó lại lên rất cao, bồng bềnh như miền sông núi nước non Alhambra.
Dưới đây là hai video clip: 1) Video clip do nghệ sĩ guitar Enno Voorhorst biểu diễn và 2) Video clip do ca sĩ Nana Mouskouri biểu diễn với những hình ảnh tuyệt đẹp của thành cổ Alhambra. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!
Nếu các bạn hỏi bất kỳ người nào yêu thích phim ca nhạc, hay ca khúc trong phim nước ngoài, trong đó có mình, về tên của 5 bộ phim ca nhạc hay nhất mọi thời đại, câu trả lời không thể thiếu The Sound of Music.
The Sound of Music (Giai Điệu Hạnh Phúc hay Tiếng Tơ Đồng) là một bộ phim ca nhạc năm 1965 của đạo diễn Robert Wise cùng các diễn viên Julie Andrews, và Christopher Plummer đóng vai chính. Bộ phim dựa trên vở nhạc kịch cùng tên của Broadway, trong đó có bài hát cùng tên do Richard Rodgers, Oscar Hammerstein II viết, và dựa trên cuốn sách nhạc kịch của Howard Lindsay, Russel Crouse, kịch bản của Ernest Lehman.
Vở nhạc kịch này lấy ý tưởng từ quyển sách “ Câu Chuyện của Các Ca Sĩ Gia Đình Trapp “ của tác giả Maria von Trapp. Trong vở nhạc kịch này có nhiều bài hát nổi tiếng như Edelweiss, My Favorite Things, Climb E’vry Mountain, Do-Re-Mi, Sixteen Going on Seventeen, cũng như bài hát cùng tên phim : The Sound of Music.
Phim được quay ở Salzburg, Áo; Bavaria ở Nam Đức, và ở trường quay 20th Century Fox, California. Bộ phim giành 5 giải Oscar cho phim hay nhất của năm 1965: Đạo diễn Hay Nhất, Kịch Bản Phim Hay Nhất, Nhạc Phim Hay Nhất,…. và là một trong những phim ca nhạc nổi tiếng nhất từng được sản xuất. Album nhạc phim đã được đề cử giải Grammy của năm. Giai điệu nhẹ nhàng, lời hát trong sáng. Chẳng có những triết lý sâu xa, chỉ là những gì gần gũi quanh ta, nhưng lại làm ta thêm yêu cuộc sống. Thư viện Quốc Hội Hoa Kỳ đã chọn The Sound of Music cho việc bảo tồn ở Kho Lưu Trữ Phim Quốc Gia Hoa Kỳ vào năm 2001.Phim này thu về được 1.022 tỉ đô la khiến nó được xếp thứ ba sau Cuốn Theo Chiều Gió và Chiến Tranh Các Vì Sao ( Gone With The Wind, và Star Wars).
Truyện phim khá đơn giản, nhưng bộ phim lại làm rung động hàng nhiều triệu khán giả, gợi lên những cảm xúc cao đẹp với tình yêu thiên nhiên, trẻ thơ, tình người, tình yêu đôi lứa, sự dũng cảm mưu trí trước kẻ thù, nhất là âm nhạc tuyệt vời. Maria, (do Julie Andrews đóng) một nữ tu yêu đời, chưa được ơn Thiên triệu, yêu nhạc, thích ca hát, đến làm cô giáo cho 7 đứa con của gia đình Von Trapp. Bằng tấm lòng yêu thương và tính cách chân thành giản dị, tài ca hát làm rung động lòng người, cô gia sư trẻ đã chinh phục đám trẻ nghịch ngợm khó bảo. Chúng chỉ quen tuân phục tiếng còi lệnh của cha, theo kỷ luật quân đội. Ông Georg nghiêm cấm cười đùa, nghiêm cấm âm nhạc, nghiêm cấm mọi thứ có thể gợi lại hình ảnh vợ mình. Maria đã thổi làn gió kỳ diệu của những giai điệu ngọt ngào vào 7 đứa bé, làm sống lại tâm hồn tưởng như đã chết của viên thuyền trưởng Georg. Và tình yêu như phép nhiệm màu đem lại hạnh phúc cho họ. Cả gia đình sống bên nhau êm đềm, tươi vui, với thiên nhiên, với âm nhạc, giữa bao người dân bình dị. Câu chuyện đẹp như cổ tích, nhưng cũng đầy chất kịch tính với bối cảnh chiến tranh là Thế Chiến thứ II và quân Đức tràn vào Áo. Ông Georg bị buộc phải phục vụ cho Hải Quân Đức. Họ bàn tính cách bỏ trốn sang Thụy Sỹ. Cuộc đào thoát thành công ngoạn mục. Một kết cục có hậu làm khán giả yên lòng và mỉm cười với hạnh phúc của gia đình Von Trapp.
