Category Archives: Văn

Sắc Xuân

Tôi vốn dĩ rất ấn tượng với màu hoa trắng. Bất cứ loài hoa nào mang màu trắng cũng đều cho tôi một cảm giác nhẹ nhàng thanh thóat, bâng khuâng. Niềm cảm xúc đó khiến tôi chưa một lần bỏ qua dịp sở hữu hay chiêm ngưỡng nó. Đặc biệt là hoa hồng trắng. Thật đáng buồn khi màu hoa thánh thiện ấy lại mong manh vô cùng. Hoa trắng luôn có tuổi thọ thấp hơn những lòai hoa mang các sắc màu khác. Có lẽ đó là một quy luật hiển nhiên khi sự thanh khiết, thánh thiện thường không thể tồntại lâu trong thế giới cuộc đời. Mặc dù vậy, tôi vẫn rất yêu màu hoa trắng, một màu hoa bất diệt.

Chắc chắn rằng không một ai trong đời lại chưa một lần đi dạo chợ hoa ngày tết. Một bức tranh hội tụ tòan cảnh sắc thiên nhiên. Bức tranh đã cho ta một sự cảm xúc sâu sắc, khi được đắm mình trong chiếc thảm rực rỡ và ngào ngạt hương thơm. Và khi đã lạc vào chốn thiên thai tại thế ấy, thì không ai gìm nổi nỗi xúc động đang đưa tâm hồn mình bay bổng giữa vườn xuân. Như đã thành thói quen, chưa năm nào tôi từ chối nổi cái thú di dạo chợ hoa ngày tết, ngoại trừ những trường hợp bất khả kháng. Cũng như lúc này, tôi đang chìm giữa biển sắc, nhuưng vốn trung thành với ấn tượng, tôi vẫn ném tia nhìn xục xạo khắp các ngõ ngách cua những khóm hoa. Khốn nỗi, màu hoa tôi yêu lại rất hiếm hoi trong những ngày này. Vì người ta quan niệm rằng : đầu năm không nên chưng hoa trắng trong nhà, không khéo lại trắng cả năm thì khổ. Dù sao tôi vẫn không bỏ cuộc khi chưa ra khỏi khu chợ hoa. Hơn nữa, chẳng dại gì, khi cả năm mới có được một lần ngắm hoa thỏa thích lại không mất tiền. Đang tiếp tục với cuộc thưởng ngọan, tôi bỗng nghe có tiếng trầm trồ :

_ Ồ, cành mai đẹp quá !

Nhìn về phía phát ra tíếng nói, một cô gái trong bộ quần áo lam lũ, chân đi đôi ủng với nửa phần bùn đất, đang ngây người dán mắt vào một cành mai gần đó. Tôi bất giác nhìn theo và cũng thầm công nhận : cành mai thật tuyệt. Sự phân chia cân đối của các nhánh cành cùng với những chùm nụ như phụ kín, lác đác trong số nụ ấy là ánh vàng của vài cánh hoa nở vội. Có lẽ những cánh hoa ấy đang háo hức tung ra giữa thanh thiên chiếc áo xuân rực rỡ. Dù rất ít tình cảm với màu vàng ( vì tôi nghe nói màu vàng là màu phản bội ) nhưng tôi buộc phải công nhận một điều : Thượng dế đã rất có lý khi chọn màu vàng của hoa mai làm biểu tượng của mùa xuân. Thử tượng tưởng xem, khi những ngày đầu năm, căn nhà như sáng hẳn lên với một cành mai đang rũ tung sắc vàng ra tứ phía. Và cái ánh sắc chói lòa ấy dễ đem đến cho con người ta nguồn hy vọng vào một cuộc sống no đủ, sung túc. Không biết có phải màu vàng ấy trùng với màu của một thứ kim lọai có giá trị rất cao, và là màu của một thảm lúa vàng trong mùa bội thu. Dẫu sao thì hoa mai không thể thiếu trong mùa xuân. Có điều, số phận cành mai tuyệt đẹp kia sẽ thuộc về ai thì tùy thuộc vào sự quyết định của người đang tạm là chủ nó. Lẽ đương hiên nó sẽ không thuộc về tôi hay cô gái đang sững sờ trước vẻ huy hòang của nó kia. Cô gái đã dợm bước đi, lại chợt dừng lại, trong mắt cô, một ánh nhìn khao khát đến nao lòng. Cái nhìn ấy gây cho tôi một niềm hòai cảm. Một sự thúc đẩy vô hình nào đó, khiến tôi đuổi theo cô gái. Khi đã bắt kịp cô, tôi mở lời bắt chuyện :

_ Cành mai ấy đẹp quá cô nhỉ ?

Nhìn tôi với một thóang ngạc nhiên nhưng rồi cô gái cũng gật đầu :

_ Vâng ! Đó là cành mai đẹp nhất từ trước giờ tôi đã thấy.
_ Thế sao cô không tìm cách sở hữu nó ?

Cô gái mỉm một nụ cười buồn :

_ Tôi làm sao có được diễm phúc đó hở anh ?

Vẫn biết đó là câu trả lời mà tôi đã ước đóan, nhưng chẳng qua chỉ là cái cớ để làm quen. Chuyển đề tài, tôi lân la :

_ Chắc cô đi sắm tết ?
_ Tôi đi ngắm tết thì đúng hơn.

Bật cười vì lối chuyển ngữ sát sườn của cô gái, cô chợt nhìn tôi vẻ lạ lẫm, như nhìn một gã ngớ ngẩn. Tôi nhận ra sự vô ý của mình, vội nói :

_ Xin lỗi cô, tôi cười là vì dường như tôi đang có bạn đồng hành.
_ Bạn đồng hành ? Ồ thế thì anh đã nhầm rồi, tôi đang rất bận.
_ Thì tôi cũng có rảnh rỗi đâu.
_ Không rảnh rỗi ? vậy sao anh lại có thời gian đi vớ vẩn thế này ?
_ Là vì…tôi đang bận…bận làm quen ấy mà.

Cô gái vỡ lẽ phì cười, rồi bằng một thái độ ẩn ý, cô nói :

_ Tôi có cảm giác như đang nói chuyện với người ngòai hành tinh vậy ?

Tôi sựng lại, nhìn từ ngực đến chân, trừ cái mặt vì tôi không đem theo cái gương. Tôi có gì khác với mọi người đâu nhỉ ? Vậy không lẽ cái mặt tôi giống người ngòai hành tinh lắm sao ? Thấy tôi ngơ ngác, cô gái lại cười :

_ Anh giống như người ngồi dưới gốc cây đa trên mặt trăng ấy.

Ái chà, cô ta cũng đáo đẻ đấy chứ, nhưng tôi cũng kịp trả đũa ngay :

_ Ồ cô nói đúng dấy, vì tôi đang đi cạnh Hằng Nga mà.

Cô gái khẽ “hứ” một tiếng và quay ngóăt đi, nhưng tôi đã kịp nhì thấy một ráng hồng lan trên má cô. Tôi bỗng cười, và cô cũng bật cười. Môt lần nữa xin cảm ơn Thượng đế khi Ngài đã sáng tạo ra nụ cười, vì chính nụ cười đã góp phần chuyển tiếp thái độ rất hiệu quả. Hai chúng tôi đã tự nhiên hơn Và rồi qua câu chuyện tôi đuợc biết. Cô gái là chị của bảy đứa em. Một tình cảnh thường thấy trong các gia đình ở nông thôn. Đó là sự thiếu hụt, khó khăn trong cuộc sống hàng ngày. Với một mảnh vườn rau trên diện tích hơn ba sào, chỉ đủ để đánh đổi từ những giọt mồ hôi mặc đất lấy từng hạt gạo nuôi sống bấy nhiêu con người đã là khó nhọc, thì lẽ đương nhiên khó mà sắm sửa một cái tết cho ra trò. Cô gái ngùi ngùi nói thêm :

_ Đã bao năm rồi, mẹ tôi chỉ ước có một cành mai thật đẹp cho vui nhà, nhưng rồi năm nào cũng như năm nào, mẹ tôi lại lui cui ra vườn cắt vài nhành hoa có sẵn, và nói vui rằng : Không có mai rừng thì ta chưng mai nhà vậy.

Ngang qua một quầy bán tranh và lịch, tôi lướt mắt và bắt gặp một sắc vàng đổ xòa trên một khung tranh. Tôi nói vội với cô gái :

_ Cô đứng đây chờ tôi tí nhé.

Rồi không đợi cô gái kịp trả lời, tôi len vào hỏi giá tờ tranh. Ít phút sau, trước khi tờ tranh được cuộn lại, tôi đã kịp nhìn thấy hai chữ gi chú bên dưới “Sắc Xuân”. Trở lại nơi cô gái đang đứng đợi, tôi ngập ngừng :

_ Chút quà nhỏ cho mùa xuân mới, cô vui lòng nhận nhé.

Cô gái lúng túng :

_ Tôi không thể nhận quà của một người lạ dược.
_ Có thể chúng ta chưa quen, nhưng cũng không còn là lạ, coi như kỷ niệm của buổi đầu gặp gỡ, có được không ?

Tôi vừa nói vừa ấn bức tranh vào tay cô gái, cô gái run tay đỡ nhẹ và mở ra, cô reo lên :

_ Đẹp quá !

Chỉ vào hai chữ ghi chú, tôi nói :

_ Có thể bức tranh này không đẹp bằng cành mai thật kia, nhưng tôi hy vọng “Sắc xuân” sẽ ngự suốt bốn mà trong gia đình cô.

Cô gái không giấu vẻ xúc động, ngước mắt nhìn tôi với tia ấm áp, lời cảm ơn thốt ra cùng lúc hơi ấm từ bàn tay cô truyền sang bàn tay tôi. Trong tôi như rộn lên vầng sáng của “Sắc Xuân”

Đàm Lan

Âm thanh gói cả đất trời

Đấy là cảm nhận của nhiều người khi được thả hồn trong sự hài hòa, cộng sinh đến tuyệt vời âm thanh của nhạc cụ gõ của người Thái Tây Bắc. Nhạc cụ gõ của người Thái Tây Bắc gồm trống, chiêng, chũm chọe và quả nhạc. Bộ gõ này có vai trò rất quan trọng trong đời sống nghệ thuật và tâm linh. Bộ gõ là vật linh thiêng của mỗi bản, không bao giờ được để mất, không để kẻ thù chiếm đoạt, không được đổi chác mua bán. Mỗi khi những âm thanh của bộ gõ này vút lên, người nghe như cảm nhận được sự sâu xa, tinh tế và huyền diệu của đất trời cùng tình người đằm lắng.


Việc chế tác bộ gõ được tiến hành với những bước rất nghiêm ngặt: Cúng tế xin phép thần linh, cầu mong thần cho phép, chứng giám và phù hộ rồi tiến hành ở nơi kín đáo, sạch sẽ. Khi chế tác xong phải cử hành lễ tế trang trọng và cất giữ ở nhà sàn hoặc gian thờ ma nhà của trưởng bản hoặc người có chức sắc và chỉ được dùng trong dịp tết hoặc lễ cúng xên bản, xên mường. Người Thái cho rằng nếu dùng trống chiêng tùy tiện sẽ có hại cho bản mường.

Trống có hai loại “cống” và “cong”. Thông thường “cống” hay được dùng trong hội xuân, lễ cúng ma bản mường; còn “cong” dùng khi chủ mường qua đời hoặc khi có giặc, báo động…
Tang trống dùng cây gỗ tròn được đục bỏ lõi, thường là gỗ xâng hoặc mít. Tang dài 0,8 – 1 m, mặt có đường kính từ 30cm đến 50 cm, bịt bằng da trâu bò, âm thành trầm và gần.
“Cong” là loại trống dài từ 1,5m đến 3 m, mặt bịt da bò, có đường kính từ 50cm đến 70cm, âm thanh trong hơn, vọng rất xa.

Khi chế tác tang trống, để có âm thanh như ý, các nghệ nhân cạo nhẵn bên trong và mặt ngoài chứ không dùng sơn.

Tác giả bên cô gái Sơn La

Chiêng và chũm chọe được chế tác công phu, đặc biệt là rốn chiêng. Để có âm thanh mong muốn, các nghệ nhân pha thêm vào đồng một tỷ lệ vàng theo công thức bí truyền.
Chiêng có âm thanh trầm được gọi “tô me”, tức là con mái, chiếc có âm thanh cao gọi là “tô po”, tức là con trống, chiếc có âm thanh ở khoảng giữa gọi là “tô lụ” tức là con con.
Chũm chọe gọi là “xánh”, chùm nhạc là “mắc hính”.

Chiêng có thể dùng riêng hoặc phối hợp cả ba cái tạo ra một hợp âm độc đáo mà các nhà nghiên cứu cho rằng đậm đà ý nghĩa nhân sinh.

Thường là đàn ông đánh trống, đàn bà đánh chiêng, trẻ con dùng chũm chọe, con gái trẻ dùng quả nhạc tạo ra những âm thanh sôi động, lôi cuốn lòng người. Nghe những âm thanh tinh tế bộ gõ của người Thái, người ta như cảm nhận được sự giao hòa của đất trời và vạn vật, ngân rung bay bổng khát vọng một cuộc sống sinh sôi, phát triển, ấm no, hạnh phúc, làm cho tâm hồn người trong sáng hơn, thêm tin yêu vào cuộc sống, hướng mỗi người đến giá trị đích thực của Chân – Thiện – Mỹ.

Nghe tiếng trống, chiêng, người ta có thể biết ở bản Thái ấy đang có việc vui hay buồn: Nghe tiếng trống nhịp 2/4 theo kiểu 3 tiếng cùng với 7 tiếng, tiếng chuông gõ trên con mái và con trống rơi vào nhịp mạnh, tiếng của con con rơi vào nhịp nhẹ của trống, thì chắc chắn rằng ở đó có hội xòe. Còn khi nghe tiếng “cong” dồn dập 3 tiếng hoặc 5 tiếng là có việc khẩn cấp như: cháy nhà, có lũ bão, có giặc. Các quả nhạc cùng phụ trợ cho hát và các điệu xòe làm tăng sự vui tươi, sôi động.

Bộ gõ nói chung và chiêng trống nói riêng là những nhạc cụ không thể thiếu của người Thái Tây Bắc, góp phần làm cho đời sống nghệ thuật thêm phong phú, đồng thời còn chứa đựng những ý nghĩa tâm linh và nhân sinh cao cả, gửi gắm vào đó cả tình yêu, tinh thần lạc quan tin tưởng vào cuộc sống no ấm, hạnh phúc.

Trần Vân Hạc

Chú chó Pôli

Chú được về nhà này với danh nghĩa là một món quà kỷ niệm 25năm ngày cưới của ông chủ tặng bà chủ. Là một con chó thuộc dòng chó Nhật, chú có sẵn một hình thái thật dễ thương, đôi mắt nâu tròn xoe như hai viên bi, đen lay láy khi nhìn bà chủ. Từ tay ông chủ chuyển qua, chú đã chiếm được ngay cảm tình của bà chủ bằng chếc lưỡi hồng xinh xinh lướt trên những ngón tay bà. Từ đó chú không rời bà nửa bước, ngọai trừ những lúc cô bé Ngọc Diễm, cô con gái độc nhất của ông bà ôm ấp, nô đùa với chú. Cô bé đã dày công tập luyện cho chú những trò khá hay, như đi hai chân, nhào lộn trên giường, ấm ứ nói chuyện, tha chén đòi ăn…vv .

Đó là những ngày cô bé Ngọc Diễm còn là một cô chú nhỏ ngây thơ cơ. Chứ từ khi cô trở thành một thiếu nữ đẹp, giàu sang, với những cái đuôi dài lê thê, với những buổi tiệc tùng dạ hội, thì dường như cô không còn nhớ gì đên chú mấy nữa. Thỉnh thỏang chú lại bị những cú đá phũ phàng, chỉ vì chú làm bẩn bộ quần áo đẹp của cô chủ khi nhảy chỗm lên mừng. Những lúc ấy chú kêu lên “ ăng ẳng” một cách oan ức, rồi chạy nép vào lòng bà chủ để được nhận những cái vuốt ve an ủi.

Của đáng tội, cũng không hẳn cô chủ ngược đãi chú đến thế, cũng dăm lần chú được tắm rửa sạch sẽ, ngồi lên chiếc baga giữa của chiếc Dream láng coóng mà đến nhà những người bạn của cô chủ, có hôm chú được đến cả vũ trường , vì cô chủ không tiện đem chú về bỏ ở nhà. Được cái chú rất ngoan, hiểu rõ yêu cầu của chủ do được huấn luyện kỹ, nên chỉ cần một chiếc ghế kê sát tường và một câu lệnh ngắn gọn “ Ngồi yên đấy nhé”, thì dù cô chủ mải vui chơi đến đâu chú cũng vẫn cứ nguyên vị. Đôi khi có nhu cầu cần gỉải quyết, chú nhảy tót đi tìm chỗ, xong lại trở về vị trí.

Nhưng rồi những cuộc di chơi ấy của chú thực sự chấm dứt từ ngày cô chủ có một cậu trai ra dáng bảnh bao, nhăn mặt khi cô chủ bỏ chú lên xe. Từ đấy, chú chỉ còn được nhận sự yêu thương của bà chủ. Sự yêu thương ấy càng sâu đậm hơn khi ông chủ đột ngột qua đời vì một tai nạn giao thông. Ông ra đi như một cơn lốc cuốn khỏi cuộc đời bà. Chú chó Pôli không chỉ còn là một chú chó kiểng đẹp đẽ thông minh, một bằng chứng tình yêu nữa, mà chú thật sự là một người bạn của bà.

Ngọc Diễm săm soi mình trước gương, vẻ vừa ý với diện mạo của mình. Rồi cô vừa dắt xe ra vừa nói vọng lại :

_ Mẹ cứ ăn cơm trước, đừng đợi con, mẹ nhá.

Đã quá quen với những lời tương tự, bà Ngân thở dài dặn với theo :

_ Cẩn thận nghe con, đường xá bây giờ nhộn nhạo lắm đấy.

Cũng đã quá quen với những lời dặn dò, Ngọc Diễm vừa rồ ga vừa nói

_ Mẹ cứ yên tâm.

Bà Ngân nhìn theo đứa con gái duy nhất mà mắt buồn vời vợi, nuôi nuối, như tiêng tiếc một vật gì đã vượt quá tầm tay. Quả thật, con cái khi lớn lên, chúng không cần đến đôi tay bảo trợ của cha mẹ nữa, có khi còn khó chịu với những quan tâm, chăm sóc tận tình, mà rằng “ Con có là trẻ con nữa đâu mà…” Cũng đúng thôi, một khi đó là quy luật hình thành tâm sinh lý của con người. Khi đến tuổi trưởng thành, nhu cầu muốn được tôn trọng, được chủ quyền, dù chỉ với bản thân mình. Muốn dược là người lớn với đầy đủ ý nghĩa của nó. Đó là lẽ đương nhiên cần phải có ở mỗi con người. Nếu không thế, con người sẽ sống ra sao khi không còn cha mẹ ? Nhưng đối với cha mẹ, thì con cái luôn bé bỏng, dại khờ. “ Mẹ già trăm tuổi, thương con tám mươi”. Đó cũng là quy luât của nước mắt chảy xuôi. Vì thế mới nảy ra khỏang cách giữa hai thế hệ. Không thể hiểu nhau mà cũng không dung hòa được với nhau. Đến khi hiểu được tâm trạng của cha mẹ, thì cũng là lúc bước vào vị trí của ông bà ngày trước. Và cứ thế, dòng chảy vẫn mãi chảy theo lộ trình bất dịch của nó.

Bà Ngân uể ỏai nuốt miếng cơm, thỉnh thỏang bà lại bỏ vào cái chén của chú Pôli một miếng giò nạc , kèm theo câu ân cần :

_ Ăn đi con, ăn đi bà thương…

Chú Pôli thì khỏi nói, động tác chuyển những thứ ấy vào bụng nhanh như xiếc. Ăn xong, rửa vài thứ chén đũa, là đến lúc bà Ngân thu mình trước cái màn hình ti vi 20inch . Con gái bà bảo mua cái to để mẹ xem cho đỡ nhức mắt. Thế mà cũng lắm lúc những hình ảnh trên ấy cứ lấp lóa khiến bà phải tắt đi. Thì cả ngày cứ dán mãi mắt vào đấy, làm sao không lóa ? Ngòai cái ti vi ra bà còn biết tiêu tốn thời gian vào chuyện gì nữa đâu. Từ ngày ông mất, cô con gái lại đủ lông đủ cánh, gia sản ông để lại đủ cho bà nhàn rỗi dưỡng già. Vả lại bà có muốn giở ra làm gì thì cô con gái cũng không cho. Bảo “mẹ già rồi, nghỉ ngơi cho khỏe, mẹ đi nữa thì ai trông nhà? Thời buổi trộm cắp như rươi, mẹ làm không bõ trộm nó bê đi một mớ” Thế là bà đành chịu , buồn quá lại đem Pôli ra tắm táp, bắt chấy bắt rận.

Chú Pôli quen thuộc từng động tác của bà đến nỗi chỉ cần bà móc túi lấy ra cái mục kỉnh đeo lên mắt, là chú đã ngoan ngõa nằm xuống trước mặt bà để chờ đôi bàn tay bà sờ soang, bới móc, tóm đi từng chú bọ chét hiếm hoi. Buồn ngủ, chú cứ lăn vào lòng bà ngáy cho thỏa. Mỗi lúc được vuốt ve âu yếm, đôi mắt chú lại lim dim vẻ khoan khóai. Ai bảo con vật không biết yêu thương, không cần tình cảm ? Nếu chúng được sống gần gũi với con người, được nhận những tình cảm thân thiết, thì chúng thật sự như một đứa trẻ, chỉ không biết nói tiếng người mà thôi. Mỗi loài vật có một thứ ngôn ngữ riêng, nếu để ý, sẽ thấy chúng cũng có những tiết điệu, cường độ của âm sắc đủ đẻ biểu hiện cảm xúc của chúng.

Nhiều lúc ôm chú vào lòng, bà Ngân thầm ước một đứa cháu để bế bồng. Nhưng giục con gái thì lại nghe nó nói “ Ôi dào, lấy chồng sớm làm gì cho khổ hả mẹ ? Cứ chơi cho đã tuôi xuân đi rồi đeo gông cũng không muộn. Mẹ đừng lo con gái mẹ ế, đắt như tôm tươi đấy, chẳng qua là chưa chọn được người vừa ý thôi .” Bà cảnh báo “ Khéo già kén kẹn hom đấy con ạ !” Ngọc Diễm trả lời bà bằng một cái cười mũi. Bà cũng chẳng dám ép, vốn quen được nuông chiều từ bé, bà để mặc con gái làm theo y muốn. Hơn nữa, chuyện trăm năm không thể ép buộc, nhỡ nó không tìm được hạnh phúc nó lại oán. Ngọc Diễm lại là một cô gái có nhan sắc, bằng cấp, địa vị. Tốt nghiệp bưu chính viễn thông, may mắn được nhận ngay vào làm việc tại bưu điện tỉnh. Điều kiện giao tiếp càng rộng thì tiêu chuẩn chọn chồng càng cao. Bà thì chẳng cần gì tiêu chuẩn nọ kia, quan trọng là phải thực sự yêu thương nhau. Ở với nhau cả đời, không thực bụng với nhau, mai kia mốt nọ ốm đau già yếu, hết nhan sắc, danh vọng, địa vị thì bỏ nhau à ? Ôi mà bọn trẻ bây giờ thuộc lọai trí thức cả, có đâu như ông bà ngày xưa. Lấy nhau từ một vùng quê hẻo lánh, rồi đưa nhau ra thành phố, chen chân lấn bước, lăn lộn bao năm mới có được chút của ăn của để. Được cái, dù khổ đến đâu ông bà vẫn luôn bên nhau, hỗ trợ động viên nhau. Đúng là “ Thuận vợ thuân chồng , tát biển Đông cũng cạn” Giá ông đừng bỏ bà mà đi sớm thế thì tuổi già của bà cũng bớt cô quạnh.

Bà Ngân lại thở dài, đi ra đi vào trong căn nhà vắng mãi cũng chán nản, bà bỗng cảm thấy mệt mệt. Dạo này bà thường có những cơn mệt bất thường, có lẽ bệnh già do tuổi tác đấy thôi. Chú chó Pôli vẫn quẩn bên chân Khi bà lên giường, chú cũng nhảy tót lên, dụi vào lòng bà ấm ứ, giây lát thấy bà thiu thiu ngũ, chú cũng gối đầu lên tay bà đánh một giấc ngon lành. Chú tỉnh dậy khi nghe chuông đồng hồ gõ 7 tiếng. Chú không biết giờ giấc, nhưng chú biết bụng chú đang đói, nhà cửa lại tối thui như mực. Chú cào cào vào tay bà chủ, miệng kêu ư ử. Lâu, không tháy bà động đậy, chú cào mạnh hơn, tay áo bà đã rách nhưng bà vẫn bất động. Chú nhảy xuống giường chạy ra cửa vừa cào vừa sủa inh ỏi. Cánh cửa không bật ra vì chú không đủ sức đẩy, chú lại nhảy lên giường lè lưỡi liếm tới tấp trên mặt bà.

