Nhạc Flamenco của Tây Ban Nha có một sắc thái rất đặc biệt, từ âm thanh đến phong cách trình diễn. Nói đến Flamenco là nói đến guitar, hát và vũ. Nó có vẻ như là một loại nhạc để người ta đàn, hát và vũ quanh khóm lửa, như là nhạc của những người Gypsy lang thang.
Nhạc Flamenco, về melodie thường đi từ cao xuống thấp và xuống từ từ từng nốt một, la sol fa mi…, có âm hưởng nhac Ả Rập. Trên thực tế, vũ Flamenco có một phần nào múa bụng của người Ả Rập. Cách đánh đàn guitar cũng thoải mái hơn nhạc cổ điển, hòa âm giản dị, dùng vận tốc, và nhịp điệu rõ ràng để vũ.
Ngoài cây guitar, người ta dùng tay hay chân để tạo nhịp, hầu như chẳng cần nhạc cụ nào khác. Đây đúng là nhạc cho những cách đồng hay những đường phố.
Dưới đây chúng ta có một số video vũ Flamenco.
_ Video đầu tiên do Ramon Ruiz chơi guitar và Anita la Maltesa vũ. Cả hai dạy Flamenco ở Luân Đôn.
_ Video 2, Maria Pages trình diễn Fire Dance. Đây là vũ Flamenco, nhưng trình diễn trong chương trình Riverdance, là vũ đoàn Ireland nỗi tiếng. Và Fire Dance là tên Riverdance đặt cho màn vũ này, chứ không phải tên của một vũ điệu.
— Video 3, Joaquín Cortés, nam vũ công nỗi tiếng nhất của Tây Ban Nha ngày nay.
— Video 4, Joanquín Cortés và nữ tài tử Jennifer Lopez.
Mời các bạn thưởng thức cuối tuần. 🙂
Flamenco song, dance and guitar. Guitar by Ramon Ruiz, dance by Anita la Maltesa. London based artists and teachers.
Khmer rock là một phối hợp hấp dẫn giữa âm thanh và nhạc cụ truyền thống của Khmer với âm thanh, nhịp điệu, và khí cụ tân thời. Theo Saraj Cuddon của BBC thì Khmer rock là phối hợp giữa nhạc rock Mỹ và nhạc cụ Khmer thời thập niên 1960’s khi quân đội Mỹ có mặt ở Kampuchia trong thời chiến tranh. Loại nhạc này phát triển được 10 năm, đến thời Khmer đỏ (1975-1979) thì nó bị tận diệt cùng với các nhạc sĩ và ca sĩ thời đó. Ngày nay có sống lại với đầy đủ sắc thái riêng.
Bên cạnh các ban nhạc rock ở Kampuchia, tại Los Angeles (California, Mỹ) có ban nhạc Dengue Fever mang Khmer Rock đến khán giả quốc tế.
Tháng 11 năm 2006, trong vòng đi Á châu của mình, mình có ghé qua Kampuchia (và Sài Gòn & Hà Nội). Thăm bảo tàng viện diệt chủng Pol Pot, thực sự là buồn. Các bạn à, cái tâm con người mong manh lắm, từ thiên thần ta thành ác quỉ chỉ một bước, và có thể là chỉ trong phút giây. Cho nên ta phải canh giữ tâm mình kỹ lưỡng, như người chăn trâu trong thập nhị ngưu đồ.
Xem các videos Khmer rock ngày nay, chúng ta có thể cảm nhận được lòng tự hào của các anh em Khmer của chúng ta. Dưới đây, hai videos đầu là của Dengue Fever ở Los Angeles, hai video sau là của hai nhóm rock ở Kampuchia.
Mời các bạn thưởng thức.
Hoành
.
Dengue Fever — Seeing hands
.
Dengue Fever — Sleeping Walking Through The Mekong
Cho đến năm 2007, CPDRC ở Cebu, Phi Luật Tân, là nhà tù với những tù nhân nguy hiểm nhất nước Phi. Hơn hai phần ba tù nhân ở CPDRC có án giết người, cướp, hiếp dâm hay ma túy.
Nhờ lớp vũ 4 tiếng một ngày, ngày nay các tù nhân CPDRC thành đội vũ nhà tù nỗi tiếng nhất thế giới. Và các tù nhân trở thành vui vẻ hiền từ.