Giai Điệu Hạnh Phúc là bài hát chủ đề do Julie Andrews hát với phần phụ hoạ điệp khúc của nhà Von Trapp trong bộ phim năm 1965.
Bài hát này được Viện Phim Mỹ xếp thứ 10 trong danh sách 100 bài hát tuyệt vời nhất của mọi thời đại. Cảnh đầu tiên trong phim là cảnh đồng quê, núi non, thiên nhiên …, những hình ảnh tuyệt đẹp từ trái qua phải rồi lại dần đưa ta gặp Maria, cô gái yêu đời đứng giữa núi đồi và hát vang bài “The Hills Are Alive With the Sound of Music.” Bốn câu đầu của bài hát trong phim và trong album bắt đầu với :
The hills are alive with the sound of music
With songs they have sung for a thousand years.
The hills fill my heart with the sound of music
My heart wants to sing every song it hears.
My heart wants to beat like the wings
Những bài hát khác trong phim đều rất hay. Hầu như mỗi cảnh đều có 1 bài hát. Ngoài bản nhạc chủ đề, Nhạc Xanh xin mời các bạn thưởng thức ba bài hát khác thực dễ thương và rộn ràng khúc yêu đời. Bài My Favorite Things đã nhắc đến ở trên.
Bài Do-Re-Mi với 7 nốt nhạc đặc trưng bằng những hình ảnh ví von sinh động và dễ nhớ. Nhân một lần ông bố nghiêm khắc đi vắng, Maria dẫn đám trẻ đi picnic – điều kỳ diệu chúng chưa từng có theo khuôn khổ kỷ luật quân sự của người cha. Cô dạy bọn trẻ hát 7 note nhạc với bài hát tươi vui này.
Doe, a deer, a female deer, Ray, a drop of golden sun
Me, a name I call myself, Far, a long, long way to run
Sew, a needle pulling thread, La, a note to follow So
Tea, a drink with jam and bread, that will bring us back to Do…
Và bài Edelweiss qua 2 giọng ca của Julia Andrews và John Denver.
Edelweiss là hoa nhung tuyết, được xem là hoa truyền thống tượng trưng cho nước Áo. (Austria’s national flower).
Đêm cuối cùng trên nước Áo, trước khi trốn sang Thụy Sỹ, gia đình Von Trapp trong 1 buổi liên hoan nhạc, có sự theo dõi, quản thúc của quân Đức, đã hát vang bài hát cho quê hương như một lời từ biệt này. Rồi mọi khán giả dự buổi biểu diễn cũng xúc cảm cùng hoà theo bài hát ngắn:
Edelweiss, Edelweiss
Every morning you greet me
Small and white, clean and bright
You look happy to meet me …..
Về ngôi sao ca nhạc -diễn viên Julia Andrews, tên khai sinh là Julia Elizabeth Wellssinh ngày 1/10/1935 tại Walton-on-Thames, nước Anh, trong một gia đình kinh doanh giải trí. Julie Andrews đã nhận rất nhiều giải thưởng lớn như Quả Cầu Vàng, Emmy, Grammy, Oscar, Giải Thưởng của Viện Hàn Lâm Anh cho Truyền Hình và Phim (British Academy of Film and Television Arts : giống như Oscar của Mỹ), Giải thưởng Sân Khấu Thế Giới….
