
Ban đêm là lúc cho nước mắt
Trái tim em có thể rạn vỡ tối nay
Nhưng ngày mai trong nắng sáng
Đừng để mặt trời bắt gặp em đang khóc
Continue reading Đừng để mặt trời bắt gặp em đang khóc


Một thiền sư tên Gisan bảo một đệ tử trẻ mang đến cho thiền sư một gàu nước để làm nguội bớt nước trong bồn tắm của thầy.

Cậu đệ tử mang nước đến, và sau khi làm nguội bồn tắm, đổ ra đất tí nước còn lại trong gàu. “Đồ ngu!” thiền sư mắng cậu đệ tử. “Tại sao con không dùng nước đó để tưới cây? Con có quyền gì mà phí phạm dù chỉ một giọt nước trong chùa này?”
Continue reading Một giọt nước


Núi Tản Viên ở phía tây kinh thành nước Nam Việt (1). Núi cao ngất, tròn như cái tán cho nên có tên ấy (2).
Xưa, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sinh ra 1 bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con trai. Long Quân đem 50 người xuống biển, còn lại 50 người con trai theo mẹ Âu Cơ chia trị các xứ, hiệu là Hùng Vương. Thần núi Tản Viên là một trong 50 người con trai theo cha xuống biển.

Em sẽ vũ không, nếu anh mời em vũ?
Em sẽ chạy không, và chẳng bao giờ nhìn lại?
Em sẽ khóc không, nếu em thấy anh khóc
Và em sẽ cứu hồn anh đêm nay?
Continue reading Anh hùng
Chào các bạn,
Nhân ngày Mother’s Day ở Mỹ, mình gởi đến các bạn 3 bài hát về mẹ.
Bài đầu tiên là bài nhạc rap vui của Mr. T, Treat Your Mother Right (Xử Tốt Với Mẹ)
Bài thứ hai là bài Ave Maria của Shubert, một thánh ca lừng danh kim cổ.
Bài thứ ba là vũ khúc Thiên Thủ Quán Âm của các vũ công câm điếc Trung quốc, cùng với nhạc trống.
Continue reading Ba bài hát cho Mẹ
Help! là một bài hát của ban the Beatles được dùng làm bản nhạc chính cho phim Help! năm 1965 và album Help! cho nhạc của phim này. Bản nhạc cũng được phát hành trên đĩa đơn, và thành bản số 1 trong 3 tuần liền ở Anh và Mỹ.
Help! có tên tác giả là Lennon-McCarthy. John Lennon người viết chính, nhưng sau đó bản nhạc được phát triển thêm khi John Lennon làm việc chung với Paul McCartney. Trong một lần interview với báo Playboy năm 1980, John Lennon kể lại: “Toàn bộ câu chuyện the Beatles nằm ngoài sức tưởng tượng. Tôi đã khóc gọi ‘Giúp tôi!’ trong vô thức.”
Báo Rolling Stone xếp bản nhạc hạn 29 trong 500 Bài hát hay nhất mọi thời đại.
Giúp tôi, tôi cần một người
Giúp tôi, không phải bất kì ai
Giúp tôi, tôi cần một người, hãy giúp tôi.
Khi tôi còn trẻ, trẻ hơn bây giờ rất nhiều,
Tôi chẳng bao giờ cần ai giúp bất kì chuyện gì.
Nhưng bây giờ thời đó đã qua, tôi không còn nhiều tự tin,
Bây giờ tôi thấy tôi đã thay đổi suy nghĩ và đã mở cửa.
Hãy giúp tôi nếu bạn có thể, tôi đang thấy ủ rủ
Và tôi rất biết ơn là bạn đang gần tôi.
Giúp tôi, giúp tôi đứng lại trên mặt đất
Làm ơn, làm ơn, bạn sẽ giúp tôi không?
Và bây giờ đời tôi đã thay đổi, ôi, nhiều chuyện,
Tính độc lập của tôi hình như tan biến trong trời mờ.
Nhưng thỉnh thoảng tôi cảm thấy rất bất ổn,
Tôi biết rằng tôi phải cần bạn như chưa bao giờ thế.
Hãy giúp tôi nếu bạn có thể, tôi đang thấy ủ rủ
Và tôi rất biết ơn là bạn đang gần tôi.
