Category Archives: Văn

Câu chuyện nhỏ

Cuộc đời mỗi người là một chuỗi dài những câu chuyện nhỏ nối tiếp. Có những câu chuyện chỉ như một thóang vút qua, chìm khuất nhanh chóng giữa bao nhộn nhã bộn bề, nhưng cũng có những câu chuyện mà mỗi lần có gì khơi gợi, lai thấy còn sống động y nguyên từng chi tiết nhỏ một. Không chỉ hình ảnh mà cả những cảm xúc cũng cuộn trào như đang lúc xảy ra vậy. Như một nềp gấp, rất khó mà miết phẳng đi được. Câu chuyện mà tôi sắp kể cho các bạn đây là một câu chuyện mang tính chất ấy. Và có lẽ bất kỳ một ai, nếu có một câu chuyện tương tự chắc cũng không dễ nào quên, cho dù con sóng thời gian có ào ạt cuốn phăng mọi thứ đến tận phương trời xa tít tắp nào.

Ngày ấy tôi mười chín tuổi, cái tuổi mười chín, hai mươi của chúng tôi là vào những năm đầu thập kỷ 80. Không được khôn ngoan lanh lợi , không được một tầm tri thức  như các bạn trẻ ngày nay. Chúng tôi ngày ấy còn ngờ nghệch lắm. Đôi khi cứ tưởng là mình đã hiểu biết sâu xa, nhưng có rất nhiều hành động mà bây giờ nhìn lại mới thấy ngây ngô đến tội nghiệp.

Tôi ngày ấy là một con bé không xinh xắn mà cũng không xấu xí. Chưa biết gì ngoài cây chổi, que diêm. Lại chân tay đểnh đoảng, làm đâu hư đó, nói trước quên sau. Cũng chẳng sáng soi gương, trưa chải tóc, lại hay ăn cốc vì cái tội ưa đọc truyện Kim Đồng để cơm thành bánh khảo. Bị câu mắng, lời đe, dăm bảy nhát que vào thịt là chuyện thường ngày. Có ấm ức thì tấm tức khóc một lúc rồi lại đâu vào đó. Vậy mà cũng đến lúc nỗi ấm ức vượt ra ngòai sự kềm tỏa của những giọt nước mắt, để bật ra một ý định bất thường.

Hôm ấy tôi bị đòn oan, mà nguyên do thì rất là vặt vãnh. Nhưng là vặt vãnh với bây giờ thôi, chứ ngày ấy thì không vặt một chút nào. Có lẽ phải kể qua một chút về bối cảnh gia đình tôi lúc bấy giờ để các bạn dễ hình dung ra một giai đọan của cuộc sống. Cũng như đa số những người dân sau ngày giải phóng, đời sống vật chất rất nhiều hạn chế. Lại cha tôi sớm qua đời sau ngày hòa bình không lâu. Gánh nặng gia đình dồn cả lên vai mẹ tôi. Một đàn con còn ngờ nghệch non dại, giữa chật vật miếng sống hàng ngày, mẹ tôi không khỏi những lo âu bươn trải, rồi đôi khi vì phải lo toan nhiều quá, cộng với những va đập của những bon chen giành giật hàng ngày, mẹ tôi cũng trở nên nóng tính. Con cái có những lúc là nơi để trút cơn giận dữ không phải là chuyện lạ. Nhất là với cái tính đểnh đỏang của tôi thì chẳng khác gì cơm ngày hai bữa, có khi còn dăm bữa phụ nữa ấy chứ.

Nhưng hôm ấy là một sự việc căng thăng hơn mức bình thường. Nhà tôi ở ngay trong một khu chợ, rất thuận lợi cho việc mua bán, mẹ tôi thuộc típ phụ nữ tháo vát, nên nói cho ngay, đời sống của anh chị em tôi cũng không đến nỗi quá đói khổ. Vốn tính tham việc, luôn tận dụng những điều kiện có thể để tăng thu nhập, thấy những thứ thức ăn thừa thãi từ các sạp bán hàng thải ra mỗi ngày, mẹ tôi nuôi thêm một bầy gà. Phải nói là nhìn phát mê những cái diều no căng mỗi chiều chúng lục tục trở về chuồng. Vừa vui vừa có thêm dăm ba quả trứng bồi bổ, con cái thi thỏang được bữa thịt gà hỉ hả thì ai mà không thích không ham chứ. Nhưng nghiệt nỗi lại ngay giữa chợ, cái hay là không phải cho ăn một tí gì mà những chú gà cứ nần nẫn béo mẫm ra, nhưng cái dở là thi thỏang lại thiếu đi một con lúc chiều về. Mỗi lần mất gà là chị em tôi đến khổ, cứ nhớn nhác khắp đầu chợ đến cuối chợ dõi căng mắt ra mà tìm. Có hôm may mắn tìm được thì chao ôi là sung sướng, quanh mâm cơm hôm ấy là những nụ cười, còn không thì…nhưng rồi cũng qua đi.

Hôm ấy khác hơn một chút là ngòai chuyện mất con gà, lại là một con gà mái to đang đẻ, tôi còn bị cộng thêm một vài tội vặt gì nữa đấy, nếu không có chuyện mất gà, chắc những sơ sảy ấy cũng chẳng là gì. Ngặt nỗi, khi cơn nóng của mẹ tôi nổi lên rồi thì tổng hợp những cái hỏng thành một trận lôi đình. Một trận dòn đau chưa đủ mẹ tôi hả giận, cho dù chẳng phải chính tay tôi làm ra sự mất mát ấy, nhưng rõ ràng như thể tôi là một thủ phạm chính trong mọi sự. Nếu chỉ là một trận đòn lúc buổi tối thôi thì chắc tôi cũng chưa đến nỗi. Ai dè, một đêm không ngủ được vì tức, vì tiếc, sáng ra mẹ tôi lại trút giận thêm một trận nữa. Quá đau và cũng quá uất ức, nên khi mẹ tôi đẩy tôi ra khỏi nhà với một câu dằn “Không tìm được con gà thì đừng vác mặt về nhá, tao đánh cho què thì thôi”. Vừa sợ vừa ức, tôi cứ đi, đi mãi. Và rồi tôi bỗng nghĩ đến một điều …

Chiếc xe lam phì phạch đưa tôi đi qua một đỗi đường dài đến hai mươi cây số, hai bàn chân tôi mỏi nhừ vì cứ phải co lên tránh luồng hơi lạnh ngăt tỏa  từ những cây nước đá xếp giữa lòng xe. Bây giờ mà chủ xe nào có lối tận dụng như thế chắc sẽ khó mà tồn tại trên những tuyến đường, ngày đó thì hành khách cứ thin thít mà chịu đựng. Duỗi và co bóp mãi hai chân tôi mới bắt đầu những bước đi.Từ nơi xe lam dừng để trả khách đến nơi tôi muốn đến còn phải hơn tám cây số đường đất nữa. Bây giờ các du khách đến tham quan  du lịch Thác Drây Sáp thì thong dong một lèo thẳng thớm trên con đường trải nhựa láng e đến tận cổng thác. Còn ngày đó, con đường dài bụi mù đất đỏ, qua hết được con đường chẳng khác nào người của một bộ tộc hẻo lánh xa xưa. Trước đó tôi đã một lần đi qua, đi du lịch hẳn hoi nhé. Nhưng các bạn biết chúng tôi đi du lịch bằng gì không ? Một chiếc xe cần cẩu, một lọai xe chỉ chuyên đi lấy cây trong rừng, ngày nay thì khó mà nhìn thấy trong thành phố. Không muốn tin cũng phải tin, chiếc xe đánh vật qua con đường không bằng phẳng ấy không biết bao lần trồi sụt, dằn lắc, và hành khách trên xe, khỏang mấy chục mạng đều chơi : vé đứng. Cũng nhờ có lần đi chơi đó mà tôi biết được nơi ấy, và dự định kế họach cho một lời vĩnh biêt thật êm thấm và lãng mạn.

Ngây ngô là ở chỗ đó, trẻ con là ở chỗ đó. Nhưng cái sự êm thấm và lãng mạn ấy trước hết là buộc tôi phải nuốt trọn quãng đường hơn tám cây số ấy chỉ với đôi chân mảnh mai của mình. Nếu trước đó có ai bảo tôi phải trải qua quãng đường ấy thế nào, chắc có lẽ tôi đã không đủ dũng cảm mà đi như thế. Không như bây giờ, xe cộ qua lại vù vù, để còn có cơ hội xin quá giang. Suốt một con đường vắng ngắt, chỉ có nắng và bụi . Họa hoằn lắm mới có người dân tộc mang gùi, cũng cắm cúi với đôi bàn chân. Hầu như không có nhà cửa dân cư gì, chỉ tòan có cây cao, núi lơ lỡ, đồi thoai thỏai. Tiếng chim, tiếng những lòai động vật lạ lẫm thi thỏang xua bớt cái vắng lặng của một vùng rừng heo hút. Nhưng tất cả những thứ ấy lại chẳng gây cho tôi chút cảm giác sợ hãi nào. thì đã quyết đi chết còn gì để sợ nữa. Thế rồi đôi chân đã bắt đầu phản kháng, chúng chậm dần, rồi nhích nhắc nhích nhắc lê từng bước một. Bụng đã đói, mắt đã tóa đom đóm, lưng vai, xương cốt chỉ chực vỡ vụn. Mỗi khi đứng lại nghỉ lại cảm thấy mình như muốn ngã quỵ xuống, tôi biết, nếu chỉ một lần quị ngã thì chắc tôi sẽ không thể nào đi tiếp được hết con đường. Hình ảnh dòng thác hùng vĩ tung bọt nước trắng xóa, mát rượi lại như vẫy gọi. Tôi lại ráng động viên mình, cứ gắng thêm ít nữa đi, rồi sẽ phải đến nơi thôi.

Thế mà rồi tôi đến được thật. Khi nhìn thấy những vuông đá làm bậc đi xuống, tôi thở ra một hơi dài nhẹ nhõm, tiếng nước đổ ầm ù phía xa trong làm tôi phấn chấn lên. Vào được đến khu vực thác chính, tôi ngã người lên một phiến đá to, cảm giác gân cốt rã rời một cách thỏai mái làm sao. Lúc đó trong tôi như không còn nỗi buồn nặng trĩu như lúc bước chân ra khỏi nhà, nhưng ý định trở về thì tuyệt nhiên không. Nằm một lúc cơn mệt đã nguôi đi thì cơn đói lại đến, đói thì lại nghĩ lại buồn lại tủi thân và khóc. Khóc chán, tôi lơ mơ thiếp vào giấc ngủ. Bên tiếng thác ầm ào, những bụi nước li ti như một làn sương bắn vào da mặt, tạo một cảm giác tê tê và mát rượi.

Tôi chợt tỉnh khi nghe có tiếng người, mở mắt ra thi thấy có hai thanh niên ôm một bó củi khô đang cách chỗ tôi một đọan. Tôi ngồi vụt dậy, đưa mắt nhìn quanh, cái phản xạ tự nhiên của giới tính muốn tìm một cái gì đó để có thể chở che, nương náu. Hai người thanh niên kia như đóan biết được tâm trạng tôi, họ không đi ngang con đường mòn sát chỗ tôi ngồi, mà đi vòng qua những tảng đá phía bên kia. Nhưng dù sao thì cũng không bỏ lỡ một tình huống.

_ Gì mà buồn thế bé ơi ! Đi kiếm củi với tụi anh cho vui đi.

Tôi im lặng, quay mặt nhìn ra dòng thác. Vài tiếng cười khe khẽ cùng mấy tiếng nói nho nhỏ rồi im vắng. Một lúc nhìn lại thì không thấy ai nữa. Tôi thở ra, giấc ngủ đã giúp tôi khỏe lại phần nào. Lần qua những tảng đá, tôi xuống đến mép nước, vốc  vã lên mặt, thấy thật sảng khóai dễ chịu. Bây giờ tôi mới nghĩ đến tình cảnh và ý định của mình. Chắc chắn tôi không thể nào thực hiện nó được với một vị trí có người qua lại thế này. Mông lung nhìn ra mặt nước, tôi vội lắc đầu khi nghĩ đến cảnh tượng một cái xác trương sình sẽ gây sự hỏang sợ cho ai đó, lại nữa, chết như thế thì không đẹp tí nào cả. Đúng là đồ con gái mà, đến chết mà cũng sợ xấu nữa. Tôi nghĩ đến một phương cách êm ả và dễ chịu hơn. Chỉ cần tìm một chỗ nào đó yên tĩnh, khuất nẻo không ai có thể phát hiện, và tôi sẽ nằm yên đó cho tới lúc nào lịm dần đi thì thôi.

Tự cho là mình thông minh khi tìm ra được một cách hay như thế.( Bây giờ nghĩ lại, tôi mới nhận ra là mình bị ảnh hưởng từ những trang tiểu thuyết dở hơi hồi ấy, chứ chỉ một mình tôi chắc không thể nào có cái ý tưởng lạ lùng như thế. Thế mới biết, những người cầm bút phải biết có trách nhiệm đến thế nào với những gì mình viết ra, bởi với một nội dung không lành mạnh, rất nhiều khi gây nên những hậu họa khôn lường cho nhiều người khác, nhất là lứa tuổi thanh thiếu niên chưa có đủ độ chín chắn trong nhận thức.) Tôi nhìn quanh để tìm một chỗ phù hợp. Suốt dọc theo mép nứơc chỉ tòan là đá, lẫn giữa những khe đá là những cây rừng cao thấp, có vẻ không dễ gì tìm được một chỗ như tôi muốn. Một thóang nghĩ về nhà, gương mặt mẹ tôi lúc giận dữ lại hiện ra rõ rệt. Tôi nhắm mắt xua đi, tôi nghĩ, mọi người rồi cũng sẽ mau chóng quên đi thôi, vắng đi một người như tôi trong nhà có khi lại bớt những cảnh ồn ĩ vì la mắng, roi vọt. Chị em tôi cũng bớt đi những lúc ghen tị hoặc tranh giành nhau những vặt vãnh gì đó. Nghĩ thế, nên lòng tôi hầu như không một chút vướng mắc, hối hận hay sợ sệt nào. Tôi đứng dậy, men theo rìa đá, chắc sẽ phải có một chỗ nào đó chứ nhỉ, bao la thế này cơ mà. Chợt tôi giật bắn mình :

_ Cô bé ơi !

Ngỏanh lại thì ra hai người thanh niên lúc nãy. Bối rối, tôi chưa biết phải nói gì thì tiếng nói kia lại vang lên :

_ Trời chiều rồi, cô bé ở đâu thì về đi, kẻo chậm nữa sẽ không có xe về đâu.

_ À… tôi còn phải chờ mấy bạn tôi nữa.

_ Nãy tôi đâu thấy có ai đi cùng cô bé đâu.

_ Có mà…

Nói rồi, tôi vờ chụm tay làm loa gọi ầm lên vài cái tên nào đó, vừa gọi tôi vừa tìm đường chạy trốn, biết ý đồ của tôi, hai người thanh niên kia lập tức bám theo. Tôi cảm thấy lo sợ trong lòng, không hiểu những người kia thuộc hạng người nào, tình thế này chắc là khó mà thóat được sự truy đuổi của họ rồi. Nếu không thóat thì phải làm sao đây ? Lần đầu tiên trong đời tôi rơi vào một tình huống khó khăn như thế. Từ trước đến giờ có bao giờ tôi đi xa một mình thế này đâu. Hai người kia vừa chạy đuổi theo vừa nhắc chừng :

_ Đừng sợ, cô bé ơi ! Chúng tôi không làm gì cô bé đâu, cẩn thận khéo ngã đấy …

Hình như họ không phải là người xấu, nhưng không thể tin vào một chút biểu hiện ấy, tốt nhất là cứ phải thóat được cái đã. Tôi gặp may khi lòn qua một tảng đá lớn, hụp đầu xuống để tránh tầm mắt của hai người kia, và họ mất bóng tôi thật. Tôi nghe tiếng họ bảo nhau :

_ Trông thế mà cũng nhanh chân gớm nhỉ.

_ Không chạy xa được đâu, chắc chỉ trốn dưới mấy gờ đá kia thôi. Ta cứ tìm tiếp đi.

Có nghĩa tôi chưa thể an tòan, tôi vẫn luồn lỏi dưới những khe đá, bất chợt tôi nhìn thấy một lỗ hổng to dưới một gốc cây, mừng qua tôi chui tọt vào, trong đầu không có chút đề phòng gì những con vật nguy hại như rắn rết đang chực chờ trong cái hốc cây ấy. Càng mừng hơn khi tôi nhìn thấy rõ những gộp đá như có tay ngưới sắp xếp thành một cái giường đá vậy. Tôi ngồi ngay lên, rất vừa với vóc người của tôi. Tôi lóng tai nghe ngóng phía ngòai một lúc, không có động tịnh gì, đúng là hai người kia đã mất dấu tôi. Yên tâm, tôi nhìn lại chỗ mình ngồi một lần nữa, đúng là quá lý tưởng so với yêu cầu của tôi, chắc ông trời đã giúp tôi đây mà. Thật buồn cười, đang muốn chết, được một nơi như mong đợi lại mừng, lại bảo được trời giúp.

Từ chỗ tôi ngồi nhìn thẳng ra mặt chính của dòng thác, vừa yên ổn vừa lãng mạn, thật không chê vào đâu được. Thế này thì chắc cũng khó có ai mà tìm ra được, nhưng để cho yên tâm hơn, tôi lò dò ra ngòai bẻ một số cành lá dựng ngụy trang trước của. Ở xa nhìn tới chăc chăn không thể nào nghĩ được là trong đây có người. Xong xuôi, tôi ngả lưng lên cái giường đá, thấy sao mà khỏe khoắn, dễ chịu thế không biết. Nằm quay mặt ra ngòai, tôi nhìn dòng thác cứ tuôn đổ hết ngày này qua tháng khác mà không hết nước. Không biết nước ở đâu ra mà lắm thế nhỉ ? Nhìn ngắm một lúc tôi nghĩ về gia đình, giờ này không biết mọi người ở nhà đã phát hiên ra sự vắng mặt của tôi là đã quá lâu rồi chưa nhỉ ? Đã có phán đóan gì chưa ? Có lẽ cùng lắm là nghĩ tôi đến nhà người bạn nào đấy thôi, dám chắc một trăm phần trăm là không thể nào nghĩ ra được là tôi đi gửi thân ở chốn này đâu.

Trong thâm tâm tôi thầm xin lỗi mẹ, mẹ đã khổ nhiều vì lo lắng cho chúng tôi, mà tôi lại hay làm mẹ phải buồn bực, từ nay thì không còn đứa con gái vụng về, đểnh đỏang này làm mẹ phải cáu giận nữa mẹ nhé. Con tự nguyện rời xa cuộc sống này, mong sao những người còn lại sẽ có những tháng ngày vui vẻ hơn. Tôi đinh ninh là thế. Bởi nếu đã không yêu không thích thì tốt nhất là đừng phải trông thấy hàng ngày, tôi nghĩ đến cả những lần cãi cọ của mấy chị em tôi. Chi em gái, lại sàn sàn với nhau, thường không chịu nhường nhau những chuyện nhỏ nhặt. Đây là một cách tốt nhất để giải quyết tất cả những bất hòa dai dẳng và khó chịu ấy. Có lẽ các bạn đang rất chê cười tôi, nhưng quả thật lúc ấy tôi chỉ nghĩ được có thế. Và chính ý nghĩ mình đang đem lại sự giải thóat cho mọi người đã làm tôi không thấy có tư tưởng sợ chết. Hình như đôi khi trong sự ngây ngô và cao cả có nét tương hợp nhau. Tôi thiếp đi trong lan man nghĩ ngợi, trong cơn đói âm ỉ của dạ dày, cùng những giọt nước hoen ra từ đôi mắt. Một thóang nghĩ mình đang lịm dần đi rồi đấy, và tôi không biết gì nữa.

Một lần nữa tôi giật thót tim và chòang tỉnh khi :

_ Hồi chiều tụi em đuổi đến đây thì mất dấu.

_ A..tao biết rồi, ở gần đây có một cái hang nhỏ.

Vừa kịp biết nơi mình ẩn nấp sẽ không còn an tòan, thì một bàn tay đã xô vẹt đám cây lá ngụy trang một cách vụng về, và hiện ra dưới thứ ánh sáng nhờ nhờ của màu trời sâm sẩm tối là một gương mặt, một dáng người đàn ông cao lớn. Tôi gần như đông cứng trong một tư thế. Giọng người đàn ông có vẻ reo vui :

_ Đây rồi !

Lan ra một vài tiếng kêu mừng rỡ phía sau. Người đàn ông ấy cất giọng nhẹ nhàng, chủ yếu để trấn tĩnh tôi :

_ Chào cô bé. Cô bé đừng sợ, tụi anh không có ác ý gì đâu, chỉ là muốn đưa cô bé lên nghỉ ngơi trên trạm canh của tụi anh thôi.

Tôi đã hơi bình tĩnh, đáp lại với giọng bướng bỉnh :

_ Dạ thôi, em ở đây cũng được rồi.

_ Không được. Ở đây rất nguy hiểm vào ban đêm, vì có cả thú dữ lẫn người xấu. Anh không thể để cô bé ở lại một nơi như thế này được. Ngoan nào, nghe lời anh đi.

Tôi im lặng, trong lòng rối rắm, không biết mình nên làm gì nữa. Người ấy lại tiếp tục với giọng nói như dỗ dành, như động viên, và như bắt buộc :

_ Anh biết cô bé có chuyện gì đó không vui. Nhưng không sao, chuyện gì rồi cũng qua đi thôi mà. Với một tình người đơn thuần, và một trách nhiệm nhất định, anh không thể để cô bé có những hành động dại dột được. Nghe lời anh, ra đi nào. Ra rồi lên trạm ăn cơm , chắc là bé đói lắm rồi phải không ?

Một lần nữa tôi cố dùng dằng :

_ Không sao đâu. Em ở đây cũng tốt mà.

_ Anh biết cô bé lo sợ điều gì rồi. Yên tâm đi, anh lấy danh dự một sĩ quan biên phòng mà bảo đảm mọi sự an tòan cho cô bé. Tụi anh là một đơn vị đóng quân nơi đây, có trách nhiệm an ninh cho mọi người. Cô bé yên tâm rồi chứ ?

Thấp thóang ngòai cửa hang, là một bóng người nữa. Tôi lại im lặng. Trong tôi không có sự quyết định, nửa muốn đi ra theo lời gọi kia, nửa muốn lì lợm cố thủ trong cái hang này, mà nửa sau thì rõ ràng khó mà thực hiện được. Đúng thế. Dường như hơi sốt ruột vì thái độ của tôi, giọng người kia hơi đổi sắc một chút, nhưng vẫn cố dịu dàng :

_ Nếu cô bé không tự nguyện bước ra, thì buộc lòng tụi anh phải giúp cô bé thôi.

Một sự bắt buộc và đe dọa thật sự. Một giọng nói khác cất lên :

_ Anh cứ để cô bé sẽ tự ra mà, trông cũng có vẻ hiền lành dễ thương đấy, không cứng đầu khó bảo đâu.

Bây giờ nghĩ lại, tôi mới hiểu rõ ngụ ý của câu nói ấy là gì. Còn lúc đó, nửa biết mình không  thể lì được nữa, nửa như được cho uống thìa nước đường, tôi ngần ngừ một chút rồi ngoan ngõan chui ra. Anh mắt tôi thóang lia ra mặt nước, lập tức người thứ hai kia nhảy chắn trước tôi. Người lúc đầu vẻ hài lòng với kết qủa liền nói :

_ Thôi anh em ta đi nào, trời tối rồi.

Có ánh đèn bin lấp lóa soi đường, bấy giờ tôi mới nhìn thấy có hai người phía trước nữa, tôi biết đó là hai thanh niên lúc chiều đuổi theo tôi. Dòng người nối hàng nhau, đi sau tôi là người đã nhảy chắn mặt nước và cũng là người góp phần sau cùng lôi tôi ra khỏi cái hang ấy. Con đường đá lô xô, khúc khủyu, ban ngày còn khó khăn đặt những bưỡc chân, huống chi , vừa tối trời, lại vừa mệt vừa đói, những bước chân tôi chập chỗm, đã mấy lần bị vấp té. Bất chợt giọng nói phía sau tôi cất lên :

_ Phải vậy thôi, không còn cách nào khác, xin lỗi bé nhé.

Dứt câu thì cả người tôi nhẹ hẫng theo đà nâng của đôi tay mạnh mẽ, tôi cũng không phản kháng, là bởi hiểu rằng việc phải thế, và cũng có một cảm giác yên tâm, tin tưởng vào những con người này. Một dự cảm đúng giúp tôi thấy nhẹ lòng. Đi một đọan, người đang bế tôi mỏi tay nên chuyền cho người đi phía trước. Tất cả đểu im lặng với những bước chân. Lên gần đến những bậc thang đá. Tôi được nhẹ nhàng thả xuống bên một vũng nước trong vắt, ánh đèn bin soi thấy rõ mấy chú cá nho nhỏ đang dạo bơi.

_ Bé hãy rửa mặt và chân tay đi.

Tôi nghe lời ngồi xuống khóat nưởc rửa mặt. Trông tôi lúc ấy chắc nhếch nhác lắm thì phải. Nước mát cộng thêm những bậc đá bây giờ đã khá bằng, nên tôi đi lên có vẻ vững vàng hơn. Vừa nhô mặt lên đến bậc thang trên cùng, tôi bất ngờ vì những tiếng reo vui gần như cùng một lúc.

_ Có rồi…tìm thấy rồi …may quá…

Một xúc cảm kỳ lạ dâng ngập lòng tôi, sự xúc động của một thứ tình người ấm áp, cộng thêm một cảm giác là mình có lỗi khi đã gieo sự lo âu cho những người xa lạ kia. Họ không có chút gì liên quan đến bản thân tôi, mà họ lại hết sức vui mừng khi thấy tôi được bình an trở về. Vậy mà tôi…Bước lên cái lán đang tù mù những ngọn đèn dầu, tôi lại càng hối hận hơn khi nhìn thấy những mâm cơm lạnh tanh xếp chỏng chơ giữa một cái bàn dài. Những cái nhìn vừa vui mừng vừa tò mò khiến tôi ngượng ngùng cúi đầu. Bấy giờ tôi nhận rõ nơi mình đã đến, một trạm canh của những người lính biên phòng. Trong trí óc của tôi, khái niệm về những người lính còn xa lạ và có một chút gì như là đáng sợ vậy. Người đã khuyên dụ tôi lúc còn ở dưới cái hang, mà tôi chắc anh là người có cấp bậc cao nhất ở đây, khi nghe những chú lính gọi là thủ trưởng, vừa cười vừa nói :

_ Thôi, đi ăn cơm đi, cô bé đói lắm rồi đó.

Mệnh lệnh được tuân thủ một cách nhanh chóng, tôi được xếp ngồi phía đầu bàn, những miếng thịt, miếng rau được gắp vào bát tôi kèm theo lời giục giã, sự săn sóc tận tình của những người đã khổ vì tôi khiến tôi muốn khóc, phải lén quay đi chùi giọt nước mắt. Cơm xong, một nồi chè ngũ cốc còn bốc khói được bê ra. Một người nói vui :

_ Bữa nay linh tính có khách quý nên nấu chè đãi khách đấy ạ. Mời quý khách xơi nhiệt tình cho.

Những tiếng cười rộ lên, tôi cũng cười và hướng về mọi người một ánh nhìn biết ơn. Lúc này tâm trạng tôi đã hòan tòan nhẹ nhõm. Tôi chợt thóang nghĩ, nếu không tìm được tôi, chắc tất cả những người này sẽ không có một bầu không khí vui như thế, vì một niềm thương cảm, vì một nỗi ray rút đè nặng. Ngòai trời không một thứ phát sáng mỏng manh nào hòng làm giảm bớt sự hòai nghi và bất trắc trong màn đêm đen kịt kia.

Khi các thứ bát đũa được dọn đi. Anh Thuộc (thủ trưởng) lấy từ trong cái ba lô ra một túi bánh ít, nói :

_ Hôm nay ai đi phố rồi thì không ăn bánh nữa nhé.

