Category Archives: trà đàm

Vốn xã hội

Chào các bạn,

Hôm nay mình đề cập đến một loại vốn gọi là Vốn xã hội rất quan trọng đối với chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân cũng như sự phát triển bền vững của một xã hội.

Vốn xã hội (social capital), cũng như tài nguyên thiên nhiên (natural capital – vốn tự nhiên) hay máy móc thiết bị sản xuất (manufactured capital – vốn sản xuất), cũng là một nguồn vốn trong nền kinh tế. Khái niệm này bắt đầu xuất hiện từ đầu thế kỉ 20 bởi Lyda Judson Hanifan, sau đó liên tục được phát triển bởi các nhà xã hội học, kinh tế học như Pierre Bourdieu, James Coleman hay Francis Fukuyama. Tuy vậy Robert D. Putnam, nhà khoa học chính trị nổi tiếng người Mỹ, giáo sư đại học Harvard ngành chính sách công, là người đầu tiên đưa khái niệm vốn xã hội trở thành tâm điểm của các nghiên cứu khoa học và tranh luận rộng rãi.

Theo Putnam “vốn xã hội là các mối liên kết giữa các cá nhân – các mạng lưới xã hội và các quy tắc qua lại và từ đó hình thành nên sự tin tưởng”. Ông nhấn mạnh rằng yếu tố căn bản trong vốn xã hội đó là “đạo đức dân sự” (civic virtue), và yếu tố này càng mạnh hơn trong một xã hội có các mối quan hệ xã hội qua lại (reciprocal social interactions). Một xã hội có nhiều cá nhân bị tách biệt thì không giàu vốn xã hội . Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của các hiệp hội (association) và xã hội dân sự. Vốn xã hội góp phần nâng cao chất lượng c ủa một đời sống dân sự và phát triển một xã hội dân sự.

Ngân hàng thế giới cũng đã công nhận “vốn xã hội chỉ đến các tổ chức, các mối quan hệ, và các khái niệm hình thành nên số lượng và chất lượng của các tương tác xã hội trong một xã hộị. Ngày càng có nhiều minh chứng cho thấy các cố kết xã hội rất quan trọng cho các xã hội tăng trưởng về mặt kinh tế và phát triển một cách bền vững”.

Trong cuốn sách “Bowling Alone: The collapse and revival of American community” ông đưa ra một số lý do giải thích vì sao vốn xã hội quan trọng:

1. Vốn xã hội cho phép công dân giải quyết các vấn đề tập thể dễ dàng hơn, mọi người thường có lợi nếu họ hợp tác với nhau để giải quyết phần việc của mình

2. Khi mọi người tin tưởng và đáng tin tưởng, thì các mối quan hệ xã hội và kinh doanh sẽ tốn ít chi phí hơn

3. Khi con người thiếu các liên hệ với người khác, họ sẽ không thể kiểm tra sự đúng đắn của quan điểm của họ, do đó họ dễ có xu hướng bị lung lay bởi những lúc thiếu bình tĩnh.

Vốn xã hội đối với một cá nhân có thể đơn giản là các mối quan hệ xã hội mà người đó có, được xây dựng trên sự tin tưởng và có tính cố kết chặt chẽ. Một người nói rằng danh sách bạn bè của mình có hơn 100 người, nhưng có khi cả năm không nói chuyện với nhau thì đó không phải là những mối quan hệ bền vững. Mặt khác, một người có ít hơn 100 bạn, nhưng lại thường xuyên nói chuyện, hỏi thăm, trao đổi thư từ, gặp gỡ những người này thì rõ ràng là vốn xã hội mà người này có lớn hơn nhiều. Giàu vốn xã hội hay nói cách khác là giàu các mối quan hệ xã hội dựa trên sự tin tưởng, tích cực và bền chặt là có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp các cá nhân hạnh phúc và thành công hơn trong cuộc sống. Ví dụ đơn giản, khi bạn cần mua một chiếc máy tính chẳng hạn. Nếu bạn có một người bạn làm trong nghề buôn bán máy tính hay am hiểu máy tính, bạn biết người này rất rõ và tin tưởng họ, thì bạn hoàn toàn có thể nhờ người này tư vấn để mua máy tính mà khỏi cần tìm hiểu các nguồn thông tin trên mạng rất mất thời gian.

Khi xin việc cũng vậy. Có một con số không chính thức là 70% việc ở Mỹ không được đăng tải chính thức trên các phương tiện truyền thông, mà qua truyền miệng. Do đó rất nhiều người tìm được việc qua bạn bè giới thiệu, và thực tế cũng cho thấy tỉ lệ hài lòng với công việc cao hơn, tỉ lệ bỏ việc thấp hơn trong nhóm những người xin việc qua các mối quan hệ cá nhân như thế này.

Đối với các tổ chức hay doanh nghiệp, vốn xã hội cũng đem đến một số lợi ích như:

1. Chia sẻ kiến thức tốt hơn có được từ các mối quan hệ tin tưởng đã được thiết lập, các khung tham khảo chung, các mục tiêu chung

2. Chi phí giao dịch giảm, do mức độ tin tưởng tăng cao hơn

3. Tỉ lệ nghỉ việc và thay thế nhân viên thấp, giảm chi phí tuyển dụng và đào tạo

4. Tính cấu kết cao giúp cho tổ chức ổn định và chia sẻ những hiểu biết chung

Putnam cũng đưa ra một số yếu tố để xác định vốn xã hội thông qua một số ví dụ về sự suy giảm nguồn vốn này trong xã hội Mỹ ở thế kỉ 20:

1. Tham gia về chính trị và dân sự: ví dụ như tỉ lệ bỏ phiếu, mức độ hiểu biết chính trị hay tin tưởng chính trị (politial trust). So với một thập kỉ trước đây, hiện nay số lượng người Mỹ kí vào các thư kêu gọi giảm 30%, và tham gia vào các cuộc tẩy chay hàng tiêu dùng giảm 40%. Điều đó cho thấy sự suy giảm trong đời sống cộng đồng, các hoạt động của các câu lạc bộ và các tổ chức tôn giáo cũng giảm đáng kể.

2. Các ràng buộc xã hội không chính thức: ví dụ vào năm 1975 trung bình một người Mỹ mời bạn của mình về nhà chơi 15 lần một năm, con số đó năm 1998 giảm xuống còn một nửa. Các hoạt động thể thao tập thể cũng đang suy giảm.

3. Sự khoan dung và tin tưởng: mặc dù người Mỹ ngày càng khoan dung hơn với người khác nhưng lại kém tin tưởng người khác hơn. Cơ hội nghề nghiệp cho các ngành như cảnh sát, luật sư, và bảo vệ cá nhân đã giảm đi trong thế kỉ 20. Ví dụ số lượng luật sư trên đầu người năm 1970 giảm so với năm 1900.

Do vậy xây dựng vốn xã hội rất quan trọng trong thành công của mỗi cá nhân cũng như một xã hội nói chung. Có nhiều hoạt động để chúng ta tham gia thường xuyên và liên tục phát triển vốn xã hội của mình, ví dụ như:

1. Thường xuyên gọi điện hỏi thăm bạn bè và người thân ở xa
2. Giúp đỡ mọi người mọi lúc mọi nơi nếu có thể, và giúp đỡ một cách chân thành
3. Nói “Không có gì” khi có ai đó xin lỗi
4. Nói “Xin lỗi” và “Cảm ơn” mỗi ngày
5. Tổ chức một buổi họp mặt với bạn bè hay người thân
6. Tham gia cuộc họp của khu phố
7. Đăng kí bầu cử và bầu cử
8. Ủng hộ các doanh nghiệp địa phương
9. Hiến máu
10. Tránh “buôn dưa lê”
11. Tham gia một buổi tiệc ở nhà bạn bè khi được mời
12. Biết được các giáo viên của con bạn
13. Hát trong một nhóm nhạc
14. Đi bộ hoặc đi xe đạp để ủng hộ một hoạt động nào đó và rủ mọi người cùng tham gia
15. Trả lời một bản điều tra nếu bạn được hỏi
16. Đọc sách cho con bạn
17. Tham gia một nhóm tình nguyện
18. Đọc tin tức địa phương thường xuyên
19. Tình nguyện đưa đón giúp một người nào đó
20. Chào khi gặp một người quen
21. Chào những người lạ khi đi trên phố
22. Đi bộ ra công viên
23. Rủ bạn bè tham gia một buổi tiệc hay dã ngoại
24. Mở cửa cho ai đó khi họ cần giúp đỡ
25. Tổ chức một buổi họp mặt gia đình

Chúc các bạn một ngày thân ái,

Hoàng Khánh Hòa

Lời nguyện cho thế giới

Thế giới
.
Không có thế giới ở bên ngoài chúng ta. Thế giới, thực tế, là sự phóng ảnh của toàn thể chúng ta về tình yêu và nỗi sợ hãi, những hy vọng và những mâu thuẩn. Bằng cách nhận lãnh trách nhiệm cho ý nghĩ và cảm xúc của chính mình, chúng ta góp phần vào việc chữa lành thế giới.

Thế giới nguy kịch bởi chúng ta nguy kịch. Thế giới chuyển đổi dữ dội bởi chúng ta chuyển đổi dữ dội. Thế giới vẫn có một cơ hội sống còn, vừa vì nhờ chúng ta vừa vì bất kể chúng ta.

Lời nguyện của chúng ta cho thế giới là đóng góp lớn nhất của chúng ta cho sự chữa lành và tái sinh của thế giới
.

Chúa ơi,

Có quá nhiều nguy hiểm trong thế giới hôm nay.

Có quá nhiều điên rồ, quá nhiều bóng tối và sợ hãi.

Những nguồn tài lực của con người không đủ để chống lại sự ác trên đường phố và trong tâm trí của chúng con.

Chúa ơi,

Hãy gửi tới một phép lạ.

Mong sao quyền năng của thánh linh của Chúa bật lên ánh sáng vào mọi quốc gia và mọi mái nhà, mọi khối óc và mọi trái tim, khởi động sự thánh khiết của chúng con, nhắc nhở chúng con về sự thật trong lòng.

Mong một tình yêu vĩ đại ôm ấp chúng con, một an bình sâu thẳm an ủi chúng con.
Bởi vì, Chúa ơi, chúng con sống trong những thời khắc sợ hãi, và chúng con ước mong một thế giới mới.

Chúng con hiến dâng hiện hữu này, vào ngọn lửa của tài năng của Chúa.

Tinh luyện lại kim loại này.

Thiết kế lại những sáng tạo của chúng con.

Nhắc nhở chúng con về những chân lý đời đời.

Đưa chúng con trở lại với thánh thiện nguyên thủy.

Lấy đi những thứ chúng con đã níu giữ và, vì vậy, kết án.

Bởi Chúa đầy quyền lực, Chúa ơi, và có thể làm những điều chúng con không thể.

Mong thế giới được tái sinh.

Giúp chúng con tha thứ và bỏ quá khứ lại phía sau, tương lai được Chúa đưa đường.

Tung hô Chúa, bởi Chúa có quyền năng.

Ngợi ca và cảm tạ Chúa, bởi Chúa dùng quyền năng để cứu chúng con, chữa lành chúng con, kéo chúng con ra khỏi quá khứ.

Và chúng con chấp nhận.

Cám ơn Chúa.

Amen.

~ Marianne Williamson

Nguyễn Minh Hiển dịch

The world
.
There is no world outside us. The world is, in fact, our collective projection of love and fear, hopes and conflicts. In taking responsibilities for our own thoughts and feelings, we play our part in the healing of the world.

The world is in a critical phase because we are. The world is in massive shift because we are. The world is in massive shift because we are. The world still has a chance for survival, both in spite of us and because of us.
Our prayers for the world are our greatest contribution to its healing and rebirth.

Dear God.

There is so much danger in the world today.
There is so much insanity, so much darkness and fear.
Our human resources are not enough to counter the evil on our streets and in our minds.

Dear God,

Please send a miracle.
Into every country and every home, into every mind and every heart, may the power of Your spirit now trigger the light, activate our holiness, remind us of the truth within.
May a great love now encompass us, a deep peace give us solace.
For Lord, we live in fearful times, and we long for a new world.
We surrender what is, to the bonfire of Your genius.
Refine this metal.
Refashion our creations.
Remind us of eternal truths.
Return us to our native grace.
Take back what we have kept and thus condemned.
For You are mighty, Lord, and can do what we cannot.
May the world be reborn.
Help us forgive and leave the past behind us, the future to be directed by You.
Hallelujah, for You have the power.
Praise and thanksgiving, as You use it to save us, to heal us, to lift us from the past.
And we accept.
Thank You very much.

