Category Archives: trà đàm

Thực tập: Chìa khóa đưa bạn đến công việc đầu tiên

Chào các bạn

Bạn là sinh viên năm cuối? Đọc tin tức tuyển dụng trên báo chí và mạng internet, bạn thấy vô cùng bối rối vì những vị trí ở các công ty lớn đều là “ yêu cầu có kinh nghiệm làm việc”. Cánh cửa cho sinh viên mới tốt nghiệp là vô cùng hạn chế? Vậy làm sao có thể bổ sung điểm yếu đó, làm cho bạn có lợi thế so sánh và lọt vào mắt xanh nhà tuyển dụng? Hãy cùng tham khảo bài viết sau nhé, thực tập là một cách tưởng như là hình thức nhưng nó mang lại lợi ích cả trước mắt và lâu dài đấy. 🙂

Huyền Trang

Thực tập: Chìa khóa đưa bạn đến công việc đầu tiên

Kho tàng trí thức, tình bạn bền vững, món nợ ở trường đại học và tự giặt là mà không làm hỏng chiếc áo sơ mi– đó là tất cả những gì mà sinh viên có trong tay khi chuẩn bị tốt nghiệp đại học. Hy vọng rằng sẽ có thêm thời kỳ thực tập bổ sung vào danh sách đó. Bạn sẽ thấy rất khó khăn khi bắt đầu công việc đầu tiên nếu không trải qua bất kỳ kinh nghiệm nào. Kỳ thực tập sẽ giúp bạn ứng dụng được những gì bạn học ở trường vào môi trường công sở, đồng thời giúp bạn khám phá các lĩnh vực, ngành nghề khác nhau trước khi bạn tạo ra một bước chuyển lớn hơn.

Trước khi mặc chiếc áo cử nhân, bạn nên tìm kiếm cơ hội làm quen với con đường sự nghiệp mà bạn đã lựa chọn. Có rất nhiều trang web đăng tin tuyển thực tập sinh trong nước và nước ngoài. Hãy chủ động và nhanh chóng tìm kiếm. Bạn có thể tham gia câu lạc bộ nhân lực tại trường bạn, nơi bạn sẽ nhận được sự tư vấn từ các chuyên gia. Điều này khá là phổ biển và hiển nhiên, nhưng thực tế thì có rất nhiều sinh viên không bao giờ dành thời gian đế tìm kiếm những cơ hội ngay trong trường họ.

Nếu bạn về nước trong kì nghỉ học kì hoặc kì nghỉ hè, hãy tìm kiếm cơ hội ở các công ty tại nơi bạn sinh sống. Bạn bè của bố mẹ sẽ là một nguồn tìm kiếm rất bổ ích đấy! Và đừng quên liên lạc với giáo viên hoặc người hướng dẫn cũ nữa. Hoặc là khám phá cơ hội với những chuyên gia đầu ngành. Phần lớn các kì thực tập đều được sắp xếp bởi các phòng ban đang cần hỗ trợ hoặc là trong công ty lớn hơn thì phòng nhân sự sẽ bố trí việc đó. Hãy bắt đầu thật sớm, từ đầu năm và ước tính khi nào thì bắt đầu kì thực tập (thường trùng với học kì đại học) và khi các công ty bắt đầu nhận đơn. Những đơn nộp đầu tiên luôn được đánh giá là nhiệt tình với công việc và nếu chuyên ngành hoặc sở thích của bạn hợp với yêu cầu của nhà tuyển dụng, bạn sẽ là người đầu tiên nhận được cuộc gọi từ họ.

Đừng quên nghĩ đến các hiệp hội kinh doanh và tổ chức phi lợi nhuận. Mặc dù họ trả lương không cao cho vị trí làm việc, nhưng bù lại bạn sẽ tìm được một công việc ít cạnh tranh hơn và nhiều cơ hội để thực sự được cống hiến. Các tổ chức phi lợi nhuận cơ cấu cũng giống như các công ty hoạt động vì lợi nhuận khác, cũng có phòng kế toán, tiếp thị, đối ngoại và nhân sự. Các tổ chức đó có lực lượng nhân sự hạn chế nên rất có thể bạn sẽ được tham gia vào những dự án quan trọng, từ đó có cơ hội phát triển. Kể cả khi kì thực tập của bạn chỉ là làm những việc như phô tô giấy tờ hoặc việc văn phòng, bạn cũng sẽ thấy mình lớn lên dần qua những kinh nghiệm đó. Nếu kì thực tập thật sự không ổn, bạn hãy tìm cách trò chuyện với người quản lý để xem liệu họ có dự án nào vừa phải thích hợp để bạn có thể áp dụng những kiến thức mà bạn đã học hay không.

Chẳng hạn, nếu bạn học về ngành quan hệ công chúng, hãy tìm những cơ hội viết thông cáo báo chí hoặc viết thư thông báo tới khách hàng. Bạn có thể yêu cầu được quan sát công việc của văn phòng trong một ngày để xem công việc thực sự của họ diễn ra thế nào, rồi sau đó hãy tình nguyện giúp đỡ họ làm những gì mà bạn quan sát được. Hãy dành thời gian để học những kĩ năng sử dụng máy tính, thử áp dụng những phần mềm mới, đọc tin tức thương mại và xem những báo cáo về tin tức của báo chí. Ghi tóm tắt và lắng nhe trong các cuộc họp. Sắp xếp buổi ăn trưa, gặp gỡ mọi người và qua đó trao đổi với họ để biết thêm về công việc; chuẩn bị danh sách các câu hỏi, học hỏi cách nhân viên trong công ty tiến bộ hơn trong công việc và nếu được có thể bày tỏ nguyện vọng xem bản mẫu những công việc họ vẫn thường làm.

Nếu bạn thể hiện tác phong làm việc tốt, tỏ ra đầy nhiệt huyết và đam mê, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, công ty rất có thể sẽ tuyển dụng bạn chính thức ngay khi bạn tốt nghiệp. Nếu lúc đó công ty đã đủ người và chưa cần tuyển thêm, thì không có nghĩa là kỳ thực tập của bạn vô ích. Những anh chị quản lý có thể là danh sách những người có thể chứng nhận cho bạn về quá trình thực tập. Hãy giữ liên lạc với những nhân viên có gắn bó với bạn trong kỳ thực tập, đó cũng là bước đầu tiên trong việc kết nối mạng lưới quan hệ. Cuối cùng, hãy nhớ ghi lại những kinh nghiệm bạn đạt được vào sơ yếu lý lịch.

Nguồn: http://www.careerrookie.com/Article/CB-63-Job-Hunting-An-Internship-The-Key-to-Finding-Your-First-Job/?ArticleID=63&cbRecursionCnt=1&cbsid=1b7b066e080d46d3a148d39a4e270d5c-324916375-VJ-4&ns_siteid=ns_us_g_An_Internship%3A_The__

Author: Kate Lorenz, CareerBuilder.com Editor

Huyền Trang dịch

Phật sống và thợ làm bồn tắm

Các thiền sư cho giáo huấn cá nhân trong một phòng kín. Không ai vào phòng được khi thầy và trò đang ở trong đó.

Nấm Bất Tử, tranh Mokurai

Mokurai, thiền sư của thiền viện Kennin ở Kyoto, thích nói chuyện với các doanh nhân, nhà báo, cũng như với đệ tử của mình. Có một anh thợ làm bồn tắm gần như là thất học. Anh ta hay hỏi Mokurai một mớ các câu hỏi khùng điên, uống trà, rồi đi.

Ngày nọ khi anh thợ làm bồn tắm đang ở đó Mokurai muốn giáo huấn cá nhân cho một đệ tử, nên thiền sư bảo anh thợ sang phòng khác đợi.

“Tôi biết thầy là một vị Phật sống,” anh ta phản đối. “Ngay cả các ông Phật đá trong chùa không bao giờ từ chối bao nhiêu người đến trước các vị. Vậy tại sao tôi lại bị mời ra?”

Mohurai phải đi ra khỏi phòng để gặp học trò.
.

Bình:

• Mokurai, Takeda Mokurai (1854-1930), là Tiếng Sấm Tĩnh Lặng chúng ta đã nói đến trong bài Tiếng vỗ của một bàn tay.

• Dĩ nhiên là anh chàng thợ làm bồn tắm này vừa sai, vừa bất lịch sự, vừa gàn.

Chịu thua là thượng sách. Người thông thái biết khi nào nên thua.

• Ở một góc độ tâm linh nào đó, anh gàn này có thể đúng: Phật sống thì phải tử tế hơn Phật đá. Đó tâm thượng thừa của Phật.

Trong các vấn đề tâm linh, phải chăng những người ít học và ngay thẳng lại có được mắt trí tuệ (tuệ nhãn) hơn đa số mọi người có học?

Phải chăng đó cũng là lý do tại sao nhiều vị khoa bảng bằng cấp cao lại không quan tâm gì đến vấn đề tâm linh—cho đó là chuyện nhảm nhí hay mê tín dị đoan chỉ vì không lý giải được hết bằng lý luận hay chứng minh được hết bằng khoa học–và ngược lại những người bình dân ít học lại thường chăm chú vào tâm linh hơn?

Phải chăng đó cũng là lý do lục tổ thiền tông Huệ Năng, không biết chữ, không học kinh sách bao giờ, nhưng khi nghe người hàng xóm đọc Kinh Kim Cang đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” thì hốt nhiên đại ngộ?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Living Buddha and the Tubmaker

Zen masters give personal guidance in a secluded room. No one enters while teacher and pupil are together.

Mokurai, the Zen master of Kennin temple in Kyoto, used to enjoy talking with merchants and newspapermen as well as with his pupils. A certain tubmaker was almost illiterate. He would ask foolish questions of Mokurai, have tea, and then go away.

One day while the tubmaker was there Mokurai wished to give personal guidance to a disciple, so he asked the tubmaker to wait in another room.

