Thiền sư Ikkyu rất thông minh lúc còn nhỏ. Thầy của Ikkyu có một tách trà quý, đồ cổ hiếm có. Ikkyu lỡ làm vỡ tách này và rất bối rối. Nghe tiếng chân thầy, Ikkyu dấu chiếc tách sau lưng. Khi thầy đến, Ikkyu hỏi: “Tại sao người ta phải chết?”
“Đó là tự nhiên,” vị thầy già giải thích. “Tất cả mọi thứ đều chết và chỉ có một thời gian để sống.”
Ikkyu, đưa cái tách vỡ ra, và thêm: “Giờ chết của cái tách của thầy đã đến.”
.
Bình
• Các quy luật tự nhiên thì ai cũng biết. Nhưng khi đụng chuyện thì ta quên mất. Ví dụ: Người đang stress thì hay nói bất bình thường. Tuy nhiên, khi nghe ta vẫn giận dỗi, mà quên mất là người đó đang stress. Rốt cuộc, stress chiến thắng được cả hai người—người nói và người nghe.
Vì vậy, khi đụng chuyện, ta cũng nên nghe lời nhắc nhở của người khác về các quy luật tự nhiên đang hoạt động trong cuộc sống của ta.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Time to Die
Ikkyu, the Zen master, was very clever even as a boy. His teacher had a precious teacup, a rare antique. Ikkyu happened to break this cup and was greatly perplexed. Hearing the footsteps of his teacher, he held the pieces of the cup behind him. When the master appeared, Ikkyu asked: “Why do people have to die?”
“This is natural,” explained the older man. “Everything has to die and has just so long to live.”
Ikkyu, producing the shattered cup, added: “It was time for your cup to die.”
Vào đời Chu Thành Vương (1), Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là người Việt Thường đem dâng nhà Chu chim trĩ trắng (2). Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu Công phải qua nhiều lần dịch mới hiểu được. Chu Công hỏi: “Tại sao dân Giao Chỉ cắt tóc ngắn, để đầu trần, xăm mình, đi chân đất như vậy là cớ sao?”. Sứ thần đáp rằng đáp: “Cắt tóc ngắn để tiện đi trong rừng. Xăm mình để giống hình Long Quân bơi lội dưới sông loài giao long không phạm tới. Đi chân đất để tiện leo cây. Cày bằng dao, trồng bằng lửa. Ău trầu cau để trừ ô uế cho nên răng đen”. Chu Công hỏi: “Tại sao tới đây?, người Việt Thường đáp: “Đời nay không có mưa dầm gió dữ, ngoài bể không nổi sóng lớn đã ba năm nay, ý chừng là Trung Quốc có thánh nhân xuất thế, nên tới đây vậy”. Chu Công than rằng: “Chính lệnh không thi hành thì quân tử không bắt kẻ khác thuần phục mình, đức trạch không có cho người thì quân tử không hưởng lễ của người. Còn nhớ Hoàng Đế có nói rằng: “Giao Chỉ xa xôi ở cõi ngoài, không được xâm phạm đến”. Bèn ban thưởng cho phẩm vật, răn dạy rồi cho về. Người Việt Thường quên đường về, Chu Công bèn ban cho 5 cỗ xe, đều chế tạo cho hướng về phương Nam. Người Việt Thường nhận lấy mà đi theo hướng biển nước Phù Nam, Lâm Ấp (3), đi một năm thì về tới nước. Cho nên, xe chỉ nam thường dùng để đi trước đưa đường. Về sau, Khổng Tử viết sách Xuân Thu, cho nước Văn Lang là một nơi hoang vu, chưa có văn hiến, nên bỏ trống không chép (4).
Chú thích:
1) Chu Thành Vương, vua nhà Tây Chu, Trung Quốc, lên ngôi từ năm 1055 đến năm 1021 trước Công Nguyên.
2) Sách Việt Sử Lược chép rằng: “Đến đời Thành Vương nhà Chu, bộ lạc Việt Thường Thị (người Việt Thường) mới đem dâng chim trĩ trắng. Sách Xuân Thu gọi đất này là Khuyết Địa, sách Đái Ký gọi là Điêu Đề…”.
3) Phù Nam: Phù Nam là tên phiên âm Hán-Việt của một quốc gia cổ trong lịch sử Đông Nam Á, xuất hiện khoảng đầu Công Nguyên, ở khu vực hạ lưu và châu thổ sông Mê Kông. Theo nhiều thư tịch cổ Trung Quốc, thì trong thời kỳ hưng thịnh, vương quốc này về phía Đông, đã kiểm soát cả vùng đất phía Nam Trung Bộ (Việt Nam), về phía Tây đến thung lũng sông Mê Nam (Thái Lan), về phía Nam đến phần phía Bắc bán đảo Malaixia. Quốc gia này tồn tại cho đến khoảng nửa thế kỷ 7 (sau năm 627) thì bị sáp nhập vào lãnh thổ của Chân Lạp. Mãi đến thế kỷ 17 – thế kỷ 18, phần lãnh thổ xưa kia được coi là trung tâm của Phù Nam, tách khỏi Chân Lạp để trở thành một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, tức Nam Bộ ngày nay. Cư dân của Phù Nam chủ yếu là người Mã Lai – Đa Đảo [Wikipedia].
4) Bản A 2914 chép rằng: “Về sau, Khổng Tử viết sách Xuân Thu, cho nước Văn Lang là một nơi chưa khai hóa, không có việc triều chính, không có chính cương, nên không chép vậy.
(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.
Bình:
• Đây là sự gặp gỡ của hai nền văn hóa hoàn toàn khác nhau–Chu Thành Vương và sứ giả Việt Thường của Văn Lang ngôn ngữ bất đồng đến mức phải qua nhiều lần dịch mới hiểu được.
Và Chu thành Vương phải hỏi sứ giả Việt Thường về phong tục hàng ngày của người Việt (cắt tóc ngắn, để đầu trần, xâm mình, đi chân đất), tức là vua Chu chẳng biết tí gì về Việt.
Lại hỏi sứ giả “Tại sao tới đây?”, tức là giữa hai nước từ xưa đến nay chẳng có liên hệ giao hảo gì cả.
Chu Thành Vương còn nói: “Đức trạch không có cho người thì quân tử không hưởng lễ của người”, tức là từ xưa nay nhà Chu chẳng có một tí ân đức nào với Văn Lang cả, nhấn mạnh thêm sự cách biệt giữa hai nước.
• Chim trĩ trắng là biểu tượng của nền văn hóa Việt Thường (Văn Lang). Xem trống đồng Ngọc Lữ thì nhận ra ngay chim là vật tổ của dân Việt cổ. Từ ngàn dặm xa mang chim đi tặng, tức là mang văn hóa của mình để giới thiệu với người phương Bắc. Đây cũng là một điểm chính để nói đến sự khác biệt của hai nền văn hóa.
• Và mang chim đi tặng là vì muốn đi tìm thánh nhân ở Trung Quốc, đó là đi tìm đạo để học, chứ không phải là thần dân đi triều cống.
Đây là trao đổi văn hóa–mang văn hóa của mình đi tặng, để tìm học văn hóa của người.
• Vì hai nước cách biệt nên Chu Công nói: “Chính lệnh không thi hành thì quân tử không bắt kẻ khác thuần phục mình… Còn nhớ Hoàng Đế nói rằng: ‘Giao Chỉ xa xôi ở cõi NGOÀI, không được xâm phạm đến.’”
• Tất cả những điều trên đây đều nhấn mạnh một điểm: Người Việt không thuộc Trung quốc. Người Việt là một quốc gia độc lập, ngoài Trung quốc, có văn hóa riêng ngang hàng với Trung quốc để có thể trao đổi văn hóa, Trung quốc không được xâm phạm nước của người Việt.