Sự nghiệp ca hát của Julie Andrews bắt đầu ở tuổi 12 với chất giọng nữ cao ngọt ngào, trong trẻo đến lạ thường của cô. Năm 21 tuổi (1956), Julie trở thành ngôi sao trên sân khấu Broadway với vai diễn đầu tiên – Eliza Doolittle trong “Quý Bà Lịch Thiệp Của Tôi” (My Fair Lady). Tuy nhiên, cô chỉ thực sự toả sáng khi vào vai Mary Poppins trong bộ phim ca nhạc cùng tên của Walt Disney (1964). Với phim này, Julie đã được trao giải thưởng Oscar của Viện Hàn Lâm Điện Ảnh Mỹ – Nữ Diễn Viên Chính Xuất Sắc nhất.
Một năm sau đó, trong vai cô bảo mẫu – gia sư Mary,trong “Giai Điệu Hạnh Phúc” (The Sound of Music, năm 1965) – một trong những bộ phim thành công nhất của mọi thời đại, Julie đã trở thành một ngôi sao thực thụ, một hiện tượng mới của Hollywood.
“Giai Điệu Hạnh Phúc” đã phá kỷ lục về số người xem tại tất cả các rạp chiếu phim trên toàn thế giới. Đặc biệt, một phụ nữ tại Cardiff, xứ Wales, đã xem bộ phim 300 lần và được coi là fan hâm mộ lớn nhất của mọi thời đại. Bộ phim đã giúp Julie xuất hiện trên trang bìa tạp chí Life, đồng thời là nhân vật chính trong bài báo “Nữ Hoàng Mới của Hollywood”.
Theo Wikipedia,John Denver ( 31 / 12/ 1943 – 12 /10 /1997 là một ca sĩ kiêm nhạc sĩ folk và folk rock của Mỹ được xem là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của thập niên 1970. Ông thu và phát hành vào khoảng 300 bài hát, trong đó gần một nửa do ông biên soạn; vào năm 1977, ông được chọn là Đệ Nhất Thi Nhân (Poet Laureate) của tiểu bang Colorado. Các bài hát của Denver tràn đầy tình yêu tự nhiên. Những bài hát như Take Me Home Country Road, Leaving On a Jet Plane, Calypso, Annie’s Song, Thank God I’m A Country Boy, và Rocky Mountain High nổi tiếng khắp thế giới. ( Nhạc Xanh sẽ giới thiệu John Denver trong một bài khác)
Ngoài ra có một bài rất hay do Mary hát : My Favorite Things với ca từ sáng đẹp chất giản dị, lạc quan .
Maria nói với bọn trẻ về những điều yêu thích giản dị của mình: những hạt mưa đọng trên những đoá hồng, những chiếc ria mèo con, những ấm đun nước bằng đồng sáng choang, … đàn ngỗng trời bay cao tít, và cô bảo chúng rằng:
Khi nào cảm thấy buồn, cô chỉ nhớ đến những điều ưa thích của mình.Thế là nỗi buồn tan biến.
My Favorite Things
( Link 4)
Raindrops on roses and whiskers on kittens
Bright copper kettles and warm woolen mittens
Brown paper packages tied up with strings
These are a few of my favorite things
Cream colored ponies and crisp apple streudels
Doorbells and sleigh bells and schnitzel with noodles
Wild geese that fly with the moon on their wings
These are a few of my favorite things
Girls in white dresses with blue satin sashes
Snowflakes that stay on my nose and eyelashes
Silver white winters that melt into springs
These are a few of my favorite things
LINKS :
1 THE SOUND OF MUSIC TOUR ( Một số địa điểm nơi đã quay bộ phim )
.
The hills are alive with the sound of music
With songs they have sung for a thousand years
The hills fill my heart with the sound of music
My heart wants to sing every song it hears
My heart wants to beat like the wings of the birds that rise from the lake to the trees
My heart wants to sigh like the chime that flies from a church on a breeze
To laugh like a brook as it trips and falls over stones on its way
To sing through the night like a lark who is learning to prey
I go to the hills when my heart is lonely
I know I will hear what I’ve heard before
My heart will be blessed with the sound of music
And I’ll sing once more.