“I understand you are a living Buddha,” the man protested. “Even the stone Buddhas in the temple never refuse the numerous persons who come together before them. Why then should I be excluded?”

Mokurai had to go outside to see his disciple.

# 86

Thấy sự vật như nó là

Chào các bạn,

Chúng ta đã nhiều lần nói đến cụm từ “thấy sự vật như nó là” (seeing everything as it is). Hôm nay chúng ta nói sâu hơn một tí về cụm từ nay.

“Thấy sự vật như nó là” (seeing everything as it is)—tức là nhìn sự vật một cách “vô tình” (non-emotional), thấy sự vật một cách “vô tình”, không mang cảm tính của mình vào cái nhìn, cái thấy. Trời mưa thì thấy “trời mưa”, chứ không thấy “mưa buồn” hay “mưa vui”. Trời nắng thì thấy “trời nắng” chưa không thấy “nắng đáng ghét” hay “nắng đáng yêu”. Chỉ nhìn sự vật, thấy sự vật, và không thấy cảm tính vào đó.

Cái nhìn nầy còn gọi là “vô tâm” (no mind) trong Thiền, dù rằng từ “vô tình” có lẽ dễ hiểu hơn. Cái nhìn này cũng là cái nhìn rất chính xác, vì nó nhìn sự vật rõ ràng “như nó là”, không bị bức màn cảm tinh che đậy cái nhìn. Tức là, không bị cảm tính làm cho mình “si mê”, tức là sáng suốt, tức là “ngộ.”

Nhìn sự vật như nó là cũng là cái nhìn giúp cho ta tĩnh lặng luôn luôn và chận đứng được những xung động trong lòng. Ví dụ: Thấy người yêu mình ngồi ăn trưa với một chàng thì chỉ thấy hai người ngồi ăn, chứ không “thấy” thêm “cô ấy có thằng bồ khác” Thấy hai người họ hôn nhau thì thấy “họ hôn nhau, và có thể kết luận chính xác và họ cặp bồ hay yêu nhau” nhưng đừng thấy thêm “cô ấy khinh thường mình” hay “cô ấy phản bội mình.” Cô ấy nói cô ấy yêu chàng kia và không yêu mình nữa thì thấy là cô ấy không yêu mình nữa, đừng thấy thêm “Cô ấy xảo trá, đại gian đại ác.” Thấy mình vò võ một mình thì thấy mình có thể mở cửa cho các nàng khác (chắc chắn), chứ không thấy “thê giới sụp đổ” (suy đoán).

Nói chung, “thấy sự vật như nó là” tức là chỉ thấy đúng cái gì mình thấy, và không suy đoán kết luận thêm lăng nhăng.

Chúng ta có thể thấy rất dễ dàng là “thấy sự vật như nó là” có những cái lợi sau:

1. Tâm ta luôn tĩnh lặng an lạc, không nhảy choi choi theo mọi suy đoán lăng nhăng hàng ngày.

2. Ta luôn luôn sáng suốt khi nhìn vấn đề, mà không bị các cảm xúc và tình cảm làm cho cái nhìn bị lêch lạc.

3. Tâm trí luôn luôn tự do, không bị vướng mắc vào các tình cảm và định kiến. (Định kiến cũng chỉ là tình cảm. Ta có định kiến về việc gì đó chỉ vì ta quá “mê” kêt luận có sẵn trong đầu ta thôi. Ví dụ: Định kiến “da đen thì dốt”. Sở dĩ ta có định kiến này vì ta mê cái kết luận “da đen thì dốt” đến mức làm cho đầu ta không thể buông bỏ định kiến đó, và ngừng suy nghĩ—hễ thấy da đen liền cho là dốt, khỏi suy nghĩ mất công).

Trong liên hệ con người, người “thấy sự vật như nó là” không phán đoán ai cả–chỉ thấy mà không suy diễn, nên không phán đoán. Phán đoán là nguồn gốc chia rẽ số một của con người. Người bị phán đoán thì đau đớn, người phán đoán thì ít nhất là vừa đạo đức giả vừa bất công.

    “Đừng phán đoán, hay là bạn sẽ bị phán đoán. Cùng cung cách bạn phán đoán người khác, bạn sẽ bị phán đoán, và cách đo nào bạn dùng, sẽ được dùng để đo bạn.

    Tại sao bạn tìm một mụn cưa trong mắt của anh em bạn và không để ‎ y’ đến tấm ván trong mắt bạn. Làm sao bạn có thể nói với anh em bạn, ‘Để tôi lấy mụn cưa ra khỏi mắt anh,’ trong khi còn cả tấm ván trong mắt bạn? Này đạo đức giả, trước hết hãy lấy tấm ván ra khỏi mắt bạn, rồi bạn sẽ nhìn rõ được để lấy mụn cưa ra khỏi mắt của anh em bạn.” Jesus of Nazareth, (Matthew 7:1-5).

Phán đoán người khác là đầu mối mọi chia rẽ và chiến tranh trên thế giới. Mà phán đoán người khác thì luôn luôn từ hoàn toàn sai đến sai tí tí, chẳng bao giờ hoàn toàn đúng được, vì mình đâu có biết được tâm người khác đâu.

Chỉ có một người mà ta có thể phán đoán chính xác nhất là chính ta, thì ta lại không làm.

Thế có phải vừa si mê vừa đạo đức giả không?

Nếu bạn muốn tĩnh lặng, thông thái, nhân ái, không mù quáng si mê, thì hãy tập “nhìn/thấy sự vật như nó là”, không đắp lên sự vật các màn cảm tính, và không phán đoán gì cả. Khi sự vật có kết luận, đương nhiên ta sẽ thấy kết luận của sự vật bằng “nhìn nó như nó là,” mà chẳng cần suy diễn lăng nhăng trước đó.

Trong các kỹ năng tư duy tích cực thì kỹ năng “nhìn/thấy sự vật như nó là” là dễ thực hành nhất, vì nó rất công thức—cứ nhìn và không thêm cảm tính hay suy đoán. Thật ra các điều tra viên sống với kỹ năng này hàng ngày—điều tra “lạnh lùng”, không cảm tính, sự việc đưa đi hướng nào thì điều tra theo hướng đó, không suy đoán và kết luận lăng nhăng. (Điều tra viên suy đoán chỉ để định hướng điều tra, không phán đoán và kết luận trước khi kết luận đã rất rõ ràng). Chỉ có điều tra “vô tình” “lạnh lùng” thì mới có thể điều tra chính xác được.

Tuy thực hành giản dị thế, nhưng đại đa số người trên thế giới rất thích “bình”. Làm thơ thì phải là “mưa não nùng” thì mới cho là hay, chứ chỉ “mưa rơi” thì chê dở. Thấy ai làm gì đó, là lo phán đoán lên án xuống án lung tung, đù đó không là chuyện của mình, và mình biết chỉ khoảng 1/10 câu chuyện và chẳng biết trong lòng mỗi người trong cuộc họ nghĩ thế nào, cảm xúc thế nào. Thế thì đừng đổ thừa cho các tay khủng bố làm thế giới đại loạn. Đại loạn đi ra từ tâm phán đoán của mỗi người phán đoán. Và mỗi lần ta phán đoán một chiều, là ta thải thêm hơi độc vào bầu khí quyển. Hơi độc đó giúp tạo ra các tay khủng bố.

Đây là vấn đề căn bản chia con người trên thế giới thành hai nhóm—nhóm thông thái và nhóm si mê. Thấy sự việc rõ ràng là thông thái; thấy bậy bạ vì mình kết luận lăng nhăng là si mê.

Ta có tự do lựa chọn đứng vào nhóm nào.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Vô tâm

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Giờ chết

Thiền sư Ikkyu rất thông minh lúc còn nhỏ. Thầy của Ikkyu có một tách trà quý, đồ cổ hiếm có. Ikkyu lỡ làm vỡ tách này và rất bối rối. Nghe tiếng chân thầy, Ikkyu dấu chiếc tách sau lưng. Khi thầy đến, Ikkyu hỏi: “Tại sao người ta phải chết?”

“Đó là tự nhiên,” vị thầy già giải thích. “Tất cả mọi thứ đều chết và chỉ có một thời gian để sống.”

Ikkyu, đưa cái tách vỡ ra, và thêm: “Giờ chết của cái tách của thầy đã đến.”
.

Bình

• Các quy luật tự nhiên thì ai cũng biết. Nhưng khi đụng chuyện thì ta quên mất. Ví dụ: Người đang stress thì hay nói bất bình thường. Tuy nhiên, khi nghe ta vẫn giận dỗi, mà quên mất là người đó đang stress. Rốt cuộc, stress chiến thắng được cả hai người—người nói và người nghe.

Vì vậy, khi đụng chuyện, ta cũng nên nghe lời nhắc nhở của người khác về các quy luật tự nhiên đang hoạt động trong cuộc sống của ta.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Time to Die

Ikkyu, the Zen master, was very clever even as a boy. His teacher had a precious teacup, a rare antique. Ikkyu happened to break this cup and was greatly perplexed. Hearing the footsteps of his teacher, he held the pieces of the cup behind him. When the master appeared, Ikkyu asked: “Why do people have to die?”

“This is natural,” explained the older man. “Everything has to die and has just so long to live.”

Ikkyu, producing the shattered cup, added: “It was time for your cup to die.”