Tôi hiểu đó là một thứ quà không thường xuyên với nơi này. Khi anh Thuộc đặt một cái trước mặt tôi và bảo :

_ Ăn đi em.

Tôi từ chối :

_ Em cũng ở phố vô mà.

Đó là câu nói đầu tiên từ lúc tôi bước chân lên căn lán này, làm bật ra những tiếng cười.

_ Cũng hóm hỉnh ghê đó chứ.

Câu thúc giục của anh Bằng, là người đã bế tôi lên lúc trước :

_ An đi cô bé, hay chê quà nghèo của lính ?

Tôi lí nhí “dạ đâu có” rồi bóc chiếc bánh ra ăn. Xong xuôi anh Thuộc mới rủ rỉ hỏi tôi nguyên do. Tôi kể cho anh nghe câu chuyện là vậy, nhưng anh không tin, cứ gặng tôi mãi :

_ Em nói thật đi, có phải cậu nào đó đã lừa phỉnh gì em không ? Hãy coi anh như một người anh trai của em, nếu đúng là có ai đo làm điều xấu vói em, cứ nói cho anh biết, anh sẽ cho họ một bài học.

_ Dạ không, em nói thật mà.

Nhưng dù sao thì anh vẫn không tin, có ai tin được chỉ vì một trận đánh mắng của mẹ mà lại có hành động dại dột như tôi đâu. Anh Thuộc giảng giải cho tôi những đúng sai trong sự việc, giọng anh nhẹ nhàng trầm ấm, đầy vẻ bao dung và thân thiết, đã cho tôi thấy được lỗi lầm của mình. Súyt nữa thì tôi đã gieo đau khổ cho bao người. Ôi là cái con bé tôi, một con bé quá ngốc nghếch khờ khạo. Đêm đó đã có một anh lính phải đi ngủ ké để nhường nguyên một bộ chăn màn cho tôi.  Một bộ chăn màn khác thì cách tôi độ 2m, dành cho anh Sáng. Anh rủ rỉ hỏi tôi đủ thứ chuyện, rồi khi anh tin lý do tôi bỏ nhà đi là thật thì anh hỏi :

_ Em có biết em đang gây ra một chuyện gì cho gia đình không ? Và em có biết mọi người trong nhà bây giờ đang lo lắng cho em những gì không ?

Hỏi nhưng không đợi tôi trả lời, anh tiếp luôn :

_ Cha mẹ nào cũng có những lúc nóng giận với con cái, cũng có những lúc la mắng oan con cái, cũng chỉ vì muốn con mình được nên người. Nếu con cái nào cũng hành động như em thì thế giới này còn đâu con người nữa.

Cũng như anh Thuộc, anh Sáng giảng giải và bảo ban tôi một số điều, trong tôi dậy lên một sự ấm áp của một đứa em nhỏ dại khờ được sự yêu thương bảo bọc của người anh trai, đồng thời cũng ngập tràn lòng tôi nỗi nhớ nhà.

Sáng hôm sau thức dậy, sau bữa cơm sáng, anh Thuộc hỏi :

_ Em đã muốn về chưa ? Chưa thì anh dẫn đi chơi, phía trên kia còn mấy cái hang đẹp hơn cái hang em ngồi hôm qua nhiều.

Tôi nghĩ đến sự lo lắng, nháo nhác trong gia đình tôi, nhất là khi con gái một mình qua đêm ở ngòai, dù cũng còn đôi chút sợ sệt mẹ, nhưng tôi biết  tôi không thể chậm trễ hơn được nữa. Đêm qua sau khi nhận rõ sự sai trái của việc mình làm , tôi đã chỉ muốn lập tức quay về.  Thấy tôi tỏ ý muốn về, anh Thuộc gật gù :

_ Đúng, em muốn về là đúng. Thôi để anh cho người đưa em về, hồi nào có dịp trở lại đây thì anh sẽ dẫn đi chơi nhé.

Đưa tôi trở về là một anh lính trrẻ có tên là Lân. Cũng một chặng đường dài hơn tám cây số tôi đã qua, nhưng lần trở ra này thì khác. Anh Lân đem theo trong ba lô một chai nước và một gói cơm nếp, dọc đường lại rất để ý chăm sóc tôi, nên tôi không hề cảm thấy cái mệt như hôm qua một chút nào. Về đến tận bến xe lam trong lòng phố, tôi chào tạm biệt anh Lân. Người lính nhận nhiệm vụ đặc biệt này còn chưa yên tâm một khi chưa tận mắt thấy tôi bước vào nhà, tôi phải hứa mãi anh mới chịu đi. Nhưng hình như chỉ đến khi tôi thực sự bước chân vào cửa nhà mình, thì người mang trách nhiệm mới nhẹ lòng quay đi.

Vừa giận vừa mừng, đó là gương mặt và ánh mắt của mẹ tôi, tôi chỉ phải nghe thêm vài câu mắng qua loa, thế rồi câu chuyện trôi qua. Về sau tôi có vài dịp trở lại nơi ấy, nhưng khu trạm canh ấy đã không còn, có lẽ các anh đã phải chuyển đi nơi khác , khi khu thắng cảnh được người ta đưa vào khai thác quy mô hơn. Lần gần đây nhất, tôi thấy cái cây to có cái hang trong lòng gốc ấy đã bị đổ, cái gốc chĩa lên còn nguyên một dáng vòm. Hơn hai mươi năm còn gì. Tôi bây giờ nhìn tôi ngày đó mà bật cười. Câu chuyện ngày xưa có lẽ cũng khuất chìm trong tâm trí những người ân nhân của tôi . Cũng chỉ là một câu chuyện nhỏ giữa bộn bề tháng năm thôi mà. Nhưng tôi thì còn nhớ mãi. Những người đã cứu mạng tôi một lần trong đời, nhưng tôi thì chưa nói lên được một lời cảm ơn.

Hỡi những anh Bằng, anh Thuộc, anh Lân, anh Hảo, anh Sáng ….Có lẽ các anh vẫn ngược xuôi đâu đó trong dòng đời này, nếu có một lần nhớ về câu chuyện nhỏ ấy, xin hãy yên tâm rằng : Em : cô bé khờ khạo, ngốc nghếch ngày nào, đã biết sống có trách nhiệm với mình với ngừơi hơn rồi, các anh nhé. Và hãy nhận của em một lời tri ân, cầu mong các anh cũng sẽ nhận được nhiều niềm vui và hạnh phúc như khi các anh đã từng đem đến cho em.

Đàm Lan

Thảo thơm đâu cần phải nhiều lời

(Về bài thơ IM LẶNG của Nguyễn Hữu Quý)

IM LẶNG

Sinh ra kề mắt bão
mẹ bọc tôi trong vạt phù sa
cái cuống rốn người vùi nơi gốc rạ
im lặng rễ đồng nhập vía hồn tôi

Tôi lớn lên với cây lúa ít lời
sau giông gió chỉ nói bằng hạt chín
hạt lép tập bay, hạt đầy học nhịn
lúa dạy tôi ngôn ngữ chiêm mùa

Tôi học ướt từ mưa
học khô từ nắng
học lội từ bùn
học hát từ trăng
học chắt chiu từ chua mặn đồng làng
và, sau nữa tôi học về im lặng

Im lặng rễ, im lặng cành, im lặng…
ừ nhỉ, thảo thơm đâu cần phải nhiều lời
sau vỏ trấu là trắng ngà hạt ngọc
chứa những điều ân nghĩa chẳng xa xôi

Biết im lặng khó hơn mười lần nói
lặng lẽ đi cũng chẳng phải dễ dàng
tôi nín lại tiếng reo mùa ló rạng
để ra đồng cúi mặt cấy mạ non!

(Nguyễn Hữu Quý)

Cảm nhận về tập thơ Im lặng trên cao của Nguyễn Hữu Quý, Nguyễn Đào Nguyên đã viết Đó là cái im lặng hướng thiện, siêu việt thế gian. Đó cũng là một cách tồn tại của con người. Một cách thế nghiêng nhiều hơn về minh triết Á đông. Bởi lên cao là nối với đại không, với vũ trụ, nơi hóa giải vui buôn đắc thất của đời người
Nếu Im lặng trên cao là im lặng của con người đã có nhiều trải nghiệm, của hồn thơ đang chín, là hệ quả của những gì làm nên người thơ Nguyễn Hữu Quý thì Im lặng là một tự sự chân thành nhưng không kém phần sâu lắng khiến người đọc dễ cảm. Nói cách khác để có được im lặng, ngoài sự vượt lên những va đập của sóng đời trước hết anh có hạnh phúc được hưởng nâng niu từ những nguồn thương vô hạn , đã học với những bậc thầy gần gũi nhưng thông tuệ và các bài học mà anh tích góp ấy được nhà thơ thổ lộ trong tác phẩm này.

Hãy nghe anh khai báo: Sinh ra kề mắt bão / mẹ bọc tôi trong vạt phù sa / cái cuống rốn người vùi nơi gốc rạ / im lặng rễ đồng nhập vía hồn tôi .

Là vậy. Người mẹ sinh ra anh đã nhận từ quê hương quà tặng quí báu là vạt phù sa để bọc anh giờ sinh nở và gốc rạ để vùi cuống rốn. Bọc – Vùi – Mẹ – Gốc rạ. Gần gũi quá, thân thiết quá. Có nâng niu nào hơn, thương mến nào bằng. Chính trong khoảnh khắc chào đời ấy im lặng đã trở thành thuộc tính của anh.

Kề mắt bão là miền Trung, nơi lũ tràn qua mặt, bão giật ngang đầu nơi nhạy cảm đến từng tấc non nước ( Miền Trung- NHQ), nơi thử thách sức chịu đựng của con người cũng như cây cỏ đến nỗi ít lời trở thành phẩm chất sở hữu không chỉ riêng của người mà của luôn cỏ cây vùng đất này. Đại diện đặc trưng là cây lúa và anh đã lớn lên với lúa, học từ lúa bài học về sự khiêm tốn thanh cao: Tôi lớn lên với cây lúa ít lời / sau giông gió chỉ nói bằng hạt chín / hạt lép tập bay, hạt đầy học nhịn / lúa dạy tôi ngôn ngữ chiêm mùa

Ngôn ngữ của lúa là âm thanh lao xao, mượt mà khi gió ngang qua cánh đồng thì con gái, là tiếng rì rào trĩu nặng ân tình khi phù sa và mặt trời đã lặn đủ vào hạt. Ngôn ngữ của lúa là màu vàng tươi vui khi được mùa, cũng có thể là màu ủ ê thuở thất bát. Ngôn ngữ bình dị đó chỉ được nói lên bằng hạt chín, cũng là bằng thành quả của những ngày gom nhặt. Lúa học bay, học nhịn. Còn nhà thơ, ta hãy nghe anh tâm sự: Tôi học ướt từ mưa / học khô từ nắng / học lội từ bùn / học hát từ trăng / học chắt chiu từ chua mặn đồng làng

Phải chăng anh đã học thích nghi; rèn giũa kỷ năng sống; kết tinh vẻ đẹp tâm hồn mình từ thiên nhiên của chính quê hương anh để rồi:Và, sau nữa tôi học về im lặng / im lặng rễ, im lặng cành, im lặng…

Dù im lặng rễ đồng nhập vía hồn tôi hay nói cách khác dù im lặng là bẩm tính, anh vẫn chưa bằng lòng bởi cái tự nhiên nhi nhiên đó chưa phải là tinh hoa, chưa làm nên con người đích thực. Vì anh nghiệm ra: ừ nhỉ, thảo thơm đâu cần phải nhiều lời / sau vỏ trấu là trắng ngà hạt ngọc / chứa những điều ân nghĩa chẳng xa xôi

Đọc đến đây có lẽ không ai không thốt lên “Ồ! Giản dị quá. Tinh tế quá. Như ca dao, tục ngữ”. Thật vậy, nhà thơ nói lên điều rất thực sau vỏ trấu là trắng ngà hạt ngọc nhưng tầng tầng ý nghĩa sau cái rất thực đó mới hàm súc, thuyết phục làm sao thảo thơm đâu cần phải nhiều lời”.

Lưu Đại Khôi (đời Thanh) đã kết luận “ giản dị là cảnh giới tận cùng của văn chương”, phải chăng trong khổ thơ này Nguyễn Hữu Qúy đã chạm đến cảnh giới rồi? Người đọc cũng đồng ý rằng một lần nữa lúa lại là người thầy gần gũi, uyên bác nhưng hết sức thầm lặng của anh, giúp anh nhận chân được giá trị của một phẩm chất phải có của kẻ làm người đúng nghĩa nhất mà không cần sách vở hay triết thuyết: Biết im lặng khó hơn mười lần nói / lặng lẽ đi cũng chẳng phải dễ dàng

Người xưa dạy “ uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”. Điều đó cho hay NÓI khó biết nhường nào. Vậy mà ở khổ thơ cuối này, anh đã đưa ra kết quả bài toán so sánh độ khó của BIẾT IM LẶNG và NÓI khiến ta thảng thốt: mười lần. Không dễ gì biết im lặng khi quanh ta chất ngất những thứ đầu độc tâm hồn tình cảm trí tuệ khiến ta phải nói dù là hằn học nanh nọc hay bông lơn giễu nhại. Không dễ gì biết im lặng khi ta còn mải mê bơi lặn trong bể si ái. Biết im lặng là chuẩn mực của sự NGỘ, mà mấy ai…?

Có lẽ nhiều người không đồng ý với con số chính xác trong câu thơ này. Sao không phải là năm , bảy, thậm chí một trăm mà lại là mười. Theo tôi số mười ở đây chỉ là cách nói chứ không phải là con số thực. Số mười chỉ sự vẹn toàn; sự khó đạt tới ( !). Điều đó có nghĩa là “ cực kỳ khó, vô cùng khó”.

Bài thơ kết thúc bằng một sự kìm nén : kìm nén niềm vui của người thấy được thành quả nhưng không phải để tự mãn, phỉnh nịnh mình mà để gieo mùa vui mới: Tôi nín lại tiếng reo mùa ló rạng / để ra đồng cúi mặt cấy mạ non

Đọc bài thơ Im lặng cùng lúc ta có thể nhất quán thơ với tính cách, tâm hồn nhà thơ và cảm nhận được sự lớn lao trong từng hoạt động nhỏ của con người miền Trung nói riêng -Việt Nam nói chung – mà cây lúa là biểu tượng gần gũi – là ẩn dụ chủ ý, đồng thời ta vừa tận hưởng cái thú nhẩn nha với câu chữ giản dị vừa thấm thía ý nghĩa sâu xa của sự khiêm tốn thấm đậm triết lý – một phẩm chất ngày càng trở nên thiếu từ trong cả ý nghĩ và cách hành xử của nhiều người giữa cuộc sống đang nhiều thêm bao bộn bề lo toan nhưng ít dần những giờ khắc lắng đọng để mỗi người có thể nhìn lại mình nhằm tự rèn giũa phần NGƯỜI.

Tôn Nữ Ngọc Hoa

Vầng trăng ngày ấy

Người đàn ông ngồi trước mặt tôi có một khuôn măt xương xương, đôi má hóp lõm càng làm cho hai gò lưỡng quyền nhô cao, càng làm cho gương mặt với làn da sạm thêm phần khắc khổ. Ngoài bốn mươi, anh vẫn đang độc hành với những bước chân vô định. Anh mắt đong đầy, trĩu nặng một nỗi niềm ray rứt xa xưa nào đó. Hai bàn tay xương xẩu đan vào nhau, bần thần, vụng vịu.

Không phải là một cặp tình nhân, mặc dù cả hai chúng tôi có chung một điểm mà bạn bè cho rằng “Một điều kiện quá thich hợp như thế rồi, còn chờ gì nữa” Còn chờ gì nữa – Nghe thật quá đơn giản, những con mắt khách quan thường phiến diện, cứ cho rằng trong một tối thiểu nào đó, có thể là đã đủ để làm nên một vấn đề. Họ nhầm lẫn hay họ vô tâm không đọc hết được những ngõ ngách của người khác. Mà cũng phải, trong cái cõi tâm can của một con người thường ẩn nấp bao điều bí ẩn, những điều mà có thể chính bản thân mình cũng không bao giờ đọc hết được, huống chi người bàng quan bên ngoài. thật ra, những lời nhã ý của bạn bè không phải là không có lý, mà lại còn rất có tình nữa là khác. Có điều, chuyện hôn nhân không phải là một con tính, để cứ cộng lại là xong.

Tôi còn nhớ rất rõ, ngày Thắng về cơ quan nhận chân bảo vệ. Với một lý lịch dễ gây hoài nghi cho những ánh mắt. Bộ đội xuất ngũ, nhưng có đến năm quyển lịch được đếm thầm trong một con dấu đỏ. Vì tội danh gì thì tôi không rõ, nói đúng hơn là không nên gợi lại những sai lầm mà người ta đã phải trả giá. Thắng bước qua được cái cổng này là nhờ sự giới thiệu của ông phó giám đốc, nghe nói trước đây họ cùng một binh chủng. Một bảo vệ và môt văn thư, hai công việc dường như chẳng có liên quan gì với nhau, nhưng một ngày bốn lần vào ra cánh cổng, cũng là bốn lần gật nhẹ chào nhau. Một cử chỉ không phải cũng có ở tất cả mọi người. sở dĩ tôi cẩn thận như thế bởi do bản tính khá phép tắc, lại thêm phải tiếp xúc nhiều, nên cử chỉ ấy ăn sâu thành thói quen, may mà một thói quen tốt. Hơn nữa, từ khi nghe loáng thoáng câu chuyện không đầu không đuôi về nguời đàn ông này, tôi không cảm thấy sự ngại ngùng, e dè, ác cảm, mà còn có một cái gì đó thông cảm, vỗ về trong tâm tưởng. Tôi không tự lý giải được cảm xúc này, nhưng trên gương mặt lúc nào cũng phảng phất nét mặc trầm, và trong đôi mắt vẫn chất chứa một nỗi u hoài nào đó, khiến cho tôi tin đây không phải là người có thể làm việc ác. Vả lại, vướng vào vòng lao lý đâu chỉ có những hành động man rợ mất nhân tính, mà đôi khi còn có nhiều uẩn khúc khác nữa.

Thế rồi đôi ba câu thăm hỏi, chuyện vãn, thi thoảng những nụ cười thiện cảm, trong nhà ngoài ngõ rì rầm “thế thế…chắc là thế”. Buồn cười thế đâý, trong con mắt của một số người, cứ một nam một nữ chuyện trò với nhau vui vẻ là phải có một cái gì đó nhập nhèm. Tôi chẳng thanh minh, chẳng xác nhận, chuyện vu vơ ấy mà. Nhưng rồi tôi rất ngạc nhiên khi một chiều ra cổng, Thắng ngập ngừng, ấp úng :

– Tôi…tôi muốn mời cô đi uống nước, được không ạ ?
Tôi nhướng mày ngạc nhiên, Thắng lại bối rối :
– Là tôi…tôi có việc này ..muốn nhờ cô.
– À, nếu là công việc thì anh cứ nói luôn ở đây đi cũng được.
– Chuyện này …chuyện này không tiện nói ở đây, nếu cô ngại thì thôi vậy.
– Không, không, tôi không ngại gì đâu, thôi được.

Một lời mời đột ngột đương nhiên là làm tôi rất nghĩ ngợi, nhưng thôi đã nhận lời thì cứ đi xem anh ta nói gì, dẫu có là tán tỉnh thì tôi vẫn có chủ kiến của tôi cơ mà. Tôi tuy đã ngoài băm, đã vào cái lứa muộn mằn đường duyên nợ, nhưng tôi không lo lắng vội vã nghe những lời giục giã, tôi nghĩ, nếu có lập gia đình, thì phải là một người mình yêu thương, và ngược lại, chứ không việc gì vì điều tiếng dư luận nọ kia mà phải vớ đại một ai đó, để rồi dìm cuộc đời mình trong bất hạnh. Nói cho đúng ra, lấy chồng muộn đâu phải là cái tội, mà lấy chồng sớm cũng chưa chắc đã là chuyện hay, duyên phận mỗi người mỗi khác, hãy cứ bình tâm mà đợi đến đúng lúc của mình. Đối với Thắng, tôi chỉ nghĩ anh là một người bạn, một người bạn trầm tĩnh, hơn vài ba tuổi, đủ để cho tôi một số kinh nghiệm nào đó, ngoài ra không có thứ cảm xúc nào khác, và nếu anh có suy nghĩ gì, chắc tôi cũng lựa lời cho anh hiểu.

– Có việc gì thì anh cứ nói đi, nếu không ngoài khả năng, tôi sẽ không từ chối đâu.
Tôi lên tiếng giục khi thấy Thắng cứ chần chừ, lúng túng. Hình như việc gì đó khó nói lắm thì phải. Nhưng rồi Thắng cũng phải nói, vì đó là mục đích của cuộc gặp này mà.
– Tôi phải xin lỗi cô trước, nếu việc tôi nhờ có làm cô phật ý.
– Anh yên tâm đi, tôi không phải là người hay chấp nhất những chuyện nhỏ nhặt, cuộc sống ai cũng phải có lúc cần cậy nhờ mà.

Trước khi vào việc chính, Thắng phải uống một hơi hết gần nửa ly cà phê đá chứng tỏ anh đang rất căng thẳng, tôi cũng hồi hộp chờ nghe.

– Tôi muốn…tôi muốn nhờ cô giả làm bạn gái của tôi.
– Cái gì ? Tôi nhảy dựng lên.
– Xin cô hãy bình tĩnh nghe tôi giải thích, nếu nghe xong mà cô vẫn không thể giúp tôi được thì tôi cũng rất cảm ơn cô vì đã bỏ thời gian đến đây.

Thắng cúi mặt như để chuẩn bị, tôi vẫn còn chưa tan hết cảm giác kinh ngạc. Đó là việc mà tôi không thể ngờ tới, nhưng hãy nghe anh ta nói xem thế nào đã. Những ngón tay vẫn vặn vẹo vào nhau. Tôi ngồi yên chờ đợi. Hẳn phải có một lý do gì đó rất đặc biệt, rất nghiêm trọng, và phải là rất cần thiết nữa, thì mới khiến cho một người đàn ông từng tuổi này, đi nhờ một người bạn bình thường như tôi, đúng là bình thường thôi, vì tôi khẳng định, trong giao tiếp hàng ngày tôi chưa hề tỏ ra một dấu hiệu nào khác lạ để anh ta ngộ nhận. Nhưng tại sao Thắng lại chọn tôi chứ ? Chăng lẽ chỉ với một lý do là tôi còn độc thân, chắc không chỉ có thế, vì trong cơ quan tôi, củng có vài chị nữa, cũng suýt soát tuổi tôi, và cũng vì vài lý do nào đó, đang loay hoay với những trăn trở của riêng mình. Thắng bất chợt ngẩng lên nhìn thẳng vào tôi, cái nhìn như biểu lộ tất cả những cố gắng của anh.

– Ba tôi bị ung thư gan giai đoạn cuối rồi, và sự mong ước lớn nhất của ông là được nhìn thấy tôi
lập gia đình, hay chí ít cũng có được một người phụ nữ bên cạnh. Mà tôi thì…hiện tại không thể nào thực hiện được mong muốn của ông, tôi thấy mình có tội với ông quá, nên đành nghĩ ra cách này, xin lỗi, tôi không hề có ý lạm dụng cô.

Một phần thắc mắc được lý giải, nhưng chưa là tất cả.

– Tôi không nghĩ anh lại gặp khó khăn nhiều quá trong việc này, vì trông anh…

Bỏ lửng câu nói khi thấy Thắng nhếch môi trong một cái cười buồn, nhớ đến một vài lời đồn đại, tôi thử thăm dò :

– Nếu không có gì quá lắm, anh có thể cho tôi biết lý do được không ?
– Đây có phải là điều kiện để tôi có hy vọng nhận được sự giúp đỡ của cô không ?

Một chút do dự rồi tôi gật đầu :

– Cho là thế cũng được.

Đôi mắt của người đàn ông chập xuống trong một sự trầm buồn kỳ lạ, thái độ của anh bỗng làm tôi áy náy, hình như tôi vừa làm một điều bât nhẫn thì phải. Tôi ngập ngừng :

– Nếu không tiện thì…
– Không, không sao đâu, tôi sẽ nói, tôi cũng muốn nói ra câu chuyện, dù có thể cô sẽ không tin. Nhưng…

Một khoảng lặng của tâm trạng, Thắng bỗng ngước lên nhìn bầu trời, hôm nay hình như gần đến rằm thì phải, trăng lên sớm và ánh sáng nhẹ nhàng tao khiết phang phác ở từng cao, dưới mặt đất chỉ một vài tia yếu ớt chập choạng giữa những ánh đèn, chỉ có thể nhìn thấy rõ được một vài đốm hiếm hoi sau một vài tán cây khuất bóng đèn điện. Tôi cũng ngước nhìn theo Thắng, khi nhìn lại gương mặt anh, tôi sững sờ, trên hai khóe mắt của người đàn ông kia lóng lánh hai giọt nước. Người đàn ông khóc luôn là chuyện nghiệt ngã, bởi cá tính và cái sĩ diện tối thiểu của họ không cho phép họ có nhiều nước mắt như đàn bà, và một khi họ phải chảy nước mắt, mà lại là những giọt nước mắt trong thinh lặng thế kia, thì có nghĩa trong cõi lòng họ đang tan nát đến vô cùng. Thốt nhiên tôi như bị xơ cứng trong một tư thế, như sợ một chút cử động nhỏ của mình cũng phá hỏng niềm cảm xúc trong một tâm hồn đang thao thiết kia.

Rồi cũng đến lúc Thắng mở miệng :

– Câu chuyện của tôi có lẽ là chuyện duy nhất xảy ra trên cõi đời này. Người ta thường nói “Mối tình đầu là một vết khắc không thể nào quên”. Với tất cả mọi người, thì đó là những kỷ niệm đẹp của sự rung động đầu đời, là sự đánh dấu bước trưởng thành trong mỗi con người, là tất cả những gì đẹp đẽ mới mẻ và trong sáng nhất. Với mối tình của tôi, tôi cũng đã có được những cảm xúc đáng yêu như vậy. Nhưng nghiệt ngã thay, ngoài những điều đẹp đẽ ấy, tôi còn phải nhận lãnh một nỗi đau cùng cực, một sự đau đớn sẽ đeo đẳng tôi suốt cả cuộc đời này.

Anh ngừng lại, cố nuốt một cái gì đó như đang chẹn ngang cổ họng, tôi im lặng, biết rằng có một cái gì đó thực sự thống thiết trong trái tim đang ứa máu kia. Giọng Thắng đã có vẻ bình tĩnh trở lại .

– Ngày đó cô ấy mười tám tuổi, cái tuổi hồn nhiên, trong trẻo và đẹp nhất của cuộc đời một người con gái. Chúng tôi đã gia nhập quân ngũ theo tiếng gọi của đất nước, tôi thuộc sư đoàn bộ binh, còn cô ấy bên quân y. Tuổi trẻ thì dù trong bối cảnh nào cũng có những cuộc sống riêng của nó. Nhất là trong một nơi khô khắc như chiến trường, nơi chỉ có rừng xanh và súng đạn, thì tình yêu là một động lực, và cũng là một điểm tựa hết sức cần thiết cho tinh thần. Tôi và cô ấy yêu nhau mới được mấy tháng, chỉ có mấy tháng thôi, nhưng tình cảm của chúng tôi đã rất gắn bó và nồng đậm. Đùng một cái, có lệnh chuyển một nửa sư đoàn sang trận địa khác, trong số đó có tôi. Quân lệnh không phải là điều mà người ta có thể bàn bạc và thương lượng, chúng tôi chỉ có một đêm cho sự chuẩn bị. Thật ra lính tráng thì có gì phải chuẩn bị nhiều đâu, ngoài một số tư trang và súng ống thì chỉ còn chuyện của trái tim là quan trọng nhất, và cũng là điều khó khăn nhất.