Giúp tôi, giúp tôi đứng lại trên mặt đất
Làm ơn, làm ơn, bạn sẽ giúp tôi không?
Khi tôi còn trẻ, trẻ hơn bây giờ rất nhiều,
Tôi chẳng bao giờ cần ai giúp bất kì chuyện gì.
Nhưng bây giờ thời đó đã qua, tôi không còn nhiều tự tin,
Bây giờ tôi thấy tôi đã thay đổi suy nghĩ và đã mở cửa.
Hãy giúp tôi nếu bạn có thể, tôi đang thấy ủ rủ
Và tôi rất biết ơn là bạn đang gần tôi.
Giúp tôi, giúp tôi đứng lại trên mặt đất
Làm ơn, làm ơn, bạn sẽ giúp tôi, giúp tôi không? Ôi!
(TĐH dịch)
Help!
The Beatles
Help, I need somebody,
Help, not just anybody,
Help, you know I need someone, help.
When I was younger, so much younger than today,
I never needed anybody’s help in any way.
But now these days are gone, I’m not so self assured,
Now I find I’ve changed my mind and opened up the doors.
Help me if you can, I’m feeling down
And I do appreciate you being round.
Help me, get my feet back on the ground,
Won’t you please, please help me?
And now my life has changed in oh so many ways,
My independence seems to vanish in the haze.
But every now and then I feel so insecure,
I know that I just need you like I’ve never done before.
Help me if you can, I’m feeling down
And I do appreciate you being round.
Help me, get my feet back on the ground,
Won’t you please, please help me.
When I was younger, so much younger than today,
I never needed anybody’s help in any way.
But now these days are gone, I’m not so self assured,
Now I find I’ve changed my mind and opened up the doors.
Help me if you can, I’m feeling down
And I do appreciate you being round.
Help me, get my feet back on the ground,
Won’t you please, please help me, help me, help me, oh.
Bassui viết lá thơ sau đây cho một đệ tử sắp chết”

“Thể tính của tâm của con không hề được sinh ra, nên nó không bao giờ chết. Nó không phải là hiện hữu–hiện hữu có thế hư mất. Nó không phải là hư không—hư không chỉ là một khoảng trống. Nó không có sắc màu và hình thái. Nó không hưởng thụ khoái lạc và không đau đớn với khổ nạn.
“Thầy biết con bệnh nặng. Là một thiền sinh sinh giỏi, con đang đối diện bệnh tật thẳng mặt. Con không biết chính xác là ai đang đau khổ, nhưng hãy tự hỏi mình: Cái gì là thế tính của tâm này? Quán chiếu điều này thôi. Con chẳng cần gì hơn nữa. Đừng ham muốn gì. Tận cùng của con là vô tận, là một hoa tuyết tan trong không khí trong lành.”
.
“Tôi từ đâu đến, và sau khi chết thì tôi đi đâu?” Đây là câu hỏi cốt yếu nhất, câu hỏi khởi đầu và là câu hỏi cuối cùng, của tất cả mọi truyền thống triết lý hay tâm linh.
Một câu hỏi khác, cùng nghĩa như câu trên nhưng chỉ khác từ, là: “Cái tinh yếu của tôi là gì? Thể tính của tôi là gì?”
Phật gia trả lời:
Ta là Không, tạm xuất hiện là người khi gặp đủ điều kiện thành người, và biến mất vào Không khi gặp đủ điều kiện để tan rã.
Thể tính của tâm ta, cũng như thể tính của tất cả mọi thứ trong vũ trụ là “Không”.
“Không” bất sinh bất diệt bất cấu bất tịnh bất tăng bất giảm—“Không” chẳng sinh chẳng diệt chẳng dơ chẳng sạch chẳng tăng chẳng giảm (Bát Nhã Tâm Kinh), chẳng là có, cũng chẳng là không có…
“Không” là tuyệt đối.
Tất cả mọi “tính cách” mà ta gán cho một vật –sáng, dài, tối, lớn, nhỏ, đẹp, xấu, hiện hữu, chẳng hiện hữu, màu sắc, hình thế, hưởng thụ khoái lạc, đau đớn với khổ nạn, có giới hạn, có tuổi tác…–đều không dùng được với “Không”, vì “tính cách” là tương đối, mà “Không” là tuyệt đối.