# 85

Tin hay không thì tùy

Cả Tây Nguyên của tôi suốt tháng ba cờ hoa rợp trời. Nhiều sự kiện nên chắc chắn cũng nhiều vui buồn.Đã định bỏ qua không “nhàn đàm” gì những việc này, nhưng tình cờ gặp người bạn than thở: “Mấy người bạn em ở xa đi du lịch nhân tham dự lễ kỷ niệm của thành phố Buôn Ma Thuột, chê chương trình nghệ thuật chào mừng hôm 10/3 quá trời. Họ nói mấy ngày lễ ấy của riêng đất này giá trị cao quý lắm. Nào là 105 năm thành lập, nào 35 năm mở màn chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, nào là lên thành phố lớn của khu vực Tây Nguyên…vậy mà đêm biểu diễn cứ như xem văn nghệ ở quận 1 hay quận 5 thành phố HCM ấy. Mời chi nhiều ngôi sao thành phố lên hát với múa, chả vô nội dung nào. Chắc cao tiền lắm. Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng vài chục triệu là chắc. Chương trình dở thế làm sao thu hút được khách du lịch?…”…đành lại phải nói vài câu

Vào những dịp kỷ niệm lớn như thế, để chào mừng, ở địa phương nào người ta cũng thường tổ chức nhiều những hoạt động văn hoá thể thao, đặc biệt là một đêm biểu diễn nghệ thuật hoành tráng. Có điều lạ là nếu quay ngược về nhiều năm trước đây, đội ngũ cán bộ văn hoá nghệ thuật tại chỗ ( tạm gọi là ở các tỉnh lẻ đi), thường chưa đạt tới trình độ và năng lực đủ để đứng ra thực hiện một chương trình nghệ thuật có “tầm cỡ” lớn, nên chính quyền và ngành chủ quản địa phương thường phải thuê những tác giả, đạo diễn có tên tuổi ở Trung ương hoặc các thành phố lớn viết kịch bản hoặc làm Tổng đạo diễn, âu cũng là lẽ thường tình. Thế nhưng đất nước thống nhất đã 35 năm, đủ thời gian để đội ngũ cán bộ các ngành, các địa phương đã trở nên có kinh nghiệm hoạt động và am hiểu chuyên sâu về văn hoá truyền thống bản địa. Thậm chí đạt tới học vị cao trong ngành, một việc mà ngay cả năm 1975 ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh cũng còn là của quý hiếm. Vậy mà những người có trách nhiệm tổ chức ở các địa phương vẫn thích việc mời những đơn vị và nghệ sỹ ngoài tỉnh, để thực hiện viết kịch bản & tổ chức các chương trình như đã nói ở trên. Ngoài việc họ nghĩ các vị ấy giỏi hơn “ gà nhà” , còn có gì nữa không, ai biết được ?

Vậy nên mới có chuyện dân tình ngán ngẩm vì Festival Quốc tế văn hoá cồng chiêng ( đạo diễn Hà Nội ), toàn là trang phục váy đầm dạ hội tràn xuống chính diện quảng trường trong nhịp điệu rokc, disco còn nghệ nhân 24 dân tộc lẫn các đoàn cồng chiêng quốc tế thì biểu diễn gần hết thời gian ở hai bên hông khán đài. …Hay Liên hoan văn hoá cồng chiêng mà hiện diện tới 2/3 thời lượng truyền hình trực tiếp là phần biểu diễn của các nhóm nghệ thuật nước ngoài và rock của thành phố HCM Còn các chủ nhân của “ Di sản văn hoá phi vật thể truyền khẩu của nhân loại” thì kéo nhau chạy như bị rượt đuổi qua sân khấu ( đạo diễn thành phố HCM). Hoặc như khách của bạn tôi chê bai chương trình 10/3 nói trên.

Vậy nên sẽ xáy ra những trường hợp :

– Một là : khi duyệt kịch bản, thấy không thể nào chấp nhận được, vì sự thiếu hiểu biết dẫn đến méo mó cả hình ảnh văn hoá truyền thống địa phương; lãnh đạo đành lại phải quay về “ tắm ao ta”, phát huy nội lực sẵn có ( được thế đã là may cho cả người xem lẫn văn nghệ sỹ địa phương lắm) .

– Hai là chuyện ở phố núi của tôi 10/3 vừa rồi, Công ty tổ chức sự kiện ở thành phố HCM nhận được hợp đồng vài tỷ, đã quay lại thuê chính Trung tâm văn hoá tỉnh Đăk lăk thực hiện. Họ chỉ ghép thêm một số ngôi sao ca nhạc và các vũ đoàn thành phố vào phần sau . Chắc với ý định cho dân tỉnh lẻ được thưởng thức “ phần mới lạ” chăng ?.

Thế, có cần bình luận gì nữa không? Tin hay không thì tuỳ bạn

Linh Nga Niê Kdăm

Sức Mạnh Kì Diệu

Một ông lão có ba cậu con trai. Một hôm, khi thấy các con mình đã đến tuổi trưởng thành, ông gọi họ lại và nói rằng giờ đây ông đã rất già yếu, không thể chu cấp cho ai được, kể cả chính bản thân mình. Vì vậy, ông bảo con mình hãy ra ngoài và đem thức ăn và quần áo về cho ông.

Ba người con bắt đầu lên đường, và sau một khoảng thời gian dài, họ đến một con sông rộng lớn. Vì đã cùng nhau đi cả một quãng đường dài, họ quyết định rằng một khi đã qua bên kia sông, mỗi người trong số họ sẽ chọn một hướng riêng. Người anh cả nói với người em út chọn con đường ở giữa, với người em thứ hai chọn con đường bên phải, còn anh ta sẽ rẽ trái. Sau một năm, họ sẽ trở lại điểm xuất phát ban đầu.

Và họ bắt đầu lên đường, và sau một năm, như đã hứa, ba người con trở lại bờ sông năm nào. Người con cả hỏi người con út anh ta đã tìm được những gì trong suốt chuyến đi của mình, và người con út trả lời: “Em không tìm thấy gì ngoài một chiếc gương, nhưng chiếc gương này có một sức mạnh thần kì. Khi nhìn vào nó, anh có thể nhìn thấy khắp tận cùng đất nước, dẫu cho nó có xa ngàn dặm đi chăng nữa”.

Đến lượt mình , người con thứ hai trả lời: “Chỉ một đôi giày nhưng nó cũng chứa đầy sức mạnh, nếu có ai đó mang vào anh ta có thể đi đến bất kì nơi nào, chỉ với một bước chân”.
Và cuối cùng là người con cả, anh nói: “Anh cũng đem về được một thứ, không nhiều, một ống thuốc, tất cả chỉ có thể. Nhưng giờ ta hãy nhìn vào gương và xem cha của mình sống ra sao rồi”

Người con út lấy gương ra, và cả ba người con đều nhìn và đó và thấy rằng cha của họ đã qua đời, và đám tang cũng đã kết thúc. Người con cả nói: “Hãy mau chóng trở về và xem chúng ta làm được những gì”. Vì vậy người con thứ ra đem đôi giày ra, và cả ba anh em đều đặt chân họ vào đó, ngay lập thức, họ đã đứng trước mặt mộ của cha mình. Sau đó người con cả lấy lọ thuốc ra khỏi cái giỏ của mình, và đổ lên ngôi mộ. Ngay lập tức, cha của họ tỉnh lại, như thể chưa hề có chuyện gì xảy ra với ông.

Vậy tóm lại, ai trong số ba người con này đã làm tốt nhất?”

Viên Hy dịch
.

WONDROUS POWERS

An old man had three children, all boys. When they had grown up to manhood, he called them together and told them that now he was very old and no longer able to provide, even for himself. He ordered them to go out and bring him food and clothing.

The three brothers set out, and after a very long while they came to a large river. As they had gone on together for such a time, they decided that once they got across they would separate. The eldest told the youngest to take the middle road, and the second to go to the right, while he himself would go to the left. Then, in a year’s time, they would come back to the same spot.

So they parted, and at the end of a year, as agreed, they found their way back to the riverside. The eldest asked the youngest what he had gotten during his travels, and the boy replied: “I have nothing but a mirror, but it has wonderful power. If you look into it, you can see all over the country, no matter how far away.”

When asked in turn what he had gotten, the second brother replied: “Only a pair of sandals that are so full of power, that if one puts them on one can walk at once to any place in the country in one step.”

Then the eldest himself, said: “I, too, have obtained but little, a small calabash of medicine, that is all. But let us look into the mirror and see how father fares.”

The youngest produced his mirror, and they all looked into it and saw that their father was already dead and that even the funeral custom was finished. Then the elder said: “Let us hasten home and see what we can do.” So the second brought out his sandals, and all three placed their feet inside them and, immediately, they were borne to their father’s grave. Then the eldest shook the medicine out of his bag, and poured it over the grave. At once their father arose, as if nothing had been the matter with him.

Now which of these three sons has performed the best?

.


by Roger D. Abrahams

Bạn thật

Ngày xưa lâu lắm rồi ở Trung quốc có hai người bạn, một người đàn hay và một người nghe hay.

Khi người đàn về núi cao, người nghe nói: “Tôi có thể thấy núi cao trước mặt ta.”

Khi người đàn về nước, người nghe nói: “Đây là dòng nước chảy!”

Nhưng người nghe gặp bạo bệnh mà chết. Người đàn cắt đứt dây đàn và không bao giờ đàn nữa. Từ đó trở đi, cắt đứt dây đàn là biểu tượng của tình bạn thắm thiết.
.

Bình:

• Đây là câu chuyện về Bá Nha Tử Kỳ thời Xuân Thu Chiến Quốc. Bá Nha, làm quan, là người đàn; Tử Kỳ, người nghe, là tiều phu. Gặp nhau và kết nghĩa anh em vì “tri âm” (hiểu được âm thanh), cho nên ngày nay ta có từ “bạn tri âm”.

Cây đàn mà Bá Nha dùng có lẽ là cây Cổ Cầm, mà ngày nay vẫn còn dùng. Cổ cầm còn là tiền thân của Thập Lục Huyền Cầm (hay Tam Thập Lục Huyền Cầm), tức là Đàn Tranh (16 dây hay 36 dây) ngày nay.

• Hiểu nhau không cần phải ở chung với nhau 20 năm. Chưa gặp nhau cũng đã có thể hiểu nhau ngay chỉ qua tiếng đàn.

• Hiểu nhau không cần nói nhiều.

• Nhưng hiểu nhau cần: (1) Người biết diễn đạt đúng điều mình muốn diễn đạt, và (2) người biết nghe điều người kia diễn đạt.