Amen.

Cuộc sống giống như một cốc café

Một nhóm cựu sinh viên đã có những thành công nhất định trong sự nghiệp, cùng nhau đến gặp giáo sư đại học cũ của họ. Câu chuyện nhanh chóng trở thành những lời than phiền về sự căng thẳng trong công việc và cuộc sống.

Mời sinh viên của mình uống café, thầy giáo đi vào bếp và quay ra với một cái ấm café lớn và một lô cốc – sứ, nhựa, thủy tinh, một số cái trông đơn giản, một số cái đắt tiền, một số cái nhìn rất đặc biệt – và bảo sinh viên tự tay rót café.

Khi tất cả các sinh viên đã có một cốc café trong tay, vị giáo sư bảo: “Nếu các em để ý, tất cả những cái cốc đẹp đã được lấy hết, chỉ còn lại mấy cả trông đơn giản và rẻ tiền. Việc các em chỉ muốn cái tốt nhất cho mình là lẽ thường, và đó là nguồn gốc của các vấn đề và căng thẳng mà các em gặp phải”.

Hãy nhớ rằng chiếc cốc bản thân nó không tăng thêm giá trị cho café. Trong phần lớn các trường hợp, nó chỉ đắt tiền hơn và trong một số trường hợp, làm chúng ta quên đi chúng ta đang uống gì. Cái mà các em thực sự muốn là café, không phải là chiếc cốc, nhưng các em đã tự chọn những chiếc cốc tốt nhất…Và sau đó thì nhìn sang cốc của người khác.

Bây giờ hãy nghĩ về điều này: Cuộc sống là café, còn công việc, tiền và vị trí trong xã hội là những chiếc cốc. Chúng chỉ là dụng cụ để đựng và chứa cuộc sống, và hình thức của chiếc cốc không định nghĩa, cũng không thay đổi chất lượng cuộc sống mà chúng ta sống.

Đôi khi, do tập trung vào cái cốc, chúng ta đã quên việc thưởng thức café. Hãy thưởng thức café, không phải chiếc cốc. Những người hạnh phúc nhấ không có những thứ tốt nhất của mọi thứ. Họ chỉ tạo ra thứ tốt nhất của mọi thứ. Sống đơn giản. Yêu rộng lượng. Quan tâm sâu sắc. Nói chân thành.

~ Unknown Author
Hoàng Khánh Hòa dịch

Life is Like a Cup of Coffee

A group of alumni, highly established in their careers, got together to visit their old university professor. Conversation soon turned into complaints about stress in work and life.

Offering his guests coffee, the professor went to the kitchen and returned with a large pot of coffee and an assortment of cups – porcelain, plastic, glass, crystal, some plain looking, some expensive, some exquisite – telling them to help themselves to the coffee.

When all the students had a cup of coffee in hand, the professor said: “If you noticed, all the nice looking expensive cups have been taken up, leaving behind the plain and cheap ones. While it is normal for you to want only the best for yourselves, that is the source of your problems and stress.

Be assured that the cup itself adds no quality to the coffee. In most cases it is just more expensive and in some cases even hides what we drink. What all of you really wanted was coffee, not the cup, but you consciously went for the best cups… And then you began eyeing each other’s cups.

Now consider this: Life is the coffee; the jobs, money and position in society are the cups. They are just tools to hold and contain Life, and the type of cup we have does not define, nor change the quality of life we live.

Sometimes, by concentrating only on the cup, we fail to enjoy the coffee. Savor the coffee, not the cups! The happiest people don’t have the best of everything. They just make the best of everything. Live simply. Love generously. Care deeply. Speak kindly.

Những điều trông thấy mà…

Tôi vưà có hai chuyến điền dã tìm hiểu văn hoá cổ truyền của người Mnông ở tỉnh Đak Nông và người K’Ho ở tỉnh Lâm Đồng. Đây vốn là hai tộc người cùng chung ngữ hệ Môn – Khơmer, có rất nhiều điểm tương đồng về nghệ thuật diễn xướng goong – ching (bài bản ching, làn điệu dân ca, dân nhạc) và phong tục tập quán ( kiến trúc nhà, sản xuất nương rẫy, tang ma, cưới hỏi…). Điểm khác nhau cơ bản là: nếu trong chương trình sưu tầm sử thi đã thực hiện ở Tây Nguyên, các nhà khoa học “nhặt” được từ người Mnông hàng trăm tác phẩm trường ca – sử thi (ot, n’trong) đồ sộ, thì hình thức văn học truyền miệng độc đáo này (Yang yao) ở vùng người K’Ho chỉ còn là những trường đoạn đứt gãy. Thậm chí văn hoá truyền thống K’Ho hầu như chỉ lờ mờ trong ký ức người già (từ 70 mùa rẫy trở lên), lớp trung niên (từ 60 tuổi trở xuống) gần như chẳng còn nhớ gì nhiều .Tuối càng thấp thì sự hiểu biết về văn hoá tộc người của chính mình càng ít.

Giáo sư – Tiến sỹ khoa học Tô Ngọc Thanh , Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian VN đã từng có lần xót xa nhận xét “cái nghèo khiến các dân tộc còn giữ được văn hoá truyền thống”. (Điều này dưòng như mẫu thuẫn với một câu ngạn ngữ của người Việt, rằng “phú quý sinh lễ nghĩa” chăng? Bởi các tỉnh, huyện, xã miền xuôi khắp cả nước, chẳng đang đua nhau khôi phục các lễ hội truyền thống đó sao?).

Tuy nhiên, điều tôi muốn đề cập trước hết trong câu chuyện này, chưa phải về văn hoá cổ truyền, mà là về đời sống của hai tộc người tương đối gần gũi về phong tục tập quán, ở hai địa bàn khác nhau vừa nói đến ở trên.

Nói theo kiểu người Tây Nguyên chúng tôi phải tận mắt nhìn, phải tự tai nghe mới tin, thì :

– Đa số gia đình người Mnông ở các huyện Đăk Rlâp, Quảng Khê, Krông Nô, Đăk Song, thị xã Gia Nghĩa…thuộc tỉnh Đăk Nông mà chúng tôi đến, đều chưa thoát khỏi đói nghèo, do sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, thiếu đất. Tuy hầu hết đã chuyển từ nhà tranh sang nhà ván, nhà gạch,mái tôn, nhưng chỉ là những căn nhà cấp 4, diện tích hẹp. Có rất ít thanh niên người Mnông học tới trình độ cao đẳng và đại học.

Trò chuyện cùng chúng tôi, người dân đều có nguyện vọng được có đất để làm rẫy, may ra mới khỏi đói. Thậm chí có vùng còn đề nghị được chuyển cư đi tìm đất. Bà con cũng lý giải việc khó khôi phục lại văn hoá truyền thống, vì mọi lễ nghi, lễ hội đều liên quan tới lương thực, thực phẩm, mà điều đó hiện nay không thể giải quyết được.

– Người K’Ho ở tất cả những nơi chúng tôi đến (Lâm Hà, Lạc Dương, Đức Trọng, Di Linh,Dam Rông) đều có cuộc sống khá hơn hẳn, đặc biệt những nhà làm cà phê, hoặc chuyên canh rau & hoa (những vùng làm lúa tuy không giàu có bằng, nhưng cũng không bị đói). Rất nhiều gia đình xây nhà dạng biệt thự khang trang, đầy đủ tiện nghi (ti vi, bếp ga, máy giặt, tủ lạnh…). Người K’Ho là một trong những dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên có đông trí thức nhất.

Trao đổi điều này với những người nông dân K’Ho mà chúng tôi gặp, bà con đều cho rằng: mặc dù kỹ thuật chưa cao, nhưng do có đất sản xuất, nên thu nhập đủ sống, đủ nuôi con ăn học. Nhưng khi chúng tôi hỏi “con cháu mình biết gì về văn hoá tộc người mình?”, hầu hết đều trả lời “ không biết gì ngoài tiếng nói”. Họ cũng bày tỏ nguyện vọng muốn khôi phục lại văn hoá truyền thống, nhưng hầu hết không hiểu nên giữ lại cái gì, bỏ đi cái gì (bởi đa số là tín đồ đạo Thiên Chúa & Tin lành), nhất là khi không mấy ai còn biết truyền thống văn hoá của mình có những gì, ngoài gong ching vừa được quốc tế công nhận là di sản văn hoá nhân loại, thì ở nhiều vùng đã im tiếng từ vài chục năm nay.

Vậy là hai tộc người thiểu số Tây Nguyên, hai hiện trạng cuộc sống giàu nghèo khác nhau, nhưng đều đứng trước nguy cơ mất hẳn kho tàng văn hoá đã từng rất đồ sộ và có giá trị vô cùng quý báu của mình, mất “di sản văn hoá phi vật thể truyền khẩu của nhân loại”

Trước hết là việc đời sống kinh tế chênh lệch rõ rệt ở hai vùng. Người Mnông nghèo và vẫn bị đói là do thiếu đất sản xuất. Thật khó tin, nhưng đó là sự thật. Chuyện xa hơn một chút, tù trưởng N’Trang Gưh đã từng dẫn 600 người Bih, người Mnông bỏ bon lan lùi sâu vào rừng chống Pháp. Những năm 60 của thế kỷ XX, khi lập vùng căn cứ kháng chiến chống Mỹ, tỉnh Đăk Lak phải động viên một số hộ người Êđê từ Krông Ana bỏ buôn làng quê hương chuyển cư sang, để có thêm dân, vì cơ số người Mnông ở Krông nô quá ít. Cách mạng mà không có dân, không có chỗ dựa , làm sao thành công? Ấy vậy mà ngày nay “số ít” những chủ nhân đích thực ấy, lại không có đủ đất canh tác để đảm bảo đời sống, chỉ no đủ thôi, chưa dám mơ tới giàu có, là sao?

Sau nữa là biện pháp bảo tồn một trong những “vùng văn hoá cồng chiêng” Tây Nguyên thì thế nào nhỉ? Thể theo ý nguyện của bà con, ấy là cần lắm những cán bộ văn hoá là người chính dân tộc mình, để cùng nhau bàn bạc, lựa chọn cái gì phù hợp mà bảo vệ lấy “ nó” cho khỏi mất đi. Đấy, cứ ngoái lại mà xem, nếu là người bản địa tham gia vào chương trình, thì đâu đến nỗi đêm khai mạc cồng chiêng quốc tế ở Gia lai bị đông đảo khán giả chê bai vì sự thiếu tôn trọng chính chủ thể cồng chiêng đến thế? Mà có phải thiếu người đâu? Có tới hai Nghệ sỹ nhân dân chuyên ngành đạo diễn múa là người Bâhnar và Hrê ở đó đấy chứ. Nhưng họ có được nhúng tay vào đâu? Phải mời hẳn một công ty ở Hà Nội vào thực hiện, mới thành công chứ.

Thêm một câu chuyện nho nhỏ : có người tự cho là tâm huyết, có ý thức trách nhiệm, đã đến tận xã Nhân Cơ, nơi đang triển khai dự án Bôxit ở tỉnh Đăk Nông xem tận mắt, rồi về lớn tiếng “mọi người nói sao chứ dự án chỉ lấy có rẫy của 3 hộ Mnông, đã đền bù thoả đáng rồi”. Vâng, nhưng có ai quan tâm đến một cái hồ có tên gọi “cá trê”, nơi mà mỗi năm một lần, các bon Mnông quanh vùng mang theo rượu cần, goong –ching, tụ tập cùng tát cá và ăn uống, múa hát chung ở đó, nay đã bị biến mất không? Xì ! Cái hồ là việc nhỏ.Số tiền đền bù ấy có thể mua được xe máy, xây nhà …tốt quá rồi còn gì? Cái đói nếu có đến là tại bà con không biết mua đất ở đâu mà sản xuất đấy, chứ có phải tại “ ông Boxit ” đâu ???

Buổi sáng đầu tiên chúng tôi ở trang trại Trung Nguyên tại M’Drăk,để bàn về việc chuẩn bị cho Festival cà phê quốc tế tại Đăk lăk năm 2010, một nhóm các nhà kinh tế trẻ, gồm toàn các Tiến sỹ vừa từ Hà Lan, Mỹ, Đài Loan về, đã thẳng thừng nhận xét “Soi lại lịch sử thì người Kinh chỉ giỏi đánh nhau, xâm chiếm đất đai, áp đặt lối sống của mình, chứ không hiểu và không biết cách bảo hộ văn hoá, không tôn trọng văn hoá ngay cả của chính mình lẫn của các dân tộc thiểu số khác ”.