“Không” vượt ra ngoài mọi giới hạn của tính cách, nên ta không thể mô tả “Không” cách nào cho đúng, ngoài cách gọi “Không” là “Không”, và chẳng nói thêm gì cả.
Từ “Không” mọi sự sinh ra, kể cả tâm ta và thân ta. “Không” là thể tính của tâm ta và thân ta.
Nếu ta biết là ta từ “Không” mà đến và lại trở về “Không” thì ta biết rằng ta chẳng có khởi đầu, chẳng có kết thúc, chẳng có sinh chẳng có tử, chỉ thỉnh thoảng hiện ra trong thân thể này hay hình thể khác, như những con sóng lên xuống của đại dương, thế thôi. Sóng không có sinh và tử, vì thực ra sóng là đại dương, luôn ở đó.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Bassui wrote the following letter to one of his disciples who was about to die:
“The essence of your mind is not born, so it will never die. It is not an existence, which is perishable. It is not an emptiness, which is a mere void. It has neither color nor form. It enjoys no pleasures and suffers no pains.
“I know you are very ill. Like a good Zen student, you are facing that sickness squarely. You may not know exactly who is suffering, but question yourself: What is the essence of this mind? Think only of this. You will need no more. Covet nothing. Your end which is endless is as a snowflake dissolving in the pure air.”
# 95
Đừng làm tôi thất vọng, đừng làm tôi thất vọng.
Đừng làm tôi thất vọng, đừng làm tôi thất vọng.
Không ai yêu tôi như nàng
Ô như nàng, vâng như nàng
Và nếu có ai yêu tôi như nàng yêu tôi
Ô như nàng yêu tôi, như nàng yêu tôi Continue reading Đừng làm tôi thất vọng
Thời Hiến Đế nhà Hán, quan thái thú là Sĩ Nhiếp đóng đô thành ở bờ phía nam sông Bình Giang (nay là sông Thiên Đức). Phía Nam thành đó có chùa thờ Phật là chùa Phúc Nghiêm, có vị sư từ phương Tây tới, hiệu là Già La Đồ Lê trụ trì ở đấy, có phép đứng một chân, mọi người đều kính phục gọi là tôn sư, kéo nhau tới học đạo.

Hồi ấy có người con gái tên là Man Nương, cha mẹ đều đã mất, nghèo khổ vô cùng, cũng tới đó dốc lòng theo học Phật. Vì có tật nói lắp, không thể cùng chúng tụng kinh, thường ở dưới bếp, vo gạo, nhặt rau, nấu nướng cho các vị tăng trong chùa và khách tứ phương.
Giữa tháng năm, đêm ngắn, Man Nương nấu cháo đã chín mà tăng chúng tụng kinh chưa xong, chưa tới ăn cháo được. Man Nương ngồi đợi bên cửa bếp, không ngờ ngủ quên đi mất. Tăng chúng tụng kinh xong đều về phòng riêng. Man Nương ngủ ở giữa cửa bếp, sư Già Lê bước qua mình Man Nương. Man Nương tự nhiên động thai. Có thai được ba bốn tháng, Man Nương xấu hổ bỏ về. Sư Già Lê cũng thẹn mà bỏ đi. Man Nương về tới một ngôi chùa ở ngã ba sông thì ở lại đó. Đầy tháng sinh ra một đứa con gái, tìm sư Già Lê mà trả. Đêm đến, bế đứa bé gái ấy tới gốc cây bên ngã ba đường nói: “Ta gửi con Phật, mi giữ lấy sẽ thành Phật đạo”. Sư Già Lê và Man Nương từ giã nhau ra về, Già Lê cho Man Nương một cây trượng và bảo: “Ta cho nàng vật này. Nàng về nhà, nếu gặp năm hạn hán thì lấy trượng cắm xuống đất, lấy nước cứu sinh dân”. Man Nương cung kính bái lĩnh, về ở trong chùa. Gặp năm đại hạn, nàng lấy trượng cắm xuống đất, tự nhiên nước cuồn cuộn chảy ra, dân được vì thế được nhờ.