• Người Việt Thường quên đường về: Quên đây không có nghĩa là không biết đường về, vì đã đến được là về được. Quên đây có lẽ là biểu tượng của sự bám rễ của nền văn mình bạch trĩ của Việt Thường trên đất Bắc, và vua phương Bắc không thích thế, cho nên mới tìm cách mời về cho nhanh, bằng cách cho 5 chiếc xe với kim chỉ nam chạy thẳng về Nam.
(Thời Chu Thành Vương người Trung quốc chưa khám phá ra kim chỉ nam, có lẽ là cũng phải 600 năm đến 1000 năm sau đó kim chỉ nam mới được biết đến ở Trung quốc. Nhưng các sai lầm như thế này là chuyện rất thường xuyên trong các truyện cổ).
Hôm nay mình “giới thiệu” với các bạn một bài hát trẻ con mà có lẽ nhiều người đã rất quen và thuộc. 😀
Incy Wincy Spider
Incy Wincy spider climbed up the water spout.
Down came the rain, and washed poor Wincy out.
Out came the sun, and dried up all the rain,
and Incy Wincy spider climbed up the spout again.
.
Dịch lời:
Nhện Incy Wincy trèo lên ống nước
Mưa xuống và rửa trôi chú ra ngoài
Nắng lên và sấy khô từng giọt mưa
Và nhện Incy Wincy lại trèo lên ống nước.
.
.
Cuộc sống là một quá trình vận động không mệt mỏi. Cũng có lúc trời mưa, có khi trời nắng. Khi lên được, rồi lại khi bị tụt xuống, thậm chí có thể về lại vị trí ban đầu. Nhưng hết mưa rồi sẽ lại nắng. Tụt xuống thì lại trèo lên. Đó mới là cuộc sống, phải không các bạn?
Cuộc đời thật đơn giản và đẹp các bạn nhỉ!
Chúc cả nhà một ngày vui tươi và bền bỉ như chú nhện trong bài nhé.
.
Một ông lão có ba cậu con trai. Một hôm, khi thấy các con mình đã đến tuổi trưởng thành, ông gọi họ lại và nói rằng giờ đây ông đã rất già yếu, không thể chu cấp cho ai được, kể cả chính bản thân mình. Vì vậy, ông bảo con mình hãy ra ngoài và đem thức ăn và quần áo về cho ông.
Ba người con bắt đầu lên đường, và sau một khoảng thời gian dài, họ đến một con sông rộng lớn. Vì đã cùng nhau đi cả một quãng đường dài, họ quyết định rằng một khi đã qua bên kia sông, mỗi người trong số họ sẽ chọn một hướng riêng. Người anh cả nói với người em út chọn con đường ở giữa, với người em thứ hai chọn con đường bên phải, còn anh ta sẽ rẽ trái. Sau một năm, họ sẽ trở lại điểm xuất phát ban đầu.
Và họ bắt đầu lên đường, và sau một năm, như đã hứa, ba người con trở lại bờ sông năm nào. Người con cả hỏi người con út anh ta đã tìm được những gì trong suốt chuyến đi của mình, và người con út trả lời: “Em không tìm thấy gì ngoài một chiếc gương, nhưng chiếc gương này có một sức mạnh thần kì. Khi nhìn vào nó, anh có thể nhìn thấy khắp tận cùng đất nước, dẫu cho nó có xa ngàn dặm đi chăng nữa”.
Đến lượt mình , người con thứ hai trả lời: “Chỉ một đôi giày nhưng nó cũng chứa đầy sức mạnh, nếu có ai đó mang vào anh ta có thể đi đến bất kì nơi nào, chỉ với một bước chân”.
Và cuối cùng là người con cả, anh nói: “Anh cũng đem về được một thứ, không nhiều, một ống thuốc, tất cả chỉ có thể. Nhưng giờ ta hãy nhìn vào gương và xem cha của mình sống ra sao rồi”
Người con út lấy gương ra, và cả ba người con đều nhìn và đó và thấy rằng cha của họ đã qua đời, và đám tang cũng đã kết thúc. Người con cả nói: “Hãy mau chóng trở về và xem chúng ta làm được những gì”. Vì vậy người con thứ ra đem đôi giày ra, và cả ba anh em đều đặt chân họ vào đó, ngay lập thức, họ đã đứng trước mặt mộ của cha mình. Sau đó người con cả lấy lọ thuốc ra khỏi cái giỏ của mình, và đổ lên ngôi mộ. Ngay lập tức, cha của họ tỉnh lại, như thể chưa hề có chuyện gì xảy ra với ông.
Vậy tóm lại, ai trong số ba người con này đã làm tốt nhất?”
Viên Hy dịch
.
WONDROUS POWERS
An old man had three children, all boys. When they had grown up to manhood, he called them together and told them that now he was very old and no longer able to provide, even for himself. He ordered them to go out and bring him food and clothing.
The three brothers set out, and after a very long while they came to a large river. As they had gone on together for such a time, they decided that once they got across they would separate. The eldest told the youngest to take the middle road, and the second to go to the right, while he himself would go to the left. Then, in a year’s time, they would come back to the same spot.
So they parted, and at the end of a year, as agreed, they found their way back to the riverside. The eldest asked the youngest what he had gotten during his travels, and the boy replied: “I have nothing but a mirror, but it has wonderful power. If you look into it, you can see all over the country, no matter how far away.”
When asked in turn what he had gotten, the second brother replied: “Only a pair of sandals that are so full of power, that if one puts them on one can walk at once to any place in the country in one step.”
Then the eldest himself, said: “I, too, have obtained but little, a small calabash of medicine, that is all. But let us look into the mirror and see how father fares.”
The youngest produced his mirror, and they all looked into it and saw that their father was already dead and that even the funeral custom was finished. Then the elder said: “Let us hasten home and see what we can do.” So the second brought out his sandals, and all three placed their feet inside them and, immediately, they were borne to their father’s grave. Then the eldest shook the medicine out of his bag, and poured it over the grave. At once their father arose, as if nothing had been the matter with him.
Now which of these three sons has performed the best?
Trong ca dao thời trước, xứ Lạng cũng là nơi đáng sợ. Người phụ nữ sợ cho mình không thích ứng với môi trường mới, bị tàn phai nhan sắc: Cổng phía Tây thành nhà Mạc ở Tuyên Quang
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Má hồng đổi lấy mặt xanh đem về
Còn sợ cho đức ông chồng, ý trung nhân thay lòng đổi dạ, vì ở đây chẳng những cảnh đẹp, còn có người đẹp:
Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anh
Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em
Tay cầm bầu rượu nắm nem
Mảng vui quên hết lời em dặn dò…
Bây giờ thành phố Lạng Sơn là thủ phủ của tỉnh Lạng Sơn, Đồng Đăng là thị trấn. Chợ Kỳ Lừa ở giữa thành phố, người mua kẻ bán đông đảo tấp nập vì Lạng Sơn có các cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu nội địa, còn các cặp chợ nữa. Cặp chợ là chợ biên giới, bên này chợ, bên kia cũng chợ. Nàng Tô Thị không còn, chỉ là bức tượng phục chế, chùa Tam Thanh trước động Tam Thanh cũng đổi mới nhiều quá! Vậy thì nên đi thăm thành nhà Mạc, tuy được gia cố, trùng tu, nhưng dầu sao vẫn giữ được dấu vết hoang phế điêu tàn, để khi đứng trong bóng tịch dương nhìn ngắm phong cảnh có một chút bâng khuâng nghĩ về lối xưa xe ngựa…
Năm 1592 nhà Mạc rút lên mạn ngược, đặt thủ phủ tại Cao Bằng, xây đắp nhiều thành lũy kiên cố, ở Cao Bằng, Tuyên Quang và Lạng Sơn. Phải chăng những thành lũy này đã góp phần không nhỏ trong việc phòng thủ, chống lại các cuộc tấn công của quân đội vua Lê chúa Trịnh để giữ được phần lãnh thổ Bắc triều tồn tại đến năm 1677? Thành nhà Mạc ở Lạng Sơn
Thành ở Tuyên Quang ngay tại trung tâm thị xã, bên tả soi bóng xuống dòng sông Lô uốn lượn, bên hữu đối diện dãy núi Là hùng vĩ. Ngày xưa thành hình tứ diện, trổ ba cửa ở ba mặt, mặt bắc không có cửa, bên trong có quả đồi cao khoảng 40 thước, đặt kho chứa gạo, muốn lên phải qua 197 bậc đá và cua một đường vòng. Chung quanh thành là hào sâu 1,5m, phía bờ sông không có. Di tích hiện tại gồm hai cổng thành ở phía tây, phía nam và đoạn tường dài 140m. Gạch xây thành nung bằng thứ đất có quặng sắt rất cứng, trên mặt đổ đất.