Xin dành sự bình luận cho các bạn ghé qua “nhà” tôi nhé.

Linh Nga Niê Kdăm

Xin lỗi các dân tộc thiểu số

Chào các bạn,

Hôm nay mình muốn giới thiệu đến các bạn một vài mẫu tin thú vị, để chúng ta cùng suy nghĩ.

Ngày 13.2.2008, thủ tướng Úc Kevin Rudd, đại diện chính phủ và nước Úc, chính thức xin lỗi các bộ lạc thổ dân Úc về những chính sách và luật lệ của nước Úc đã “gây bi thảm, đau khổ và mất mát sâu đậm” cho bao nhiêu đời thổ dân đã qua.

Chính phủ Canada liền noi theo gương tốt. Ngày 12.6.2008, thủ tướng Canada Stephen Harper, đại diện chính phủ và nước Canada, chính thức xin lỗi các bộ lạc thổ dân da đỏ tại Canada, về những chính sách và luật lệ của Canada trong quá khứ để “giết chết người da đỏ trong lòng em bé thổ dân”. Thủ tướng nói: “Chính phủ Canada thành thật xin lỗi và xin được các dân tộc thổ dân của đất nước này tha thứ vì đã làm họ thất vọng một cách thâm sâu. Chúng tôi rất hối hận.”

Ngày 6.10.2009 vừa qua, Thượng Viện Mỹ đã thông qua một nghị quyết xin lỗi thổ dân da đỏ Mỹ. Nghị quyết này chưa thể thành luật, cho đến khi được cả Hạ Viện đồng ý, và Tổng Thống ký ban hành. Dù vậy, nghị quyết cũng là một bước tiến đúng hướng.

Sau đây là nguyên văn bản thông báo của Ủy Ban Thượng Viện Mỹ Về Các Vấn Đề Liên Hệ Đến Người Da Đỏ

Để thông tin lập tức
Ngày 6.10.2009

Ủy Ban Thượng Viện Mỹ về Các Vấn Đề Liên Quan Đến Người Da Đỏ

Các Thượng nghị sĩ Brownback và Dorgan hoan nghênh việc Thượng Viện thông qua nghị quyết Xin Lỗi các Bộ Tộc Thổ Dân Mỹ.

Washingonton, DC – Các thượng nghị sĩ liên bang Sam Brownback (Cộng Hòa- Kansas) và Byron Dorgan (Dân Chủ-North Dakota) đã hoan nghênh việc Thượng viện thông qua Nghị Quyết Xin Lỗi Các Bộ Tộc Thổ Dân Mỹ, đề nghị sự xin lỗi của chính phủ Mỹ với Người Da Đỏ Mỹ. “Hành động của Thượng viện hôm nay là một bước tiến lớn cho liên hệ giữa chính phủ liên bang và Thổ Dân Mỹ,” Brownback nói. “Nghị quyết này nhằm tìm hòa giải và đề nghị sự xin lỗi chính thức đối với Thổ Dân Mỹ vì những lựa chọn gây đau đớn mà chính phủ liên bang đã làm trong quá khứ. Với nghị quyết này, chúng ta xác nhận những thất bại trong quá khứ và bày tỏ sự hối hận thành thật.”

Dorgan, chủ tịch Ủy Ban Thượng Viện về Các Vấn Đề Liên Quan Đến Người Da Đỏ, cùng đứng tên tác giả bảo trợ nghị quyết với Brownbach. Dorgan nói, “Rất khó để biết lịch sử của Những Người Mỹ Đầu Tiên [tức là các thổ dân] và chính sách phá hoại mà chính phủ của chúng ta thường dùng đối với họ, mà không cảm thấy tràn ngập buồn rầu và hối hận.”

Nghị Quyết Xin Lỗi Thổ Dân Mỹ được thông qua như một tu chính án cho Dự Luật Quốc Phòng. Nghị quyết này mang lời xin lỗi chính thức từ Nước Mỹ đến các chính quyền thổ dân và người thổ dân trong toàn quốc. Nghị quyết xin lỗi này không phải là sự cho phép, hoặc dùng như là giải quyết cho, các tranh chấp đang có với chính phủ, cũng như không giải quyết nhiều thử thách Thổ Dân Da Đỏ Mỹ đang gặp phải. Một Nghị Quyết Xin Lỗi Người Da Đỏ Mỹ đã được đưa ra Quốc Hội, và đã được Thượng viện thông qua năm 2008, nhưng đã không được thành luật.


Chúng ta có nguyên bản tiếng Anh của thông báo này dưới đây, cũng như một bài báo nói về việc Người Da Đỏ Mỹ tiếp tục làm việc để lobby với chính phủ về việc chính phủ xin lỗi chính thức.

Đó là chuyện đang xảy ra trên thế giới.

Còn chúng ta, chúng ta đã có bao giờ thấy ta đã làm cho bao nhiêu dân tộc thiểu số anh em đau khổ trong quá khứ?

Và chính sách của chúng ta đối với các dân tộc anh em thiểu số hiện nay có nâng đở, ủng hộ, đưa lên, hay chỉ là kéo dài bất công và đau khổ?

Ngày nào chúng ta, như là một dân tộc, thấy là chúng ta cần phải xin lỗi chính thức? Chính phủ chúng ta phải xin lỗi chính thức?

Trong thời gian chờ đợi một câu xin lỗi chính thức, chúng ta có thể làm được gì NGAY BÂY GIỜ để chấm dứt các áp bức vô tình hay cố ý, và để nâng cao tiếng nói, vị thế và quyền lợi của các dân tộc anh em thiểu số trong nước ta?

Hãy thành thật nhìn lại lòng mình và chính sách của mình trước con tim của chính mình và Chúa hay Phật của mình.

Chúc các bạn một ngày thành thật.

Mến,

Hoành

.

For Immediate Release
10/07/09
Email This
Print This
BROWNBACK, DORGAN APPLAUD SENATE PASSAGE OF NATIVE AMERICAN APOLOGY RESOLUTION
WSAHINGTON, DC – U.S. Senators Sam Brownback (R-KS) and Byron Dorgan (D-ND) today applauded Senate passage of the Native American Apology Resolution, which offers an apology from the United States government to American Indians.    “The Senate’s action today is a big step for the relationship between the federal government and Native Americans,” said Brownback.  “The resolution seeks reconciliation and offers an official apology to Native Americans for the hurtful choices the federal government made in the past.  With this resolution we acknowledge previous failures and express sincere regrets.” Dorgan, Chairman of the Senate Committee on Indian Affairs, joined Brownback as co-sponsor of the amendment.  Dorgan said, “It is difficult to know the history of the First Americans and the destructive policies our government has too often followed regarding them, and not be filled with both sadness and regret.  It is appropriate that we, as a nation, express that sorrow and regret with this apology resolution.” The Native American Apology Resolution passed as an amendment to the Defense Appropriations bill.  The resolution extends a formal apology from the United States to tribal governments and Native American people nationwide.  The resolution of apology does not authorize or serve as a settlement of any claim against the United States and does not resolve many challenges still facing Native Americans.  The Native American Apology Resolution has been introduced in previous Congresses, and passed the Senate in 2008, but was not signed into la

.

Local American Indians Call for Formal Apology Print E-mail
By Natalie Bedell
Tuesday, November 24 2009 17:24
While families across the U.S. gather around their household tables this Thanksgiving, local members of the American Indian Society of Washington, D.C. will be meeting up with their own family — each other, for a potluck dinner at the Burgundy Community Center in Alexandria.

powwow Members of the American Indian Society (AIS) of Washington, D.C. celebrate Mother’s Day with a pow wow. (Photo: Courtesy Kathleen Dorn)

But, according to Michael Nephew of Falls Church, their table talk will be less about a pilgrim story of the past and more about catching up with one another.

Nephew, who serves as the organization’s president, saw the American Indian Society (AIS) as an opportunity for American Indians to get together with their brothers and sisters in the community when he moved to the area from New York years ago. He is an enrolled member of the Eastern Band of Cherokee Indians, as well as being part of Seneca and Cayuga.

Nephew first heard the story of Thanksgiving when he was a young boy, but said he “ironically heard very little” about Native American Indian history during his high-school years.

He said the biggest misconception about how Thanksgiving is taught in public schools is the “fighting that occurred shortly afterwards between [the settlers] and Native Americans often goes unmentioned.”

The holiday story traditionally taught in classrooms is a happy one of pilgrims who were befriended by the Natives, taught to hunt and gather and showed their gratitude with a shared meal. However, Nephew recalled a slightly different version of the feel-good tale, one of bloodshed and greed.

“[The settlers] were biting the hand that fed them,” said Nephew, referring to various wars that took place soon following 1621, during which many Natives were killed by colonists.

One thing Nephew believes can heal the wounds of political and social distrust between modern-day American Indians and the U.S. government is a formal expression of remorse from the latter.

“I think there needs to be an apology,” said Nephew, citing the Canadian government’s apology to its indigenous tribes in 1998.

Nephew said he wouldn’t be able to show anyone the land where he played as a kid even if he wanted to.

“People don’t think [the government] is taking away Natives’ land today, but yes, it has happened. And it’s happened in our lifetime,” said Nephew.

And what about those who believe they shouldn’t have to apologize for something they didn’t personally do?

“Well, it might have been their parents, especially in this area, where so many parents are involved with the government at that time. It’s not as far back as some may think,” said Nephew.

AIS Treasurer Mary Sunbeam agreed, challenging President Obama to a second Thanksgiving — to which tribal chiefs are invited to the White House for a peace-offering meal.

“We have not been healed. No president has come forward. We’re not asking for money or retribution,” said Sunbeam, who added that “these kinds of forgiveness need to happen” and that American Indians are looking for it to come from “power sources who’ve been too lax.”

On Nov. 5, President Obama held the first annual White House Tribal Nations Conference at the Department of the Interior. Invited were leaders from each of the federally recognized tribes in the U.S., as Obama signed a memorandum directing “every Cabinet agency to give a detailed plan within 90 days of how … to improve tribal consultation.” A formal apology was not issued.

“At some point, [the U.S. government] needs to say, ‘This is what happened. It wasn’t a good thing for our country. It wasn’t a good thing for the tribal people,’ and to heal the pain where there’s no closure, just open wounds,” said Sunbeam, a member of the Cherokee Nation of the Appalachia tribe.

Aside from her AIS duties, Sunbeam serves as the president of Positive Education, Inc., designing and presenting courses on Native American Indian cultures to schools, businesses and religious organizations.

She said the only Native American education she’s heard of public-school students having are brief mentions during the second and sixth grade, but that “most teachers are not trained in college to teach Native American history.”

“Thank goodness they will call on people like me to teach these things. Even today’s immigrants coming to the U.S. will ask me if I am a real Indian because they’ve been told we’re all dead,” said Sunbeam.

She said the blame, however, doesn’t fall solely on government-run school systems, but equally in the laps of American Indians. Sunbeam added that, unlike the NAACP, the American Indian community has not had enough advocacy for more extensive education.

“We can’t say it’s the government’s fault. Where are we? We don’t have enough activism in our own culture,” said Sunbeam, who hopes to change that through her own curriculum. Her work has been acknowledged by the American Association of Community Colleges with a Northern Virginia Community College Model Program Award.

As far as an organization comparable to the NAACP, Nephew said the Association is racially categorized, whereas “the tribal government is a political entity.”

“Part of the reason why there isn’t something like [the NAACP] for American Indians is people from each tribe have to make sure their particular tribe survives as opposed to recognizing all Natives and trying to lend support to other tribes,” said Nephew.

Still, Sunbeam believes U.S. politics play a critical role in Native American history teachings, or lack thereof, in today’s schools.

“The bottom line is education is political,” said Sunbeam, who suggested the U.S. government incorporate Native American history into the U.S. citizenry test.

michaelnephew Michael Nephew, President, American Indian Society of Washington, D.C. (Photo: News-Press)

As far as Thanksgiving, Sunbeam and Nephew agreed that the holiday’s theme is a bit novel, given that expressing thanks is a culturally embedded part of their everyday lives and not just a one-day event.“What came to be known as the first Thanksgiving was the idea of sharing food for people in need. It wasn’t a kindness thing; it was something you just do. It wasn’t religious, though it became so later on,” said Sunbeam, who added that “giving thanks to God, the great source, for weather to produce a harvest was always part of her culture” growing up.