Mỗi thứ bảy cuối tháng, đội vũ này biểu diễn hai lần trước sân Tòa Thống Đốc Cebu cho mọi người xem, không tính tiền 🙂
Chương trình vũ này là sáng kiến của Quản Đốc nhà tù Byron F. Garcia, được bà chị là thống đốc bang Cebu cho chức quản đốc. Nhiệm vụ của quản đốc Garcia là làm sạch sẽ nhà tù, dù là ông chẳng có tí kinh nghiệm nào với trại tù hay tù nhân cả. Việc trước tiên ông làm là tách riêng các đại gia xếp xòng các bằng đảng trong tù, không cho ở chung với đại đa số tù nhân. Sau đó ông quan sát tù nhân và cảm thấy là họ thích nhảy, thế là có lớp nhảy cho tất cả hơn 1.500 tù nhân, 4 tiếng một ngày.
Ngày nay đoàn vũ này có đến mấy mươi triệu người trên thế giới xem trên Youtube.
Mong là các nhà tù Việt Nam cũng sẽ có những sáng kiến tương tự.
Sau đây mời các bạn thưởng thức các màn vũ của Các Tù Nhân CPDRC. Video cuối cùng là phim tài liệu nói về chương trình này. 🙂
.
Thriller (Michael Jackson)
.
Do the Hustle
.
Jump
.
Black Eyed Peas
.
Soulja Boys
.
Đây là phim tài liệu nói về đoàn vũ Tù Nhân CPDRC.
.
Các links sau đây là các màn trình diễn của tù nhân CPDRC, nhưng phải xem trực tiếp trên Youtube. Mời các bạn click vào link.
Simon & Garfunkel là đôi song ca – nhạc sĩ người Mỹ lừng danh của ban nhạc Paul Simon và Art Garfunkel. Simon and Garfunkel, thành danh vào thập niên 60 như những người tiên phong trong việc khiến folk rock được vinh danh và trở thành loại hình âm nhạc được yêu mến qua những bản nhạc rock đậm đà chất dân ca của họ.
Paul Frederic Simon sinh 13 tháng 10, 1941 tại Newark, New Jersey. Art Garfunke sinh ngày 5 – 11- 194 tại Forest Hills, thành phố New York. Paul Simon & Art Garfunke đều lớn lên tại Kew Gardens, Queens, New York. Là bạn học thời trung học, ngay từ lớp 6, họ đã khám phá rằng họ có thể hát chung rất hay. cả hai bắt đầu đi hát từ năm 1955 cho các ban nhạc; đến năm 1957 họ đã thành các ngôi sao ca hát địa phương. Bản nhạc thành công đầu tiên do họ sáng tác là “Hey, Schoolgirl” và sau đó họ được mời thu âm cho Big Records. Tốt nghiệp trung học họ chia tay nhau.
Thời gian sau đó, Paul viết nhạc, trong khi Art vào đại học ngành Toán và trong thời kỳ học đại học có thu âm cho Octavia Records. Art Garfunkel có một bằng Thạc sĩ Toán học. Năm 1963, Paul and Art cùng thu âm cho CBS Records ở New York dưới tên Simon & Garfunkel. Những bản nhạc nổi tiếng của họ phần lớn do Simon viết bao gồm những ca khúc top hits như The Sound of Silence, The Boxer, Mrs. Robinson và Bridge Over Troubled Water. Bài hát “Mrs. Robinson’” nhạc chính trong bộ phim thành công vang dội The Graduate (1967) đã đem đến danh vọng cho họ như những ngôi sao quốc tế.
Bộ đôi nổi tiếng về nghệ thuật hòa âm và biểu diễn rất hợp ý với nhau. Chất giọng vocal thiên phú của Art trong những bài “Scarborough Fair/Canticle” and “For Emily, Wherever I May Find Her” hòa quyện với các giai điệu và lời ca đầy cảm xúc, tha thiết và mượt mà, cùng với nghệ thuật đối âm của Simon đã lôi cuốn bao nhiêu fan hâm mộ.
Tuy nhiên đến năm 1969, cùng với những chuyến lưu diễn liên miên, trở về mệt mỏi và căng thẳng, mối quan hệ của bộ đôi đã không còn đẹp như xưa vì những bất đồng nghệ thuật. Art bắt đầu say mê điện ảnh.
Năm 1970, khi đang ở đỉnh cao của sự nổi tiếng, nhóm nhạc tan rã. Art tiếp tục làm phim trong khi Paul theo đổi sự nghiệp âm nhạc sô lô hết sức kiên trì. Cả hai gặt hái thành công riêng ở những mức độ khác nhau. Simon bắt đầu một sự nghiệp sô lô thành công sau đó, đỉnh cao là album Graceland ra đời năm 1986 với những thử nghiệm về âm nhạc châu Phi. Nhưng rồi tình yêu nghệ thuật lại gắn kết họ lại. Họ đã tái kết hợp nhiều lần từ sau cuộc chia tay năm 1970 , đáng kể nhất là Cuộc Biểu Diễn Live ngoài trời ở công viên trung tâm của New York năm 1981 thu hút đến 750.000 khán giả.