Dường như chú linh cảm được điều gì không ổn, khác với mọi ngày. Chú lại nhảy xuống chạy ra cửa bếp, ở đây có lối ra ngòai, vì khoang cửa mắt cáo bị gãy mất một thanh, vừa đủ chỗ cho thân hinh bé nhỏ của chú tọt qua. Đây là chỗ đêm đêm chú hay ra ngòai đi bậy. Ra đén ngòai đường, chú ngỏng cổ tru lên một hồi rồi cắm cổ chạy. Chú tìm đến những căn nhà mà ngày trước chú thường theo cô chủ đến chơi. Đứng bằng hai chân trước cổng nhà họ, chú lại tru lên. Không hiểu ý chú, những người trong nhà đánh đuổi chú. Chú lại chạy, một lúc lâu sau vừa đói vừa mệt, chú đi lõng thõng bên đường, dừng lại trước một vũng nước chú tợp vài ngụm. Chợt cú vểnh tai nghe ngóng, hình như có một thứ âm thanh quen quen từ xa vọng tới. Định được hướng, quen cả đói và mệt chú phóng nhanh về hướng đó, súyt va vào cả những chiếc xe qua đường.

Và chú đã đến nơi. Đó là vũ trường, cũng là nơi cô chủ đang có mặt. Chú xông qua cổng, nhanh đến nỗi anh bảo vệ không kịp nhìn thấy. Len qua những chân người, chú đến được nơi sàn nhảy, chú chợt rít lên mừng rỡ khi đánh được hơi của cô chủ. Ngọc Diễm đang say sưa theo điệu nhạc, đầu ngả lên vai người tình. Bỗng cô giật nảy mình, bước sai cả nhịp khi ống quần cô bị chú chó tinh khôn cắn giật. Nhìn xuống thấy chú Pôli, Ngọc Diễm tức giận quát :

_ Mày đến đây làm gì ?

Chú chó Pôli không bỏ chạy mà còn đứng lên bằng hai chân và tru lên một hồi dài. Cả sàn nhảy dừng lại, nhiều người tỏ vẻ khó chịu. Người tình của Diễm bực dọc:

_ Em lại đem chó theo đấy à ?

Ngọc Diễm cau có :

_ Em đem theo nó làm gì ? Nó đến với ai đó chứ, từ chiều đến giờ em đi với anh có nó đâu.

Tức giận, cô quay ra đá cho chú một cái, Pôli kêu ăng ẳng, nhưng trái với mọi lần, chú không bỏ chạy mà đứng lên bằng hai chân, hai tay chắp lại như vái lạy, miệng thi tru lên. Một người khách chăm chú nhìn rồi bảo :

_ Con chó này khôn đấy, chắc phải có sự gì, cô nên di theo nó xem sao ?

Lời nói của ông ta khiến Ngọc Diễm cũng nhận ra sự lạ ở Pôli, liền nói với nó :

_ Đi nào, có chuyện gì hả Pôli ?

Chú chó mừng rỡ khi thấy cô chủ đã hiểu ý, kêu lên mấy tiếng vui mừng rồi cong đuôi chạy trước. Chú về đến nhà trước cô chủ lại theo cửa bếp, chú chui vào nhảy lên giường bà chủ, vừa rít vừa cào như muốn báo tin. Ngọc Diễm về đến nhà, thấy ngôi nhà tối đen, vắng lặng, linh cảm có chuyện chẳng lành, cô tông cửa chạy vào và ôm mặt hét lên, khi thấy chú chó Pôli nằm ngang trên ngực mẹ mình, hai tay chú dang ra như muốn ôm lấy cổ bà, miệng vẫn rin rít như đang gọi…

Đàm Lan

Da diết nhớ bản hòa tấu của ngàn xanh


Mỗi ban mai Hà Nội, khi bình minh ngưng lại giây lát trên cầu Thê Húc, rồi dịu dàng lan tỏa sáng trong mỗi con đường, góc phố, tôi như tan hòa trong những tiếng chim lảnh lót chào ngày mới. Đây tiếng sơn ca như tiếng ngọc rơi từ chốn cao xanh, đánh thức những hạt mầm hy vọng trong mỗi người và những hạt mầm đang say giấc nồng trong đất, những mầm non mới nhú trên cành. Đây chú họa mi ngân rung những cung đàn say đắm, tấu lên khúc nhạc cháy bỏng khát vọng một cuộc sống tự do được sống, được yêu. Chú khiếu từ nhà bên trổ tài luyến láy những âm thanh muôn điệu của những giọng ca tài tử. Chú cu gáy vẫn trầm ngâm như một triết gia trong dòng hồi tưởng của một thời oai dũng, chí khí của đấng trượng phu quân tử lay động cả đất trời. Chú chích chòe hồn nhiên nhả những hợp âm trong vắt… trong lòng chợt dâng lên một cảm giác trong trẻo, lạc quan, yêu đời và khát vọng sống lạ kỳ. Vậy mà sao tôi vẫn bồn chồn, khắc khoải, day dứt với cảm giác như vẫn thiếu một cái gì rất đỗi thân thương, gắn bó; chẳng khác nào một mình xa quê giữa chốn phồn hoa, chợt da diết nhớ về quê hương yêu dấu, nơi có người mẹ hiền nắng mưa tần tảo, người cha nghiêm nghị nhưng độ lượng bao dung, người vợ dịu hiền thủy chung chờ đợi… và tiếng chim xanh ngắt giữa đại ngàn hòa cùng mây trời gió núi…

Tây Bắc gắn bó với tôi mấy chục năm trời: Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên… những con sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Chảy… những con suối Thia, suối Tiên, suối Mơ, Nậm Na, Nậm Rốm…chở đầy lịch sử và huyền thoại, lúc dịu dàng như áng mây đầu núi, lúc như chú ngựa bất kham tung vó chốn thảo nguyên. Những cánh rừng huyền bí miên man bất tận, hôi hổi một sức sống diệu kỳ. Những con đèo quanh co uốn lượn ù ù gió hú đầy những bất ngờ thích thú. Đây đó những ngôi nhà sàn ấm áp khói lam, thấp thoáng bóng ai dịu dàng sắc chàm, tay búp măng rừng gọi lúa lên xanh, gọi ngô mẩy hạt, giục bông hóa thân thành muôn sắc mầu thổ cẩm lung linh như bẩy sắc cầu vồng, hay nồng say trong vòng xòe rực lửa… và mỗi bình minh cao vút những tiếng chim xanh ngắt bản hòa tấu của nhạc sỹ thiên tài của thiên nhiên, ngân rung tinh tế, thánh thiện sự giao hòa của đất trời và tình người huyền diệu, say đắm đam mê đến nao lòng.

Cái kỳ thú đến ảo diệu của những tiếng chim rừng Tây Bắc chính là cái quyền lực và ma lực vô hình tưởng như bất tận, đem lại một nguồn năng lượng mới, giục giã thôi thúc vạn vật khát sống, khát tìm tòi khám phá vươn lên không bao giờ cạn. Khi vạn vật còn đắm mình trong giấc ngủ sương giá, chợt giật mình e không bắt kịp vòng xoay của tạo hóa, dẫu còn như ngái ngủ, thoáng giật mình rồi vươn vai cất lên bản hòa tấu của đại ngàn hòa cùng vòng quay minh triết của vũ trụ. Những tiếng chim rừng như mũi tên rời dây ná của một xạ thủ kỳ tài xuyên qua tĩnh lặng, đánh thức muôn loài. Muôn hạt mầm và những lá xanh non thoáng chút ngỡ ngàng xòe đôi mắt biếc, rì rào gọi nhau vươn cành xanh tán. Những hạt sương trong vắt, tinh khôi, bỗng hồng tươi, ngời lên roi rói như chuỗi vòng của tiên nữ mải vui trong khúc nghê thường, rơi xuống trần gian. Các bản mường còn chìm trong sương bỗng rộn vang tiếng nói, tiếng cười, tiếng các thiếu nữ gọi nhau ra suối lấy nước, chuẩn bị ra ruộng, lên nương. Tiếng chày cối nước thậm thình như nhịp trái tim của suối. Tiếng mõ trâu đàn lốc cốc ấm cúng. Tiếng chú gà trống gáy vang gọi mặt trời đầy quyền uy. Tiếng gà mái cục tác nhảy ổ. Tiếng mèo kêu nũng nịu. Tiếng chó sủa thân thuộc…

Trên cái nền tráng lệ của ngàn xanh cùng mây trời gió núi và nhịp sống sớm mai ấy, vút lên những tiếng chim đầy sinh lực, với những giai điệu hào hoa, tuyệt vời đầy chất ngẫu hứng được bàn tay tài tình của vị thần âm nhạc vô hình điều khiển. Mỗi giọng ca đều là tuyệt tác của tạo hóa, hài hòa cộng hưởng, thăng hoa đến tuyệt đỉnh trong dàn đại hợp xướng. Tiếng trầm như tiếng sấm mùa xuân. Tiếng thanh như gió reo, lá hát, như tiếng khèn xuân cất cao những cung bậc bất tận của tình yêu. Có âm thanh du dương, khoan thai nhẹ nhàng như cánh bướm dập dờn trong vũ điệu giao duyên, lúc réo rắt sang trọng kiêu kỳ, nhưng thầm kín cao sang. Có tiếng thì thầm như dòng nước mang trong mình bao tâm sự, như lời của đôi bạn tri âm tri kỷ. Lúc ríu ran như bầy trẻ nhỏ vô tư, hồn nhiên trong khúc đồng dao trong sáng. Khi rộn ràng hùng tráng như tiếng kèn xung trận, trầm hùng như nhịp cồng chiêng ngày hội, như những bước xòe nồng say gọi lúa lên xanh, ủ hồng bếp lửa mùa hạnh phúc. Lúc thổn thức, day dứt như nỗi nhớ người thương khi gió lạnh về. Khi như lời duyên e ấp của đôi người yêu nhau hẹn ngày xây tổ; có lúc như khẩn cầu chân thành, đắm đuối, khi hân hoan niềm hạnh phúc ngập tràn. Có lúc ấm áp như nắng xuân hồng gọi cây đời xanh mãi. Có khi chợt lặng đi như lắng chút suy tư trải nghiệm, bi tráng, rồi chợt vút cao lảnh lót tiếng vĩ cầm réo rắt ngân một khát vọng xanh. Lúc mong manh tơ mảnh, như một lời nhắc nhở phải biết trân trọng nâng niu những gì đã có… Có lúc cả dàn nhạc say mê hùng tráng trong khúc cao trào, lúc tất cả lặng đi nhường cho giọng ca tuyệt vời của giọng opera lĩnh xướng. Bầy chim thi nhau trổ tuyệt kỹ trước bình minh, kể cho nhau bao câu chuyện buồn vui của những tháng ngày trong hành trình nhân thế, trao nhau muôn lời yêu.

Trong tiếng chim rừng Tây Bắc như có ánh ban mai tràn ngập núi rừng, sáng trên ngọn cỏ biếc, ngời trên sóng bạc, nâng áng mây hồng e ấp đầu non. Có ngọn gió thơm trên áng tóc mây như làn rêu suối. Có những tà áo chàm thấp thoáng, nếp váy thổ cẩm đong đưa, mặn mòi thương nhớ. Có bóng ô hồng tinh nghịch nghiêng chao. Có tiếng đàn môi, kèn lá thầm thì tình tứ. Có nụ cười hàm tiếu hoa ban. Có dáng mẹ áo bạc mầu yêu thương trăn trở. Ăm ắp ánh vàng ruộng bậc thang dập rờn sóng nhạc mùa no ấm. Có tiếng gió reo vi vút đầu non. Có tiếng róc rách của những dòng suối hát. Có tiếng thác đổ ầm vang… Tất cả hòa quyện vào nhau, hài hòa cộng sinh trong sự sinh tồn và phát triển của tạo hóa.

Đã bao lần được thả hồn trong tiếng chim rừng tuyệt diệu của ngàn xanh Tây Bắc, vậy mà lần nào tôi cũng tràn ngập một cảm giác lạ lẫm, nguyên sơ; chẳng khác nào tuổi hoa niên, một sáng mùa xuân, chợt nhận ra trong ánh mắt trong veo của cô bạn gái tóc đuôi gà những tia sáng bồi hồi, lạ lẫm, như một dòng điện nhẹ lan tới từng tế bào cơ thể, thắp lên ngọn lửa tình yêu trinh trắng đầu đời. Tiếng chim như nối đất với trời, như sợi tơ hồng se bao duyên thắm, đánh thức vạn vật, đơm hoa kết trái dưới ánh mặt trời.

Ôi! Có bản nhạc nào tài hoa, diệu kỳ, bất tử đến say lòng như thế! Tiếng chim như những giai điệu thần tiên, đánh thức những hạt mầm tốt đẹp trong ta, để rồi ta chợt nhận ra: Cuộc sống vốn tươi đẹp biết nhường nào, chỉ có điều ta có biết trân trọng nâng niu và phấn đấu vì một ngày mai tươi sáng hơn hay không? Tiếng chim như hòa vào máu thịt, làm ta thêm quí trọng sự hiện hữu của chính ta trên đời, để rồi trong buổi sáng tinh sương này, ta nhủ thầm một câu hỏi lớn: Ta đang sống hay ta chỉ tồn tại như chiếc bóng lờ mờ?

Trần Vân Hạc
Hà Nội

Gió chiều thênh thang

Kính Tăng Anh M.V.K

    Bảy mươi , đã quá nửa chặng đường
    Anh vẫn lặng thầm những yêu thương
    Vẫn ngân trong nắng lời mây biếc
    Vẫn thắp môi nồng một khóe hương

_ Bà ơi ! Sao hôm nay bà cho con mặc áo mới vậy hở bà ?

_ Ừ hôm nay là ngày mừng thọ ông con đấy. Con mặc áo mới để chúc ông con mạnh khỏe sống lâu nh .

_ Vâng ạ ! Bà ơi ! Thế con đi chúc ông bây giờ nhé.

_ Chưa đâu con ạ. Phải chốc nữa đã. Bây giờ con đi chơi đi, ngoan không được làm bẩn áo đấy nhá.

_ Vâng ạ !

Thằng bé trả lời rõ to rồi chân sáo nhảy ra cửa, nó líu lô với những đứa trẻ bên ngòai về điều mà nó vừa được nghe bà nó nói. Trong nhà, bà nó mỉm cuời khẽ lắc đầu rồi đi vào trong bếp.

_ Gần xong chưa hả con ?

_ Cũng sắp xong rồi mẹ ạ. Không biết bố con đã chuẩn bị gì chưa ?

_ Để mẹ lên xem ông ấy đang làm gì.

Bà Đoan chậm rãi đi lên từng bậc cầu thang. Lên đến tầng thứ ba thì bà phải dừng lại nghỉ một chút. Ngôi nhà mới xây cao đến năm tầng, các con đã chu đáo làm cả thang máy để ông bà lên xuống cho đỡ mệt, nhưng ngọai trừ những lúc có việc cần, hay sức khỏe không tốt lắm thì hai ông bà mới dùng đến nó. Bình thường thì đi cầu thang bộ, cũng coi như một cách thể dục cho khỏe nguời. Bà Đoan bước tiếp lên tầng thứ tư. Đây là tầng dành cho ông bà. Ở trên cao, vừa thóang mát lại vừa yên tĩnh, một khỏang sân trước được thiết kế cho một khỏang vườn xanh nho nhỏ, đủ để ông thư thái lúc thưởng hoa, tỉa lá. Tầng lầu được ngăn làm ba phòng, một phòng ngủ, một phòng khách và một phòng làm việc của ông. Đứng trước cửa phòng làm việc của ông, bà gọi khẽ :

_ Ông ơi !

Không có tiếng trả lời, bà lại gọi lần nữa cùng vài tiếng gõ vào cửa, vẫn không có tiếng ông trả lời, bà đẩy nhẹ, thấy cửa không khóa, bà xô rộng ra, nhìn vào trong chỉ thấy những giá sách, và những quyển báo, tap chí cùng những xấp bản thảo trên bàn như mọi ngày, nhưng chẳng thấy ông đâu. Ông đi đâu vậy nhỉ ? Và đi từ bao giờ ? Lúc sáng sớm bà có thấy ông tập thể dục trước ban công, bà đã pha một ấm trà để sẵn trên bàn, rồi cùng con cái tíu tít chợ búa, không biết ông đã ra khỏi nhà từ lúc nào. Chắc ông đi mời thêm một vài ông bạn già nào đó thôi. Bà Đoan tần ngần một chút rồi quay trở xuống. Bà đang còn phải bận tâm với sự chuẩn bị lễ mừng  ông Đoan vừa tròn thất thập.

Ông Đoan vẫn ngồi nguyên một chỗ từ lúc mới ghé xuống. Chiếc ghế đá này không biết đã bén hơi ông bao nhiêu lần rồi. Ông đã từng ngồi trên nó mà ngắm những đổi thay của đường phố Hà Nội, con người Hà Nội, nếp sống Hà Nội. Có những điều ngỡ như ông dã rất thuộc, vậy mà vẫn cứ lạ lẫm mỗi khi chạm phải. Như cái hồ Hòan Kiếm này. Nó đã tồn tại cả nghìn năm , và nó vẫn tiếp tục tồn tại với những bất biến của nó. Nó đã trở thành một biểu tượng đặc trưng của đất Hà Thành, là một góc nhỏ rất thiêng liêng trong lòng mỗi người con Hà Nội, để dù có xa mãi tận nơi đâu, thì chỉ cân nhìn lại nó là đã như thấy lại cả một cội nguồn.

Người người qua lại, xe cộ dập dìu, Hà Nội bây giờ đã xuất hiện trên đường phố những chiếc xe bốn bánh lướt êm trong gió nhiều hơn  những tấm áo đa dạng cả về những kiểu dáng và màu sắc cũng nhiều hơn. Không còn là một Hà Nội xa xưa với những manh áo nâu cũ kỹ, với những chiếc xe đạp kẽo kẹt tiếng sên líp.  Ông say sưa trong sự liên tưởng, miên man trong suy tư và ngắm nhìn. Những đổi thay trong những nếp nhà Hà Nội, trong những sinh họat đời thường của người dân Hà Nội, và cả những hối hả của một Hà Nội mới hôm nay. Một Hà Nội từng thương tích, từng lành lặn, từng khắc khỏai va cũng từng nôn nao. Một Hà Nội đang kiêu hãnh ngẩng cao đầu, đang vững chãi đi lên từng bước, đang đem lại từng ngày từng ngày rạng rỡ không chỉ cho con người Hà Nội mà cho cả một dân tộc Việt Nam. Nhưng ông vẫn thây nó không có gì thay đổi trong ông, như một cô gái thuần Việt, nết na, thùy mỵ, dù có khóac bên ngòai những sắc màu lạ lẫm, cao sang thế nào đi nữa thì cũng vẫn không thể mất đi cái vẻ tự thân vốn có. Cái vẻ nền nã, lịch lãm, thanh tao và cả một chút mơ mộng, tất cả đã làm nên một nét riêng cho cả con người và cảnh vật nơi đây. Chính vì thế mà bất kể ai đã từng may mắn được sinh ra ngay trên chính mảnh đất này đều mặc nhiên ghi sâu một thứ tình cố hữu trong tận cùng tiềm thức.

Ông đã sinh ra tại đây, đã lớn lên, đã thấm đẫm đến từng tế bào hơi thở Hà Nội, đã từng tê buốt những mùa đông, dã từng khô cháy những mùa hạ, đã từng ngơ ngác những mùa thu, và cũng đã từng hồng thắm những cánh hoa đào mùa xuân. Cho dù đã có đến gần hai mươi năm ông là giáo viên trên một vùng núi tỉnh Lào Cai, cũng có thể gọi đó là một mái nhà thứ hai của ông, nhưng khi trở về lại Hà Nội thì mọi cảm xúc trong ông vẫn còn nguyên.

Ông Đoan khẽ trở mình, thở nhẹ một làn hơi.Hôm nay là ngày ông tròn bảy mươi tuổi, ông đã từng trải qua sáu lần tròn số, những lần trước, ông cũng luôn có một cảm giác lênh đênh, man mác khi đời người lại bước qua thêm một khấc thời gian. Nhưng những cảm giác ấy, không có nhiều nghĩ suy trong ông như lần này. Ngày nay, với mức bình quân tuổi thọ được tăng trưởng theo đà sống của xã hội, thi cái tuổi bảy mươi đã không còn là sự “xưa nay hiếm” nữa, nhưng “tri thiên mệnh” thì đúng. Một đời người, đến giờ phút này, ông đã đi qua biết bao thăng trầm của cuộc sống. Làm sao có thể đếm hết được những gì đã xảy ra, Hàng nghìn, hàng triệu những sự kiện lớn nhỏ, hàng nghìn hàng triệu những vui buồn được mất. Người ta chỉ có thể nhớ những sự kiện lớn, những vui buồn được mất rõ rệt của một thời đọan nào đó, những điều mà có thể là một sự đánh dấu chính yếu cho những bước ngoặt đời người. Còn lại thì tản mát theo những trôi chảy của thời gian, như một vốc cát trên bàn tay, dù có cố khép chặt những ngón tay thế nào đi nữa, thì nó cũng vẫn lọt qua từng kẽ, để rồi theo gió đi vào hư không. Nhưng với ông, có những nhỏ nhặt vẫn còn được lưu giữ, nó hiển hiện thành những con chữ trên những trang viết. Những con chữ có một sức hàm chứa đến vô tận những chắt chiu, những trải nghiệm, những rút tỉa từ bao cuồng xoay trong vụ trụ nhân sinh này.

Với hàng chục đầu sách, ông đã gói gém biết bao ước nguyện, biết bao trăn trở, biết bao ngọt đắng của một kiếp người. Những thực tại, những phù hư, những khôn ngoan, những ngốc dại. Có những điều từ ở chính ông, có những điều ông nói hộ người. Những điều không nằm ngòai bản thể của cuộc sống.  Người đời vẫn cửa miệng “May hơn khôn”. Mà những cái có thể gọi là “May” ấy thì có được bao nhiêu ? Và cái lẽ dại khôn ở đời thì biết nói sao cho rành mạch. Khôn ở ngừơi này lại là dại ở người kia, và ngược lại. Suy cho cùng, con người ta chỉ thường quan tâm và hành xử theo những gì mà bản thân người đó cho là giá trị. Vì thế mà các giá trị của cuộc đời thường không có một chuẩn mực nhất định, nó lại thường thay đổi theo từng giai đọan lịch sử, đôi khi nó lại chỏi nghịch nhau trong những quan niệm trái chiều, vì thế mà nảy sinh ra bao điều oan trái, bao nỗi khóc cười. Để ngòi bút của ông cứ thầm lặng đi theo mà ghi chép lại . “Anh ạ ! Anh đã từng nói , đời sống con người không giá trị ở con số tháng ngày, mà nó ở những gì mà ta đã sống, đã làm, đã góp vào cái giá trị chung của cuộc đời này

Ông nhớ, ông nhớ chứ, không phải là những hào phóng ngôn ngữ tôn vinh của những giải thưởng trong và ngòai nước, mà là sự ghi nhận của người đời với những moi gan rút ruột của ông. Ông cũng quá hiểu đằng sau sự hào phóng ấy là gì. Ông đã đi qua, đi qua nhiều lắm rồi những cái gọi là “thói thường” của nhân thế. Có là gì đâu khi vốn dĩ cái đích lớn nhất của con người là được đứng lên một cái bục cao nào đó. Chỉ khác nhau ở chỗ, người ta đi đến đó bằng sự bình thản từ nội tại của chính mình, hay bằng sự vội vã lấn chen nhau qua những cái cầu vượt. Người ta vẫn nói “Cuộc đời là một sân khấu lớn, mà mỗi người vừa là diễn viên, cũng vừa là khán giả”, nhưng ông nghĩ khác hơn một chút : “Đời người như tham dự một phiên chợ, mua mua bán bán, khác nhau là khi tàn buổi chợ, ra về với thứ gì trên tay”.

Cho đến lúc này, ông chưa bao giờ phải hối tiếc nếu những sai phạm của mình gây tổn thương trầm trọng cho ai đó, và ông cũng không phải hổ thẹn với những gì ông có được vì đã không tì lên vai người khác.Ông vô cùng cảm ơn duyên mệnh đã cho ông có được một chút thiên tư, để có thể thấu tận những dở hay của người đời, nhờ thế mà cuộc sống cũng đầy đặn phong vị hơn. “Anh đã sống đúng nghĩa với một chữ NGƯỜI viết hoa. Đó không phải là một lời nói dua nịnh của một người hòng được ở ông một chút lợi danh thường tình, mà ở một tấm lòng, một chân tình, một sự đồng cảm ít ỏi mà ông đã gặp được trên những chặng đường. Chỉ là một cô học trò nhỏ bé, một trái tim có cùng nhịp đập chí hướng với ông, thời gian tương ngộ chỉ có thể được tính bằng những tích tắc ngắn ngủi của chiếc đồng hồ, nhưng cảm nhận và tồn tại bền bỉ trong suốt cả chục năm trời trong một hòan cảnh địa lý cách biệt, thì không cái gì cân đong được. Ông vui vì điều đó, bởi bao tâm lực trong phạm vi chức trách, tâm huyết cho sự truyền thụ không chỉ là tri thức, mà còn là sự vun xới xây đắp nên những nhân cách, có được nhiều lắm đâu những tâm hồn, những trái tim đón nhận ngọn lửa nhỏ từ ông. Với ông, cái thực sự đáng quý, thực sự giá trị nhất trên đời này, chỉ là sự chân thành yêu mến mà con người có thể mang đến cho nhau.