Khi Man Nương ngoài tám mươi tuổi, gặp lúc cây ấy bị đổ, trôi dạt đến bến sông trước cửa chùa, quanh quẩn ở đấy mà không trôi đi. Dân thấy thế, định bổ làm củi nhưng rìu nào cũng đều bị gãy, bèn cho hơn ba trăm người trong làng ra kéo cây gỗ lên mà không chuyển. Gặp lúc Man Nương xuống bến rửa tay, thử kéo chơi thì cây chuyển động. Mọi người đều kinh ngạc, bảo nhờ Man Nương kéo lên bờ, sai thợ tạc bốn pho tượng Phật. Khi xẻ cây gỗ đến chỗ đặt đứa bé gái thì thấy đã hóa thành một tảng đá rất cứng rắn, rìu đều bị mẻ cả. Họ liền vất tảng đá xuống vực sông, một tia sáng chói lên, hồi lâu đá mới chìm xuống nước. Bọn thợ đều chết cả. Dân bèn mời Man Nương đến bái lễ, nhờ dân chài lặn xuống nước vớt lên, rước vào trong chùa, thếp vàng cúng bái. Sư Già Lê đặt hiệu cho bốn tượng Phật là: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện (1). Thiện nam tín nữ ở khắp nơi đều thường tụ họp về chùa vui chơi ca múa, người đời gọi là hội Tắm Phật, ngày nay vẫn còn.
Chú thích:
1) Bản VHV 1473 chép thêm rằng: “Gọi Man Nương là Phật mẫu. Ngày mồng 8 tháng 4, Man Nương không bệnh mà chết, chôn ở trong chùa. Người đời lấy ngày này làm ngày lễ Phật đản.
(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.

• Truyện này nói về việc phối hợp giữa văn hóa Việt thời cổ đại và văn hóa Phật giáo.
Văn hóa Phật giáo biểu tượng bằng sư Già La Đồ Lê với cái tên rất ngoại quốc (Có bản nói là sư Khâu Đà La. Dù là tên gì thì cũng nghe rất ngoại quốc). Già La Đồ Lê có phép đứng một chân: Đây là ý nói về nhất nguyên luận của Phật giáo–tất cả mọi sự đều là Một, và Một đó là Không. (Nhất thiết pháp giai Không–tất cả mọi thứ đều là Không).
Văn hóa Việt biểu tượng bằng Man Nương. Man là man di, man dã, tức là ngu si dốt nát. Nương là nàng.
Già La Đồ Lê bước ngang Man Nương là biểu tượng của sự phối hợp giữa hai nền văn hóa, 5 người con là kết quả của phối hợp văn hóa này.
• Việc dùng man nương làm biểu tượng văn hóa Việt có thể hiểu ở nhiều cấp độ và góc cạnh khác nhau:
1. Đây là chú tâm về văn hóa mẫu hệ, văn hóa mẹ, lấy mẹ làm chính. Bố chỉ là vai phụ trong truyện. Có 5 con thì 4 con là nữ, và một tảng đá. Chẳng có nam.
2. Nói rằng phụ nữ ngu dốt (Man Nương) có thể thành Phật là một cách mạng văn hóa về bình đẳng nam nữ trong Phật giáo. Trong truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy (Tiểu Thừa) ở Ấn Độ phụ nữ không được đi tu, và không thể thành Phật.
3. Man nương ngu dốt còn là biểu tượng của vô minh (si mê), gặp Phật pháp từ Già La Đồ Lê, mà giác ngộ thành Phật.
• Man nương và Già La Đồ Lê phối hợp tạo nên một người con đầu tiên là con gái. Đây là một nhấn mạnh về truyền thống văn hóa mẫu hệ cổ truyền.
• Đứa con gái này được Man Nương giao lại cho Già La Đồ Lê là biểu tượng cho sự nuôi dưỡng khôn lớn trong tinh thần Phật giáo.
• Mang con bỏ vào trong hốc cây và được cây nuôi dưỡng gợi lại hình ảnh Phật Thích Ca thiền định dưới cội Bồ Đề và giác ngộ.