2. DO RE MI ( Julie Andrews và các ca sĩ nhí nhà Von Trapp)
Maria:
Let’s start at the very beginning
A very good place to start
When you read you begin with Child (Gretyl): ABC Maria: When you sing you begin with do re mi Children:
Do re mi
Maria:
Do re mi
The first three notes just happen to be
Do re mi
Children:
Do re mi Maria:
Do re mi fa so la ti
Oh let’s see if I can make it easier hmmm:
Doe- a deer, a female deer
Ray- a drop of golden sun
Me- a name I call myself
Far- a long long way to run
Sew- a needle pulling thread
La- a note to follow so
Tea- a drink with jam and bread
That will bring us back to do oh oh oh Child: Do Maria: A deer, a female deer Children: Re Maria: A drop of golden sun Children: Mi Maria: A name I call myself Children: Fa Maria: A long long way to run All: So- a needle pulling thread
La Maria:A note to follow so
Ti Children: A drink with jam and bread Maria: That will bring us back to do Children:
Doe- a deer, a female deer
Ray- a drop of golden sun
Me- a name I call myself
Far- a long long way to run All:
Sew- a needle pulling thread
La- a note to follow so
Tea- a drink with jam and bread Maria:
That will bring us back to do
Do re mi fa so la te do so do
Now children do re mi fa so and so on
Are only the tools we use to build a song
Onces you have these notes in your head
You can sing a million different tones by mixing them up
Like this: so do la fa mi do re
Can you do that Children: So do la fa mi do re Maria:
So do la ti do re do Children:
So do la ti do re do Maria: Now put it all together All: So do la fa mi do re, so do la ti do re do Maria: Good Child (Brigitta):
But it doesn’t mean anything
Maria: So we put in the words.
One word per every note.
Like this:
When you know the notes to sing
You can sing most anything
Together All:
When you know the notes to sing
You can sing most anything Maria: Doooooo All: A deer, a female deer Child: Reeee All: A drop of golden sun Child: Miiiii All: A name I call myself Maria:Faaaaa All: A long long way to run Maria: Soooo All: A needle pulling thread Child: Laaaa All: A note to follow so Child: Teeee All:
A drink with jam and bread
That will bring us back to dooo
Do re mi fa so la ti do do ti la so fa mi re
Do mi mi
Mi so so
Re fa fa
La ti ti
Do mi mi)
Mi so so)
Re fa fa)
La ti ti)
Do mi mi)
Mi so so) When you know the
Re fa fa)
La ti ti)
Do mi mi)
Mi so so) notes to sing
Re fa fa)
La ti ti)
Do mi mi)
Mi so so) You can sing most
Re fa fa)
La ti ti) All:
Anything things
Doe- a deer, a female deer
Ray- a drop of golden sun
Me- a name I call myself
Far- a long long way to run
Sew- a needle pulling thread
La- a note to follow so
Tea- a drink with jam and bread
That will bring us back to
So do la fa mi do re (Maria goes up scale DoReMeFa)
So do la fa (Maria SoLTiiiii) (la sooooo) (ti faaaa) (mi reeee) ti dooooo
So do
3. EDELWEISS ( Julie Andrews và John Denver )
Edelweiss Edelweiss
Every morning you greet me
Small and white
Clean and bright
You look happy to meet me
Blossom of snow may you bloom and grow
Bloom and grow forever
Edelweiss Edelweiss
Bless my homeland forever
Cung đạo là nghệ thuật bắn cung của Nhật (kyudo) còn gọi là xạ nghệ. Cung đạo mang một ý nghĩa triết lý sâu xa. Do vậy mục đích chính của người bắn cung không phải là bắn trúng đích mà là nắm vững cái nghệ thuật bắn cung. Khi cung thủ nắm vững đến mức hoàn thiện từng động tác của mình – thoát ra khỏi cái ý muốn thường ám ảnh là muốn tên phải bắn trúng đích – thì mũi tên sẽ tự lao đến đích. Người Nhật không coi Cung đạo là một môn thể thao mà coi nó như là một nghi thức tôn giáo. Do đó “đạo” của Cung đạo chẳng phải nói về thể thao gia tập luyện thân thể mà nói về năng lực phát huy từ việc rèn luyện tâm linh, với mục đích bắn trúng mục tiêu tâm linh. Cho nên, trên căn bản, cung thủ nhắm vào chính mình và thậm chí có thể thành công trong việc bắn trúng chính mình.