Thành ở Lạng Sơn (nay thuộc phường Tam Thanh) số phận cũng không hơn. Hiện còn một cổng thành và hai đoạn tường dài khoảng 300m, mặt thành rộng khoảng 1m, xây bằng những khối đá lớn nằm giữa hai đỉnh đồi. Đoạn đường từ chân đồi lên cổng thành giờ là nhiều bậc cấp thẳng tắp, ngước trông cổng thành như xa hun hút, nhỏ bé lại. Lên đến nơi thấy khung cảnh thật thoáng đãng, hai đỉnh đồi bén nhọn trẻ trung, linh hoạt. Đứng bên trong nhìn ra càng nhận rõ thế đắc địa của cuộc đất, trước mặt là thung lũng ruộng lúa, rồi đến làng xóm sầm uất, tiếp đến là núi, quần sơn nối tiếp trùng trùng điệp điệp. Những đoạn thành đứt quãng không đều nhau, cao thấp không bằng nhau, mặt đá phủ rêu màu đen pha một chút xám. Đất bên dưới thì màu đỏ sậm lẫn một ít sạn sỏi nhỏ. Di tích đền vua Lê trong thành nhà Mạc ở Cao Bằng
Thành ở Cao Bằng càng không may, vì nó là hoàng cung, nên phải mất tên từ lâu, nay gọi là đền vua Lê, có diện tích 37,5 ha, cách thị xã 11km về phía tây bắc, thuộc làng Đền xã Hoàng Tung huyện Hòa An.
Nguyên hồi năm 1038 Nông Tồn Phúc cát cứ vùng này, xưng đế hiệu, đặt tên nước là Trường Sinh. Năm sau, vua Lý Thái Tông thân chinh dẹp yên, nhưng đến năm 1041 con Nông Tồn Phúc là Nông Trí Cao lại dấy binh, đặt tên nước là Đại Lịch, vua Lý Thái Tông sai tướng lên đánh bắt được đem về Thăng Long, rồi dùng chính sách chiêu an tha cho về phong làm Quảng Nguyên mục, sau gia phong tước Thái Bảo. Năm 1048 Nông Trí Cao xưng là Nhân Huệ hoàng đế, đặt quốc hiệu Đại Nam, đem quân sang đánh nước Tàu, chiếm 8 châu ở Quảng Đông, Quảng Tây, nhà Tống phải cử tướng Địch Thanh thảo phạt. Bị thất bại, Nông Trí Cao chạy trốn sang nước Đại Lý và bị bắt giết. Về sau rút lên đây, nhà Mạc lập cung điện tại Gò Long trong thành Nà Lữ của Nông Trí Cao. Vậy thành nhà Mạc Cao Bằng đã có từ thời Lý.
Khi nhà Lê dứt được họ Mạc, năm 1862 Trấn thủ Cao Bằng Lê Văn Hản đổi làm đền thờ vua Lê Thái Tổ. Ngày nay, dấu vết chỉ là hai con đường phía đông và nam cao hơn mặt đất một ít, vài ba phiến đá khối chữ nhật, dài khoảng 1m, rộng từ 50 đến 80 phân, dày 20 đến 30 phân. Chỗ như hào sâu là cổng thành, bên ngoài mỗi cổng có một ụ đất, có lẽ là điếm canh hay trạm quan sát để kịp thời báo động chăng?
Đền vua Lê cũng đổ nát hết rồi, bậc đá đi lên đầy cỏ rác, tường sập từng mảng, để lộ chỗ vá víu. Trong đền một lư hương lớn đặt trên bệ. Bên ngoài một cây ngọc lan cao, những cây đa cây si thấp hơn.
Tại Cao Bằng còn có đền Kỳ Sầm thờ Nông Trí Cao. Hội đền vào ngày mười tháng giêng. Câu đối ở cửa gian chính bên trong chứng tỏ người dân ở đây rất tôn sùng Nông Trí Cao, coi như vị vua có cao vọng nhưng chưa thực hiện được hoài bão:
Đế nghiệp vị thành nhân dĩ lão
Vương phong giáp tích quốc đồng hưu.
Các đền miếu ở Cao Bằng còn thờ Hưng Đạo đại vương, các vị nhân thần địa phương, các tướng lãnh nhà Lê bỏ mình nơi chiến địa, các công nương nhà Mạc bị thảm sát và Quan Công (Quan Vân Trường). Nói chung dân chúng kính trọng lòng dũng cảm, đức trung hậu và thương xót những thân phận không may. Trong đền Phúc Tăng ở Bản Nưa xã Hồng Việt huyện Hòa An đặt bốn bát hương, thờ hai vị lão nông họ Hoàng và họ Lê có công trị thủy giúp dân, cùng hai vị tướng đối lập nhau, một người là Hoàng Triều Hoa tướng nhà Lê lên dẹp nhà Mạc, một người là tướng nhà Mạc tử trận ở Lũng Pản. Sự kiện này do Tri phủ Hoàng Đức Mỹ (Cử nhân sung Hàn lâm viện biên tu) chủ trương từ đầu thế kỷ XX và được dân chúng tán đồng, nêu cao tinh thần hòa hợp dân tộc sau một thời gian chiến tranh huynh đệ tương tàn. Hội đền Phúc Tăng vào ngày mồng 2 tháng 3.
Ngày nay, những người vãn cảnh có ý thức không khỏi ngậm ngùi trước biến cuộc tang thương, sẽ lắng hồn tìm trong lịch sử biết bao bài học quý giá.
Ngày xưa lâu lắm rồi ở Trung quốc có hai người bạn, một người đàn hay và một người nghe hay.
Khi người đàn về núi cao, người nghe nói: “Tôi có thể thấy núi cao trước mặt ta.”
Khi người đàn về nước, người nghe nói: “Đây là dòng nước chảy!”
Nhưng người nghe gặp bạo bệnh mà chết. Người đàn cắt đứt dây đàn và không bao giờ đàn nữa. Từ đó trở đi, cắt đứt dây đàn là biểu tượng của tình bạn thắm thiết.
.
Bình:
• Đây là câu chuyện về Bá Nha Tử Kỳ thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bá Nha, làm quan, là người đàn; Tử Kỳ, người nghe, là tiều phu. Gặp nhau và kết nghĩa anh em vì “tri âm” (hiểu được âm thanh), cho nên ngày nay ta có từ “bạn tri âm”.
Cây đàn mà Bá Nha dùng có lẽ là cây Cổ Cầm, mà ngày nay vẫn còn dùng. Cổ cầm còn là tiền thân của Thập Lục Huyền Cầm (hay Tam Thập Lục Huyền Cầm), tức là Đàn Tranh (16 dây hay 36 dây) ngày nay.