She recalled being taunted by her peers in grade school for once bringing a dandelion sandwich to school.

“Nowadays, people go to GNC and buy dandelion root, the weed in their yard they find a nuisance. But when I was a kid, I was taught it was nature’s product for organs after the winter time and your body gets sluggish,” said Sunbeam, who garnered more than a few chuckles as a little girl with green stuff in her teeth. Taking the high road even then, she said she looked at it as “their ignorance, and I tried to educate them.”

Nephew recalled being looked to in high school from his peers as a historical fact checker. Still offering up the facts today, he works alongside other AIS leaders, to speak at government agencies and private schools about his culture’s historical footprint.

As far as Sunbeam’s message to open ears she encounters, she said, “Save money on the self-help books. We all have a belly button. We’re all one human race. I’m working on getting that message across.”

There are 564 federally recognized tribes in the U.S. To this day, neither Virginia, Maryland nor Washington, D.C. have federally recognized tribes, leaving people within those tribes ineligible for federal funds ranging from health care to housing assistance.

Both Rep. Jim Moran and Sen. Jim Webb sponsored legislation this year granting federal recognition to six Virginia Indian tribes, which was OK’d by the House in June.

As of Oct. 22, the Indian Tribes of Virginia Federal Recognition Act of 2009 passed in the Senate Committee on Indian Affairs.

Còn thời cưỡi ngựa bắn cung…

    Có hai loại người, những người làm việc và những người giành được lời khen ngợi. Hãy cố tham gia vào nhóm đầu tiên, ở đó ít cạnh tranh hơn.

    (Indira Gandhi)


Có một lần, cô cháu gái 12 tuổi ưa vẽ vời của tôi thổ lộ rằng lớn lên cô muốn làm thợ may. Khi ấy, tôi đùa “Phải trở thành nhà thiết kế thời trang nổi tiếng chứ. Làm thợ may chán chết!” Nhưng cô bé cương quyết: “Con không muốn nhà thiết kế nổi tiếng. Con muốn là thợ may”. Chị họ tôi ngán ngẩm lắc đầu “Giờ thì nói gì cũng được, chứ mai mốt lớn mà đòi làm thợ may là không được đâu nghe con”.

Nhưng tôi, nhìn đôi mắt trong veo kiên định của cháu và giật mình. Cơ sở nào để người ta xếp loại nghề nghiệp này là tầm thường, còn nghề nghiệp kia là vinh quang? Vì số tiền kiếm được? Vì trình độ học thức mà nó đòi hỏi phải có? Hay vì danh tiếng?

Khi còn trẻ, chúng ta thường gắn ước mơ của mình với hai chữ “nổi tiếng”. Có lẽ Byron nói đúng “Danh tiếng là cơn khát của tuổi trẻ”. Muôn đời. Nhưng, có khi nào cơn khát đó dẫn chúng ta đi lạc đường hay không? Tôi ra về và nghĩ đến ước mơ thợ may của cháu tôi.

Mơ ước làm thợ may không ngăn cản ta học hỏi để may những bộ áo chuẩn mực như các hãng thời trang hạng nhất. Nếu bạn muốn hai thứ: thợ may và danh tiếng, bạn có thể trở thành một thợ may xuất sắc, rồi danh tiếng sẽ đến sau đó.

Nhưng ước mơ của cháu tôi chỉ là thợ may thôi. Mơ ước làm thợ may, không có nghĩa chính xác là chỉ mở một tiệm may nhỏ xíu kề bên khu chợ nhỏ xíu ở một trị trấn nhỏ xíu nào đó. Nhưng nếu đó là tất cả những gì cô bé muốn, cắt và may những bộ áo đẹp cho người khác, thì có gì sai? Nếu đó là những gì bạn muốn, chứ không phải là những gì chán ngắt mà bạn bắt buộc phải làm.

Tôi có một người bạn, từng là một học sinh giỏi, tốt nghiệp đại học loại xuất sắc, rồi học thạc sĩ ở nước ngoài, và bây giờ, anh trở về mảnh đất của cha mình ở một vùng quê hẻo lánh để trồng những cây ăn trái, suốt ngày xắn quần xới gốc và tưới cây. Có người nói với tôi rằng như vậy thật là phung phí bao nhiêu năm ăn học. Nhưng bạn tôi, chính bạn, biết rằng những năm tháng ấy không hề phung phí, và trở lại làm một người nông dân không hề là một bước lùi. Những trái cây anh trồng là loại quả sạch tốt cho sức khỏe và có chất lượng hảo hạng.

Mỗi người đều phải leo lên những bậc thang đời mình. Có người mơ ước xa: đến đỉnh cao nhất. Có người mơ ước gần: một hai bậc, rồi sau đó, một hai bậc tiếp theo. Có người cứ lặng lẽ tiến bước theo mục tiêu của mình, gạt bỏ mọi thị phi. Có người đi chu du một vòng thiên hạ, nếm đủ đắng cay rồi mới chịu trở về với ước mơ ban đầu. Nhưng cũng có người lỡ bay quá xa và không thể điều khiển đời mình được nữa, chỉ còn buông xuôi và tiếc nuối. Tôi nhận ra rằng, thực ra, mục tiêu của ước mơ chẳng đưa ta đến đâu cả, chỉ có cách thức mà bạn thực hiện ước mơ mới đưa bạn đến nơi bạn muốn.

Có lẽ chúng ta cần một cái nhìn khác. Rằng chẳng có ước mơ nào là tầm thường cả. Và chúng ta học không phải để thoát khỏi nghề rẻ rúng này, để được làm nghề danh giá kia. Mà học là để mình có thể làm điều mình yêu thích một cách tốt nhất và từ đó kiếm về cho mình thu nhập cao nhất có thể, một cách xứng đáng và tự hào.

Mỗi một con người đều có vai trò của mình trong cuộc đời này và đều đáng được ghi công. Đó là lý do để chúng ta không vì thèm khát vị thế cao sang này mà rẻ rúng công việc bình thường khác. Cha mẹ chúng ta, phần đông, làm những công việc rất bình thường. Và đó là một thực tế mà chúng ta cần nhìn thấy. Để trân trọng. Không phải để mặc cảm. Để bình thản tiến bước. Không phải để tự ti. Nếu tất cả đều là doanh nhân thành đạt thì ai sẽ quét rác trên những đường phố? Nếu tất cả là bác sĩ nổi tiếng thế giới thì ai sẽ là người dọn vệ sinh bệnh viện? Nếu tất cả đều là nhà khoa học đoạt giải Nobel thì ai sẽ là người tưới nước những luống rau muống? Nếu tất cả là kỹ sư phần mềm thì ai sẽ gắn những con chip vào máy tính.

Phần đông chúng ta cũng sẽ là những người bình thường. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta vượt lên từng ngày. Bởi luôn luôn có một đỉnh cao cho mỗi nghề bình thường.

Nghề báo khiến tôi gặp gỡ nhiều người nổi tiếng và tôi nhận ra rằng danh tiếng giống như tháp Bayon, người ta phải đi một vòng mới nhìn thấy hết các mặt của nó. Danh tiếng, với một số người, là mục tiêu duy nhất của cuộc đời. Nhưng với vài người khác, sự nổi tiếng giống như một tai nạn, xảy ra ngoài ý muốn và chẳng mang đến điều gì tốt đẹp. Đôi khi người ta xem danh tiếng là phần thưởng đáng giá cho công việc. Nhưng cũng có người nói rằng danh tiếng chỉ là món hàng khuyến mãi không mấy hữu dụng khi họ được làm điều họ yêu thích. Và bởi thế, khi rũ bỏ danh tiếng, hào quang, quyền lực để trở về với cuộc sống “tầm thường”, họ chẳng tiếc nuối chi.

Nhà văn Sơn Nam có lần đọc cho tôi hai câu thơ mà ông tình cờ sưu tầm được khi lang thang bên những phận người nhỏ bé:

“Còn thời cưỡi ngựa bắn cung.

Hết thời cúi xuống lượm(dây) thun… bắn ruồi.”

Oprah Winfrey có nói “Nếu bạn đạt đến danh vọng mà vẫn chưa hiểu được mình là ai, thì chính danh vọng sẽ xác định bạn là ai”. Như vậy, danh vọng là thứ chỉ nên có khi ta hiểu được mình và điều khiển được nó. Điều khiển được nó nghĩa là cầm lên được, đặt xuống cũng được. Bởi danh tiếng có lừng lẫy ra sao, địa vị có cao sang đến thế nào, thì cũng sẽ có lúc ta phải rời yên xuống ngựa. Ai trong chúng ta đủ ngốc nghếch để tin rằng mình có thể giương cung được mãi?

Hosokawa Morihiro từng là Thủ tướng Nhật Bản mới cách đây vài nhiệm kỳ, nhưng đến năm 60 tuổi, ông rời chính trường và về sống ở một thung lũng thuộc tỉnh Kanagawa. Tại đó, ông trồng rau và học làm gốm. Hosokawa nói một trong những điều ông thích ở nghề gốm là nó khiến ta chỉ tập trung vào cái ta đang thực hiện và “một khi tôi đã quyết chuyện gì là tôi theo đuổi cho tới cùng”. Ông học làm gốm từ cơ bản và chỉ làm những tách trà nhỏ theo kiểu xưa, nhưng ông làm rất chuyên tâm, và cuối cùng đã tổ chức triển lãm những tác phẩm gốm của mình như một nghệ sĩ thực thụ.

Nghệ nhân gốm Morihiro đã khiến tôi nhận ra rằng xã hội này sẽ tốt đẹp hơn không phải bởi tất cả đều trở nên danh tiếng và giàu có, mà bởi mỗi người chúng ta (dù nổi tiếng hay vô danh) làm công việc của mình một cách chuyên tâm và tự hào. Hosokawa đã là một chính trị gia tận tâm khi ở trên đỉnh cao danh vọng, và khi chỉ là một thợ gốm học việc, ông cũng vẫn tận tâm như vậy.

Rốt cuộc thì đó mới chính là điều đáng để chúng ta theo đuổi: được chuyên tâm với công việc mà mình yêu thích. Đó là bí quyết của thành công. Và đó cũng là bí quyết của hạnh phúc. Phải vậy không?

Đông Vy và Phạm Công Luận

Kinh Lạy Cha – The Lord’s Prayer

Chào các bạn,

Chúng ta đã nói khá nhiều về thiền và thiền thi, một suối nguồn tư duy tích cực trong văn hóa Việt Nam. Hôm nay chúng ta nói đến Kinh Lạy Cha của Kitô giáo, gốc rễ của tư duy tích cực của người Kitô giáo trên khắp thế giới, kể cả Việt Nam.

Ở đây chúng ta chỉ phân tích Kinh Lạy Cha như một hiện tượng văn hóa, và giải thích ảnh hưởng của Kinh Lạy cha trên tư duy tích cực của chúng ta, và hạn chế các phân tích có tính cách thuần tôn giáo.

Kinh Lạy Cha, tiếng Anh goi là The Lord’s Prayer, Lời Cầu Nguyện Của Chúa. “Chúa” đây là Chúa Giêsu, tác giả của lời cầu nguyện này. Trong thánh kinh, khi mọi người hỏi Chúa Giêsu cách cầu nguyện, Chúa Giêsu cho họ Kinh Lạy Cha. Câu chuyện này được ghi lại tại Matthew 6: 9-13, được coi như một phần của Bài giảng trên núi, và tại Luke 11:2-4.

Kinh Lạy Cha là lời cầu nguyện phổ thông nhất và thịnh hành nhất trong Kitô giáo (gồm Công giáo, Chính thống giáo và các hệ phái Tin lành), đồng thời cũng là lời kinh phổ thông nhất trong mọi tôn giáo trên thế giới.

Bản tiếng Việt

Lạy cha chúng con ở trên trời,
Chúng con nguyện danh cha cả sáng,
nước cha trị đến,
ý cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

Xin cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày,
và tha nợ chúng con
như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ
Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.


Amen

Bản tiếng Anh

Our Father, who art in heaven,
Hallowed be thy Name.
Thy kingdom come.
Thy will be done,
On earth as it is in heaven.
Give us this day our daily bread.
And forgive us our trespasses,
As we forgive those who trespass against us.
And lead us not into temptation,
But deliver us from evil.
[For thine is the kingdom,
and the power, and the glory,
for ever and ever.]
Amen.