Đêm ấy trăng sáng lắm, hình như chưa bao giờ trăng sáng đến thế, nguyên một vạt rừng thưa cứ dãi dễ trăng là trăng, chúng tôi quý báu từng phút thời gian ít ỏi tôi vừa trò chuyện với cô ấy vừa tranh thủ lau súng. Chung quanh chúng tôi cũng có rất nhiều đồng đội, một số đôi cũng chụm vào nhau trong tình cảm mặn nồng. Chăng ai ngai ngần gì nữa cả, vì chỉ còn một đêm ấy nữa thôi, về sau ai còn ai mất làm sao biết trước được. Hai chúng tôi cũng trong tâm trạng ấy. Chúng tôi nói với nhau rất nhiều, và cô ấy khóc cũng rất nhiều, thế rồi vì không muốn cho tôi quá nặng nề tâm cảm trước lúc chia tay, cô ấy gượng cười, và cố làm cho tôi vui. dưới ánh trăng cô ấy đứng ra vừa hát vừa múa, ngắm nhìn cô ấy quả thật tôi cũng vui lên phần nào. Khẩu súng đã được lau dầu kỹ lưỡng, tôi giương thử vào một khoảng không, bất chợt cô ấy nhảy chắn trước nòng súng, vừa cười vừa nói “Anh thử bắn em xem nào” Tôi cũng dứ dứ đùa khẩu súng, không ngờ đạn đã lên nòng, và một chút bất cẩn của ngón tay tôi…

Thắng ngưng bặt và gục đầu xuống, tôi cũng thảng thốt, trời, sao lại có những việc có thể xẩy ra một cách dễ dàng như thế. Thắng từ từ ngẩng lên, mắt anh giàn giụa nước, anh nói tiếp, nghẹn ngào :

– Tôi cứng người nhìn cô ấy ngã xuống, trong một thoáng, tôi nghĩ cô ấy đang đùa, nhưng tiếng súng đã làm chấn động những người chung quanh, họ xông đến, đỡ cô ấy dậy, nhưng đã không còn kịp cho một biện pháp nào nữa. Khi nhận thức được vấn đề, tôi quay súng vào đầu mình định bóp cò thì có ai đó hất văng ra. Thế rồi tôi bị kết án năm năm tù vì tội vô ý làm chết người, đó là tòa án còn châm chước cho tôi, nếu không mức án còn có thể cao hơn. Nhưng với tôi, tôi cho rằng tôi phải nhận mức án cao nhất mới phải. Có ai như tôi không hở trời ? Tôi đã tự tay bắn chết người tôi yêu.

Thắng lại gục xuống, lần này thì anh khóc đến rung vai. Tôi kéo ghế lại gần anh vỗ về an ủi. Quả thực là một câu chuyện quá đau buồn, một nhà văn giỏi tưởng tượng mấy chắc cũng không tự nghĩ ra được một tình huống xót xa đến thế. Bây giờ thì tôi hiểu vì sao trên gương mặt anh luôn thiếu vắng nụ cười. Tôi không nói được gì để hóa giải bớt tâm trạng cho anh, chỉ biết xoa nhẹ lưng anh, một cách sẻ chia lặng lẽ. Quán cà phê về khuya đã vắng người, chỗ chúng tôi ngồi khuất sau một chậu hoa lớn nên càng yên tĩnh. Cơn xúc động lắng xuống, Thắng ngồi thẳng lên đưa tay lau nước mắt. Tôi cầm tay anh nhẹ giọng :

– Anh cố gắng đi, chuyện cũng đã qua rồi, chắc cô ấy không oán trách gì anh đâu.
– Có thể là cô ấy không oán trách tôi, nhưng tôi thì tự oán trách mình suốt đời. Sau khi ra tù, tôi đã đến mộ cô ấy, và đã nguyện để tang cho cô ấy mười tám năm, tôi phải trả cho cô ấy cái tuổi mười tám thần tiên mà tôi đã cướp đi mất ấy.
– Anh đừng nghĩ mãi như vậy, sẽ không tốt cho anh đâu.
– Với tôi thì tốt hay không cũng có gì là quan trọng nữa đâu.
– Không hẳn thế đâu, anh còn phải sống cho bản thân và cho gia đình nữa chứ.

Câu nói của tôi làm Thắng nhớ đến mục đích chính của cuộc gặp.

– Nhắc tới gia đình, tôi mới nhớ, cũng vì bố tôi mà tôi mới đề nghị cô giúp đỡ một chuyện thế này. Biết chuyện của tôi, trong những năm trước, mọi người cũng khuyên tôi nên nghĩ khác, nhưng lương tâm tôi không thể, hai năm trước là tôi hết hạn mười tám năm tang cô ấy, gia đình lại giục giã tôi chuyện hôn nhân, nhưng nói thật, tôi chẳng còn thiết tha gì nữa. Cứ mỗi đêm trăng sáng, thì hình ảnh cô ấy lại hiện về rõ mồn một như vừa mới hôm qua, tôi không thể nào bôi xóa được, thì làm sao nói chuyện tình cảm với ai khác chứ. Nhưng bất ngờ bố tôi phát hiện ra la bị ung thư gan. Nay đã vào giai đoạn cuối, bác sĩ bảo chỉ còn mấy tháng nữa thôi. Bố tôi bảo, chưa thấy tôi yên ổn chuyện gia đình, thì ông chết cũng không nhắm mắt được. Tôi làm sao để bố tôi ra đi khi trong lòng còn trĩu nặng như thế. Nên tôi mạo muội nhờ cô, xin cô thứ
lỗi nếu tôi có đường đột.

– Không, anh đừng nghĩ thế, sau khi nghe chuyện của anh, tôi rất hiẻu và thông cảm cho anh nhiều. Nhưng cho tôi hỏi : Vì sao anh lại chọn tôi để nhờ chuyện này ?
– Tôi cũng không rõ được là vì sao, nhưng nhìn cô và từng tiếp xúc với cô, tôi có cảm giác cô sẽ nhận lời.
– Nếu tôi không nhận lời thì sao ?
– Thì…thì…

Vẻ thất vọng và buồn bã trên gương mặt đã nhiều đau khổ của Thắng khiến tôi không nỡ kéo dài sự lấp lửng của mình.

– Thôi thôi, tôi nói đùa đấy, đã biết đươc vấn đề của anh như thế mà tôi không giúp anh thì còn ra cái gì.

Thắng tươi nét mặt lên một chút :

– Thế là cô chịu giúp tôi rồi ạ. Cảm ơn cô quá, cảm ơn cô nhiều lắm.

Bước vào nhà Thắng với túi quà trên tay, tôi hơi lo lắng và hồi hộp, liệu tôi có đóng trọn được vai diễn của mìnnh không đây ? vốn dĩ tôi không hay lừa dối ai, kể cả những điều nhỏ nhặt nhất mà giờ phải đi lừa dối một người lớn tuổi, lại là một người sắp chết, tôi thấy bứt rứt thế nào ấy. Thắng đưa mắt cho tôi, vẻ vừa động viên vừa khẩn nài. Tôi khẽ gật đầu và hít sâu một hơi. Ông cụ đang nằm trên giường, thấy có khách vào thì gượng ngồi dậy, tôi vội nói :

– Bác cứ nằm nghỉ đi ạ.

Tay tôi đỡ lấy đầu ông cụ và kê lại cái gối, xong tôi ngồi vào cái ghế mà Thắng vừa mang tới. Ông lão nhướng mày về phía con trai, Thắng ấp úng :

– Thưa bố …đây là …bạn gái của con.

Âm sắc giọng nói rõ ràng là không bình thường, nhưng ông cụ không kịp để ý đến, mà quay sang nắm lấy tay tôi, lập bập :

– Con …con ơi…bác mừng quá.

Tôi ngượng ngùng :

– Dạ con…con có chút quà biếu bác đây ạ.

Ông cụ chống tay cố ngồi dậy, đỡ túi quà tôi trao, ông nhìn tôi, rồi lại mân mê gói quà, đột nhiên ông tỏ ý muốn đi xuống giường, Thắng vội đến bên cạnh :

– Bố, bố cần gì ạ ?

Ông cụ bíu vào tay con để lấy sức, và rồi ông chập choạng bước ra phía bàn thờ, tay cầm theo gói quà của tôi. Tôi ngạc nhiên nhìn theo, Thắng cũng ngạc nhiên cứ hỏi :

– Bố cần gì để con làm cho ạ ?

Ông cụ ra hiệu cho Thắng đốt mấy nén nhang, rồi ông trịnh trọng đặt gói quà của tôi lên bàn thờ, trước ảnh mẹ Thắng, cố đứng cho thẳng, ông cụ cúi đầu khấn vái. Tôi ngây sững người trước những cử chỉ của ông, cảm giác thương cảm lẫn xấu hổ làm tôi thắt lòng, muốn khóc. Trời ơi ! Giá như đây không phải là sự dối trá. Thắng nhìn tôi với vẻ đau đớn, anh bặm môi cố ngăn niềm xúc cảm. Nếu không cố gắng lắm thì tôi đã bỏ chạy, để khỏi chứng kiến một cảnh đau lòng vì tính chất không minh bạch của nó. Cảm giác hổ thẹn vì sự dối trá như tăng lên gấp nhiều lần. Tâm trạng tội lỗi khiến tôi càng lúng túng hơn khi Thắng dìu ông cụ trở lại giường, một lần nữa anh lại ánh sang tôi cái nhìn van vỉ. Tôi cố gắng, cố gắng khoả lấp bằng một vài câu thăm hỏi bệnh tình ông cụ. Và khi tìm được cách cáo từ, tôi đi như chạy ra khỏi nhà. Thắng tiễn tôi với gương mặt buồn rười rượi, anh cũng không dễ dàng gì trong việc này.

– Tôi xin lỗi vì đã lôi cô vào chuyện này.
– Thôi anh vào với bác đi, cố đừng để bác nghi ngờ, ta gặp lại nhau sau nhé.

Tôi không thể nào ngủ được với những hình ảnh lúc ban ngày, tâm trạng của một kẻ có tội rất khó chịu, bỗng nhiên tôi đọc rõ hơn tâm trạng của Thắng trong việc sơ sẩy của anh. Tôi càng hiểu rõ hơn nỗi ân hận, thương tiếc, và sự ám ảnh trong anh nặng nề đến thế nào. Trong khi tôi chỉ với một sự dối trá bắt buộc, một sự dối rá chân chính mà còn khó khăn thế này, thì với Thắng, bước qua được sự việc không khác gì phải trèo qua một dãy núi.

Nhưng dù có thế nào thì cả hai chúng tôi vẫn phải tiếp tục sự lừa dối ấy, bởi vì nếu không thế thì lại càng tồi tệ hơn. Cho đến một ngày, Thắng hốt hoảng tìm tôi:

– Ba tôi chắc sắp đi rồi Phương ạ .

Tôi lật đật bỏ công việc chạy đến, ông cụ đang trong những giờ phút cuối cùng, thấy tôi đến, nét mặt ông giãn ra như đã từng trông đợi lắm. Ông vẫy nhẹ mấy ngón tay gọi tôi. Tôi đến bên cạnh, nắm lấy bàn tay xương xẩu đang lạnh dần của ông, ông cố bóp tay tôi, phều phào :

– Con …con hãy..thương nó nhiều…nó bất hạnh…lắm rồi…

Tôi bật khóc, không thể nói lên một lời hứa hẹn. Thắng cũng đã đến bên cạnh, ông cụ cầm tay hai chúng tôi đặt vào nhau và mỉm cười. Thế rồi ông ra đi, nhẹ nhàng thanh thản. Tôi khóc ông, đau xót như khóc một người cha thực sự. Trong thâm tâm, tôi thầm hứa với ông, nếu tôi xóa được nỗi ám ảnh sâu nặng trong lòng Thắng, thì sự lừa dối hôm nay không phải là sự lừa dối hoàn toàn.

Nhìn Thắng phủ phục bên mộ cha, tôi không sao chịu đựng nổi. Quả thực là anh có nhiều bất hạnh quá, con người ta nếu có phải chịu nỗi bất hạnh này thì sẽ được đền bù bằng một hạnh phúc khác. Liệu anh có được đền bù khi đã phải chịu đựng quá nhiều như vậy không ? tôi ngước lên trời “Hỡi người con gái bạc mệnh xa xưa kia. Nếu cô còn yêu anh ấy, và nếu cô đã tha thứ cho anh ấy, thì xin hãy giúp tôi, giúp tôi tìm được phương thuốc hiệu nghiệm để chữa lành vết thương cho anh ấy, dẫu chỉ một phần. Tôi không lấy hết anh ấy của cô đâu, anh ấy sẽ còn là một nửa của cô với những êm đềm đẹp đẽ của năm tháng ấy, nhưng xin đừng dằn vặt, đừng bắt anh ấy phải ôm mãi nỗi khổ đau trong lòng, cuộc đời anh ấy ít ra cũng phải có được một chút gì dó để sống chứ. Cô có nghe tôi nói không ? Hỡi người con gái của vầng trăng hôm nào !”

Chiều tàn trên nghĩa trang, những con gió se se thổi luồng buốt lạnh, những nụ hoa trắng dỏ, vàng tím loe hoe không át nổi cảnh đìu hiu chốn ngàn thu viễn mộng. Tôi đến bên anh, đỡ anh đứng dậy, díu anh từng bước chập chừng trên con đường lục xục sỏi đá. Một đàn chim về tổ, thả những tiếng ríu ran hiền hòa giữa thinh không.

Đàm Lan

Viết Cho Dã Quỳ

(…nhưng em nói dã quỳ vào mùa nào/ mùa
đông/ đúng rồi mùa hoa/ uh cây non mọc lên
nở hoa và tàn rụi trong vòng một năm…)

1.

Từ tàn rụi nụ mầm vươn lên vào lúc không ai còn nhớ (sự lãng quên luôn thường trực trong tâm trí con người) những mầm xanh không như lá cỏ mà được xem như lá cỏ cứ khuất lấp trong ngăn ngắt rậm rạp cứ lặng lẽ bên vệ đường trước thềm nhà khắp chân đồi (giờ đồi hoang cũng không còn nhiều vì loài người sinh sôi nẩy nở bung chiếm còn nhanh hơn cả cỏ cây)

Rồi những chiếc lá hình bàn tay xoè ra run rẩy hân hoan trong mưa bụi (dường như tất cả hạnh ngộ thuở ban sơ đều như vậy) mưa càng dấm dứt đất càng đỏ ứ cây lá càng xanh non tươi rờn rợn mưa mưa mưa mưa nước nuôi dưỡng sự sống bằng những ngập tràn thấm sâu dịu nhẹ (cũng có khi lắm khi hung tợn trào dâng) mưa mưa mưa mưa dã quỳ theo mưa mà lớn

Đó là cách tồn tại cổ xưa nguyên thuỷ nhất tồn tại theo bầy đàn mỗi đơn lẻ là một trong nhiều trong những của cộng đồng mỗi đơn lẻ tưởng như giống nhau về hình thể về tính cách về thân phận đứng bên nhau làm nên thế giới (tưởng công bằng bình đẳng) hướng về ánh sáng hướng về bầu trời mà ngờm ngợp mà mải miết mà vươn cao mà xoè tay mà ươm nụ mà hồn nhiên mà chờ đợi


2.

Có xứ sở chọn khắc nghiệt làm tính cách đặc thù (không chừng mực không điều độ không sắc màu trung tính) xứ sở dã quỳ không có mùa thu không có mùa xuân (chỉ hai mùa mưa nắng) xứ sở buồn muôn thuở bụi mù trời (bụi lừng lững đi lừng lững dựng từng cột đỏ trên những con đường mòn vắng vẻ khô khát) tháng mười hai lạnh lẽo khô ngùn ngụt nắng là tín hiệu để dã quỳ mở bung.

Đó là không gian mênh mông (đồi nối tiếp đồi thung lũng kéo dài thung lũng) là cuồng nộ gió (gió như đoàn chiến mã ràn rạt lao qua không cần biết sẽ về đâu không cần biết gì đang đón đợi cứ phía trước mà phi mà lồng lộn sải vó) là bướm hoang là ong rừng là bước chân bồn chồn của những người đàn bà luôn mơ những giấc mơ bất ổn

Là dã quỳ tồn tại như một dâng hiến không cần lý do

3.

Dã quỳ dã quỳ dã quỳ cứ vàng mơ vàng tươi vàng xuộm vàng cháy cứ rừng rực mê đắm miên man trên nền xanh của lá nền đỏ của đất bazan cứ tạo nên những đối cực nhức nhối xốn xang đôi khi khó chấp nhận trong mắt người không chờ đợi không khát khao không hoài vọng dã quỳ (dường như) hồn nhiên bung nở hồn nhiên toả hương hồn nhiên vàng vào nắng vào sương vào bụi đỏ hồn nhiên làm mặt trời thắp nắng trong hoang lạnh hồn nhiên làm nên linh cảm bất an mùa xao xác

Đã có những ngợi ca đã có những cười cợt đã có những rắp ranh đòi chia sẻ đã có những dự tính can thiệp riêng tư dã quỳ (dường như) vô tâm (dường như) ngoài cuộc cứ vàng cho hết đời sống mình (vì đó chính là mình) rồi rời rã rũ rượi trong gió đông rồi khô đi nâu sẫm trên những cành nhánh trụi trơ rồi khuất lấp rồi biến tan

Mùa đã khô ngày đã không còn hoang hoải gió
dã quỳ bình thản đợi hồi sinh

4.

Những người đàn bà mang giấc mơ bất ổn chôn trên sườn đồi đêm đêm chờ mưa chờ quên lãng nghe trong tiếng sấm khắc khoải có niềm âu lo rồi đồi hoang sẽ không còn là đồi hoang nữa

Đinh thị Như Thúy

Đêm thánh vô cùng

Đêm đông lạnh giá. Trong căn nhà ấm áp, người mẹ trẻ thủ thỉ với đứa bé mắt xoe tròn: Đố con, trời lạnh buốt như vầy làm sao những con thú trong rừng ngủ được?

Khi con lớn hơn một chút. Đêm đông giá lạnh, mẹ lại hỏi: Đố con, trời lạnh buốt như vầy, những người không nhà làm sao đỡ rét?

Con lớn hơn chút nữa, mẹ và con không nằm trong chăn ấm đố nhau nữa, mà đi ra đường. Noel, khi chuông giáo đường vang ngân trong tiếng nhạc Silent Night, là lúc đôi mẹ con phố núi, như những ông già Noel bên trời Tây, đem từng gói áo ấm to sụ như áo mình đang mặc tặng những kẻ bơ vơ, co ro nép mình bên góc chợ.

Từng tháng, từng năm, hạt giống hướng thiện mẹ gieo vào lòng con cứ lặng lẽ đâm chồi nẩy lộc, như đức bác ái Thiên Chúa gieo vào lòng con chiên qua Thánh lễ Misa. Mỗi khi hoa dã quỳ nở vàng rực trên lối vắng, mỗi người con ấy lại nhớ mùa đông đã về, không quên cuộc sống còn biết bao mảnh đời bất hạnh đang cần lắm dù chỉ một tấm áo, một chút tình chia sẻ yêu thương.

Để rồi chiều nay, văn phòng báo Tiền Phong nơi tôi đang làm việc, chuông điện thoại liên tục đổ. Người nói, người nghe thảy đều nghẹn ngào xúc động. Chuyện một Tổ ấm ở tận một xã vùng sâu tỉnh Kon Tum của các soeur dòng Ảnh Vảy đang nuôi dưỡng hàng trăm người già và trẻ mồ côi đang vô cùng khó khăn, do cơn bão số 11 vừa qua cuốn trôi nương rẫy hoa màu vừa đăng trên báo, đang tạo chuỗi hiệu ứng tích cực trong nhiều bạn đọc giàu lòng nhân ái. Nhiều người đã gọi trực tiếp cho soeur Liên qua số điện thoại đăng kèm bài, tâm tình cùng vị nữ tu người Bơhnar nhân từ mà quá đỗi mộc mạc chơn chất, rơi lệ tự hỏi sao họ chưa từng biết đến tấm lòng hy sinh cao cả mà lặng thầm đến như vậy?

Một nữ tiến sĩ đang công tác ở Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương cho biết tuần tới trong chuyến công tác vào Gia Lai, chị sẽ tìm đến tận Tổ ấm để chuyển những phần quà nhỏ do đồng nghiệp chị quyên góp. Vợ chồng giáo sư Chu Đình Thúy phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký hội Vật lý Việt Nam tuy đang gặp khó khăn về chuyện nhà đất, cũng bàn nhau giành hết phần lương hưu trong tháng mua áo phông và chuyển một khoản tiền góp vào bữa cơm ngày tết năm mới cho Tổ ấm. Và nhiều nữa, những con người nhiệt tâm không nề hà gian khó, đã cùng báo Tiền Phong giúp đỡ bao cảnh nghèo mà báo đã phát lời kêu gọi giúp đỡ trong mùa đông này, chỉ mong san sẻ được phần nào hơi ấm tình thương.

Trong đoàn độc giả thiện nguyện cùng báo Tiền Phong vừa đi tặng quà cho học sinh nghèo vượt khó nhân dịp Noel 2009, có một phụ nữ lớn tuổi được mọi người trân trọng gọi là Mẹ Simon. Vóc dáng bé nhỏ, áo sờn vai, dép mòn vẹt, trông bà chẳng khác gì người làm thuê lam lũ. Thế nhưng ít ai ngờ suốt nhiều năm qua ở tuổi ngoài bảy mươi, mẹ Simon vẫn chạy sô dạy Anh văn cho đủ mọi lứa tuổi, trong đó ngoài những khóa dạy miễn phí cho trẻ em nghèo, bao nhiêu học phí thu được mẹ dành cả để nuôi một nhóm trẻ vô gia đình, và nuôi cả những cô gái sa cơ lỡ bước vào bệnh viện toan phá thai mà bà đã thuyết phục đón về, nuôi dưỡng tới khi mẹ tròn con vuông …

Noel đang đến trong lời cầu nguyện vinh danh Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm! Nhưng từ khi Noel chưa đến trong chúng tôi, những đứa bé theo mẹ ra đường đêm đông năm nào, đã tràn ngập phúc lành nhờ soeur Liên, mẹ Simon, và nhiều độc giả nhân ái chưa từng được gặp mặt, chỉ nghe qua điện thoại đã rơi nước mắt bởi tình người chan chứa. Từ lâu rồi Noel không còn là Đêm Thánh của riêng Giáo dân, mà đã thành đêm hội chung của những trái tim rộng mở chào đón tin lành và mong ước tình thương sẽ ngự trị khắp thế gian. Như giai điệu bất hủ của những bài thánh ca như Jingle Bells của mục sư người Mỹ James Pierpoint, Silent Night của linh mục người Áo Joseph Mohr đã vượt thời gian, không gian và cả sự khác biệt về chủng tộc để được hát bởi hàng tỉ người không phân chia tôn giáo. Mong sao tinh thần tốt đẹp của mùa Giáng sinh này sẽ tràn ngập năm thánh 2010, như lời W.T. Ellis : Chính Giáng Sinh trong trái tim mình đã khiến Giáng Sinh lan tỏa nơi nơi.

Hoàng Thiên Nga

Thánh đường xưa

Ba năm, nhưng tưởng như lâu lắm rồi Nghi mới trở về quê ngoại. Lại đúng vào dịp Noel. Cô thức dậy vào buổi ban mai, nằm thật lâu trong giường để lắng nghe tiếng chim hót trong những vòm cây quanh vườn, tiếng gầu nước khua vào thành giếng, tiếng ai đó đổ nước vào thùng, và tiếng quét lá…

Ngoại cô thường có thói quen quét lá mỗi buổi sáng. Khi cây cỏ ngoài vườn còn ướt sương, khi những tia nắng đầu tiên chỉ vừa lướt trên những ngọn cây xa tít, nhuộm một màu vàng óng ánh, rất dịu . Bà dồn lá thành một đống to ở góc vườn rồi châm lửa đốt. Lá khô cháy giòn và lá tươi nổ lép bép. Có những loại lá mà bọn trẻ con gọi là lá nổ, Nghi thường hái bỏ vào lửa, thích thú nhìn chúng nổ tanh tách và phồng rộp lên như cái bánh đa nướng. Cô đã sống những ngày tháng đẹp nhất của mình ở nơi này, một xứ đạo hiền hoà và bình yên . Cô đã trải qua một tuổi thơ trong trẻo và thánh thiện, một mối tình đầu cũng trong trẻo và thánh thiện như thế. Bởi vậy mà mỗi lúc nhớ về quê ngoại, nhớ tuổi thơ là Nghi lại nhớ Đông, nhớ đến da diết. Suốt ba năm đại học, cô chỉ chăm chú vào sách vở, và không động rung trước bất kỳ ai, mặc dù không hẳn là vì Đông, hoặc ít ra cô cũng tin rằng không phải vì anh. Cách đây không lâu cô đã nghe ai đó nói rằng anh vừa làm lễ tuyên thệ, cô có cảm giác lạ lẫm và cố hình dung ra anh trong chiếc áo chùng đen. Cô nhớ mình đã từng nói với Đông rằng cô muốn anh trở thành một nghệ sĩ chơi piano trong nhà hát lớn chứ không phải là một thầy tu chơi đàn ở nhà thờ. Cô luôn nhớ đôi bàn tay mảnh và dài của anh lướt trên những phím đàn tài hoa như thế nào.Và cô nhớ, nhớ mãi cái ngày bà ngoại mất, Đông đứng bên cạnh tháp chuông chờ cô đi lễ ra để ôm choàng cô vào lòng và nói:

-Em phải khóc đi Nghi, tại sao trong đám tang em không khóc.

Và cô đã khóc, khóc mãi trong vòng tay Đông, không một chút e thẹn, ngượng ngùng, chỉ thấy nhẹ lòng vì biết mình được yêu thương và thấu hiểu. Nhưng từ ngày vào thành phố, Nghi đã luôn biết rằng Đông là ký ức, là một mối tình đã qua, nếu như cô có thể gọi đó là một mối tình…

*

Anh lớn hơn cô vài tuổi. Và là một tu sinh. Sinh ra trong một gia đình ngoan đạo nên ngay từ bé, anh đã biết chắc rằng mình sẽ trở thành tu sĩ.

Còn cô chỉ là một cô bé con gầy gò và lặng lẽ, hát trong ca đoàn của giáo xứ. Bố mẹ cô đều sống ở thành phố, còn cô thì sống với bà ngoại ở giáo xứ yên lành này từ lúc bé xíu. Thỉnh thoảng, bà ngoại lại bảo cô mang lên nhà thờ cho cha xứ những món ăn ngon. Anh thường đàn cho ca đoàn của cô trong những buổi lễ chủ nhật dành cho thiếu nhi. Cô không phải là người hát hay nhất, cũng không phải là cô bé xinh xắn nhất, nhưng anh thương mến cô vì cô rất hiền lành.

Cho đến buổi lễ Giáng sinh năm cô tròn 16 tuổi. Khi ngồi vào đàn, anh gần như không nhận ra là cô đứng ngay bên cạnh, trong chiếc áo dài trắng mềm mại và tinh khôi. Đó là lần đầu tiên anh thấy cô mang áo dài, cũng là lần đầu tiên anh nhận ra rằng cô đã trở thành một thếu nữ xinh đẹp. Nhìn nghiêng, gương mặt cô có nét gì đó thật thanh cao và thánh thiện, đôi mắt đen trong veo luôn nhìn thẳng về phía trước. Khi hát, chiếc cổ mảnh mai của cô ngước lên duyên dáng như một con thiên nga trắng: “cao cung lên,khúc nhạc thiên thần xuống…”Và trong một thoáng anh nhận ra rằng anh đã quên mất mình đang ở trong nhà thờ, anh cứ ngỡ như anh chỉ đang đàn cho mỗi một mình cô hát, và anh cũng chỉ nghe có mỗi tiếng hát của cô mà thôi…

Và từ đó, anh để ý đến cô, một điều tự nhiên hơn tất cả mọi điều có thể xảy ra trên thế gian này. Và anh yêu cô, mặc dù anh tin rằng mình chưa bao giờ tỏ lộ cho ai biết, kể cả cô. Anh thấy mình sung sướng khi nghe bạn bè cô kể rằng ở trường, cô là một lớp trưởng rất được nể nang vì học giỏi và năng nổ. Anh thích nhìn ngắm cô cười nói giòn giã với bạn bè, và vô cùng hạnh phúc mỗi khi cô ngừng lại và ý nhị nhìn về phía anh với ánh mắt vừa táo bạo vừa thẹn thùng một cách dễ thương. Mỗi khi tan lễ, cô thường quỳ lại rất lâu và luôn là người ra về sau cùng. Anh đợi cô bên cạnh tháp chuông, chỉ để im lặng trao cho cô một gói kẹo nhỏ, một chùm ổi, hay chùm mận hái từ khu vườn của nhà thờ. Đôi khi, chỉ để hỏi :

-Hôm nay em có vui không?

