Category Archives: Thơ

Thủng thẳng với thơ… (phần 13)

 

    Việc tu vần đã khiến cho những câu thơ viết ra đạt được những tiêu chuẩn nhất thiết phải có của nó, về tính họa trong thơ, tính nhạc trong thơ, tính tư tưởng trong thơ…

    …Nói cách khác, hình ảnh, hình tượng, triết lý, trí tuệ đều làm nên bởi câu chữ, mà câu chữ sử dụng trong thơ là câu chữ của vần điệu.

    Sẽ có người nói rằng: Thơ tự do chính là thơ không vần! Đúng, nó không nằm trong qui luật vần thông thường, nó tuân theo qui luật vần ẩn, vần kín kín đáo nằm trong nhịp điệu, trong các thanh bằng chắc và chấm phẩy. Đó là sự tự do trong giới hạn thơ, chứ tuyệt nhiên không phải tự do là muốn lắp ghép từ ngữ thế nào cũng được…

Những Người Đãi vàng

Thực ra trong cách nói văn vẻ này tôi không chỉ dừng lại ở việc chọn chữ. Mà phải nói khái quát một quá trình chọn: Hình tượng, hình ảnh, câu, chữ, vần điệu…

Quá trình chọn được tiến hành như thế nào?

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 13)

Cá hồi ngược về nguồn để đẻ trứng

 

Chào các bạn,

Dưới đây là video về cảnh đàn cá hồi đỏ đang chạy ngược dòng để đẻ trứng.

Cá hồi là loại cá sinh ra ở các suối nước ngọt, sau đó sẽ di cư theo sông ra sống ở biển. Sau khoảng từ 1 tới 5 năm trưởng thành ở biển, salmon sẽ quay lại vùng suối nơi chúng được sinh ra để đẻ trứng.

Đây là một cuộc trở về gai góc vì phải lội ngược nước đi lên vùng cao. Nhiều cá hồi sẽ chết trên chuyến đi ngược dòng vì kiệt sức, và vì bị người hay gấu bắt. Và những con cá mẹ đến được đầu nguồn, sẽ đẻ trứng, và chết sau khi đẻ.

Một chuyến đi về nguồn như thế có thể dài đến 1400 km và lên cao tới 2,100 m đẻ trứng.

Nhà thơ Trần Mộng Tú đã viết “Mùa Thu, Tình Yêu và Cá Hồi” dưới đây.

Chúc các bạn một ngày về nguồn 🙂

Hiển

Mùa Thu, Tình Yêu và Cá Hồi

Mùa thu đã đến đây
con suối đẹp nhất làng đang ngập đầy thuyền lá.

Sao anh không về cùng cá Hồi
để em được làm những chiếc vẩy lấp lánh
em sẽ mang thai
em sẽ sanh những chiếc trứng màu hồng ở trong dòng suối cũ
như con cá hồi chết sau những lần sanh nở
những chiếc vẩy sẽ không còn nữa
trên lưng anh
em sẽ chết cùng với mùa thu.

Continue reading Cá hồi ngược về nguồn để đẻ trứng

Thủng thẳng với thơ… (phần 12)

    Tình trạng thơ không có tứ hiện rất phổ biến và nhiều người mắc phải. Những bài thơ này thường kể lể dài dòng, miên man, vấn đề tung ra vung vãi, hình ảnh và hình tượng chạy xa chủ đề. Nói tóm lại là người đọc chẳng hiểu nhà thơ định nói gì…

    Muốn làm thơ có tứ, thì việc tập dượt ban đầu phải như người học sinh làm luận, cả trong tư duy và khi viết, luôn luôn tự hỏi mình: Câu này có phục vụ cho điều mình định nói không. Lúc đầu, phương pháp sáng tác này có thể hơi lố bịch, thêm cái khô khan, cứng ngắc và không có vẻ gì là công việc của một nghệ sĩ. Nhưng từ những lao động cơ bản này công việc làm thơ dần dà trở nên vững chắc con đường thành tựu. Ví như người diễn viên chèo vất vả khi học những làn điệu cổ trước khi cập nhật những làn điệu cách tân.