• Hiểu nhau không cần phải ở chung với nhau 20 năm. Chưa gặp nhau cũng đã có thể hiểu nhau ngay chỉ qua tiếng đàn.
• Hiểu nhau không cần nói nhiều.
• Nhưng hiểu nhau cần: (1) Người biết diễn đạt đúng điều mình muốn diễn đạt, và (2) người biết nghe điều người kia diễn đạt.
Điều quan trọng ở đây là: Người diễn đạt, không chỉ làm ra âm bằng tay, mà là hồn mình đang nói những lời lẽ sâu kín trong tâm. Và người nghe không chỉ nghe âm bằng tai, mà hồn mình đang trực nhận những thì thầm từ hồn người kia.
Vậy thì, để có tri âm, khi nói chuyện, ta có nói thành thật những sâu kín của hồn ta không, hay ta màu mè, bày vẻ, thiếu thành tâm? Nếu ta không thành tâm thì rất khó có bạn tri âm.
Và khi ta nghe, ta có dùng tâm hồn để nghe tâm hồn không, hay ta chỉ biết nghe âm bằng tai? Nếu không biết nghe thì làm sao “tri âm” ai được?
• Giữa đàn và nghe, điều nào khó hơn? Dĩ nhiên ở mức cao thì làm gì cũng khó. Nhưng có lẽ là nghe khó hơn đàn, vì đàn là đàn điều mình nghĩ, nghe là nghe điều người khác nghĩ. Mình biết mình nghĩ gì để diễn đạt, nhưng người nghe thì lại không biết người kia nghĩ gì, phải lấy âm thanh mà suy đoán.
Nói bao giờ cũng dễ hơn nghe. Vậy thì trong liên hệ con người, nói cẩn thận, nhưng phải nghe cực kỳ chăm chú.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
True Friends
A long time ago in China there were two friends, one who played the harp skillfully and one who listen skillfully.
When the one played or sang about a mountain, the other would say: “I can see the mountain before us.”
When the one played about water, the listener would exclaim: “Here is the running stream!”
But the listener fell sick and died. The first friend cut the strings of his harp and never played again. Since that time the cutting of harp strings has always been a sign of intimate friendship.
Hyakujo, thiền sư người Trung quốc, thường làm việc lao động với các học trò ngay cả khi cả đã tám mươi, dọn vườn, cắt cỏ, tỉa cây.
Các học trò lo lắng thấy vị thầy già làm việc cực quá, nhưng họ biết thầy chẳng nghe lời khuyên của họ mà nghỉ ngơi, nên họ dấu đồ nghề làm vườn.
Ngày đó sư phụ chẳng ăn. Ngày kế tiếp thầy cũng chẳng ăn, và ngày kế tiếp cũng vậy. “Có lẽ thầy giận mình đã dấu đồ nghề,” các học trò đoán, “Mình phải trả lại thôi.”
Ngày họ trả lại đồ nghề, thầy làm việc và ăn như trước đó. Tối đó thầy dạy học trò: “Không làm, không ăn.”
.
Bình:
• Thiền sư già này là Bách Trượng Hoài Hải, đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất, một trong ba người có ảnh hưởng lớn nhất trong Thiền tông–Sư tổ Bồ Đề Đạt Đa, Lục tổ Huệ Năng, Mã Tổ Đạo Nhất.
Sau khi Mã Tổ sáng lập tu viện Tòng Lâm, Bách Trượng Hoài Hải nối tiếp lập ra hệ thống các quy tắc trong tu viện. Chủ trương cuộc sống “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (Ngày nào không làm, ngày đó không ăn) của Bách Trượng từng gặp nhiều khó khăn, bị chỉ trích vì trái với quy củ, giới luật trước đây của người tu hành Phật Giáo, thậm chí có người còn cho sư là kẻ ngoại đạo.
• Thiền tông từ đó trở thành tích cực hơn. Các thiền sư có lối sống “vào đời” rất tích cực. Các vị không chỉ ngồi thiền cả ngày, chẳng làm gì như mọi người lầm tưởng. Thiền có thể thực hành mỗi giây phút, dù ta đang làm việc gì. Thiền không có nghĩa chỉ là ngồi Thiền.
• Ngay trong hàng khất sĩ, khất thực (xin ăn) là một loại tu tập tích cực hàng ngày. Đi khất thực là một công việc khó khăn, để tu tập hạnh khiêm tốn và tĩnh lặng cho mình, đồng thời giúp mọi người thực hành hạnh bố thí.
• “Không làm, không ăn” hay “làm để ăn” là quy luật tự nhiên. “Sống là làm”—đây là một triết lý tự nhiên về hoạt động tích cực trong đời sống.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
No Work, No Food
Hyakujo, the Chinese Zen master, used to labor with his pupils even at the age of eighty, trimming the gardens, cleaning the grounds, and pruning the trees.
The pupils felt sorry to see the old teacher working so hard, but they knew he would not listen to their advice to stop, so they hid away his tools.
That day the master did not eat. The next day he did not eat, nor the next. “He may be angry because we have hidden his tools,” the pupils surmised. “We had better put them back.”
The day they did, the teacher worked and ate the same as before. In the evening he instructed them: “No work, no food.”
Vào những đêm mưa gió lạnh giá trong rừng, đoàn người tụ họp bên bếp lửa và họ hát “Kumbaya” hãy đến đây Chúa ơi. Lời hát làm ấm con tim của mọi người, đem đến sức mạnh tinh thần to lớn.
Vào những phong trào đấu tranh giành nhân quyền người Mỹ da đen da trắng những năm 1960s, ca sĩ Joan Baez cũng hát Kumbayah, hãy đến đây Chúa ơi, chúng con đang hát, chúng con đang cầu nguyện, hãy đến đây Chúa ơi.
Bài hát Kumbaya là một bài hát tâm linh Hebrew của người Mỹ châu Phi được sáng tác vào những năm 1930, khởi đầu với tên gọi “Come By Yah”. Yah trong tiếng Hebrew có nghĩa là My God, do đó “Come By Yah” có thể hiểu nghĩa là “Come by My God”, “Come by My God”. Tới năm 1946, mục sư Marvin V. Frey đổi tên bài hát thành “Kumbaya” và bài hát vào những năm 1960 đã trở nên phổ biến với sự sống lại của nhạc folk và là bài hát lửa trại trong đội Scouting và những tổ chức làm việc cho thiên nhiên.
Sau đây mời các bạn nghe ba video của bài hát này. Video đầu do ca sĩ Joan Baez hát vào những năm 1960s. Video thứ 2 là Kumbaya được hát bên lửa trại và video thứ 3 theo hoạt cảnh kinh thánh. Sau đó là lời nhạc.
Chúc các bạn một ngày tinh thần đoàn kết,
Hiển.
Joan Baez – Kumbaya (1980)
“Kum Ba Ya/Take My Hand, Precious Lord”By Lynda Randle (’08)
Kumbaya my Lord
. Kum Ba Ya
Words: African-American spiritual.
Music: African melody (MIDI, score).
Kum ba yah means “Come by here.”
Kum ba yah, my Lord, kum ba yah!
Kum ba yah, my Lord, kum ba yah!
Kum ba yah, my Lord, kum ba yah!
O Lord, kum ba yah!
Someone’s laughing, Lord, kum ba yah!
Someone’s laughing, Lord, kum ba yah!
Someone’s laughing, Lord, kum ba yah!
O Lord, kum ba yah!
Someone’s crying, Lord, kum ba yah!
Someone’s crying, Lord, kum ba yah!
Someone’s crying, Lord, kum ba yah!
O Lord, kum ba yah!
Someone’s praying, Lord, kum ba yah!
Someone’s praying, Lord, kum ba yah!