Điều quan trọng ở đây là: Người diễn đạt, không chỉ làm ra âm bằng tay, mà là hồn mình đang nói những lời lẽ sâu kín trong tâm. Và người nghe không chỉ nghe âm bằng tai, mà hồn mình đang trực nhận những thì thầm từ hồn người kia.

Vậy thì, để có tri âm, khi nói chuyện, ta có nói thành thật những sâu kín của hồn ta không, hay ta màu mè, bày vẻ, thiếu thành tâm? Nếu ta không thành tâm thì rất khó có bạn tri âm.

Và khi ta nghe, ta có dùng tâm hồn để nghe tâm hồn không, hay ta chỉ biết nghe âm bằng tai? Nếu không biết nghe thì làm sao “tri âm” ai được?

• Giữa đàn và nghe, điều nào khó hơn? Dĩ nhiên ở mức cao thì làm gì cũng khó. Nhưng có lẽ là nghe khó hơn đàn, vì đàn là đàn điều mình nghĩ, nghe là nghe điều người khác nghĩ. Mình biết mình nghĩ gì để diễn đạt, nhưng người nghe thì lại không biết người kia nghĩ gì, phải lấy âm thanh mà suy đoán.

Nói bao giờ cũng dễ hơn nghe. Vậy thì trong liên hệ con người, nói cẩn thận, nhưng phải nghe cực kỳ chăm chú.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

True Friends

A long time ago in China there were two friends, one who played the harp skillfully and one who listen skillfully.

When the one played or sang about a mountain, the other would say: “I can see the mountain before us.”

When the one played about water, the listener would exclaim: “Here is the running stream!”

But the listener fell sick and died. The first friend cut the strings of his harp and never played again. Since that time the cutting of harp strings has always been a sign of intimate friendship.

# 84

Đóng dấu ấn Việt trên thế giới

Chào các bạn,

Mình ở Washington nên thường có cơ hội gặp người từ mọi nơi trên thế giới. Nhưng mình lại tồi về địa lý, cho nên nhiều khi gặp bạn mới, mình rất ngớ ngẩn và thiếu ngoại giao.

“Hi, I am John Lawata. I’m from Fiji.
“I’m Hoanh Tran. Nice to meet you. Sorry I couldn’t catch where you’re from.”
“Fiji. Republic of Fiji Islands.”
“Uhm…”
“You know, Fiji Islands.”
“Yes… yes… Please forgive me for my ignorance. Where is that?”
“We’re in the Pacific. We’re close to Vanuatu to the west, New Caledonia to the southwest, New Zealand’s Kermadec to the southeast, Tonga to the east, Wallis and Futuna to the northeast and Tuvalu to the north.”
“Oh, great. A group of islands in the Pacific!”

Thực thì các tên này, đối với nhiều người chúng ta, nghe cũng giống như nơi nào đó trên mặt trăng, chứ chẳng biết là đó là những quốc gia hải đảo nằm giữa Thái Bình Dương, mà Việt Nam là một phần bờ Thái Bình Dương, láng giềng rất gần.

Rất may là nếu bạn đi khắp nơi trên thế giới, khi nói “Tôi đến từ Việt Nam” thì mọi người đều biết đến Việt Nam. Hai cuộc chiến thắng chống Pháp và Mỹ làm Việt Nam trở thành một quốc gia nổi danh và được thán phục trên thế giới.

Được cả thế giới biết đến tên là một vốn liếng kinh tế chính trị rất lớn. Cho dù Thái Lan có dùng hàng tỉ đô là mỗi năm quảng cáo trên TV thế giới hàng chục năm liền như vậy, thì thế giới vẫn ít người biết về Thái Lan như là Việt Nam, vì học sinh thế giới, nhất là học sinh Mỹ, đều phải học về hai cuộc chiến lớn mà Việt Nam đã thắng–về chiến lược, về qui ước chiến tranh, về sự thay đổi chính trị quốc tế, về chính sách ngoại giao của Mỹ trên thế giới… Khi người khác phải học về ta, thì đó là một vốn liếng kinh tế chính trị lớn ngoài sức tiền bạc có thể mua. Đừng quên vốn liếng vô giá này.

Ít ra là cũng không còn “vô danh”.

Nhưng có lẽ vẫn còn “tiểu tốt”. Vì chúng ta vẫn còn là một quốc gia nghèo kém.

Vây thì, nhiệm vụ của chúng ta vào thời đại này là mang Việt Nam ra khỏi vòng “tiểu tốt” lên đến hàng “đại gia.” Và cuộc “chiến” này sẽ dài hơn, gay go hơn, và đòi hỏi nhiều trí tuệ và quyết tâm hơn hai cuộc chiến trước—Chúng hắn không giỏi đấm đá, nhưng chúng hắn rất giỏi về phát triển.

“Thừa thắng xông lên” là dùng những chiến thắng cũ làm bàn đạp để tiến lên. Chúng ta cần tận dụng tiếng tăm có sẵn của chúng ta để tiếp tục để lại dấu ấn Việt Nam trên cánh đồng quốc tế.

Những vốn liếng truyền thống chúng ta đã có mà người khác chưa có thì cần phải triển để tiếp thị ra ngoài:

1. Văn hóa cổ truyền: Nhất là Phật giáo. Đây là một luồng tư tưởng hòa bình thâm sâu, mà chúng ta là một trong chỉ vài truyền nhân lâu đời. Phật học Việt Nam nên được khôi phục vững mạnh, các học giả Phật học cần được ủng hộ để học tập sâu sắc, với tầm mức có thể dạy lại cho thế giới. (Và ta đang nói chuyện tư tưởng, không phải chuyện xây chùa).

Văn hóa truyền thống của 55 dân tộc anh em cần được bảo vệ và phát triển, để làm mạnh bản chất tâm linh của mỗi dân tộc, và để dùng đó làm nền tảng cho kỹ nghệ du lịch, cho du khách thế giới học được chiều sâu của một quốc gia, hơn là chỉ tắm biển rồi về như là đi mọi nơi khác.

Ngay cả các truyền thống tâm linh và văn hóa mới, như Thiên chúa giáo, có thể tự làm giàu cho chính mình và cho quốc gia mình bằng cách hòa nhập với văn hóa Việt Nam để cho nó một dáng vẻ Việt Nam đặc sắn riêng (như công giáo Việt Nam, tin lành Việt Nam), thay vì nhìn và suy nghĩ rất Tây và rất đối chỏi với văn hóa truyền thống Việt.

2. Võ thuật, nhất là các môn võ Viêt Nam như Tây Sơn Bình Định hay Vovinam nên được khuyến khích xuất cảng.

3. Văn chương: Bao nhiêu năm chinh chiến đau thương với các đại cường mà chúng ta không có được những tác phẩm lớn trên thế giới, thì nhất định là mọi tội tình phải đổ lên đầu ông văn hóa (thay vì kết luận cả nước chúng ta toàn người dốt). Ông văn hóa thích chém đầu chém đuôi, gọt dũa chuyện có thật thành truyện nhi đồng giả tưởng… cho nên không có gì gọi là đáng giá.

Nhưng nguồn hứng khởi thì còn nguyên đó — lịch sử bi thảm và hào hùng, những hùng tráng cộng những lỗi lầm còn thấy đó… Nếu các nhà văn của ta được khuyến khích viết tự do, viết thật, không chỉ viết quàng cáo ba xu, thì nhất định là ta sẽ có những tác phẩm lớn trên thế giới. Điều này chắc chắn 100%. Một giải Nobel cho một nhà văn Viêt Nam cũng giúp kỹ nghệ du lịch nhiều lắm chứ không ít (dù rằng rất tiếc là nhà văn sẽ không được chia tí hoa hồng nào 🙂 ).

4. Thực phẩm (nhà hàng): Các món ăn Việt Nam đã có tiếng trên thế giới. Nếu ta chăm chút vào vệ sinh thực phẩm và nhà hàng, thì nhiều người trên thế giới sẽ muốn đến thăm Việt Nam chỉ để… ăn.

5. Hòa Bình: Thế giới hiện đang nằm trong nhiều cuộc chiến địa phương và quốc tế lớn lao. Dân ta đã biết mùi đau khổ của chiến tranh, văn hoá Việt Nam lại là văn hóa tổng hợp của nhiều văn hóa khác nhau, cho nên Việt Nam có đủ tư cách và khả năng để lãnh đạo các tổ chức và phong trào hòa bình trên thế giới. Chúng ta đủ tư cách làm trung gian điều hợp hòa bình cho nhiều cuộc chiến trên thế giới. Không phải chỉ là các cường quốc mới xây dựng hòa bình được. Thực ra các cường quốc thường là những tay gây chiến. Thế giới cần những tổ chức thứ ba, ngoài cuộc, không thiên vị, không mâu thuẫn quyền lợi, để giúp các bên lâm chiến hòa giải.

6. Made in Viet Nam: Chúng ta muốn thương hiệu “Made in Vietnam” có tiếng tăm trên thế giới, từ con người đến văn hóa đến vật chất. Con người Việt Nam chúng tôi hiền hậu, hiếu khách và dũng mãnh. Văn hóa chúng tôi phong phú, đa dạng và sâu sắc. Hàng hóa chúng tôi sáng tạo, bền rẻ đẹp.

Nói chung là các bạn đừng có ảo tưởng là chúng ta đang có thể thong thả ngủ ngày vì chiến tranh đã xong hơn 30 năm. Chúng ta hiện đang ở trong một vận hội mới với những tranh đấu mới và những cơ hội mới. Đây là một thời kỳ rất kích thích và thú vị. Đã hàng ngìn năm ông cha chúng ta chỉ là một cái bóng trong một góc đất nhỏ của thế giới, chẳng ai biết đến. Nhưng ngày nay, thế hệ đàn anh ngay trước ta đã giúp chúng ta trở thành nổi tiếng trên thế giới. Nhiệm vụ của chúng ta là tiếp tục tiến lên, biến Việt Nam trở thành hùng cường trên thế giới. Đây là một cuộc chạy đua rất thú vị, vì nếu chúng ta quyết tâm, tận lực, và đồng nhất như một, thì không về nhất, nhì, hay ba, chúng ta cũng về rất cao, chẳng thể thua được.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Không thay đổi

Chào các bạn,

Thay đổi là một vấn đề khó khăn. Một số người thay đổi cách nghĩ và cả cuộc đời trong có một giây. Một số người học tiếng Anh dễ như không. Nhưng một số người khác tốn bao công sức hàng tháng năm ròng với bao đau đớn, bao chương trình kế hoạch để thay đổi mà vẫn vô hiệu.