Cây lại đứng ngay ngã ba, nơi ba đường chụm lại. Đây xem ra là biểu tượng của tam thừa chỉ là một. Trong phẩm Thí Dụ của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phật có nói Phật dạy 3 thừa—thanh văn thừa, duyên giác thừa, Bồ tát thừa—thật ra cũng chỉ là một Phật thừa. Ba con đường cũng đều là đường đưa đến giác ngộ.
• Tuy nhiên, cây cổ thụ ở đây còn có thể là tàn tính của tín ngưỡng đa thần xưa cũ. Vào thời cổ xưa phần đông các bộ tộc của loài người đều theo đa thần, trong đó cây cối, mưa, gió, núi, sông… đều là thần, hoặc đều có thần ngự trị. Man Nương nói với cây cổ thụ “Ta gửi con Phật, mi giữ lấy sẽ thành Phật đạo”, tức là cư xử với cây này như một vị thần cây.
• Cây còn là biểu tượng của tổ quốc. Đất, đá, nước, cây đều là biểu tượng của non sông gấm vóc. Con của Man Nương được nuôi dưỡng trong Phật pháp và tinh khí núi sông.
• Cây gãy, trôi theo dòng nước đến cửa chùa. Đây là văn hóa nước, văn hóa quê hương tổ quốc—nước của nguồn gốc dân tộc, Động Đình Hồ. Nước là tổ quốc. Chúng ta đã nói đến việc quan trọng của văn hóa nước trong Truyện Hồng Bàng và Truyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử.

• Từ cây này tạo thành năm Phật: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện và Thạch Quang Phật (Phật Đá Sáng, hiện nay vẫn còn được tôn thờ trong Chùa Pháp Vân ở Bắc Ninh).
Đây khá rõ là việc biến các thần cũ của thời đa thần thành Phật của nền văn hóa mới. Pháp là Phật pháp, vân là mây, vũ là mưa, lôi là sấm, điện là chớp, thạch là đá. Các thần mây, thần mưa, thần sấm, thần điện, thần đá (hay thần núi) của thời sơ khai nay được tôn thành Phật trong nền văn hóa mới.
• Ngoại trừ đá Thạch Quang Phật không rõ giới tính, bốn Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện đều là phụ nữ, không có Phật nam. Một lần nữa nhấn rất mạnh văn hóa mẫu hệ xưa cũ.
• Thạch Quang Phật, được xem là em út, không có hình dáng người, nhưng là đá, khác với các tượng Phật của các chị khắc từ cây. Đá thì chắc chắn bền vững hơn cây. Đá là núi là đất, là quê hương. Đá Thạch Quang Phật nổi trên mặt nước lâu rồi mới chìm là nhấn mạnh đến Núi(đá) Sông.
“Khi xẻ cây gỗ đến chỗ đặt đứa bé gái thì thấy đã hóa thành một tảng đá rất cứng rắn, rìu đều bị mẻ cả”. Nghĩa là, đá Thạch Quang Phật là người con quan trọng nhất, là linh khí của bé gái. Phật Đá Sáng, Phật Đất Nước Núi Sông, do đó, là quan trọng nhất và bền vững chắc chắn hơn tất cả các Phật.
Ở đây ta thấy tinh thần Phật giáo và tinh thần dân tộc quyện vào nhau thật chặt chẻ. Phật giáo, dù là từ Ấn Độ sang, khi đến Việt Nam nó quyện vào văn hóa dân tộc Việt rất khắng khít, để giúp văn hoá Việt phát triển mạnh mẽ và tự nhiên. Xem ra không có xung đột giữa văn hóa Phật giáo và văn hóa Việt cổ xưa. Và tinh thần dân tộc là một yếu tính tự nhiên của Phật giáo Việt Nam.
• 5 Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện và Thạch Quang Phật: Từ góc độ triết lý Phật giáo, Phật pháp hiện diện trong tất cả mọi thứ, kể cả mây, mưa, sấm, chớp và đá.
• Tại sao lại một Phật mẹ và năm Phật con, chúng ta không rõ. Nhưng cũng có thể đây là biểu tượng của văn hóa âm dương ngũ hành đã có trong văn hóa Việt Nam từ trước. Mẹ cha là âm dương và 5 con là ngũ hành – kim mộc thủy hỏa thổ.