Someone’s praying, Lord, kum ba yah!
O Lord, kum ba yah!
Someone’s singing, Lord, kum ba yah!
Someone’s singing, Lord, kum ba yah!
Someone’s singing, Lord, kum ba yah!
O Lord, kum ba yah!
Kum ba yah, my Lord, kum ba yah!
Kum ba yah, my Lord, kum ba yah!
Kum ba yah, my Lord, kum ba yah!
O Lord, kum ba yah!
Yamaoka Tesshu, lúc còn là một thiền sinh trẻ, thăm hết thiền sư này đến thiền sư nọ. Chàng đến thăm Dokuon ở chùa Shokoku.
Muốn chứng tỏ là mình đã ngộ, Yamaoka nói: “Tâm, Phật, và mọi sinh linh, rốt cuộc, đều không hiện hữu. Bản chất thật của mọi hiện tượng là không. Không có đạt đạo, không có ảo ảnh, không có thánh nhân, không có phàm phu. Không có bố thí, không có nhận bố thí.”
Dokuon, đang hồi hút thuốc yên lặng, chẳng nói gì. Đột nhiên Dokuon lấy ống píp tre đánh Yamaoka. Chàng thiền sinh tức giận.
“Nếu không có gì hiện hữu,” Dokuon thắc mắc, “vậy thì cơn giận này đến từ đâu?”
.
Bình:
• Chàng thiền sinh trẻ Yamaoka này về sau thành thầy của Thiên hoàng.
• Nói rằng mọi sự “có” tức là “chấp có”, nói rằng mọi sự “không có” là “chấp không”. Cả hai chấp đều là chấp.
Con đường Phật pháp là “trung đạo” (đường giữa)—có mà là không, không mà là có (sắc bất dị không, không bắc dị sắc—sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc).
Có đó mà mất đó. Đóa hoa hôm nay thấy đây, ngày mai có thể héo tàn rủ chết.
Con người của ta hôm qua đã chết rồi, và hôm nay đã là một người mới. Sinh tử sinh tử nối tiếp từng sát-na ngắn ngủi trong dòng sống. Trong bài Tái sinh trong nguồn sáng, chúng ta có nói: “Mỗi giây đồng hồ, từ 200 ngàn đến 3 triệu tế bào trong cơ thể chúng ta chết đi và được thay thế bằng tế bào mới. Sau một giây đồng hồ, ta đã là con người mới với ngần ấy tế bào mới. Đời ta là một chuỗi của vô lượng cuộc tái sinh như thế, cũng như một đường kẻ thẳng chỉ là một chuỗi các điểm chấm nằm sát nhau.”
Đó là chuyển dịch liên tục, thay đổi liên tục. Đó là “vô thường” (không cố định, không thường hằng).
• Cô Bình hôm qua rất là sừng sộ, dữ dằn. Nhưng có thể cô Bình đó đã chết rồi và cô Bình hôm nay là một cô Bình mới có thể đầy yêu thương và nhân ái. Cho nên đừng lấy hình ảnh cô Bình hôm qua để đối xử với cô Bình hôm nay.
Thái độ rộng mở như vậy gọi là “vô chấp”.
Vì thế gian “vô thường”, nên ta cần “vô chấp.”
• (Đối với mọi người phần bên trên là đủ, phần này chỉ thêm cho người rất vững về lý luận. Người chưa thật vững về lý luận thì không nên đọc, hoặc nếu đọc vì tò mò thì sau khi đọc xong hãy quên ngay đi).
Khi chúng ta nói “mọi sự đều là Không” (tạm thời dùng chữ “Không” viết hoa), thì Không đây không có nghĩ là không có, mà là bản tính thật của mọi sự, với cái tên là Không.
Thí dụ dễ hiểu nhất là nước và sóng. Đứng nhìn biển ta thấy sóng—sóng là hiện tượng vô thường, biến hiện từng giây đồng hồ, sóng sinh ra rồi sóng tan, để con sóng mới đến… Sóng thì phù du vô thường, nhưng nước thì luôn luôn ở đó. Sóng là “hiện tượng” vô thường (non-permanent phenomenon), nước là “bản tính” thường hằng (permanent essence).
Thí dụ cao hơn: Hãy tưởng tượng vũ trụ là một khoảng Không vĩ đại. Từ khoảng Không đó mọi thứ sinh ra – cây cỏ, trái đất, tinh tú, tôi, bạn…–và khi sự gì chết đi thì lại trở về với khoảng Không đó. Mọi sự có sống có chết là hiện tượng vô thường (non-permanent phenomenon). Khoảng Không chẳng bao giờ thay đổi đó là bản tính thường hằng (permanent essence).
Suy tưởng mức cao hơn: Tất cả mọi thứ trong vũ trụ mà ta có thể tưởng tượng được đều là phù du vô thường (non-permanent phenomenon) hay “tương đối” (relative), và đều được sinh ra từ một cái nền vĩ đại thường hằng (permanent essence) hay “tuyệt đối” (absolute)–cái thường hằng vĩ đại này là Không, là Thượng Đế, là Allah, là Tuyệt Đối.
Đó là liên hệ giữa tương đối (relative) và tuyệt đối (absolute) mà mọi triết thuyết đông tây đều cố gắng khai triển.
Mọi tương đối đều từ Tuyệt Đối mà ra và luôn luôn nằm trong Tuyệt Đối.
Nhà Phật nói rằng mọi sự là Không, từ Không mà đến, và lại trở về Không là như thế. Đây là chữ Không của Bát Nhã Tâm Kinh.
(Đổi chữ Không thành chữ Chúa hay Allah, thì thành câu nói Thiên chúa giáo hay Hồi giáo: Mọi sự từ Chúa/Allah mà đến, và lại trở về Chúa/Allah).
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Nothing Exists
Yamaoka Tesshu, as a young student of Zen, visited one master after another. He called upon Dokuon of Shokoku.
Desiring to show his attainment, he said: “The mind, Buddha, and sentient beings, after all, do not exist. The true nature of phenomena is emptiness. There is no realization, no delusion, no sage, no mediocrity. There is no giving and nothing to be received.”
Dokuon, who was smoking quietly, said nothing. Suddenly he whacked Yamaoka with his bamboo pipe. This made the youth quite angry.
“If nothing exists,” inquired Dokuon, “where did this anger come from?”
Gasan đang ngồi bên giường thầy của mình, Tekisui, ba ngày trước khi thầy qua đời. Tekisui đã chọn Gasan làm truyền nhân.
Một ngôi chùa đã bị cháy gần đây và Gasan đang bận rộn xây chùa lại. Tekisui hỏi Gasan: “Khi xây xong chùa rồi con sẽ làm gì?”
“Khi thầy khỏe lại, tụi con muốn thầy giảng ở đó,” Gasan nói.
“Nếu như thầy không sống đến lúc đó thì sao?”
“Thì con sẽ tìm một người khác,” Gasan trả lời.
“Nếu con không tìm được người khác thì sao?” Tekisui tiếp tục.
• Các câu hỏi này rất ngớ ngẩn. Có lẽ là Tekisui đang trong trạng trái nửa mê nửa tỉnh, sắp chết.
Gasan chỉ muốn Tekisui tích cực (nghĩ đến lúc mình hết bệnh) hay là nằm nghỉ.
• Bên ngoài các lý lẽ thường tình này, Thiền là sống ở đây lúc này. Thiền sư chẳng quan tâm đến các chuyện chưa tới “nếu này… nếu nọ…” Các câu bắt đầu bằng chữ “nếu” luôn luôn làm cho người ta sống với những cái “nếu” chưa đến, và không bao giờ sống thực.