Bản tiếng La Tinh

Pater noster, qui es in caelis
Sanctificetur nomen tuum;
Adveniat regnum tuum.
Fiat voluntas tua
Sicut in caelo et in terra
Panem nostrum quotidianum da nobis hodie.
Et dimitte nobis debita nostra,
Sicut et nos dimittimus debitoribus nostris.
Et ne nos inducas in tentationem;
Sed libera nos a malo.
[Quoniam tibi est regnum et potestas et gloria in saecula.]
Amen.

Đọc bài kinh ta thấy nội dung chia làm hai đoạn rất rõ ràng. Đoạn đầu là ca tụng Chúa. Đoạn sau mới cầu nguyện cho chính mình.

I. Khiêm tốn

Đoạn đầu của Kinh Lạy Cha là để ca tụng Chúa. Nhưng nếu ta chỉ có IQ cở dưới trung binh thôi, ta cũng có thể biết được chẳng có Thượng đế nào cần mấy tiếng tung hô của con người cả. Đã là Thượng đế thì không cần được khen hay tung hô.

Vậy thì các việc ca tụng Thượng đế là để cho chính chúng ta, những tín hữu, để chúng ta biết kính sợ Thượng đế để mà khiêm tốn.

Đoạn đầu của Kinh có thể viết ra dễ hiểu hơn một tí như sau:

“Lạy Cha của chúng con ở trên trời, chúng con cầu xin cho tên của cha được chiếu sáng, nước của Cha trị sẽ đến với tất cả mọi người, ý muốn‎ của Cha được thực hiện dưới đất cũng như trên trời.”

Khi ta tự nhắc lại về quyền năng và vương quốc của Thượng đế, và uy quyền của “ý muốn” của Thượng đế, ta tự động dẹp bỏ cái tôi của mình–tôi, quyền năng của tôi, vương quốc của tôi, ý của tôi… không quan trọng.

Đây gọi là submission—“khuất phục” trước Thượng đế, hay “giao phó” cuộc đời của mình cho Thượng đế. Cái tôi của mình không còn nữa. Nó đã hoàn toàn thuộc về Thượng đế. Gần như là “vô ngã” trong Phật gia.

Submission hay total submission (giao phó hoàn toàn vào tay chúa) là một ý niệm cực kỳ căn bản và quan trọng hàng đầu của các tôn giáo thuộc dòng Maisen (Moses)–Do Thái giáo, Kitô giáo (Công giáo, Chính thông giáo, Tin lành), và Hồi giáo. (Những tôn giáo này cũng có thể được gọi chung là Thiên chúa giáo–tôn giáo lấy Thiên chúa (God/Allah) làm chủ).

Khiêm tốn!

(Chú thích: Về “nước Cha trị đến”, nhiều người tưởng rằng đó là biến cả thế giới thành Kitô giáo. Thực ra luật vàng của Chúa Giêsu chỉ có hai điều: Kính mến Thượng đế và Yêu người. Và Thượng đế có nhiều tên khác nhau: Ông trời, Thượng đế, Ngọc hoàng, Chúa, Allah, God, Yahweh… Làm được hai điều này là đã thuộc về “nước” của Thượng đế, ngay trong tâm ta).

II. Lo cho mình

Phần sau của Kinh Lạy Cha là các câu cầu xin cho chính mình:

“Xin cha cho chúng con hằng ngày dùng đủ.” Tức là chỉ xin đủ ăn, đủ mặc, đủ chi dụng cho những nhu cầu tất yếu. Không xin giàu sang phú quý, tiền rừng bạc biển.

Thế thì ý niệm tài sản, của cải, là gì trong Thiên chúa giáo? Thưa, tài sản là do Thượng đế giao cho ta quản lý, để ta gầy dựng sinh lời cho Thượng đế. (Xem dụ ngôn về các đồng bạc, Matthew 25:14-30. Tuy nhiên, dụ ngôn này nói về nhiều thứ sâu thẳm hơn chỉ là tiền bạc).

Và dĩ nhiên là tài sản của Thượng đế thì phải được quản lý để phục vụ “Chúa trong mọi người”, tức là phục vụ mọi người quanh ta, mà chúng ta vừa đề cập khi nói đến Kinh Hòa Bình của Thánh Francis.

two-women-hugging-forgiveness

“Xin cha tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con.” Mỗi người chúng ta làm rất nhiều lầm lỗi trong đời, và nhiều người khác cũng đã lầm lỗi thiệt hại ta. Ta phải tha thứ cho người khác, trước khi cầu xin và được Thượng đế tha thứ cho ta.

Xưng tội , giải tội, sẽ không giải quyết gì cho ta cả, nếu ta chỉ làm công thức mà không làm trong lòng, là tha thứ lỗi lầm của người khác. Nếu ta cầm buộc người khác, Thượng đế cầm buộc ta.

“Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.” Chỉ cần sống không làm bậy là đủ. Không cần phải là anh hùng, vĩ nhân, thánh… Không cần phải đến mức hy sinh tánh mạng cho Chúa, hay bán hết nhà cửa để giúp người nghèo, hay tử vì đạo… Chỉ cần đừng sa vào cám dỗ là đủ–đừng si mê, sân hận, ghen ghét, đố kỵ, dối trá, trộm cướp, tà dâm, tham nhũng, bóc lột…

Và nếu lỡ bị lầm lạc vào đường xấu, vào sự dữ, thì xin Chúa cứu ta ra.

Từ “cám dỗ” ở đây ám chỉ là không ai trong chúng ta muốn và thiết lập kế hoạch để làm bậy cả. Chẳng qua là “sa chước cám dỗ” nên làm bậy thôi. Bản tính của mỗi người chúng ta là thanh khiết.

Amen là “mong được như vậy.”

Kinh Lạy Cha chỉ giản dị vậy thôi: Khiêm tốn trước mặt Thượng đế, đủ ăn đủ mặc, tha thứ, và đừng làm bậy.

Quy luật sống không bao giờ phức tạp. Cực kỳ giản dị. Chúng ta không chịu theo các quy luật sống đã tồn tại mấy ngàn năm và vẫn còn được nhắc đến bởi vài tỉ người trên thế giới ngày nay, nhiều lần trong một ngày. Và chúng ta thường đọc Kinh Lạy Cha mà không thực sự thực hành. Rồi ta lại than van sao cuộc sống quá khó khăn và phức tạp.

Chúc các bạn một ngày vui.

Sau đây mời các bạn nghe Barbara Streisand hát the Lord’s Prayer, và ca đoàn giáo xứ Sao Mai, Vũng Tàu, hát Kinh Lạy Cha.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

.

Barbra Streisand – The Lord’s Prayer

.

Kinh Lạy Cha – Ca đoàn giáo xứ Sao Mai, Vũng Tàu

Kiên cường


Tôi dang rộng đôi cánh,

Vì tôi muốn mình biết bay.

Nhưng tôi đã thất bại, và bị ngã rất đau xuống đất.

Toàn thân tôi là những vết thương.

Các vì sao nói tôi cần phải học cách kiên cường,

Thành công đang chờ tôi ở phía trước…

.

Tôi học được cách kiên cường,

Tiếp tục dang rộng đôi cánh,

Nhưng tôi vẫn thất bại.

Toàn thân tôi lại trầy xước, và trong lòng tôi tràn đầy sự thất vọng.

Các linh hồn cất tiếng hát nhẹ nhàng bên tai tôi,

Họ muốn tôi học cách kiên cường.

Và họ nói ánh sáng sẽ xua đi bóng tối.

.

Tôi lại đứng dậy một lần nữa, dù trên mình tôi là những vết thương rất đau,

Tôi dang rộng đôi cánh,

Dồn hết sức vào nó và bay lên không trung.

Tôi nhắm mắt lại và nghe thấy tiếng hát của đàn chim,

Và tôi biết mình đã thành công.

Tôi mơ màng và quên đi những vết thương,

Mỉm cười vì sung sướng.

.

Nắng chiếu lên thân tôi,

Làm tim tôi được sưởi ấm.

Ánh trăng rọi vào thân tôi

Chữa lành mọi vết thương cho tôi

Các vì sao vẫy tay chào tôi

Và tôi nhìn thấy ánh hào quang hi vọng.

    Kiều Tố Uyên
    Dịch từ Trung văn.

Công phu tư duy tích cực và khó khăn thử thách

Chào các bạn,

Chúng ta thường nói đến tư duy tích cực như là thần dược để ta vui vẻ, tĩnh lặng, an lạc, thành công, v.v… Nhưng hãy hỏi một câu hỏi mà chúng ta gặp thường nhất, dù là ta có ý thức được nó hay không: “Tư duy tích cực có làm cho cuộc sống của ta dễ dàng hơn? Ít thử thách hơn?”

Trong đầu đề của bài này, mình cố tình dùng từ “công phu”, là từ rất thường nghe trong võ học, dù rằng công phu chỉ có nghĩa là “bỏ công ra luyện tập nhiều.” Nhưng mình dùng từ công phu để lấy ví dụ của một võ sư làm minh họa.

Nếu bạn là võ sư bạn sẽ khỏe mạnh, tự tin và có thể yêu đời. Nhờ đó có thể dễ thành công trong nhiều việc. Nhưng đó không có nghĩa là đời bạn ít thử thách và ít khó khăn hơn người khác.

Võ sư thì cũng có thể bị bồ chê, đi theo chàng khác. Cũng có thể bị thất nghiệp, không có tiền trả tiền nhà. Ra đường vẫn có thể gặp cướp (dù là biết ứng phó hơn). Đi làm vẫn có thể bị đồng nghiệp ghen ghét, boss đì. Lỡ mắng ông nhà báo một câu cũng có thể bị báo dũa công cộng…

Như vậy nghĩa là, nếu ta có công phu tư duy tích cực cao, ta vẫn gặp mọi vấn đề mọi người đang gặp hàng ngày. Vấn đề, rắc rối, khó khăn…là một phần tự nhiên của đời sống. Muốn sống thì phải ăn, phải mặc, phải ngủ… Chỉ lo ăn lo mặc lo ngủ thôi là đương nhiên phải làm việc trong guồng máy kinh tế với triệu người khác. Mà đã có người khác là có khó khăn, đụng chạm, giằng co, nợ nần… cộng thêm với các vấn đề bệnh tật tai nạn tự nhiên.

Người có công phu tư duy tích cực cao thì có khả năng ứng phó với các khó khăn trong đời một cách dễ dàng hơn các người khác. Nhưng số lượng khó khăn thì cũng như mọi người khác thôi.

Hơn nữa, mình có tin buồn cho các bạn. Các võ sư thường bị ăn đòn hàng chục lần, nếu không là hàng trăm lần, hơn người không có võ. Người không có võ, ra đường thấy ai bị cướp thì khép nép đứng nhìn hay tảng lờ bỏ đi. Võ sư thấy ai bị nguy thì nhào vào giải cứu. Các băng nhóm cướp bóc giang hồ rất thiện chiến trên đường phố. Đụng vào họ là luôn luôn có thể nguy hiểm đến tánh mạng của mình. Cho nên võ sư bị ăn đòn, thương tật, hoặc tử vong là chuyện thường.

Tương tự như thế, người có tư duy tích cực mạnh mẽ sẽ tích cực nhúng tay vào việc làm đời sống tốt hơn, con người bớt khổ hơn. Mà đã rớ đến chuyện người khác là mang khó khăn vào mình–hoặc là con tim mình nhức nhối về nỗi đau của người khác, hoặc là mình bị những nhóm người xấu cho ăn đòn, hoặc cả hai.

Như vậy là các bạn có câu trả lời rồi đó. Công phu tư duy tích cực cho ta khả năng giải quyết vấn đề cao cho mọi tình huống, nhưng cũng mang lại cho ta nhiều khó khăn hơn người trung bình. Đời là thế. Người càng giỏi càng có nhiều vấn đề khó khăn để giải quyết.

No vacation 🙂

Chúc các bạn một ngày vui.

Ồ, nếu bạn nghĩ, “Tôi sẽ tư duy tích cực nhưng sẽ không xía vào chuyện của ai ngoài đường để khỏi rắc rối vào thân,” thì cũng được. Nhưng bạn sẽ không bao giờ tư duy tích cực, vì đó là gốc tiêu cực mà. 🙂

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Đôi Mắt Người Cha


Bob Richard, người từng là quán quân môn nhảy sào,chia sẻ một câu chuyện vô cùng xúc động về một cậu bé gầy gò hết lòng yêu bóng đá.Luyện tập miệt mài,cậu ta hào hứng để khẳng định mình.Nhưng vì nhỏ chỉ bằng một nửa so với những đứa trẻ khác,cậu chẳng đạt được gì. Tại mọi trận đấu,cậu bé tràn đầy hy vọng chỉ làm dự bị và hầu như không bao giờ chơi.Cậu thiếu niên này sống một mình với cha,và cả hai đều có mối quan hệ rất đặc biệt.