• Cây trượng sư Già La Đồ Lê tặng Man Nương là biểu tượng của Phật pháp, tương tự như cây gậy của Chử Đồng Tử, của thiền tổ Bồ Đề Đạt Ma, và của Phật Di Lặc và mà ta đã nói đến trong Truyện Tiên Dung và Chử Đồng Tử.
• Chùa Pháp Vân, còn gọi là Chùa Dâu, Diên Ứng Tự, hay Cổ Châu Tự, hiện nay vẫn còn ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30 km. Đây là ngôi chùa được đánh giá là xưa nhất Việt Nam.
Chùa nằm ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu. Đây là trung tâm cổ xưa nhất của Phật giáo Việt Nam. Tại vùng Dâu có năm ngôi chùa cổ: chùa Dâu thờ Pháp Vân, chùa Đậu thờ Pháp Vũ, chùa Tướng thờ Pháp Lôi, chùa Dàn thờ Pháp Điện, và chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ của Tứ Pháp. Năm chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần. Do chùa Đậu (Bắc Ninh) bị Pháp phá hủy, nên tượng Bà Đậu (Pháp Vũ) cũng được đưa về thờ ở chùa Dâu.
(Trần Đình Hoành bình)
500 Greatest Songs of All Times
Bridge over Troubled Water là bài hát của Paul Simon và được bộ đôi Simon & Garfunkel ghi âm và phát hành năm 1970 trong album thứ 5 và là album cuối của bộ đôi có cùng tên Bridge over Troubled Water. Bài hát và album thắng 4 giải Grammy tại Grammy thứ 13 năm 1971 gồm: Đĩa của năm (Record of the Year), Hòa âm hay nhất (Best Arrangement), Bài hát đương thời hay nhất (Best Contemporary Song), Kỹ thuật ghi âm tốt nhất (Best Engineered Recording).
Bridge over Troubled Water trở thành bài hát chữ ký (signature song) của Simon & Garfunkel. Lên hạng nhất trên Billboard Hot 100 sáu tuần liền, và cũng lên đầu bảng ở Anh, Canada, Pháp, và New Zealand. Bài hát cũng lên top five trong 8 nước khác. Bài hát là một trong những bài được trình diễn nhiều nhất trong thế kỷ 20 với hơn 50 nghệ sĩ ghi âm, trong đó có Elvis Presley và Aretha Franklin.
Báo nhạc Rolling Stone xếp Bridge over Troubled Water hạng 48 trong 500 Bản nhạc hay nhất trong mọi thời đại.
Continue reading Bridge over Troubled Water – Chiếc cầu bắc ngang nước siết

Tôi đã thấy những giấc mơ chuyển dời núi non
Hy vọng không bao giờ ngưng
Ngay cả khi trời sập
Tôi đã thấy phép lạ xảy ra
Những lời cầu lặng lẽ được giải đáp
Những quả tim tan vỡ thành mới toanh
Đó là điều lòng tin có thể làm
Dù là bạn đã nghe gì
“Không thể” không phải là một từ
Nó chỉ là cớ để ai đó không cố gắng
Mọi người đều rất sợ
Khi họ quyết định bước bước đó
Trên mặt nước
Mọi sự sẽ tốt đẹp
Cuộc đời có nhiều hơn
Là những gì mắt bạn đang thấy
Bạn sẽ tìm ra đường đi
Nếu bạn giữ vững lòng tin
Tôi đã thấy những giấc mơ chuyển dời núi non
Hy vọng không bao giờ ngưng
Ngay cả khi trời sập
Tôi đã thấy phép lạ xảy ra
Những lời cầu lặng lẽ được giải đáp
Những quả tim tan vỡ thành mới toanh
Đó là điều lòng tin có thể làm.
Vượt thắng nghịch cảnh
Không chừa cho bạn cơ hội nào
(Đó là điều lòng tin có thể làm)
Khi cả thế giới nói bạn không thể
Tôi sẽ nói bạn có thể!