Như vậy, Cung đạo là những bài học luyện tập tâm linh, là phương pháp tu tập thiền định, người thực hành không thể thành tựu được điều gì ở bên ngoài bằng cung tên, mà chỉ có thể thành tựu trong nội tâm, với chính bản thân. Cung tên là một loại võ khí của thời xưa, nhưng nay thì nó là một phương pháp không chỉ riêng nhắm đến mục đích vị lợi hoặc thuần túy thỏa mãn óc thẩm mỹ, mà cốt để tu tâm dưỡng tính, hay nói đúng hơn là để tâm hội nhập với chân lý thâm cùng.Tinh tuý của Cung đạo ngày nay là đạt đến chân thiện mỹ, lấy trạng thái tâm linh làm nền tảng .
Cây cung dùng trong Cung đạo lớn hơn nhiều so với loại cung thường. Cây cung này cũng không được cân đối. Sợi dây của cây cung không được chạm vào vòng cung. Mũi tên cũng dài hơn thường lệ. Chiều dài của mũi tên cũng như tầm cao của cây cung tương xứng với vóc dáng của cung thủ. Cung thủ thường dùng cái găng tay bằng da để nắm cung. Khoảng cách và vòng tròn của cái bia xa gần, lớn nhỏ tuỳ thuộc vào người tổ chức. Thông thường, một cái bia tiêu chuẩn có 36cm đường kính, đặt cách cung thủ 28m và trên mặt đất 9cm .
Rèn luyện bắn cung trước tiên là tu tập nội tâm. Cung tên chỉ là phương tiện cho những gì có thể xảy ra mà không cần tới chúng, chúng chỉ là con đường dẫn tới mục tiêu, chứ chẳng phải là chính mục tiêu, chỉ là những hỗ trợ cho bước nhảy vọt tối hậu. Giương cung, ngưng lại, buông tên đều phải tuân thủ theo những giáo huấn đặc biệt. Chỉ cần chú ý rằng thân thể phải thư giãn khi đứng, ngồi, hoặc nằm. Nếu cung thủ tập trung tâm lực vào hơi thở thì lúc ấy chỉ còn nhận biết mình đang thở. Như vậy là sai . Muốn tự tách mình ra khỏi cảm giác và tri thức này, người ta không cần tới một quyết tâm nào, bởi vì hơi thở sẽ tự nó đi chậm lại, trở thành mỗi lúc một tiết kiệm hơi thở hơn trước, cuối cùng biến thành mờ nhạt và hoàn toàn thoát ra khỏi sự chú ý của cung thủ.
Trong thuật bắn cung, cái bắn trúng và cái bị bắn không còn là hai đối tượng tách biệt nhau, mà hợp thành một thực thể duy nhất. Người bắn không còn ý thức gì về mình khi chăm chú vào tâm điểm trước mặt. Trạng thái không còn ý thức gì về mình hay “vô tâm”, “vô thức”, “phi tư lương” này chỉ có được khi cung thủ – người bắn – hoàn toàn vắng lặng, dứt bỏ cái tôi và nhập một với việc trao dồi để hoàn thiện tài năng kỹ thuật; mặc dù trong việc này có cái gì đó thuộc về một đẳng giới rất khác biệt không thể đạt đến bằng bất cứ sự học tập nghệ thuật theo cách tiệm tiến nào.
Tính toán quá kỹ sẽ sai lầm. Toàn bộ công trình bắn cung như vậy là thất bại. Tâm lăng xăng của cung thủ đã phản bội lại chính mình trong mọi hướng và trong mọi môi trường hoạt động. Để dễ nhập vào tiến trình giương cung và buông tên, cung thủ quì một đầu gối và bắt đầu nhập định, đứng lên, bước về phía tấm bia theo nghi thức nghiêm trang, kính cẩn dâng cung tên lên trước mặt giống như dâng hiến phẩm vật cúng tế, rồi lắp mũi tên, nâng cung lên, giương cung và chờ đợi với thái độ tâm linh vô cùng tỉnh thức. Sau khi mũi tên và sức căng được thả ra nhanh như tia chớp, cung thủ giữ nguyên tư thế đó, đồng thời chậm rãi thở ra hết hơi rồi hít hơi vào. Chỉ tới lúc đó cung thủ mới được buông thõng tay xuống, cúi chào cái bia và – nếu đã bắn hết tên – lặng lẽ lui về phía sau.