Và nghe cô thì thầm :

-Dạ có.

Trong những buổi lễ, cô luôn tìm cách đứng ngay bên cạnh chiếc đàn dương cầm, và thỉnh thoảng anh lại mỉm cười với cô, sung sướng khi thấy đôi mắt cô long lanh và đôi môi cô mím lại để cố giấu nụ cười. Không ai biết điều đó, chỉ có anh và cô.

Đôi lúc, trong những giờ đọc kinh tối hoặc sáng, anh bỗng nhớ đến cô và thầm nghĩ : “Mình không muốn trở thành một linh mục nữa, mình sẽ nói với cha xứ là mình không thể trở thành linh mục được”. Nhưng chỉ nghĩ đến thế thôi anh đã thấy hoảng sợ. Anh đã sống với vị cha xứ nghiêm khắc này từ lúc còn là một cậu bé lớp hai. Ông đã nuôi anh ăn học và tất cả mọi người trong gia đình đều tin chắc rằng anh không thể trở thành một cái gì khác ngoài một tu sĩ. Anh đã quen với những việc của nhà thờ, quen kéo chuông trước giờ lễ, quen với việc đèn đóm, âm thanh, đàn hát. Quen cả với kiểu sống trầm mặc và cô độc của một người tu hành, lủi thủi trong căn phòng nhỏ và đọc kinh rất nhiều lần trong ngày. Anh không thể dẫm đạp lên tất cả , chỉ vì cô. Anh không thể tưởng tượng được cô sẽ mang đến cho anh điều gì nhiều hơn thứ tình cảm trong sáng và vô hại ấy, thứ tình cảm mập mờ giữa tình yêu trai gái và tình anh em. Và gần như một sự ngây thơ, anh vẫn nghĩ cô là của riêng mình, và sẽ không bao giờ thuộc về ai khác.

Một buổi trưa tháng sáu, nắng đổ chói chang. Anh vừa về đến nhà thờ thì đã thấy cô chờ anh bên cạnh tháp chuông.Cô nhìn anh bằng đôi mắt long lanh chực khóc, và đôi má rám hồng lên vì nắng :

-Em lên xin cha xứ nghỉ hát ở ca đoàn, em phải vào Sài Gòn để thi Đại học. Có lẽ em không về đây nữa.

Anh đứng lặng, buông xuôi tay theo thân mình. Lòng xáo động dữ dội nhưng thừa biết mình sẽ không thể làm gì để giữ cô lại.

-Khi nào em đi?

-Chiều nay.

-Chiều nay ?

Anh tự hỏi, cô nhìn anh như thế nghĩa là gì. Cô chờ đợi anh điều gì, chờ đợi anh một lời thổ lộ hay hứa hẹn mà anh không thể nào thốt ra được chăng. Nhưng cô chỉ lắc đầu nhè nhẹ rồi nói :

-Anh ở lại mạnh khoẻ.

Anh gật đầu và cô quay lưng đi. Anh chợt thấy lòng mình trống hoác.

-Nghi !

Cô quay lại, nhìn anh điềm tĩnh đến lạ lùng, giống như cô đã biết chắc anh sẽ gọi cô, thậm chí biết chắc sẽ nói gì:

-Em…cố gắng học giỏi nhé !

Cô mỉm cười nhè nhẹ, rồi lại gật đầu và quay đi. Anh đâu cần phải dặn cô như vậy, anh biết chứ. Anh luôn luôn biết rằng cô sẽ là một sinh viên giỏi, cô sẽ làm được điều cô muốn và sẽ trở thành một cái gì đó trong đời, mạnh mẽ và không bao giờ khuất phục. Một cái gì đó, khác anh.

Từ khi Nghi đi, anh thấy mình trở nên trống rỗng và vô vị, nhưng anh chấp nhận sự vô vị đó và gọi nó là “sự bình yên”. Anh tiếp tục đàn cho ca đoàn hát, tiếp tục học tiếng Latinh, học thần học, học ngoại ngữ và âm nhạc ở chủng viện. Rồi hai năm sau, anh chính thức khoác lên người chiếc áo chùng đen và đợi thời gian thử thách để trở thành linh mục.Thỉnh thoảng, anh vẫn nghe một vài người nhắc đến Nghi, nhưng anh tin rằng cô như một cơn bão đã đi xa,và lòng anh phẳng lặng trở lại. Anh nghĩ rằng mình đã không nhớ mong Nghi trong chừng ấy năm tháng, không momg muốn gặp lại cô dù rằng anh vẫn dành cho cô một lời cầu nguyện mỗi đêm. Điều đó có nghĩa là Nghi sẽ không bao giờ khuấy động tâm hồn anh được nữa. Anh vẫn tưởng như thế, cho đến một ngày, tiếng chuông Giáng Sinh lại ngân lên binh boong và Nghi trở về…

*

Đông đứng ngay trước mặt Nghi và vẫn còn kinh ngạc. Từ ngày anh mặc áo chùng, tất cả mọi người đều gọi anh là “thầy”, nhưng anh không hề cảm thấy bất bình khi Nghi vẫn gọi anh là “Anh!”. Dường như trong thâm tâm, anh chưa bao giờ nghĩ rằng Nghi có thể gọi anh khác đi được. Trong bóng tối, Nghi đẹp một cách kỳ lạ. Đôi mắt trong như không có đáy, cái miệng, và cái cánh mũi hếch lên bướng bỉnh của cô vẫn quen thuộc với anh như thể cô chưa bao giờ xa anh lâu đến vậy. Đông ngửi thấy mùi chanh thoang thoảng từ mái tóc Nghi, có thể, từ đôi môi của cô nữa. Một cách hoàn toàn vô thức, anh đưa tay sờ lên mặt cô, dường như để nhận xem có đúng là cô hay không, hay để chứng thực rằng cô đang thật sự hiện hữu :

-Em vẫn đẹp lắm !

Nghi mỉm cười và anh thấy bàng hoàng cả người, bàng hoàng vì những lời mình vừa thốt ra, bàng hoàng vì anh đã không hề chờ đợi được gặp lại cô, và còn bàng hoàng vì những tình cảm không lường được đang trỗi dậy mạnh mẽ trong anh. Nếu ngày xưa đối với anh cô là một thiên thần tinh khôi thì bây giờ cô là niềm khát khao chực bùng cháy, chực huỷ hoại tất cả mọi thứ. Và Đông biết rõ, chỉ dấn thêm một bước nữa thôi thì cô sẽ là sự lầm lạc của anh, là nỗi ô nhục của gia đình anh, và của tất cả những giáo dân ngoan đạo xứ này.

Nghi ngước mắt lên, và thấy đôi mắt Đông nhìn cô đăm đắm xuyên qua màn đêm, nửa khao khát, nửa sợ hãi. Bỗng dưng, Nghi muốn oà khóc, cô biết Đông không thể vứt bỏ tất cả để ôm choàng lấy cô. Trong bóng tối, cái cổ cồn của chiếc áo tu sĩ nổi rõ lên màu trắng toát, trắng đến đáng sợ. Nó như một nhát dao đâm mạnh vào tim cô. Cô vừa thấy mình tội lỗi, vừa nguyền rủa sự hèn nhát của cô, và cả của anh. Bởi cô bỗng nhận ra mình yêu anh, vẫn yêu anh từ ngày xưa cho đến tận bây giờ, bất kể ba năm trời không gặp, bất kể chiếc áo chùng đen mà anh đang khoác trên người. cô muốn gục đầu vào ngực anh và kể cho anh nghe cô đã nhớ anh như thế nào, rằng cô đã thèm khát có được sự vững chãi và dịu dàng của anh bên cạnh như thế nào. Rồi Nghi ước gì Đông đừng nhìn cô nồng nàn như thế. Cô lại ước có ai đó đến gần họ ngay lúc này để anh rời xa cô ra. Đông sẽ trở thành linh mục, điều đó là không thể thay đổi, không bao giờ thay đổi được. Nghi biết rằng Đông hiến dâng cuộc đời mình cho việc tu hành không chỉ vì niềm tin, mà còn vì niềm tự hào của gia đình, vì bổn phận và cả vì những tham vọng của bản thân anh. Đó là một con đường đã được vạch sẵn và Đông chưa bao giờ bước chệch khỏi con đường đó.

Có tiếng chuông đồng hồ điểm mười tiếng, chậm rãi. Đông bất giác lùi lại:

– Sắp lễ rồi.

– Phải, sắp lễ rồi.

– Em vào nhà thờ chứ?

– Em không biết.

Đông quay nhìn vào bên trong, ngần ngừ:

– Anh phải đàn cho ca đoàn hát thanh ca.

– Em biết.

Đông cầm lấy bàn tay nhỏ nhắn của cô và lắc khẽ:

– Có lẽ…anh vào trước, em vào sau nhé!

Nghi gật đầu nhè nhẹ, nhìn Đông đi như chạy về phía cửa nhà thờ , cô nghe như có cái gì đổ vỡ trong lòng mình. Đó là lúc cô nhận ra rằng Đông sợ mọi người nhìn thấy. Nhưng không thể trách anh được. không thể trách được. đời người ta vẫn khổ sở bởi những khát khao bị kìm nén. Có lẽ, cô là phần yếu đuối nhất của tâm hồn Đông. Cô chầm chậm bước ra khỏi cổng giáo đường. Đêm lạnh. Và gió thổi vi vút. Đêm Giáng sinh thường mang đến cho Nghi một cảm giác lạ kỳ, vừa ấm áp, vừa trống trải. Nghi thoáng nghe tiếng dương cầm vang lên điệu nhạc quen thuộc “ Cao cung lên, khúc nhạc thiên thần xuống, hoà trong làn gió, nhè nhẹ vấn vương…Ôi linh thiêng…”. Sau lưng cô, tháp chuông bắt đầu ngân lên từng tiếng bing…boong…trong trẻo. Ngay lúc này, Nghi biết mình phải đi xa, xa thật xa, trứơc khi cô có ý định lôi kéo Đông, hay cám dỗ anh.

Mối tình đầu cũng giống như tiếng chuông vậy. Nó đã qua rồi dẫu ta vẫn nghe như những âm vang của nó còn đọng mãi. Không ai có thể tìm lại một tiếng chuông, cũng không ai nên cố tìm cách giữ lại một tiếng chuông. Hãy để những cơn gió nguyên sơ mang thanh âm ấy đi x. Nếu không thể tạo nên một điều gì tốt đẹp hơn hiện tại, thì cũng đừng nên phá vỡ hiện tại. Có một thánh đường trong tim anh, tim cô, và những gì cất giấu bên trong đó là thiêng liêng. Nhưng những tham vọng, những bổn phận, cũng như nỗi sợ hãi trước nhân gian bắt họ dừng lại.

Đêm thánh vô cùng, và cánh cửa thánh đường xưa đã khép. Cô chỉ ước một điều, ước gì, nó đừng trở nên hoang phế với thời gian.

Đông Vy

Thư cho bạn

    Gửi Cường của tôi


Lại một mùa giáng sinh nữa lại về. Bao nhiêu mùa đông rồi đi qua đời ta. Mưa rơi và gió lạnh. Song lòng ta vẫn là một mùa ấm áp, mùa Thiên Chúa vào đời, Chúa giáng sinh đêm nay mừng vui tiếng hát vang nơi nơi…

Đất nước bao cuộc thăng trầm, đời người mấy lần dâu bể. Duy một trông chờ không chịu thăng trầm, không chịu bể dâu, chờ một mùa đông cho lòng ấm lại. Ấy cái niềm tin đơn sơ để lòng an bình mừng đón Chúa:

Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao
Bình an dưới thế ân trạch cho loài người.

Bạn dấu yêu! Giờ ở đất Sài thành xa xôi, mệt phờ long đong thân cầu thực, ngày 24 tháng 12 bạn có khép nép mừng Chúa giáng sinh ở một góc giáo đường lộng lẫy?

Mùa Noel cũng là mùa của ta, của bạn, của những kỉ niệm tuổi thơ. Đôi ta như hai cây thông non trồng bên máng cỏ.. Ta rất yêu giọng bạn đọc thi ca trong trẻo, trong như lòng thành con trẻ kính dâng:

Chúng con muốn tình yêu không vị kỉ
Tình yêu không gò bó bởi hư danh
Tình yêu không bị vật chất dỗ dành
Con nhận lãnh từ tình yêu cứu Chúa.

Giáng sinh năm nào ta bạn tung tăng, giáo đường chật không chứa nổi tâm tình con trẻ. Bữa cơm chung những tháng năm còn nghèo còn đói, mình nhường cho nhau một lát thịt quay với một mẩu bánh mì. Ôi giáo đường ấm áp hoang sơ.

Từ bao giờ ta đã đi qua mấy mươi mùa đông, giáo đường chừ khang trang bề thế, đêm Noel đèn điện khoe màu sang trọng mà nhớ hoài ổ rơm ngày xưa. Chờ đêm giáng sinh, mình đi chặt lá đùng đình kết vòng trang trí, những chiếc bong bóng thổi to thổi nhỏ làm những quả thông màu, đơn sơ như máng cỏ. Mình vừa mải mê việc làm vừa rộn ràng ca hát “ nơi hang Bê Lem con quỳ thiết tha, xin Chúa nhân hiền xuống ơn chan hòa”.

Bạn ơi! Ta đã lớn lên bằng niềm tin đơn sơ như thế đó, và bằng niềm tin, ta làm người thành thật, thanh thản chấp nhận những thua thiệt ở đời như một chợp mắt trần thế, mà có hề chi, Thiên Chúa từng rời bỏ nước Trời!

Bạn ơi! Giáng sinh này nữa đã là bốn mươi bốn mùa đông. Lòng ta se một chút giá băng khi nhớ người bạn cũ. Nhớ một mùa đông xa bạn ốm đau, ta đã đọc thư bạn trong chan hòa nước mắt: Ái ơi, giá mà có Ái ở bên mình!

Rồi từ đó trong mùa ấm áp lòng khôn nguôi trống vắng là từ buổi hai ta lớn khôn vào đời. Giã từ ấu thơ, giã từ niềm vui tuổi nhỏ. Mỗi một tháng ngày là một dần xa ngày xưa dấu ái.

Ngày tập tễnh làm người lớn, cô bé nào dắt ta xa bạn.
Ngày tập tễnh làm người lớn, cô bé nào dấu bạn khỏi mắt ta.
Chao ôi! Mỗi một kiếm tìm là mỗi một đánh rơi!

Yêu dấu! Giờ mình đã là cha của những đứa con. Hãy nhớ và truyền cho con trẻ niềm tin và tình yêu thuở nhỏ. Trong vườn hồn ngút ngái của ta có một thửa đất mang tên bạn. Mong sao con ta cũng tìm được trong đức tin mình một tình bạn như ta.

Bạn yêu, ta gửi tặng bạn tấm thiệp giáng sinh thật đẹp, những chú mục đồng nơi hang Bết Lê Hem. Bạn tìm thử xem gương mặt nào là của ta, của bạn?

Nguyễn Tấn Ái

Đoản khúc mưa

“Bóng ai đó thấp thoáng sau lớp mưa cuối mùa. Có cái gì đấy thân quen, lục lọi tìm kiếm nhưng vô vọng, đuổi theo nhưng lại chỉ thấy mình mình trong cơn mưa. Cảm thấy mất mát cái gì đấy…”

Cơn  mơ trưa cứ cố len lỏi vào Nghi, mặc dù cô đang cố ném nó ra khỏi đầu. Qua ô cửa sổ, không gian bên ngoài thấm đẫm một màu đỏ nhức nhối, mây lay lắt lượn lờ. Bầu trời chùng xuống, thả những vệt dài hiu hắt lên mọi vật. Ánh hoàng hôn lảng bóng xéo sắc cả một chiều thu. Loang lổ những mảng xù xì chắp vá trên những tán cây rậm rạp… úa màu. Có bóng ai nhoe bé xiêu vẹo nơi cuối đường. Vô định và khố nắm bắt, sờ tay lên mặt. Quái! nước tự đâu ra? Trời có mưa đâu….

Những hình ảnh trong giấc mơ lần lượt lướt qua đầu cô rồi rời đi, để lại một cảm giác trông rỗng cô đơn đến lạc lõng… Đến không ồn ào, đi cũng vội vã. Dạo này Nghi hay mơ thấy những thứ không đầu, không cuối và tôi khi cả phần thân cũng không được trọn vẹn. Bao giờ cũng thế, cơn mưa xối xả che trắng tất cả, chỉ còn lại nghệch ngoạc những dấu chấm hỏi to oạch trong lòng cô. Cô ghét cảm giác này, nó như con sâu đang đục khoét trong quả táo đỏ mọng, không thấy, không sờ, không thể định hình nhưng nhoi nhói, thèm khát. Chợt lạ lùng, cô muốn ôm cả buổi chiều đỏ rực kia ném vào những giấc mơ.

Có cô bé tập làm ướt hoen mi,

Ném buổi chiều khờ dại trượt kí ức!

*-*-*-*-*

Căn phòng màu trắng, những nét điểm phá đen tuyền trên ghế, trên giường, trên những thứ đồ đạc cứ nằm im lim chìm trong mùi khói nhang. Đã ba tháng rồi, Nghi cởi bỏ trên người lớp áo mang màu tang tóc… Những ngày gần đông.

Nghi nhìn những vòng hoa trắng muốt.

Nghi nhìn những bộ tách trà nguội lạnh

Nghi nhìn mắt mẹ mờ đi, đôi khi ươn ướt.

Nhìn cái lạnh ùa về, cắt da!

Nhìn Nghi ngày xưa_bây giờ, xa lạ quá!

Nghi bắt đầu sợ ngủ… sợ những cơn mê… sợ những lần gọi tên thống thiết… sợ rồi cái ngày những cơn mơ kéo dãi mãi, không bao giờ dứt… Nhanh lắm! Giống như bố cô vậy… không có lúc tỉnh.

Những cảm giác thân quen, những kỉ niệm chôn giấu trong cô về bố ùa về như đang cắt, ráp, nhớ một đoạn phim… để lại cảm giác trống rỗng, thiếu hụt một cái gì đó quá lớn, đột ngột, mọi thứ xoay loạn cả lên. Nhiều lúc cô có những suy nghĩ rất tiêu cực, cô chán ghét sự ban phát thương hại của mọi người, cô khoát lên mình lớp lông nhím đau nhức. Đôi khi, cô thấy mình như một chim nhỏ không kịp đi tránh rét, bỏ quên tiếng hót nơi chân trời xa lạ… và đôi khi cô cũng muốn những giấc ngủ… thật sâu… mãi mãi.

Hôm này mẹ lại khóc… lại khóc… Nghi thương!

Nghi thấy gì trên trán mẹ mệt nhoài… trên vầng trán và những nếp nhăn hằn sâu?

Nghi cố nói  thật nhiều, cố cười thật nhiều nhưng vẫn không che lấp nổi một chiếc ghế trống nơi bàn ăn. Đã ba tháng nay, bữa cơm… chưa bao giờ có bố. Và đôi lúc Nghi tự nhủ “Có khi nào chỉ còn mẹ và em”. Nghi cố nén nhưng mắt vẫn đỏ, như mắt trời chiều này, bỗng nhiên thấy mình bất hiếu.

*-*-*-*-*

Những đồng xu quay nhẹ trên mặt bàn như nhảy một điệu ballat buồn. Hoà trong nhịp bravo chậm rãi từ cái radio cũ kĩ của bố, thời gian như nhảy những bước khó nhọc trên mặt đồng hồ. Nghi kể cho anh nghe về những giấc mơ, cô có thể quay lưng lại với cả thế giới, trừ anh. Ánh mắt anh như bị hút vào khoảng không gian vô tận. Anh thấy gì trong ly cà phê đắng? Có thấy mưa hát nhưng khúc dại khờ.

–           Có thể là anh chăng? – Anh vừa xoay xoay đồng xu vừa cười nhẹ.

–           Vậy thì đúng là một cơn đại ác mộng rồi!– Nghi chu môi.

–         Nghi đúng là một đứa trẻ hư! – Anh nhẹ nhàng tung đồng xu rồi thở dài. Anh tung đồng xu như tung nỗi buồn, chênh vênh

–         Buồn vì anh phát hiện ra điều ấy quá trễ! Mà nói luôn, Nghi không phải là một đứa trẻ – Nghi mỉm cười ngạo nghễ. Cái chất háo thắng của Nghi là thứ duy nhất cô để lại cho mình

–         Dạo này Nghi thay đổi nhiều quá – Bỗng anh ngước lên nhìn thẳng vào mắt cô.

Những đồng xu chợt nằm im thờ thẫn trên mặt bàn.

–         Nghi chả có gì thay đổi. Chỉ là Nghi trưởng thành lên thôi. – Cô bực dọc trước ánh mắt của anh

–         Em trưởng thành hay em chỉ già đi? Tuỳ em thôi, anh vẫn thích một Nghi tuy hậu đậu nhưng luôn cười của ngày xưa hơn – Anh lại tiếp tục quay về với những đồng xu.

Nghi không trả lời, đôi mi dài của cô cụp xuống. Sự im lặng nuốt chửng cô và anh. Cô ước mình mãi không còn cảm giác gì nữa, để quên đi mãi mãi, hay chính cô không tồn tại lúc này, lúc anh bên cạnh cô. Cô thấy mình như tan biến cùng hoàng hôn. Đâu đó trong không gian tiếng những đồng xu lạnh lẽo vang lên mờ ảo. Căng thẳng đến tột độ, đôi chân cô lao ra khỏi cửa. Bầu trời xám xịt, rậm rịt những đám mây trìu nặng ưư tư. Trời đen, hay mắt cô u tối?

Mưa nhẹ rơi. Giống như là những giọt nước mắt vậy.

Nghi không thể hiểu nổi mình, cũng không thể hiểu nổi anh, anh vẫn ngồi đó và tiếp tục với những đồng xu vô cảm kia. Nghi cứ tưởng anh sẽ lấp đầy chỗ trống của ba cô sau tai nạn đó. Nhưng không! Anh vẫn bỏ mặt cô với cơn mưa. Lạnh đến nghẹt thở.

Mưa mỗi lúc một to hơn, khuôn mặt Nghi ướt đẫm nước. Nước mưa hay nước mắt Nghi? Cổ họng cô đắng nghét. Sét rạch ngang trên bầu trời, sáng lóa. Rồi như chợt nhận ra điều gì đó. Cô ngồi bệt xuống đất, đôi tay cô run rẩy dang rộng như muốn ôm lấy đất bình yên…cát bụi lại trở về với cát bụi. Ngửa mặt lên, để mặc những hạt mưa tát đau rát vào mặt mình. Anh nói đúng! Cô đã thay đổi rất nhiều sau cái chết của ba. Nhưng cô không muốn thừa nhận. Cái hiện thực đau đớn khiến cô muốn chối bỏ tất cả. Bóng người cô luôn đuổi theo không phải ai khác, chính là cô, là tiềm thức trong con người cô, vùng vẫy, và chạy trốn hiện thực. Nghi bắt đầu cười điên dại nhưng vẫn không thể át nổi tiếng mưa. Nghi như con thú hoang đang giẫy giụa trong vũng lầy kí ức. Cô cười thì không còn nước mắt để khóc ư? Những chờ mong, những hy vọng vụt biến mất để lại cô với cơn mưa cuối mùa. Những nhát chém loằng ngoằng xé nát bầu trời.

Tiềm thức sao không lôi nổi cô dậy, quá khứ thì không còn chỗ chứa đựng yêu thương….

–         Xin lỗi! Anh không biết là anh đã đau khổ đến vậy.- Anh đứng sau lưng cô tự lúc nào, ướt sũng.

–         Anh nói đúng, em chả hiểu gì hết, em đã thay đổi nhưng em vẫn chỉ là một đứa trẻ, em…. Em… không cần anh thương hại, anh không thể nào dạy em những điều mà một người bố làm với con gái họ! Anh có thể thay thế bố trong trái tim em không? Không! Anh không thể? – Cô hét lên và bắt đầu bỏ chạy.

Cô không hiểu nổi mình, cô đang chạy, cô lại trốn tránh. Nhưng bàn tay vững chãi của anh kéo Nghi lại và cô thấy má mình rát bỏng. Anh nhìn nó đầy giận giữ. Những đồng xu văng xuống đất, dính đầy bùn đất, giống như Nghi bây giờ.

–         Nghi! Em tỉnh lại đi! Bố em đã mất… không có nghĩa là ông không còn tồn tại. Ông ở đây này… trong trái tim em. Tại sao anh phải thay thế bố em chứ? Một người bố với em dễ thế sao? Hãy nhìn lại mình đi, hình hài mẹ cho em đâu phải thế này. Không phải em luôn tự hào vì mình có đôi mắt của bố hay sao, thế mà em lại để nó luôn đỏ hoe như thế sao. – Anh hét lên đanh thép.

–         Em chỉ muốn được yêu… nhưng không ai trả yêu thương cho em -Giọng Nghi yếu dần.

Trời giận giữ nổ những tiếng sâm kinh hoàng. Đôi mắt Nghi mơ to sững sờ. Cô thấy mình đang chìm đi

“Bố dẫn đi tắm mưa như lúc bé. Rồi bố chỉ về phía chân trời sũng nước và bảo: ‘Con yêu, đã đến lúc bố phải đi, yêu con’. Bố hôn nhẹ vào trán rồi biến mất sau màn mưa”

–         Bố! – Nghi hất mạnh tấm ga trắng xuống giường. Thì ra chỉ là mơ. Nhưng thế chỗ cho những dấu chấy hỏi nhuốm buồn thì lại là dấu chấm hết cho cả một cơn mơ dài đối với Nghi. Nghi tự nhủ cô phải sống cho cả bố, sống cho cả giấc mơ quá dài này.

Mẹ và anh nhìn nó đầy lo lắng.

–         Con không sao chứ?

–         Mừng em đã tỉnh lại!

Nghi muốn khóc oà lên nhưng đâu thể, cô đã khóc nhiều rồi. Cô nhọc nhằn cố dồn hết sức cười thật tươi

–         Đông Nghi của mọi người lại về đây!

Cơn mưa đã ngưng, những tia nắng xé toạc bầu trời xám xịt. Chân trời rạng rỡ một màu hồng. Chiếc lá vàng nhẹ rơi ôm đất bình yên. Vừa lúc ấy, một con chim nhỏ bay vút lên. Tiếng hót của nó cao vút, hoà vào trời xanh.

P.N

Không phải là hoa

Tôi đưa tay xé một tờ lịch, bất chợt nghe một cảm giác pha lẫn một chút sững sờ, một chút bàng hoàng và cả một chút xót xa thương cảm lặng thầm. Tờ lịch mang những con số « 18-4 », và một hàng chữ đậm rõ nét “Ngày Người Khuyết Tật”

Nhà tôi có một nhà giáo, một bác sĩ, một doanh nhân và một quân nhân. Đó là một vài trong số những nghành nghiệp đã được xã hội dành hẳn cho một ngày riêng biệt để tôn vinh. Vào những ngày đó, không khí trong gia đình, cũng như không khí ngoài xã hội, có một chút đổi thay. Đó là những nụ hoa, những món quà trong lớp giấy đẹp, những lời chúc tốt lành, và cả những bữa tiệc hoan hỉ, vui say. Những nhân vật của những ngày ấy trông mới xinh tươi, hồ hởi, sung sướng và hãnh diện làm sao. Chính tôi cũng đã nhiều lần hòa cùng cuôc vui trong bầu không khí thân thương ấy, cũng đã tự tay đi chọn những bông hoa đẹp nhất, cũng đã trù bị trong đầu nhưng lời chúc mừng hay nhất, và cũng tự tay nấu những món ăn ngon nhất, để góp một chút vui của mình trong sự tôn vinh chung của người người, và cũng là để đem đến cho những người ấy chí ít là một nụ cười thỏa mãn, vì cái ý thức được ưu đãi được tôn trọng , và cả một phần tự hào với những gì mà bản thân đã được đóng góp mà trong xã hội đời sống con người này luôn cần đến.