Tôi đã thấy những giấc mơ chuyển dời núi non
Hy vọng không bao giờ ngưng
Ngay cả khi trời sập
Tôi đã thấy phép lạ xảy ra
Những lời cầu lặng lẽ được giải đáp
Những quả tim tan vỡ thành mới toanh
Đó là điều lòng tin có thể làm
Đó là điều lòng tin có thể làm
Dù bạn ngã đôi khi
Bạn sẽ có sức để vươn lên
(TĐH dịch)
Kutless là một ban nhạc Christian, thành lập năm 2000 ở thành phố Portland, tiểu bang Oregon, Mỹ. Đến nay ban nhạc đã ra được 6 albums và bán trên 1,5 triệu CDs.
What Faith Can Do – Cutless
Kutless
Everybody falls sometimes
Gotta find the strength to rise
From the ashes and make a new beginning
Anyone can feel the ache
You think it’s more than you can take
But you are stronger, stronger than you know
Don’t you give up now
The sun will soon be shining
You gotta face the clouds
To find the silver lining
I’ve seen dreams that move the mountains
Hope that doesn’t ever end
Even when the sky is falling
I’ve seen miracles just happen
Silent prayers get answered
Broken hearts become brand new
That’s what faith can do
It doesn’t matter what you’ve heard
Impossible is not a word
It’s just a reason for someone not to try
Everybody’s scared to death
When they decide to take that step
Out on the water
It’ll be alright
Life is so much more
Than what your eyes are seeing
You will find your way
If you keep believing
I’ve seen dreams that move the mountains
Hope that doesn’t ever end
Even when the sky is falling
I’ve seen miracles just happen
Silent prayers get answered
Broken hearts become brand new
That’s what faith can do
Overcome the odds
You don’t have a chance
(That’s what faith can do)
When the world says you can’t
It’ll tell you that you can!
I’ve seen dreams that move the mountains
Hope that doesn’t ever end
Even when the sky is falling
And I’ve seen miracles just happen
Silent prayers get answered
Broken hearts become brand new
That’s what faith can do
That’s what faith can do!
Even if you fall sometimes
You will have the strength to rise
Hôm đến di tích Lam Kinh, khi đi qua một chiếc cầu, người hướng dẫn cho biết: cầu này thời xưa xây dựng theo kiểu “thượng gia hạ kiều”, bên trên có mái lợp như mái nhà, bên dưới là cầu, ngày nay mái lợp không còn.
Loại cầu này đã gặp ở Hội An với Chùa Cầu. Gọi là Chùa Cầu vì chùa đồng thời là một chiếc cầu bắc ngang qua một con lạch. Mái chùa lợp ngói âm dương che kín cây cầu dài 12m. Công trình này được người Nhật xây dựng khoảng cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII. Một bên đầu cầu có tượng con chó, đầu bên kia là tượng con khỉ.

Đến Thừa Thiên nghe câu ca dao:
Ai về cầu ngói Thanh Toàn
Cho em về với một đoàn cho vui
Hay
Ai về cầu ngói Giạ Lê
Cho tôi theo với thăm quê bên chồng
Cầu ngói Thanh Toàn ở thôn Vân Khê huyện Hương Thủy, cũng là cầu có mái che bên trên lợp ngói âm dương. Người dân ở đây cho biết cầu do một cung phi thời nhà Nguyễn bỏ tiền ra làm để tỏ lòng yêu quý quê hương, nơi bà đã được sinh trưởng. Còn một Giạ Lê nữa là Giạ Lê Gót, chuyên làm bồ cót, tiếng địa phương là gót.
Ở Cao Bằng cũng có cầu ngói mới làm, trên đường vào mộ Kim Đồng.
Chúng tôi chợt nhớ đến những chiếc cầu này khi về Phát Diệm. Huyện Kim Sơn đang trong tầm mắt mọi người, gần và xa rất nhiều nhà thờ. Những thánh giá màu trắng bạc nổi lên khắp cả bầu trời, trông cao vút. Đoạn đường dài khoảng 4km dọc theo sông đào. Dưới sông có những chiếc thuyền với hình dáng khá dài. Nhiều cây cầu bắc qua sông, có một cây cầu bên trên lợp mái ngói, nằm giữa khoảng đồng không. Cầu có hai nhịp, hai bên thành là lan can, hai bên đầu cầu là lối đi xi măng nối với gờ xi măng của con đường có bậc cấp bước xuống sông. Một cây phượng không cao lắm đang nở hoa đỏ rực. Gặp chiếc cầu chúng tôi cảm thấy thêm niềm vui như gặp lại người bạn cũ trước khi bước vào một trung tâm lớn của Thiên Chúa giáo nước nhà: Phát Diệm.