Tại sao vậy?  Tại sao cố gắng “leo dốc” vất vả làm vậy? Hay là cứ nhẹ nhàng yêu giọt nước mưa đang lăn trên má ta  🙂

Sau đây là một câu chuyện về Thay Đổi. Các bạn hãy đọc và cho ý kiến nhé.

Chúc các bạn một ngày dịu dàng,

Hiển.
.

Không thay đổi

“Tôi là một người điên nhiều năm rồi. Tôi lo lắng, trầm cảm và ích kỷ. Mọi người liên tục bảo tôi phải thay đổi đi.

Tôi bực tức lại họ, và tôi đồng ý với họ, và tôi muốn thay đổi, nhưng đơn giản là không thể, bất kể tôi đã cố gắng vất vả thế nào.

Điều làm tôi đau đớn nhất là, như những người khác, người bạn tốt nhất của tôi cứ đòi hỏi tôi phải thay đổi. Do đó tôi thấy bất lực và kẹt bẫy.

Rồi, một ngày kia, anh ấy nói với tôi, “Đừng thay đổi. Tôi yêu bạn đơn giản như bạn bây giờ.” Những từ ngữ đó là âm nhạc cho tai của tôi. “Đừng thay đổi. Đừng thay đổi. Đừng thay đổi… tôi yêu bạn như bạn bây giờ.”

Tôi thoải mái. Tôi sống động. Và đột nhiên tôi thay đổi.
Bây giờ tôi biết rằng tôi không thể thực sự thay đổi cho đến khi tôi tìm thấy ai đó yêu tôi bất kể tôi có thay đổi hay không.”

Đây có phải là cách Chúa yêu con không, Chúa ơi?
.

Don’t change

“I was a neurotic for years. I was anxious and depressed and selfish. Everyone kept telling me to change.

I resented them, and I agreed with them, and I wanted to change, but simply couldn’t, no matter how hard I tried.

What hurt the most was that, like the others, my best friend kept insisting that I change. So I felt powerless and trapped.

Then, one day, he said to me, “Don’t change. I love you just as you are.” Those words were music to my ears. “Don’t change. Don’t change. Don’t change. . . I love you as you are.”

I relaxed. I came alive. And suddenly I changed.

Now I know that I couldn’t really change until I found someone who would love me whether I changed or not.”

Is this how you love me, God?
~ Anthony de Mello, The song of the bird

Không làm, không ăn

Hyakujo, thiền sư người Trung quốc, thường làm việc lao động với các học trò ngay cả khi cả đã tám mươi, dọn vườn, cắt cỏ, tỉa cây.

Các học trò lo lắng thấy vị thầy già làm việc cực quá, nhưng họ biết thầy chẳng nghe lời khuyên của họ mà nghỉ ngơi, nên họ dấu đồ nghề làm vườn.

Ngày đó sư phụ chẳng ăn. Ngày kế tiếp thầy cũng chẳng ăn, và ngày kế tiếp cũng vậy. “Có lẽ thầy giận mình đã dấu đồ nghề,” các học trò đoán, “Mình phải trả lại thôi.”

Ngày họ trả lại đồ nghề, thầy làm việc và ăn như trước đó. Tối đó thầy dạy học trò: “Không làm, không ăn.”
.

Bình:

• Thiền sư già này là Bách Trượng Hoài Hải, đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất, một trong ba người có ảnh hưởng lớn nhất trong Thiền tông–Sư tổ Bồ Đề Đạt Đa, Lục tổ Huệ Năng, Mã Tổ Đạo Nhất.

Sau khi Mã Tổ sáng lập tu viện Tòng Lâm, Bách Trượng Hoài Hải nối tiếp lập ra hệ thống các quy tắc trong tu viện. Chủ trương cuộc sống “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (Ngày nào không làm, ngày đó không ăn) của Bách Trượng từng gặp nhiều khó khăn, bị chỉ trích vì trái với quy củ, giới luật trước đây của người tu hành Phật Giáo, thậm chí có người còn cho sư là kẻ ngoại đạo.

• Thiền tông từ đó trở thành tích cực hơn. Các thiền sư có lối sống “vào đời” rất tích cực. Các vị không chỉ ngồi thiền cả ngày, chẳng làm gì như mọi người lầm tưởng. Thiền có thể thực hành mỗi giây phút, dù ta đang làm việc gì. Thiền không có nghĩa chỉ là ngồi Thiền.

• Ngay trong hàng khất sĩ, khất thực (xin ăn) là một loại tu tập tích cực hàng ngày. Đi khất thực là một công việc khó khăn, để tu tập hạnh khiêm tốn và tĩnh lặng cho mình, đồng thời giúp mọi người thực hành hạnh bố thí.

• “Không làm, không ăn” hay “làm để ăn” là quy luật tự nhiên. “Sống là làm”—đây là một triết lý tự nhiên về hoạt động tích cực trong đời sống.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

No Work, No Food

Hyakujo, the Chinese Zen master, used to labor with his pupils even at the age of eighty, trimming the gardens, cleaning the grounds, and pruning the trees.

The pupils felt sorry to see the old teacher working so hard, but they knew he would not listen to their advice to stop, so they hid away his tools.

That day the master did not eat. The next day he did not eat, nor the next. “He may be angry because we have hidden his tools,” the pupils surmised. “We had better put them back.”

The day they did, the teacher worked and ate the same as before. In the evening he instructed them: “No work, no food.”

# 83

Người trông cậy được

Chào các bạn,

Từ quan trọng nhất khi định điểm một người để tuyển họ vào việc nào đó là “trông cậy được” (reliable). Tất cả mọi nhận xét về đức tính và vốn liếng của người đó—thông mình, hoạt bát, kinh nghiệm…– rốt cuộc quy về một chữ “reliable.” Reliable thì tuyển, không reliable thì không tuyển.

Trong mọi liên hệ khác ở đời cũng chỉ một từ reliable—thương mãi, kinh tế, chính trị, chủ thợ, vợ chồng, bạn trai bạn gái, teamwork, v.v… Một người mà ta có thể sống chung hay làm việc chung thường xuyên là một người có thể trông cậy được. Hắn có thể đẹp trai hay xấu trai, kiêu căng hay khiêm tốn, thông minh hay khù khờ, nhưng nếu trông cậy được là được.

Trông cậy được (reliable, reliability) tối thiều được thành hình nhờ các tính chất sau:

1. Thành thật: Nếu bác không thành thật thì Diêm Vương gặp bác cũng phải chạy, nói chi người.

2. Lời nói chắc chắn: Nói 3 giờ có mặt thì động đất cũng có mặt lúc 3 giờ. Nói là sẽ làm việc gì thì sẽ làm việc đó. Việc gì chưa biết thì nói chưa biết, biết mơ hồ thì nói biết mơ hồ.

Dĩ nhiên là người nói chắc chắn cũng là người thành thật, nhưng đôi khi có người thành thật nhưng lại ăn nói không chắc chắn. Ví dụ: Hắn nói có mặt 3 giờ, thì thế nào hắn cũng có mặt, nhưng có thể là 4, 5 giờ. Tên này rât lỏng lẻo về thời gian.

3. Trung thành: Đã là bạn thì luôn là bạn, không vì bất đồng ‎y’ kiến về việc gì đó mà đổi bạn thành thù, hay vì cả hai mê một cô hoặc giành một chức vị mà không chơi với nhau được nữa, hay bực nhau chuyện gì đó rồi đổi bạn thành thù.

Trung thành không có nghĩa là luôn luôn đồng ý. Trung thành là luôn luôn giữ vững liên hệ nền tảng, dù có bất đồng ý về chuyện gì đó.

Trung thành là không bỏ chạy khi đụng chuyện—khi bạn lên thì là bạn, khi bạn bị đời chối bỏ và ngyền rủa thì ta bỏ bạn. Thế thì ruồi chạy theo mật chứ bạn bè gì. Bạn có nghĩa là: Khi cả thế giới bỏ bạn, bạn có thể đến tựa vào vai mình.

Vợ chồng, thầy trò … cũng vậy.

4. Hiểu ‎ý nhau: Người reliable nghe rất kỹ và luôn cố để hiểu đúng ý người kia và làm đúng ý. Rất ít khi có chuyện “Ồ, em tưởng thế này.”

Người reliable chẳng cần nói nhiều. Nói một từ với nhau là đã hiểu trọn ý.

Nhưng làm sao thực hiện được nghệ thuật hiểu nhau này? Thưa, lắng nghe với sự nhậy cảm của cả con tim và khối óc.

4. Không có ngạc nhiên: Một người reliable không bao giờ làm người kia ngạc nhiên. “Ủa, sao anh làm kỳ vậy?” “Trời, tui đâu có ngờ anh làm việc này.”

Người thường đưa cho bạn ngạc nhiên là không reliable.

Người reliable, nếu có việc gì không rõ thì luôn luôn hỏi lại. Muốn làm gì cũng nói chuyện qua với nhau trước.

Nói chung, người reliable là người nếu làm việc chung với bạn, buôn bán chung với bạn, ngủ chung với bạn, thì bạn luôn cảm thấy an tâm, thấy được thêm đồng minh, thêm sức mạnh; có thể đi chơi xa, để công việc lại cho người này chăm sóc mà không mảy may lo lắng.