Hai người không biểu diễn lại cùng nhau cho tới năm 1993, khi họ kết hợp với nhau trong một loạt các chương trình hòa nhạc ở New York. Họ tái hợp tại Lễ trao giải Grammy năm 2003 – Cả hai song ca bài The Sound of Silence , đó là màn trình diễn trước công chúng đầu tiên của họ sau 10 năm. Năm 2003 họ lại có chương trình hòa nhạc lưu diễn Mỹ đầu tiên đến 28 thành phố sau hơn 20 năm lấy tên là Bạn Cũ (Old Friends) . Kết quả là họ ra được album 2004 live cùng tên Old Friends
Bộ đôi nghệ sĩ này đã đạt được nhiều giải Grammy, và được ghi tên vào Đại sảnh Danh Vọng Rock & Rock năm 1990, đại sảnh Danh Vọng của Long Island năm 2007 và nhiều giải thưởng lớn khác. Năm 2004, Rolling Stone xếp bộ đôi này hạng 40 trong danh sách 100 nghệ sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại.
Những nhạc phẩm đầy chất thơ với ca từ trữ tình mà mộc mạc dân dã của Simon đã được dư luận và các nhà phê bình khen ngợi và dành được những thành công thương mại rất đáng kể trong bốn thập kỉ.
Cũng sẽ là một thiếu sót lớn mất đi rất nhiều sức truyền cảm và rung động và của những bản nhạc ấy nếu không có chất giọng thiên thần cao vút của Garfunkel. Do đó mà bộ đôi này được giới trẻ chấp nhận như những nghệ sĩ được mến mộ nhất , trong khi những người lớn tuổi hơn lại yêu thích sự sâu sắc và kinh lịch của họ trên sân khấu. Như thế sự nghiệp âm nhạc của bộ đôi nghệ sĩ này chắc chắn sống mãi với thời gian trong lòng những người yêu nhạc folk rock.
Sau đây mời các bạn nghe 7 bản nhạc nổi tiếng qua các thời kỳ của Simon & Garfunkel :
Are You Going To Scarborough Fair? ; The Sound of Silence ; Bridge Over Troubled Water; Old Friends; April Come She Will; El Condor Pasa (If I Could) và For Emily Whenever I May Find Her
Thân chúc các bạn có được nhiều niềm vui, ngoài niềm vui âm nhạc cho mỗi ngày trong đời bạn 🙂
I. Simon and Garfunkel – Are You Going To Scarborough Fair?
Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary & thyme
Remember me to one who lives there
She once was a true love of mine
Tell her to make me a cambric shirt
(On the side of a hill in the deep forest green)
Parsely, sage, rosemary & thyme
(Tracing a sparrow on snow-crested ground)
Without no seams nor needlework
(Blankets and bedclothes a child of the mountains)
Then she’ll be a true love of mine
(Sleeps unaware of the clarion call)
Tell her to find me an acre of land
(On the side of a hill, a sprinkling of leaves)
Parsely, sage, rosemary, & thyme
(Washed is the ground with so many tears)
Between the salt water and the sea strand
(A soldier cleans and polishes a gun)
Then she’ll be a true love of mine
Tell her to reap it in a sickle of leather
(War bellows, blazing in scarlet battalions)
Parsely, sage, rosemary & thyme
(Generals order their soldiers to kill)
And to gather it all in a bunch of heather
(And to fight for a cause they’ve long ago forgotten)
Then she’ll be a true love of mine
Are you going to Scarborough Fair?
Parsley, sage, rosemary & thyme
Remember me to one who lives there
She once was a true love of mine.
2. The Sound of Silence (Live 2003)
Hello darkness, my old friend,
I’ve come to talk with you again,
Because a vision softly creeping,
Left its seeds while I was sleeping,
And the vision that was planted in my brain
Still remains
Within the sound of silence.
In restless dreams I walked alone
Narrow streets of cobblestone,
‘Neath the halo of a street lamp,
I turned my collar to the cold and damp
When my eyes were stabbed by the flash of a neon light
That split the night
And touched the sound of silence.
And in the naked light I saw
Ten thousand people, maybe more.
People talking without speaking,
People hearing without listening,
People writing songs that voices never share
And no one dared
Disturb the sound of silence.
“Fools” said I, “You do not know
Silence like a cancer grows.
Hear my words that I might teach you,
Take my arms that I might reach you.”
But my words like silent raindrops fell,
And echoed
In the wells of silence.
And the people bowed and prayed
To the neon god they made.