Xương Cốt Của Thơ

Thật thú vị khi nói về xương cốt của thơ. Xương cốt của thơ chính là cái tứ, bài thơ cần thiết phải có xương cốt, cần phải có tứ.

Nên định nghĩa thế nào là tứ thơ?

Trước hết hãy nói công việc mở đầu cho một bài thơ. Đối với một bài thơ tôi thường bắt đầu bằng hai phương pháp khác.

1. Đã thuộc rất mạch lạc vấn đề mình sẽ viết, thuộc đến nỗi – như tôi đã nói ở trên – chỉ việc đặt bút xuống và mặc cho dòng thơ cuốn mình đi, cuốn cho đến chữ cuối cùng dừng lại, là bài thơ đã kết thúc. Chẳng những tôi thuộc lòng nội dung mà còn thuộc lòng cả hình thức biểu hiện. Đối với phương pháp này tôi có thể trả lời một cách dũng cảm: Mình viết cái gì và đã viết như thế nào.

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 12)

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền” – Mặt ai ?

 
Góp thêm một cách hiểu câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử

Dương Hiền Nga

Trong thời gian qua, đã có rất nhiều bài viết trao đổi về câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” trên mặt báo. Để trả lời câu hỏi “mặt chữ điền” là gương mặt của ai? Mặt cô gái hay chàng trai, cho đến này dường như vẫn chưa thật ngã ngũ một cách thỏa đáng.

Theo tôi, nên đặt câu thơ và chỉnh thể nghệ thuật Đây thôn Vĩ Dạ để xem xét sẽ thấy đây là câu thơ tả cảnh thôn Vĩ chứ không phải tả mặt người.

Continue reading “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” – Mặt ai ?

Tinh thần yêu nước trong thơ Nguyễn Khắc Nhu

 

Tượng đài cụ Nguyễn Khắc Nhu tại quê hương Yên Dũng, Bắc Giang
Ông sinh năm 1881, tại làng Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Xuất thân trong một gia đình Nho học, thuở nhỏ ông theo học khoa cử, năm 1912 đi thi Hương đứng đầu cả xứ Bắc Kỳ nên đương thời gọi là Đầu Xứ Nhu, gọi tắt là Xứ Nhu. Ông không chỉ là một lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân đảng, với chức vụ trưởng ban lập pháp, người có vai trò quan trọng trong đường lối đấu tranh vũ trang của Việt Nam Quốc Dân đảng, mà còn là một nhà thơ chân chính. Mỗi trang, mỗi dòng như chính cuộc đời bi hùng của ông, chứa chan tinh thần yêu nước, thương nòi.

Là một nhà nho chân chính, hết lòng yêu quê hương đất nước, ông chủ trương đấu tranh vũ trang chống thực dân cướp nước dành chính quyền, vì vậy thơ ông khác hẳn với những nhà nho đương thời: Đó là hơi thở của dân gian, mang cái hồn trí tuệ và tầm cao thời đại. Nơi ông sinh ra là cái nôi của nhiều làn điệu dân ca và văn học dân gian. Ngay từ nhỏ ông đã từng theo một phương chèo đi khắp miền Bắc Giang, Bắc Ninh, Lạng Sơn. Những làn điệu dân ca đầy chất trí tuệ, nhưng không kém phần lạc quan thấm vào ông từ lúc nào. Chí lớn, hoài bão của ông được thể hiện rõ nét trong thơ. Đây là câu đối treo trên tường lớp học, cùng bản đồ thế giới:

Continue reading Tinh thần yêu nước trong thơ Nguyễn Khắc Nhu

Thủng thẳng với thơ… (phần 11)

    Cái tưởng tượng trong thơ ảo nhưng mà thực không nhưng mà có, vô lý nhưng mà hữu lý…