Mặc dù con trai luôn ngồi ghế dự bị,cha cậu luôn ở trên khán đài cổ vũ.Ông không bao giờ bỏ lỡ một trận đấu.Khi bước vào trung học chàng thanh niên này vẫn là người nhỏ nhất trong lớp.Nhưng cha cậu tiếp tục khuyến khích và nói rõ rằng cậu không phải chơi bóng đá nếu không muốn.Nhưng chàng thanh niên nhỏ yêu bóng đá và quyết định đến đó.Cậu quyết tâm cố gắng hết mình mỗi khi luyện tập,và có lẽ sẽ được chơi khi lớn hơn.
Trong những năm trung học cậu ta không bao giờ nhỡ một buổi tập luyện hay trận đấu nhưng vẫn lại là người ngồi ghế dự bị cả bốn năm.Người cha tận tụy luôn trên khán đài, luôn cùng với những lời động viên dành cho cậu.

Khi chàng trai học cao đẳng,cậu quyết định thi tuyển vào đội bóng đá với vị trí dự bị.Ai cũng chắc rằng cậu ta sẽ không vượt qua,nhưng cậu đã làm được.Huấn luyện viên đành nhận cậu và ông giữ cậu trong danh sách thành viên vì cậu luôn dốc toàn lực mỗi giờ luyện tập,và cũng trong giờ đó,truyền cảm hứng cho những thành viên khác và thúc giục họ khi thật cần thiết.

Việc vượt qua kì sát hạch làm cậu ta phấn khởi vô cùng đến nỗi cậu phóng nhanh đến điện thoại gần nhất và gọi cho cha.Cha cậu chia sẻ niềm sung sướng và được gửi những tấm vé mùa giải cho tất cả những ván đấu cao đẳng.Vận động viên trẻ đầy kiên nhẫn này không khi nào nhỡ buổi luyện tập trong suốt bốn năm cao đẳng,nhưng cậu chưa bao giờ được chơi trong một trận bóng.

Đó là lúc kết thúc mùa giải bóng đá năm học cuối cấp,khi cậu được ra mắt trong buổi tập luyện giao hữu chẳng bao lâu trước trận đấu lớn quan trọng, huấn luyện viên gặp cậu cùng bức điện tín.Chàng thanh niên đọc bức điện và nín lặng.
Đau khổ, cậu ta lắp bắp với thầy : «Bố em mới mất sáng nay. Hôm nay em nghỉ tập được không thầy?» Thầy nhẹ nhàng đặt tay lên vai cậu bé và nói: «Hãy nghỉ cả tuần đi, con ạ. Và thậm chí đừng có ý định trở lại trận đấu hôm thứ 7 này nhé.»

Thứ 7 đến và trận đấu diễn ra không tốt lắm. Hiệp 3, khi đội ta đang thua 10 điểm, một thanh niên lặng lẽ lẻn vào phòng thay đồ và thay bộ đồng phục bóng đá. Cậu ấy chạy ra đường biên, huấn luyện viên và các cầu thủ bất ngờ khi thấy người đồng đội trung thành của họ quay lại. «Thầy ơi, làm ơn hãy cho em chơi. Em chỉ muốn được chơi bóng hôm nay thôi » cậu ta nói. Huấn luyện viên lờ đi vì không muốn một cầu thủ tồi nhất chơi trong vòng đấu loại trực tiếp.

Nhưng cậu ấy vẫn cứ khăng khăng. Cuối cùng, thấy tội nghiệp cho cậu quá, huấn luyện viên đồng ý : « Thôi được rồi, vào đi ». Ngay sau đó, huấn luyên viên, các cầu thủ và mọi người trên khán đài đều không thể tin vào mắt mình. Một cậu thanh niên nhỏ con vô danh, người mà chưa từng thi đấu bao giờ đang chơi hay tuyệt vời. Đội bạn không thể làm gì để cản cậu ấy. Cậu ấy chạy , chuyền , chặn và lấy bóng như một ngôi sao.
Cả đội ăn mừng. Tỉ số hòa. Vào vài giây cuối của trận đấu, cậu bé ấy ngăn một đường chuyền, chạy thẳng đến gôn và ghi điểm. Khán giả ồ lên. Cả đội nhấc bổng cậu thanh niên lên vai. Ai cũng reo hò sung sướng.

Khi mọi người đã rời khán đài, cả đội đã tắm rửa xong và ra về, huấn luyện viên thấy cậu thanh niên đang ngồi một mình. Ông ta lại gần cậu bé và nói : «Ta không thể tin được. Con thật tuyệt vời. Nói đi, con làm thế nào vậy ? »
Cậu nhìn huấn luyện viên, rơm rớm nước mắt : «Thầy biết bố con đã mất, nhưng thấy có biết bố con bị mù không ? » Cậu ấy nghẹn ngào và cười gượng : « Khi nào bố cũng đến những trận đấu mà con tham gia, nhưng hôm nay là lần đầu tiên bố có thể thấy con chơi, và con muốn cho bố thấy rằng con có thể chơi bóng đá »

Hồng Hải –Vĩnh Thanh dịch


FATHER’S EYES

Bob Richards, the former pole-vault champion, shares a moving story about a skinny young boy who loved football with all his heart. Practice after practice, he eagerly gave everything he had. But being half the size of the other boys, he got absolutely nowhere. At all the games, this hopeful athlete sat on the bench and hardly ever played. This teenager lived alone with his father, and the two of them had a very special relationship.
Even though the son was always on the bench, his father was always in the stands cheering. He never missed a game. This young man was still the smallest of the class when he entered high school. But his father continued to encourage him but also made it very clear that he did not have to play football if he didn’t want to. But the young man loved football and decided to hang in there. He was determined to try his best at every practice, and perhaps he’d get to play when he became a senior.

All through high school he never missed a practice nor a game but remained a bench-warmer all four years. His faithful father was always in the stands, always with words of encouragement for him.
When the young man went to college, he decided to try out for the football team as a “walk-on.” Everyone was sure he could never make the cut, but he did. The coach admitted that he kept him on the roster because he always puts his heart and soul to every practice, and at the same time, provided the other members with the spirit and hustle they badly needed.

The news that he had survived the cut thrilled him so much that he rushed to the nearest phone and called his father. His father shared his excitement and was sent season tickets for all the college games. This persistent young athlete never missed practice during his four years at college, but he never got to play in a game.
It was the end of his senior football season, and as he trotted onto the practice field shortly before the big playoff game, the coach met him with a telegram. The young man read the telegram and he became deathly silent.
Swallowing hard, he mumbled to the coach, “My father died this morning. Is it all right if I miss practice today?” The coach put his arm gently around his shoulder and said, “Take the rest of the week off, son. And don’t even plan to come back to the game on Saturday.”

Saturday arrived, and the game was not going well. In the third quarter, when the team was ten points behind, a silent young man quietly slipped into the empty locker room and put on his football gear. As he ran onto the sidelines, the coach and his players were astounded to see their faithful teammate back so soon. “Coach, please let me play. I’ve just got to play today,” said the young man. The coach pretended not to hear him. There was no way he wanted is worst player in this close playoff game.

But the young man persisted, and finally feeling sorry for the kid, the coach gave in. “All right,” he said. “You can go in.” Before long, the coach, the players and everyone in the stands could not believe their eyes. This little unknown, who had never played before was doing everything right. The opposing team could not stop him. He ran, he passed, blocked, and tackled like a star.

His team began to triumph. The score was soon tied. In the closing seconds of the game, this kid intercepted a pass and ran all the way for the winning touchdown. The fans broke loose. His teammates hoisted him onto their shoulders. Such cheering you never heard.
Finally, after the stands had emptied and the team had showered and left the locker room, the coach noticed that this young man was sitting quietly in the corner all alone. The coach came to him and said, “Kid, I can’t believe it. You were fantastic! Tell me what got into you? How did you do it?”
He looked at the coach, with tears in his eyes, and said, “Well, you knew my dad died, but did you know that my dad was blind?” The young man swallowed hard and forced a smile, “Dad came to all my games, but today was the first time he could see me play, and I wanted to show him I could do it!”

Unknown author

Rèn luyện trực giác

The primary force is intuition. In that deep force, the last fact behind which analysis cannot go, all things find their origin – Ralph Waldo Emerson

Sức mạnh cơ bản là trực giác. Trong sức mạnh sâu thẳm đó, sau con số cuối cùng phân tích không thể đi tiếp, tất cả mọi sự vật đều tìm thấy nguồn gốc của chúng.

Trực giác là bước đi tắt đến sự hiệu quả, sâu sắc, kiến thức, đổi mới, và ra quyết định. Làm thế nào để bạn củng cố trực giác của mình?

Bạn có khả năng giải quyết các vấn đề ngay lập tức.

Bạn đã bao giờ nhìn một vấn đề và biết ngay nguyên nhân gốc rễ của nó và giải pháp chưa – ngay lập tức – mà không cần phải tìm hiểu? Bạn được dạy để nghi ngờ tiếng gọi bên trong? Vì thế bạn kiểm tra trực giác với các thử nghiệm thực tiễn và thường đúng?

Bạn có khả năng giải quyết các vấn đề ngay lập tức nếu bạn tin vào bản thân mình. Tất cả chúng ta đều thế. Vậy làm thế nào để chúng ta tăng cường sức mạnh của đấng sáng tạo bên trong – tiếng gọi vượt qua những điều ngớ ngẩn và nói cho chúng ta biết sự thật?

Sáu cách để tăng cường trực giác:

1. Biết cảm thông tự nhiên: tưởng tượng bạn đang ở trong hoàn cảnh của ai đó. Tốt hơn nữa là hãy trải nghiệm những điều mà họ đang trải nghiệm. Nếu bạn làm nhân viên lễ tân, và ai đó từ nhà máy gọi cho bạn phàn nàn về tốc độ của máy tính, đừng ngồi với cái màn hình của bạn với những cái bảng biểu số liệu. Hãy đứng lên và đi xuống đó xem cái gì đang xảy ra. Hãy đi và cảm nhận nỗi đau! Hãy để cho toàn bộ con người bạn cảm nhận được và điều đó sẽ giúp bạn tăng cường trực giác của mình. Hành động, hành động, và hành động. Hãy cố gắng trải nghiệm những gì mà người khác trải nghiệm.

2. Cho phép bạn cảm nhận nỗi sợ của mình: bạn không thích nỗi sợ hãi đúng vậy không? Tôi cũng vậy. Nhưng phần lớn chúng ta phải sống chung với sợ hãi như là bạn bè chứ không phải kẻ thù của mình. Trừ khi bạn là siêu nhân và đã vượt qua sự sợ hãi, bạn sẽ phải tìm một cách để củng cố điều này. Nỗi sợ hãi ngăn chặn trực giác và thường tăng lên khi chúng ta chống lại nó. Hãy cho phép bản thân cảm nhận nỗi sợ. Đừng chống lại bất cứ phần nào của nó. Hãy tập trung vào nó và cưỡi lên nó. Bạn sẽ vượt qua phía bên kia và nhìn thấy mọi thứ rõ ràng hơn. Cho phép bạn cảm nhận nỗi sợ sẽ tăng cường trực giác của bạn, vì nó dạy bạn cách lắng nghe thế giới bên trong và chấp nhận nó như là nó vốn thế thay vì đấu tranh với nó.

3. Kết nối với người khác về mặt cảm xúc: Khi bạn giao thiệp với người khác, mặt đối mặt, trên điện thoại, trên mạng, hãy đọc cảm xúc của họ. Hãy gọi tên cảm xúc của họ. Liệu người đó có đang giận dỗi, hi vọng, vu vẻ, trầm cảm, hay buồn? Bạn càng kết nối với cảm xúc của người khác, bạn càng hiểu hoàn cảnh xã hội và trực giác của bạn hoạt động. Các ý tưởng trừu tượng và trực giác vì xuất phát từ bên trong bạn – nơi hình thành nên cảm xúc của bạn, nên bạn càng xác định được cảm xúc của người khác, bạn càng có khả năng giao tiếp thông qua trực giác. Xác định và gọi tên các cảm xúc trong bạn và người khác là một cách thực hành hiệu quả.