Còn tôi ? Cái số phận không may mắn gì, không vui vẻ gì, không thích thú gì, đã buộc tôi phải rơi vào một ngày sau chỉ một cơn sốt cao. Cái ngày mà lẽ ra đừng nên để nó hiện thành câu thành chữ trên một tờ lịch thế này. Tại sao người ta lại dành ra một ngày cho nó làm gì chứ ? Nó đâu có mang lại được một điều gì hay hớm cho những chủ nhân của nó đâu, nó cũng không tạo ra được một thứ không khí nhộn nhịp như những kiểu ngày khác, thậm chí nó còn như một nhát roi quất vào lòng của những người như tôi lúc này. Cái ngày dành riêng này gần như chỉ mang lại sự phản cảm, là bởi hầu hết mọi người đều có thái độ tránh né, coi như đó chỉ là một ngày bình thường như bao ngày bình thường khác. Không tránh né thì còn làm được gì, có ai đi chúc mừng nỗi bất hạnh của người khác bao giờ, trong sinh hoạt hàng ngày lỡ có điều sơ sẩy đụng chạm đến đã là một nỗi khó khăn lắm rồi, lại còn đi nhắc nhở vào một ngày để gây thêm sự tổn thương cho người nữa sao. Không, không thể. Tuyệt nhiên không ai có thể tỏ một chút động thái nào, cho dù với một thiện ý tốt đến mấy đi nữa. Vậy thì dành ra một ngày này để làm gì ? Chỉ để cho những người trót không may phải mang trong mình một sự khiếm khuyết đáng buồn nào đó, lại cảm thấy mình đáng thương hơn.

Nỗi buồn cứ dâng mãi, ngút ngát cả tâm hồn, tôi chợt bật dậy, với lấy đôi nạng chống đi, đi vài bước tôi quay lại, xé luôn tờ lịch ấy, cứ để cho thời gian chạy nhanh hơn một chút cũng được. Khép lại cánh cửa, bỏ lại đằng sau ngôi nhà vắng lặng, như mọi ngày, những người trong nhà tôi đã tỏa ra các ngả đường từ sớm, chỉ còn tôi loay hoay với cái máy giặt, với các vật dụng bếp núc, với những trang báo và với những mẩu văn rời rạc của mình, những đoạn viết ấy chủ yếu chỉ để gói gém niềm tâm sự mà tôi không biết thổ lộ cùng ai, thi thoảng được in trên một trang báo, đó là niềm hạnh phúc rất lớn với tôi. Tôi đi dọc theo bờ hè, có một vài chỗ hè hẹp quá vì xe cộ dựng ngang dọc, vì những thứ hàng hóa người ta phải bày lấn ra, tôi phải bước xuống lòng đường, những chiếc xe ngược chiều vội vã lách qua.

Thành phố vẫn đông đúc những sắc màu rộn rã, vẫn chật chội chất chứa trong lòng bao tất tả ngược xuôi. Trên những con đường như thế này thường rất hiếm những người như tôi, nghĩa là những người tự biết mình dễ bị mất an toàn khi tham gia vào một lưu lượng người xe như thế. Tôi cũng không ra khỏi nhà nhiều lần trong ngày làm gì. Chỉ thỉnh thoảng lóc cóc khua đôi nạng ra khu chợ cách nhà không xa mấy, mỗi khi phải mua thức ăn vì chị hoặc em tôi ngày đó vội đi sớm, hoặc mua một vài thứ gì đó cho riêng mình.

Nhưng hôm nay, con đường tôi đi không dẫn tôi ra khu chợ ấy, mà nó đang trải dài lối đến vườn hoa thành phố. Thiên nhiên chắc sẽ giúp tôi thanh thản được lòng chăng ? Quả là vậy. Bước chân vào vườn hoa, những xôn xao sắc lá màu hoa trong cảnh sắc hài hòa êm ả, tôi nghe lòng mình nhẹ hẳn đi, một làn gió thoảng qua làm tôi thêm dễ chịu. Chọn một chiếc ghế đá tôi ngồi xuống, ghép đôi nạng gỗ gọn qua một bên. Cái vật vô tri này đã theo tôi hơn hai mươi năm nay rồi, nó cũng tăng dần theo chiều cao của cơ thể, mặc dù bỏ nó ra tôi cũng nhẩn nha từng bước được, nhưng sẽ bị vấp ngã nhiều hơn, vì vậy tôi chỉ rời nó khi loanh quanh trong nhà, ra đường thì không thể thiếu nó được. Tự nhiên tôi vuốt nhẹ đôi nạng gỗ, như thay cho lời cảm ơn, và tôi bỗng mỉm cười một mình. Tâm trạng tôi đã khác lúc ngồi ở nhà rất nhiều, nếu không ra đây thế này, chắc tôi lại vùi mình trong những giọt nước mắt tủi thân mất.

Nước mắt. Đã từ rất lâu tôi không để cho chúng tuỳ tiện chảy ra nữa, người ta hay nói, khi có tâm trạng không tốt nếu khóc được chắc sẽ nhẹ lòng hơn, tôi thì không cho là thế, đành rằng cũng có đôi lúc thật, nhưng khi chảy nước mắt sao thấy mình yếu đuối quá, thậm chí là ươn hèn nữa. Khóc chẳng giải quyết được gì cả, chỉ làm mình thêm yếu lòng, thêm thấp bé đi thôi, mà với một người như tôi thì rất cần sự mạnh mẽ, cứng rắn, có khi là chai lỳ nữa, có thế thì tôi mới vượt qua được những lúc khó khăn trong lòng, càng khóc thì lại càng thấy nỗi đau của mình lớn thêm thôi. Nên nếu có những tình huống nào đó, e chừng mình sẽ bi luỵ, tôi luôn tìm cách thoát khỏi nó, và hầu như lần nào tôi cũng thành công, như lần này chẳng hạn. Đưa mắt nhìn quanh, tôi thở một hơi sâu, cảm giác trong buồng phổi mình có bao nhiêu ngõ ngách đều nở hết cả ra.
Anh mắt tôi chợt đậu lại một điểm, một khối hình dưới một tán cây, khối hình ấy có một kích thước ngắn hơn bình thường mà lẽ ra nó phải, và thay vào cái đoạn ngắn hơn ấy là một hình khung bằng sắt, cái hình khung này có thể di chuyển được nhờ hai cái bánh xe. Nói tóm lai là tôi nhìn thấy một người đàn ông trên chiếc xe lăn. Thật tệ hại khi cho ràng đó là một niềm vui. Nhưng rõ ràng trong tôi dội lên một thứ cảm xúc như vui vẻ, một thứ cảm xúc mang lại một sự gần gũi mơ hồ nào đó Kể ra thì không hề nghịch lý một chút nào, vì trong hoàn cảnh này, đó là một sự đồng cảm. Người xưa đã có một câu nói thế nào trong trường hợp này nhỉ ? A, phải rồi “Đồng bệnh tương lân”. Khi có cùng một sự rủi ro ngưòi ta cảm thấy gần nhau dễ hơn là có cùng một sự may mắn, chẳng hiểu sao lại lạ thế chứ. Nhưng lúc này thì rõ ràng đó là một minh chứng tuyệt đối.


Tôi tuy có khiếm khuyết về thể hình, nhưng bản tính tôi lại khá tự nhiên và cởi mở, đây là nhận xét của khá nhiều người, và có lẽ đó là một thế mạnh hay còn gọi là một cứu cánh của tôi vậy. Vì nhờ nó mà đời sống tinh thần của tôi không đến nỗi nghèo nàn hay ủ dột. Hình như đó là sự công bằng của tạo hóa, khi lấy đi một thứ này thì sẽ bù đắp bằng một thứ khác, hẳn là như vậy, nếu không con người làm sao tồn tại nổi giữa cuộc đời nhiều nguy ngại này. Bây giờ thì bản tính của tôi lại một lần nữa thúc giục hành động của tôi . Tôi chống nạng đi đến gần người ấy.

– Chào anh ạ.

Giật mình và có lẽ còn giật mình hơn khi ngoảnh nhìn sang bên thấy một hình hài. Nửa ngạc nhiên và nửa thân thiện là ghi nhận đầu tiên của tôi trong mắt người ấy.

– Vâng ! Chào cô ạ.
– Nếu anh không ngại, cho phép tôi mời anh đến băng ghế kia để trò chuyện một chút, được không ạ ?

Một nụ cười vui vẻ :

– Vâng vâng, thế thì còn gì bằng nữa ạ.

Có vẻ anh ta cùng có cùng tâm trạng như tôi trong cái ngày này thì phải. Và như thế thì lời đề nghị của tôi quá hợp tình hợp lý rồi. Anh bạn ấy lăn xe theo tôi đến chếc ghế băng đá, và cố xê đi dịch lại cho ngang tầm cái ghế ngồi. Tôi nhìn thoáng qua gương mặt người bạn đồng trạng, một gương mặt vuông vức, đầy đặn, đầy vẻ tự tin, vững chãi. Nếu có một cơ thể hoàn chỉnh, có lẽ đây là một người đàn ông rất uy phong, sẽ là một đối tượng thu hút không biết bao nhiêu là cái nhìn ngưỡng vọng của những người khác phái. Nhưng…lại cái chữ nhưng chết tiệt ấy. Ôi trời, bỗng nhiên lại đổ tội cho chữ nghĩa, đúng là vớ vẩn. Tôi thoáng cười thầm cho những suy nghĩ lẩm cẩm của mình.

– Công viên hôm nay vắng người nhỉ ?
– Ngày thường mà, ai cũng đang loay quay với công việc cả, có thời gian đâu mà ra đây giờ này.
– Chắc chỉ có những người như chúng ta mới có thời gian vào lúc này thôi cô nhỉ.

Hai đôi môi cũng nhếch một nụ cười đồng nghĩa. Sau một vài câu hỏi han, chúng tôi đã biết một số thông tin về nhau. Tuy mỗi lý do dẫn đến bệnh trạng có khác nhau, nhưng tâm trạng thì không khác nhau là mấy. Tôi nói những suy nghĩ của mình về hàng chữ trên tờ lịch. Anh bạn khẽ lắc đầu :

– Tôi lại không cho là thế. Tuy đúng là nó có nhất thời mang đến cho ta những phản cảm, nhưng vấn đề là ở chính ta chứ không phải ở xuất xứ của nó. Bởi chính ta còn mang nặng những tự ti mặc cảm, còn chưa bước qua được cái rào cản của chính lòng mình. Chứ nếu nhìn về mặt tích cực của ý nghĩa thì nó lại biểu thị một điều khác. Đó là sự quan tâm, sự tiếp nhận của mọi người về sự tồn tại những người như chúng ta.

– Anh không cho đó là một sự chiếu cố sao ?
– Về một góc hẹp nào đó thì có. Và cũng phải thừa nhận rằng, có một thành phần trong xã hội nhìn chúng ta bằng ánh mắt tội nghiệp, ban bố. Nghĩ gần, ta cho đó là sự xúc phạm, là làm tổn thương lòng tự trọng của mỗi chúng ta, nhưng nghĩ xa, ta không thể đòi hỏi họ một cái nhìn bình đẳng, và cũng không thể trách họ nếu họ có sự thương cảm nào đó, vấn đề là cách thể hiện thôi. Nếu ta hiểu họ, và ta hiểu ta thì không nên đặt nặng vấn đề làm gì, hãy coi đó là một sự thông thường trong cuộc sống. Nói cho cùng, không ai là người không khiếm khuyết cả, chỉ là nhìn thấy bằng mắt hay nhìn thấy bằng lương tri thôi.

– Anh nói nghe sâu xa quá.

Một nụ cười nhẹ :

– Tôi cũng đã từng đi qua những tâm trạng, cũng đã từng khổ tâm dằn vặt, sao mình không chết quách đi cho rồi, người như mình thì sống trên đời này làm chi cho chật đất, cho vướng bận mọi người. Thậm chí cũng đã có lúc tôi định tự tử vì một cú sốc nào đó. Nhưng rồi qua đi, tôi lại bình tĩnh nhìn lại mình và cuộc sống. Chúng ta là những người thiếu may mắn, không được tạo hóa ban cho sự công bằng về mặt hình thể,và chính xác là chúng ta phải chịu những thiệt thòi nhất định về tinh thần tình cảm và cả vật chất nữa. Nhưng chúng ta còn cả một tâm hồn và cả một trái tim, khối óc, hãy biết cách để không phải sống thừa. Cô thấy đấy, vẫn có những người khuyết tật làm nên những kỳ tích, không phải họ cố để chứng minh một cái gì đâu, chỉ là họ không thể tự vứt bỏ mình, bởi nếu chính mình vứt bỏ mình thì sẽ chẳng có ai cần mình nữa.
– Nhưng dẫu sao cũng còn những hạn chế mà ta không thể phủ nhận, và khi nhìn vào những hạn chế ấy, làm sao tránh khỏi sự tủi thân hở anh ?
– Tất nhiên, vì là một con người đúng nghĩa, bản thân ta cũng vẫn có những khao khát, những ước vọng, nhưng điều kiện bản thân không cho phép, nên buộc phải có lúc mình phải chấp nhận sự bất lực chứ, và những lúc như thế thì rõ ràng là phiền muộn, là tâm trạng rồi. Vậy nên tốt nhất hãy biết hạn chế những ước vọng của mình, nếu có gì đó nảy sinh, mà xét thấy mình không thể đạt được, thì hãy gạt phắt nó đi, và nghĩ đến những gì trong tầm tay mình thôi, như vậy sẽ dễ sống hơn.
– Tôi có nhiều lúc rất buồn vì phải sống dựa vào sự cưu mang của người thân, cho dù hàng ngày tôi cũng làm một số công việc trong nhà, nhưng không trực tiếp làm ra tiền để có thể tự lo cho mình, nên cũng nghĩ ngợi lắm.
– Đây là một vấn đề rất bức thiết của chúng ta, tuy xã hội cũng đã có những hướng tạo công ăn việc làm cho những người khuyết tật, nhưng con số đó còn quá ít. Số còn lại phải tự mưu sinh bằng mọi cách có thể, may mắn hơn một chút như cô còn có người thân giúp đõ, còn nhiều, nhiều lắm những người đang phải sống lây lất từng ngày kia. Nói gì thì nói, đa số những công sở, nhà máy vẫn không thể chấp nhận chúng ta, vì cái họ cần là hiệu suất công việc, so ra thì đương nhiên chúng ta không thể bằng người bình thường rồi, hơn nữa những nơi ấy đâu phải là nhà từ thiện cho dù ở mức độ nào đi nữa. Nếu chúng ta cứ để tâm đến những bất bình đẳng của xã hội, thì không thể nào có được sự bình yên cho mình cả.
– Thế theo anh thì phải làm sao ?
– Hãy bằng lòng với những việc dù nhỏ nhặt mà mình đã làm được, đừng đòi hỏi mình nhiều quá, dễ dẫn đến một tâm trạng yểu nhược. Ví dụ như cô, cô nấu được một bữa ăn ngon, những người thân của cô vui thích thưởng thức, và có đầy đủ dinh dưỡng để làm được nhiều việc, để tránh được những bệnh tật, thế đã là tốt rồi, hoặc như cô nói, cô cũng thỉnh thoảng viết lách đôi chút, vây thì một bài thơ, một bài văn hay, gây được cho người đọc chút niềm vui, chút thư giãn đầu óc sau những công việc mệt mỏi, thế là hay rồi. Còn với tình cảm của mọi người, hãy mở lòng đón nhận, dù cách thể hiện của họ đôi khi không được tế nhị lắm, nhưng đừng quá tự ti mặc cảm mà phủ nhận, đó cũng là tự hắt hủi mình đấy.


Càng nói chuyện với con người này tôi càng cảm thấy bộ óc mình như nở ra, có những điều tôi cũng đã từng nghĩ đến, nhưng để diễn tả thành lời được thì không dễ, bất giác tôi kêu lên một tiếng thán phục :

– Hôm nay thật là môt ngày đẹp trời để tôi được trò chuyện với anh thế này.
– Thật ra đây cũng là một dịp may cho tôi, vì không dễ tìm được một người có thể nghe và hiểu được mình muốn nói gì.
– Vâng. Đúng thế đấy anh ạ. Trong cuộc sống mình có thể gặp rất nhiều người, nhưng với một số thì chỉ có thể bâng quơ hay đùa cợt dăm câu rồi qua chuyện , còn để nói được những chuyện thuộc tư duy thì không nhiều lắm.
– Đối với loại chuyện mang tính tâm cảm đặc trưng như chúng ta lại càng khó. Bởi với những người bình thường, họ không thể hiểu hết được tâm can của ta, mà ta thì vì lòng tự trọng cũng không dễ thổ lộ với họ.
– Như vậy nhất thiết chúng ta phải tìm đến nhau để có thể giải tỏa những gút mắc trong lòng phải không ạ ?
– Được thế thì quá tốt.
– Thế thì số điện thoại của tôi đây, còn anh ?
– Tốt quá, tôi không có điện thọai, nhưng không sao, tôi vẫn có thể liên hệ với cô mà.

Ông mặt trời đã lên khá cao, ánh nắng đã có phần gay gắt, tôi nhớ đến công việc của mình.

– Chắc tôi phải chào tạm biệt anh rồi.
– Vâng, cô có việc thì cứ về trước, tôi sẽ tiếp tục công việc của tôi đây.Chúng ta sẽ còn nhiều dịp để trò huyện với nhau mà.

Nói rồi anh chìa ra một tập vé số nãy giờ nằm nép một bên, tôi ái ngại :

– Ôi chết , vì tôi mà …
– Cô không phải nghĩ ngợi, đây là việc hàng ngày, còn buổi nói chuyện của chúng ta nó có một giá trị riêng chứ, đâu thể so sánh nhau được.
Tôi mỉm cười chợt nghĩ và nói :
– Anh nghĩ sao nếu cuộc nói chuyện của chúng ta sẽ một ngày xuất hiện trên một trang báo nào đấy ?
– Thế thì quá tốt, biết đâu cũng có những người bạn như chúng ta đây gặp được một sự đồng cảm dễ chịu này.
– Tôi chợt nảy ra một ý, nếu ta thành lập được một Câu lạc bộ cho những người khuyết tật thì hay biết mấy anh nhỉ ?
– Một ý kiến tuyệt đấy, nhưng mà hơi to tát, mà không chừng, biết đâu đấy…
– Ồ, bỗng nhiên tôi có một hứng thú ghê gớm cho việc này, ta sẽ bàn với nhau sau nhé. Giờ thì chúc anh gặp may với những người khách dễ tính.
– Dễ tính thôi chưa đủ, họ còn phải có một khao khát nữa cơ.
– Khao khát một món lợi dễ kiếm thì hầu như ai cũng có, nhưng đặt niềm khao khát vào sự may rủi thì không nhiều đâu anh ạ.
– Tất nhiên, nếu không tôi đã trở thành một nhà tỷ phú nhờ kinh doanh vé số mất rồi.

Những tiếng cười vui vẻ, sảng khoái luôn đem lại cho những gương mặt người một vẻ rạng rỡ yêu đời, chúng tôi chào từ biệt nhau trong tiếng cười thanh thỏa ấy. Vừa quay lưng trở bước, tôi nghe anh bạn gọi :

– Này, nếu có nhuận bút thì phải nhớ chia cho tôi một nửa đấy nhé.
– Anh yên tâm, hai phần ba cũng được mà.

Đôi nạng lại đưa tôi về phía khu chợ, hôm nay tôi mua một số thực phẩm ngon về chế biến, tôi thường rất vui khi những món ăn của mình được mọi người yêu thích và sử dụng hết với vẻ còn thòm thèm, hôm nay chắc chắn niềm vui ấy trong tôi sẽ tăng lên gấp nhiều lần.

Đàm Lan

Tô Phở

    tặng Ng H

Khóc.
Chỉ một từ ngắn gọn mà hàm chứa bao điều.
Người ta nói tiếng khác nhau, ngôn ngữ khác nhau nhưng tiếng khóc thì không khác.
Có người dễ khóc, có người cả đời không thấy khóc. Có người khóc ồn ào, có người âm thầm rơi nước mắt hoặc chỉ bằng đôi mắt ráo hoanh vô hồn
Khóc giúp con người vơi đi đau khổ, buồn phiền. Khóc cũng biểu hiện niềm vui niềm hạnh phúc tột cùng. Đôi khi khóc có tính phức hợp.
Người khóc vì đại sự. Người khóc cho người khác. Người tôi sắp nói tới đây lại khóc chỉ vì tô phở.

* *


Đấy là một người phụ nữ bình dị , chữ nghĩa chỉ đủ để viết lên cánh cửa bếp mấy con số nhớ ngày mẹ gà ấp trứng hay số gạo bột cần mua. Người đã đi khắp nơi mọi chốn vì chuyện mưu sinh từ khi còn trẻ đến lúc tóc ngả màu mới chọn một chỗ chật hẹp trong chợ to buôn nhỏ bán lẻ cốt có thêm miếng cá tươi đáp ứng sở thích ngày càng ít lại của chồng hoặc hộp bánh ngon cho cháu. Người không mấy khi đau ốm dù luôn tay từ sáng sớm đến tối mịt. Người luôn làm nhiều hơn nói, từ thuở mới theo chồng đến lúc tay yếu chân run. Người đã sinh mười đứa con cả trai lẫn gái và nuôi chúng ăn học thành người có vai vế tiếng tăm, có một lô lốc nhốc các cháu nội ngoại mà chưa một lần nói nặng với chồng. Người thỉnh thoảng nấu nướng thật nhiều món ngon lành rồi gọi cháu con đến ăn thoả thích. Người mua một lúc mấy con gà vườn, đang giữa trưa kêu xe ôm đi từ phố về làng, từ đông sang tây chia cho con gái mỗi đứa một nửa sợ chúng nó thèm. Người lặng lẽ gọt cả đông gừng tú ụ, ngào mứt rồi gọi con – đã làm cha làm mẹ – đến nhận về, nửa dùng trong ngày tết nửa làm quà tặng bạn bè.

Đấy là người đáng kính đáng yêu nhất của các con, người luôn được nghĩ tới trong mỗi bước đường của đời họ , là tấm gương soi, là chỗ dựa cho các con khi xiêu ngã. Và đặc biệt chưa ai từng thấy người đó khóc dù đường đời bao nỗi lận đận, bao phen lâm cảnh ngặt nghèo éo le.

Vậy mà người ấy chiều nay đã khóc .

* *


Tin người đó khóc truyền nhanh trong con cái và gây bất ngờ, lo âu ngay sau khi một trong các cháu nội ngoại tình cờ phát hiện.
Điện thoại réo tíu tít giữa mấy nhà.
Năm phút sau mấy anh chị em gặp nhau tại nhà chị lớn trong phố chính. Suy đoán chán lại nhìn nhau. Không ai biết nguyên nhân. Người ấy vẫn mạnh khoẻ không có biểu hiện bệnh tật, không bị ai lừa gạt, không bị mất tiền mất của, không gặp điều oan ức và càng không có một ai thân thích từng biệt tăm biệt dạng ghé thăm. Vậy thì do đâu ?
Chỉ có thể vì mấy đứa con người rứt ruột đẻ ra
Lập tức một cuộc lục vấn tra gạn diễn ra giữa mấy người con.
Chị vặn em, em hỏi chị. Không. Không ai lơ là thăm viếng. Không ai nói năng hỗn ẩu. Vậy thì chỉ có thể là người ấy buồn phiền cho gia cảnh các con mà khóc.
Những lỗi lầm sai trái gãy đổ của mỗi gia đình lại bị xới tung lên thiếu điều gây giận lẫy. Nhưng không có chuyện gì ghê gớm xảy ra trong gia đình mỗi người. Vợ chồng nhà nầy giận nhau, vợ chồng nhà kia làm ăn thua lỗ, vợ chồng nhà nọ con cái không vâng lời đã thành quá khứ từ lâu lắm rồi. Gia đình nào cũng ngời ngời hạnh phúc, ngời ngời thành đạt.

“ Thôi. Không bàn nữa. Cứ đến mà hỏi là thượng sách”.

Vợ bảo chồng, chị bảo em. Tất cả theo nhau lên xe không quên lễ mễ trà sữa cam nho rùng rùng kéo đến nhà. Hàng xóm nửa ngạc nhiên nửa thèm cảnh lạ lùng này.

* *


Quả thật người ấy khóc. Nước mắt đã khô nhưng dấu tích vẫn rành rành qua khoé mắt nhoè đỏ, qua giọng nói ngàn ngạt, qua tiếng sịt mũi đã cố giấu diếm.
Chị em, lớn nhỏ thi nhau gạn hỏi. Khô cả cổ, mỏi cả chân, đói meo bụng cuối cùng thì bật ngửa là chỉ vì tô phở. Vâng. Một tô phở giá năm ngàn.
Chỉ có điều tô phở được một người đàn ông mua mang đến tận nơi người ấy đang ngồi, lau đũa lấy thìa dịu dàng mời mọc.

* *

Người đàn ông ấy từng là chàng trai thông minh lanh lợi khoẻ mạnh trước khi trở thành người khôn ngoan lịch lãm chốn chợ đời và bây giờ là ông lão ngoài tám mươi da mồi tóc bạc yêú ớt hơn cả trẻ nhỏ. Người đàn ông ấy từng có thời ngang tàng ngược xuôi từ nam chí bắc, lên rừng xuống biển thi thố thao lược trước khi chịu ngồi gò bó trước hiên nhà nhìn thiên hạ lại qua mà nhớ thời ngang dọc. Người đó từng thâu đêm suốt sáng đấu lý với lý trưởng tham lam rồi xã trưởng độc ác trước khi thích kể chuyện ngày xưa với mấy thằng cháu trai bằng giọng tự hào xen nuối tiếc. Người đó cũng từng đổ vào canh bạc cả ngôi nhà hoặc chung độ một trận đá gà bằng cú thầu vừa trúng trước khi hớn hở như con trẻ nhận phong bao mừng tuổi từ con gái con trai mỗi dịp Tết đến xuân về. Người đó vô tư đến nỗi con có mười đứa thì vợ một mình vượt cạn, một mình nuôi ăn nuôi học suốt mấy chục năm qua bao nhiêu biến động không một lời han hỏi. Người ấy mới đây vừa thoát một cơn bạo bệnh, chỉ đi lại trong nhà khoe cháu khoe con rằng “Giờ tau chỉ đi được bước ngắn”.

Và chiều nay người ấy đã làm mềm lòng người đàn bà, khiến nước mắt phải rơi

* *

Vâng. Chính người ấy chiều nay đã đích thân dò từng bước ngắn ra đến đầu ngõ mua tô phở, lau đũa lấy thìa tận tay đưa đến nhỏ nhẻ bảo người đàn bà đang ngồi buồn xo sau giấc nắng nôi: “ Mụ ăn đi kẻo nguội”.

Khi nghe lũ con xúm lại gạn hỏi mẹ, người đàn ông – đang lẫm chẩm tới lui đã cao giọng:

– Cả đời tau không hề. Giờ tau đi mua phở cho mụ ăn. Sướng rứa rồi còn khóc là tại làm răng. Tau không hiểu nỗi… Thiệt đúng là đàn bà. ..

Nghe những lời phàn nàn của người đàn ông , tất cả – không ai bảo ai – thở phào nhẹ nhỏm , nhìn nhau cười mà nước mắt lăn lăn. Họ đã hiểu. Chẳng ai trong số họ gây phiền muộn cho mẹ mình cả. Họ vẫn là niềm tự hào của mẹ. Mẹ khóc khi đón nhận sự chăm sóc của người cả đời chỉ biết nhận từ bà.

Tô phở vợ mua cho chồng, chồng mua cho vợ không mới mẻ gì cũng không có gì đặc biệt với nhiều gia đình. Nhưng tô phở của ngươì đàn ông lại mang bao ý nghĩa mà chỉ người trong cuộc mới cảm nhận được, là mật mã chỉ có thể được giải bằng chính cuộc đời của hai người.