    Trí tưởng tượng có mức độ thượng và hạ cách của nó. Hạ cách của trí tưởng tượng diễn ra dưới dạng liên tưởng, suy tưởng. Dạng này thường nặng nề về hình thức, nêu không biểu đạt một cách tinh tế thì dễ sa vào sự gán ghép khiên cưỡng – gán ghép cho từng hình ảnh, hình tượng, gán ghép diễn ra trong từng câu thơ. Thượng cách của trí tưởng tượng là sự bay bổng của một tâm hồn thơ, một trí tuệ thơ, trong từng bài hoặc từng khổ thơ. Người đọc chỉ cảm thấy một cái gì say sưa, một cái gì cao hơn cuộc sống thực nhưng vẫn là cuộc sống, một cái gì rất thơ. Thượng cách của trí tưởng tượng sử dụng rất nhuyễn, rất ảo, rất lôgích một chuỗi hình ảnh, hình tượng xảy ra trong cuộc đời đã được thơ hóa bằng trí tuệ nhà thơ.

Từ Trời Đất Đến Trăng sao…

Phải đến thế kỷ thứ 21, may ra bước chân của con người mới thực sự đặt lên mặt trăng, trong khoảng không vũ trụ mới bay lượn những con tàu…Nhưng từ vạn năm nay, trí tưởng tượng đã đưa con người tới đó. Xã hội vũ trụ trong trí tưởng tượng của con người cũng hệt như xã hội con người vậy, những thiên thần, thiên tướng, những tiên nữ, tiên đồng…Chẳng những thế mà còn có Giáng Kiều Tú Uyên bích câu kỳ ngộ, lại có thằng Cuội ngồi gốc cây đa, để trâu ăn lúa gọi cha hời hời…Với trí tưởng tượng, con người như có cánh bay, sao Hỏa sao Kim đều cũng hóa nên gần.

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 11)

Gọi bạn tình

 

Thơ  Trần Vân Hạc– Lời bình của Lâm Thị Thanh Trúc

 
Dậy đi em
Dậy đi em
Anh hồi hộp nâng khèn
Trăng vàng sóng sánh
Dặt dìu dòng suối âm thanh
Nhà sàn đợi chờ thao thức
Đầu khèn
chạm vào hò hẹn
Sao hôm đậu xuống mái nhà
Đêm trở mình da diết nhớ sàn hoa
Đầu khèn
chạm vào đợi chờ
Sao mai lung linh cửa sổ
Hội hái hoa ban nọong ơi
Trái tim chung đôi e ấp lời bầy tỏ
Đầu khèn
chạm vào mong nhớ
Trăng neo khau cút bâng khuâng
Trinh trắng hoa ban
Thắm tình hoa mạ
Cầu thang rạo rực rung rinh
Em như nàng tiên mùa xuân
Bước ra từ câu khắp

Continue reading Gọi bạn tình

Thủng thẳng với thơ… (phần 10)

 

    … lục bát… và song thất lục bát…

    Vì sao lại phải nghiên cứu phép làm thơ truyền thống ? Phải nghiên cứu phép làm thơ truyền thống, bởi đấy là hồn cốt của mọi phép làm thơ khác. Cũng ví như đất vậy, đất làng ta trồng ra hạt lúa làng ta…

    Nắm được vững chắc các phép làm thơ dân tộc thì việc sử dụng các thể thơ mới không còn là điều khó khăn nữa. Bởi lẽ, tất cả các thể thơ mới đều tôn trọng và mở rộng các cách hiệp vận, cách gieo nhạc điệu, các đồng hưởng, điệp từ và tiểu đối như ở các thể thơ dân tộc. Không có sự kế thừa ấy quyết không phải là thơ Việt.

Luận Về Những Chiếc Áo Của Thơ

Tôi có ý định viết về phép làm thơ lục bát của Nguyễn Du và phép làm thơ song thất lục bát của Đoàn Thị Điểm, nhưng ý định ấy chưa thực hiện được, vì tôi cứ có ý chờ những chuyên gia nghiên cứu về luật thơ viết những nguyên lý đó. Tôi đã nói điều này với Thầy tôi và yêu cầu Người viết. Nhưng cho đến nay Người cũng chỉ mới hứa sẽ bắt đầu.

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 10)

Thủng thẳng với thơ… (phần 9)

    Sự cô đọng là cốt lõi của thành công. Do đó sự tự loại bỏ những hình ành, hình tượng không cần thiết, cắt những ý, những câu không thuộc về chủ đề là một “đau lòng” đáng có. Chính cái đó đã quyết định sự thành công.