4. Vứt bỏ các đánh giá chủ quan: khi bạn thấy mình đang đánh giá người nào đó hay cái gì đó – cả chính bản thân bạn – mà không phải trực giác, đó là năng lượng tiêu cực ngăn cản trực giác của bạn. Khi bạn nghe những tiếng chỉ trích trong đầu như “Anh ta ngu ngốc”, “ Cô ta xấu”, “Tôi béo”, hay “Tôi sẽ thất bại”. Dừng lại và suy nghĩ – Tại sao tôi lại nói thế? Hãy vứt bỏ ngay những suy nghĩ tiêu cực đó. Khi tôi thấy mình nghĩ “Tôi sẽ không bao giờ làm cái này xong được”. Tôi sẽ tự chuyển suy nghĩ đó thành “Làm thế nào để tôi làm nó xong được?”. Nếu tôi kiên nhẫn, tôi sẽ lắng nghe tiếng nói bên trong mình, nó sẽ nói cho tôi biết làm thế nào để tôi làm được. Khi tiếng nói bên trong cất lên “Nó sẽ không thành đâu”, tôi sẽ hỏi mình “Cái phần nào trong ý tưởng này sẽ thực hiện được?” hay “Ý tưởng nào hay hơn đây?”. Một khi bạn hỏi những câu hỏi tích cực, tiềm thức của bạn sẽ đưa ra giải pháp thông qua trực giác.

5. Tĩnh lặng: cách tốt nhất là thiền. hãy có ít nhất 30 phút mỗi ngày để ở một mình với các suy nghĩ của bạn. Hãy dành thời gian để ngồi một mình với các suy nghĩ, cảm xúc và hình tượng hóa. Tôi đã dành phần lớn cuộc đời mình không quan tâm đến những thứ xung quanh tôi. Nhờ dành thời gian lắng nghe thế giới bên trong bạn, bạn sẽ thấy những điều kì diệu của chính mình. Học cách lắng nghe bản thân trong tĩnh lặng sẽ giúp bạn lắng nghe tiếng nói bên trong khi bạn không một mình và sẽ đưa bạn đến những ý tưởng trực giác khi bạn cần đến chúng.

6. Đặt câu hỏi: đây là cái tôi gọi là xây dựng con người (bodybuilding). Đặt câu hỏi là cách tốt nhất để tạo ra trực giác mạnh mẽ. Trực giác mạnh và sáng tạo nhất sẽ đến với bạn sau những câu hỏi và các câu trả lời. Hãy tham gia một nhóm bạn và thảo luận những vấn đề phức tạp – triết học, khoa học, xã hội, logic, y học, hay văn chương. Sức mạnh không đến từ câu trả lời, mà từ các câu hỏi, đưa bạn đến những con đường mà bạn chưa từng xem tới, đưa ra những câu hỏi xa hơn và nhiều câu trả lời hơn. Không có cách nào tốt hơn là thực tập trực giác bằng cách đặt các câu hỏi và trả lời chúng.

Một số người cho là trực giác không phải là khoa học và không có lý. Họ vừa đúng vừa sai. Các ý tưởng trực giác sáng tạo không phải là khoa học trừ khi bạn có thể chứng minh được. Tuy vậy, tất cả các khoa học bắt nguồn từ các giả thuyết. Và giả thuyết đến từ đâu? Những giả thuyết tốt, sáng tạo, độc đáo đến từ trực giác.

~ Steve Olson
Hoàng Khánh Hòa dịch

Lời nguyện buổi sáng

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu với các bạn một lời cầu nguyện buổi sáng của chị Marianne Williamson.
Chị Marianne khuyến khích mỗi người tự tạo ra lời nguyện riêng cho mình, và chị hướng dẫn một số nguyên lý chung sau đây:

– Mời thánh linh của Chúa vào mọi tình huống, có nghĩa là cầu xin cho mức độ cao nhất của suy tưởng, hướng dẫn, và sự hé mở xảy ra cho tất cả những điều quan tâm.
– Cầu xin Chúa nhấc đi khỏi các bạn tất cả những ý nghĩ không phải của Chúa.
– Cầu xin Chúa chỉ cho bạn tình yêu và sự vô tội trong tất cả mọi người.
– Cầu xin chỉ có những mục đích của Chúa được làm trong mọi tình huống.
– Trung thực. Khiêm tốn. Nghiêm túc.

Chúc các bạn một ngày an lành,

Hiển.

.


Lời nguyện buổi sáng

Chúa ơi,

Con trao ngày hôm nay cho Chúa.

Mong trí óc con đứng vững giữa những điều của tâm linh.

Mong con không bị cám dỗ để bị lạc khỏi tình yêu.

Khi con bắt đầu ngày hôm nay, con mở lòng ra để nhận Chúa.
Xin Chúa hãy bước vào nơi Chúa trị vì.

Mong trí óc và trái tim con trong trẻo và chân thật, và mong con không lệch hướng khỏi những điều tốt đẹp.

Mong con nhìn thấy tình yêu và sự vô tội trong tất cả loài người, đằng sau mặt nạ mà tất cả chúng con đều mang và đằng sau những ảo tưởng của thế giới này.

Con dâng lên Chúa những điều con làm ngày hôm nay.
Con chỉ cầu xin rằng những điều con làm phục vụ Chúa và sự chữa lành thế giới.

Con xin mang tình yêu và thiện hảo của Chúa theo con, để cho những người khác bất kỳ nơi nào con đến.

Hãy làm con thành con người như Chúa muốn.

Dẫn bước con, và chỉ con điều Chúa muốn con làm.

Hãy làm thế giới an toàn hơn và đẹp hơn.

Ban phước cho mọi sinh linh của Chúa.

Chữa lành cho tất cả chúng con, và dùng con, thưa Chúa, để con biết niềm vui sướng được Chúa sử dụng.

Amen.

    Nguyễn Minh Hiển dịch

.

Morning prayer

Dear God,
I give this day to You.
May my mind stay centered on the things of spirit.
May I not be tempted to stray from love.
As I begin this day, I open to receive You.
Please enter where You already abide.
May my mind and heart be pure and true, and may I not deviate from the things of goodness.
May I see the love and innocence in all mankind, behind the masks we all wear and the illusions of this worldly plane.
I surrender to You my doings this day.
I ask only that they serve You and the healing of the world.
May I bring Your love and goodness with me, to give unto others wherever I go.
Make me the person You would have me be.
Direct my footsteps, and show me what You would have me do.
Make the world a safer, more beautiful place.
Bless all Your creatures.
Heal us all, and use me, dear Lord, that I might know the joy of being used by You.

Amen.

~Marianne Williamson – ILLUMINATA

Bạn bình thường – bạn tốt

Khi những bàn tay đưa ra trong tình bằng hữu, những trái tim rộn rã sướng vui

Một người bạn là người hiểu quá khứ của bạn, tin ở tương lai của bạn, và chấp nhận bạn của hiện tại

When hands reach out in friendship, hearts are touched with joy.

A friend is someone who understands your past, believes in your future, and accepts you today

BẠN BÌNH THƯỜNG VÀ BẠN TỐT

Người bạn bình thường chỉ chào, tạm biệt rồi quay đi
Người bạn thực sự tốt luôn dừng lại hỏi bạn mọi việc thế nào.

Người bạn bình thường chưa bao giờ thấy bạn khóc.
Người bạn tốt sẽ luôn là đôi vai cho bạn tựa vào khi bạn buồn khổ và cần an ủi

Người bạn bình thường nghĩ rằng tình bạn đã kết thúc khi hai người cãi nhau.
Người bạn tốt nhận rõ bạn bè sau một trận đánh nhau

Người bạn bình thường khó chịu khi bạn gọi điện trễ
Người bạn tốt hỏi xem bạn mắc kẹt chuyện gì mà không thể gọi sớm hơn

Người bạn bình thường cư xử như một vị khách và đợi bạn phục vụ
Người bạn tốt luôn tự nhiên mở tủ lạnh và tự phục vụ mình

Người bạn bình thường ghen tị về tình sử lãng mạn của bạn
Người bạn tốt lo lắng về chuyện tình của bạn

Người bạn bình thường luôn mong muốn bạn sẽ đến giúp đỡ họ
Người bạn tốt luôn có mặt khi bạn cần giúp đỡ

Người bạn bình thường không có thời giờ trong thời gian biểu bận rộn
Người bạn tốt luôn có thời gian cho bạn trong thời gian biểu kín mít của mình

Người bạn bình thường gọi điện cho bạn khi nào có chút việc
Người bạn tốt gọi điện thoại chỉ để nghe giọng nói bạn

Người bạn bình thường không có gì để kể qua điện thoại
Người bạn tốt không biết làm sao có thể kết thúc.

JUST FRIEND VS BEST FRIEND

A Just Friend says..hi,..hello,..bye,…and walks away…
A Best friend always stop by your side & asks how r u doing ??

A Just Friend has never seen you cry.
A Best friend has shoulders soggy from your tears.

A Just Friend thinks the friendship is over, when you have an argument.
A Best friend knows that it’s not a friendship, until after you’ve had a fight.

A Just Friend hates it when you call, after he has gone to bed.
A Best friend asks you…. why you took so long to call.

A Just Friend, when visiting, acts like a guest.
A Best friend opens your refrigerator and helps himself.

A Just Friend jealous about your romantic history.
A Best friend wonders of your love story…..

A Just Friend expects you to be always there for any help.
A Best friend is always there, wherever you require any help.

A Just Friend doesn’t have time in his/her busy schedule,
A Best friend always have time for you in his/her busy schedules….

A Just Friend phones you whenever he/she has some work,
A Best friend calls you often just to hear your voice…..

A Just Friend doesn’t have anything to talk to you on phone,
A Best friend doesn’t know…what all to finish…

Unknown author

Huỳnh Huệ dịch

Bí Quyết Để Thăng Tiến

Bạn là một nhân viên có năng lực, cần cù, quyết đoán nhưng sau nhiều năm cống hiến sức lực và trí tuệ cho công ty, bạn vẫn chỉ là một nhân viên quèn. Phòng bạn vừa có người được thăng chức, anh ta không có khả năng làm việc được như bạn, cũng không cần cù chăm chỉ như bạn?

Nói chung là nếu xét theo góc độ khách quan thì bạn sẽ là người được thăng chức trước.
Vậy nên trong đầu bạn luôn thường trực câu hỏi “ Tại sao lại như thế?”

Đã bao giờ bạn bỏ công sức tìm hiểu và đã bao giờ bạn để ý đến cách cư xử của bạn, đến những hành động, thái độ của bạn trong suốt quá trình bạn làm việc, hợp tác cùng với cấp trên và những đồng sự trong phòng?

Hay bạn chỉ nghĩ đơn giản là nếu mình cố gắng, mình chịu khó, mình giỏi giang thì khả năng thăng tiến của mình là dễ dàng?

Mọi việc không hề đơn giản như bạn nghĩ bởi sự cần cù , năng lực của bạn không nhất thiết có quan hệ với nhau.

Trên thực tế, quan hệ giao tiếp và việc được thăng chức không thể tách rời.

Một quan điểm cố hữu của cấp trên là thường bênh vực, ưu đãi những người cấp dưới có thái độ tín phục mình. Dường như đối với những người có địa vị cao thì càng dễ mắc phải điều trên. Bởi không ai muốn đề bạt, cất nhắc một người cấp dưới không hòa hợp với mình làm trợ thủ cho mình. Tuy nhiên, đôi khi việc làm vừa lòng và có quan hệ tốt với cấp trên thường được cho là một dạng nịnh hót, vì thế sẽ kéo theo mối quan hệ không tốt với đồng nghiệp. Ngoài năng lực của mình nếu bạn có thể dung hòa tốt hai mối quan hệ đó, sự nghiệp của bạn sẽ thuận lợi hơn. Vậy mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp như thế nào đây?

*Mối quan hệ với cấp trên:

Quan hệ tốt với cấp trên, cho dù là việc công hay việc tư thì đều rất có lợi. Về việc công, do trong quan hệ chủ và khách giữa hai bên nên có và thể hiện tình hữu nghị ở một mức độ nhất định, sự hợp tác có sự ăn ý tương đối, sẽ làm giảm rất nhiều những hiểu lầm không đáng có, tăng hiệu quả công việc. Về việc riêng, cấp trên càng hiểu cấp dưới thì càng có cảm giác an toàn, giống như tất cả đều nằm trong sự quản lý của cấp trên, do đó họ có thể tự do điều động. Cấp dưới khi có việc riêng phải xin phép, cấp trên cũng thông cảm và dễ dàng đồng ý. Có được điều này là do cấp dưới hiểu rõ cấp trên và luôn làm cho cấp trên tin tưởng.