Những giọt nước mắt của người ấy chính là nước mắt trôi rửa mọi tủi hờn lắng tụ bấy nhiêu năm làm vợ. Nước mắt của niềm vui, niềm hạnh phúc – một hạnh phúc vợ chồng đơn sơ, cụ thể mà người ấy khát khao đã từ lâu lắm.

Đó cũng có thể là những giọt nước mắt tiên cảm về cuộc chia ly vĩnh viễn đang mon men đến giữa hai người.

* *

Tôi chính là một trong mười người con của họ.
Cũng như các chị, nước mắt tôi lăn lăn…

Từ Chuyện Cây Bàng Trong Sân Trường

Sân trường tháng muời hai luôn đặc biệt bởi những chiếc lá bàng. Cây bàng không biết từ lúc nào đã tự nhuộm mình thành đỏ ối như một ngọn đuốc khổng lồ, cứ thầm lặng cháy trong trời đông xám lạnh. Mỗi ngày, ngọn đuốc ấy lại hao mòn đi một ít sắc đỏ vì những chiếc lá rụng.

Tháng mười hai Tây Nguyên cũng đã bắt đầu mùa gió, nên vừa rời cành lá bàng đã được gió đón lấy, nâng trên đôi cánh của mình mà đưa đi tít xa. Có những chiếc lá không theo gió, chỉ chao nhẹ đáp xuống rồi nằm thảnh thơi trên mặt đất, làm nên một tấm thảm màu nâu đỏ, đẹp đến ngỡ ngàng.

Cô giáo dạy văn mê đắm lá bàng, cứ ngẩn người xuýt xoa không ngớt trước vẻ xao xác của sân trường mùa lá rụng. Rồi tiếc nuối hụt hẩng khi thấy học trò của mình quét sạch lá rụng…
Không chỉ quét lá rụng, học trò còn leo lên cây tuốt hết những chiếc lá đã chín màu nâu đỏ, tuốt cả những chiếc lá mới chỉ vương chút nâu vàng… Lá bàng bị cưỡng bức rụng ào ào xuống sân trường.
Rồi trong chốc lát, tất cả những chiếc lá như những mảnh màu ấm áp tuyệt đẹp, đã bị dồn hết vào trong bao tải. Học trò mang những bao lá bàng ra để ở một góc đường, xe rác sẽ đến và mang chúng đi…

Thầy giáo phụ trách cơ sở vật chất của trường không thích lá bàng rụng, không thích màu sắc quá chói gắt của lá bàng trong mùa đông, không thích sự bay tung, sự sóng soãi, sự rực cháy của nó trên sân trường. Sân trường đầy lá rụng, trông chẳng giống sân trường một chút nào, trông cứ luộm thuộm như một công viên hay một góc rừng… Thầy muốn sân trường phải thật sạch sẽ thật nghiêm trang như một ông giáo mặc veston trong ngày khai giảng!

Cho học sinh tuốt sạch lá bàng! Không để cho cây bàng tự do sống đời sống của nó!
Không để cho tụi học trò ngớ ngẩn dạo qua dạo lại trong sân trường, nhặt mấy chiếc lá đỏ, lật đi lật lại trên tay mà ngắm nghía, mà xuýt xoa!
Không để cho cô giáo dạy văn đang giảng bài chợt sững người nhìn chiếc lá bàng vừa bay vào lớp. Rồi nhặt chiếc lá mà liên hệ với học trò về sự hữu hạn của mỗi đời sống trong vô hạn của thời gian. Sự cần thiết phải nỗ lực của mỗi con người, để có thể đi qua cuộc đời một cách lương thiện, đoàng hoàng, đẹp đẽ. Như chiếc lá bàng đã sống trọn đời với màu xanh trên cành làm nên bóng mát, rồi chọn một cái chết đẹp, với màu sắc rực lên, cháy đến tận cùng, dâng hiến đến tận cùng cho mùa đông, làm nên một đốm lửa ấm áp sưởi ấm không gian lạnh lẽo trước khi tan biến vào cát bụi đất đai!

Cô giáo dạy văn nhớ bài thơ Mùa lá rụng của Ôn ga Bec gôn với lời đề dẫn: Mùa thu ở Matxcơva người ta treo những tấm biển trên các đại lộ với dòng chữ: Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng… Và tiếc rằng, thầy giáo phụ trách cơ sở vật chất của trường, có thể không biết bài thơ đó. Không biết rằng ở nhiều nơi những chiếc lá vàng óng kia, đang được bảo vệ cẩn trọng như những báu vật.

Những đàn sếu bay qua. Sương mù và khói toả…
Matxcơva, lại đã thu rồi!
Bao khu vườn như lửa chói ngời
Vòm lá sẫm ánh vàng lên rực rỡ
Những tấm biển treo dọc theo đại lộ
Nhắc ai đi ngang dù đầy đủ lứa đôi
Nhắc cả những ai cô độc trên đời
“Tránh đừng động vào cây mùa lá rụng”



Bảo vệ từng chiếc lá cây trong mùa cây rụng lá, hoặc leo lên cây tuốt sạch hết lá vàng, hoặc bẻ đến kỳ hết những chùm trái bằng lăng khô khốc .. Đó không chỉ là những hành xử của con người với cây cỏ thiên nhiên. Đó còn là biểu hiện quan điểm của mỗi người về cái đẹp. Trong môi trường sư phạm, đó còn là quan điểm về vấn đề giáo dục cái chân, cái thiện, cái mỹ cho mỗi học sinh.

Nhưng làm sao có thể trách được người không biết. Mà vẻ đẹp kỳ diệu trong từng chiếc lá rụng, có phải ai cũng nhận biết hết cả đâu. Đâu phải ai cũng có thể tưởng tượng rằng ngày xưa, cái ngày xưa Thơ Mới đó, Xuân Diệu cũng đã từng choáng ngợp trước cây bàng lá đỏ mà viết:

Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh
Những luồng run rẩy rung rinh lá
Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh

Những cây bàng trong sân trường giờ đã trơ trụi lá, nhưng vẫn đẹp một vẻ rất riêng. Cành nhánh trên thân cây khẳng khiu trông như những cánh tay dang rộng, phả lên bầu trời cái màu khói sương bãng lãng.

Rồi ít lâu sau, bàng sẽ nhú lộc. Những mầm non đỏ tươi đậu chi chít trên cành như minh chứng cho sự trẻ trung, cho sức sống cuồn cuộn rạo rực chảy tuôn sau lớp vỏ dày nứt nẻ.
Rồi lá bàng sẽ to ra dựng đứng như tai thỏ.
Rồi lá bàng sẽ nhanh chóng lớn nữa, xoè rộng, tạo nên một vòm bình yên với tầng tầng lớp lớp lá non xanh như ngọc.
Rồi đến lúc tiếng ve báo hè vang dậy, dưới những tán lá bàng sẽ có những cô cậu học trò ngồi học bài.. Họ hái chiếc lá bàng ghi vài câu thơ vào đó, có khi tặng bạn, có khi ngần ngại ép vào cuốn sách mang về…
.


Xã hội càng hiện đại, những khoảnh khắc xúc cảm lãng mạn như vậy, phải chăng càng cần thiết? Phải chăng nhờ vào đó, bao tâm hồn của thế hệ trẻ sẽ có cơ hội cân bằng trước những xơ cứng của máy móc, của thao tác nhấp chuột tìm bạn bè, tìm trò chơi, tìm thông tin trên net?
Cũng như vò trong tay một lá cỏ hăng hắc, nghe bên tai lảnh lót một tiếng chim, phải chăng là một cách di dưỡng tinh thần, để con người chúng ta bớt cằn cỗi với café uống liền, trà xanh chai nhựa, nước trái cây đóng lon, cùng bao nhiêu sản phẩm đóng hộp khác, nhan nhãn trong xã hội hiện thời?

Vì vậy, hạnh phúc thay cho những ngôi trường có khuôn viên rộng, có nhiều cỏ cây, có bóng mát, mùi hương và tiếng chim. Để thiên nhiên, bậc thầy kỳ diệu, dạy cho những học sinh, những tâm hồn bé bỏng tình yêu cái đẹp, cái thiện…
Học sinh sẽ tự nhận biết trong mỗi cành cây ngọn cỏ, bài học về sự cho đi và nhận được, sự có mặt và khuất lấp, sự mạnh mẽ vươn dậy của những tạo vật mỏng manh.

Học sinh sẽ tự nhận biết thời gian đi qua, bốn mùa đi qua, không chỉ trên những tờ lịch, những con số đếm ngày đếm tháng vô hồn, mà còn trong sự luân chuyển đâm chồi, ra hoa, rụng lá của cây cối..

Yêu cái đẹp cái thiện học sinh sẽ biết hành xử hướng tới cái đẹp cái thiện. Nâng niu một chiếc lá, học sinh sẽ biết nâng niu một số phận, Ngắm nhìn một bông hoa, học sinh sẽ biết trân trọng, ngưỡng mộ một tài năng. Đứng trước một chùm quả, học sinh sẽ phải suy ngẫm về việc cần nghiêm túc, cần nỗ lực trong học tập, trong lao động để có được những thành công thực sự trong đời…

Yêu cây cỏ trong sân trường, học sinh sẽ còn thấy gắn bó hơn với thầy cô, bè bạn, những giờ học, giờ chơi, những hồn nhiên của lứa tuổi mình đang sung sướng được sống.
Và từ lòng yêu cây cỏ, gia đình, mái trường, thầy cô bè bạn, những học sinh, những công dân tương lai của đất nước, sẽ ý thức rõ hơn, nuôi dưỡng sâu xa hơn trong lòng họ tình yêu tổ quốc.
Để khi tổ quốc cần, họ biết nỗ lực bảo vệ hoặc dựng xây. Bởi vì, như nhà văn I li a Ê ren bua đã viết: Lòng yêu tổ quốc bắt đầu từ lòng yêu những vật tầm thường nhất, yêu cái cây trồng trước cửa nhà, yêu con đường nhỏ dẫn ra bờ sông, yêu mái nhà tranh, yêu đồng lúa chín…

Đinh Thị Như Thúy

Giáng Sinh ư ? Hãy đến một nơi xa lạ!

Tôi nhớ có người nói rằng: “Giáng Sinh luôn luôn là khoảnh khắc bạn cảm thấy nhớ nhà – kể cả khi bạn vẫn đang ở nhà” (*) Ấy vậy mà mười năm nay tôi đã phải đón Noel ở Sài Gòn, hỏi sao tôi không nhớ nhà cho được.

Tôi lớn lên giữa một xứ đạo. Và ký ức về Noel đầu tiên của tôi là năm bảy tuổi, khi tôi được chọn vào đội thiên thần múa bài “Cao cung lên” ở nhà thờ trong buổi lễ nửa đêm. Lần đó, tôi đã khóc đến sưng mắt để đòi ba phải cho tôi uốn tóc xoăn, và mẹ phải may cho tôi một cái áo đầm trắng. Phải vậy chứ, vì tất cả các thiên thần đều có mái tóc xoăn, mang áo trắng và đeo một đôi cánh cũng trắng tinh. Mất bao nhiêu nước mắt thuyết phục, đến khi ba mẹ tôi đồng ý thì hỡi ôi, tôi bị loại khỏi đội múa vì…tay chân cứng quá!

Để xoa dịu nỗi buồn của cô gái nhỏ, tất cả những người lớn trong gia đình đã làm tất cả để Giáng Sinh năm ấy trở thành một sự kiện tuyệt vời nhất trong đời tôi. Có lẽ vì vậy mà từ đó Giáng Sinh đã trở nên rất quan trọng với tôi! Cậu làm cho tôi một chiếc đèn ngôi sao thật lớn. Dì tôi làm bánh buche, mẹ ngâm dâu tây…Cả nhà cùng nhau thiết kế một hang đá khổng lồ với cây lồ ô, rơm và bao xi măng, dựng “cây thông” bằng cành dương đính bông gòn và kim tuyến, treo đèn rực rỡ hơn bất cứ nhà nào trong xóm. Chúng tôi ăn Réveillon với nồi cháo gà vàng ngậy, thơm phức của bà ngoại…

Nhưng điều đặc biệt nhất đối với tôi, đó là Ba Mẹ đã quyết định đưa tôi đi lễ nửa đêm ở một giáo xứ khác, để tôi không phải chạnh lòng khi thấy bạn bè múa “Cao cung lên” trong đôi cánh thiên thần. Đó là một giáo đường lạ, với những giáo dân tôi chưa từng gặp bao giờ. Nhưng chính khung cảnh náo nhiệt, ấm cúng, sự hồ hởi vui mừng của tất cả mọi người, bài thánh ca quen thuộc “Đêm thánh vô cùng, giây phút tưng bừng….” đã khiến tôi cảm thấy mọi thứ đều vô cùng thân thuộc.

Rất nhiều năm đón Noel ở Sài Gòn, nỗi nhớ quê nhà luôn tràn ngập trong tim, nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy cô đơn hay buồn chán. Bởi mỗi một đêm Giáng Sinh, tôi đều tìm đến một nơi hoàn toàn xa lạ, chưa đặt chân đến bao giờ. Có năm, tôi không đi lễ ở nhà thờ quen mà ghé thánh đường nhỏ tên là “Phanxicô khó khăn” trên đường Nguyễn Đình Chiểu. Có năm, tôi đi dự lễ hội hoá trang ở một trường Đại học với người bạn mới quen. Năm sau, tôi tham gia đội tình nguyện mặc áo ông già Noel đi phát quà cho trẻ em đường phố ở Tao Đàn. Một lần khác, tôi xin một chân bán hàng thời vụ tại một cửa hàng bán đồ trang trí cây thông trước cửa Nhà thờ Tân Định. Nhưng cũng có lúc, không có cuộc hẹn nào cho đêm Giáng Sinh, tôi đã một mình bước chân vào quán cà phê lạ, ngồi đối diện với cây nến nhỏ và lặng ngắm những cặp tình nhân…

Giáng Sinh, đó là một thời điểm đặc biệt, không chỉ về mặt tôn giáo. Nó là một trong những ngày lễ lớn nhất trong năm, có lẽ chỉ sau Tết Nguyên đán. Ngay từ đầu tháng mười hai, ông già Noel đã dạo những bước đầu tiên trên đường phố Sài Gòn. Các cửa hiệu đều trang trí chủ đạo ba màu trắng, xanh lá và đỏ sậm, những con phố chuyên bán cây thông và đồ trang trí bắt đầu nhộn nhịp. Các shop bán quần áo và đồ chơi trẻ em treo lủng lẳng những dây dài các bộ quần áo Noel đỏ rực. Các trung tâm thương mại lớn giăng đèn và dựng cây thông khổng lồ với tượng ông già Tuyết bên cỗ xe tuần lộc…Phố Sài Gòn nhộn nhịp đến từng nhịp chân đi…

Nhưng dưới mắt tôi, Giáng Sinh là thời điểm đặc biệt còn vì một lý do khác. Nếu như bạn ở xa nhà vào khoảnh khắc Giao thừa tết Nguyên đán, cảm giác lớn nhất có lẽ là nỗi cô đơn. Ngay cả khi bạn đang đứng giữa một buổi party đông đúc, một quán cà phê quen, những người bạn thân thiết. Khoảnh khắc Giao thừa luôn khiến bạn nhận ra một khoảng cách nhất định với những người khác và ngay lập tức bạn muốn trở về căn nhà ấm áp của mình bên những người ruột thịt. Đó là khoảnh khắc bất cứ ai cũng thấy lòng chùng xuống một cách vô thức, thu mình lại trong nỗi khát khao được trở về.

Giáng Sinh thì khác, một thời điểm không có lý do gì để buồn. Một niềm hân hoan rõ rệt in trên mỗi gương mặt dù lạ hay quen. Một không khí nhộn nhịp, ấm cúng, đầy chia sẻ và cởi mở hiện diện ở bất cứ đâu sẽ khiến bạn không cảm thấy e dè khi phải là người lạ. Đón Giao thừa ở nhà người khác thì thật vô duyên và lạc lõng, nhưng ăn Réveillon ở nhà bè bạn lại là những khoảnh khắc tuyệt vời.

Đối với tôi, Giáng Sinh luôn là thời điểm giúp tôi nhận ra những khía cạnh tốt đẹp ở người khác một cách dễ dàng nhất. Những con người này, tôi có thể đã gặp họ đâu đó trên đường, khi họ càu nhàu vì khói bụi, nhăn nhó và bẳn gắt vì những chuyện bực mình ở gia đình hay nơi công sở. Bình thường họ trưng ra những bộ mặt có thể đáng ghét biết bao nhiêu, nhưng vào đêm Noel, họ ăn mặc rất đẹp, họ cười nói một cách thoải mái và vui vẻ! Họ thân thiện và đáng yêu! Cũng như tôi, họ cảm thấy dễ chịu, bình an, trái tim mở rộng và sẵn sàng chia sẻ niềm vui.

Vì vậy, tôi gọi Giáng Sinh là thời điểm tốt nhất để bắt đầu một tình bạn! Hãy đến một nơi xa lạ vào đêm Giáng Sinh. Biết đâu bạn sẽ gặp tôi ở đó, với nụ cười trên môi, tôi sẽ chúc bạn câu này: “Cầu cho niềm vui của hôm nay luôn tràn đầy ân phúc, và mỗi con đường đều dẫn đến bình an.(**) Giáng Sinh vui vẻ !

Đông Vy

Chú thích:

* Carol Nelson

** Agnes M. Pharo

Nhầm Lẫn

“Không có người con gái xấu. Chỉ có người con gái không biết làm đẹp”

Thực tế không hòan tòan đúng với câu nói trên, hay chỉ có thể xem nó như một lời động viên, an ủi với những ai không có được một dung nhan tàm tạm vào hàng coi được. Có những người con gái không may, ngay khi lọt lòng mẹ đã phải chịu một sự bất công của tạo hóa. Xấu, xấu thê xấu thảm, xấu như một chiều tàn ảm đạm, xấu đến ma không buồn ngó, cú vọ chẳng buồn nhìn, với những nét xấu tận cùng, mà không có cách gì làm cho khá lên tí chút dược. Xấu đến tội nghiệp, xấu đến khó tin. Tôi là một người như thế.
Không biết xưa Chung vô Diệm xấu đến thế nào, mà đến nỗi mặc nhiên đi vào giai thọai như thế. Nếu ngày đó bà là người xấu nhất thế gian, thì đích thị ngày nay tôi là con cháu duy nhất của bà. Điều khó hiểu là nhà có bốn chị em gái, thi ba người kia lại rất đẹp, da trắng, mắt xinh, môi tròn, mũi thẳng. Nói chung là họ có một ngọai hình tương đối, đủ để giao thoa với cuộc đời. Riêng tôi, cứ như một chuyến đi buôn hết vốn, đành gom góp chút rơi rớt khi chợ tàn cho đỡ xót lòng túi rỗng, cứ như là một biểu vật mà ông trời trớ trêu nghịch ngợm ném xuống cõi trần trong một lần ác ý. Cái biểu vật ấy gần như hội đủ những gì có thể cho là xấu nhất thế gian với hình thể một con người.

Cằm vẹo, trán dô, miệng hô, mắt hí, da nhọ nồi, mặt đồi mồi khô ba nắng, thân hình gầy ngẵng, khẳng khiu, ốm nhõng. Như vẫn chưa đủ, một trận đậu mùa góp thêm vào khuôn mặt những nốt rỗ chằng rỗ chịt. Tóm lại, tôi là một thứ hình thù mà ai lỡ chạm mắt phải e đêm về ngủ phải giật mình đôi ba bận, là một mạ lỵ, hổ thẹn cho cả gia đình.

Lúc còn bé, chỉ được mặc quần áo thừa của chị, lủi thủi làm bạn với đất đá, họa hoằn lắm nhặt được dăm mẩu đồ chơi vứt đi đã là vui sướng. Thường xuyên dè dặt, tôi nép vào một góc xó nào đó mỗi khi mẹ đi chợ về, trong khi các chị em thì tíu tít bánh quà. Đôi mắt tôi thèm khát, nhưng đôi chân sợ sệt chẳng dám đến gần, e những lời quát nạt, mắng mỏ, sau cùng còn được chút sứt thẹo ném cho thì mừng rỡ, tôi vội vàng nhặt lấy, cũng chẳng hiếm khi bị bỏ quên.

Lớn dần lên, hiểu dần thêm, ý thức được sự khác biệt của thân phận, tôi càng rút mình vào lặng lẽ, chí ít thì cũng để tránh sự khó chịu cho người khác. Mỗi lúc có khách đến chơi nhà, nỗi lo lắng nhất của mẹ tôi là tôi vô tình hay cố ý xuất hiện trước mặt khách. Nếu lỡ ló mặt ra thì ngay lập tức nhận một cái lườm cháy da, đến tái người phải nhanh chóng vụt biến mất trong nỗi phập phồng một trận đòn lơ lửng. Những trận đòn đôi khi không có lý do, và không phải lúc nào cũng do lỗi của tôi.

– “ Kiếp trước tao đã làm gì nên tội, mà bây giờ bị trừng phạt bằng một con quỷ trong nhà thế này hả ? Ông trời ơi ! Ông nhầm lẫn thế nào mà lại bắt tôi sinh ra quỷ thế hở ông ? Nhục ơi là nhục, khốn nạn cho cái thân tôi”

– “ Thôi em, có thế nào nó cũng là con của mình, ông trời bắt tội nó thế nó đã khổ lắm rồi, em còn chì chiết nó mãi thế làm sao nó sống nổi”
– “ Không sống nổi thì chết đi, chết đi cho tôi nhờ. Cũng tại ông, ông làm chuyện thất đức với ai mà đem tội nợ về bắt tôi phải gánh đây hở ? Biết trước thế này tôi bóp mũi nó ngay lúc mới đẻ ra cho xong”
– “ Ăn nói kiểu gì vậy hả? Có im ngay đi không?”

Kết thúc cuộc cãi vã của bố mẹ là những giọt nước mắt lặng thầm của con bé trong một góc khuất. Rồi mặc nhiên tôi trở thành người giúp việc tận tụy trong gia đình. Mặc nhiên những công việc dơ bẩn, nặng nhọc, khó khổ trong nhà thuộc về tôi. Mặc nhiên tôi trở thành một cái bóng ma lầm lũi, không hay nói, chẳng thích cười, để có lần tôi nghe em gái mình nói vói bạn nó “Tao mà sốnng như chị ấy tao sống không được đâu, cứ giả câm giả điếc suốt ngày vậy đó”. Giả câm giả điếc để cầu hai chữ yên thân. Lần hồi cái sự cùng dòng máu cũng rơi vào quên lãng, lần hồi những người quen biết với gia đình cũng quen một cách nhìn “Ô sin còn khá hơn”. Chỉ có bố tôi là còn nhớ, và cái sự nhớ ấy cũng chỉ có thể biểu hiện một cách âm thầm, vụng trộm. Một cái áo mới, một cái kẹp tóc cũng gây sự bất bình cho ai đó.

Nếu như có thể có một lý do nào khả dĩ biện minh được thì có lẽ tôi cũng chẳng có đến cả niềm vui sách vở. Không chỉ là niềm vui, mà còn là một cứu cánh nữa, tôi âm thầm bấu víu vào nó, trong âm thầm khích lệ của bố tôi. Trong lớp cũng chẳng có ai muốn chơi với tôi, thậm chí ngồi cùng bàn cũng không thể, vì thế mà cái bàn cuối lớp, nghiễm nhiên dành cho mỗi một người. Thế giới sách vở là mối bận tâm duy nhất của tôi, tôi dành hết cả những thời gian, tâm sức mà mình có thể cho nó. Điểm số của tôi đã leo dần lên vị trí cao nhất lớp, nhưng điều này chỉ đem đến cho tôi những đố kỵ, ghen ghét. Không sao, tôi đã quá quen, và đã hiểu được những gì là cần thiết cho mình . Những tấm bằng khen, những gói phần thưởng là niềm vui của cả bố tôi, một chầu kem, một chén chè, một món ăn ngon ở một cửa hàng nào đó là tình yêu của bố dành cho tôi. Chỉ thế cũng là quá dủ cho nguồn động viên tinh thần, để khi đặt chân về tới nhà thì những niềm vui ấy lại được cất kín vào ngăn cặp, lại lầm lụi với bao công việc đang chờ.

Con người ta sinh ra là đã có sẵn một lập trình, một quy luật bất biến của thời gian, buồn vui, hay dở, đẹp xấu gì cũng phải tuân thủ theo sự chuyển động của chiếc kim đồng hồ. Tôi cũng như bao nhiêu người con gái khác, đến tuổi, đến thì cũng phát triển tâm sinh lý tự nhiên. Cũng ươm mầm bao ước vọng, cũng mỏi mong chuyện sớm chiều, cũng dạt dào cảm xúc. Tình cảm luôn là một nguồn lực dồi dào cho cuộc sống, nhất là tình cảm lứa đôi. Nó chi phối và tác động rất cụ thể đến mọi ngóc ngách của tư tưởng và hành động của con người. Người ta sẽ thấy yêu đời hơn, phấn chấn hơn, sống tốt hơn khi được sự đắp bồi trọn vẹn của nó. Ngược lại, sẽ dẫn con người ta đến sự đau buồn, tủi hổ, chán nản, bế tắc, tuyệt vọng. Tôi bị sinh ra trong một hình thể bất đắc, nhưng tâm hồn, tình cảm, mỹ cảm của tôi lại không phụ thuộc vào nó.

Con người không hề sai, và cũng không hề vô lý khi biết yêu và tôn vinh cái đẹp. Nếu không thế thì cuộc đời này sẽ hoang tàn, trơ trụi đến đâu. Vì thế, tôi đã quên mất mình khi hướng về một hình ảnh đẹp, một hình ảnh rất cụ thể, rất sinh động, rất hiện hữu bên tôi hàng ngày, vì hình ảnh ấy có chung với tôi một mái trường, chỉ cách mấy bức tường, thế nhưng lại quá xa xôi, xa đến hàng vạn dặm, xa đến ngút ngàn mưa nắng, thậm chí còn tỏ vẻ khó chịu, như bị xúc phạm và xấu hổ khi biết ánh mắt đầy yêu thương của tôi gửi đến. Tâm trạng không tốt, đương nhiên sinh thái độ không vui. Từ né tránh đến hằn học, từ lạnh nhạt đến ghê tởm, nhìn thấy tôi cứ như nhìn thấy một lọai khuẩn trùng truyền nhiễm tệ hại nào đấy. Những tiếng cười chế giễu, mỉa mai, châm chọc nổi lên quanh tôi. Tuy tôi đã quen với những đối xử khác biệt, nhưng trong trường hợp này thì sự tổn thương lên đến đỉnh điểm. Hơn lúc nào hết tôi thực sự đau đớn với nỗi bất hạnh của bản thân mình.

Một chiều, cả nhà đi vắng, một mình tôi trước một tấm gương lớn, tấm gương phản chiếu trung thực đến nỗi đưa tôi đến một quyết định. Thực ra, ý định đã từng manh nha trong tôi, nhưng nó vẫn chưa đủ cơ sở để dẫn đến hành động. Cú sốc tình cảm đầu đời đã trở thành một cú đẩy mạnh tay. Thế nhưng vận mạng tôi vẫn chưa cho phép tôi rời bỏ nó. Tỉnh dậy trong bệnh viện với gương mặt đầy lo âu và thương cảm của bố tôi, tôi hối hận vô vàn, khóc nức nở trong lòng bố. Bố ôm chặt tôi, vỗ về tôi, giọng nói êm đềm, nhẹ nhàng, thân thương:

– Con gái của bố. Bố biết con buồn và khổ tâm thế nào khi phải chịu sự bất công của tạo hóa và xã hội. Nhưng chạy trốn khỏi cuộc đời như thế này thì thật là hèn nhát. Ông trời luôn có một lý do để thảy xuống cõi nhân gian này một sinh linh, và con người không có quyền chối bỏ lý do đó. Con yêu, có thể trước mắt con đang là một đám mây mù tăm tối, nhưng con hãy cố xông vào nó mà tìm ra một điểm sáng hãy dũng cảm chặt cây phát cỏ để tìm lấy lối cho mình. Không phải ai sinh ra cũng có thể được hưởng sự ưu đãi, con dù xấu xí ngọai hình, nhưng con có một tâm hồn đẹp đẽ, con hãy tin rằng trong cõi đời hỗn tạp này, sẽ có một cái gì đó dành cho con thực sự giá trị, thực sự xứng đáng. Vấn đề là không phải con ngồi chờ nó đến, mà con phải đi tìm, phải đi cho trọn một chữ “ NGƯỜI “ con ạ. Con hiểu không?