5. Không dễ tin việc nhảm. Người reliable là người nếu có người nói xấu với họ về bạn, bạn biết là họ sẽ không tin, vì họ hiểu bạn.

Nếu có người nói xấu bạn mà họ tin ngay thì họ không reliable.

6. Tha thứ: Người reliable dù biết bạn sai cũng không thay đồi tình cảm với bạn, sẽ tha thứ cho bạn, và sẽ vẫn thương yêu bạn.

Nếu đọc đến đây mà bạn vẫn chưa hiểu reliable là thế nào thì theo công thức này: Người reliable nhất với bạn mà bạn đã biết là mẹ bạn. Hãy theo đó mà sống reliable với mọi người.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Một Rổ Nước

Có 1 ông già sống ở 1 trang trại trên núi ở phía đông bang Kentucky với đứa cháu trai nhỏ của ông. Mỗi sáng, ông ta dậy sớm ngồi trong bếp và đọc kinh Koran.

Cháu trai của ông ấy muốn được như ông và cố gắng bắt chước ông ta mọi cách mà cậu có thể. Một ngày nọ, cậu hỏi “Ông ơi, cháu đã cố gắng đọc kinh Koran như ông nhưng cháu không hiểu nó, và những thứ cháu hiểu thì cháu lại quên ngay khi gấp sách lại. Đọc kinh Koran sẽ có ích gì ạ ?”

Ông ta lặng lẽ lấy than bỏ vào lò và quay lại đáp: “Hãy mang cái rổ than nay xuống dưới sông và mang lại cho ta một rổ nước” Cậu bé làm theo những gì ông nói nhưng nước chảy hết ra ngoài trước khi chú bé về đến nhà. Ông ta cười và nói: “Lần tới, cháu phải chạy nhanh hơn 1 chút” và ông sai cậu ra sông để thử lại với cái rổ .

Lần này, cậu bé chạy nhanh hơn, nhưng lại 1 lần nữa, rổ lại rỗng trước khi cậu chạy về nhà. Thở đứt hơi, cậu nói với ông rằng việc lấy nước bằng 1 cái rổ là không thể và cậu đi lấy 1 cái xô để thay thế.
Ông nói: “Ta không muốn 1 xô nước, ta muốn 1 rổ nước cơ. Cháu chỉ không đủ cố gắng thôi”. Và ông ấy đi ra cửa xem cậu ta thử lại.
Tới lúc này, cậu bé biết rằng đây là 1 việc bất khả thi nhưng cậu ấy muốn cho ông ấy thấy rằng dù mình chạy nhanh hết sức nhưng
nước sẽ chảy hết trước khi cậu về tới nhà.


.

Một lần nữa, cậu nhúng rổ xuống sông và chạy thật nhanh nhưng khi cậu tới được chỗ ông thì cái giỏ lai trống không
Hổn hển thở, cậu nói: “ông thấy không,thật vô dụng thôi!”
“Thế cháu nghĩ nó vô dụng sao?” Ông ta nói “nhìn cái giỏ kìa”
Cậu bé nhìn cái giỏ và nhận ra nó khác hẳn. Cái giỏ than đã chuyển từ cũ, dơ bẩn và bây giờ thì nó sạch từ trong tới ngoài

“Cháu à, đó là những gì xảy ra khi con đọc kinh Koran. Con có thể không hiểu hoặc nhớ tất cả mọi thứ, nhưng khi con đọc nó, con sẽ được thay đổi, bên trong lẫn bên ngoài.. Đó là việc của Chúa trong cuộc sống của chúng ta.”

Phạm Hoàng Hiệp dịch
Lớp 6 THCS Tân Lợi

.

A BASKET OF WATER

An old man lived on a farm in the mountains of eastern Kentucky with his young grandson. Each morning Grandpa was up early sitting at the kitchen table reading his Quran.

His grandson wanted to be just like him and tried to imitate him in every way he could. One day the grandson asked, “Baba, I try to read the Quran just like you but I don’t understand it, and what I do understand I forget as soon as I close the book. What good does reading the Quran do?”


The Grandfather quietly turned from putting coal in the stove and replied, “Take this coal basket down to the river and bring me back a basket of water.” The boy did as he was told, but all the water leaked out before he got back to the house. The grandfather laughed and said, “You’ll have to move a little faster next time,” and sent him back to the river with the basket to try again.

This time the boy ran faster, but again the basket was empty before he returned home. Out of breath, he told his grandfather that it was impossible to carry water in a basket, and he went to get a bucket instead.

The old man said, “I don’t want a bucket of water; I want a basket of water. You’re just not trying hard enough,” and he went out of the door to watch the boy try again.

At this point, the boy knew it was impossible, but he wanted to show his grandfather that even if he ran as fast as he could, the water would leak out before he got back to the house.

The boy again dipped the basket into river and ran hard, but when he reached his grandfather the basket was again empty.

Out of breath, he said, “See Baba, it’s useless!”

“So you think it is useless?” The old man said, “Look at the basket.”

The boy looked at the basket and for the first time realized that the basket was different. It had been transformed from a dirty old coal basket and was now clean, inside and out.

“Son, that’s what happens when you read the Quran. You might not understand or remember everything, but when you read it, you will be changed, inside and out. That is the work of God in our lives.”
.

Unknown Author

Chẳng có gì hiện hữu

Yamaoka Tesshu, lúc còn là một thiền sinh trẻ, thăm hết thiền sư này đến thiền sư nọ. Chàng đến thăm Dokuon ở chùa Shokoku.

Muốn chứng tỏ là mình đã ngộ, Yamaoka nói: “Tâm, Phật, và mọi sinh linh, rốt cuộc, đều không hiện hữu. Bản chất thật của mọi hiện tượng là không. Không có đạt đạo, không có ảo ảnh, không có thánh nhân, không có phàm phu. Không có bố thí, không có nhận bố thí.”

Dokuon, đang hồi hút thuốc yên lặng, chẳng nói gì. Đột nhiên Dokuon lấy ống píp tre đánh Yamaoka. Chàng thiền sinh tức giận.

“Nếu không có gì hiện hữu,” Dokuon thắc mắc, “vậy thì cơn giận này đến từ đâu?”
.

Bình:

• Chàng thiền sinh trẻ Yamaoka này về sau thành thầy của Thiên hoàng.

• Nói rằng mọi sự “có” tức là “chấp có”, nói rằng mọi sự “không có” là “chấp không”. Cả hai chấp đều là chấp.

Con đường Phật pháp là “trung đạo” (đường giữa)—có mà là không, không mà là có (sắc bất dị không, không bắc dị sắc—sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc).

Có đó mà mất đó. Đóa hoa hôm nay thấy đây, ngày mai có thể héo tàn rủ chết.

Con người của ta hôm qua đã chết rồi, và hôm nay đã là một người mới. Sinh tử sinh tử nối tiếp từng sát-na ngắn ngủi trong dòng sống. Trong bài Tái sinh trong nguồn sáng, chúng ta có nói: “Mỗi giây đồng hồ, từ 200 ngàn đến 3 triệu tế bào trong cơ thể chúng ta chết đi và được thay thế bằng tế bào mới. Sau một giây đồng hồ, ta đã là con người mới với ngần ấy tế bào mới. Đời ta là một chuỗi của vô lượng cuộc tái sinh như thế, cũng như một đường kẻ thẳng chỉ là một chuỗi các điểm chấm nằm sát nhau.”

Đó là chuyển dịch liên tục, thay đổi liên tục. Đó là “vô thường” (không cố định, không thường hằng).

• Cô Bình hôm qua rất là sừng sộ, dữ dằn. Nhưng có thể cô Bình đó đã chết rồi và cô Bình hôm nay là một cô Bình mới có thể đầy yêu thương và nhân ái. Cho nên đừng lấy hình ảnh cô Bình hôm qua để đối xử với cô Bình hôm nay.

Thái độ rộng mở như vậy gọi là “vô chấp”.

Vì thế gian “vô thường”, nên ta cần “vô chấp.”

• (Đối với mọi người phần bên trên là đủ, phần này chỉ thêm cho người rất vững về lý luận. Người chưa thật vững về lý luận thì không nên đọc, hoặc nếu đọc vì tò mò thì sau khi đọc xong hãy quên ngay đi).

Khi chúng ta nói “mọi sự đều là Không” (tạm thời dùng chữ “Không” viết hoa), thì Không đây không có nghĩ là không có, mà là bản tính thật của mọi sự, với cái tên là Không.

Thí dụ dễ hiểu nhất là nước và sóng. Đứng nhìn biển ta thấy sóng—sóng là hiện tượng vô thường, biến hiện từng giây đồng hồ, sóng sinh ra rồi sóng tan, để con sóng mới đến… Sóng thì phù du vô thường, nhưng nước thì luôn luôn ở đó. Sóng là “hiện tượng” vô thường (non-permanent phenomenon), nước là “bản tính” thường hằng (permanent essence).

Thí dụ cao hơn: Hãy tưởng tượng vũ trụ là một khoảng Không vĩ đại. Từ khoảng Không đó mọi thứ sinh ra – cây cỏ, trái đất, tinh tú, tôi, bạn…–và khi sự gì chết đi thì lại trở về với khoảng Không đó. Mọi sự có sống có chết là hiện tượng vô thường (non-permanent phenomenon). Khoảng Không chẳng bao giờ thay đổi đó là bản tính thường hằng (permanent essence).

Suy tưởng mức cao hơn: Tất cả mọi thứ trong vũ trụ mà ta có thể tưởng tượng được đều là phù du vô thường (non-permanent phenomenon) hay “tương đối” (relative), và đều được sinh ra từ một cái nền vĩ đại thường hằng (permanent essence) hay “tuyệt đối” (absolute)–cái thường hằng vĩ đại này là Không, là Thượng Đế, là Allah, là Tuyệt Đối.

Đó là liên hệ giữa tương đối (relative) và tuyệt đối (absolute) mà mọi triết thuyết đông tây đều cố gắng khai triển.