Trong hành trình dằng dạc của một đời người, có hàng vạn, hàng vạn những con người gặp nhau rồi đi qua nhau, có đọng lại được trong nhau chỉ là rất ít.Và ông nghiệm ra một điều “ chỉ có những người đã từng phải chịu sự thua thiệt, từng phải chịu đựng những bất công vô lý của tạo hóa, của xã hội, thì mới biết trân trọng những giá trị đích thực của cuộc sống, những giá trị không thể quy đổi ra những thứ vật chất thông thường. Còn những người số phận may mắn cho họ được hưởng những ưu đãi một cách đương nhiên mà chẳng gặp phải một trở lực nào, thì họ rất dễ trở nên hợm hĩnh, hợm hĩnh một cách ngu ngốc, và cũng dễ trở nên ác tâm, ác tâm một cách tự nhiên .”

Cô học trò nhỏ bé của ông cũng như ông, là người thuộc vế trên. Vì vậy mà có những sẻ chia sâu sắc với nhau.Có thể gọi đó là một cái may vậy. Lá thư gần đây đến đã đem đến cho ông một niềm vui và chút gì nhẹ nhõm. Cô bé (dù đó là một người phụ nữ đã ngòai bốn mươi, nhưng với ông, cô ấy vẫn mãi là một cô bé) đã đọc rõ cảm trạng của ông. Một thứ cảm trạng của lứa tuổi. Thực ra thì cũng không có gì là quá khó hiểu, xong với một người trong lĩnh vực tư duy thì cách hiểu có khác hơn, thâm trầm những góc cạnh hơn, và cũng là san sẻ được nhiều hơn. Những lời lẽ đầy xúc cảm trong thư cứ lởn vởn mãi trong ông . “Em biết, trong những ngày tháng này, anh có rất nhiều những suy nghĩ, mà phần lớn là những điều không vui. Đó là cảm trạng phải có khi cái thời đọan phải đến với mỗi người. Con người sinh ra, như đã có sẵn một lập trình, ai rồi cũng phải nhận đủ những, chua cay đắng ngọt của cuộc đời, và ai rồi cũng phải đi về một nơi. Nơi ấy không ai chứng minh được nó có thật hay không ? Người ta chỉ biết nói về nó như một dự ước, phần nhiều mang tính cảnh báo cho những người có bản chất không tốt trong thế giới hiện tại này. Vì thế, em chỉ tin vào những gì đang có thật trước mắt Rằng một đời người chỉ thực sự đáng sống khi không phải hối tiếc, không phải dằn vặt lương tâm lúc về chiều. Anh đã là một người như thế. Anh thực sự là một đốm sáng giữa màn đen cho em hướng đến. Cho dù những người như anh và em luôn phải gánh chịu những vùi dập của cuộc đời, khi ưu thế thuộc về số đông, nhưng ta vẫn bước đi bằng những bước chân rắn rỏi, bằng một phong thái đĩnh đạc, trong một tư thế đàng hòang. Anh ạ, vẫn biết mỗi chúng ta đều không thóat khỏi quy luật của sự sinh tồn, thì buồn bã mà làm chi, nghĩ ngợi mà làm chi. Cho dù ngày mai sẽ là một tấm màn đen ụp xuống, thì hôm nay ta vẫn vui cười, hồ hởi mà đón nắng đang lên. Chung quanh anh vẫn tràn đầy những tình yêu thương nồng đậm, ngày càng ấm áp hơn, tha thiết hơn. Vậy thì anh hãy cứ mỉm cười mỗi sáng thức dậy, hãy cứ ân cần nắm những bàn tay, và đừng phí hòai thời gian cho những gì chưa đến, hãy chỉ biết hôm nay và hôm nay. Thực ra con người ta chỉ có hai khái niêm thời gian thực sự, đó là hôm qua hôm nay.Cái gọi là ngày mai ấy vốn chỉ là một khái niệm trìu tượng. Nó không có mặt mũi cụ thể. Hôm qua là những gì ta không lấy lại được, hôm nay là những gì ta đang có thể sờ nắm được. Em biết, không phải anh không biết những điều này, nhưng trong một cảm trạng, đôi khi anh quên mất nó đi, nên em xin phép được nhắc lại phần nào, hy vọng anh sẽ có được một trạng thái tinh thần tốt nhất, để vẫn có thể trao gửi những ước vọng tốt đẹp của cuộc sống này cho thế hệ chúng em, và để đón nhận những món quà cuộc sống mà anh đang có, trong lòng tay thân thương của những người người, trong đó có em, có cô học trò nhỏ bé miền xa của anh này.”

Đúng, cô bé nói không sai, ông đã từng nói những lời tương tự với một vài người, nhưng khi cần ông lại quên nói với chính ông. Trong ông bỗng ngồn ngộn một thứ cảm xúc, cái thứ cảm xúc diệu kỳ mà ông đã từng được trao đi, và từng được nhận lại. Cái thứ cảm xúc ấy như một nồi nước thơm đang bốc hơi nghi ngút, tỏa khắp tâm hồn ông một niềm thư thái lâng lâng. Ông nhớ đến rất nhiều gương mặt, những gương mặt long lanh những ánh mắt cười, ông nhớ đến những trang bản thảo còn đang bề bộn, những con chữ ngoan ngõan xếp hàng ngay ngắn dươí từng ngón tay ông. Ông nhớ đến những nụ hoa sáng nay vừa hé, nhớ cả tiếng hót tươi tắn, lảnh lót của chú chim họa mi lách chách trong lồng mỗi lúc ông cho ăn. Ông mỉm một nụ cười.

Chiều đã hơi muộn, những tia nắng đang nhạt dần, con gió đầu đông se se, khiến ông Đoan hơi rùng mình, kéo lại tầm khăn len quàng cổ, cũng là một món quà của cô học trò nhỏ ấy gửi ra. Ông lại mỉm cười, tâm trạng nhẹ nhõm, sực nhớ đến những gì sắp diễn ra trong ngôi nhà ấm cúng đang quây quần cả ba thế hệ. Ông thong thả đứng dậy, khẽ vặn mình cho đỡ mỏi, rồi ông chậm rãi từng bước chân. Chợt ông dừng lại, đôi môi lại hé ra, vì phía trước kia, đang bước ngược về phía ông, là bà với cái áo len dầy trên tay, với những bước đi nong nả quen thuộc, với vóc người thanh mảnh, nhẹ nhàng đã từng hôm sớm cùng ông suốt mấy chục năm dài. Bà đến cạnh ông, ánh mắt dịu dàng, ấm ngọt, chẳng nói một lời nào, bà ân cần khóac tấm áo lên người ông. Rồi vẫn im lặng, bà nhẹ bước bên ông. Những chiếc lá lăn tăn đuổi nhau trên đường, một làn hương thoang thỏang vờn quanh. Hà Nội khi chiều xuống, nghe thân thương ấm áp chi lạ.


Đàm Lan

Khoảnh Sân Nhà Tôi

Lúc tôi mới làm nhà trên phần đất được cấp, nhiều người “khuyên” nên làm chồm ra phía trước để tận dụng đất. Tôi chỉ lịch sự thưa không có tiền nên chỉ làm căn nhà nhỏ thôi. Thật ra lúc đó nhà hàng xóm bên phải tôi làm trước, đã chừa lề đường có đến 6,7 mét. Mình làm “chồm” ra trước nhà họ thì còn đạo lý gì. Nhưng tôi không dám nói thật vì sợ mọi người bảo là “hâm”. Nhưng cũng nhờ thế mà sau khi qui hoạch đường, tôi còn được khoảnh sân trước nhà để khách khứa khi đến chơi hay các cô cậu học trò khi đến học thêm có chổ để xe máy .

Khoảnh sân nhỏ thôi, nhưng có cả một khoảng không gian xanh mát mắt. Này nhé, sát tường là cây ngọc lan trắng. Đến mùa hoa, ngọc lan nở trắng và thoảng hương thơm ngát. Những đêm trăng, trời không lạnh, tôi thường mở toang cửa tận hưởng mùi hương thơm dịu nhẹ của hoa. Cây ngọc lan này do bố vợ tôi chiết và mang vào trồng từ khi nhà làm xong năm 1985. Lúc đầu cây ủ rũ, khu xóm mới lại chưa có nước máy nên bố vợ tôi hàng ngày phải đạp xe đèo hai can nước vào tưới cho cây. Có lẻ vì cảm tấm lòng của người, cây lớn dần, rồi phát tán che phủ cả một khoảng sân. Đến mùa nở hoa, hoa ra từng đợt e gần cả trăm hoa, trắng rực rồi cùng rủ nhau rụng trắng cả mặt đất. Có đợt vợ tôi đi công tác xa hơn hai tuần, đúng mùa hoa nở trắng. Buổi sáng quét sân, gom hoa rụng trắng sân vào gốc cây tôi chợt nghĩ ra mấy câu thơ ngắn:

Em đi nhà chợt vắng,
Hoa trắng rụng đầy sân.
Giường thì bổng rộng hơn.
Người ra vào ngơ ngẩn.

Năm bố vợ tôi mất, cũng vào mùa hoa nở, nhưng cây bổng dưng ủ rũ, lá quăn lại và hoa chưa nở bung đã teo lại rồi rụng. Con trai lớn tôi bảo “chắc nó đi theo ông ngoại quá , Ba à”. Tôi phải lén xé một mãnh khăn trắng, khấn trước di hài bố vợ tôi, rồi đem khăn về quấn quanh gốc cho cây chịu tang người. Mấy tuần sau khi bố vợ tôi mồ yên mả đẹp, lá tươi dần, rồi cây nứt nhiều cành con và dần dần hồi phục. Bây giờ đã gần 25 năm mà cây vẫn ngày càng phát triển. Đêm đêm tỏa hương ngát cả khu xóm.Vợ tôi mỗi khi có dịp lại khoe với mọi người, “Cây ngọc lan này cùng tuổi với Ti út nhà mình đấy”.

Sát trụ cổng bên trái, không hiểu từ đâu, mọc lên một cây vải thiều. Thưở cây còn nhỏ, tôi cột một khoanh thép vòng quanh thân và xâu vào đầu một sợi dây xích để xích con chó “nâu” mỗi khi nhà có khách hay khi chúng tôi có việc đi. Tối mồng 3 tết năm ấy, con trai tôi đi chơi về khuya, mở cổng để chó chạy ra đường mà quên gọi về. Sáng tìm khắp không thấy, biết chó bị bắt trộm, vợ tôi buồn suốt mấy tuần. Sợi xích vẫn để yên đấy. Không ngờ cây lớn nhanh, thân lấp cả khoanh thép rồi lấp cả 3, 4 vòng xích. Bây giờ sợi xích vẫn lủng la lủng lẳng với khoảng mươi vòng xích còn lại cứ như từ trong cây chui ra. Cây vải ngày càng lớn, phủ bóng che gần hết nữa khoảnh vườn, nhưng lại không ra quả. Tôi thường đùa với vợ, “tại nhà mình đẻ 3 thằng đực rựa, nên cây cũng là đực rựa luôn, không thèm ra trái.” Đã không trái thì chớ, đến mùa cây thay lá, lá rụng đầy sân, mỗi ngày quét ba, bốn lần vẫn không xuể. Nhiều người hàng xóm cứ bảo sao không chặt đi. Nhưng sao lại phải chặt đi chứ? Cây không chỉ che mát cho khoảnh sân nhà tôi mà còn là nơi lủ chim chóc hay bay về đậu, hót véo von. Nhiều nhất là lủ chim sẻ. Ríu ra ríu rít, đôi khi rượt nhau la chí chóe. Có hôm tôi còn nghe cả tiếng chim sơn ca du dương vào buổi sáng sớm, hay chim chào mào léo nhéo gọi bạn tình.

Cây còn là nơi tôi treo mấy chậu lan học trò tôi tặng mỗi dịp tết đến hay vào ngày nhà giáo Việt Nam. Hơn chục chậu lan được móc lủng lẳng trên mấy cành ngang thay nhau lần lượt ra hoa. Chậu lan này có lá to, hoa trắng muốt. Chậu lan kia chỉ có đúng ba lá, nhưng đã ra đến năm lượt hoa và mỗi lần đều ra hai nhánh. Những cánh hoa đã nở có màu vàng như nắng thu, rãi rác những mãng tím và nụ cũng màu tím. Những nụ chưa nở thì cánh cuộn tròn trông xa như hạt mù u.
Một chậu lan khác thì có hoa màu tím nhạt với những đường gân tròn trắng trông như những vòng tròn có chung một điểm tiếp xúc, vòng trong nhỏ, vòng ngoài lớn dần theo cánh hoa. Chậu lan phía trong cho hoa màu tím thẩm làm tôi nhớ những tà áo dài của các o Huế, à không, nhớ bảng tên các o đệ nhứt Đồng khánh Huế năm nào. Còn cây lan, không phải chậu, có hoa đặc biệt nhất là cây lan được con trai út tôi mang từ nhà ngoại về “cột” vào cây vãi thiều. Khách đến chơi cứ ngỡ là lan rừng. Hoa nhỏ, vàng điểm trắng, mọc thành chùm, thả xuống như là “cành liểu rũ bên bờ hồ Gươm”.
Tôi chẳng biết tên của các loài hoa, chỉ gọi chậu lan trắng là “Thùy Dung” (bởi do nhóm học thêm 12 có hai cô bé đều tên Thùy Dung tặng), chậu lan vàng là Thúy Muội (vì do hai cô sinh-viên-cô-giáo Thúy và Muội) tặng, chậu lan tím là Thu Hằng (vì do cô học trò cũ tặng vào ngày sinh nhật “bố” năm ngoái), chậu lan “liểu rũ” là Ngọc Kính (tên cậu út nhà tôi). Những chậu lan khác là chậu Bích Thành (chậu này năm nay ra hoa muộn), chậu Thanh Thảo (chậu này lá sum suê, chỉ ra hoa một lần lúc Thảo cùng chồng và con gái ghé thăm rồi không thấy ra hoa nữa), chậu Quế Lâm 18, chậu Quyên Quyên 31 v.v.. Mỗi chậu đều là một loài lan khác nhau, chẳng có chậu nào giống chậu nào.

Cũng trong khoảnh sân nhà tôi, cạnh cửa sổ phòng tôi còn có một cây hoa tím rất đẹp, từng nụ nhỏ mọc thành chùm, rụng dần từ dưới lên ngọn, Hôm bà tổ trường dân phố đến xin một nhánh về trồng vì thấy hoa “lạ và hay quá” hỏi tôi là cây hoa gì, tôi bảo là cây hoa “Huỳnh Huệ”. Bà tổ trưởng cứ ngẩn người ra bảo sao hoa thế này mà là huệ được. Tôi chỉ tủm tỉm cười nhưng không nói cho bà biết cây này do đích thân người đồng nghiệp thân thiết nhất của tôi đã ươm, nuôi lớn và mang vào tận nhà cho tôi. Lúc đầu tôi trồng trong chậu, nhưng thấy cây phát triển tốt, cậu Út nhà tôi bứng ra trồng vào bồn bên cạnh cửa sổ. Đối diện với cây “Huỳnh Huệ” ở bên trái là cây “lá lủng” vợ tôi lấy giống từ nhà cô bạn Quế Lan, mang về trồng. Lúc đầu tưởng không sống được, không ngờ cây vươn lên rất mạnh vào mùa mưa và nay leo quanh trụ trước mái hiên nhà, như những lá trầu to lủng lổ chổ. Hôm đầu tiên vào học thêm một đứa học trò nhỏ lớp 9, cứ xăm xoi rồi trầm trồ “Thầy ơi, thầy làm răng mà bấm cho mấy cái lá ni lủng lổ hay rứa?”. Giọng Huế chay của cô bé làm tôi nhớ quê chi lạ. Tôi trêu, “Ừ, cái lá ni tự nó có lổ như rứa rồi. Thầy đưa từ ngoài quê mình vô đó. Quê mình nghèo, người mặc áo không lành nên là cũng rách lổ chổ rứa đó con.” Vậy mà cô bé cứ tin là thật. Em xin mấy lá, ép vào bộ sưu tầm sinh vật của mình và ghi chú đúng những lời tôi nói. Hôm cô giáo dạy sinh vật của em, cũng là một học sinh cũ của tôi, điện hỏi có phải thế không, tôi vừa buồn cười, vừa cảm động. Và tôi tin rằng không phải “học sinh bây giờ ranh ma quá!!!” như mọi người vẫn than phiền. Ít nhất bên cạnh tôi vẫn còn những cô bé 15, 16 ngây thơ và biết rung động trước nỗi đau của những người nghèo khó như em.

Dọc bức tường ngăn nhà tôi và nhà cô giáo Hà hàng xóm, còn có một đôi mai: một cây mai rừng và một cây mai tứ quí vợ tôi đã lấy giống từ “nhà bà ngoại” vào trồng. Tết năm ngoái cây mai rừng đã cho những nụ hoa đầu tiên, còn cây mai tứ qúi thì từ ba năm nay đã điểm xuyết cho khoảnh vườn nhỏ của tôi những nụ mai vàng quanh năm.

Trong khoảnh vườn nhỏ của tôi còn có những chậu hoa dễ thương và ấm tình nghĩa. Chậu cây lá
“ Đoan Thư ” cô đồng nghiệp trẻ đã tặng tôi trước ngày em chuẩn bị đi học thạc sĩ như một lời hứa “con sẽ mãi xanh tươi và phát triển như chậu cây này”. Chậu lan “Thúy Hiền” mỗi dịp tết lại trổ một cành hoa đỏ thắm, vươn cao như lời hẹn “con sẽ mãi nối nghiệp của Thầy”. Chậu hồng “Thu Hà” tôi cắm từ bó hoa hồng hai mẹ con em đã mang đến mừng tuổi tôi lúc gần nữa đêm 30 tết trong những ngày em đang gặp đổ vở hạnh phúc riêng tư. Những bông hồng lúc em tặng tôi cũng chỉ nhỏ thôi, nhưng khi được cắm xuống đất, không hiểu sao cánh bổng nở to lạ thường. Mỗi lần hoa nở tôi nhìn nụ hồng lớn lên từng ngày và cầu mong cho cuộc đời em sẽ có một kết thúc có hậu. Đặc biệt nhất trong số các chậu cây này là chậu Hồng Môn, với bốn lá môn màu lục non ngã vàng khi nắng chiều chiếu xuống và cánh hoa màu đỏ hồng bao quanh, bảo bọc nụ hoa nhỏ như một nhánh thủy tiên hay phật thủ. Bảo Thùy, một học trò nhỏ của tôi ở Cao Đẳng Sư Phạm, trước khi từ giã Buôn Ma Thuột để xuống thành phố Hồ Chí Minh tìm cơ hội học tiếp, đã khệ nệ mang lên kèm lời nhắn “Ông nội con bảo đây là cây Hồng Môn. Ông biểu con mang lên biếu Thầy và xin phép Thầy cho con được gọi Thầy bằng ‘Bố’”. Tôi thật sự ngỡ ngàng và xúc động. Xúc động vì mỗi lần sửa bài trên mạng cho em, tôi vẫn gọi đùa em là “ Chổ này sai rồi ‘con gái’, phải sửa như thế này ..”. Không ngờ em đã tự nhận mình là con gái tôi, lại còn kể cho cả ông nội em, người mà tôi chưa từng gặp mặt, nghe chuyện này để ông gủi tặng tôi chậu Hồng Môn này. Phải chăng ông muốn gủi gắm với tôi rằng “Cổng trường sư phạm” phải luôn luôn là Cổng Đỏ và nhắn nhủ tôi hãy cố đi trọn con đường nghề tôi đã chọn và sống hết mình trong những tháng ngày cuối cùng của nghiệp giáo đã trót vương?

Khoảnh sân nhà tôi gắn bó với tôi không chỉ vì ở đó có những kỷ niệm của những người tôi yêu thương trong gia đình tôi, mà còn vì ở đó có những kỷ vật của những đồng-nghiệp-người-bạn-lớn và của những học-trò-đứa-con-nhỏ của tôi, những người đã làm cho tôi thêm tin hơn vào nghề dạy học và yêu thêm cuộc sống vô thường này.

Đặng Ngọc Thanh Hải

Trái tim giàu có

Cuộc triển lãm thành công ngoài dự tưởng.

Suốt một tuần liền không ngày nào gian sảnh lớn không chật ních người. Khách đến thuộc mọi tầng lớp, đủ mọi lứa tuổi. Từ bậc trí thức cao niên đến lớp học sinh còn quàng khăn đỏ, từ công chức cổ cồn cà vạt đến dân lao động áo đẫm mồ hôi, từ các cô gái tóc nâu môi trầm đến những bà giáo đã nghỉ hưu dáng vẻ lịch sự. Phải nói chưa có cuộc triển lãm nào -dù là của câu lạc bộ nỗi tiếng gồm những nghệ sĩ tên tuổi bời bơi – thu hút nhiều người xem, ghi lại cảm tưởng chân thành như thế. Đặc biêt họ đều đến bằng nét mặt tươi tắn và ra khỏi phòng với nét mặt khác – bàng hoàng, ngơ ngác, xót xa, căm phẫn. Có người khóc.

Chắc các bạn đang muốn biết đây là cuộc triển lãm gì, do ai tổ chức, những ai tham gia.

Xin thưa: triển lãm ảnh, hội Nghệ sĩ nhiếp ảnh tổ chức và chỉ một tác giả tham gia.

Nói cách khác là toàn bộ tác phẩm trưng bày đều do một tay máy thể hịên, lại là một tay máy nghiệp dư, chưa từng nhận tước hiệu nào về loại hình nghệ thuật gần gũi nhưng quá tốn kém này và chỉ toàn ảnh đen trắng thực như cuộc sống, không hề có dấu vết của kỷ thuật kỷ xảo.

Các bức ảnh có nội dung thế nào mà tác động đến vậy ?

Có lẽ các bạn đang nóng lòng muốn biết, nhưng xin hãy làm quen với tác giả trước đã.

Đó là một bác sĩ, du học Hoa Kỳ từ năm 1970 rồi định cư bên ấy và đã có gia đình.

Sau nhiều năm bằn bặt ông về thăm quê hương. Một lần rồi nhiều lần. Sang đầu thế kỷ mới ông cùng gia đình xin về hẳn. Hiện ông đang sống tại thành phố này.

Về ông, thông tin tôi mới chỉ có vậy.

Khi có cuộc triễn lãm khác lạ nói trên, bị ám ảnh bởi những tấm ảnh, bị thu hút bởi ý tưởng của tác giả tôi nảy ý muốn gặp ông để tìm hiểu thêm, viết một các gì đó nhưng công việc linh tinh của một phóng viên tập sự như tôi đã chiếm hết quĩ thời gian ít ỏi khiến tôi không sao thực hiện được. Sau buổi khai mạc, viết tin xong tôi về miền Tây rồi sau đó theo đoàn các nhà báo và doanh nhân lên cao nguyên trong chương trình 500 phần quà cho người nghèo ở Đắc Lắc. Mọi tin tức ở thành phố, cả chi tiết về cuộc triển lãm tôi kể trên đây đề nhận từ bạn bè qua mobile.

*


Tôi là người gặp nhiều may mắn. Đường học vấn suôn sẻ, gia đình yêu thương.Thích kiến trúc nhưng xui khiến thế nào tôi lại thi và đỗ khoa báo chí. Học với nhiều thầy là những nhà báo giàu kinh nghiệm, đầy tâm huyết, tôi đâm say mê ngành học này. Tốt nghiệp loại giỏi, cộng với những bài viết được đánh giá cao khi đang là sinh viên tôi được nhận làm phóng viên tập sự cho một tờ báo có uy tín. May mắn cũng theo tôi lên cao nguyên và tôi được biết thêm nhiều về ông.

Ngày thứ hai trong chương trình, đoàn đến một làng nghèo của huyện vùng sâu. Sự nghèo khó hiện ngay trên cây cỏ ven đường. Đất cằn khô. Dường như lâu lắm rồi không có hạt mưa nào. Người già khô quắt, trẻ nhỏ gầy gò đen nhẻm đi ngơ ngác dưới nắng. Lác đác vài con bò trơ xương uể oải qua. Đón gói quà gồm hai mươi cân gạo, hai lít dầu ăn, hai cân đường và năm hộp thịt mọi người mừng ra mặt..

Sinh ra, lớn lên học hành bây giờ đi làm việc ở thành phố tôi không ngờ có nơi nghèo đến thế. Quen thấy cao nguyên qua hình ảnh các cô gái duyên dáng mặc váy thổ cẩm; các chàng trai khoẻ mạnh ngực trần vấn khố nhảy múa trên sân khấu hoặc thấy trong phim ảnh những chú voi đủng đỉnh đưa khách du lịch dạo hồ ; những ngôi nhà Rông cao vút ; nhà dài hoành tráng ;những buổi uống rượu cần đông vui, lần đầu tiên chạm thực tế một cao nguyên khác tôi hết sức ngỡ ngàng.

Ngồi giữa khoảnh sân gió bụi cạnh những con người thiếu thốn mọi thứ, cảm xúc của tôi thật khó tả. Tôi thấy mình quá đầy đủ, quá may mắn.Phải làm gì đây – cô gái qua tuổi hai mươi chưa lâu, một phóng viên mới tập tểnh vào nghề trong tôi tự hỏi – để giúp đỡ họ để có thêm nhiều người cùng quan tâm đến vùng đất này theo kiểu nói hiện nay là “đưa cần và bày cách câu cá” chứ không chỉ là “cá” – những gói quà có tính chất cấp cứu dù rất ý nghĩa này?