Con hiểu. Con đã rất hiểu rồi bố ạ. Con càng hiểu hơn khi bước vào sự chín chắn của tuổi trưởng thành. Mẹ con có thể không thương yêu con. Chị em con có thể không thích con. Bạn bè con có thể xa lánh con, người con yêu có thể không chấp nhận con, vì con có thể là sự tổn thương cho niềm kiêu hãnh nào đó, là một vết đau cho sự ám ảnh mơ hồ nào đó, không ai có lỗi khi khước từ cái xấu. Cuộc đời luôn hướng đến sự hoàn mỹ, con người hòan tòan tự do trong tình cảm của mình, thứ tình cảm thật tự nhiên giữa bao lung linh, lấp lánh của cuộc đời. Mọi xử sự có thể là quá đáng, nhưng thật sự cần thiết, cho con và cho cả mọi người. Bởi không thế, con sẽ chìm đắm trong mê muội, trong ảo tưởng, trong một thế giới không phải là của mình Như thế thì sẽ tệ hại biết bao, vì không những con khổ sở cái thân con, mà còn gây bao phiền tóai cho nhiều người nữa. Bố nói đúng, tất cả có thể khước từ con, nhưng con thì không thể khước từ chính mình. Cho dù, cách lý giải bằng hai chữ “Ông trời”chỉ mang tính trừu tượng, nhưng đã sinh ra trong một phận người, thì hãy đi cho hết con đường của nó, dù con đường ấy có gập ghềnh, khúc khỷu đến thế nào.

Không thay đổi được mọi người thì phải tự thay đổi mình. Nều không tìm cho mình một con đường khác, một cách thức khác, thì sẽ không có gì bảo đảm rằng tôi sẽ không làm điều cùng quẫn lần thứ hai. Âm thầm vạch ra cho mình một kế họach, âm thầm một sự chuẩn bị, để rồi một đêm, sau khi để lại cho bố mẹ một lời tạ tội, tôi lặng lẽ rời khỏi nhà khi mọi người đang say giấc. Tôi ngoan ngõan theo bước chân định mệnh khi bước đại lên một chuyến xe khách ngọai tỉnh.

Chuyến xe đã đem tôi đến một nơi cách xa hơn ngàn cây số. Một khỏang cách đủ để an tòan thóat khỏi cuộc truy tìm, nếu có. Thật lạ, đứng ở một nơi hòan tòan xa lạ, chung quanh không có lấy một bóng người quen, người thân, tôi lại có cảm giác thật nhẹ nhõm, cảm giác như được thóat khỏi một sợi dây thừng đã siết chặt tôi trong suốt bao nhiêu năm, thóat khỏi sự khống chế, lệ thuộc, đồng thời mang đến cho tôi chút gì mới mẻ, cả một chút hy vọng, đương nhiên rồ .

Vấn đề đầu tiên phải nghĩ đến và bắt tay ngay vào là tìm một việc làm, cũng là kế sinh nhai cho những tháng ngày sắp tới, khi chút lưng vốn ít ỏi của tôi chỉ có thể kiệm tặn trong một thời gian ngắn. Đây là một sự khó khăn và cũng đầy gian truân đầu tiên mà tôi phải đối mặt. Liên tục những cái lắc đầu, cho dù là với những lọai hình công việc thấp kém nhất là làm người giúp việc gia đình, hoặc thu rửa chén dĩa trong một quán ăn. Nguyên nhân thì đã rõ, cùng với những bước chân rã rời sau mỗi ngày và ổ bánh mì không bên ly nước lọc, là cảm giác tận cùng thấm thía nỗi bất hạnh của mình, nhưng tôi vẫn cố, vẫn tiếp tục hy vọng.

Cho đến một ngày, lưng túi hết nhẵn, và chủ trọ cũng không còn đủ kiên nhẫn thì tôi ra đường với một bộ quần áo trên người. Màn đêm buông xuống , tôi vẫn thẫn thờ trên hè phố nườm nượp người xe qua lại dưới những ánh đèn. Tôi thầm kêu lên “Bố ơi ! Liệu con có còn đủ sức để tìm cho minh được một cái gì không ? Khi cuộc đời này cứ mãi khước từ con. Con sẽ phải làm sao đây ? Sẽ tồn tại thế nào đây ? Khi trước mắt con vẫn chỉ là một tấm màn đen u ám, con đã cố để không tuyệt vọng, đã cố để không phụ tình thương và lời răn dạy của bố, nhưng trong lúc này, con không còn chút gì để bám víu. Đêm nay con là một kẻ vất vưởng bị đời bỏ quên, không có nơi đến, không có chốn về, liệu con có còn ngày gặp bố nữa không hở bố ơi ? “ Tâm trạng đầy tuyệt vọng, tủi thân và đau đớn, tôi bỗng muốn lao mình ra giữa đường trước một cái xe nào đó, thế là xong, những người xa lạ này chẳng biết tôi là ai, lòng nhân đạo của họ đủ cho tôi một nấm đất hoang lạnh đâu đó. Tôi sẽ tan vào cát bụi, sẽ hư vô không còn biết đau thương là gì. Có lẽ đó là cách tốt nhất. Nước mắt tôi cứ trào ra không ngớt. Ông trời ơi ! Sao ông lại muốn có mặt tôi trên cõi đời này chứ, một nơi không hề muốn tiếp nhận tôi, ông muốn thử nghiệm điều gì đây ? Hay kiếp trước tôi đã phạm phải quá nhiều tội lỗi, để kiếp này phải chịu sự trừng phạt ? Tôi vốn không tin vào chuyện có kiếp trước kiếp sau của người đời, chẳng qua đó chỉ là một cách lý giải cho một sự việc nào đó mà người ta không thể tìm ra những lý lẽ thuyết phục nhất đó thôi. Tôi đã cố thực hiện câu “tốt gỗ hơn tốt nước sơn” hoặc “gương mặt đẹp chỉ là một thời đọan, tâm hồn đẹp mới là mãi mãi” vv…Đại lọai là những thể nghiệm của sự mất này thì lại được kia. Nhưng khốn nỗi, người đời đâu có cho tôi cơ hội, họ chỉ nhìn thấy ngay cái xấu trước mắt, đã xua đuổi tôi đi rồi, làm sao họ đủ thời gian để tôi chứng minh rằng, tôi tuy xấu xí con người, nhưng tôi có một nhân cách hòan chỉnh. Tôi luôn sống vì người khác, tôi không bao giờ nghĩ đến chuyện hại ai, cũng không bao giờ mưu lợi bất chính của bất kỳ ai, không điêu ngoa, không giả trá, không lọc lừa, không đen bạc. Nhưng không một ai nhìn thấy những điều đó cả, trong khi họ phải mất rất nhiều thứ đáng tiếc cho một gương mặt đẹp nào đó. Còn tôi, chẳng may trong một bộ dạng khó coi , thì coi như vứt đi tất cả. Tôi không có quyền óan trách cuộc đời, cũng chẳng óan trách số mệnh, tôi mặc nhận tất cả những gì thuộc về tôi, nhưng xin hãy cho tôi một con đường sống chứ. Cho dù ai rồi cũng đến lúc phải chết, nhưng ít ra không phải là cái chết tự chọn, vì nếu thế thì bố tôi sẽ đau lòng lắm lắm.

Bất chợt một tiếng thét dứt tôi ra khỏi tâm trạng, một chị công nhân vệ sinh đường phố ngã lăn ra đường khi một chiếc xe máy thản nhiên rú ga vọt vào đám đông mất hút. Tôi chạy vội ra đỡ chị dậy. Cũng may là chị không bị thương tích gì nặng ngòai một mảng da trầy trụa và tay áo rách bươm. Tôi lấy chai nước chị đeo bên thành xe, đổ ra rửa sơ vết thương cho chị. Những lời thăm hỏi, và sự trợ giúp của tôi khiến chị tỏ ra rất thân tình, cởi mở. Một phần có lẽ trong ánh sáng nhập nhọang, chị không nhìn rõ mặt tôi, nhưng dẫu sao lòng tôi đã lại dậy lên một niềm vui. Thấy chị nhăn mặt vì đau khi cầm cái chổi để tiếp tục công việc của mình, tôi đề nghị được làm hộ chị. Chị nhìn tôi rất ngạc nhiên, nhưng cái gật đầu của tôi đã khiến chị vừa cảm ơn vừa tháo cái khẩu trang đưa cho tôi đeo. Miệng đeo khẩu trang, tay cầm cái chổi, tôi một thóang sững người “Nó đây rồi”. Việc đời vốn thế , khi ta cố công cố sức đi tìm thì chẳng thấy, rồi bỗng nhiên nó xuất hiện và cứ như ấn vào tay ta vậy. Kể ra cũng hơi một chút cay đắng, nhưng tôi nhận ngay ra ý nghĩ sai lầm của mình. “Không có công việc xấu, chỉ có hành vi tồi”.

Đi vào công việc này ít lâu, tôi ngộ ra vẻ đẹp tiềm ẩn trong lọai hình công việc mà phần lớn người đời chê khinh này. Mỗi khi nhìn đường phố sạch bong, sáng sủa dưới những nhát chổi của mình, tôi nghe lâng lâng một niềm cảm xúc, ngầm tự hào là mình cũng đã góp vào cuộc sống chung này một chút gì đẹp đẽ. Mặc dù hàng ngày, hàng vạn hàng vạn người đi qua, chẳng ai bận tâm chú ý đến, có chăng là họ chỉ tỏ ra khó chịu trước một đống rác bẩn chưa kịp dọn đi, gây trở ngại cho giao thông và nhăn mũi vì thứ mùi khó chịu.

Công việc đem lại cho tôi một đời sống tương đối ổn, mức lương tương đối cùng tiền phụ cấp và bồi dưỡng độc hại cũng tạm gọi là dư dả với tôi. Sau mấy năm dành dụm, tôi mua được một nếp nhà, chưa đầy 10m vuông và lụp xụp tôn ván thôi, nhưng tôi sung sướng lắm, vì nó là của mình, do chính tay mình làm ra, là một khỏang tự do riêng biệt, không phải e dè, ngần ngại, không phải o ép, bức bối như khi đi ở nhà thuê nữa. Những gì thuộc về mình, thì có nhỏ bé, xấu xí đến thế nào thì cũng thực sự là giá trị đối với mình. Tôi nghiệm ra thế, lòng tin lại được tăng thêm nhờ sự kiện này, một cái gì đó manh nha, mơ hồ thôi, tôi không cảm nhận rõ rệt được, nhưng hình như có cái gì đó đang mở ra với tôi.

Lúc rảnh rỗi, tôi thường đọc sách xem báo, một thú vui không thay đổi từ ngày còn đi học. Đôi khi buồn buồn, tôi nguệch ngọac vài nét vẽ, những nét vẽ vô tình đầy ngẫu hứng. Bỗng một ngày, tôi chợt nhận ra, hình như mình có khả năng vẽ. Phát hiện này khiến tôi rất vui. Bắt đầu là tranh minh họa gửi cho các báo, những phản hồi tích cực dã tăng thêm niềm phấn khích và sự say mê trong tôi. Dần dần là những bức tranh . “Tác phẩm là sự gửi gắm khát vọng của người nghệ sĩ” đúng vậy, nỗi khát khao lớn nhất của tôi là được trở thành một cô gái đẹp, điều mà không bao giờ có thể thành hiện thực. Nên tôi vẽ nỗi khao khát của mình, những cô gái trong tranh của tôi rất đẹp, chí ít là với cảm nhận của tôi. Họ xuất hiện trong mọi thứ trang phục, sắc tộc, kiểu dáng. Đánh bạo thử dư luận xã hội, tôi mang một ít gửi bán ở một cửa hàng mỹ nghệ, trong tư cách là người giúp việc cho tác giả. Những bức tranh đã mang đến cơ hội cho tôi.

Chủ cửa hàng chuyển thái độ thờ ơ miễn cưỡng sang hối thúc đón đợi rất nhanh. Có những lúc tôi thẫn thờ, mất cả cảm giác vì không tin sự thật đang đến với mình. Chưa thể gọi là thành công, nhưng đã có thể cho là một chút kết quả. Phải chăng cái lý do của ông trời là đây ? Tôi không muốn biện giải theo cách ấy, đó chỉ là một cái phao cần thiết trong lúc con người chênh chao mà thôi. Chỉ biết, tôi cũng đôi chút hài lòng với những gì mình đã đạt được.

Thế rồi xuất hiện những bài báo xôn xao tên tuổi của một họa sĩ. Căn cứ vào bút hiệu và tính đặc trưng của những bức tranh là những cô gái, người ta cho rằng họa sĩ phải là một nam nhân. Tôi bật cười khi đọc được những lời bình luận ấy. Cũng tốt thôi, tôi chẳng cần người ta phải biết đến tôi, vì sẽ có thể làm mất đi chút cảm tình mến mộ ấy, tôi chỉ cần người ta chấp nhận tác phẩm của tôi, thế cũng là quá đủ cho một niềm mong ước rồi.

Tôi chợt nghĩ nếu bố tôi biết được bây giờ tôi đang sống thế nào, chắc ông vui lắm. Trong dạt dào cảm xúc, tôi bật khóc khi thốt tiếng gọi “Bố ơi !” Đã bấy nhiêu năm rồi, chắc bố vẫn luôn khắc khỏai về con, và hẳn bố cũng tin rằng con đã tìm được một lối đi thích hợp cho mình, phải không bố ? Con sẽ về thăm bố, con sẽ về thăm cả nhà, nhưng chưa phải lúc này, bố ạ. Bố hãy cho con thêm ít thời gian nữa bố nhé. Tôi hình dung đến một cuộc diện, không biết tất cả sẽ như thế nào sau một thời gian cách xa lâu thế. Có lẽ mọi sự cũng đã khác đi, bởi cuộc sống luôn là những chuyển dịch không ngừng, thời gian chuyển dịch, hòan cảnh chuyển dịch, thì tâm tư con người cũng vô hình chung mà chuyển dịch theo.

Tôi giận đến run người khi người chủ cửa hàng mỹ nghệ gọi điện bảo tác giả ra gấp vì có sự kiện cáo bản quyền, một số tranh của tôi bị cho là sao chép. Hừ, ai mà ngang ngược thế, cho dù ý tưởng có trùng nhau thì cách thể hiện cũng khác nhau chứ. Xưa nay tôi chết thì chịu chứ không thèm làm cái trò đốn mạt ấy đâu. Trong trạng thái phừng phừng lửa giận, tôi đi ngay không kịp chuẩn bị gì thêm. Trong trí óc chỉ chăm chăm những lập luận để bảo vệ danh dự mình. Đến cửa hàng, thì người chủ đã đợi sẵn, anh ta chỉ vào cái xe con đang đậu, bảo tôi “Chị lên xe đi, đang ầm ĩ ngòai Nhà văn hóa đấy”. “Sao lại ở Nhà văn hóa ?” Câu trả lời là cái đẩy để tôi tọt vào trong xe nhanh hơn, và anh ta thì nhanh nhẹn lên cái ghế bên cạnh tài xế ngồi. Dọc đường tôi hỏi han anh ta vài câu, thì chỉ nhận được câu trả lời lấp lửng “Chị cứ ra đấy rồi sẽ biết”. Tôi cũng không hỏi gì thêm, chỉ mong cho mau đến nơi.

Chiếc xe lướt êm vào trong sân rồi dừng lại trước thềm nhà. Bên trong đúng là có những tiếng nói lao xao, thế này thì đúng là có chuyện thật rồi. Tôi mở cửa xe, đi nhanh lên những bậc thềm. Bỗng tôi đứng sững, trước mắt tôi là những bức tranh của tôi treo gần kín hết bốn bức tường. À, thì ra có người đem tranh của tôi ra triển lãm nhưng lại nhận là tranh của họ chứ gì. Tôi hướng về phía bục phát biểu, thì chợt nghe :

– Xin trân trọng giới thiệu cùng quý quan khách : nữ họa sĩ Ai Nhân đang hiện diện trước mắt quý vị đây ạ.

Tôi hốt hỏang khi những ống kính phóng viên chĩa vào, những ánh đèn flat nháy liên tục. Phản xạ tự nhiên tôi vụt ôm mặt quay người bỏ chạy. Bất ngờ tôi va phải một người, không phải là một cái va bình thường, mà gần như tôi ụp hẳn vào ngực người ấy, một vòng tay quành ngang người tôi, tôi hốt hỏang xô ra và ngước lên :

– Bố !

Một lần nữa tôi đứng chết sững, bất ngờ đến đứng tim, nghẹn cứng cổ. Bố tôi ôm lấy tôi, vỗ nhẹ vào lưng mấy cái rồi né người qua một bên :

– Con xem, ai kia ?
– Mẹ !

Mẹ tôi trong chiếc áo dài nhung, dang rộng đôi tay, tôi vô thức ào vào vòng tay mẹ, bàng hòang như đang một giấc mơ. Mẹ tôi nghèn nghẹn :

– Con ! Con gái của mẹ.

Tiếng gọi thân thương cùng đôi tay ôm chặt lấy tôi, tôi bật khóc, khóc như mưa như gió, khóc như chưa bao giờ khóc. Mà cũng đã lâu lắm rồi tôi mới lại khóc. Mỗi lúc có điều gì thương tâm, tôi lại tự nhắc nhở mình : Không được khóc, khóc chẳng giải quyết được gì, chỉ làm con người ta thêm hèn yếu đi thôi. Vậy mà bây giờ tôi đang khóc, nhưng không phải là những giọt nước mắt khổ đau. Mãi một lúc sau cả hai mẹ con mới trấn tĩnh lại được, nhiều người đang đứng quanh chúng tôi, tôi nhìn thấy cả hai chị tôi. Ba chị em ôm chầm lấy nhau. Một cuộc đòan viên mà tôi không bao giờ tưởng tượng ra được. Tôi nghe người chủ cửa hàng đang nói :

– Thực ra tôi biết chính chị ấy là tác giả lâu rồi, đến lúc bác tìm đến hỏi thì lại càng chắc hơn.

Tôi đưa đôi mắt đỏ mọng nhìn bố trong cái nhìn đầy thắc mắc. Bố tôi cười cầm lấy tay tôi và nói :

– Bố tự hào về con, con gái ạ.

Chúng tôi phải tạm rời niềm vui đòan tụ, vì những phóng viên đang chờ đợi tôi. Tôi phải trả lời họ một chút về quá trình. Sau đó, bố tôi gọi điện đến một nhà hàng, đặt một số món ăn và nói địa chỉ để họ mang đến. Tôi kinh ngạc vô cùng khi bố đọc đúng địa chỉ nhà tôi. Ngôi nhà lụp xụp tôn ván khi xưa đã kịp khang trang tươm tất trong năm trước. Hóa ra bố đã biết khá nhiều về tôi, nhưng từ bao giờ ? Sao đến bây giờ mới… ? Bố tôi vẫn mỉm cười bí ẩn trước ánh nhìn của tôi. Nhưng ông chưa có thời gian để giải đáp cho tôi, vì mẹ tôi và hai chị tôi đang thay nhau hỏi chuyện suốt dọc đường về. Đến nhà, bố tôi bảo :

– Vợ chồng Khánh nó đến sau, bố chỉ chỗ cho nó rồi.

Khánh là em gái tôi, thì ra đã có chồng, ừ mà cũng bao năm rồi còn gì. Nhưng con số thời gian lúc này đã trở nên vô nghĩa, khi cảnh cuộc đời người chỉ như hôm qua và hôm nay. Bây giờ thì tôi mới rõ ngọn ngành. Đúng là khi tôi mới đi khỏi nhà thì chẳng ai đóan được là tôi sẽ đi đâu cả. Cũng đi tìm hỏi một số nơi nhưng không có kết quả gì. Cả một thời gian dài, bố khắc khỏai về tôi. Mẹ tôi và các chị em tôi cũng trăn trở, lo lắng. Cuối cùng thì mọi người chỉ biết cầu mong cho tôi gặp được những điều may mắn.

Tuy không có chút tin tức nào về tôi, nhưng bố tôi vẫn tin rằng tôi sẽ đứng vững trước những thử thách của cuộc đời, và ông cũng tin sẽ có một ngày gặp lại. Bố tôi cũng là một người thích xem tranh, khi dòng tranh của tôi xuất hiện, những bức tranh mang dáng nét mẹ tôi và các chị em tôi, thì ông linh cảm tác giả chính là tôi. Thế là ông âm thầm cất công tìm hiểu, cuối cùng thì ông đã lần ra chỗ tôi ở, nhưng thấy chưa phải là lúc để đưa tôi về lại gia đình. Ông yên tâm theo dõi cuộc sống của tôi, nhưng vẫn không cho cả nhà biết. Khi chọn được thời điểm thích hợp, ông đã bắt tay vào một việc, cũng là dịp tốt nhất cho gia đình vui niềm vui sum họp. Tôi chợt hòai nghi một điều, nhưng bố tôi hiểu ngay, ông khẽ lắc đầu :

– Không đâu, bố không mua tranh của con, trong số tranh triển lãm ấy có rất nhiều bức bố phải tìm mượn của người mua đấy. Thành công của con là có thật, bố chỉ làm giúp con cái điều mà con không dám làm thôi

Tôi ngượng ngùng, đúng là chẳng bao giờ tôi có ý định chường mặt ra công chúng cả, tôi sẽ chỉ mãi âm thầm với những gì mình có thể thôi. Bây giờ thì khắp nơi đã thấy mặt tôi rồi, bỗng nhiên tôi như cởi thóat được khỏi mình một sự gông xiềng nào đó. Nỗi tự ti trong tôi đã tan biến, tôi cảm giác từ mai tôi bước đi bằng những bước chân đĩnh đạc, đàng hòang, cho dù đúng là tôi vẫn xấu thế thôi, nhưng tôi đã sống được đúng nghĩa một con người, thì việc gì tôi phải xấu hổ chứ. Tôi nhìn bố bằng tia mắt biết ơn. Bố ơi ! Bô có biết rằng chính bố đã cho con một điều quý giá như thế nào không ? Bố mẹ không những sinh ra thân xác con, mà còn sinh ra cho con cả một chữ NGƯỜI đích thực nữa. Tôi còn đang ngồn ngộn cảm xúc trong mình, thì ngòai cửa nhân viên nhà hàng đưa thức ăn đến. Chúng tôi sắp dọn ra vừa xong thì có tiếng gọi :

– Họa sĩ Ai Nhân ơi !
– Vợ chồng con Khánh đến rồi đấy.

Tôi bước vội ra cửa, lại thêm một lần nữa sững sờ, lần này không chỉ có tôi mà còn một người nữa. Sao lại có sự ngẫu nhiên đến khó tin vậy chứ ? Không lẽ trái đất này quá chật vậy sao ? Em rể tôi, cũng chính là nỗi đau đầu đời của tôi ngày nào Em gái tôi vui mừng ôm lấy tôi nên không nhận ra thái độ của hai người. Nhưng tôi định thần lại nhanh, vừa ôm em gái vừa gật đầu cười nói :

– Mời hai em vào nhà.

Cậu em rể cũng sực tỉnh, mỉm cười rồi xách cái va li theo vào. Khi cả nhà đã ngồi vào bàn, bố tôi cười :

– Sâm banh chứ hả ?

Những tiếng vỗ tay, những tiếng cười hoan hỉ ran theo tiếng bọt phụt tung lên từ chai rượu. Tôi cầm ly giơ lên cụng mà nghe mắt mình nóng ran, giàn giụa. Khổ, bỗng nhiên mà sinh ra cái chứng hay khóc thế không biết.

Đàm Lan

Chợ chữ

Tôi bước vào cổng một khu chợ, trong một tâm thức nửa như mê ngủ, nửa như khật khưỡng hơi men. Một khu chợ có vẻ như tự phát, có vẻ như đã mọc ra từ rất lâu rất lâu. Những thứ hàng quán trong chợ cũng la liệt những hình thù, màu sắc, vóc dáng. Người đi chợ cũng đủ loại trang phục, thần thái, phong cách. Tôi mặc thả những bước chân lơ đễnh của một kẻ nhàn du. Tôi chưa biết mình có chọn mua được một vài thứ hàng hoá đang bày bán nơi đây không ? Những thứ hàng hoá mà tôi chưa thấy ở bất kỳ một khu chợ nào. Tôi mang máng, hình như lúc bước chân vào đây tôi có đi qua một cánh cổng, và bên trên nó có một tấm bảng, à phải rồi, tấm bảng có một kiểu vẽ ngoằn ngoèo như thư pháp “Chợ Chữ”.

Đúng chính xác là khu chợ này bán những con chữ. Những con chữ ở đây cũng đủ các loại thượng vàng hạ cám. Có những con chữ lổng chổng, chỏng chơ như những đòn tre, quang gánh, có những con chữ lổn nhổn, lạo xạo như một mớ hàng son đại hạ giá, cũng có những con chữ được công phu tỉa tót, tạo dáng như một cây bon sai hay một thứ đồ mỹ nghệ. Một số con chữ khác thì thong dong ve vẩy như đôi tà áo nõn. Một số ít thì được trưng bày trang trọng trong chiếc tủ kính có gắn những bóng đèn màu nhỏ tí. Lại có những con chữ phất pha phất phơ như những dải lụa liêu xiêu trong gió chiều. Chân tôi bỗng vấp, nhìn xuống, một thứ chữ như những miểng sành, mẩu gốm ai đó làm văng ra, cúi xuống, tôi cẩn thận nhặt nó bỏ vào một chỗ, cẩn thận vì sợ những góc nhọn, mép ranh sắc lẻm của nó cà khịa đứt tay. Những con chữ ấy tuy đã được bỏ gọn vào, xong nó vẫn như cố tình giơ ra cái vẻ ngang ngạnh, sù sì, bất quy tắc của mình. Tôi mỉm cười, bỗng muốn vuốt chúng như vuốt má trẻ con, nhưng vội rụt tay lại.