Để thay đổi không khí, hôm nay mình xin được giới thiệu với các bạn một bài hát tiếng Nhật nho nhỏ gọi là “Bài hát đếm số”. Bài hát này được phát trong chương trình Minna no Uta (Everybody’s song) của đài NHK – Nhật lần đầu tiên vào ngày 1/10/2008 và được rất nhiều người ưa chuộng. Bài hát này rất đơn giản các bạn à, chỉ cần đếm dần các con số, bắt đầu từ 1 là đã có một bài hát thật dễ thương. Bài hát này do chính nữ ca sĩ khá nổi tiếng Ikeda Ayako sáng tác và biểu diễn.
Sau đây là đoạn video clip và phần lươc dịch nội dung của bài hát. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui tươi!
Một Hai Ba Bốn Năm Sáu Bảy
Chỉ cần đếm số là thành một bài ca
Một Hai Ba Bốn Năm Sáu Bảy
Giọng hát bạn thành một bài ca
Các con số ở khắp nới trên thế giới
Nếu cùng hát chung với nhau thì thật hay nhỉ.
Cách đếm số ở đất nước bạn
Nếu hát lên thì, hãy nhìn kia, những gương mặt tươi cười
(Cách đếm số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 của các quốc gia như Trung Quốc, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Châu Phi)
Tràn ngập trên thế giới
Tương lai trong tay ta
Như cầu vòng bảy sắc
Ta vượt qua bảy đại dương
Bài hát đếm số vang vọng lên bầu trời cao
Trong đêm sao, vào buổi sáng ngập nắng
Như bạn bè và như gia đình
Chúng ta cùng hát, và nắm tay nhau.
Không hề có khoảng cách
Chúng ta gắn kết với nhau trên trái đất này.
Dù là phải đứng trên ghế để chơi, Keith O’Dell Jr., 2 tuổi, ở Johnstown, New York, đã có danh tiếng là cao thủ bida thứ dữ. Cu cậu còn có cả một trang web riêng tại http://www.poolprodigy.com, và là thành viên nhỏ tuổi nhất của Hội Bi-Da Mỹ Quốc.
.
Nhạc Xanh tiếp tục mời các bạn thưởng thức một bản nhạc thuộc dòng nhạc pop rock lừng danh thế giới, còn được mệnh danh là quốc tế ca thời hiện đại, hay bản thánh ca của thế kỷ 20: “We Are The World” (Chúng ta là thế giới), một ca khúc giàu tính nhân văn và đại đồng.
We Are The World cùng với Heal The World, và Earth Song là 3 ca khúc hay nhất về thế giới, hòa bình và nhân đạo.
Sự thực là đã hơn 24 năm qua từ ngày ca khúc ra đời, bài hát này vẫn còn nguyên giá trị cao đẹp vì ý nghĩa và mục đích ra đời của nó, tiếp tục vượt thời gian và không gian, đi vào trái tim của những người nhân ái, yêu hoà bình, chứ không chỉ là người yêu nhạc.
Mọi sự khởi đầu từ tháng 11 năm 1984, ca sĩ rock Bob Geldof, người Ireland, đáp lại một bản tin về trẻ em châu Phi bị chết đói, đã sang Ethiopia theo sự ủy nhiệm của Ủy Hội vì châu Phi (Commission for Africa). Bất ngờ và xúc động trước sự nghèo khó cùng cực và cuộc chiến sắc tộc đẫm máu ở xứ sở này, khi trở về, Geldof đã viết bài hát “ Do They Know It’s Christmas?” và vận động các ngôi sao nhạc Rock khác ghi âm và phát hành đĩa đơn này với số tiền cuối cùng thu được là hơn 8 triệu đô la để cứu trợ cho nạn nhân của nạn đói ở châu Phi và Ethiopia.