Trên đường về đoàn ghé thăm Trung tâm Y tế huyện. Với con mắt của một phóng viên mới vào nghề, tôi tranh thủ nhìn ngó ghi chép may ra thu luợm chút gì cho bài phóng sự đang hình thành. Bất chợt tôi gặp nét quen quen trên một tấm ảnh treo trong phòng. Thấy tôi chăm chú nhìn một người phụ nữ dân tộc có mặt ở đó chỉ vào người đàn ông cười hỏi :

_ Co quen không? Co biet ai đây không?

Tôi lắc đầu và nhìn lại lần nữa. Bức ảnh gồm một bé trai gầy ốm, tay che miệng nhưng tôi biết đang cười vì ánh mắt rạng rỡ đang ngồi trên chân một người đàn ông. Vây quanh là ba đứa trẻ khác. Người ấy cũng cười. Nụ cười dễ mến. Tôi ngớ người nhận ra chính là ông, liền bấm ngay mấy kiểu.

Người phụ nữ đến bên tôi, chỉ vào ảnh giải thích bằng tiêng Kinh thiếu dấu :

– Bac si Tâm. Va miêng cho may đưa đo. Ơ xa lam. Lên đây lâu roi.
( Bác sĩ. Tâm.Vá miệng cho mấy đứa đó. Ở xa lắm. Lên đây lâu rồi )

Quay lại văn phòng trạm, tranh thủ lúc mọi người nghỉ ngơi tôi tìm trạm trưởng hỏi thì được biết bức ảnh đó chụp cách đây ba năm trong lần ông lên phẫu thuật cho trẻ bị hở hàm ếch. Ông rất tốt, rất giản dị và rất thương bọn trẻ, lên đây nhiều lần. Hiện ông vẫn đỡ đầu cho cả mấy đứa trong ảnh.

Ngồi trên xe về lại thị trấn, hình ảnh buôn làng cằn cỗi; cả hình ảnh ông giữa bọn trẻ cứ quấn lấy tôi. Thấy tôi lắng lại mọi người xúm nhau trêu :

– Chắc là nhớ phố rồi. Hay đang cảm anh chàng nào đây. Khai mau. Tên gì? Ở đâu ?

Tôi cười nhập cuộc bằng giọng nói bắt chước người phụ nữ lúc nãy khiến họ cười rầm :

_ Tên kho đọc lăm. Chưa quen miêng. Không noi được.

Chợt mobile reo. Nhỏ Hương nheo nhéo rồi dập máy tức khắc:

– Chàng của mày cũng đang đi cao nguyên đấy. Tìm đi. Bye.

Tôi gọi lại, gắt:

– Đồ con khỉ. Chàng nào vậy ?
– Thì chàng triển lãm ảnh đó.
_ Đồ quỉ sứ. Mai nữa về tau cho mày biết tay.

Tôi quát Mai tắt máy cười thầm. Con quỉ Ròm này dám gọi ông là “ chàng của mày” chỉ vì hôm khai mạc tôi dại miệng hé cho nó kế hoạch tìm hiểu thêm về những gì dẫn tới cuộc triển lãm và khi theo đoàn công tác, gọi cho nó tôi thường hỏi thăm về phòng ảnh.

*

Điểm đến cuối cùng sẽ đến là một huyện phía đông bắc.

Đoàn nghỉ đêm tại Buôn Ma Thuột. Theo chân nhóm doanh nghiệp thăm phố, tôi có một đêm lang thang khắp chốn với gió thật thú vị.

Khác với hình dung trước khi lên đây, Buôn Ma Thuột có dáng dấp của người trai vâm váp. Mới, rộng, khoáng đạt, đẹp, sạch và cả xanh nữa.

Gió thì khỏi kể. Thành phố nơi tôi ở suốt ngày sùng sục xe cộ, không khí nóng sực, ra đường chỉ muốn thật nhanh đến nơi để tránh khói bụi. Tại đây,tôi được thả bộ dọc theo các vỉa hè lát gạch bóng loáng, được hít thở không khí mát mẻ thoảng mùi cà phê. Theo anh Hải một doanh nhân gốc ở đây thì Buôn Ma Thuột có rất nhiều cơ sở chế biến đang hoạt động ngày đêm. Mặc cho gió đùa nghịch thổi tung mái tóc, tôi chân sáo hát “Có cái nắng, có cái gió, có nỗi nhớ …” bài hát quen thuộc về thành phố này.

Cả nhóm ghé lại một quán cà phê vườn. Quả thật là vườn. Cây tự nhiên rất nhiều toả bóng từ trên cao che đỡ cho bao nhiêu chậu cảnh đặt đây đó , bên các bộ bàn xinh xắn. Chị chủ quán tươi tắn là người quen của anh Hải tiếp chúng tôi sau câu chào thân mật.

Câu chuyện bên ly cà phê xoay quanh các vụ tiêu cực báo chí vừa phanh phui, chẳng biết từ lúc nào lại quay sang văn học nghệ thuật . Hoá ra các doanh nhân cũng rất quan tâm đến lĩnh vực này chứ không phải chỉ biết thương trường với sản phẩm thị phần thuế khoá, hoặc những tiêu cực của xã hội.

Tôi ngồi nghe, thỉnh thoảng góp lời. Chợt chị chủ quán sực nhớ :

– Hải ơi ! Ông Tâm vừa “rinh” một giải về ảnh đấy. Bức ảnh gây xúc động lắm.
– Tâm “hàm ếch” hở chị ? , anh Hải nhướng mắt hỏi,
– Thì còn Tâm nào nữa. Lâu rồi chị không thấy anh ấy lên đây. Đọc báo thấy nói ông vừa có một triển lãm cá nhân ấn tượng lắm.

Chi chủ quán xác định khi cho thêm hạt dưa vào đĩa.
Tôi mừng thầm. Vậy anh Hải là người rất quen với ông, tôi sẽ khai thác từ anh Hải.
Quả thật may mắn theo tôi trên mọi chặng đường.
Đêm đó tôi không cho anh ngủ bằng cách gọi thêm một tách cà phê nữa và tại nhà khách anh kể đầy đủ với tôi về ông.

*

Quê ông ở Quảng Nam trong một làng nhỏ thuộc huyện miền núi. Làng nghèo. Nhà ông cũng nghèo. Dân ở đó sống bằng nghề đốn củi bán cho thương lái đem về phố chợ. Chính ông khi còn là học sinh trung học đệ nhất cấp trường huyện cũng tranh thủ vào rừng giúp cha mẹ những hôm cuối tuần về thăm nhà. Ông học rất giỏi, vì vậy gia đình cương quyết bắt ông theo học tiếp trung học đệ nhị cấp tại Đà Nẵng sau khi thi đỗ trung học đệ nhất cấp với số điểm tối đa. Bất chấp khó khăn thiếu thốn, ông vượt hẳn các công tử tiểu thư thành phố về sức học. Đỗ ưu hạng Tú tài hai, ông được cấp học bỗng du hoc tại Hoa Kỳ. Phần sau là như tôi đã kể ở trên.

Mất liên lạc từ sau 1975, khi được phép về thăm lần đầu nhiều năm sau đó ông đau đớn hay tin bố đă qua đời vì ung thư gan, mẹ cũng luôn đau ốm. Ngôi làng của ông khác nhiều -gần như bị san thành bình địa – so với năm ông sang nước người

Bà con mất nhiều, số do đạn bom, số do bệnh tật. Sửa sang nhà cửa cho mẹ. gửi lại một ít tiền để mẹ sinh sống, ông trở lại Mỹ.

Những lần về sau, ông đi thăm thêm nhiều nơi hơn nửa như tìm lại kỷ niệm nửa để ngắm nhìn quê hương đổi thay. Ông sững sờ thấy có quá nhiều trẻ dị dạng. Nhẹ là hở hàm ếch. Nặng hơn là đầu to chân tay teo quắt không đi lại được. Có trẻ chỉ nằm u ơ một chỗ. Có những em ở độ tuổi hai mươi mà như em nhỏ lên bảy gần như không có nhận thức, ngu ngu ngơ ngơ. Cả thằng bạn tuổi nhỏ lấy vợ Đà Nẵng, nghe đâu cũng sinh con như vậy, mà những hai đứa. Người lớn thì mắc chung một chứng là suy gan , nặng nữa là ung thư rồi chết. Ông rất buồn.

Ông biết họ bị nhiễm Đi – ô – xin. Tìm đọc sách báo ông mới hay suốt những năm từ 1968 đến 1974, huyện núi quê ông là nơi bị máy bay Mỹ phun thuốc khai quang cho cây trụi lá để dễ bề kiểm soát “ Cộng quân. “

Thảo nào.

Ông nhớ lại những khu rừng hàng loạt rụng lá trái mùa ông đã chứng kiến thuở đang học ở Đà Nẵng về thăm nhà theo cha vào rừng đốn củi và mùi ổi chín váng vất trong không khí mỗi khi nghe tiếng máy bay bà già ù ù trong rừng xa. Ông còn nhớ hồi đó ông cũng như bao người đi cùng đã lấy làm ngạc nhiên nhưng không kém phần thích thú khi thoải mái đốn chặt cây đã chết. Nhiều tờ báo khác cũng nói rằng còn rất nhiều thùng hoá chất chôn trong lòng đất. Dân đi khai hoang phát hiện thấy. Một số được lấp lại, mộy số khác bị người dân cạy nắp đổ ven suối, lấy thùng đựng nước uống.

Vậy là đã rõ. Ông đau xót quay về Mỹ. Và ông lâm bệnh.

Nền y học tiên tiến của nước giàu có nhất thế giới đã nhanh chóng xác nhận ông bị nhiễm thứ hoá chất chết người đó. Nó tàng ẩn từ lâu và đang dần huỷ hoại lá gan của ông.

Đau đớn nhưng bình tĩnh, ông điều trị bằng phương thức nghiêm ngặt với sự hổ trợ của các dược phẩm tốt nhất mong khống chế bệnh.

Đầu năm 2000, ông xin hồi hương.

*

Nhớ đến biệt danh chị chủ quán nhắc hồi tối, tôi hỏi anh Hải :

– Vậy cái tên Tâm “hàm ếch” là do đâu ?
– Ngốc ơi ! Vậy mà cũng là nhà báo.

Cốc đầu tôi rõ đau, anh Hải kêu lên rồi tiếp :

– Sau khi về nước ông đi nhiều nơi. Những nơi mà ông được biết thêm cũng chịu tình cảnh như quê ông. Ông gặp thêm nhiều những trẻ em như thế, đa số tập trung ở các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên nơi đời sống hiện còn rất nhiều khốn khó.

Nhớ đến bức ảnh ở trạm y tế, tôi sáng dạ hẳn :

– Vậy là ông ra tay giúp người không may, cụ thể là phẫu thuật cho trẻ nhỏ hở hàm ếch và mang biệt danh đó luôn.
– Khá rồi đấy. Bây giờ thì có thể là nhà báo rồi.

Anh Hải châm thuốc cười trêu tôi và lên giọng hài hước :

_ Là bác sĩ phẫu thuật, ông làm mấy việc đó dễ dàng nhanh chóng như ta khâu chỗ áo bị rách.Điều đáng nói là ông không lấy một xu nào của người bệnh lại còn cho thêm thuốc men nữa.
_ Một mình ông làm sao tập trung bọn trẻ từ những nơi rất xa nhau như thế ? Kinh phí đâu cho ông thực hiện các chuyến đi đó.

Tôi băn khoăn.

_ Thì nhà báo tự tìm ông mà hỏi. Khai thác tui nhiều quá rồi đấy cô ơi. Số phone đây.

Anh đọc cho tôi lưu vào máy, ngáp rõ to rồi đứng dậy vươn vai. Biết đến lúc
phải “tha” cho anh, tôi cũng đứng lên thu xếpđồ đạc ngày mai đi tiếp.

_ Mà nhóc ơi ! Tìm hiểu hơi bị kỷ đấy nhé. Liệu đấy. Con gái ông cỡ tuổi em đó. Đừng có mà tơ tưởng.

Chao ôi ! Anh Hải cũng về phe với quỉ Ròm mà trêu tôi. Sao lúc này anh không chịu nhớ tôi là phóng viên, lại là phóng viên tập sự chuyện gì cũng muốn cặn kẽ. Thu thập, lượm lặt là một trong nhiều mẹo tôi học được ở các thầy, các anh chị kinh nghiệm trong nghề. Chả lẽ anh không biết vậy sao. Theo hướng anh vừa khuất,tôi hét lên :

– Quỉ tha ma bắt anh đi. Anh Hải ơi.

*

Chưa kịp gọi, tôi đã gặp ông. ( Lại may nữa )

Xã cuối cùng nơi đoàn đến nằm sát ranh giới hai tỉnh. Đường đi đã bắt đầu hẹp lại, Rừng khộp lùi dần. Rừng le tiếp nối. Rồi xe qua những cánh đồng bông cằn cỗi, những ruộng ngô khô cháy. Thỉnh thoảng hiện ngôi làng ẩn dưới tầng cây xanh, nhà cửa khá khang trang Có lẽ đây là nơi trù phú nhất huyện.

Đã đến nơi cần đến. Một vùng lưa thưa cây lá, tuềnh toàng những gian nhà gỗ. Nắng như đổ lửa. Không một ngọn gió. Người dân đã tập trung tại khoảng sân nhếch nhác cỏ dại của trường tiểu học.

Nỗi mong chờ hiện rõ trên từng gương mặt gầy xạm. Có lẽ được thông báo trước nên họ đến từ sớm. Thấy bóng xe họ tươi tắn linh hoạt hẳn. Trẻ em túa ra tò mò háo hức nhìn ngó chỉ trỏ. Trông chúng chỉ có mắt và mắt. Thấy tôi đưa máy ảnh chúng xấu hổ chạy lại túm áo mẹ cười lỏn lẻn. Tôi bấm mấy kiểu và chợt nhớ đến ông với các tấm ảnh được trưng bày. Có lẽ từ những chuyến đi, từ những pô ảnh ngẫu nhiên trên bước rong ruổi ông đã nảy ý định dùng số ảnh này vào một mục đích cụ thể : dùng ảnh như phương tiện kêu gọi sự sẻ chia của cộng đồng đối với bao người, nhất là trẻ em đang gánh chịu bất hạnh từ chất độc màu da cam. Đó cũng là bằng chứng xác thực tố cáo với thế giới về sự dã man thâm độc của kẻ thù. Ảnh cũng giúp ông trả nợ quê hương, nợ tình làng nghĩa xóm.

Sau khi trao quà nhân lúc nghỉ uống nước, vị chủ tịch xã cho biết có một bác sĩ cũng vừa tới, đang tiến hành phẫu thuật đợt vét cho trẻ hở hàm ếch vì đợt đoàn về huyện các gia đình ở đây không được thông tin kịp thời. Công việc đang tiến hành tại nhà ông phía sau trường.
“ Chắc chắn là ông rồi”, tôi nhủ thầm và cương quyết không bỏ lỡ cơ hội được tận mắt nhìn ông thao tác, tôi báo anh Hải rồi vào trong.

Lần này tôi không được may mắn hổ trợ. Ông đã xong việc đang lúi húi dọn đồ đạc. Tôi tiếc hùi hụi. Thế là không thể có được kiểu ảnh ông đang ra tay đem lại nụ cười cho các em nhỏ. Nhưng dù sao cũng có mấy kiểu chụp các em xúm xít quanh ông, miệng còn ngậm chặt. Nhận ra tôi, ông có vẻ ngạc nhiên :

_ Chào cháu ! Sao cháu lại đến được đây ?
– Chú không biết đấy thôi. Cháu đi bằng con đường chú đang đi.

Tôi tinh nghịch đáp lời và nhận được một tràng cười vang của ông.

– Cháu cũng không biết đấy thôi. Đường chú đi vất vả lắm ít ai chịu nỗi. Tuổi trẻ lại càng hiếm.
– Người nhiều tuổi có sự kiên trì bền bỉ thì ngược lại tuổi trẻ có sự hăng hái và lòng quyết tâm. Cháu thuộc nhóm thứ hai.
_ Ghê nhỉ. Thôi. Ra ngoài uống nước đi cô bé.

Khoác túi. Xoa đầu mấy đứa trẻ. Cười vẫy chào bố mẹ chúng đang hồi hộp chờ đợi, ông vui vẻ gọi tôi đang loay hoay bên bọn nhỏ.
Đưa tôi một chai nước suối lấy từ túi xách, ông ngồi nhả khói nghĩ ngợi.
Tôi nói lên những suy đoán của mình về cuộc triễn lãm của ông.

_ Cháu hiểu chú rồi đấy. Chú không biết làm sao để kêu gọi mọi người khi chú chỉ là một bác sĩ, lại là bác sĩ về nước chưa lâu, chưa đóng góp công lao gì cho tổ quốc. Liệu mọi người có tin thiện ý, ủng hộ việc làm của chú sau bao năm tháng sống đầy đủ nơi xứ người khi đất nước là một chiến trường đẫm máu hay chìm trong nghèo đói thiếu thốn.

Giọng ông chùng lại. Tôi chen lời :

_ Nhưng mọi người rất ủng hộ chú, phải vậy không ?
_ Quả đúng vậy. Thoạt đầu là các bạn học hồi nhỏ. Người có chuyên môn Y thì góp tay, người ngoài ngành thì góp tài chính, liên hệ chính quyền địa phương. Dù làm điều tốt đôi khi cũng không thể tự mình, chỉ có mình mà được đâu cháu. Dần dà chú kêu gọi thêm các bạn đang ở nước ngoài.
_ Thế còn triễn lãm ?
_ Thì cũng là được ủng hộ. Các anh chị ở hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh thành phố đồng tình với ý nguyện của chú và họ đứng ra lo khâu thủ tục, rồi khâu tổ chức.
– Theo thông tin cháu có được thì cuộc triễn lãm gây xúc động trong lòng công chúng. Đấy là sự ủng hộ rộng rãi sâu sắc phải vậy không chú ?
– Chú rất vui vì điều đó. Các nạn nhân khó lòng nói lên tiếng nói đòi quyền lợi – cho dù là quyền lợi chính đáng của chính họ – một khi họ thiếu mọi thứ kể cả phương tiện sống tối thiểu. Đòi quyền lợi, nhất là đòi công lí là một hành trình gian nan cháu ạ! Rất may hiện giờ hành trình này được toàn xã hội quan tâm góp sức.

Cả đoàn đề nghị ông cùng chung xe về thành phố. Ông hoan hỉ nhận lời.

Câu chuyện của ông và tôi tiếp tục suốt chặng đường dài. Các nhà báo khác,các doanh nhân cũng hăng hái không kém. Tất cả náo nức với tin tức về việc thu thập chữ ký ủng hộ vụ kiện của các nạn nhân chất độc màu da cam, về số tiền giúp đỡ họ ngày một nhiều mà theo tôi cuộc triễn lãm của ông đã góp phần không nhỏ , về đề tài làm thế nào để mọi người đều được sống đúng nghĩa và sống có ý nghĩa.

Ông bảo ông là người may mắn từ thuở còn là học sinh đến khi thành đạt và may mắn vẫn còn theo ông đến lúc này khi được bao người ủng hộ. “Sống thích đáng với may mắn đời cho là một cách trả ơn” ông nói.

Tôi cũng là người may mắn. May mắn mới nhất là bài viết sau chuyến đi này _ với tư cách là phóng viên – về những phận đời và cả những tấm lòng mà ông là người đầu tiên tôi nhắc tới đang chín dần trong đầu. Tôi cũng sẽ như ông: trả ơn đời bằng chính cuộc sống mình.

“ Thế naò mình cũng phải rủ Quỉ ròm cùng mời ông đến Thềm Xưa uống cà phê nghe nhạc. Bài đầu tiên, bài thứ hai, thứ ba cho đến cuối cùng sẽ chọn tặng ông phải là những ca khúc sâu lắng của nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh”, tôi tự nhủ.

*

Tôi có nhiều người theo đuổi. Không ít chàng bảnh trai, sành điệu. Gặp tôi họ không ngần ngại nói về những chuyến du lịch trong và cả ngoài nước tốn kém mà họ vừa thực hiện với bạn bè hay người nhà hoặc về những cuộc nhảy nhót thâu đêm suốt sáng bằng giọng khoe khoang không giấu diếm. Tôi ngồi nghe họ, nghe cả nỗi dửng dưng ngập tràn lòng mình trước những lời tỏ tình hoa mỹ, những hứa hẹn ngọt ngào

Mọi người bảo tôi khó, quá kén chọn. Đúng là họ đầy đủ nhưng sao tôi thấy họ vẫn thiếu. Thiếu gì ? Tôi cũng từng tự hỏi mình mà vẫn chưa có câu trả lời thoả đáng. Quỉ Ròm bảo tôi hâm, thiếu I – ốt.

Bây giờ, trên chiếc xe bụi bặm trở về từ cao nguyên khô xát, bên những gương mặt xạm nắng gió sau chuyến đi đầy ý nghĩa, bên cạnh tác giả của những tấm ảnh lay thức lòng người ; làm nhói lòng người để rồi kéo tay mọi người lại với nhau vì một mục đích chung là đem lại những gì có thể cho những phận đời bất hạnh, tôi đã hiểu ra thứ những chàng trai đó thiếu.

Chợt anh Hải quay nhìn tôi cười ý nhị :

– Này cô bé. Sao như kẻ tương tư vậy ? Có “vấn đề” rồi phải không ?

Tôi nháy mắt với anh, thầm nói :

– Anh Hải ơi ! Bây giờ thì chưa nhưng rồi em sẽ yêu. Vâng.Người em yêu sẽ là người mang trái tim giàu có. Như anh, như những người đang ngồi trong xe này, như ông.

*

Chắc các bạn đã không còn thắc mắc về nội dung các bức ảnh được triễn lãm ?

Tôn Nữ Ngọc Hoa

Người thoát mộng

Quán café ấy tên là Thiên Thai, nghe cứ muốn hình dung hoa đào chấp chới, sương mây lửng lơ và lối mòn cỏ xanh ẩn hiện. Thật ra ngoài mấy bộ bàn ghế xếp đặt tùy tiện trong khu vườn nhiều cây xanh của một ngôi nhà xây theo kiểu cổ, quán chẳng có gì đáng chú ý, trừ một bức phù điêu bằng đá xám trước hiên nhà. Bức phù điêu tạc một thiếu phụ với hai bàn tay chới với đưa cao như khẩn cầu. Mái tóc rối tung vướng víu trên bờ vai, trên những ngón tay gầy guộc. Đặc biệt là đôi mắt: sống động, dữ dội. Có gì như van xin, lại như căm giận ; vừa buồn bã lại vừa đau thương.

Lần đầu tiên tôi đưa Nhẫn đến đây, anh đã thì thào kinh ngạc: “ My, giống My như tạc!” Tôi dỗ dành: “ Vậy anh phải thường xuyên cùng em đến đây nha. Như là đến thăm My.” Nhẫn gật đầu, có vẻ như đã bớt ngơ ngơ.

Tôi không dám tin mình sẽ giúp được Nhẫn. Nhưng tôi thương Nhẫn thật sự. Vả lại Thi cứ nằn nì: “Mình nghĩ Quyên làm được mà, mong Quyên nhận lời…”

Hôm đó là sinh nhật Thi. Trời mưa dầm. Thứ mưa dai dẳng của Ban Mê mùa hè. Đất đỏ đẫm nước nhão ra. Trời xám ngoét. Cỏ cây lướt thướt. Ướt át lạnh lẽo làm con người thấm đẫm nỗi đơn côi. Thi kể cho tôi nghe về Nhẫn, về cái chết của My, người yêu Nhẫn. Bản tính Nhẫn vốn yếu đuối hay mộng mị, sầu não. Chẳng ai làm anh nguôi ngoai được. Sau cơn bệnh nặng Nhẫn càng lặng lẽ, cứ luẩn quẩn mãi trong nhà. Thi khóc: “Anh ấy sợ xe, sợ người, sợ tiếng ồn, sợ nước. Cứ nhớ nhớ, quên quên. Mẹ mình buồn lắm, đã gần hai năm rồi, mình rồi phải lấy chồng, làm sao bây giờ hở Quyên?”

Mẹ tôi bảo: “Con đã gieo hạt lành, hãy tưới cho nó bằng tình thương và sự kiên nhẫn.”
Tôi đã mất nhiều thời gian để Nhẫn quen với sự có mặt của tôi trong gia đình, bên cạnh anh. Rồi Nhẫn chịu trò chuyện, chơi đùa. Tôi vui mừng thấy Nhẫn dần bớt sợ xe, sợ người, sợ âm nhạc. Cũng có lúc tôi tưởng phát điên vì mỏi mệt, bực bõ và bị tổn thương.

Mẹ kể rằng : Xưa có người cha mang về cho đứa con gái nhỏ bị bệnh nặng đang chờ chết một củ thủy tiên ; và bảo một ngày nào đó từ củ hoa này sẽ nở ra một bông hoa với vẻ đẹp kỳ diệu không gì sánh bằng. Cô bé đã mong mỏi, chờ đợi. Ngày lại ngày, trái với dự đoán của mọi người, cô vẫn sống. Cô bé đã sống với ý nghĩ mình không thể chết nếu chưa được nhìn thấy vẻ kỳ diệu của bông hoa kia.