Người mà cứ lo “nếu” hoài thì mê sảng như người bệnh sắp chết.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Just Go to Sleep
Gasan was sitting at the bedside of Tekisui three days before his teacher’s passing. Tekisui had already chosen him as his successor.
A temple recently had burned and Gasan was busy rebuilding the structure. Tekisui asked him: “What are you going to do when you get the temple rebuilt?”
“When your sickness is over we want you to speak there,” said Gasan.
“Suppose I do not live until then?”
“Then we will get someone else,” replied Gasan.
“Suppose you cannot find anyone?” continued Tekisui.
Gasan answered loudly: “Don’t ask such foolish questions. Just go to sleep.”
Hôm nay mình giới thiệu với các bạn một bài hát dễ thương ra đời những năm 1970, “You don’t have to say you love me”. Mình biết đến bài hát này là nhờ cô giáo dạy tiếng Anh ở lớp đại học. Cô đã dạy cho cả lớp mình hát bài hát này, có lẽ là vì đây là bài hát yêu thích của cô và giai điệu cũng khá nhẹ nhàng, lời hát dễ nhớ :).
You don’t have to say you love me có nguyên gốc tiếng Tây Ban Nha do hai nhạc sĩ Pino Donaggio và Vito Pallavicini sáng tác, sau đó được ca sĩ người Anh Dusty Springfield chuyển thể sang Anh ngữ . Bài hát này đã mang lại thành công vang dội cho Dusty khi đứng số 1 trong bảng xếp hạng của Anh, và sau này được tạp chí Rolling Stone bình chọn là một trong 500 bài hát của mọi thời đại.
Các bạn cùng lắng nghe giai điệu nhẹ nhàng của “You don’t have to say you love me” qua giọng ca của Dusty Springfield và một số giọng ca gạo cội nhé. Trong số đó đừng bỏ qua tiếng hát ngọt ngào của Elvis Presley :).
Lời bài hát:
When I said, I needed you
You said you would always stay
It wasn’t me who changed, but you
And now you’ve gone away
Don’t you know that now you’re gone
And I’m left here on my own
Now I have to follow you
And beg you to come home
You don’t have to say you love me
Just be close at hand
You don’t have to stay forever
I will understand
Believe me, believe me
I can’t help but love you
But believe me, I’ll never tie you down
Left alone with just a memory
Life seems dead and so unreal
All that’s left is loneliness
There’s nothing left to feel
Khi Bankei đang giảng thuyết tại chùa Ryumon, một sư Chân Tông, tin rằng có thể được cứu độ nhờ niệm phật Adiđà liên tục, ganh tị với Bankei vì đông người nghe Bankei và muốn cãi nhau với thiền sư.
Bankei đang giảng bài nửa chừng thì vị sư này xuất hiện, và làm rộn đến nỗi Bankei phải ngưng giảng và hỏi điều gì gây ồn ào.
“Tổ sư của tông chúng tôi,” vị sư nói, “có những quyền lực mầu nhiệm đến nỗi tổ cầm cây cọ đứng bên này sông, người phụ tá cầm tờ giấy đứng bên kia sông, và tổ viết thánh hiệu Adiđà trên tờ giấy, xuyên qua không gian. Ông có làm được phép lạ như thế không?
Bankei trả lời nhẹ nhàng: “Có lẽ con chồn của ông có thể làm xảo thuật đó, nhưng đó không phải cung cách của Thiền. Phép lạ của tôi là khi tôi đói tôi ăn, và khi tôi khát tôi uống.”
.
Bình:
• Shinshu là jodo shinshu, tịnh độ chân tông.
• Người ta hay nói đến những phép thần thông mà quên mất đời sống thật. Thiền hay ngộ là sống bình thường, giản dị, với một tâm rỗng lặng. Trần Nhân Tông, thiền tổ thiền Trúc Lâm viết bài Cư trần lạc đạo:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu báo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền
Trần Nhân Tông
(Trần Khâm 1258-1308)
Sống đời vui đạo cứ tùy duyên
Đói thì ăn no mệt ngủ liền
Trong nhà có của, đừng tìm nữa
Nhìn cảnh vô tâm, hỏi chi thiền
TĐH dịch
Các phép thần thông chẳng ăn nhập gì đến Thiền cả.
• Chúng ta tu tập đạo pháp để làm mọi việc hàng ngày một cách bình thường. Người không tu tập thì làm mọi việc hàng ngày một cách căng thằng và phức tạp.
Chúng ta tu tập để loại bỏ tất cả mọi thói quen và gánh nặng phức tạp, để trở thành “như trẻ em.” Chúng ta không tu tập để có thêm thần thông phức tạp.
• Rất tiếc là cho đến ngày nay các món bùa phép mê tín dị đoan cũng vẫn còn rất thịnh hành trong hàng phật tử ít học. Phật giáo thực sự là đạo giáo của trí tuệ khai mở.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
The Real Miracle
When Bankei was preaching at Ryumon temple, a Shinshu priest, who believed in salvation through repetition of the name of the Buddha of Love, was jealous of his large audience and wanted to debate with him.
Bankei was in the midst of a talk when the priest appeared, but the fellow made such a disturbance that Bankei stopped his discourse and asked about the noise.
“The founder of our sect,” boasted the priest, “had such miraculous powers that he held a brush in his hand on one bank of the river, his attendant held up a paper on the other bank, and the teacher wrote the holy name of Amida through the air. Can you do such a wonderful thing?”
Bankei replied lightly: “Perhaps your fox can perform that trick, but that is not the manner of Zen. My miracle is that when I feel hungry I eat, and when I feel thirsty I drink.”
Hôm nay mình giới thiệu với các bạn một bản tình ca lãng mạn nhé, bài hát Chú Cuội của nhạc sĩ Phạm Duy.
Mình được nghe bài hát này do ca sĩ Ái Vân hát từ hồi học năm thứ nhất đại học ở Hà Nội. Hồi đó nhạc Phạm Duy rất hiếm, toàn phải truyền tay nhau nghe, hay không có mà nghe, chỉ do bạn bè có được bản nhạc ngồi hát với nhau.
Bài hát này được nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác vào năm 1948 hát về tình yêu của Chú Cuội với cô Hằng, qua đó bày tỏ tình yêu của nhạc sĩ Phạm Duy với vợ của nhạc sĩ là ca sĩ Thái Hằng.
” Ta yêu cô Hằng đêm xưa xuống trần – tình ơi – Một đàn con trai, rủ đàn con gái ra ngồi nhìn trăng – Ra xem chú cuội ngồi gốc cây đa…”
Cô Hằng từ cung trắng xuống trần khiến chú Cuội “Để trân ăn lúa” và “nhìn mây theo gió” sống ở trên mặt đất nhưng hồn ở cùng mây gió 🙂
Mình hiếm thấy bài hát nào có sự bay bổng âu yếm lãng mạn như thế. Rất vui được giới thiệu cùng các bạn. 🙂
Chúc các bạn một ngày vui,
Hiển.
PS: Mình không tìm được youtube video bài hát do Ái Vân hát, nếu bạn nào có thể giúp tạo file video và upload lên Youtube sẽ rất hay 🙂 Mình cảm ơn.
.