Có nên tranh giành hơn thua với cấp trên không? Theo thiển ý của mình là điều cấm kỵ, nếu mình khăng khăng phản đối ngay. Những va chạm do tính cách hơn là lợi ích chung của tập thể thì cấp dười nên nhẫn nhịn với tinh thần dĩ hoà vi quý. Cho dù người cấp dưới có đúng 100% thì cấp trên vẫn có những lý lẽ riêng của mình.

Thường thì quyền lực như một con dao hai lưỡi. Người biết sử dụng , tức một sếp giỏi, có kỹ năng giao tế và dùng người giỏi sẽ không để xảy ra những va chạm lớn về tính cách. Họ biết cách nói sao để thuyết phục nhân viên. Nếu tranh luận một cách nghiêm túc thì phần thắng mà cấp dưới giành được là 10%, trừ khi có những sự sắp xếp lâu dài và hợp tác với các đồng sự khác để làm rõ sự bất tài, hay sai trái của cấp trên. Bằng không nếu đối đầu trực tiếp thì người chịu thiệt thòi đa phần là cấp dưới. Là một người cấp dưới, hành động và lời nói của chúng ta rõ ràng phải cân nhắc. Nhưng có những trường hợp sai sót của cấp trên dẫn đến thiệt hại đáng kể lợi ích của công ty, của tập thể, ta cần dũng cảm để nói ra, để tìm cơ hội phân tích và giúp cấp trên nhận ra vấn đề

Tính thiên vị của con người có từ khi sinh ra, phần lớn mọi người đều để mặc nó tồn tại và phát triển trong tâm thức của mình. Trong mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, những người có quan hệ tốt với cấp trên, hay còn được gọi là những người tâm phúc, thường dễ dàng được cấp trên đánh giá, nhìn nhận một cách khá thiên vị so với những người cấp dưới khác. Những người cấp dưới dù có tài giỏi đến đâu đi chăng nữa, nếu thiếu đi sự quan tâm cá nhận tới người khác, thì vô tình đã mang lại một mối quan hệ xây dựng chỉ mang tính chất vì lợi ích bản thân. Ngược lại, nếu có thể tạo dựng tình hữu nghị tốt đẹp với cấp trên và trở thành người trợ thủ đắc lực, cộng sự tín nhiệm thì khi đó việc hợp tác tất nhiên sẽ dễ dàng hơn nhiều và những lợi ích mà mình đạt được cũng hết sức đáng kể. Bởi đơn giản, cấp trên cũng là con người, cũng thích nhận được sự quan tâm của cấp dưới không đơn thuần là ở việc chung. Cảm giác khi ở nhà được người thân quan tâm, ở công ty được sự yêu mến của nhân viên hay sếp làm cho tâm lý của cả hai bên có cảm giác an toàn nhất định. Và khi có cơ hội đề bạt, đương nhiên cấp trên sẽ chọn người cấp dưới tâm đầu ý hợp với mình trước khi tính đến khả năng thăng cấp cho người làm việc không hợp ý mình.

*Quan hệ với đồng nghiệp.

Trong công việc, bạn đôi khi không thể tránh được sự cạnh tranh, xích mích với đồng nghiệp. Nếu gặp phải những đồng nghiệp có thái độ không tốt, luôn ganh tỵ, ghen ghét bạn, trong lòng bạn cũng vì đó mà sinh ra cảm giác chán ghét thì bạn và đồng sự không bao giờ có được tình hữu nghị. Để hóa giải được tình huống này, bạn phải hết sức khéo léo và có một thái độ chân thành, tích cực. Không bao giờ có tư tưởng mình có khả năng, tài giỏi hơn người, coi đồng nghiệp là những người kém cỏi dù bạn có giỏi đến mấy. Nếu bạn muốn mọi việc được tiến hành thuận lợi, bạn nhất thiết phải học cách tôn trọng người khác như thế nào, phải loại bỏ những tư tưởng hẹp hòi, tạo dựng tình hữu nghị ngay cả với những người mà mình không hợp tính cách.

Bạn nên tự hỏi mình nguyên nhân mà bạn không thể hợp tác cùng đồng nghiệp ? Vấn đề do bản thân bạn chưa nỗ lực trong khi tao không khí vui vẻ hòa hợp hay là do phía người ta không chịu hợp tác cùng bạn? Bạn không thể xem nhẹ kỹ xảo sống hòa bình cùng người khác bởi nó chính là mấu chốt cho sự thành công trong sự nghiệp của bạn và an hoà ở môi trường làm việc.

Chân thành và mở lòng ra, ban sẽ được đồng nghiệp chấp nhận

Sự chân thành quyết định rất nhiều trong nỗ lực tạo dựng mối quan hệ với đồng nghiệp. Giúp đỡ họ khi họ gặp khó khăn trong công việc với một thái độ chân thành, thành tâm tha thứ cho họ khi họ làm điều gì có lỗi với bạn, quan tâm đến họ cả việc công và việc riêng. Mỗi ngày bạn có 1/3 thời gian ở bên họ. Bạn có thể có được niềm vui hay sự thỏa mãn trong công việc hay không, có yêu nghề và vui vẻ với nghề hay không thì bạn đồng nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng. Bạn không thể tập trung làm việc được khi tới văn phòng, đồng nghiệp không để ý tới bạn, họ không chủ động nói chuyện với bạn, không tâm sự chia sẻ với bạn về công việc.

Bạn nên gạt bỏ khỏi mình sự đố kỵ, thói ganh đua không tích cực, hòa đồng thân thiện với tất cả đồng nghiệp trong công ty, không nên nói xấu đồng nghiệp trước mặt cấp trên, không nên có thái độ phân biệt, kỳ thị với những người kém hơn mình…Lấy thành ý của bạn để thực hiện tất cả những điều đó, bạn sẽ dễ dàng thành công trong việc tạo dựng mối quan hệ đối với đồng nghiệp.

Quan hệ tốt với đồng nghiệp, bạn đã có 50% sự thành công.
Cấp trên thăng chức cho cấp dưới, ngoài việc xem xét năng lực làm việc và tính hợp tác của bản thân anh ta, còn phải xem xét quan hệ của anh ta với đồng nghiệp như thế nào. Nếu bạn có năng lực, sự cần cù, lòng đam mê công việc, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp đều tốt đẹp thì thành công của bạn là cái mà bạn đã nắm chắc trong tay.

Chúc bạn thành công trong việc thiết lập và phát triển các mối quan hệ ở nơi làm việc.


Nguyễn Thanh Mai

Leo_pretty

Thân như điện ảnh

Chào các bạn

Lý Thái Tổ

Hôm  nay chúng ta bàn đến một bài thiền thi của thiền sư Vạn Hạnh, dạy học trò, đã đăng trước đây trong PPS Thiền Thi (Lý Trần)Thiền sư Vạn Hạnh họ Nguyễn, sinh vào khoảng năm 932, người làng Cổ Pháp, phủ Thiên Đức (hiện nay là làng Đại Đình, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh).  Ngài xuất giá ở chùa Lục Tổ, là học trò của Thiền Ông.  Ngài thuộc thế hệ thứ 7 của dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi của chùa Pháp Vân.

Thiền Sư Vạn Hạnh đã từng giúp vua Lê Đại Hành trị quốc, nhưng khi thấy vua Lê Long Đĩnh không còn là minh quân, thiền sư Vạn Hạnh đã cùng với Đào Cam Mộc sắp xếp việc triều chính và đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua hiệu Lý Thái Tổ năm 1009.

Vào ngày rằm, tháng 5, năm Ất sửu, Thuận Thiên 16 (1025), ở chùa Lục Tổ, trước lúc qua đời, thiền sư đã gọi học trò đến dặn dò trong bài Thị đệ tử sau:

Thị đệ tử

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố úy
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

    Quốc sư Vạn Hạnh
    (Nguyễn Vạn Hạnh ?-1018)

Việt dịch:

Dạy học trò

Thân như điện chớp, có thành không
Cỏ cây xuân thắm, thu héo tong
Suy thịnh vào tay, lòng không sợ
Thịnh suy như sương bám cỏ đồng

    TĐH dịch

Thân như điện chớp có thành không

Thời xưa người ta gọi ánh chớp trên trời là điện.  Thân ta như điện chớp tức là có đó và biến mất ngay, có thành không.  Tức là  nói đến cái phù du tạm bợ của thân này.

“Có thành không” trong bản chữ Hán là “hữu hoàn vô”, tức là “có trở về không.”   Trở về, như vậy có nghĩa là, trước là không, sau mới thành có, sau đó lại trở về không.

Tức là, “không” đây chẳng có nghĩa là “không có” theo nghĩa triệt tiêu, zero.  “Không” đây là tên của bản tính nguyên thủy, bản tính đầu tiên, của tất cả mọi thứ trong vũ trụ.   Vì vậy, ta nên viết hoa cho dễ hiểu–Không

Người ta hay dùng hình ảnh “nước và sóng” để diễn tả “Không và có”.   Nước là bản tính nguyên thủy, sóng là hiện tượng bề mặt.  Nước thì luôn ở đó, nhưng mỗi con sóng thì chỉ hiện ra vài mươi giây là biến mất.  Sóng tan lại “trở về” nước.  Thân ta tan biến, lại trở về Không.

Như vậy khi chết đi, cái thân như ánh chớp này lại trở về bản tính nguyên thủy của mình là “Không”.  Chết chẳng phải là hết, mà là trở về bản tính nguyên thủy—Không.

Cỏ cây xuân thắm, thu héo tong

Có sinh thì có tử.  “Thành, Trụ, Hoại, Không” là bốn thời kỳ sống của vạn vật—sinh ra, đứng vững, hư hại, tan biến.   

Cây cỏ mùa xuân nẩy sinh mầm sống, hạ là thời sống mạnh, thu là vào giai đoạn héo úa,  đông là chết.

Con người có sinh thì có tử, cũng là lẽ tự nhiên.  Tử có nghĩa là thân này tan biến đi để trở về Không.

Vậy thì việc gì mà sợ chết?  Việc gì mà các đệ tử phải sợ, phải buồn việc thầy chết?

Suy thịnh vào tay, lòng không sợ. Thịnh suy như sương bám cỏ đồng. 

Khi xuống khi lên, khi thắng khi thua, khi thành khi bại, khi suy khi thịnh, cũng là lẽ tự nhiên.  Cả một đời người cũng chỉ là một ánh chớp, thì bao nhiêu suy thịnh lên xuống trong đời đó còn nhỏ và nhanh hơn cả một ánh chớp.  Mong manh phù du như giọt sương trên đầu cỏ, sẽ tan biến ngay dưới những ánh mặt trời đầu tiên.   Có gì mà phải quan trọng hóa chúng?  Có gì mà phải sợ?

Sống chết cũng chỉ là một tí lên xuống suy thịnh, như sóng lên sóng xuống, của vòng luân lưu “có hoàn Không, Không sinh có”, mà thôi.  Có gì mà phải sợ?


Chúng ta cần ghi chú thêm ở đây rằng, “không sợ” là một đức hạnh rất quan trọng trong đường tu Phật.  Người Giác Ngộ  có tâm tĩnh lặng, không sợ, không có bất kỳ nỗi sợ nào gây sóng gió trong tâm.

Trong 6 đường tu của Bồ tát (lục độ ba-la-mật), đường đầu tiên là bố thí—bố thí tiền (tài thí), bố thí Phật pháp (pháp thí), và bố thí tính không-sợ (vô úy thí).  Trong ba loại bố thí này, thì bố thí cao quí nhất là “vô úy thí”, tức là “bố thí tính không-sợ,” là  mang cho người ta sự can đảm và đức bình tĩnh.

Tóm lại, bài thơ này, nhắn nhủ đệ tử trước khi chết, rằng sống chết là lẽ tự nhiên.  Thân này cũng chỉ phù du như ánh chớp.   Đang có và sẽ trở về Không.  Cũng chỉ là  thịnh suy của sóng lên sóng xuống, sóng sinh và sóng tan, trên mặt biển.  Chẳng có gì phải lo sợ.

Binh thản đối diện cái chết.
Bình thản đối diện thịnh suy thắng bại ở đời.
Bình thản đối diện cuộc đời.

Không sợ.
Không sợ thắng bại,  thịnh suy, được mất, sống chết.

Tâm tĩnh lặng.

Chúc các bạn một ngày vui,

Mến,

Hoành

© copyright 2009
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com