Tôi cũng chờ, và tin rằng hoa thủy tiên rồi sẽ nở.

Nhẫn đã chịu để cắt mái tóc dài, mềm mượt. Trông anh vẫn ngơ ngác, là lạ nhưng ít nhiều đã tươi tỉnh hơn. Tôi đưa Nhẫn đi chơi, đến Thiên Thai, Nhẫn rất thích. Anh ngồi hàng giờ nghe nhạc, ngắm nhìn người thiếu phụ bằng đá xám trong bức phù điêu. Đôi lúc Nhẫn chấm ngón tay vào nước đọng ở thành ly, rồi nguệch ngoạc những hình vẽ rối rắm trên mặt bàn.

Một tối cúp điện, Thiên Thai chợt lãng đãng, ảo huyền bởi ánh sáng dịu dàng của những ngọn nến cắm trên vách. Đêm khuya, phố sá như lùi xa, hun hút. Tiếng xe vẳng vào ầm ì như tiếng biển. Quán vắng. Nhẫn chợt lẩm nhẩm hát : “Một đàn chim tóc trắng bay về qua trần gian, báo tin rằng có nàng Giáng Hương…” Rồi anh quay sang hỏi tôi : “Đố Quyên biết chim tóc trắng là chim gì? ” Dĩ nhiên tôi không trả lời được câu hỏi này, cũng như đã không trả lời được những câu hỏi gần đây của Nhẫn. Tôi biết Nhẫn đã từng đọc nhiều, biết nhiều và lâu nay vẫn sống trong một thế giới tự anh tạo dựng. Có lúc tôi hoài nghi ; tôi đang cố dẫn dắt Nhẫn thoát khỏi mộng, hay chính tôi đang bị cuốn vào cõi mộng của anh. Nhẫn cười hiền lành : “Chim bạch hạc, xưa kia bạch hạc bay thành đàn, theo mùa báo tin… Quyên biết không, My thích bài hát này lắm, cô ấy bảo đó là thưở loài chim còn chưa biết sợ người.”

Đột nhiên giọng Nhẫn đau đớn, lần đầu tiên từ ngày chịu làm bạn với tôi Nhẫn kể về cái chết của My : “Hôm ấy, anh đã quỳ trước ngọn thác suốt đêm. Quanh anh trải dài theo suối là mọi người với những ánh đuốc chập chờn, ma quái. My chìm khuất dưới vực sâu kia. Cô ấy đang bắt đầu đi vào cõi chết mà không có anh. My đã trượt chân khi quay lại cười vì nghe anh nói đùa. Vực sâu, nước ngầm rút mạnh. Hình ảnh cuối cùng anh còn nhìn thấy là khuôn mặt My, bàn tay My, hoảng hốt, chới với…”

Nhẫn quay nhìn bức phù điêu rồi gục đầu xuống bàn, lặng lẽ khóc.

Thi đã bắt đầu gọi đùa tôi là chị: “ chị Quyên”, “chị Quyên” nghe cứ như hát. Tôi hiểu ý Thi nhưng thoắt mừng, thoắt lo. Sau tối mất điện ở Thiên Thai, Nhẫn dường như khác hẳn. Như thể nỗi đau thành ung nhọt trong anh đã vỡ ra, trôi chảy theo nước mắt. Nhẫn đã có vẻ bình an, thư thái. Thi đang thu xếp cho anh một công việc nhẹ nhàng : “ … để anh còn dành tiền cưới vợ.” Thi nói mà cười, nhìn tôi đầy vẻ biết ơn. Mẹ tôi và mẹ Thi thì xếp đặt một lễ cúng tạ ơn trời đất. Chỉ có tôi là bồn chồn không yên. Nhẫn với tôi thân thiết, nhưng theo một cách hoàn toàn khác. Nhẫn không yêu tôi. Tôi hiểu vẫn còn cõi mộng đó. Nơi mà Nhẫn luôn thích đắm mình vào, nơi hoang sơ quyến rũ, ở đó loài chim còn chưa biết sợ người.

Mẹ trầm ngâm : “ Không phải cái gì cố cũng được. Dây đàn lên quá căng sẽ đứt. Chuyện trong đời đôi khi như mặt trăng dưới nước. Có mà như không. Cần phải biết dừng con ạ! ”

Tôi không muốn dừng. Tôi muốn đi đến tận cùng. Tôi muốn có Nhẫn, có một cách trọn vẹn.

Ngày mãn tang My, tôi thuyết phục Thi và Nhẫn về lại thác Trinh Nữ. Nhẫn có vẻ sợ, Thi thì ngại ngần nhưng rốt cuộc vẫn chìu theo ý tôi. Cuối đông, trời lạnh khô. Đường vào thác ngập tràn hoa cúc dại. Màu vàng của hoa luôn làm tôi bất an. Đến nơi, Thi nói như rên : “ Ba năm rồi sao chẳng có gì thay đổi. Vẫn đá này, nước này, đẹp mà sao cứ thấy ghê ghê.”

Thi tung bó hồng trắng xuống vực sâu. My vẫn còn nằm dưới làn nước thẳm đen ấy. Tôi chao đảo thấy mình buồn nôn, nhưng vẫn chăm chú nhìn Nhẫn. Anh đứng đó, dáng vẻ chịu đựng. Mái tóc cắt ngắn rủ những sợi mềm ngang trán. Đôi mắt yếu đuối loáng ướt. Lòng tôi tràn ngập cảm giác lo lắng. Tôi thấy mình tàn nhẫn. Nhưng tôi muốn buộc Nhẫn nhìn thẳng vào sự thật. Như người đã đi hết con đường, anh chỉ có thể hoặc vượt qua, hoặc quay lại. Anh phải thoát mộng.

Trong chuyện thần thoại, người ta hay nói đến việc quay ngược thời gian để có thể sửa chữa những sai lầm trong quá khứ. Dĩ nhiên thật khó mà tin điều ấy. Nhưng việc không thể ngờ đã xảy ra. Chính trên rìa đá đó ; đúng vào khoảnh khắc ngày xưa My rơi xuống vực ; đã có người bị trượt chân. Và Nhẫn đã làm được điều kỳ diệu. Rất nhanh anh vươn tay níu giữ được cô gái mặt tái xanh, run rẩy, dừng ngay sát mép vực. Giữa tiếng la hốt hoảng của mọi người chung quanh, cô gái sợ hãi và tin cậy ngả đầu vào bờ vai yếu đuối của Nhẫn.

My đã tái sinh! Nhẫn tin điều đó. Chưa bao giờ tôi thấy anh rạng rỡ, hân hoan đến vậy. Nhẫn đã hoàn toàn bình phục.

Đám cưới diễn ra vào một ngày đẹp trời, không mưa, không nắng. Tôi không dự, một mình đến Thiên Thai. Giữa tiếng nhạc, tôi ngồi đơn độc. Giờ này chắc Nhẫn đang rất vui, bao nhiêu là hoa, là rượu, là lời chúc tụng. Nhẫn cùng cô dâu nâng ly, mặt Nhẫn tràn đầy hạnh phúc, anh bước vững vàng bên My của anh, váy áo cô dâu bồng bềnh tưởng như trong mộng.

Thốt nhiên tôi thấy mình như vừa ngoi lên từ làn nước thẳm sâu, lạnh buốt, tỉnh táo một cách lạ kỳ. Người thiếu phụ trong bức phù điêu nhìn tôi. Cái nhìn trống rỗng.

Đinh Thị Như Thúy

Đón năm mới ở New York City

Chào các bạn,

Nhanh quá, hôm nay đã là ngày 8 tháng 1 năm 2010, vào năm mới 2010 được một tuần rồi. Vẫn chưa nguội, mình kể chút ký sự về đón năm mới ở New York City nhé. 🙂

Ga tàu Grand Central

New York thành phố của ngày và đêm không có khái niệm nghỉ ngơi đối với người dân địa phương và các phương tiện giao thông công cộng. Những nhân viên phục vụ tàu, xe bus, taxi, nhà hàng vẫn hoạt động 24/24.

Ảnh  dưới đây mình chụp ở ga Grand Central, ga tàu chính ở phố 42 có chuyến tàu Metro North để đi lại với những thành phố lận cận như Long Island, Connecticut và New Jersey, chuyến tầu  Amtrak liên tỉnh để đi lại với các tiểu bang khác.

Ga tàu Grand Central
Ga Grand Central

Anh bán vé vẫn làm việc suốt đêm:


Anh bán vé

Đường phố ở New York City

Đi chơi New York City có lẽ hay nhất là cứ đi dạo phố ngắm người. Vô số con người từ mọi nẻo của cuộc sống đi lại khắp nơi trên đường phố. Đó là vẻ đẹp của sự đa dạng nước  Mỹ. Mỗi phố xá thênh thang đó mang đầy tính nhân bản.

Dịp này, bà con mặc quần áo sặc sở, đội các loại mũ óng ánh đi thành từng đoàn, đa phần là các khách du lịch như mình. Các nơi công sở, các nơi public đều đóng cửa hết cả để đón năm mới. Nhưng khu “tụ điểm đông người” như Rockerfeller Center, Times Square bị cảnh sát rào và canh, vì sợ nguy cơ quá tải lượng người.

Vì thế, mình không thể tới được Times Square để xem Countdown, mình chỉ có thể ở cách đó mấy khu phố ngó vô 🙂

Một năm 2009 kinh tế toàn cầu khó khăn, đường phố cũng mang chút dấu hiệu của nền kinh tế. Dưới đây là ảnh của một cửa hàng bỏ trống đang sang sửa lại để cho thuê ở Fifth Avenue. Hy vọng năm 2010 ông chủ cho thuê cửa hàng sẽ làm ăn khấm khá hơn. 🙂


Cửa hàng ở Fifth Avenue

Còn khoảng 2 tiếng rưỡi nữa là tới giao thừa mà chẳng đi đâu được giữa phố xá đông đúc, lạnh và tuyết, nên mình lên tàu đi tới khu downtown rồi quay lại Times Square sau bằng tàu điện ngầm thành phố. Trên tàu, mình có dịp nói chuyện với một người thổ địa New Yorker, một phụ nữ tầm trên 50s.

Hỏi: Cô đang đi đâu thế? (cũng đã trên 10 giờ tối)
Đáp: Mình về nhà

Hỏi: Cô không tới Times Square à?
Đáp: Không, mình về nhà cho ấm áp. Mình chỉ cần thế.
Hỏi: Gia đình cô đợi cô ở nhà chứ?
Đáp: Không, nhưng mình có con mèo rất xinh ở nhà đang đợi.

Hỏi: Hôm nay cô làm gì? Sao giờ này mới về nhà?
Đáp: Hôm nay mình vẫn làm việc như thường, sau đó tụi mình mấy người bạn có bữa tiệc để chào đón năm mới sau giờ làm việc, giờ này mới xong

Hỏi: Năm 2009 vừa qua, điều gì là đáng kể đối với cô?
Đáp: Đáng kể à? À một năm qua kinh tế khó khăn, nhưng mình ok, mình vẫn vui vẻ.  À, nhớ ra rồi, mấy người đứa bà con của mình chúng nó cưới hết cả 🙂

Thế vui quá cô nhỉ  🙂

Tàu dừng ở ga Grand Central, mình chào cô và đi tiếp, chúc cô năm mới vui vẻ 🙂

Chỉ còn khoảng 1 tiếng nữa là count down, mà bụng mình đói meo vì vừa tan sở xong là mình chạy lên tàu Metro North và vào New York ngay mà. Kiếm gì ăn cái đã, chẳng lẽ đón năm mới bụng đói meo?

Mình chạy xuống tầng dưới, khu cơm bình dân ở Grand Central xem thế nào? Đa số các nhà hàng đã đóng cửa. Nhưng nhìn xung quanh, mình thấy thương mấy người ở đó, chắc họ là người nghèo và cô đơn, họ mệt mỏi đang ngủ thiếp trên ghế trước thềm năm mới

Blessed is the poor in spirit“, chúc họ có giấc mơ đẹp và an bình.

Ngủ gật ở ga Grand Central

Anh cảnh sát đứng đường cho biết là ở góc phố phía trước có một cửa hàng đồ ăn rau quả, mình chạy ùa tới. May quá, kiếm được gì ăn rồi. Mình chạy lên tầng hai để ngồi măm măm, và những gì mình nhìn thấy lại gây ấn tượng mạnh với mình lần nữa.

Chỉ 30 phút nữa là tới  0 giờ ngày 1 tháng 1 năm 2010. Ở tầng 2, một ông già da đen thổ địa New York chính gốc đang lặng lẽ ăn bữa cơm tất niên của mình và bàn bên cạnh ông là hai đôi thanh niên trẻ đang cười nói ăn uống quên trời đất

Bữa ăn của ông có gì? Một quả cam, một cốc cafê, một chiếc bánh. Thế thôi. Ông lặng lẽ ngồi một mình. Ông đang suy tưởng điều gì vậy?

Hai đôi năm nữ trước mặt ông cười nói như điên, không biết họ có hiểu họ đang nói gì không? 🙂

Chỉ còn khoảng 10 phút nữa là năm mới. Mình chạy xuống phố. 🙂

Mọi người đều nhìn về phía Times Square và đếm 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2, 1. Quả cầu Times Square hạ xuống. Đoàng, pháo nổ khói cả khu phố.

Mọi người hò reo ầm ĩ và đi thành từng đoàn hò reo “Happy New Year, Happy New Year”.

Cảnh sát phải đứng ra chặn không cho ai vào khu Times Square vì quá đông người ở đó. 🙂

Cùng lúc đó, truyền hình cả nước Mỹ quay cảnh chào đón năm mới 2010 ở Times Square thành phố New York thật vui vẻ hào hứng bất chấp một năm cũ 2009 khó khăn. Dưới đây mời các bạn xem video chào đón năm mới ở Times Square:


2010 Times Square New Years Ball Drop

Mọi người cùng hát vang bài hát “New York New York” của Frank Sinatra. Quả thật New York City là thành phố không hề ngủ 🙂


New York, New York – Frank Sinatra

New York, New York
Frank Sinatra

Start spreading the news
I’m leaving today
I want to be a part of it, New York, New York
These vagabond shoes
Are longing to stray
And make a brand new start of it
New York, New York
I want to wake up in the city that never sleeps
To find I’m king of the hill, top of the heap
These little town blues
Are melting away
I’ll make a brand new start of it
In old New York
If I can make it there
I’ll make it anywhere
It’s up to you, New York, New York.

I want to wake up in the city that never sleeps
To find I’m king of the hill, top of the heap
These little town blues
Are melting away
I’ll make a brand new start of it
In old New York
If I can make it there
I’ll make it anywhere
It’s up to you, New York, New York.

___

Sau đó mình phải đi vòng qua mấy khu nhà đến trạm xe bus Greyhound để đi chuyến vào 1:30 sáng tới nhà anh Hoành vào sáng ngày hôm sau. (mình không đi thẳng được do Times Square bị cấm đường).

Khi xếp hàng để lên xe bus, mình có trò chuyện với ba chị em người da đen ở phía sau mình và được biết, họ lên xe bus từ tinh mơ sáng từ Washington DC để tới New York City xem giao thừa.  Họ tới New York vào 10 giờ sáng. Xem giao thừa xong họ về nhà ở DC luôn. Người ở nhà đang ngóng đợi họ. Đúng là không nghỉ 🙂

Tuy không xem trực tiếp được cảnh đón giao thừa ở New York (xem từ cách đó mấy khu phố) nhưng mình rất cảm ơn vì cảm nhận được không khí đón năm mới ở đây và có một buổi tối thứ vị. Mình rất vui ghi lại và chia sẻ với các bạn.

Chúc các bạn năm mới 2010 theo chủ đề của quả cầu đón năm mới 2010 ở NYC, “Let there be courage”.

Chúc các bạn sự can đảm!

Hiển.

Mưa… Trà…

Mưa….
Đường phố trở nên mờ ảo trong làn mưa giăng giăng….
Những hạt mưa bụi khẽ vương long lanh lên sợi tóc…
Những hạt mưa bụi không chạm đất….Không hiểu ai đã nói là dù có đi xa nơi đâu, khi nhớ về Hà nội là nhớ tới những hạt mưa không ướt đất .
Ánh đèn pha loáng nhòe của những chiếc xe máy chạy vội trên đường.
Các bà bán hàng rong trên vỉa hè loay hoay xếp vài chiếc ghế nhỏ bé sát vào dưới mái hiên.
Những bước chân vẫn thong dong dạo dưới hàng sấu xù xì như một tán ô.
Cái lạnh se se đầu đông khẽ chạm vào má…..Bàn tay bỗng cảm thấy thèm được ấp ủ làn hơi ấm áp- một tách trà.

“Trà đen, trà xanh, trà nhân sâm, trà cúc, trà hồng, trà nhài, trà nhãn, trà đặc biệt”
Hai ngón tay khẽ nhắc nắp chén trà, chầm chậm nâng tách trà gần môi để cảm nhận mùi hương nhè nhẹ của làn hơi ấm tỏa lên. Trên mặt trà nâu sánh những cánh hoa cúc trắng thấp thoáng dưới ánh đèn mờ mờ. Khẽ nhấp ngụm trà đầu tiên, một vị là lạ, chát chát hòa hương cúc nồng nồng, nhưng những giọt trà đọng lại lưỡi chuyển dần dần sang ngọt. Hơi trà toả làm không gian như phủ làn sương nhẹ- mặt Hồ Tây trong buổi sáng cuối thu, những bông cúc nở muộn…

Bên chiếc bàn cạnh góc một ông già trầm ngâm đọc tờ báo chữ nhỏ li ti. Cặp kính chênh vênh dường như muốn rơi khỏi sống mũi. Thỉnh thoảng ông lại đưa tay với chén trà mà mắt vẫn không rời trang báo- chẳng cần thử cũng biết chắc chắn đó là trà nhân sâm.

Hai người đàn ông đang bàn chuyện gì đó chắc rất quan trọng. Tách trà xanh được đưa lên đặt xuống liên tục làm hơi trà bám mờ vào mắt kính khiến người đàn ông một lúc lại phải tháo kính xuống lau.

Gần cửa, bốn năm cô gái đang ríu rít. Những tách trà đã uống cạn được gạt ra mép bàn. Chốc chốc họ lại chúi đầu xuống che miệng cười rúc rích. Có lúc không nín được một chuỗi cười vang lên làm xao động không gian như tiếng xe máy của anh đưa lá cho bà hàng xôi buổi sáng trong ngõ nhỏ.

Mùi hoa nhài khẽ lan toả sang từ bàn bên. Chỉ mùi hương nhè nhẹ ấy nhắc tới sự hiện hữu của hai người đang ngồi bên tách trà ở đó…

“Cho xin thêm một chén trà đặc biệt- Mà trà đặc biệt là trà gì vậy?.”
“Đó là trà Hà nội, được chắt từ năm sáu loại hoa và lá, có loại chẳng có tên….”

Chẳng có tên- nên là đặc biệt.
Trà đặc biệt- hơi khó uống, nhưng có lẽ chính vì vậy lại nhớ lâu…..

Mưa ….mưa vẫn không ướt đất…..
Hơi trà ấm vẫn toả mờ mờ…..
Hà nội lại sắp vào đêm….

Phan Bích Thiện

Giấc mơ đổi đời

_ Tôi không thể tha thứ được !

Thành nói với một âm vực nhỏ gọn nhưng lạnh và sắc, cộng với nét mặt gần như đóng băng làm Huyền như va phải một bức tường rắn khiến cô phải thụt lui hai bước… Cô ngó trân trân vào gương mặt người đàn ông đã có cùng cô hơn mười năm chung sống, hơi thở cô ứ nghẹn trọng cổ họng, tay chân không kềm nổi một độ rung cho dù nó đã được cố gắng hết mức. Bỗng có tiếng một đứa trẻ từ ngòai cổng chạy vào liến thoắng :

_ Ba ơi …ba ơi, chú Tân cho con bong bóng nè ba ơi !!!

Huyền quay ngoắt và sụp xuống để đón lấy đà chạy của đứa con gái, chỉ nhanh hơn một giây, Thành đứng ngáng trước mặt Huyền dang tay ôm bổng đứa bé, và cũng vẫn giọng nói sắc gọn, nhỏ nhưng sức nặng của nó đủ đè bẹp niềm khao khát trong lòng người đàn bà :

_ Cô đi đi, từ nay nó là một đứa trẻ mồ côi.

Rồi không một chút trù trừ để có cơ hội cho một lời van xin, Thành quay lưng khuất nhanh sau cánh cửa để vọng lại một âm thanh khô khốc lạnh lùng. Huyền đổ sụp xuống chết lặng giữa mảnh sân hoe hoe vài sắc hoa trong chiều nắng nhạt. Tiếng con gái hồn nhiên sau cánh cửa làm quặn thắt cả ruột gan, Huyền ôm bụng cong gập người, cô muốn khóc mà không thể nào bật ra được thanh âm đang dồn thành những tiếng nấc khùng khục trong cổ họng. Một lúc sau, cô đưa mắt đờ đẫn nhìn ngôi nhà sang trọng đến xa lạ, câm lặng đến tàn nhẫn, ngôi nhà mà cô ngỡ rằng sẽ rộng cửa đón cô sau bảy năm lênh đênh ở xứ người. Vậy mà… Huyền biết rất rõ tính Thành, cô không thể lay chuyển bức tường đá trong anh, nhưng cô cũng không thể trách óan anh, anh không hề có lỗi, tất cả những tội lỗi thuộc về cô, cho dù động cơ và mục đích nó là gì đi nữa thì cũng không thể bào chữa cho những hành vi của một người đàn bà đã phản bội lại tình yêu và lòng tin của người chồng. Trời sẫm dần, cánh cửa kia đã không một lần hé ra, Huyền ôm mặt, chống tay đứng dậy, thất thểu bước ra ngòai cánh cổng ..

Thành nhè nhẹ rút cánh tay ra khỏi đầu bé Thúy, nhè nhẹ ngồi dậy, sửa lại đầu con trên gối, kéo thêm mép chăn lên ngực cho con rồi nhè nhẹ bước ra khỏi giường, giắt cẩn thận chân mùng, rồi lại nhè nhẹ khép cửa phòng. Ra phòng khách, Thành ngồi vật trên cái ghế xalon, mắt đăm đắm nhìn lên trần, rồi lại nhìn quanh những đồ vật trong căn phòng. Những thứ đồ vật mà khi mua chúng về anh hồ hởi bao nhiêu thì bây giờ anh căm ghét chúng bấy nhiêu. Anh biết mình vô lý, vì những thứ vật dụng vô tri này nào có lỗi gì, chúng chỉ có một nhiệm vụ là đem lại sự thỏai mái cho con người khi sử dụng chúng. Như cái ghế xalon anh đang ngồi đây, rõ ràng là êm ái hơn rất nhiều so với những cái ghế gỗ thô kệch ngày xưa. Thành ôm đầu trong sự hỗn lọan của bao hình ảnh cũ mới. Trời ơi ! Anh muốn la hét, muốn đập phá, muốn làm một cái gì đó thật điên cuồng để trút xả những đớn đau trong lòng, nhưng anh không thể, không thể, vì đứa con gái bé bỏng tội nghiệp đang ngon giấc trong phòng kia, và vì những ô cửa hàng xóm sẽ sẵn sàng thập thò, và những tiếng cười đầy ngạo nghễ chế giễu sẽ sẵn sàng xa xả quanh anh, như tiếng cười đểu cáng khốn nạn mà anh đã nghe phải ấy …ôi tiếng cười ..tiếng cười quái ác ấy cứ lồng lộng trong tri giác anh. Thành bất chợt đập liên hồi đầu minh xuống nệm ghế xalon, và hàm răng thì nghiến chặt đến rung người…

Huyền thở dài nhìn mớ rau và mấy con khô quắt trong tay mình, rồi lại liếc nhìn cái phản thịt tươi roi rói, đầy ngồn ngộn với bàn tay thoăn thoắt thái cắt của người bán hàng, bắt đôi chân mình dời đi mà ánh mắt còn luyến tiếc, thôi về vậy, còn hai ngày nữa mới được rờ vào nó. Hai ngày nữa là thứ bảy cuối tuần, là ngày cả nhà được phép có một thực đơn hấp dẫn hơn những ngày khác. Một bữa cơm đơn giản, nhanh chóng hòan tất, cũng vừa lúc Thành đẩy cái xích lô vào bóng mát của cây trứng cá trước nhà, lôi cái mũ trên đầu xuống lau những gịọt mồ hôi tuôn thành dòng trên má. Huyền đón chồng với nụ cười và câu hỏi đầy quan tâm như thường lệ :

_ Anh mệt lắm không ? Hôm nay có khách nhiều không anh ?
_ Ừ cũng tàm tạm, cơm xong chưa em ?
_ Có hôm nào anh về mà chưa có cơm đâu, chưa có làm sao yên với cái tật háu đói của anh chứ.

Thành cười, khẽ cụng mũi vào má vợ, Huyền sung sướng nhưng tỏ vẻ thẹn thùng khẽ ẩy chồng ra :

_ Anh này…đi rửa mặt cho mát đi rồi ăn cơm.