Mọi tương đối đều từ Tuyệt Đối mà ra và luôn luôn nằm trong Tuyệt Đối.

Nhà Phật nói rằng mọi sự là Không, từ Không mà đến, và lại trở về Không là như thế. Đây là chữ Không của Bát Nhã Tâm Kinh.

(Đổi chữ Không thành chữ Chúa hay Allah, thì thành câu nói Thiên chúa giáo hay Hồi giáo: Mọi sự từ Chúa/Allah mà đến, và lại trở về Chúa/Allah).

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Nothing Exists

Yamaoka Tesshu, as a young student of Zen, visited one master after another. He called upon Dokuon of Shokoku.

Desiring to show his attainment, he said: “The mind, Buddha, and sentient beings, after all, do not exist. The true nature of phenomena is emptiness. There is no realization, no delusion, no sage, no mediocrity. There is no giving and nothing to be received.”

Dokuon, who was smoking quietly, said nothing. Suddenly he whacked Yamaoka with his bamboo pipe. This made the youth quite angry.

“If nothing exists,” inquired Dokuon, “where did this anger come from?”

# 82

Ba điều căn bản cho ta và cho đất nước

Chào các bạn,

Đề tài này là ba điều căn bản cho chính bản thân mỗi người chúng ta, và cũng cho đất nước của ta—cho ta và cho đất nước ta cùng một lúc. Sở dĩ thế vì thường là điều gì tốt cho ta thì cũng tốt cho đất nước–đất nước chỉ là các cá nhân chúng ta tụ lại mà thành.

Nhưng tại sao chúng ta muốn nói đến “ta” và “đất nước” như cặp bài trùng? Thưa, vì đó là một điều tương đối hiển nhiên nhất để sống với cái “ta” không vị kỷ. Ta mà chỉ là “tôi” thì rất vị kỷ. Ta cho “cô hàng xóm” bên cạnh, cũng rất vị kỷ. Ta cho “gia đình” của ta, thì ít vị kỷ một tí hơn “tôi”, nhưng vẫn còn rất vị kỷ.

Ra khỏi gia đình mới bắt đầu hết vị kỷ–làng xóm, thành phố, đất nước. Cho các tập thể ngoài gia đình, “dân tộc” hay “đất nước” thường được sử dụng nhiều nhất để nói đến cái tâm phục vụ, cái tâm vị tha của con người. Nếu ta nói “nhân loại” thì càng tốt hơn cả “đất nước.” Nhưng “nhân loại” thường quá rộng và quá trửu tượng cho những người trung bình để họ có thể nắm được ‎ý tưởng, trong khi “đất nước” thì rất rõ ràng cho đa số người trên thế giới, nên ở đây ta dùng “đất nước.”

Cho cả ta và đất nước, có ba điều cản bản mỗi chúng ta cần thành thục:

1. Tính sáng tạo: Nếu không sáng tạo thì năm nay đang ngủ trong hốc đá như người ở động đá (caveman), một ngàn năm nữa con cháu vẫn ngủ trong hốc đá.

Tính sáng tạo đòi hỏi ta đặt câu hỏi thường xuyên: Tại sao không ngủ ngoài trời? Tại sao không làm cách nào để ngủ gần bờ biển thay vì trên núi? Tại sao ta không ngủ bất cứ nơi nào ta đang đứng ban đêm? Làm sao để thực hiện được các ‎ ý định đó? Tại sao cha ông ta làm điều này? Tại sao ta nên làm theo? Tại sao ta nên làm khác đi?…

Phân tích (hỏi) và phê phán là điều kiện tiên quyết để sáng tạo. Không hỏi và phê phán—chỉ biết gọi dạ bảo vâng ăn ngủ–thì không thể có sáng tạo.

2. Tính hành động: Hỏi 100 năm cũng chẳng được gì nếu ta không hành động. Hành động là… hành động. Nếu khu xóm ta nhiều rác quá, ngưng xả rác và bắt đầu nhặt rác, ít nhất là quãng ngay trước nhà mình.

Việc này không cần suy tính, chiến lược chiến thuật, vận động tuyên truyền. Cứ làm đi, ngay lúc này, làm được việc gì có thể làm lúc này. Hành động làm cho thế giới thay đổi. Hành động là sáng tạo ra điều mới, là biến tư tưởng sáng tạo thành hiện thực sáng tạo.

3. Kỹ năng làm việc nhóm (teamwork)

Đây là kỹ năng yếu nhất của người Việt. Nếu bỏ tất cả mọi sự và kể đến chỉ một điểm yếu của người Việt mà ta cho là đầu mối của tất cả mọi nghèo đói của dân ta, thì ta có thể nói đến “teamwork.”

Và vấn đề teamwork chúng ta đã có cơ hội nghiên cứu nó 35 năm liền trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Đây là một môi trường lý tưởng để nghiên cứu vấn đề rất rộng lớn này. Ở trong nước thì xưa nay vẫn không được tự do ăn nói và tổ chức như ở nước ngoài, cho nên nghiên cứu về teamwork không được tốt.

Ở nước ngoài, người Việt chúng ta có tự do muốn nói gì thì nói, muốn viết gì thì viết, muốn thành lập hội hè bè nhóm gì đó thì tha hồ. Và hậu quả 35 năm liền cho thấy, chúng ta chưởi bới nhau, đì nhau, hạch sách nhau, sát phạt nhau… thường xuyên, hàng ngày, đủ mọi cách… dù cho mọi người than phiền chán nản, dù cho mọi cố gắng để “đoàn kết”, dù cho người “trí thức” hay “chân tu” nhúng tay vào … dù cho… dù cho… Nếu tụ 10 người Việt ngồi lại làm việc, rất có khả năng lớn là trong một thời gian rất ngắn, 10 người này sẽ chia thành ba nhóm thanh toán nhau… tìm cách đì nhau… Dù cho ai có giải thích khuyên lơn thế nào cũng vô ích. Câu chuyện “teamwork” của người Việt ngày nay vẫn còn nóng hổi với các spam mail mà các bạn nhận hàng ngày, và nếu các bạn đã từng bỏ vài giây liếc qua các spam mail là thấy ngay các đấu đá. Chẳng có gi đáng ngạc nhiên.

Điều quan trọng là, mọi người trong cuộc đều có l‎ý đo để tin rằng họ hành động kiểu trẻ con và bệnh hoạn như vậy là đúng—vì hắn gian đối, vì hắn tự kiêu, vì hắn không biết teamwork, vì hắn quá cực đoan, vì hắn quá bảo thủ, vì hắn chẳng hiểu gì, vì hắn… vì hắn…

Các “vì hắn…” này luôn luôn đúng, thế mới chết. Ít nhất là đúng với người nói ra từ “vì hắn.” Và nếu bạn nghĩ là người đó nói sai, thì bạn chẳng hiểu gì hết. Không thể giả thiết là mọi người nói sai hết như vậy.

Thông thường là, người nói “vì hắn…” có một vài căn bản nào đó trên thực tế để quyết đoán điều “vì hắn…” này. Và chính vì vậy mà người nói “vì hắn” thường nói đúng một phần nào đó, dù chưa chắc đúng 100%; ít ra là thế trong đầu họ. Và vì vậy, người đó thực sự có vấn đề “với hắn” và “với cả team.”

Và chính vì “vì hắn” thường có căn bản chủ quan “đúng” như thế, cho nên người Việt chúng ta có vấn đề teamwork rất lớn, không thể giải quyết được.

Nếu so sánh tác phong teamwork của người Việt và người Mỹ (là nhóm dân mình có kinh nghiệm quan sát rất kỹ), thì người Mỹ cũng có hàng triệu cái “vì hắn…” chẳng khác ta một tí nào. Điểm khác biệt duy nhất là ta dùng “vì hắn” để đập vỡ team, thì người Mỹ tự động gạt tất cả các “vì hắn…” ra khỏi đầu khi ngồi vào team.

Khi ngồi vào team người Mỹ có một thái độ duy nhất: Cả team phải làm việc với nhau thế nào để làm lủng lưới địch thủ. Tất cả mọi tư tưởng khác về đồng đội sẽ tự động bị gạt ra ngoài suy tưởng—tên này hay tranh công, tên này hay giữ bóng trong chân hắn, tên này hay ba hoa, tên này hay kiêu căng… Tất cả các định giá này vẫn có đó, nhưng không ai nghĩ đến nó khi làm việc cho team. Nếu cần thì nhắc một câu “Cậu đừng giữ bóng trong chân lâu quá” hay “cậu đừng ham tranh công nhiều thế, có hại”—nhưng dù là gì, thì tất cả đều không ảnh hưởng đến mục tiêu duy nhất trong các nhóm viên là “làm việc chung để thắng.”

Trong một nhóm chỉ có một tư tưởng là đúng: “Làm việc chung để thắng.” Tất cả các chuyện khác–vì hắn… vì mày… vì anh…–không bao giờ được cho phép ảnh hưởng gì cả trong một team Mỹ. Một người có thể mắng người kia việc gì đó—stupid, tham lam, v.v…–và những lời mắng như vậy, đù đúng hay sai, thường bị gạt ra ngoài đầu ngay lập tức. (Nếu ấm ức, thì thắng xong có thể ra ngoài uống cà phê hỏi lại cho rõ. Nhưng khi đang làm việc team thì chẳng ai thắc mắc. Nếu có người thắc mắc, họ sẽ nhận được những cái nhìn ngạc nhiên tròn xoe. “Sao lại nói chuyện đó lúc này?”).

Đây là văn hóa sống, văn hóa team, ta không thể nói “Tại sao họ không giải quyết xong các ‘vì hắn’ trước khi ngồi vào team?” Câu trả lời là “không thể”, vì ta luôn luôn có hàng chục “vì hắn” cho mỗi người—và “không cần”, vì ta đã gạt bỏ hết mọi “vì hắn” như là không quan trọng khi ta làm việc nhóm. Hắn có kiêu căng hay lười biếng hay thích tranh công cũng chẳng ai quan tâm, miễn hắn chuyền bóng tốt cho anh em là được.