    Ngày xưa, các bài thơ ngắn được qui định bởi niêm luật rất nghiêm ngặt, sự gò bó này có làm khó dễ cho nội dung tư tưởng, song lại đòi hỏi người làm thơ phải có nhiều công phu và muốn có thơ hay người viết đã trả đúng giá cho nó. Biết bao nhiêu bài tứ tuyệt, bát cú, đã thành bất tử chỉ với 4 câu hay 8 câu. Ngày nay, các bài thơ gọi là ngắn đã không còn là ngắn nữa, 50 câu như tôi nói cũng được coi là ngắn, nhưng dưới 100 câu cũng chưa phải thơ dài. Do sự mở rộng ước lệ dài ngắn này, đã khiến tính cô đọng của thơ có bị giảm sút, nguyên nhân chính là do người viết nhiều tham lam. Cái tinh túy của vàng, bạc lẫn quá nhiều với quặng và sỏi đá. Người đọc phải thanh lọc rất nhiều mới được những hạt bạc, hạt vàng.

Loại Thể Những Khúc Ca

Trong quá trình lao động, tôi đã cố gằng sử dụng gần hết các thể loại có thể sử dụng được để biểu đạt thơ. Tuy vậy, vẫn không đúc rút được kinh ngiệm gì đáng kể, chưa định được qui luật đã là sự nhảm nhí, định một khuôn mẫu cho thơ mà hổ thẹn ư?

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 9)

Cùng Trần Vân Hạc Lên Tây Bắc Hái Thơ

 

Nguyễn nguyên bảy đò đưa thơ Trần Vân Hạc

1/ Tôi thực không biết mình lên Tây Bắc trước hay sau Trần Vân Hạc, và cũng không biết Trần Vân Hạc lên và ở lại Tây Bắc vì duyên cớ gì, còn tôi, vì bốn câu thơ hoành tráng, thúc gọi trí trai của Chế Lan Viên, mà mon men lên Tây Bắc /Tây Bắc ư? Có gì riêng Tây bắc/ Khi lòng ta đã hóa những con tầu/ Khi Tổ Quốc bốn bề lên tiếng hát / Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ còn đâu / ( 4 câu thơ này tôi thuộc trong trí nhớ, nếu sai với nguyên gốc xin bạn đọc thể tất).

Lần thứ nhất, khoảng 1963-64, lúc ấy, tuổi sức hai mươi, hùng hổ tưởng mình chân đi sóng gió, vậy mà mới qua vài cua vùng biên Tây Bắc, từ Yên Bái đi Nghĩa Lộ, trên xe hơi chở khách, vào đến Nghĩa Lộ thì tôi ơi đã say xe “mướt cò bợ” và đổ gục tại Nghĩa Lộ, được nàng tiên người Kinh Tây Bắc, quen dọc đường, đánh gió cháy lưng, cò bợ tôi mới oai hùng trở lại theo nữ tiên ra suối rửa mặt tắm hôi. Và, một kỳ lạ của lần đẩu lên Tây Bắc ấy, đã ùa vào tâm khảm tôi, mà sau này Trần Vân Hạc gọi là Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc.

Continue reading Cùng Trần Vân Hạc Lên Tây Bắc Hái Thơ

Thủng thẳng với thơ… (phần 8)

    Tôi lắng nghe nhịp đập trái tim mình từ mọi phía khác nhau của cuộc đời, sự chỉ huy không phải là bộ óc, mà là trái tim, cho nên những phấn khích nội dung nơi trái tim liền tức khắc thành thơ, những vần thơ ấy nhiều khi mâu thuẫn với chính tư duy của mình. Vì sao không có sự thống nhất giữa trái tim và khối óc mà tôi vẫn làm? Việc hôm nay chớ để ngày mai, rung cảm trái tim có lập lại bao giờ…

    Cần thiết phải có một tư duy không mệt mỏi, một thái độ lao động nghiêm ngặt, chuyên cần. Tìm đủ mọi cách rèn luyện cho bằng được dòng tư duy thơ, chuyển hóa tất cả cái gì mắt gặp và khi tay cầm bút thì ghi lấy những rung cảm trái tim. Phương pháp ấy đã khiến cho mở rộng rất nhiều trong cách biểu đạt và thường là những bất ngờ mới lớn làm sao, trước khi cầm bút, ý nghĩ về bài thơ còn chưa chín, thế mà cầm đến bút, cứ thế viết, và thực sung sướng, bài thơ đã đi xa hơn trí tưởng tượng rất nhiều.