Khi cả hai vợ chồng đã ngồi vào mâm, nhìn những thứ thức ăn quen thuộc trên mâm, Thành ái ngại xoa tay vào bụng vợ :

_ Cứ ăn uống hòai như thế này làm sao em đủ sức khỏe cho con ?
_ Anh đừng lo mà, một tuần chỉ cần một chút thịt cá bồi dưỡng là cũng đủ cho mẹ con em khỏe lắm rồi.

Thành lại khẽ thở dài :

_ Lúc trước mà biết lấy anh em phải khổ thế này thì anh nhường em cho tay Hấn để em đỡ khổ.

Huyền làm mặt giận :

_ Anh có thôi đi không ? Em có phải là một con mèo đâu mà nhường chứ.
_ Anh xin lỗi, xin lỗi, anh vui miệng nói thế thôi, chứ có cả đống vàng anh cũng chẳng chịu nhường em cho ai đâu. Thôi cho anh ăn cơm đi, anh đói lắm rồi.

Huyền còn ngúng nguẩy, nhưng tay thì xới cơm và mắt thì liếc chồng một cái thật ngọt. Thành cười xòa đón lấy chén cơm lùa vào miệng từng miếng ngon lành.

Mấy tháng sau, chiếc xích lô của Thành chở một vị khách đặc biệt, vị khách này mặt tái mét, tay ôm bụng cố nén nhưng những tiếng rên cứ bật ra đầu môi, và Thành lần đầu tiên tham dự một cuộc đua cua-ro xích lô với cái đích là bệnh viện phụ sản, rồi phần thưởng cho anh là một cô con gái xinh xắn, để cả nhà lại vui sướng bồng bế nhau lên chiếc xích lô trở về căn nhà gỗ nhỏ nhoi trong cái xóm lao động nghèo.

Có thêm đứa bé, có thêm những tiếng cười và cũng là thêm những khỏan chi phí khác. Nhiều ngày trời mưa không có khách, Thành lại cọc cạch cái xe về nhà với một khỏan tiền vay nóng. Đứa bé được một năm tuổi, Huyền đeo con sau lưng lăn lóc với mớ tôm con cá trong một khu chợ gần nhà. Cũng chẳng đến đâu khi bé Thúy lại hay ốm vặt. Nợ ít rồi nợ nhiều, những lúc không có khách Thành làm thêm việc bốc vác ở các vựa trái cây. Công việc nặng nhọc nhưng cũng góp phần giảm bớt chút khó khăn. Buôn bán ở chợ, Huyền lọt vào tai đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Rồi một hôm, Huyền nói với chồng :

_ Anh à, mình phải tính cách khác thôi, chứ vất vả cực nhọc như vầy hòai mà có đủ thiếu vào đâu đâu.
_ Cách gì ? Anh thì có làm được gì hơn ngòai những công việc hiện thời , còn em vừa lo cho con vừa chạy chợ, còn thời gian công sức đâu mà làm thêm được cái gì khác.
_ Em nghe người ta nói đi xuất khẩu lao động cũng được lắm anh à.
_ Cái gì ? Thôi, thôi đi. Dứt khóat là không tính đến chuyện đó được đâu. Lấy tiền đâu ra mà đóng, rồi họ đưa đi tít mút mù xa nào thì anh biết đâu mà tìm. Không được, em đừng có nghĩ tầm bậy vậy nữa nghe.

Nhưng Huyền vẫn nghĩ, mỗi khi nhìn cảnh nhà mình, nhìn đứa con nheo nhệch, thì ý nghí ấy trong cô lại càng nóng bỏng hơn. Vả lại, một chút ghen tị thường tình của đàn bà khi nhìn chung quanh mình những cô nàng láng lẩy áo quần, xủng xẻng vòng xuyến.Phải có tiền, phải có thật nhiều tiền, bởi so về nhan sắc cô nào có kém thua ai, ngày cô làm đám cưới với Thành là ngày đau buồn nhất cho những chàng trai kém may mắn, đặc biệt là Hấn, người mà thỉnh thỏang Thành đem ra nói đùa với cô. Hấn hơi xấu trai, lại là thành phần côn đồ trong trường, nhưng nhà hắn giàu có nhât nhì trong vùng, hắn xi mê cô đến điên dại, cũng đã nhiều lần đón đường hành hung Thành, nhưng những điều đó chỉ làm Huyền thêm khinh ghét và xa lánh hắn. Sau đám cưới cô ít lâu , hắn bỏ đi đâu mất. Có đôi lần Huyền thóang nghĩ, nếu ngày ấy cô lấy Hấn thì sao nhỉ ? Nhưng rồi cô gạt nhanh suy nghĩ ấy, không thể nào, Hấn không thể đánh đổi được tình yêu nồng đậm của cô và Thành suốt năm năm, cho dù biết trước sẽ phải khổ nhiều vì cái nghèo của Thành, Huyền vẫn không hề ân hận khi nhận lời lấy anh.

Nhưng giờ thì phải khác, tình cảm là tình cảm, còn cuộc sống vẫn là cuộc sống vẫn có những đòi hỏi nhất định của nó, cô không thể sống mãi trong cảnh bần hàn này, còn bé Thúy nữa, nó sẽ có một tương lai như thế nào khi cha mẹ nó cứ mãi chật vật với từng miếng cơm manh áo như bây giờ ? Bao đêm trằn trọc, bao ngày suy tính, cuối cùng Huyền quyết định một việc quan trọng mà không có sự đồng ý của chồng, cô thầm nhủ rồi anh sẽ hiểu mà thông cảm cho cô thôi, suy cho cùng cô đâu chỉ vì riêng bản thân mình. Và thế là Thành tê tái khi một hôm về nhà được người hàng xóm trao lại con cùng với một bức thư của vợ. Tuy rất giận, nhưng anh hiểu rằng sự thúc bách của hòan cảnh đã tạo nên sự thể. Vất vả hơn với cảnh gà trống nuôi con, nhưng rồi anh cũng dần nguôi ngoai khi những đồng tiền đầu tiên Huyền gửi về từ một địa danh có những chữ khó đọc. Đổi giận thành thương Thành luôn thư từ động viên an ủi vợ, anh cũng mong một cuộc sống hòan tòan khác đang thay đổi dần dần trong ngôi nhà. Thôi thì …vợ chồng còn sống với nhau cả đời mà, hy sinh vài năm để có được sự đổi đời âu cũng đáng.

Về Huyền, khi bắt đầu bước chân đi, cô đâu biết mình phải trải qua nhiều truân chuyên đến thế. Đầu tiên cô nhận giúp việc nhà cho một gia đình, lúc đầu cũng gặp khá nhiều khó khăn, nhưng được sự giúp đỡ của những người cùng cảnh ngộ, cô cũng quen dần. Nhưng đến một ngày kia, cô bị ông chủ nhà ấy làm nhục. Đau đớn, Huyền định tự tử, nhưng nghĩ đến chồng con ở nhà, cô lại cắn răng chịu đựng, nhưng rồi câu chuyện võ lở, cô bị một trận đòn ghen thâm tím và bị đuổi ra đường chỉ với một bọc quần áo. Chơ vơ nơi đất khách, không người thân, không tiền bạc, không giấy tờ, không cả một nơi trú ngụ. Chuyện đi xin việc là điều không thể, vì chẳng ai dám nhận một người vơ váo không có lấy một sự bảo đảm về nhân thân. Chỉ có một lọai việc, mà việc ấy đúng ra cô đã bước vào từ ngôi nhà đầu tiên ấy. Đã nhiều lần cô âm thầm những giọt nước mắt tạ tội với chồng, anh sẽ không thể nào biết được, bởi sẽ chẳng có con đường nào để thông tin ấy đến được tai anh. Thì thôi, đã trót rồi còn gì nữa cho những bước chân lui, ngày nào gia đình cô có được một cuộc sống kha khá, thì cô sẽ rời bỏ cái chốn lầy lội, nhuốc nhơ này, sẽ trở lại là cô vợ hiền của anh như ngày nào, những tháng ngày nơi đây mãi mãi là một bí mật của riêng cô. Ngàn lần xin lỗi chồng, rồi Huyền nhắm mắt hướng về nơi có những ánh đèn xanh đỏ chớp nháy bước tới.

Huyền chóang người khi nhận ra Hấn, và Hấn cũng kinh ngạc đến đờ đẫn khi nhận ra Huyền. Trơi ơi ! Oan gia nghiệp chướng thế nào mà lại gặp nhau tại chốn này ? Huyền muốn bỏ chạy nhưng không còn kịp, nhưng bàn tay thô bạo đã nắm lấy cô, những ly rượu đã đè nghiến lấy miệng cô, áo váy cô mặc tình bày ra trước mắt Hấn cái thân phận hiện tại của cô. Hấn chết sững, câm lặng, bởi Hấn chỉ là một thông ngôn cho đám người này, anh ta không thể tỏ ra được một động tác nào để bảo vệ cô. lại càng không thể tỏ ra là một người đồng hương quen biết. Anh ta cúi đầu vào ly rượu, những hình ảnh ngày xưa hiện về, và bất chợt anh ta quắc lên một ánh mắt thích thú nhìn Huyền, ánh mắt làm cô lạnh buốt cả người, ánh mắt như một bản án tử hình, Huyền mơ hồ cảm thấy một đìều gì đó khủng khiếp đang đợi cô. Nhưng cô không thể nào trốn thóat được, cô đã là một con cá mắc lưới, chỉ biết giương đôi mắt sợ hãi nhìn lưỡi dao sắp bổ xuống đầu mình.

Không để Huyền kịp có thời gian suy tính chuyện gì, ngay trong đêm ấy, sau khi cùng những người kia ra về, Hấn quay lại ngay. Mặc cho Huyền kêu van, với món tiền đã cầm vào tay, người chủ đã đẩy Hấn vào phòng cô và chốt của lại. Hấn đứng trước mặt Huyền, rồi bật cười ngạo nghễ:

_ Kết quả của một cuộc tình đẹp đẽ ngày xưa đây sao ? Hay thật. Thú vị thật.

Huyền thụt lui vào góc giường trừng mắt :

_ Anh bước ra, anh không được đụng vào người tôi.

Hấn cười ngặt nghẽo :

_ Này cô em xinh đẹp. cô có tư cách đuổi tôi sao ? Nên nhớ là tôi đã thanh tóan tiền cho chủ cô rồi nhé, còn nhiều hơn người khác nữa ấy chứ, cũng có nghĩa cô em phải chìu tôi tận tình hơn người khác chứ không phải to tiếng mà đuổi tôi ra ngòai đâu nghe chưa.

Hấn nói đúng, cô không có quyền giữ lại tấm thân này với bấy kỳ ai, khi cô đã bán nó cho những đồng tiền đều đặn gửi qua biên giới. Những đồng tiền được đóng cái mác là lợi nhuận của một cửa hàng mà cô đã hợp tác với một số người. Càng minh chứng cụ thể hơn là những bức hình khi cô trong vai một người khách du lịch chụp với những người bán hàng. Đột nhiên cô đau nhói trong lòng khi nghĩ đến nếu Thành biết được chuyện này. Sự cẩn thận đã để lộ yếu điểm của cô :

_ Thôi được, tôi chấp nhận, nhưng anh không được để cho chồng tôi biết chuyện này.
_ Tất nhiên rồi, trừ khi tôi muốn trông thấy nó hộc máu ra mà chết.

Huyền ném vào Hấn một tia mắt căm hờn trước khi cắn răng chịu đựng sự giày xéo của hắn. Hấn như một con thú điên cuồng, vừa để thỏa mãn cơn thèm khát người con gái khi xưa, vừa để trả thù cho một sự thất bại mà hắn vẫn ôm hận chưa nguôi. Không chỉ một lần, mà Hấn đã trở thành một khách quen của nhà hàng với độc nhất một cô kỹ nữ. Mọi người nhìn vào, thì thầm tô lên đó một vẻ đẹp văn hóa “Đấy, người đồng hương có khác, họ có tình với nhau thế đấy”. Chỉ có Huyền nuốt trăm cay nghìn đắng vào lòng, rã rời thân xác sau mỗi lần hành hạ của Hấn.

_ Hãy nói yêu tôi đi, tôi sẽ tha.
_ Không bao giờ.
_ Thế thì mày sẽ chết ..sẽ chết trong tay tao…

Có lẽ Huyền sẽ chết thật, vì sự giới hạn của sức lực, của sự chiu đựng , cuối cùng Huyền đổ bệnh, nhà chủ sợ trách nhiệm nên ném cô vào một bệnh viện. Huyền được cứu chữa, khỏi bệnh, Huyền nghĩ đến chuyện trở về, và chỉ có trở về cô mới thóat khỏi Hấn, vả lại những gì cô cần có cũng đã tạm gọi là tương đối. Điều Huyền không ngờ tới là Hấn, sự căm hận dai dẳng đã biến hắn thành một người đê tiện, và cái camera mini là một thứ phương tiện đắc dụng.

Thành với tâm trạng hồ hởi, hưng phấn tính từng ngày để đón vợ trở về sau bảy năm xa cách, để cùng vui hưởng một đời sống tốt đẹp mà cả hai đã dày công tạo dựng . Tất cả những phấn khích của anh bị dập tắt một cách tàn nhẫn vào một ngày anh nhận được một cái dĩa VCD. Suốt chiều dài của những thước phim ấy không hề có một lời bình, chỉ có những hình ảnh, những hình ảnh đủ đè bẹp dũng khi của một người đàn ông, đủ thiêu đốt hết những lâu đài hạnh phúc, đủ đập tan một tương lai êm đẹp của một gia đình . Cuối cùng của những thước phim ấy là một tràng cười không dứt, tràng cười lanh lảnh, ngạo nghễ, đắc thắng ấy chẳng khác gì những lưỡi dao khóay sâu vào tận cùng gan ruột. Thành đã chết đứng, chết lịm, chết lặng, nếu không có đứa con gái còn nheo nhéo bên tai thì anh đã đâm đầu vào tường mà chết thật. Cái ngày Huyền về, Thành đã không ra sân bay đón, anh không còn đủ can đảm để nhìn mặt Huyền. Nhưng anh còn đủ tỉnh táo, đủ trấn tĩnh để gạt đi cái ý nghĩ đâm cho người đàn bà kia một nhát. Nên khi Huyền xuất hiện trước cửa nhà, thì tất cả những gì anh có thể làm được chỉ là bật ra một câu nói :

_ Tôi không thể tha thứ được.

Huyền nhìn gương mặt khốn khổ của mình trong gương, gương mặt nhuốm đầy vẻ đau thương, ủ rũ và phai tàn, nhưng vẫn còn giữ nguyên vẻ đẹp vốn dĩ của nó. Huyền bật một cái cười chua chát : Đẹp, mi đẹp mà làm gì, cái đẹp của mi đã mang tai họa đến cho chồng con mi và cả chính mi nũa. Huyền bất giác nghĩ đến một giải pháp, cô nhếch môi và mắt ứa lệ, phải thế thôi, còn gì nữa đâu. Đã gần một tháng nay, Huyền chỉ rời khách sạn với mỗi một lý do, cô muốn được gặp con, muốn được ôm con vào lòng, dù chỉ một lần rồi xa mãi. Nhưng Thành đã không cho cô có được một phần cơ hội. Cánh cổng ngôi nhà vẫn luôn đóng im ỉm, sư im lặng của khước từ và cuời cợt. Cô không biết được có còn ai tồn tại trong ngôi nhà ấy không Huyền bỗng quyết định, cô phải gặp con bằng mọi cách, cho dù Thành có đối xử với cô như thế nào đi nữa, chỉ một lần, một lần thôi, nếu không cô sẽ không cam lòng nhắm mắt.

Cái nút chuông nhấn đến lần thứ hai thì cánh cửa hé ra, để lộ gương mặt một phụ nữ trẻ. Huyền nghe như một nhát roi quất vào mình, à thì ra, anh cũng khá mau chóng đấy anh Thành ạ.

_ Chị tìm ai ạ ?
_ Tôi tìm ông chủ nhà này.
_ Ba tôi ạ ? Ba tôi đi vắng rồi, chị có việc gì nói với tôi cũng được.

Một ý nghĩ khác làm Huyền run chân, cô vội hỏi :

_ Vậy anh Thành, anh Thành có con gái là bé Thúy ấy…

Không đợi Huyền hết câu, cô gái “à” một tiếng :

_ Vậy là chị tìm anh chủ nhà cũ hả ? Tôi không biết ảnh đi đâu đâu, ba tôi mới mua lại căn nhà này mà, à ba tôi về kia rồi, để tôi hỏi xem ông có biết không ? Ba ơi…

Người đàn ông khá lớn tuổi, nhìn chăm chăm vào Huyền một chút rồi hỏi :

_ Cô có phải là cô Nghiêm Thị Bảo Huyền không ?
_ Dạ thưa phải ạ.
_ Cô đợi tôi một chút.

Nói rồi ông ta đi vội vào nhà, Huyền ngây đờ người trước việc Thành đã bán nhà, anh đi đâu ? Anh cắt đứt tình mẹ con của Huyền một cách quýết liệt vậy sao ? Anh còn gửi lại cái gì cho Huyền ? Hay là một cái địa chỉ nào đó ? Huyền khấp khởi khi thấy người đàn ông kia bước ra trên tay là một cái phong bì. Huyền đón lấy và bóc ngay ra, đó là một tấm ngân phiếu mang tên cô có trị giá…Huyền lảo đảo ngã gục xuống, tiếng người chủ nhà mới la lên :

_ Cứu…cứu…cấp cứu…

Đàm Lan

Khoảnh Khắc

Đêm mất ngủ. Cô không nghĩ mình lại có được điều xa xỉ ấy ở tuổi ngoài ba mươi. Cái tuổi “đã toan về già”. Vẫn trằn trọc. Thương con tim nhỏ bé lại loạn nhịp mất thăng bằng.
Cứ ngỡ rằng tim đã chai sạn giữa thành phố ầm ầm tiếng xe máy và tiếng người này. Cứ ngỡ rằng chuyện mất thăng bằng chỉ là ảo tưởng khi suốt ngày chỉ nghe chuyện giá đất lên, chuyện kiếm kiểu gì và ở đâu được bao nhiêu vé. Cứ ngỡ rằng chẳng còn chỗ cho những phút bay bổng đắm chìm trong suy tư với tiếng nhạc ở thời đại mà điện thoại di động réo liên hồi, làm quen hay hẹn hò chỉ bằng chat trên mạng.

Vậy mà tối nay…

Cuộc hội ngộ sau mười năm của đám bạn hồi sinh viên không thể kết thúc trong phạm vi một nhà hàng. Cả lũ kéo nhau đi nghe nhạc. Cô đã từ chối được cảm nhận sự hiện đại của cuộc sống đêm ở thành phố tại quán với cái tên rất thơ mộng “Cà phê Xanh” khi vừa bước chân vào. Lại ồn ã, lại nhịp điệu quay vòng chóng mặt để vẫn cảm thấy thiếu cái điều chỉ còn ở tên của quán. Cô là người ở xa về nên lũ bạn chiều cô. “Chọn quán nào nhẹ nhàng hơn đi!”- Cô đề nghị nhưng hoàn toàn không hy vọng sẽ đạt được cái cô tìm kiếm. Thành phố cô yêu, thành phố thơ mộng trong tâm tưởng của cô đã khoác lên mình một bộ cánh thời trang nhất để nó chẳng thua kém gì các thành phố khác nhưng cũng na ná như tất cả. Những nơi không ồn ào, ầm ỹ thì cũng được hiện đại hoá sự “êm dịu” khiến cô không dám bước vào sau vài bài học kinh nghiệm. Thôi phó mặc cho lũ bạn.

Cái tên “Cây cọ” không nói gì nhiều đối với cô về nơi cậu bạn chọn. Khi ngồi xuống cạnh bàn ở góc cô bỗng thấy ngát lên mùi hương quen thuộc. Mùi hương đã đượm trong cô lâu, lâu lắm rồi- một nhành ngọc lan trong chiếc lọ nhỏ trên bàn. Cô chợt hiểu điều cô cảm thấy thiếu mỗi đêm trong những ngày qua. Nơi cây ngọc lan ở vườn nhà hàng xóm bây giờ đã là ngôi nhà ba tầng chót vót. Cô nhớ thời cô học thi ở phổ thông. Để “thay đổi không khí” buổi tối cô hay mang bài lên sân thượng là mái bằng của bếp. Lúc đã chán xoay vần với tam giác hay ngũ giác cô với tay tắt chiếc đèn tù mù, nằm xuống nền xi măng mát lạnh ngửa mắt nhìn bầu trời chi chít những vì sao. Bao bọc lấy cô là mùi hương nhè nhẹ, ngan ngát toả ra từ cây ngọc lan nhà hàng xóm. Cô hít sâu vào như muốn hương thơm ấy thấm vào từng tế bào của cơ thể mình…

    “Chiều dần buông mầu tím
    Vẳng bên sông lời hát êm đềm
    Hoà với tiếng tầu đêm
    Chập chờn trôi về xa phía chân trời…”


Tiếng hát trầm ấm vang lên bên chiếc đàn dương cầm đưa mùi ngọc lan của cô đến với cánh rừng bạch dương nước Nga. Những thân cây trắng đuổi bắt với những tia nắng chiều nhiều khi làm cô bối rối, đâu là thân cây, đâu là tia nắng. Cả lũ bạn cũng im lặng. Tiếng cậu bạn khe khẽ: “Như là dành riêng cho hội bọn mình ấy nhỉ!“. Phải rồi, cái hội sinh viên bao lần thi nhau chạy trên đồng cỏ xanh rờn xuống tận bờ sông. Rồi cùng nhau đi hái hoa đồng nội để tết thành vòng hoa đội đầu. Rồi giấu để bọn bạn không biết khi đếm những cánh hoa cúc “yêu, không yêu“. Rồi lâng lâng nuối tiếc theo tiếng gió khua lá vàng xào xạc dưới chân trong rừng phong mỗi mùa thu đến.

Cô khẽ nhấp cốc cà phê. Đăng đắng, ngòn ngọt toả nơi đầu môi.

    “Em vẫn từng đợi anh
    Trên những chặng đường quen
    Tiếng hát ai xao động
    Thoáng mùi hương êm đềm…“

Mọi lời nói đều trở thành thừa thãi. Mắt cậu bạn xa xăm. Một nét cười chạy qua trên môi đứa khác. Mùi hoa sữa dưới ngọn đèn đường le lói tràn về trong khoảnh khắc.

Khoảnh khắc ấy làm đêm nay cô mất ngủ. Khoảnh khắc với hoa ngọc lan của tuổi thơ, đồng cỏ xanh tuổi sinh viên, hương hoa sữa và những lời hẹn hò. Khoảnh khắc ấy cô tìm lại được thành phố của mình. Khoảnh khắc làm cô yêu hơn thành phố của mình, cho dù nó khoác bộ cánh mới. Phải chăng cuộc đời cũng từ những khoảnh khắc, tình yêu cũng là những khoảnh khắc.

Phan Bích Thiện

Hạt cơm thiu

Thấy bé Thảo quẹt xoành xoạc cái thìa vào lòng bát một cách tuế toá, làm những hạt cơm văng ra tung toé, tôi nhăn mặt :

– Con nhặt từng hạt cơm lên cho ba.

Vốn được cưng chìu, bé Thảo phụng phịu :

– Có mấy hạt rơi mà ba cũng bát con nhặt, để lát mẹ quét nhà là
sạch thôi mà.
– Không được, phải nhặt lên. Thảo. Con có nghe lời ba không ?

Thấy tôi nghiêm giọng, nghiêm mặt, cô con gái không dám tủng hủng nữa, ngồi xuống nhặt từng hạt cơm. Vợ tôi vẻ không vui :

– Anh sao thế ? Bắt ne bắt nét con bé.
– Phải tập cho nó biết quý từng hạt gạo chứ. Dạy con phải dạy từ
những nhỏ nhặt nhất, đừng có phiên phiến quá sau rồi hỏng. Có phải ăn những hạt cơm thiu mới biết bát cơm ngon lành nó quý giá đến thế nào.

Bé Thảo nhảu giọng :

– Cơm thiu thì ai mà ăn hả ba ?
– Có đấy con ạ. Không phải chỉ một lần, mà bã đã phải ăn đến ba lần rồi đấy.

Câu nói được gìm lại trong cổ họng đúng lúc. Nhắc đến điều này là trong lồng ngực tôi lại nhói lên. Bởi mỗi lần phải ăn những hạt cơm thiu ấy, là một lần ghi khắc một dấu ấn không thể quên trong đời tôi.