Sau đó ngày 13/7/ 1985 Geldof khởi xướng và tổ chức đồng thời 2 chương trình âm nhạc qui mô lớn có tên Live Aid ở sân vận động Wembley tại London và sân vận động John F. Kennedy ở Philadelphia, với sự tham gia của các ca sĩ lừng danh như Sting, Elton John, Eric Clapton, Bob Dylan, Madonna, Paul McCartney, Phil Collins, Tina Turner, Sade, Neil Young, Paul Young, Bryan Adams, v.v, và các ban nhạc tiếng tăm như U2, Who, Queen, Dire Straits, Heartbreakers, The Pretenders, … Chương trình từ thiện này được truyền trực tiếp qua truyền thanh và truyền hình với 9 vệ tinh nhân tạo cho khoảng hơn 1 tỉ khán giả hơn 100 nước. Tổng số tiền thu được để cứu trợ nạn đói là hơn 150 triệu đô la.
Tại chương trình này, ngoài bài hát nói trên của Bob Geldof, We Are the World là một sự kiện lớn gây chấn động cả thế giới vì sự truyền cảm và tác động sâu sắc của ca khúc.
Được sáng tác bởi Michael Jackson và Lionel Richie, 2 ca sĩ-nhạc sĩ đỉnh cao âm nhạc, ca khúc này do Quincy Jones chỉ đạo và sản xuất; sau đó nó được thu âm vào ngày 28-1-1985 bởi một nhóm các ngôi sao nhạc pop nổi danh thời bấy giờ, được mệnh danh là USA for Africa ( United Support of Artists for Africa) – nhóm những Nghệ Sĩ Ủng Hộ Châu Phi.
Harold Belafonte ( sinh năm 1927), một ca sĩ Mỹ da đen, đã khởi xướng ý tưởng cho bài hát này, lấy cảm hứng từ ý tưởng của sự kiện âm nhạc từ thiện ở Châu Âu của Bob Geldof. Xuất thân nghèo khó, Belafonte hăng say tham gia hoạt động xã hội và từ thiện với UNICEF, và thành lập “USA for Africa”. Hơn 40 nghệ sĩ kiệt xuất của nhiều thế hệ ca sĩ Mỹ như Bruce Springsteen, Michael Jackson, Ray Charles, Stevie Wonder, Bob Dylan, Diana Ross, Tina Turner, Billy Joel… đã hợp lực thu thanh bài hát vĩ đại này đúng vào đêm trao Giải thưởng Âm nhạc Nước Mỹ (American Music Awards), 28-1-1985.
Đĩa đơn có bài hát We Are The World lập tức nhảy lên vị trí 1 trong 4 tuần từ 17/ 4/ 1985 trên Billboard 100 ở Mỹ và cũng đứng đầu bảng xếp hạng ở Vương quốc Anh và ở vị trí đỉnh cao ở hấu hết các nước trên thế giới. Đĩa này sau đó bán được hơn 7 triệu bản, đoạt 4 giải Grammy năm 1986: “Ca Khúc của Năm”, “Bản Thu Âm của Năm”, “Trình Diễn Pop Xuất Sắc Nhất dành cho Tốp ca”, và giải thưởng “Video Âm Nhạc Hay Nhất, Thể Loại Clip Ngắn”. Số tiền thu được từ CD We Are The World, 63 triệu đô la Mỹ đã sung vào quỹ từ thiện cứu trợ đói nghèo ở châu Phi.
We Are the World đã được các ca sĩ và ban nhạc khác trình bày lại nhiều lần, với sự chỉnh sửa về lời và tên gọi để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau. Năm 1986, ca sĩ Nina Hagen đã hát lại một bản duy nhất bằng tiếng Đức – Wir sind die Welt – trong chương trình truyền hình Đức kỉ niệm 40 năm ngày thành lập Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc UNICEF. Cũng có một số người chỉ trích USA for Africa là nhằm vào mục đích quảng bá hình ảnh hơn là mục đích từ thiện, nhưng ngoài số tiền hơn 60 triệu đô la vì nạn đói châu Phi, bài hát này đến tận thế kỷ 21 vẫn còn giá trị biểu cảm và thẩm mỹ âm nhạc lớn, và tiếp tục làm lay động xúc cảm cao đẹp và khát vọng hòa bình của con người bất kể chủng tôc, màu da và tôn giáo. Khi nào trên thế giới này, những hiểm họa như nạn đói, bệnh tật, thiên tai, nghèo đói và chiến tranh vẫn là những mối đe dọa đến sự bình yên và hạnh phúc của con người thì những bài hát như We Are The World vẫn còn sức sống mãnh liệt.