Vào năm 1862, Phát Diệm chỉ có một ngôi nhà thờ lợp bằng tranh. Năm 1871, được một ngôi nhà thờ khác rộng rãi hơn. Năm 1891 thì có nhà thờ nguy nga tráng lệ. Đây là một quần thể kiến trúc độc đáo, khi đường nét Đông phương với lối mái uốn cong của các điện, các chùa phối hợp hài hòa vào một cơ sở tôn giáo xuất phát từ Tây phương. Toàn thể nhà thờ rộng 22 mẫu, chia làm hai khu vực chính: khu nhà thờ và khu nhà chung.

Nhà thờ chánh tòa dài 80m, rộng 24m, cao 18m, bao gồm 48 cột lim, mỗi cột chu vi 2,40m. Bàn thờ là một khối đá liền dài 3,10m, rộng 0,80m. Thánh đường phân làm 9 gian với ngũ môn (5 lối ra vào). Có những phù điêu bằng đá mô tả cuộc đời của Chúa Giê-su. Trong Phương đình treo một quả chuông nặng 150kg, cao 1,90m. Nhà nguyện Trái tim Đức Mẹ bốn mái cong, có lầu gác, từ nền đến cột tất cả đều bằng đá, chung quanh lối đi lót đá. Bốn ngôi nhà thờ nhỏ thờ: Trái tim Chúa Giê-su, Thánh Gioan, Thánh Giu-se và Thánh Phê-rô. Trước mặt nhà thờ là một hồ nước rộng 4 mẫu, trên đảo nhỏ giữa hồ có tượng Chúa cao 3m.
Điều đặc biệt nữa ở đây là có những câu đối chữ Hán, bởi linh mục chủ trương xây dựng nhà thờ Phát Diệm là một bậc uyên thâm Nho học. Đó là một người trải bao gian khổ vẫn nguyện dâng hiến trọn đời cho Đức Tin: Linh mục Phê-rô Trần Lục, tục gọi là Cụ Sáu, từng có tên là Hữu, Triêm, sinh năm 1825 tại Mỹ Quan huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa, tức xứ Kẻ Dừa, được thụ phong linh mục năm 1860, được bổ nhiệm Chánh xứ Phát Diệm năm 1865, tạ thế 1899, thọ 75 tuổi.Tên Trần Lục là do vua Tự Đức đổi khi phong cho ngài chức Trấp an và ban kim khánh, kim tiền. Vua Đồng Khánh phong ngài là Tham tri bộ Lễ sung Khâm sai Tuyên phủ sứ, vua Thành Thái gia phong Thượng thư bộ Lễ, vua Khải Định truy tặng Phát Diệm Nam tước.
Về Phát Diệm không thể không nhắc đến Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ, một người văn võ song toàn, kinh bang tế thế, luôn luôn theo đúng đường lối Nho giáo là nhập thế, hành động, khuyến khích nam nhi cố gắng tạo nên công danh, sự nghiệp, nhưng về mặt lãng mạn, trữ tình thì chẳng những không kém thua ai mà còn hơn hẳn thiên hạ bao nhiêu bậc. Đậu giải nguyên, từng phục vụ ba triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, với công cuộc dinh điền ông đã lập ra hai huyện Tiền Hải (Thái Bình) và Kim Sơn (Ninh Bình).
Ngẫm lại đời ông biết bao nỗi thăng trầm, từng làm đến Thượng thư bộ Binh cũng từng bị hạ xuống đi tiền quân hiệu lực như một binh nhì, vẫn giữ tròn tiết tháo. Bản chất kẻ sĩ của ông là:
Trong lăng miếu ra tài lương đống
Ngoài biên thùy rạch mũi can tương
Cho dẫu có pha một chút ngậm ngùi khi trách ông xanh:
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Cũng chất ngất nét hào sảng và tràn đầy sự tự tại.
Trong chúng ta, khi cảm thấy bất phùng thời, ai chẳng muốn làm một cây thông như vậy.
Trần Huiền Ân