Lần thứ nhất, cũng là lần đau đớn nhất. Ấy là thời điểm trọng đại của đất nước. Ký ức tôi không ghi nhớ được gì nhiều hình ảnh của những ngày đùng đoàng bom đạn, lúc ấy tôi mới khoảng 6,7 tuổi. Chỉ nhớ rõ nhất, có một bữa cơm dở dang, mà mỗi người trong gia đình tôi phải bê theo bát chạy xuống hầm khi có tiếng máy bay ì ì vọng tới. Tôi chậm chân hơn mọi người vì còn quay lại gắp thêm một miếng thịt. Và chỉ bằng một khoảnh khắc gián đoạn ấy đã chia cắt tôi và gia đình bằng một tiếng nổ chát chúa và tôi không còn biết gì nữa. Không biết tôi đã ngất đi trong bao lâu, chỉ mang máng nhớ, khi tỉnh dậy, tôi kinh hoàng bởi bao gạch đá lấp gần hét thân mình, muốn khóc gọi ba mẹ nhưng cũng không còn đủ sức. Bản năng sinh tồn đã cố dẩy tôi nhoai dần ra khỏi đống gạch. Trời tối sẫm, lạnh và đói, tôi quờ quạng sao đụng phải chiếc bát, trong ấy còn sót vài hạt cơm. Hẳn nó đã bị văng cùng tôi, cố nhét những hạt cơm ấy vào miệng, vị chua lờm lợm làm tôi muốn ụa ra. Nhưng cái đói đã thắng, Sau đó tôi lại thiếp đi dưới một mảnh tôn. Rồi tôi được cứu bởi những người hàng xóm. Họ thật ngạc nhiên khi thấy một đứa trẻ lại có thể sống sót sau sự chấn động thư thế. Khi ấy, tôi mới biết, trên đời không còn ai là người thân của tôi. Vào tuổi ấy, tôi đâu đã đủ cảm nhận nỗi bất hạnh ấy lớn đến thế nào, chỉ biết oà lên khóc, khóc vì sợ thì đúng hơn.

Đã không rơi vào cái chết nghĩa là phải đối mặt với sự sống. Bằng sự cưu mang của bà con lối xóm, tôi nhích dần qua thời gian. Nhưng họ cũng chẳng cưu mang mãi được, khi chính bản thân họ cũng đang rất khốn khó, thế là tôi thành một đứa trẻ lang thang. Sức vóc chẳng được là mấy, nên tôi nhập bọn cùng một lũ cũng tương đương, khi thì xin ăn, khi thì quanh quẩn ở những nơi hàng quán, chực những người khách đứng lên là xô tới húp vét cặn thừa. Một hôm, dó cơn sốt trong đêm trước, tôi chẳng tranh nổi, cứ bị gạt ngã văng ra, người lớn chả ai buồn để ý, họ còn mải xua đuổi lũ ruồi nhặng chúng tôi. Tôi mệt quá, lê vào một góc chợ thỉu đi. Đêm đến, khi cơn sốt dài đã dứt, bụng đói cồn cào, nước dãi tứa ra, tay chân lẩy bẩy, tôi quáng quàng đi tìm cái ăn. May mà các chú bảo vệ không chú ý, nên tôi lọt lại trong khu chợ đã đóng cổng. Lần mò mãi, tôi đụng phải một cái bọc lylon, Vội và mở ra, trong đó là một nắm cơm đã bốc mùi mốc nặng, tôi cuống quýt phủi lớp men màu gạch của “vị cứu tinh”, rồi cho vào mồm trệu trạo nuốt. Đó là lần thứ hai tôi phải ăn những hạt cơm thiu. Sau này, mỗi lúc nhớ lại, không hiểu sao cơ thể có những lúc lại chấp nhận được những loại khuẩn trùng kinh khủng thế ? Quả là một điều khó hiểu của thuyết tự nhiên. Biết bao người, nhà cao cửa rộng, ăn ngon ngủ ấm, được tẩm bổ chăm sóc đầy đủ, thì lại cứ hay bệnh nọ tật kia. Còn lũ mái hiên lòng phố dãi dầu chúng tôi thì cứ lùi lũi mà đi qua, có chút ốm đau nào thì tự khắc khỏi, ăn còn chưa có, nói gì đến thuốc. Tóm lại một câu là “Trời để sống” vậy.

Lớn hơn tí chút, đã có thể kiếm sống bằng một vài công việc, không dư dả gì, chỉ đắp đổi qua ngày được đã là tốt. Lần hồi tôi cũng trở thành một thanh niên cứng cáp. Thế rồi, sau một cái vỗ vai, tôi đi theo một loại hình công việc, mà hiệu quả của nó phần nhiều phụ thuộc vào cái gọi là vận may. Câu thành ngữ “Ngậm ngải tìm trầm” có lẽ cũng chưa đủ để diễn tả hết những nỗi nguy nan nhọc nhằn của công việc này. Nhưng sức hút về giá trị của sản phẩm thì đủ át hết những lo sợ, ngại ngần. Chỉ cần từ hai đến ba lần gặp may, thì sản nghiệp trong tay cũng gọi là đủ để đổi đời. Chính vì vậy mà những ai dấn thân vào công việc này sẵn sàng mặc lòng đánh đổi, có khi là cả tính mạng.

Cuộc sống vốn là một chuỗi lòng vòng ân oán, may rủi, được mất. Và rất nhiều khi chỉ vì một giá trị vật chất tầm thường, mà con người ta dễ dàng ra tay loại bỏ nhau. Không có con đường dẫn đến thành công nào mà không đày rẫy những gian truân, nguy ngại. Một trong số ấy lại có thể đến từ bạn đồng hành. Hạnh phúc và bất hạnh đôi khi chỉ cách nhau một tích tắc. Tiếng reo hò mừng rỡ chưa kịp tròn mồm, thì tôi bỗng có cảm giác đau điếng phía sau đầu, và loạng choạng gục xuống.

Một lần nữa, số phận tôi lại tìm đến câu “Trời để sống”.

Cho dù khi tôi có lại được nhận thức thì xung quanh tối đen và cảm giác mình đang ở trên một vùng ẩm ướt. Định thần một lúc, tôi nhớ ra mọi chuyện và hiểu mình đang ở trong một tình cảnh như thế nào. Việc cần thiết trước nhất là rà soát lại những cơ năng của cơ thể. Chân tay cử động bình thường, trong người cũng không có triệu chứng gì khó chịu, chỉ có phía sau đầu vẫn còn đau nhức. Rất may là cú đập không đủ mạnh nên chi gây choáng ngất. Tôi có gắng lần mò leo lên cây dó, cũng là cái cây mà lúc ban ngày tôi tìm thấy ổ trầm. Leo lên được một chạc cây khá vững, tôi tựa người thở dốc. Dù không muốn, nước mắt tôi vẫn lặng lẽ rơi. Còn bao chua chát, cay đắng mà cuộc đời này còn dành tặng cho tôi nữa. Và để tồn tại được một kiếp người, tôi sẽ còn phải trả giá những gì nữa đây ? Một đêm chập chờn thức ngủ, chập chờn mộng thực, chập chờn sống chết. Ngày tiếp đến, tôi bị lạc trong rừng, và lần thứ ba trong dời, những hạt cơm thiu lại bám lấy tôi. Dù đã nhớt nhợt, nhưng dù sao có chất gạo vẫn tốt hơn lá rừng. Nuốt những hạt cơm tủi cực ấy, tôi thấy thương mình quá. Vì đâu nên nỗi ? Lầm lũi giữa cây lá, chim muông, giữa lặng thinh không có bóng người, tiếng người, tôi chợt nghĩ, thôi thì ở lại với rừng, rừng nuôi thì sống, rừng không nuôi thì chết vậy. Tôi có vùi thân nơi đây thì cũng không để khổ để nợ cho ai mà. Thế giới con người đã khuất xa, chắc sẽ chẳng còn ngọn roi gió bão nào nữa. Ấy thế nhưng đâu phải cứ muốn là được, dù cho điều ước muốn ấy có sơ giản đến đâu. Một người dân tộc thiểu số đi đào măng đã đưa tôi trở lại thế giới người.

Ít lâu sau, mọi người thấy ở một góc phố, nhỏ nhoi một ít vật dụng sửa vá xe, một thanh niên bước vào tuổi tam thập, ít nói, cần mẫn với công việc. Ai biết đâu chính sự cần mẫn ít nói ấy đã dúi vào tay tôi một bàn tay mềm mại. Lòng trời vẫn rộng, lòng đời vẫn mở, lòng người vẫn vui. Ừ thì việc đến cứ đến, con nhận được thì cứ nhận, còn yêu được thì cứ yêu, cuộc sống vẫn còn những điều cho ta đáng trân trọng.

Có vợ rồi có con, cuộc sống tất bật với bao điều tươi mới, tôi chẳng còn có dịp giở lại những trang đời rách tướp ấy. Nếu không có việc răn dạy bé Thảo hôm nay, thì tôi đã như quên hẳn những năm tháng xót xa của mình. Nhưng nhớ cũng chỉ để nhấm nháp riêng mình thôi, chẳng bao giờ tôi kể những chuyện ấy cho vợ con nghe. Để làm gì ? Vì sự thương cảm hay mặc cảm cũng đều là không tốt. Dẫu sao thì tất cả cũng đã qua rồi. Con người chỉ có một đường tiến lên phía trước, có ngoái lại chăng cũng chỉ là một chút vọng âm. Để biết đôi chân mình đà từng có lúc…Thế thôi.

ĐÀM LAN

Cuộc điện thoại bất ngờ

Trời ẩm rình. Những quầng mây màu xám bạc vẫn chen nhau rủ lưng chừng trong không gian, rõ ràng là chúng chưa hề có ý định tản đi nơi khác, ít nhất là trong khoảng 24 giờ tới, mặc dù chúng đã làm những vị khách không mời từ sẫm chiều hôm trước. Thời tiết thường có một tác động nhất định đến tâm trạng, trong hoàn cảnh này thì sự hăng hái, hưng phấn, sôi nổi và đầy hứng thú là điều rất khó.Và cho dù không có điều gì đáng để buồn bã, sầu muộn, thì ít nhất tâm trạng người ta có có một chút gì chùng xuống, bâng khuâng và man mác, có thể hoài niệm một cái gì đó cụ thể, nhưng cũng có thể vì một mơ hồ, thoang thoảng không dễ gọi tên. Lại là khi người ta chỉ ngồi một mình, không gian tịch lặng, trong cái lạnh buôn buốt, trong âm thanh rào rạo, rào rạo của những vạt mưa đáo qua. Nếu là một cơn giông hay một cơn mưa rào to thì lại là khác, trạng thái tiếp nhận, đối phó rất rõ ràng và hạn định trong một quãng thời gian ngắn. Nhưng đàng này, cái ảm đạm kéo dài của tiết trời, kéo theo trạng thái cũng ủ ê kéo dài của hồn người. Chợi nghĩ đến muốn tỉ tê với một ai đó. Tình cảnh không mấy màu sắc này lại vô cùng thích hợp cho sự lan man chuyện trò, cho những nguồn cơn nỗi lòng được gợi mở và tuôn trào.

Nhưng vấn đề là ở chỗ đối tượng cho cuộc trò chuyện ấy là ai ? Bởi thông thường không phải người ta luôn dễ dàng thổ lộ những tâm tư mình với một người bất kỳ. Mà phải là một người có cùng một nhịp độ giao cảm, có cùng một trạng thái tâm lý, và phải là người đã biết về nhau, hiểu về nhau khá nhiều rồi cơ. Cho dù khi tâm sự thường là chỉ đem chuyện mình ra kể, nhưng ít nhất phải nhận được một tinh thần quan tâm và chia sẻ từ người được nghe, nếu không, rõ ràng chỉ rơi vào một tình thế không hay ho gì.

Trong thời tiết này, nếu phải bước chân ra đường thì chỉ có thể với một lý do bất khả kháng nào đó, còn lại thì là một sự vô lý, thậm chí còn gọi là điên điên, man man gì đó cũng không sai. Cho nên cách tốt nhất là vận dụng (hay tận dụng, lạm dụng đều đúng cả) một thứ phương tiện mà từ nền khoa học phát triển của thế giới đã xúất hiện trong đời sống con người từ rất lâu rồi. Cái thứ phương tiện đã đem lại rất nhiều tiện ích, Mà có nó người ta đã giảm được rất nhiều thời gian và những chi phí khác. Thứ phương tiện này được cài đặt một loại thanh âm rộn rã, mỗi khi nó cất lên cứ như là một tiếng gọi reo vui nào đó, luôn thúc giục người ta phải mau bước tới. Khoa học càng phát triển thì thanh âm của nó càng đa dạng, càng đem đến cho con người rất nhiều sự lựa chọn, qua đó người ta có được cảm giác thích thú hoặc dễ chịu biết bao. Nó nối liền và thu ngắn mọi khoảng cách, những con số đo độ dài địa lý không còn là một sự bận tâm. Quả là trí thông minh của loài người là điều tuyết bích nhất của thế gian. Có thế con người mới có thể chinh phục và thống trị muôn loài được chứ.

Trở lại với vấn đề chính, có nghĩa là tôi đang có một nhu cầu, một nhu cầu rất lớn, rất cụ thể, rất hiện hữu, là được trò chuyện cùng ai đó, một cuộc trò chuyện có thể là rất nhiều đề tài, tuỳ vào sự ngẫu hứng của cả hai. Và trước mặt tôi là chiếc điện thoại, thứ vật dụng có tính năng tuyệt vời mà tôi đã đề cập đến kia. Và cái thú chuyện vãn qua điện thoại không chỉ là sở thích của một con số khiêm tốn, mà có lẽ nó luôn tiềm ẩn trong mỗi người. Đôi khi người ta phải hết sức và có nhiều biện pháp để hạn chế nó, nều không thì tình trạng ùn tắc sẽ không chỉ xảy ra ở những giao lộ vào giờ tan tầm, kèm theo là những tổn thất khó lường.

Và đây ,cái ống nghe đang chờ tay tôi nhắc, những con số nhẫn nại đang chờ ngón tay tôi lướt qua. Bộ nhớ của tôi đang hoạt động tích cực, nó điểm qua một loạt những guơng mặt, không chỉ là gương mặt, mà bao gồm cả những tính cách và mức độ của những mối quan hệ nữa, thân có, sơ có, gần có, xa có. Để chọn được một trong hàng dãy thật chẵng dễ chút nào. Trong khi tôi còn chưa giải quyết được sự gút mắc trong mình, thì bất thần, một tràng thanh âm rộn rã dội vào tai tôi, khiến tôi giật thót người, vì sự đột ngột và cũng vì một niềm vui chợt vỡ, cái giải pháp tôi không hề tính tới đã hiện ra đúng lúc. Tiếng chuông thứ hai vừa dứt, cái ống nghe được áp vào tai, một tiếng Alo kèm theo chút mong chờ rằng từ đầu dây bên kia sẽ là một âm sắc quen thuộc nào đó, hay nhất là một trong số vài gương mặt mà tôi vừa điểm qua, như thế cũng có nghĩa là một tần sóng được thu và phát đúng lúc.

_ Xin chào.

Một giọng nam trầm nhè nhẹ, tôi chưa kịp nhận ra là lạ hay quen, đáp lại câu chào với thái độ thăm dò :

_ Vâng, chào anh.
_ Vâng, chào cô, may quá …

Tôi ngạc nhiên, giọng nói lạ, tôi khẳng định là thế, vì thính giác tôi có độ thẩm âm khá nhạy, nhất là những giọng nói, đúng là chất giọng này tôi chưa nghe bao giờ, sao anh ta lại bảo là may ? Sự nghi vấn tuột khỏi môi tôi:

_ May ? Vì sao ạ ?

Phía bên kia như có một tiếng cười nhẹ.

_ Tôi nói may là vì tôi đã được gặp một giọng nữ.

Cái gì ? Tôi càng ngẩn ngơ hơn với câu nói khó hiểu phía bên kia. Chắc là một sự nhầm lẫn nào đây.

_ Có lẽ anh nhầm số một cơ quan nào đấy phải không ạ ?

Lại một tiếng cười nhẹ.

_ Vậy đó là nhà riêng ạ ?
_ Vâng, nhà riêng. Anh muốn tìm ai ạ ?
_ Tôi …tôi không tìm ai cả.
_ Ư…
_ Xin lỗi, tôi không làm phiền cô chứ ?

Tôi đã hơi bực mình, nhưng vẫn nhẹ giọng vì chưa biết mục đích của người đang đối thoại là gì.

_ Làm phiền thì không, nhưng hình như tôi chưa có hân hạnh được quen biết anh thì phải.
_ Chưa quen thì bây giờ quen cũng được mà, tôi cũng vậy thôi.

Thế này là thế nào nhỉ, chả lẽ bỏ máy ngang thì bất lịch sự quá. Mất cả hứng thú, tưởng đâu…Dường như đoán biết tôi đang nghĩ gì, đầu dây lại cất tiếng :

_ Xin cô đừng vội bỏ máy. Thế này cô ạ. Chắc cô cũng thấy thời tiết đang rất xấu phải không ?

Một chút gì đó động đậy, để xem.

_ Vâng , điều hiển nhiên đó đang có mặt khắp nơi.
_ Tôi đang ngồi một mình trong một căn phòng rộng, rất buồn khi nhìn trời mưa gió và ảm đạm thế này. Tôi bỗng muốn trò chuyện cùng ai đó (à , giống mình) và tôi chợt nảy ra một ý nghĩ, biết đâu tôi sẽ tìm được một người bạn mới trong một ngày mặt trời không ngự trị trên thế gian này (ái chà, nghe có vẻ văn chương gớm nhỉ). Và thế là tôi bấm một hàng số ngẫu nhiên.
_ Tôi hiểu rồi. Nhưng sao anh lại cho là may khi gặp một giọng nữ?
_ Vâng, rất may nữa là khác. Đã là giọng nữ, lại còn có vẻ chấp nhận một cuộc điện thoại đường đột thế này, nếu như tôi gặp một giọng của anh bạn nào đó chắc cũng chẳng sao, câu chuyện sẽ đi theo chiều hướng khác, còn nếu là giọng một người già hay một chú nhóc, thì chắc tôi sẽ lại thử vận may của mình vào một lúc khác rồi.

Tôi đã cảm thấy có gì lôi cuốn trong trò chơi này rồi đây. Ý tưởng của anh ta không tệ đấy chứ. Ít ra cũng có một cái gì đó khá mới mẻ. Thì cứ tiếp tục xem sao.

_ Cứ cho đúng là anh gặp may đi, nhưng không biết tôi đang gặp vận gì đây?
_ Hy vọng là không tệ lắm và nếu không muốn tiếp tục, cô có quyền từ chối, tôi sẽ xin lỗi và rút lui có trật tự.

Trong đừơng dây rộ lên tiếng cười từ cả hai đầu. Không khí đã khác đi nhiều.

_ Bây giờ có lẽ chúng ta đã có thể trò chuyện một cách tự nhiên thoải mái rồi chứ nhỉ.
_ Còn phải xem các tình tíết diễn biến thế nào đã chứ ạ.
_ Ồ , tất nhiên, này cô bạn thân mến, nếu không có gì là quá đáng , cho tôi xin môt cái tên cho dễ trao đổi đuợc không ạ ?
_ Tôi nghĩ nãy giờ chưa cần đến một cái tên, chúng ta vẫn trao đổi thuận tiện đó thôi. Vả lại, có lẽ còn quá sớm cho một trích lục đấy ạ.
Một tràng cười như một sự chấp nhận bất đắc dĩ.
_ Hình như tôi đang gặp một đối thủ nặng ký thì phải.
_ Đó là ý nghĩ của riêng anh thôi, và anh đã cảm thấy ân hận vì sự ngẫu hứng của mình chưa ?
_ Chưa. Mà đúng hơn là không bao giờ.
_ Anh có từng nghĩ tự tin rất gần với chủ quan không ?
_ Có thể, nhưng trong trường hợp này thì không ? Nghe cô nói chuyện, tôi có cảm giác cô là một típ phụ nữ thuộc về xã hội. Chắc cô cũng đang công tác trong một công sở nào đấy phải không ạ ?
_ Kế hoạch thăm dò đối thủ của anh thất bại rồi, anh cho rằng phụ nữ có chút cá tính và hiểu biết nhất thiết phải là người trong công sở sao ?
_ Không, không hẳn thế, nhưng ít ra đó cũng là một môi trường thích hợp.Tuy cũng có rất nhiều loại công việc độc lập, nhưng môi trường hoạt động và tiếp xúc rộng thì vẫn có thể cho đó là mảng xã hội được chứ.
_ Đồng ý. (Anh chàng này cũng có vẻ trình độ đây)
Một khoảng lặng cần thiết, tôi mỉm cười, cũng hay, có vẻ một người bạn mới là điều hẳn nhiên rồi vậy. Đúng là cầu được ước thấy, không biết lúc nãy tôi suy tư vào giờ gì mà linh thế nhỉ ?
_ Cô có tin vào chữ “duyên” không ?….ý tôi nói chữ “duyên” trong đạo Phật ấy, chữ “ duyên “ theo nghĩa rộng đó mà.
_ Tôi hiểu, tôi hiểu, tôi tin chứ. Tất cả mọi thứ trên đời này, kể cả người lẫn vật, có gặp được nhau hay không cũng là nhờ vào chữ “duyên” ấy đấy.
_ Đúng vậy, tôi cũng rất tin vào điều đó, và cuộc nói chuyện của chúng ta hôm nay là một minh chứng rõ rệt phải không ?
_ Có lẽ thế.
_ Không phải là “có lẽ », mà chắc chắn là thế.
Tôi cười, thừa nhận.
_ À mà tôi có làm gián đoạn công việc gì của cô không đấy ?
_ Ồ không, trước lúc chuông reo tôi cũng đang nhìn trời thôi mà.
_ May quá, như vậy rõ ràng hôm nay là một ngày tốt với tôi.
_ Người ta thường mong những điều suôn sẻ, tốt đẹp vào một ngày đẹp trời nhưng với một ngày hôm nay cũng không thể gọi là xấu, anh nhỉ ?
_ Vâng, thực ra tốt hay xấu là tuỳ thuộc vào suy nghĩ, quan niệm và hành động của mình cả thôi cô ạ. Nếu với một ý nghĩ u ám, một hành động đen tối, một quan niệm bạc nhược, thì dù cho trời có nắng ráo, sáng sủa, đẹp đẽ đến đâu cũng không có tác dụng gì hết.
_ Nghe anh nói, tôi cảm giác anh là một nhà văn.
_ Không không, tôi không có cái duyên may ấy đâu, nhưng tôi cũng rất thích đọc sách. Có lẽ nhờ thế mà không đến nỗi để cô chán chuyện của tôi chăng .?
_ Này, anh tự tin hay tự phụ đấy ?
Một tiếng cười nho nhỏ, tôi tiếp :
_ Tôi cũng rất thích đọc sách, đó là một thế giới muôn màu, một đại dương bao la mà có bơi hết một đời cũng không đến được bờ bên kia.
_ Rất đúng, có điều sách ban giá cao quá, nên không thể thường xuyên ghé hiệu sách được.
_ Anh thử đến Thư viện tỉnh xem.
_ A, một ý kiến hay đấy, cảm ơn cô rất nhiều.
_ Không có gì.
Lại vài giây cho sự im lặng, nếu tiếp tục không biết câu chuyện còn dẫn đến bao nhiêu đề tài khác nữa nhỉ ? Một chút nữ tính nhắc nhở, lần đầu tiên nói chuyện với một người hoàn toàn xa lạ với một thái độ thiếu cẩn trọng chắc chắn không phải là sự khôn ngoan rồi, nếu để câu chuyện dẫn dắt đi xa đến mức khó kiểm soát thì kể ra cũng hơi mạo hiểm, mặc dù tôi không phải là người quá kỹ tính, nhưng sự chùng mực chắc không thừa. Và nếu muốn thì đây đâu phải là lần chuyện trò duy nhất. Suy nghĩ phát ra hành dộng.
_ Chắc là chúng ta nên tạm dừng câu chuyện ở đây chứ nhỉ ?
Có vẻ đề nghị đột ngột của tôi làm cho anh bạn bên kia bị hẫng.
_ Dừng á? Cô có việc bận sao ?
_ Không hẳn thế, nhưng hình như đã quá nhiều cho một buổi sơ giao rồi đấy.
_ Tôi thấy như là còn quá ít.
_ Không nên ăn quá nhiều một lúc, ta sẽ thấy mất thú vị đi, biết để dành và biết chờ đợi cũng là một cái thú đấy anh ạ.
_ Thế thì xin vâng lời cô vậy. Tôi có thể gọi lại vào một lúc khác chứ ?
_ Vâng.
_ Hy vọng lần sau sẽ có được một chút thông tin về cô nhé.
_ Tôi cũng đã biết gì về anh lắm đâu.
_ A, thế là huề nhé. Vậy hẹn gặp lại lần sau.
_ Vâng, hẹn gặp lại. Chúc anh mọi điều vui vẻ.
_ Tôi cũng chúc cô mọi sự tốt lành. Xin chào cô.
_ Vâng, chào anh.
Vài giây luyến tiếc mới có tiếng đặt máy xuống. Tôi cũng mỉm cười gác máy. Nhìn ra ngoài trời, không gian vẫn không có gì thay đổi, nhung trong mắt tôi bây giờ, cảnh vật cũng khác trước rất nhiều, thậm chí còn có vẻ hay hay, đáng yêu nữa kia. Câu nói của người bạn mới văng vẳng : Tốt hay xấu, tuỳ thuộc vào suy nghĩ, quan niệm và hành động của mình mà thôi. Quá đúng. Ơ thôi rồi, tôi quên không hỏi số điện thoại của anh ta rồi. Nhưng không sao, chắc chắn anh ta sẽ còn gọi lại mà, và cái gọi là “may” chắc không chỉ có nghĩa đối với anh ta đấy chứ. Hẳn là thế rồi. Tôi cảm giác một sự phấn chấn trỗi lên trong lòng, với tay nhấn vào một cái nút của chiếc máy đĩa, một giai điệu mượt mà vang lên. Ngoài trời mưa vẫn khúc nhặt khúc thưa, rỉ rả, rỉ rả…

Đàm Lan

Tìm về bến nước

Bình minh âu yếm nâng nhẹ tấm khăn sương che chiếc gương bạc của nàng tiên H’Lung dắt ngang đỉnh trời tròn, từ từ hiện ra hàng ngàn đóa sen trắng, sen hồng đung đưa trên mặt nước biêng biếc. Đang giữa mùa sen, gió đẫm hương mát ngọt. Thuyền độc mộc đi đánh cá, rời bến từ lúc bóng đêm còn loãng, đang đua nhau tung lưới. Trong ánh hồng e thẹn của bình minh, nhìn từ xa, các vàng lưới tung lên như những tấm mạng nhện khổng lồ. Bóng người chống thuyền, thả lưới rung rinh uốn lượn trong sương như điệu múa mời rượu pah kngan rông yang của các nàng sơn nữ. Phía tây hồ, đỉnh Cư Yang Sin hiện dần như vóc dáng chàng Lăk cường tráng đang trìu mến ấp ủ, chở che gương mặt xinh đẹp của người tình.