Thơ Là Thơ

Trong tập viết nhỏ này đã hai lần tôi nhắc đến một luận đề nghe mơ hồ: Thơ là thơ…Cứ làm như là thiếu nữ phải là con gái vậy. Nhưng quả thực sự mơ hồ ấy đã trở thành một phổ biến trong hiện tình văn học. Thơ phải là thơ! Đưa ra luận điểm này, vì hiện đang có nhiều du nhập vào thơ, làm biến chất thơ, không phải là sự làm hiện đại nó, làm thời trang nó, mà chuyển hóa nó từ vị này trí khác, từ hướng này sang phương khác, từ khuôn này sang mẫu khác. Quá trình biến chất ấy đã xảy ra trên cả hai mặt nội dung và hình thức.

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 8)

Thủng thẳng với thơ

    Ngơ ngác quá tôi gào cùng trời đất: Đâu gian tà? Đâu chính nghĩa? Đâu trong sạch? Đâu thối tha? Ai ngụy trang? Ai mộc mạc? Ai kẻ cướp? Ai bà già? Hay chân lý chỉ là danh từ chưa bao giờ có thật?

    Tôi đi giữa thác người như đi trên sa mạc, chới với đuổi theo một cái gì ảo ảnh tít mù xa, chân lý nơi đâu? Bên Tàu, bên Nhật hay bên Nga? Mà nước Mỹ nữ Thần Tự Do vẫn hồng tươi sắc mặt?

    Ôi mỉa mai, viển vông và huyền hoặc. Họng súng đen ngòm, hay lí lịch ông cha? Lý tưởng vữa tan khi ánh sáng chói lòa và chính nghĩa đã thành khuôn lệch lạc.

Tung Cánh Đại Bàng

Đối với người cầm bút đề tài nào là đề tài nên né tránh ?

Người cầm bút chân chính không thể né tránh bất kỳ đề tài nào. Nhưng vì sao lại phải đặt câu hỏi này? Có phải chủ thể của câu hỏi, là  bây giờ – thời đại chính trị của chúng ta thì cái khó, cái nên né tránh mới xảy ra đối với người cầm bút? Câu đáp là Không. Thời đại nào cũng có những cái đẹp, cái khó của nó và không cái khó, cái đẹp của thời  nào giống thời nào. Ai dám bảo thời Nguyễn Du dễ viết hơn bây giờ, và ngược lại thời bây giờ khó viết hơn thời Nguyễn Du?

Continue reading Thủng thẳng với thơ

Ai Mua Hồ Tây Ra Mua

(Đồng cảm cùng nhà thơ Hoàng Xuân Họa qua bài thơ: Ai Mua Hồ Tây Ra Mua)

 

AI MUA HỒ TÂY RA MUA

Ai mua đi hộ Hồ Tây
Đem xa ra khỏi chỗ này cho xong
Khỏi tôi rối bối bòng bong
Khỏi nhìn sóng cộm, khỏi mong cháy hồn
Khỏi qua đây để đếm buồn
Khỏi chuông Trấn Quốc thỉnh xuông mỗi chiều
Đầy hồ sao sáng bao nhiêu
Bỏ tôi đứng đực ước điều hư không
Đã từng một giải bờ mong
Đã từng chộn rộn sóng lòng dâng chao
Quanh đi bước thấp bước cao
Quành lại gió ném ào ào lá khô
Liễu buông mành liễu vu vơ
Mộng du nện gót đến trơ khấc mình

Hoàng Xuân Họa (Trót một thời yêu II – Nhà xuất bản Hội nhà văn 2006)

Continue reading Ai Mua Hồ Tây Ra Mua

Thủng thẳng với thơ… (phần 6)