Người người đi, người mua và người bán cứ lẫn vào nhau, chẳng còn phân biệt ai là người bán. Đã vào khu chợ này hầu như không ai ra về tay không. Ai ai cũng nhặt cho mình một số con chữ, dép lê, giày bóng, mũ phớt, nón vải, chị quàng tay nải, em gái tung tăng, có người chẳng nói chẳng rằng cứ vục tay mà vốc.Ai cũng ôm một mớ, vác một bao, ít lắm thì cũng lào phào dăm ba chiếc. Hình như đây là một mặt hàng ít vốn nhiều lời hay sao mà người ta đổ xô vào lắm thế. Tôi cũng thử nhặt một mớ xem. Mải mê chọn lựa, mải mê nhặt nhạnh, chẳng lâu la gì tôi đã nặng oằn cả vai. À, thì ra cái thứ hàng hoá này nó có sức mê hoặc khủng khiếp thật. Cứ rờ tay vào nó là không dứt ra được, mỗi thứ đều như có ma lực riêng, nhặt…nhặt…càng nhặt càng thấy còn ít quá, tôi cũng đâm xổ vào như những người vào chợ trước, cũng tay lựa mắt chọn, riết rồi cái nào cũng muốn lấy tất, tôi mất hẳn cái vẻ lơ đãng nhàn du lúc ban đầu, cũng hăm hở tranh giành suýt cả cãi vã. Có một điều thật kỳ lạ, hệt như nồi cơm Thạch Sanh, những con chữ cứ tự đầy vun lên mỗi khi được nhặt vợi đi, và tôi cứ thế mà mải miết. Rồi bỗng nhìn quanh mình, chao ơi, cái đống hàng hoá của tôi sao mà lỉnh kỉnh, ngồn ngộn thế này. Chúng chồng chất lên nhau, chen chúc vào nhau, chắc tôi phải kêu hẳn một chiếc xe tải cỡ lớn nhất mới chuyển về hết được quá. Người tôi bỗng mỏi rũ ra, thì lăn lê không biết tự bao giờ đến giờ rồi mà, miệng bỗng khô khốc, mắt bỗng hoa lên. Không biết có phải vì hoa mắt mà choáng, mà bảy vía bay đi, ba hồn ở lại, mà tôi bỗng dưng như mất hết trọng lượng, bỗng dưng như một phi hành gia trên vũ trụ, lơ lửng, nhẹ bẫng, và tôi chợt thấy…

Một luồng sáng hắt ngược lên từ cuối chợ, luống sáng ấy như một miền cổ tích diệu kỳ, bỗng chốc làm những con chữ sáng hẳn lên, chữ nào cũng lấp lánh ánh lân tinh, cũng lấp lánh như những vảy cá được chiếu sáng dưới ánh mặt trời, toé ra ngàn vạn đốm sao, và rồi, bỗng một cơn gió thốc ào đến, những con chữ bốc lên không trung, hoà vào nhau trong một vũ điệu lạ thường, chúng đan toả vào nhau, tững chữ tững chữ như mọc thêm đôi cánh nhỏ xinh của những chú bướm vàng xanh đầu hạ, lao xuống, xiên lên, lượn vòng, xẻ ngang, trích dọc, nhưng không hề va vào nhau, cứ như chúng có một cặp mắt tinh tường nhạy bén đến mức tuyệt đẳng vậy. Tôi như ngợp trong một không gian kỳ ảo, gió, nắng, những đôi cánh, những vũ điệu, và dường như tôi cũng đang hoà vào chúng, bay lượn cùng chúng một cách ngoạn mục. Bên tai tôi như vẳng lên một thứ hợp âm réo rắt trầm bổng, tôi nhắm mắt, nghe mình xoay tròn…xoay tròn…Bỗng một cái chích nhói bên mình, tôi vừa kịp nhìn thấy một góc nhọn của con chữ miểng sành hoắt lên, thì tôi bỗng chới với, rơi…rơi…và “bịch” một phát đau điếng…

Cánh cửa sổ đập phầm phầm, những ngọn gió ào ạt của một trận giông báo trước đang lật tung những trang sách tôi để trên bàn. Tôi vẫn còn ngây ngây giữa mơ mơ thực thực…thì ra những con chữ…

ĐÀM LAN

Con trai của rừng Xa Nu

Con đường năm cây số từ trung tâm xã về làng Kon Riêng lúc chạy vòng theo ven hồ Đac Noa, khi lại men theo những thuở ruộng lúa nước, có chỗ lại luồn dưới bóng xanh mát của rừng xà nu. Nắng trải chiếc chiếu vàng lên mặt hồ, mặt ruộng lung linh, nhưng chỉ lọt thành những tia sáng xanh trong đám lá xà nu dày đặc. Dưới tán rừng tiếng ong bay vi vu hoà trong lời xạc xào của gió, lẫn với tiếng suối róc rách chảy. Thứ hương lá, hương nhựa, hương hoa đặc biệt của xanu nhè nhẹ lan trong không gian. Cũng lạ cho cây xanu, chỉ mọc ở những triền núi dốc đứng cằn cỗi, có khí hậu khắc nghiệt, nhưng rễ cắm sâu vào lòng đất, san sát bên nhau thân nào cũng vươn thắng, lá biếc đến tưởng như không còn cách gì xanh hơn được nữa.

Y Sao từ uỷ ban xã về, nét mặt tươi rói, bước chân đi như chạy. Mọi ngày đi dạy về cô còn lang thang chán, hết ngắt những ôm cúc dại mọc đầy ven đường, lại ngồi hàng giờ trên hòn đá hình đầu cá giữa suối, dầm chân trong nước mát mà lẩm nhẩm hát “Chim Jil tắm bên sông DakBla…” Nhưng hôm nay Y Sao muốn đi cho nhanh về đưa thư cho A Siêng. Thư của A Manh bạn anh ấy gửi từ Buôn Ma Thuột. Trong những đêm ngồi trong bếp lửa, A Siêng thường kể cho anh chị, các cháu và bạn bè nghe những chuyện hồi học trường nội trú dân tộc, trường đại học Tây Nguyên, về những người bạn cùng học ở Dak Lak. Trong đó có A Manh. Với những người chưa bao giờ đi xa như ở làng Kon Riêng này, những chuyện A Siêng kể thật hấp dẫn. Còn Y Sao biết những đêm kể chuyện như thế, A Siêng thường mất ngủ. Ký ức với anh bây giờ sao mà xa vời vợi…Không biết A Manh nói gì, nhưng có thư chắc là A Siêng vui lắm. Anh ít khi nhận được thư từ của ai, kể từ vài năm về đây ở với anh chị. Từ lúc nào không biết, Y Sao đã vui với cái vui của A Siêng, hiểu nỗi buồn của A Siêng thế nhỉ? Cô gọi to ngay từ chỗ cây xoài quẹo vô sân:

– A Siêng! A Siêng à! Có thư của anh A Manh này.

A Siêng quýnh cả hai chân, nhảy bổ từ trong nhà ra , giật lấy lá thư trong tay Y Sao:

– Đâu! Đâu! Đưa coi đi.

Nhưng đọc xong rồi A Siêng thẫn thờ ngồi thụp ngay xuống sân, nét mặt bỗng trở nên đờ đẫn xa vắng dần. Y Sao cuống lên:

– Chị Y Mải ơi, A Siêng làm sao đây?

Chị gái A Siêng chạy vội ra hối hả giục Y Sao cùng đưa A Siêng vô nhà. Cứ như người bị ma lai bắt lạc mất hồn, anh để mặc hai người dìu như kéo đi, đặt lên chiếc giường nhỏ ở góc nhà. Chị Y Mải bảo Y Sao đọc xem lá thư viết gì. Thì ra A Manh dặn A Siêng làm gấp hồ sơ gửi sang trước, rồi người từ từ qua sau để cơ quan phỏng vấn và thử việc.

– Ôi, việc mừng thế này còn gì? Không đi làm bác sĩ cũng được chứ sao. Miễn được vô nhà nước là tốt rồi. Sao A Siêng biết tin này lại buồn thế hả chị Y Mải?

Y Sao ngơ ngác, hết nhìn chị lại nhìn sang A Siêng đang nằm thiêm thiếp nhắm mắt như ngủ. Mãi mà chẳng hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra. Chị Y Mải buồn buồn nói nhỏ:

– Y Siêng tủi cái đầu đó mà. Năm ngoái A Manh cũng đã một lần gửi thư. Nó nói hỏi thăm hoài mới biết A Siêng về đây. Lại hỏi A Siêng đi làm chưa? Có muốn làm việc ở chỗ nó không, để nó nói thử với thủ trưởng, vì bên đó đang cần người. Trúng lúc cuối mùa không còn hột gạo mà ăn. Cả ngày cả nhà đi đào củ trong rừng, nên A Siêng đâu có gửi trả lời cho A Manh. Bây giờ cũng lại giống như hồi đó thôi.

Bỗng hai chị em giật mình thấy A Siêng nhỏm dậy, đập mạnh trán vô tường mấy cái. Chạy vội đến bên, cả hai thấy A Siêng miệng cắn chặt cái chăn, hai bàn tay quắp lại, nước mắt chảy tràn xuống gối.

– A Siêng à, đừng buồn thế em! Mình không đi sang đó được thì thôi. Chắc A Manh nó cũng hiểu mà.

Chị Y Mải vỗ về em. Y Sao nhẹ nhàng vuốt lên tay A Siêng, lần lần gỡ dần những ngón tay đang co quắp cứng ngắc ra. Dưới tác động tình cảm của hai người phụ nữ, thân hình A Siêng lỏng dần, giãn dần ra rồi chợt ngủ thiếp đi. Anh rể cũng vừa về tới, chị Y Mãi vội vàng kể lại cho chồng nghe. Cả ba ngồi quanh bếp lửa, buồn cho A Siêng mà không biết nói gì. Hồi lâu Y Sao đứng dậy:

– Thôi em về đây, chào anh chị.

Nhìn theo bước chân cô gái, chị Y Mãi khẽ thở dài. Chuyện Y Sao thương thầm A Siêng mấy năm nay,ở Kon Riêng ai cũng biết.Hai bên nhà cũng ưng bụng cho hai người thành đôi. Nhưng không biết vì sao A Siêng cứ như tránh né. Mỗi lần có ai nói đến chuyện này, lại im lặng bỏ đi chỗ khác. Xem ý thì không phải thờ ơ với Y Sao đâu, nhưng im im thế miết, ai mà biết ra thế nào chớ. Anh rể mở nắp chiếc nồi trên bếp, ấn thử coi củ đã chín chưa, rồi đậy lại, bỏ thêm mấy cành củi vô bếp, thủng thỉnh nói một mình nghe:

– Tội nghiệp cho cậu quá! Từ đây đi xe ôm ra huyện, từ huyện xuống thị xã Kon Tum rồi qua Buôn Ma Thuột. Cả đi về cũng gần hai trăm nghìn đồng tiền xe. Chưa nói tiền ăn uống nữa chớ. Biết lấy đâu ra bằng đó tiền cho cậu đi.

Cả Kon Plei này đói. Cả xã đói. Trận lũ quét vừa qua đã cuốn đi tất cả lúa lẫn đậu bắp đang còn trên rẫy gần như của cả làng. Số lúa ruộng ít ỏi ngập trong nước hàng tuần cũng thối rụng hết. Y Mải nói với chồng:

– Mình thấy dạo này cậu hay đau đầu lắm. Anh có nhớ bữa hôm đào củ trong rừng, A Siêng cắm đầu xỉu dưới hốc củ không? Không có mấy người cùng đi chắc chết không ai biết rồi. ở nhà cậu cũng lúc đi ra đi vô lờ đờ, có khi lại ngồi im cả ngày không nói câu nào.

– Thì cái tánh cậu ít nói từ xưa. Không nói ra được để ở trong người nó man man là phải thôi. Học đại học ra mà không được đi làm, đi rẫy miết thế này sao chịu nổi.

Có điều, là bác sĩ nên A Siêng biết cách giữ cho thần kinh mình không vượt quá sức chịu đựng có thể. Thấy bệnh tình em như vậy anh chị cũng không dục đi rẫy, đi ruộng, cứ để A Siêng tự làm những gì mà sức khoẻ cho phép. Khi nào cảm thấy sắp lên cơn thì phải về nhà ngay.

Suốt thời gian đó, Y Sao luôn luôn ở bên cạnh A Siêng. Những buổi phải lên lớp thì thôi, rảnh việc là cô lại chạy qua nhà trò chuyện cùng cho A Siêng đỡ buồn. Có một lúc tỉnh táo, A Siêng nói với Y Sao:

– Y Sao cưới chồng đi. Tui biết tình cảm của Y Sao, nhưng đừng có chờ tui làm gì. Y Sao với tui không thành đâu.

– A Siêng nói gì như vậy? Y Sao chưa bao giờ trách anh một tiếng nào mà. Nhưng tại sao A Siêng lại nghĩ hai đứa mình không thành đôi?

– Đừng hỏi tui. Tui không muốn Y Sao bỏ phí những năm chờ đợi. Các bạn gái của Sao không chỉ lấy chồng mà còn có con hai ba đứa rồi đó.

– Nếu A Siêng nói một lời thương Y Sao sẽ chờ tới khi nào cũng được mà.

– Không! Tui không thể!

– Nhưng tại sao? Tại sao chớ?

A Siêng bỏ đi như chạy ra khỏi nhà, để lại Y Sao nước mắt đầm đìa và nỗi buồn không thể nói thành lời. Nóng như lửa. Ngột ngạt không thở được. Một bầy kiến càng cắn trong lồng ngực đau nhói.

* *

*

Nửa khuya, bà Y Vui chuyển bụng sanh, rên la ầm ĩ. Cả nhà cuống quýt. Mưa to.Trạm xá thì xa, lỡ nửa đường sanh biết làm sao? Ông A Sam quýnh lên bảo con:

– Chạy qua nhà cô Y Mải, nói chú A Siêng tới coi dùm mẹ con đi. Nó bác sĩ mà.

Thằng cậu đang lui cui cột võng vào cái đòn khiêng, quát lên:

– Cứ đưa đi trạm xá thôi, thằng A Siêng tâm thần mà, bác sĩ gì.

Bà ngoại đang ngồi cạnh giường giữ tay con gái, nhổ toẹt miếng nước trầu vô vách, ngoái cổ ra bảo:

– A Siêng bác sĩ có bằng chớ. Nó tâm thần có lúc thôi. Cứ chạy qua coi, đang lúc nó tỉnh may ra giúp được mẹ mày.

Thằng nhỏ chạy ào ào. Đêm đen như hũ mực.Gió cứ rit lên trong những tàn cây như tức giận điều gì. Mưa tạt vào mắt xót tới không mở ra được. Con đường bò đi đầy bùn trơn trượt, chốc chốc thằng bé lại ngã cái uỵch, nó tấm tức khóc, dơ cánh tay đầy bùn lên quệt nước mắt chạy tiếp. May quá trong nhà còn ánh lửa. Nó nhào tới đập cửa thình thình:

– Chú A Siêng! Chú A Siêng cứu mẹ cháu với.

A Siêng bật dậy hỏi to.

– Ai kêu gì đêm khuya vậy?

– Mẹ cháu đau đẻ, nhờ chú tới giúp.

Chị Y Mải ngồi dậy từ trong buồng nói vọng ra:

– Khiêng đi trạm xá thôi. Chú Siêng đau mà, làm sao giúp được.

A Siêng quyết định rất nhanh.

– Chị để em đi coi thử. Nếu gay go quá thì em đi cùng ra trạm xá cũng được mà. Chờ chú ra ngay!

Nói rồi A Siêng lục tìm chiếc ống nghe lâu nay vẫn cất kỹ, với lấy chiếc túi nhỏ có vài loại thuốc ít ỏi,hối hả đi theo thằng bé. Từ khi về ở với anh chị, A Siêng chỉ chữa bệnh cho người trong nhà. Đây là lần đầu tiên có người gọi anh đi giúp. Vừa đi A Siêng vừa cố nhớ nhanh những kiến thức về sinh đẻ đã học.

Hơn một tiếng đồng hồ căng thẳng, bà mẹ cũng may mắn sanh dễ, đứa bé gái đã cất tiếng khóc đầu tiên. A Siêng toát mồ hôi ngồi phịch xuống chiếc ghế nhỏ bên bếp lửa, rửa đôi tay trong chậu nước ấm, rồi anh giơ ống tay áo quệt những giọt mồ hôi đầm đìa trên trán. Đến bây giờ anh mới thấy mệt rã rời, đã ngồi xuống rồi mà hai chân vẫn run lẩy bẩy . May quá không có sự cố gì. Ông A Sam ngồi xuống bên A Siêng:

– Cám ơn bác sỹ nhiều lắm. Không có anh, phải đưa đi trạm xá chắc bả sanh rớt giữa đường rồi.

– Không có gì đâu anh, người trong làng giúp nhau thôi mà…

Bà ngoại bọc đứa nhỏ trong tấm chăn thổ cẩm đưa cho A Siêng:

– Cho chú làm cha kết nghĩa này.

Đôi tay run run ôm chiếc bọc ấm áp vô người,đột nhiên một sức mạnh ấm nóng nào từ từ dâng lên trong người A Siêng. Anh như người say ruợu ghè, lâng lâng, choáng váng, siết chặt thân hình bé nhỏ của đứa trẻ vô ngực, nước mắt chảy ròng ròng…

Kể từ buổi tối hôm đó, người trong làng ai có bệnh gì đều chạy tới tìm A Siêng. Lúc đầu anh còn từ chối, viện cớ bệnh đau đầu thường hay tái phát, hoặc không có đồ nghề lẫn thuốc chữa bệnh. Thế là tại nhà Rông có một cuộc họp của làng:

– Bây giờ A Siêng nó chịu chữa bệnh cho người Kon Plei ta, nhưng nhà bác sĩ nghèo quá, không có đồ khám chữa bệnh,không có tiền mua thuốc, ta phải làm sao?

– Già làng cứ nói một tiếng, mọi bếp đều góp tiền lại cho A Siêng làm vốn chữa bệnh có được không?

– Ai có ít nộp ít, ai có bi nhiêu nộp bi nhiêu. Lâu nay có bác sĩ trong làng mà không để chữa bệnh cho mình.

– Hay ta đề nghị xã cho bác sĩ vay vốn xóa đói giảm nghèo?

Cả nhà Rông ồn ào lên:

– Được đấy! Bác sỹ mà nghèo đói thì cũng cần phải giúp đỡ chớ.Trưởng kon plei ngày mai làm giấy đề nghị xã giúp A Siêng thôi.

– Cho vay nhiều nhiều đi, để bác sĩ mua thuốc chữa bệnh luôn…

Vậy là với số tiền hai trăm ngàn bà con cả làng đóng góp và 2 triệu đồng quỹ xoá đói giảm nghèo cho vay, A Siêng đã có thể hàng ngày làm công việc trị bệnh cứu người mà anh mong ước. Khắp mấy Kon Plei quanh vùng, trong xã, rồi người cả xã bên đến tìm anh ngày một đông. A Siêng chẳng nề hà đêm hay ngày, mưa hay bão, xa hay gần, hễ có người gọi là xách túi thuốc đi liền. Bà con tin cậy và yêu mến anh lắm. Cũng may mà hồi đi học, A Siêng ý thức được trách nhiệm của mình nên đã theo đa khoa. Cũng lạ, căn bệnh đau đầu trầm cảm của anh ngày một thưa dần rồi chấm dứt hẳn từ lúc nào không biết. Chỉ có điều, bà con nghèo nên có lúc người khỏi bệnh trả bằng gà, trứng gà, gạo, thậm chí cả bằng bắp, củ mì ,A Siêng cũng nhận. Nhưng anh chẳng có nhiều tiền phụ cho anh chị, cũng không dùng gạo, hay gà đó trả vốn ,lãi cho xã được. Tuy nhiên, được làm nghề của mình đã học là tốt rồi.

* *

*

Vừa sang chích thuốc cho bà Chen, đang chuẩn bị đi rẫy thì chị Y Mải ở ngoài chạy về, hổn hển, vội vã:

– A Siêng đừng đi nữa! ủy ban tới nhà mình bây giờ đấy. Nghe nói có người nhà nước tới tìm em đi làm. Cả A Manh nữa đó!

A Siêng đứng lặng một lúc rồi vô nhà cất cuốc và nón, cẩn thận rửa chân tay, rồi lôi đôi dép da phủ đầy bụi ra lau . Săm soi đám quần áo ít ỏi của mình, anh cố chọn bộ nào có vẻ mới nhất. Tất cả đều may từ thời còn là sinh viên, nhưng bao năm nay ít có dịp mặc đến nên có thể lỗi mốt, nhưng vẫn là những thứ tốt nhất mà anh có. A Siêng muốn xuất hiện trước những người bạn cũ bằng một hình ảnh dễ gây được cảm tình nhất.

Thế mà năm năm đã qua kể từ khi A Siêng nhận được tấm bằng tốt nghiệp Đại học Y khoa Tây Nguyên. Những tưởng mọi lo lắng vất vả của các anh chị và của A Siêng đến đây là chấm dứt. Anh, người đầu tiên của làng Kon Riêng và Kon Đào tốt nghiệp đại học, người dân tộc Sê đăng đầu tiên của cả xã học làm bác sỹ, sẽ là người đẩy lùi mọi bệnh tật trong cộng đồng của mình…

Năm ấy chiến sự diễn ra ác liệt giữa quân giải phóng và chính quyền ông Thiệu. Sau trận bom Mỹ dội xuống thị trấn Tân Cảnh và làng Kon Đào, Già A Nhiên mời hội đồng già làng về nhà rông để bàn một việc lớn. Đêm. Đống lửa giữa nhà rông đã nhóm lên. ánh bập bùng soi lúc mờ lúc rõ những con rùa, con chim khắc nổi và các hình vẽ đủ màu trên những cột kèo. Ghè rượu đã đổ đầy nước. Già A Nhiên uống hết kiang đầu tiên, chuyển tay cho già A Min. Đưa mắt nhìn quanh những khuôn mặt gầy già nua khắc khổ, nhưng vẫn ánh lên những nét tinh nhanh của trí tuệ cộng đồng cả làng,khoát tay một vòng về phía những ngôi nhà đang ngún lửa ở bên ngoài nhà rông, già A Nhiên nói:

– Kon plei mình phải đi khỏi đây thôi. Pháo giải phóng dội uỳnh uỳnh xuống ban đêm. Bom ông Thiệu đổ ầm ầm suốt ban ngày. Không sống nổi nữa đâu.

– Đã có năm bếp bị lửa ăn hết cả nhà lẫn người rồi.

– Nhưng rồi chạy đi đâu bây giờ? Không thể vô rừng được đâu. Quân Việt Cộng ở chỗ nào bom Mĩ ném xuống chỗ đó. Chạy đi chỗ khác cũng là đất của ông Thiệu. Chúa bắt chết mình chết. Chúa cho sống thì được sống. Cứ ở lại đây không được sao?

Già A Min nhả cái cần ra khỏi hàm răng cà sát xuống tận lợi:

– Không được! Phải đi thôi! Người Sê đăng Kon Đào không thể chết, cũng không thể sống mà chống chọi lại bom đạn của cả hai phía. Ta sẽ đi Buôn Ma Thuột, tìm một nơi nào đó để dựng nhà rông, lập làng mới.

Vậy là cả làng gùi cõng nhau chạy sang Đak Lak. Chuyển vài nơi rồi mới ở lại mảnh đất giữa hai con sông nước trong nước đục. Cha mẹ A Siêng đã chết cả trong trận bom Mỹ dội xuống Đak Tô để trả thù Việt Cộng ấy. Bốn anh chị em phải cõng nhau chạy theo họ hàng. Cả làng đi hết ở lại biết sống với ai.

Hơn mười tuổi, A Siêng đã thay anh dắt trâu dẫm ruộng, gánh cả sào mạ cho các chị gái cấy. Thương đứa em út vóc dáng gầy guộc, các anh chị cố gắng động viên A Siêng đi học. Thương anh chị vất vả, A Siêng biết mình phải gắng học sao cho giỏi. Suốt mười hai năm hết học trường huyện, đến trường nội trú dân tộc của tỉnh, A Siêng luôn ở trong nhóm vài người đứng đầu lớp. Việc thi vào đại học Y Khoa những năm đó, không phải là khó đối với A Siêng.

Những năm học đại học, A Siêng đã phải làm đủ mọi việc, vừa học vừa phụ giúp các anh chị nuôi các cháu. Cũng may mấy năm đó, sinh viên người dân tộc thiểu số có học bổng, có bếp ăn ở ký túc xá, nên A Siêng đủ ngày hai bữa ăn. Còn tiền làm cỏ, hái cà phê, kể cả đi quét vôi công trình xây dựng,dạy kèm…anh đều giành mua tài liệu và gửi cho các cháu. Ai chơi gì thì chơi, suốt ngày A Siêng chỉ miệt mài với sách vở và các tua trực.

Tốt nghiệp đại học, trong đầu nóng bỏng bao nhiêu ước mộng. A Siêng đã gõ cửa từ bệnh viện tỉnh cho đến trạm xá xã. ở đâu cũng nhận được câu trả lời “Đang giảm biên chế, làm gì còn định biên để nhận người mới”. Mọi cánh cửa đều đóng. Có nơi nhận hồ sơ, nhưng lần sau đến người ta bắn tin phải nộp 15 triệu mới xong việc. Chúa ôi ! Cả một năm cắm mặt xuống ruộng mới thu được vài chục bao lúa, chưa đủ ăn hết năm cho cả bảy tám người gia đình chị gái. Nhà chỉ có chiếc xe đạp là đáng tiền nhất, anh chị giao cho A Siêng đi học, để có phương tiện lúc rảnh chạy làm thuê, hay ngày nghỉ về làm rẫy giúp anh chị. Cả làng không nhà nào có nổi vài trăm ngàn đồng cất giữ trong nhà, nói gì tới 15 triệu. Hai con sông nước trong, nước đục thay nhau hàng năm dâng nước ngập cánh đồng Ea Yang, năm nào cả xã cũng gặt lúa non chạy lụt. Đến mùa khô cái nắng nơi này cũng dữ dội lắm. Mặt ruộng nứt nẻ , các con suối cạn khô chỉ còn là những dòng bùn loãng. Cá tôm cạn kiệt, hoạ may chỉ còn vài con lươn, trạch rúc sâu dưới bùn đất còn sống được. Người Ea Yang năm nào cũng phải nhận cứu trợ của huyện là thế.

Hai năm lận đận tìm việc và làm ruộng dẫu có dài rồi cũng trôi qua. A Siêng xin anh chị về Kon Tum làm rẫy với vợ chồng chị Y Mải, may ra còn có thể xin được việc chăng. Nhưng anh cũng không có cơ hội nào suốt ba năm cho đến tận bây giờ.

Cài nút chiếc áo màu xanh da trời mà anh vẫn thích, thở sâu một hơi, A Siêng bước ra nhà ngoài. Đông nghẹt. Tíu tít. Ông bí thư xã tươi cười nắm tay A Siêng nói:

A Siêng à! Đài TNVN cho người về xác minh lý lịch và muốn đón cháu về làm phát thanh viên chương trình tiếng dân tộc Sẽ đăng ở Buôn Ma Thuột. Đồng thời huyện cũng có quyết định tiếp nhận cháu làm trưởng trạm y tế của xã. Công việc nào cũng cần thiết cho dân tộc mình. Vậy cháu trao đổi với các anh chị rồi mai cho xã biết ý kiến quyết định có được không?

A Manh nhìn bạn tha thiết :

– Về bên đó lương và nhuận bút dịch ,đọc mỗi tháng cũng được hơn 1 triệu đồng đó A Siêng ạ. Có nhà tập thể ở, không phải đi thuê đâu.

Bác chủ tịch xã góp lời :

– Lương trạm trưởng được vài trăm ngàn. Nhưng cháu vẫn có thể khám bệnh thêm ở nhà mà.

Gần như cả làng tụ tập trong nhà Y Mải, khi nghe nói có cán bộ xã và đài TNVN đến tìm A Siêng. Anh chị Y Mải lúc quay bên này, lúc quay bên kia nghe ý kiến của mọi người. Góc nhà, cặp mắt khắc khoải âm thầm của Y Sao nhìn chằm chặp vô A Siêng như chờ đợi. Rộ lên những lời bàn tán, ồn ào tranh cãi. Chỉ mình A Siêng im lặng.

Cả đêm không ngủ. Anh ra khỏi nhà khi trời chưa sáng, thơ thẩn bên hồ Đak Noa. Mặt trời chưa mọc nhưng tít trên cao, một vòm xanh ngọc đang lan rộng dần, đẩy lùi những đám mây xám, hứa hẹn một ngày nắng đẹp. Đỉnh Ngok Linh thường vẫn khuất trong mây trắng, bỗng hiện rõ, dáng núi mềm mại tạc vào chân trời đang hé lên màu hồng. Quả đồi thấp như gò ngực người đàn bà nằm duỗi dài dưới chân núi ven hồ phập phồng thở trong sương sớm. Sóng vỗ óc ách, những con cá mương nép vô bờ ngủ qua đêm,quật đuôi lách tách vượt vội ra ngoài xa. Một cánh chim lẻ loi liệng mãi trên bầu trời, như muốn dấn sâu vào nỗi cô đơn nên đôi cánh nhỏ không buồn vẫy, cứ giang rộng từ trên cao sà xuống tận sát mặt nước, rồi lại lao vút lên bầu trời thăm thẳm. Như có cánh ná nào bắn vụt mặt trời lên đỉnh núi, ánh sáng chói loà thành một dải lụa vàng trải giữa mặt nước xám bạc lung linh. A Siêng quay người đi trở lại làng. Dưới tán lá xà nu xanh nơi bìa rừng, Y Sao đã đứng đấy từ lúc nào.A Siêng bước nhanh hơn, vươn thẳng người khẽ nói lên thành tiếng “Mình sẽ ở lại!” .

Linh Nga Niê Kdăm