Đứng trên hiên nhà sàn, Y Tlang hít một hơi thật dài khoan khoái. Bao nhiêu mệt nhọc của một ngày đi bộ hôm qua, gió thơm dừơng như mang đi hết. Chào amí chủ nhà, vịn lên đôi bầu vú căng mẩy chạm đầu thang xuống sàn, Pie Y Tlang và H’Zen quả quyết rảo bước về phía buôn Phơi. Lại đi. Lại hỏi. Nữ thần lúa Yang Hri có bảy người con gái, mỗi nàng là một loại giống. Trong một cơn giận dữ của cha rừng, bảy người con lạc mẹ. Việc H’Zen phải tìm cho ra bảy giống lúa, bảy người con gái thất lạc đã khó, nhưng tìm cho ra gốc rễ của Pie Y Tlang còn khó hơn. Đức Cha Phrancis đã đưa anh về Pháp từ bốn mươi bảy năm trước đây, lúc còn đỏ hỏn như con chuột nhắt mới sanh. Trước lúc đi về cõi vĩnh hằng, Đức Cha mới tiết lộ và khuyên Y Tlang nên đi tìm lại nguồn cội của mình. Sáu tháng trời về tới thành phố Hồ Chí Minh, nhờ mục nhắn tin của báo Tuổi Xanh, cả sự nhiệt tình của Ban bạn đọc, Y Tlang mới gặp được kỹ sư nông nghiệp H’Zen, tìm được người bảo lãnh để về đến cái hồ trên đỉnh cao nguyên, cao hơn mặt biển tới hơn bảy trăm mét này.

Cũng may, H’Zen lại đang được giao đề tài “ Giống lúa rẫy truyền thống của đồng bào Tây Nguyên”, chị mới có dịp đưa Y Tlang đi tìm bến nước gốc cội của anh, kết hợp với việc truy tìm các giống lúa cũ. Hai người đã đến nhiều bến nước Êđê, gặp hàng chục người già không còn đếm được số mùa rẫy đã qua, mà vẫn chưa tìm ra manh mối gì. Tất cả vẫn còn phủ một tấm màn bí ẩn. Hôm nay, H’Zen khuyên Y Tlang chuyển hướng sang tìm ở các bon Mnông.

H’Zen đã lần lượt mở toang ra từng cánh cửa mà đôi chân Pie Y Tlang run rẩy mỗi lần bước qua. Đây là cội nguồn của anh ư? Quê hương của anh đó ư? Mông muội? Hoang dã? Hay chính là những gì trong suốt nhất, hơn cả giọt sương, hơn cả nắng trời, vượt lên trên tất cả? Anh sẽ phải tiếp nhận hay chối bỏ “ nó” đây? Những câu hỏi cứ nhay đi nhay lại trong tâm trí Y Tlang như một lưỡi cưa cùn. Có lúc anh đã muốn bỏ chạy, vứt lại sau lưng tất cả. Thế là đủ rồi, không cần biết điều gì hơn nữa.Nhưng rồi anh cũng lại thấy cần phải đi cho đến tận cùng của sự tìm kiếm. Bởi thật là ngỡ ngàng trước những gì nhìn thấy, nghe thấy và gặp gỡ. Nó chẳng có chút nào chung với cuộc đời bốn mươi bảy năm ở nơi “ kinh đô ánh sáng” mà Y Tlang đã sống. Nhưng lại như giúp anh lần giở từng trang một cuốn sách đầy những điều hấp dẫn. Này nhé, người Êđê ở những nhà sàn mang hình dáng con thuyền, dài đến “ một hơi ngựa chạy ”. Cả buôn dựng nhà theo hướng Bắc –Nam, san sát nhau như các con thuyền độc mộc chiều về neo lại nơi bến nước. Bon làng Mnông lại là những căn nhà trệt nằm kề nhau, mái tranh lợp rủ dài sát đất, tròn như những chiếc nấm mối. Khách muốn vào nhà Êđê phải leo cầu thang đằng trước, vịn tay lên bầu vú gỗ để đến được với không gian mẫu hệ. Nhà Mnông lại có hai cửa hình vòng cung cùng mở về hướng đông, thấp lè tè. Bước qua cửa nào cũng gặp bếp lửa cháy quanh năm. Giữ gìn lửa là việc sống còn của con người giữa rừng đại ngàn. Lửa soi sáng mọi việc làm trong nhà. Lửa nấu chín thức ăn. Lửa xua cái lạnh giá những tháng mưa rừng. Lửa phừng phừng da thịt gái trai thương nhau…Nhà dài Êđê mỗi bếp lửa, mỗi ngăn là một cặp vợ chồng con cái. Người Mnông chỉ có hai bếp lửa chung. Một sạp nứa dài suốt chiều ngang nhà, kêu răng rắc mỗi khi có người bước lên bước xuống. Đây là chỗ ngủ chung của cả đại gia đình lẫn khách. Mọi đôi chân đều hướng ra bếp lửa. Ấm chân sẽ ngủ yên cả đêm, dù chỉ đắp một tấm chăn thổ cẩm mỏng.

H’Zen đang lúi húi bên bếp với mẹ chủ nhà. Y Tlang nằm tựa đầu lên chiếc gối gỗ, đối diện với cửa bên trái, chỗ nằm của khách. Từ đây có thể nhìn xa sang tận bên kia hồ, tới chỗ cánh đồng lớn mênh mang viền quanh bờ Nam. Cánh đồng như một tấm lụa xanh, Mẹ Đất âu yếm choàng cho cô con gái yêu. Hoang sơ, tĩnh lặng, tưởng như đang ở vào thời khắc của chàng dũng sỹ Dam San và nàng H’Nhi thuở trước. Đầu Y Tlang đau như có ai đem búa nên vào…

– Tha lỗi cho Cha, từng ấy năm đã giấu con sự thật. Cha đã từng nghĩ phải để cho con xa hẳn, quên hẳn nguồn gốc man rợ của mình. Nhưng về trước Chúa, Cha không có quyền đem đi bí mật của đời một con người. ..Có Chúa chứng giám…Chắc cha mẹ con trên thiên đàng cũng sẽ hài lòng….Cha…đã…làm hết sức mình để con nên người….Ai cũng có nguồn cội con ạ. Phải trở về thôi….rất tiếc, đã từ rất lâu…Cha không có liên hệ gì với bên ấy….Nhưng con cứ…đến giáo xứ Lạc Thiện…cái hồ…..núi Yang Sin…hỏi…ông…

Tiếng cười đắc thắng của Thần Chết cắt ngang câu nói hổn hển khó nhọc của vị linh mục già. Đồng loạt các quả chuông lớn nhỏ trong mái của nhà thờ xứ rung lên não nề. Bóng áo choàng đen cao lênh khênh, tay lưỡi hái, tay dắt linh hồn vượt qua vòm trần cao thăm thẳm, bay về vô định. Bàn tay Đức Cha Phrancis tuột khỏi đầu Pie Y Tlang, biến thành chiếc cánh vẫy vẫy. Y Tlang cuống cuồng ngẩng lên, đuổi theo

– Đừng bỏ con Cha ơi! Cha! Tìm ông gì Cha ơi…

Đuôi chiếc áo choàng đen quật vào ngực anh đau điếng. Y Tlang mở mắt nấc nghẹn. Chao ôi! Cái hồ hơn năm trăm héc ta mặt nước. Họ đã đi nửa số buôn bản địa quanh nó. Mấy lần trăng? Mấy mùa rẫy Y Tlang mới đi giáp vòng? Mới tìm được cái nơi mẹ đã cắt nhúm nhau, cha đã chôn cuống rốn cho anh? Mà người ta có ở mãi một chỗ đâu. Tìm đến chỗ này là buôn mới, buôn cũ đã dời đi từ hồi bệnh dịch thổ tả hoành hành. Đến chỗ nọ, rẫy cũ đã hết màu, bon làng phải dắt díu nhau đi tìm vùng rẫy khác. Thời chiến tranh còn chạy giặc, dồn dân gom về các ấp chiến lược. Từ ngày thống nhất hai miền, cũng đã vài đợt quy hoạch định canh định cư rồi. Mà Y Tlang đâu có biết mình vốn gốc Êđê hay Mnông đâu để tìm chứ?

– Cha đặt tên con là Y Tlang. Con chim Tlang pút vẫn hót bên cửa số nhà thờ của Cha ở bên cạnh hồ, mỗi sáng sớm…

Cứ đi, cứ hỏi. Mà hỏi ở đâu? Tìm ở đâu? Hỏi ai? Mẹ ơi, cha ơi! Con lại phải tiếp tục sống trong mù mờ thế này bao lâu nữa?

Chiều đang mờ dần trên mặt hồ. Bóng tối trong nhà đã đặc như cắt được. Chợt có tiếng thoang thoảng :

– Về đi con! Những người Mẹ mang con đằng trước, mang gùi đằng sau, không khi nào chối bỏ con cái của mình đâu…

Y Tlang bật dây, thoáng như thấy một phụ nữ tóc dài chấm gót, váy quấn ngang cặp vú, đôi vai trần loang loáng nước, uyển chuyển lướt qua cửa. Bà tan biến trong sương đêm đang mỗi lúc một dày lên.

*

Mệt mỏi. H’Zen và Y Tlang leo lên chiếc xe đò đầy bụi về thành phố Buôn Ma Thuột. Nóc xe chất cao nghệu những sọt hàng chở đầy ốc, cá , lươn…Họ phải về vì đã đi gần trọn tháng. H’Zen thiu thiu ngủ. Y Tlang không dứt khỏi được những ý nghĩ triền miên, lặng lẽ ngó mông ra ngoài cửa xe. Vùng đất này đến lạ, vượt qua những qủa đồi cao với những dãy núi đá thấp chen đất đỏ bạc phếch, những rừng cây lưa thưa, là gặp những cánh đồng rộng đến khó tin.Lúa xanh mơn mởn trải dài đến tít tận chân núi xa. Chơ vơ giữa đồng, một thân cây với đầy những cụm hoa lớn trắng xóa. Đứa trẻ chăn trâu chạy vụt qua, những cụm hoa lay động, biến thành cả trăm con cò trắng táo tác bay lên trong nắng. Bầy cò hợp thành đàn lớn, giang cánh bay về phía núi xa, như một dải lụa trắng phơi ngang nền trời xanh trong vắt. Cái màu xanh ngăn ngắt của bầu trời cao nguyên sao diệu kỳ đến vậy. Dường như không giống với màu xanh của bất cứ một vùng trời nào Y Tlang đã từng thấy, ngay cả bầu trời ở vùng ngoại ô Paris đầy cây xanh mà anh đã lớn lên. Màu xanh ở đây cứ trong vắt, thăm thẳm, nó hợp với chàng gió phóng khoáng tạo nên sự bao la đến vô tận. Giá không có những người phụ nữ váy kéo ngang đầu gối, đang lom khom cấy lúa, làm cỏ, chắc người ta ngỡ đang ở một vùng đồng bằng hay trung du nào đó. Chợt Y Tlang há hốc miệng, chồm lên thành xe, thò hẳn đầu ra ngoài : một người đàn ông mặc độc chiếc quần cộc, phơi tấm lưng trần loáng mồ hôi nâu bóng, vạm vỡ, đang đuổi…voi cày ruộng. Con voi thủng thẳng nhấc từng chiếc chân to như cột nhà, lội bì bõm trong đám bùn. Đuôi ngoe nguẩy như làm nũng với ông bố đang cầm cày phía sau, nhưng vòi lại hít đầy nước ruộng phun lên thằng bé đang nhảy chồm chộp bắt dế trên bờ ruộng. Người đàn ông nhẫn nại đẩy chiếc cày, lật lên những tảng đất bùn đen bóng.

Ôi ! Có biết bao nhiêu điều bí ẩn kỳ lạ mà ta chưa từng được thấy. Có phải quê hương ta thực đó không? Giá mà được sục chân trong đám bùn mát rượi kia. Giá mà được nằm lăn trên đám cỏ mịn dưới gốc cây knia đơn độc giữa đồng ấy. Giá mà được lắc lư trên bành voi đi trong bóng râm mát của rừng đại ngàn? Mẹ ơi! Mẹ chối bỏ con ư ?

Con đường làm từ thời Pháp đến nay, chưa được tu sửa lớn lần nào, xóc dữ dội.Chả trách người ta gọi là Lắc. Đường hẹp chỉ đủ hai xe tránh nhau. Một cái xóc nảy người, quăng cả H’Zen lẫn Y Tlang chúi về phía trước. Từ lúc lên xe, quá mệt mỏi và mải suy nghĩ, bây giờ họ mới chợt nhận thấy : ngồi thu lu trên chiếc ghế đẩu đặt thêm cạnh thùng máy, ngay trước mặt hai người là một ông già dáng nhỏ thó.Tóc ông loăn xoăn trắng như bông blang, xòa xuống tận cổ, viền quanh khuôn mặt đen cháy, đầy nếp nhăn xếp nếp như thân cây bằng lăng cỗi. Hai bàn chân khô đét đầy bụi đường, ngón cái xòe ra tách hẳn với những ngón chân kia, kẹp chặt chiếc dép bằng da bò, co hết lên trên chiếc ghế nhỏ. Tẩu thuốc đen bóng dính chặt trên môi. Đôi mắt ông đã sùm sụp nhưng vẫn ánh lên vẻ tinh anh của người già được coi là thông thái trong buôn. Một chiếc áo không tay dày cộm, cứng queo, luốc luốc màu đà khoác trên vai. H’Zen nhận ra chiếc áo bằng vỏ cây đập dập rất kỹ. Ông lão lạc lõng với xung quanh như vừa bước ra từ câu chuyện cổ về con lươn thần của hai chàng Lăk, Liêng. Một tia sáng lóe lên trong đầu, H’Zen tỉnh ngủ hẳn :

– Ti ih nao ? ( Ông đi đâu vậy?)

Mắt nheo nheo, hai lỗ mũi nở bung, phì ra một đám khói đặc, khét lẹt mùi lá thuốc gốc, thủng thẳng ông nói từng tiếng :

– Đi Buôn Thuật! Cho đứa cháu chứng dùm lại cái giấy cách mạng ghi cho mình đóng góp voi từ hồi chống Pháp.

– Ông mấy lần rẫy rồi?

– Cái bầu khô từ hồi Âe Tăng mình bỏ vô, mấy con cháu đếm được tám mươi sáu hòn đá suối đấy.

– Ti anôk buôn ih? ( Ông ở buôn nào?)

– Buôn Du đó chớ đâu.

Y Tlang chồm tới vồ lấy hai bàn tay như hai chiếc lá đa úa khô, lắc lắc:

– Ông ơi, buôn Du hồi xưa có ai đưa con nít mới sinh cho Đức Cha người Pháp nuôi không ông?

– Để coi coi…Ôi Yang ạ. Cái đầu mình khô như hạt giống trong bầu rồi đấy…

Cặp mắt lại nheo nheo, lại một đám khói đặc khét lẹt che mờ cả khuôn mặt ông lão. Ánh mắt ông bỗng lờ đờ, lờ đờ như đang lạc vào cõi hư vô nào xa lắc…

*

Tiếng ching báo có người chết rầm rập nổi lên từ cuối buổi chiều, các bà í ới xôn xao gọi nhau suốt các nhà dài, từ cây blang đầu buôn, tới bến nước cuối buôn :

– Con H’Liang nó tắt hơi rồi đấy. Nghe tiếng ching báo không?

– Amí Tin ơi, bà sang đó giúp thay váy áo cho nó với.

– Ơ amí Son. Mày ghé bà Chàm lấy mấy cuộc chỉ màu tết sợi dây cúng hồn nhé.

– H’ Yên ! Ở đâu rồi? Con xúc cho amí một nồi ba gạo mang sang nhà cô H’Liang nhé…

Nhà H’Liang không lúc nào ngớt người lên xuống. Sàn nứa rung rinh kêu ràm rạp. Vịn đôi bầu vú gỗ đến nơi cầu thang đằng trước là đàn ông, người mang cột gơng cúng thần, kẻ vác ché rượu, anh khiêng nồi nước, thoăn thoắt nối bước chân nhau. Thang đằng cuối nhà, cô cõng gùi gạo, chị xách con gà, bà nọ hấp tấp chạy sai bọn trai trẻ bổ thêm củi, mấy cô gái gùi thêm bầu nước. Khói đặc sệt từ các bếp lửa dưới sân nhà rung rinh theo nhịp ching, nhịp chân. Các ông oang oang cắt cử người đào huyệt, kẻ tạc tượng, bác làm hòm, cháu bẻ lá nhét vô ghè rượu. Xì xào là tiếng các bà bàn tán sự đẻ khó của H’Liang, tính toán số gạo phải giã, đồ ăn phải đủ cho ba ngày cúng đám. Vượt lên trên những tiếng nhộn nhạo ấy, như một cánh chim chấp chới hốt hoảng, là tiếng khóc của thằng bé mới sinh. Nhăn nhúm như một trái cà dái dê để héo, nó ngoác cái miệng đói sữa mà gào lên từng chặp. Bà đỡ bồng nó đung đưa, vỗ về, kể lể. Mặc ! Nó cứ gào bằng cái giọng đến là chói tai. Đôi lúc bà lão đút ngón tay út vô miệng cho nó mút. Không nhận được chút gì, nó lại nhả ra la chói lói. Dường như thằng bé linh cảm thấy số phận của nó chẳng khác gì rừng đêm không trăng. Pap mnai – tội nghiệp cái thằng ! Cha nó cách nay ba lần con trăng treo vì bắn hụt con hổ thọt, bị nó xé xác trong một đêm săn. Một mình mẹ nó, cái bụng khệ nệ như chiếc trống h’gơr, hết lên rẫy cuốc cỏ, lại xuống suối xúc cá, mò ốc. Chắc không muốn mẹ mang nặng, nên chưa tới ngày tháng đủ, thằng nhỏ đã quẫy đạp đòi ra, khiến amí nó ngã dụi, bao nhiêu máu trong người ào ra cả bờ suối như nước trong bầu dội xuống. Lúc bà đỡ phát vô cái mông bé teo cho nó khóc, cũng là lúc mẹ nó tắt làn hơi cuối cùng, không kịp mở mắt nhìn thấy mặt con. Nó khóc ngằn ngặt từ lúc đó. Ác cái là mẹ nó mồ côi, là người cuối cùng của dòng họ H’Druê ở buôn này. Còn cha nó, lưu lạc từ đâu tới, cả buôn không ai biết rõ, ở làm nô lệ nhà người ta, tới lúc thương nhau, mẹ nó mang tất cả những vật dụng quý còn lại của gia đình, sang nộp cho Âe Tăng làm lễ hỏi và cưới cha nó. Cả dàn ching Lao quý giá pha đồng đen, lẫn bộ ché Tuk, ché Tang ba đời, lớn nhỏ mười cái, mới chuộc được cha. Lúc cha mẹ nó về ở chung, chỉ còn cái nhà trống lổng. Gió đuổi nhau chạy từ cửa phía Bắc sang cửa đằng Nam, không gặp cái gì ngăn lại. Còn bây giờ á, không có người đặt tên cho nó. Càng không có ai để mang tên nó, mẹ nó cứ mãi là H’ Liang với hai mươi mùa rẫy. Cha nó cũng vẫn cứ là Y Rit. Chẳng ai được buôn làng gọi ama thằng nọ, amí thằng kia theo tập tục nữa. Thằng bé vẫn cứ khóc không lặng.

– Tội nghiệp thằng nhỏ quá đi. Buôn mình sao lúc này không có ai đang nuôi con bú hè?

– Con H’Liang có còn bà con nào ở buôn gần, buôn xa không? Đem thằng nhỏ tới đó gửi.

– Đâu có còn ai ! Chắc phải chôn nó theo mẹ thôi. Lời luật tục ông bà ta là thế đó.

– Bếp mình nhận nuôi nó được không amí?

– Đâu có được. Mình không phải bà con, cũng không có người đang còn sữa, làm sao làng cho nhận. Nuôi không nổi nó còn khổ hơn. Phải làm cái hòm rộng cho mẹ nó mang đi theo thôi. Sau này về nhà ai cũng có mẹ có con. Luật tục khít như vậy rồi.

– Ama ! Cái ông áo đen, tóc vàng như râu bắp đó, là ai vậy ?

– A! Đó là người Cha ở nhà thờ buôn Tâng Jú. Con trai buôn mình có người học cái chữ với ông đó mà…

Từng hồi chiêng tang lễ vẫn dồn dập, dai dẳng.

*

Pie Y Tlang ngồi lặng nơi đầu sàn, ngó ra mặt hồ. Chiều, như cô gái tắm, hờ hững buông rơi tấm choàng hoàng hôn. Hàng đàn chim kiú quáo gọi nhau về tổ, cánh chấp chới chao nghiêng in trên nền trời đỏ. Xa xa, những cành thủy tùng khô khỏng, tạc vào chiều như bao nhiêu cánh tay níu kéo, kêu gọi.

Tiếng ching đón khách rộn rã trong nhà ông Ama Nhen, cháu ba đời của Âe Tâng. Không biết có yang nào phù trợ vượt được mọi đổi thay, mà ngôi nhà sàn dài này đã chứng kiến gần cả trăm lần sen tàn, sen nở trên hồ Lăk rồi. Những cây cột một vòng tay ôm, chiếc ghế kpan độc mộc dàn chiêng đang ngồi, dài hàng sải tay; cả chiếc jhưng nơi ông chủ nhà nằm ngủ mỗi đêm bên bếp lửa, đều đã đen bóng như thoa nhọ nồi.

Y Tlang gục đầu. Tay phải vô tình cứ xoay xoay chiếc vòng đồng mà thày cúng sau khi khấn khứa các vị thần linh thiêng, đã lồng vào cổ tay trái cho anh. Tiếng chiêng dội trong ngực anh đau nhói.

– Thế rồi cuối cùng con cũng tìm được bến nước của mình, mẹ ơi.

– Con ơi! Mấy chục mùa gió nổi nay, cha mẹ cứ bay vật vờ như con mối, vì không có người bỏ mả, không thoát được bến nước này, làm sao theo phù trợ cho con được. Nhưng con đã về đây rồi, núi này, rừng nọ, bến nước đây sẽ không bỏ rơi con đâu. Ơ con của mẹ….

Lời khấn của Pô riu yang âm âm trên mặt hồ lãng đãng phủ kín hơi sương :

– Tôi gọi ông Du, ông Diê. Tôi gọi ông Gỗn trên làng trời. Tôi gọi bà Dung bà Dai dưới đất. Tôi gọi hồn mẹ hồn cha phơ phất. Hãy nhận lấy con mình lạc nơi bến nước lạ, nay đã về được với bến nước mẹ cha. Xin các yang cho cái tay nó khỏe như hùm beo, cái chân nó mạnh như heo rừng. Cho của cải của nó tầng tầng như lá cây, tình anh em tràn đầy như nước suối.Ơ Yang !

– Nhưng mẹ ơi, nơi này con đâu còn có ai?

– Còn chớ con ! Bến nước đầu buôn nơi mẹ đổ máu sanh con. Rừng xanh ở đây máu cha con đã đỏ gốc. Cái rốn con chôn chỗ này. Nước sương nơi đây con đã uống. Đó chính là sức mạnh của rừng, đất đã cho con. Bà con đó sẽ là anh em. Buôn làng đó sẽ là nhà con.

– Mẹ! Mẹ ơi!

– Cha mẹ luôn ở mãi với con đây con à.

Y Tlang se sẽ rùng mình. Bàn tay nào vừa vuốt nhẹ từ trên đầu xuống mặt anh.

Vẫn là tiếng chiêng ấy, bây giờ ngân nga ca hát. Tiếng ching dội vang trên mặt hồ, chạy theo những con sóng lăn tăn, gọi vầng trăng mười sáu to như chiếc nong phơi lúa, nhô lên khỏi mặt nước. Những con ruà, con chim, kỳ đà trên xà nhà như được ánh trăng đánh thức, động đậy, động đậy. Y Tlang vươn người đứng dậy hít căng lồng ngực hơi nước mát lành. Anh như mỗi lúc một lớn bổng lên, tràn đầy sinh lực.. Quay lại, H’Zen đã đứng bên cạnh từ lúc nào. Tiếng ching rộ lên đón chào, vây bọc lấy hai người, ấm áp. Lung linh, lung linh, mặt nước bạc xôn xao, chở tiếng ching vui về bao bến nước….

Linh Nga Niê Kdăm