Chúng ta đã may mắn có 35 năm kinh nghiệm và quan sát để biết được vấn đề teamwork của chúng ta nằm ở đâu, mạnh đến thế nào, và thế nào để giải quyết. Và chúng ta phải giải quyết nó, nếu ta muốn đất nước ta ra khỏi cái nghèo hèn truyền kiếp.

Và cách giải quyết rất giản dị: “Khi ngồi vào team chỉ có một qui luật là đúng: Làm việc chung để thắng.” Tất cả mọi “tại vì… vì hắn… vì anh…” đều phải đặt bên ngoài đầu, và đều phải xem là sai khi nó chúng còn ở trong đầu.

Qui luật giản dị. Nhưng việc quan sát teamwork của chúng ta trong 35 năm qua cho biết đây là vấn đề khó khăn hàng đầu cho người Việt, không gì khó hơn. Chỉ vì ta… không làm thế được.

Nhưng dù được hay không thì vấn đề vẫn rất giản dị: Tương lai của mỗi người chúng ta và của đất nước nằm trong tay teamwork này.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Bài liên hệ: Làm việc nhóm: Bách chiến bách thắng, Teamwork: thăm lại.

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Nhìn lại “Giấc mơ Mỹ”

Giấc mơ Mỹ là gì?

The American Dream – Giấc mơ Mỹ là khái niệm lần đầu tiên được sử dụng bởi James Truslow Adams trong cuốn sách The Epic of America của ông viết năm 1931.

Giấc mơ Mỹ là “giấc mơ về một mảnh đất trong đó cuộc sống nên tốt hơn và giàu có hơn và đầy đủ hơn với tất cả mọi người, với cơ hội cho mỗi người tùy theo khả năng hoặc thành tích. Nó là một giấc mơ khó khăn đối với tầng lớp thượng lưu châu Âu để hiểu được một cách tương đối, và cũng nhiều người trong chúng ta tự cảm thấy mệt mỏi và nghi ngờ nó. Nó là không chỉ là một giấc mơ về chiếc ô tô và mức lương cao, mà là một giấc mơ về trật tự xã hội trong đó mỗi người đàn ông và phụ nữ có thể giành được vị trí cao nhất tùy theo khả năng bẩm sinh của họ, và được công nhận bởi những người khác vì chính con người họ, mặc cho hoàn cảnh ngẫu nhiên về mặt sinh trưởng hay vị trí.

Cội rễ của tư tưởng này không đâu khác là từ bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, trong đó có câu:

…tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, rằng họ được Tạo hóa ban cho những quyền bất di bất dịch, trong số đó là Sinh sống, Tự do và mưu cầu Hạnh phúc.

Tuy vậy theo thời gian khái niệm Giấc mơ Mỹ cũng đã có nhiều biến đổi cùng với lịch sử của nước Mỹ. Trong giai đoạn công nghiệp hóa thế kỉ 19 và 20, từ những ý nghĩa lớn lao ban đầu, Giấc mơ Mỹ đã dần dần biến đổi thành một thứ triết lý “get rich quick”, làm giàu nhanh . Với đa số người dân Mỹ, Giấc mơ Mỹ một sự theo đuổi giàu có về vật chất: có nhà, có xe và có việc. Người Mỹ ngày càng bị cuốn vào vòng xoáy: làm việc nhiều giờ hơn để có những chiếc ô-tô lớn hơn, những ngôi nhà đẹp hơn, mua sắm nhiều hơn. Có điều là họ ngày có ít thời gian hơn để hưởng thụ chính sự thịnh vượng mà mình tạo ra.

Một Giấc mơ Mỹ ngày càng xa vời

Nếu hiểu Giấc mơ Mỹ theo nghĩa hẹp là sự theo đuổi vật chất như trên thì các con số thống kê gần đây cho thấy Giấc mơ Mỹ đang ngày càng kém lung linh và xa vời hơn trong mắt người dân Mỹ.

Một nghiên cứu cho thấy mức độ bất bình đẳng giữa mức lương của CEO và công nhân Mỹ đang ngày càng tăng theo cấp số nhân.

Mức lương của một CEO ở Mỹ trong năm 1980 gấp 40 lần mức lương trung bình của một nhân viên cùng công ty, trong khi ngày nay con số đó là 500 lần.

Trong suốt 20 năm từ năm 1979 đến năm 2000, mức lương trung bình của một công nhân Mỹ chỉ tăng có 11.5 cents một giờ mỗi năm (tính theo giá $ năm 2001). Số nhân công không có bằng cấp lên tới 100 triệu, chiếm 72.1% lực lượng lao động và mức lương trung bình của những công nhân này vào cuối năm 2000 còn thấp hơn cả so với năm 1979.

Trái lại, mức lương và thưởng của các CEO Mỹ đang không ngừng tăng nhanh chóng. Từ năm 1989 đến năm 2000, lương tăng 79%. Trong khi nếu tính cả thưởng bao gồm các khoản như thưởng quản lý, bán cổ phiếu, thưởng cổ phiếu mới, thưởng đặc biệt vv..thì con số này là 342%. Tính theo giá trị thực thì mức lương thưởng trả cho một CEO Mỹ trung bình là 2.4 triệu $ năm 1989 và 10.7 triệu $ năm 2000.

Một vấn đề nữa là lương cơ bản giảm, tức là khoảng 10 triệu người dân Mỹ đang phải chịu mức lương này và phần lớn trong số đó là những bà mẹ nuôi con một mình hoặc đàn ông là trụ cột gia đình. Năm 1979 mức lương cơ bản là 6.55$, và năm 2003 chỉ còn 4.94$ một giờ, giảm 21.4%.

Lương cơ bản giảm là nguyên nhân khiến cho nhiều người phải làm hai việc hay làm nhiều giờ hơn để đảm bảo nuôi sống gia đình. Trong khi số giờ làm việc ở các nước châu Âu như Đức giảm từ 1764 giờ xuống 1562 giờ từ năm 1979 đến năm 1998, thì ở Mỹ con số này tăng từ 1905 lên 1966. Nhiều gia đình người chồng phải đi làm hai việc còn vợ cũng phải đi làm thêm bán thời gian, thậm chí hai việc khác nhau, để có đủ tiền trang trải chi phí.

Một cuộc trưng cầu dân ý của đại học Xavier đã cho thấy rằng giấc mơ Mỹ dường như đang ngày càng vượt quá tầm tay của đại đa số dân chúng Mỹ, và họ ngày càng mất niềm tin đạt được nó.

– 68% cho rằng thế hệ con cái họ sẽ khó khăn hơn để đạt được giấc mơ Mỹ. Trừ những người dân Mỹ da đen thì lại cho rằng thế hệ họ và con cháu họ thấy dễ dàng hơn.
– 58% nghĩ rằng giấc mơ Mỹ đang trên đà đi xuống
– Những người hiểu giấc mơ Mỹ theo nghĩa là sự đảm bảo về tài chính có xu hướng tiêu cực hơn là những người nhìn nhận giấc mơ Mỹ là cơ hội, tự do và gia đình.

Nhiều người Mỹ đã nhận ra mặt trái của sự theo đuổi một Giấc mơ Mỹ về vật chất. Họ mệt mỏi vì làm việc quá nhiều, rồi mua sắm quá nhiều, rồi lại tiếp tục phải đi làm nhiều hơn để trả các hóa đơn đang ngày càng chồng chất. Rõ ràng là xét về mặt bảo đảm về vật chất, nhiều người dân Mỹ đã không có được giấc mơ của mình mà thậm chí còn là nạn nhân của chính sự theo đuổi Giấc mơ đó. Khi đặt những mục tiêu vật chất làm trọng, họ cũng đã không có được hạnh phúc hay tự do như những ý nghĩa cao đẹp nhất mà Adams đã khởi xướng.

Đồng cảm với ông, Marianne Williamson đã nhấn mạnh lại điều cốt lõi nhất của Giấc mơ Mỹ:

Giấc mơ Mỹ, khi được hiểu đúng nhất, không phải là một thứ vật chất. Hơn thế, đó là một thực tế rằng chúng ta có quyền để mơ mọi thứ. Đó là quyền để kì vọng rằng những tài năng và khả năng và sự tận tụy của chúng ta – chứ không phải là thành kiến của người khác – sẽ quyết định bản chất cuộc sống mà chúng ta sống.

Nhìn lại Giấc mơ Mỹ để thấy rằng những giá trị nhân bản sẽ luôn trường tồn với thời gian. Ngược lại sự theo đuổi vật chất không phải là con đường đi tới hạnh phúc như nhiều người trong chúng ta vẫn tưởng. Một đất nước mạnh và giàu có như nước Mỹ không có nghĩa là người dân nước đó hạnh phúc và xã hội đó phát triển bền vững.

Một giấc mơ quốc gia – Giấc mơ Việt Nam

Không chỉ có Mỹ mới có một Giấc mơ quốc gia, một giấc mơ của đại đa số dân chúng, mà còn có Giấc mơ Châu Âu, Giấc mơ Úc, Giấc mơ Canada… Mỗi một dân tộc, dựa trên hoàn cảnh lịch sử và văn hóa của mình, đều có thể có một giấc mơ chung.

Còn bạn, bạn nghĩ thế nào về một Giấc mơ Việt Nam?

Liệu rằng khi chúng ta cùng chia sẻ những suy nghĩ về giấc mơ của cá nhân mình, chúng ta có thể có được một giấc mơ chung cho toàn dân tộc?

Hoàng Khánh Hòa

Tham khảo:
http://memory.loc.gov/learn/lessons/97/dream/thedream.html
http://www.americansc.org.uk/Online/American_Dream.htm
http://www.kyklosproductions.com/articles/wages.html
http://swampland.blogs.time.com/2010/03/15/the-american-dream-not-doing-so-well/