Trăng soi sáng ngời
Treo trên biển trời
Tình ơi
Một đàn con trai
Rủ đàn con gái
Ra ngồi nhìn trăng
Ra nghe chú cuội
Ngồi gốc cây đa
Cuội ơi
Ðể trâu ăn lúa
Nhìn mây theo gió
Miệng ca bồi hồi
Ta yêu cô Hằng
Ðêm xưa xuống trần
Nàng ơi
Nàng về dương gian
Tìm người nuôi nấng
Cung đàn Hằng Nga
Xin đôi cánh vàng
Mượn chiếu mây non
Cuội ơi
Cuội theo ánh sáng
Cuội lên cung vắng
Cuội không về làng
Ánh trăng vàng bên người đẹp yêu chồng
Khúc nghê thường quên đường về dương gian
Ánh trăng vàng kìa là ánh trăng vàng
Ðời dương thế có người trong đêm tối
Chờ sao chiếu mối tình của Hằng Nga
Ðời đời mọc trăng tơ sáng loáng
Trăng soi tóc thề
Ðưa trai gái về
Tình ơi
Nửa đường thôn quê
Gặp đàn em bé
Hát vè một câu
Câu thơ chú cuội
Mà lấy tiên nga
Cuội ơi
Ðể Trâu ăn lúa
Ngồi trên lưng gió
Tình yêu mặn mà.
Trong kho tàng âm nhạc dân gian các tộc người Tây Nguyên, dân ca chiếm một vị trí đáng kể. Những năm đất nước còn tạm chia làm hai miền, thông qua những người con Tây Nguyên tập kết ra Bắc, luôn gìn giữ trong tâm hồn mình nỗi đau đáu về một miền quê đầy âm thanh của gió, của rừng đại ngàn, mà dân ca các dân tộc Tây Nguyên được truyền bá và phổ biến rộng rãi . Mỗi dân tộc một tính cách, một chất liệu âm nhạc dân gian khác nhau, độc đáo và phong phú. Chúng tôi không có tham vọng nói hết được về dân ca các dân tộc Tây nguyên,bởi trong kho tàng đồ sộ đó,mỗi dân tộc thiểu số anh em đều có thể tự hào về những nét đặc sắc,độc đáo riêng biệt trong dân ca của dân tộc mình.Dân ca ,như hơi thở của con người,như miếng cơm nướng thơm trong ống nứa trên bếp lửa hồng,bầu nước suối trong mát ngọt lành.Dân ca không chỉ quen thuộc ,mà còn gắn bó hàng ngày với cuộc sống của bà con các dân tộc thiểu số.Điều đặc biệt ở đây là nó nằm trong tâm thức,trong máu thịt của mỗi con người,nên các nghệ nhân không phải chỉ có giọng hát hay,mà còn ứng tác ngay qua những làn điệu có sẵn ấy,những nội dung mới rất có vần có điệu nữa. Các cán bộ thông tin muốn động viên thanh niên đi nghĩa vụ quân sự bằng lời hát ư? Có ngay ! Chị cộng tác viên dân số muốn vận động kế hoạch hóa gia đình ư ? Chờ một chút nhé,xong rồi đấy ! Đoàn kết dân tộc à ? Kêu gọi sản xuất hả ? Được thôi ! Còn đề tài tình yêu thì muôn thuở,lúc nào cũng có thể cất lên say đắm
Rằng : “Em ơi / Ướt váy ta phơi cành cây tang/ Ướt khố ta vắt lên cây Tung/ Ướt người ta cùng sưởi bên lửa hồng/ Xuống suối cùng anh bắt cá/ Lên rừng với em hái rau/ Ta sống bên nhau mãi mãi”. (dân ca Êđê)
Không cần phải yêu cầu,chỉ cần có người muốn nghe,thêm một chút men cho la đà lâng châng nữa,là có thể hát sáng đêm, nhất là hát giao duyên nam
nữ. Và khi đó “say nhau rồi chẳng cần nữa rượu ơi”
Dân ca Tây nguyên là vậy.Những lúc nghỉ ngơi tránh nắng trưa dưới bóng cây knia trên rẫy,những khi ngừng tay cắt lúa trên đồng, đêm trăng sáng gái trai gọi nhau nơi đầu sàn, các lễ cầu cúng Yang diễn ra thường xuyên theo nông lịch..vv..,chính là dịp để tụ họp nhau,và không thể thiếu những lời hát cất lên .
Có thể chia dân ca các dân tộc Tây nguyên ra làm hai thể lọai chính : Loại hát nói (recitativ) và loại hát có nhịp điệu (tempo.
Thể loại hát nối phổ biến nhất chính là phương tiện thể hiện trường ca – sử thi . Người Mnông ở DakLak còn có thể loại hát – kể gia phả bằng văn vần rất độc đáo, mà hầu như dòng họ nào cũng có người thuộc nằm lòng, để tránh sự kết hôn nhầm lẫn giữa những người trong cùng một họ. Trong một lần đi sưu tầm tại xã Nâm Nung, huyện Krông Nô tỉnh Daklak, chúng tôi đã bật máy ghi âm đến 10 phút , chỉ để ghi một trong những gia phả của dòng họ như thế.
Hát nói thường không có nhạc cụ đệm, như một thứ tự sự, nghĩ gì nói đấy, với khách đến thăm, với cha mẹ già héo, với người thân đi về thế giới bên kia , dặn dò con cháu những điều hay lẽ phải, phán xử theo luật tục,bày tỏ niềm vui mừng, nỗi buồn bã với bất cứ sự việc gì diễn ra trong làng buôn, kon, plei, bon . . . hay trong gia đình.
Ngược lại, những bài dân ca có nhịp điệu thường được đệm bằng các loại ting ning, t’rưng, đinh năm . . . rộn ràng.
Nội dung của các bài dân ca rất đa dạng, bất cứ một điều gì trong cuộc sống cũng có mặt trong lời hát. Chỉ cần có một cuộc tụ tập, một chút rượu cho la đà, hoặc đơn giản là có mặt cả hai phiá nam và nữ, là có thể khởi hứng cho ca hát.
a) Dân ca trong lao động sản xuất:
Đại đa số các dân tộc ở Tây nguyên (trừ một số dân cư trú tại những vùng trũng dọc theo các triền sông ĐăkKrông, Sông Ba, sông Ayun Pa, Sông Krông ana . . có canh tác lúa nước một vụ) sản xuất theo phương thức luân canh nương rẫy, chọc lỗ tra hạt và theo tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”, thì việc cúng kiến các Yàng để cầu cho mùa màng tươi tốt là điều không thể thiếu. Những bài cầu cúng trong các lễ nghi theo nông lịch, cũng có xuất xứ giai điệu từ dân ca, và là nguồn gốc của thể lọai hát- kể trường ca.
Để cúng thần đất khi lập buôn người chủ làng khấn :
“Búi rơm cho to tựa tranh lợp nhà /Hỡi hạt thóc to,/Hỡi hạt thóc bé /Nay mau về với ta”( Bài cúng K’Ho)
Đầu mùa sản xuất phải có lễ cầu mưa :
“Buôn đằng Đông mây lui nhanh xuống/Buôn đằng Tây mây cuốn nhanh lên/Ước sao cho được trận mưa to/Ước sao cho được cả mưa rào” (Bài cúng Ê đê )
Đến lúc gieo hạt lại phải cầu xin :
“Này rượu một ché, gà một con/gà Yàng ăn gan, rượu Yang ngậm cần/Yang thêm bông cho lúa, thêm hạt cho kê/Sâu ở gốc rễ hãy bắt sạch trơn/Mọc lên được búp/Đức nên được trái”. (Bài cúng Jrai)
Được muà lớn phải tạ ơn, hiến sinh bằng trâu :
“Tiết trâu đã xoa lên đầu/Cho dân làng sống lâu khỏe mạnh/Cho đầy chòi lúa bắp”.( Bài cúng Sê đăng)
Phổ biến nhất là khi nghỉ ngơi, người ta đều có thể ca hát, giống như các hình thức hát ví, hát lý, hát đố trong lao động sản xuất của người Việt.