Ngoài ra có thể nói thành công của bài hát đỉnh cao này còn bởi giai điệu tuyệt vời và ca từ sáng đẹp như :
There comes a time when we heed a certain call
When the world must come together as one
There are people dying
Oh, and it”s time to lend a hand to life
The greatest gift of all Đã đến lúc chúng ta để ý đến một lời kêu gọi
Khi cả thế giới cần phải sát cánh bên nhau như một
Ngoài kia, những người đang chết dần mòn
Đã đến lúc chìa bàn tay giúp đỡ
Đó là một món quà tuyệt vời hơn tất cả
We can’t go on pretending day by day
That someone, somehow will soon make a change
We’ re all a part of God’s great big family
And the truth
You know love is all we need
Chúng ta không thể tiếp tuc giả vờ ngày lại ngày
Rằng một ai đó bằng cách nào đó sẽ thay đổi
Chúng ta đều là thành viên trong đại gia đình của Chúa / Thượng đế
Và sự thực là
Bạn cũng biết tình yêu là tất cả những gì chúng ta cần.
Ca khúc này với phần trình bày solo bởi giọng ca của các nghệ sĩ tài danh hàng đầu, dù hát đơn hay hát đôi trong một hai phút, chất giọng độc đáo của họ làm xúc động lòng người, chẳng hạn Lionel Richie, Stevie Wonder, Paul Simon, Kenny Rogers, Tina Turner, Billy Joel,Michael Jackson, Diana Ross, Willie Nelson , Al Jurreau và Dionne Warwick mà các bạn đã nghe qua Dionne Warwick & Friends và That’s What Friends Are For trong chuyên mục Nhạc Xanh (26/5/2009) . Sau đó họ hòa chung giọng hát với cả nhóm cùng hát đoạn điệp khúc 3 lần.
Links :
1. We Are The World- USA for Africa ( + with lyrics)
2. We Are The World – Live From Pavarotti & Friends
3. We Are The World – Michael Jackson
Sau đây là ca từ của bài hát kèm tên của ca sĩ trình bày theo bản 1985 ( USA for Africa)
There comes a time when we heed a certain call (Lionel Richie)
When the world must come together as one (Lionel Richie & Stevie Wonder)
There are people dying (Stevie Wonder)
Oh, and it’s time to lend a hand to life (Paul Simon)
The greatest gift of all (Paul Simon/Kenny Rogers)
We can’t go on pretending day by day (Kenny Rogers)
That someone, somehow will soon make a change (James Ingram)
We’ re all a part of God’s great big family (Tina Turner)
And the truth (Billy Joel)
You know love is all we need (Tina Turner/Billy Joel)
( CHORUS )
We are the world, we are the children
We are the ones who make a brighter day so let’s start giving (Michael Jackson)
There’s a choice we’re making we’re saving our own lives (Diana Ross)
It’s true we’ll make a better day just you and me (Michael Jackson/Diana Ross)
Well, send’em you your heart so they know that someone cares (Dionne Warwick)
And their lives will be stronger and free (Dionne Warwick/Willie Nelson)
As God has shown us by turning stone to bread (Willie Nelson)
And so we all must lend a helping hand (Al Jurreau)
( REPEAT CHORUS )
We are the world, we are the children (Bruce Springsteen)
We are the ones who make a brighter day so let’s start giving (Kenny Logins)
There’s a choice we’re making we’re saving our own lives (Steve Perry)
It’s true we’ll make a better day just you and me (Daryl Hall)
When you’re down and out there seems no hope at all (Michael Jackson)
But if you just believe there’s no way we can fall (Huey Lewis)
Well, well, well, let’s realize that a change can only come (Cyndi Lauper)
When we (Kim Carnes)
stand together as one (Kim Carnes/Cyndi Lauper/Huey Lewis)
(REPEAT CHORUS AND FADE )
(giọng phụ họa ứng khẩu : Bob Dylan, Ray Charles, Stevie Wonder, Bruce Springsteen, James Ingram)
Phần điệp khúc xin dành cho các bạn tự dịch.
Thân ái chúc các bạn một ngày vui và hạnh phúc cuối tuần.