 

    Vấn đề được tôi quan tâm nhất trong khi làm thơ là cái đạo mà thuyền thơ chở. Thuyền thơ của mỗi thế hệ nhà thơ phải chở cái đạo của thời đại mình. Cái đạo nào? Cái đạo mà thời đại quan tâm nhất. Trong phạm vi một xứ xở thì đấy là cái đạo mà đồng bào xứ xở quan tâm. Cái đạo khái quát được xã hội mà lại rất riêng – riêng cho từng số phận con người. Nguyễn Du đã đau khổ với mình về thân phận con người. Chẳng lẽ chúng ta ngày nay lại không đau khổ về thân phận con người của thời đại chúng ta?  Xã hội thời Kiều có vấn đề của thời Kiều, xã hội thời ta có vấn đề của thời ta . Thời Kiều ở trong truyện Kiều, lẽ nào thời ta không hiện diện trong thơ ta?

Bạn đường thân yêu

Không người làm thơ nào lại không có những bạn đường thân yêu của mình. Người có  Puskin, người có Erenbua, người có Aragông, người có Lý Bạch, Đỗ Phủ. Tôi có nhiều người bạn, nhưng người bạn đường thân yêu nhất của tôi là Truyện Kiều.

Vì sao lại có sự lựa chọn lạ lùng ấy?

Continue reading Thủng thẳng với thơ… (phần 6)

Khi sông Cái mỉm cười

Nguyễn Anh Tuấn
Đọc trường ca “Sông Cái Mỉm Cười” của Nguyễn Nguyên Bảy

 
Một chiều mưa phùn gió bấc, tôi qua cầu Long Biên, dừng xe ngắm nhìn dòng sông Hồng trơ cạn… Đây là dòng sông đỏ lựng phù sa mà biết bao nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, hoạ sĩ, nhà điện ảnh… đã tìm thấy nguồn cảm hứng nghệ thuật vô tận và mãnh liệt của mình! Và tôi bỗng nghĩ đến cái Dự án “Thành phố Sông Hồng”- một công cuộc chỉnh trang lại đê điều sông Hồng lớn nhất trong lịch sử kể từ khi Hà Nội và châu thổ sông Hồng có đê ngăn lũ; và ít ai biết được rằng: Dự án đó lại xuất phát từ tình yêu sông Hồng và ý tưởng của một hoạ sĩ- hoạ sĩ Vũ Văn Thơ…

Nhưng Dự án này khi triển khai, với nhiều nhà khoa học có lương tâm thì lại nổi cộm khá nhiều vấn đề hệ trọng. Nhà sử học Lê Văn Lan đã lên tiếng cảnh báo: Dự án trên“không hiểu vô tình hay là hữu tình…về mặt lịch sử, văn hoá gắn liền với Thủ đô Hà Nội thì chẳng thấy ai đề cập đến!” Tệ hơn, như GS Lê Văn Lan đã vạch ra: Dự án còn định “cấy” một khu đô thị Hàn Quốc vào, “ như thế khác nào đánh mất mình và Hà Nội sẽ không còn nữa!” Và ông đã đặt câu hỏi hộ nhiều người: “ Hôm nay đây,chúng ta đều biết nước sông Hồng đang dần bị cạn kiệt, thì lịch sử sông Hồng,là cội nguồn của nhiều dòng đời liệu có bị cạn theo?  Trách nhiệm này thế hệ của chúng ta có phải trả lời trước lịch sử hay không? ”(Dòng chảy sông Hồng sẽ về đâu?- VN Trẻ )…Trong những ý nghĩ miên man như thế, tôi đã nhớ đến trường ca “Sông Cái mỉm cười” của nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy – một người Hà Nội đau đáu nhớ thương Hà Nội đang sống xa Hà Nội hàng ngàn cây số…

1. Không phải ngẫu nhiên mà NNB dùng trường ca “Sông Cái Mỉm Cười” để kết cho phần thơ “Kinh thành Cổ tích”*. Và trong thế giới của Kinh thành Cổ tích, Sông Cái đương nhiên cũng phải là con sông Cổ tích!

Continue reading Khi sông Cái mỉm cười