b) Dân ca trong cuộc sống đời thường :
Nhiều dân tộc Tây nguyên có hệ thống luật tục bằng văn vần, do những người thông thái trong buôn, plêi nắm giữ. Khi có việc xảy ra ở trong cộng đồng cần có sự phân xử, họ là người đứng ra thay mặt chủ làng “cầm cân nảy mục”. Đây là sự tập hợp những câu răn dạy về phương thức đối nhân xử thế giữa cá nhân với cộng đồng, với thiên nhiên, như lời người già hay cha mẹ Ê đê dạy con cái :
“Con gái (phải) biết rõ thân họ/Con trai biết rõ thân ta/Bò trâu biết ai là chủ”
Đi xúc cá ngưòi Ktu hát :
“Vừa thả lứơi, vừa bơi/cá mắc vào lưới/Trắng như bã mía rơi:
“Ăn” ong trên rừng cũng thành lời ca :
“Ong như lúa vãi/Ong giống rũ nằm cho đông/leo lên tận ổ Ktưng/Lấy cho hết mật rừng, mật cây”.(dân ca Êđê)
Đến cơn ho cũng được hát thành lời :
“Cơn ho khôc khôc/Cơn ho trăng cho/Cơn ho đầy trời/Cơn ho đầu rừng
(Dân ca Mnông)
Nhiều nhất ,hay nhất là những bài hát đố, hát giao duyên, chỉ cần ngồi kề bên nhau, hát lên một câu là có người đối đáp lại ngay. Ngắm người yêu chàng trai Bâhnar ca ngợi.
“Em thắm đẹp như hoa cheng rét/Tóc như suối nguồn êm trôi/Cuối rừng anh nhìn em ngẩn ngơ “
Không lấy được nhau thì họ dám thề thốt :
“Hai ta chết sẽ nằm chung một hòm/Em hoá thành thần chớp sáng/Anh hoá thành thần sét thét vang”.(Dân ca Ê đê)
Trong lễ cưới cũng có sự hát đối đáp giữa nhà trai với nhà gái :
“Chúng tôi có nhiều cồng chiêng /Có nồi to, nồi nhỏ/Gả con cho chúng tôi/Sẽ trọn đời chung sống”.(dân ca Ca tu)
Nội dung của các bài dân ca của dân tộc Tây nguyên có thể đế cập tới mọi vấn đề liên quan đến đời sống của con người, với rất nhiều làn điệu khác nhau, đặc biệt là thể lọai hát nói. Hát nói cũng chính là một trong những đặc trưng riêng của các dân tộc miền núi Việt Nam, hầu như dân tộc nào cũng có. (Điều này đã chứng minh qua những cuộc “ Liên hoan hát dân ca các dân tộc Việt Nam” do Đài TNVN và Đài THVN tổ chức từ 1998 trải qua đã nhiều năm ), có rất nhiều nội dung và làn điệu. Mà đỉnh cao của hát nói, hát kể chính là thể lọai trường ca.
Trước khi đất nước hoàn toàn giải phóng , đi đến thống nhất, chúng ta vẫn thường biết đến dân ca, dân nhạc Tây nguyên qua thang âm ngũ cung: “Son si #đo mi #pha son“ có những quãng nửa cung rất ấn tượng.
Rất nhiều nhạc phẩm của các tác giả không công tác ở Tây nguyên, nhưng yêu thích âm nhạc Tây nguyên, thường dựa trên thang âm ngũ cung này. Nhưng thực ra, thang âm trên chỉ là đặc trưng âm nhạc của hai dân tộc có khu vực cư trú tương đối đan xen và gần kế với nhau là Jrai và Bana mà thôi. Riêng các tộc người Êđê, Mnông, K’Ho, Mạ …có những thang âm riêng, không có nhiều những quãng nửa cung liền bậc như Jrai và Bânar.
Mỗi một dân tộc thiểu số Tây nguyên , đều có thang âm riêng tiêu biểu cho dân nhạc của mình. Thanh âm #Đô mi #pha sol si chỉ là thang âm thường được dùng nhất trong âm nhạc dân gian Bana và Jrai, chứ không phải là đặc trưng của tất cả dân ca Tây Nguyên .
Linh Nga Niê Kdăm
TĐH: Sau đây mời các bạn thưởng thức một số dân ca Tây Nguyên trên Youtube
Người Ta Cười – Dân ca X’tiêng – Kim Anh
.
Lời Tỏ Tình – Dân ca Jlai – Ksor H’Hoanh & Ksor Thức
.
Em Đẹp Như Hoa Pơ Lang – Dân ca Bơhnar
.
Ma Dieng (Hát Mừng Lứa Đôi) – Dân ca Roglay – Cao Dy
.
Đôi Ta Chung Một Con Đường – Dân ca Xơđang – A Vân
.
Dùng Làng – dân ca Kơ-ho
.
Hat Ayray (Gọi Anh Về) – Dân ca Êđê – Mi Na
.
Tiếng Chim Rô Túk Báo Mùa – Dân ca Chu Ru – Rô Đa Nai Trần
Chúng ta đã quay các học hỏi thuở rạng đông của chúng ta về phía con đường của người say.
Chúng ta đã quay vụ mùa cầu nguyện của chúng ta về phía nhà kho cúa linh hồn ngây ngất.
Ngọn lửa mà chúng ta quay mặt vào mạnh đến nỗi
Có thể đốt cháy vụ mùa rơm của cả trăm người hợp lý.
Quốc vương của Trước-Vĩnh-Cữu cho chúng ta chiếc quan tài chứa đau đớn của tình yêu làm quà tặng;
Vì vậy chúng ta đã quay buồn khổ của chúng ta về phía căn chòi rách nát của khách du hành mà chúng ta gọi là “thế giới”.
Từ nay trở đi tôi sẽ không dành cánh cửa nào trong tim tôi mở cho tình yêu về các sinh linh đẹp đẽ;
Tôi đã quay lưng và đóng dấu triện của đôi môi thánh trên cánh cửa nhà này.
Bây giờ là lúc quay lưng lại với ảo tưởng dưới lớp áo đã vá bao lần của chúng ta.
Nền tảng của sự nghiệp chúng ta là sự thông minh có thể nhìn xuyên thấu tất cả những trò chơi này.
Chúng ta đã quay mặt về phía viên ngọc trai nằm trên thềm đại dương.
Vậy thì tại sao chúng ta lại lo lắng chiếc thuyền cũ kỹ chòng chành này có đi tiếp hay không?
Chúng ta quay về phía người trí thức và gọi họ là ký sinh trùng của lý lẽ;
Cám ơn Chúa, họ như là những người tình thật không lòng tin không con tim.
Những người Hồi giáo Sufi đã chấp nhận một huyễn ảo, và Hafez cũng chẳng khác.
Đích điểm của chúng ta cách xa tầm với biết bao, và ý chí của chúng ta yếu ớt biết bao!
(TĐH dịch)
The Pearl on the Ocean Floor
by Hafiz (1320 – 1389)
(English version by Rober Bly
Original Language: Persian/Farsi)
We have turned the face of our dawn studies toward the drunkard’s road.
The harvest of our prayers we’ve turned toward the granary of the ecstatic soul.
The fire toward which we have turned our face is so intense
It would set fire to the straw harvest of a hundred reasonable men.
The Sultan of Pre-Eternity gave us the casket of love’s grief as a gift;
Therefore we have turned our sorrow toward this dilapidated traveller’s cabin that we call “the world.”
From now on I will leave no doors in my heart open for love of beautiful creatures;
I have turned and set the seal of divine lips on the door of this house.
It’s time to turn away from make-believe under our robes patched so many times.
The foundation for our work is an intelligence that sees through all these games.
We have turned our face to the pearl lying on the ocean floor.
So why then should we worry if this wobbly old boat keeps going or not?
We turn to the intellectuals and call them parasites of reason;
Thank God they are like true lovers faithless and without heart.
The Sufis have settled for a fantasy, and Hafez is no different.
How far out of reach our goals, and how weak our wills are!