And the sign flashed out its warning,
In the words that it was forming.
And the sign said, the words of the prophets are written on the subway walls
And tenement halls.
And whisper’d in the sounds of silence.”
3. Bridge Over Troubled Water (Live 1969)
When you’re weary; feeling small,
When tears are in your eyes, I will dry them all;
I’m on your side oh when times get rough
And friends just can’t be found.
Like a bridge over troubled water
I will lay me down.
Like a bridge over troubled water
I will lay me down.
When you’re down and out;
when you’re on the street;
when evening falls so hard
I will comfort you.
I’ll take your part
oh when darkness comes.
And pain is all around.
Like a bridge over troubled water
I will lay me down
Like a bridge over troubled water
I will lay me down
Sail on silvergirl;
sail on by.
Your time has come to shine.
All your dreams are on their way.
See how they shine.
Oh if you need a friend
I’m sailing right behind.
Like a bridge over troubled water
I will ease your mind
Like a bridge over troubled water
I will ease your mind.
4. Old Friends
Old friends, old friends,
Sat on their parkbench like bookends
A newspaper blown through the grass
Falls on the round toes
of the high shoes of the old friends
Old friends, winter companions, the old men
Lost in their overcoats, waiting for the sunset
The sounds of the city sifting through trees
Settle like dust on the shoulders of the old friends
Can you imagine us years from today,
Sharing a parkbench quietly
How terribly strange to be seventy
Old friends, memory brushes the same years,
Silently sharing the same fears
5. April Come She Will
April come she will
When streams are ripe and swelled with rain;
May, she will stay,
Resting in my arms again.
June, she’ll change her tune,
In restless walks she’ll prowl the night;
July, she will fly
And give no warning to her flight.
August, die she must,
The autumn winds blow chilly and cold;
September I’ll remember
A love once new has now grown old.
6. El Condor Pasa (If I Could) (Live At Acer Arena, Sydney, 2009)
I’d rather be a sparrow than a snail
Yes I would, if I could, I surely would
I’d rather be a hammer than a nail
Yes I would, if I only could, I surely would
Away, I’d rather sail away
Like a swan that’s here and gone
A man gets tied up to the ground
He gives the world its saddest sound
Its saddest sound
I’d rather be a forest than a street
Yes I would, if I could, I surely would
I’d rather feel the earth beneath my feet
Yes I would, if I only could, I surely would
7. For Emily Whenever I May Find Her
What I dream I had:
Pressed in organdy;
Clothed in crinoline of smoky Burgundy;
Softer than the rain.
I wandered empty streets
Down past the shop displays.
I heard cathedral bells
Tripping down the alley ways,
As I walked on.
And when you ran to me
Your cheeks flushed with the night.
We walked on frosted fields of juniper and lamplight,
I held your hand.
And when I awoke and felt you warm and near,
I kissed your honey hair with my grateful tears.
Oh I love you, girl.
Oh, I love you.
Rất vui được gặp lại các bạn trong chuyên mục Nhạc Xanh sau một thời gian dài vắng bóng (Thật ra trong thời gian vừa rồi, mình đi công tác ở Côn Đảo, sau đó lại đi Singapore để tham gia Trại Hè, giao lưu văn hóa hết sức thú vị giữa Sinh Viên Việt Nam và Singapore, dù bây giờ mình không còn là sinh viên nữa! Hehe….)
Và, trong chuyên mục Nhạc Xanh hôm nay, mình xin giới thiệu với các bạn bài hát rất nổi tiếng có tên gọi là “I’m yours” của ca sĩ – nhạc sĩ nổi tiếng người Mỹ Jason Mraz.
1) Tiểu sử (theo wikipedia)
Jason Mraz (sinh ngày 23/6/1977) là một ca sĩ – nhạc sĩ người Mỹ, sinh ra và lớn lên tại Mechanicsville, Virginia. Mraz đã phát hành album đầu tay “Waiting for My Rocket to Come” vào năm 2002, nhưng chỉ đến khi album phòng thu thứ hai của anh “Mr. A-Z”, Mraz mới đạt được được những thành công nhất định về thương mại. Năm 2008, Mraz phát hành album phòng thu thứ ba “We Sing. We Dance. We Steal Things” và album này đã đạt đến vị thứ 3 trên Billboard 200 và thành công về mặt thương mại trên toàn thế giới, leo lên top 10 của nhiều bảng xếp hạng quốc tế.
2) “I’m Yours”: là đĩa đơn đầu tiên của Jason Mraz từ album phòng thu thứ ba của anh, album “We Sing. We Dance. We Steal Things”. Nó đã được trình diễn trong một buổi diễn diễn của anh vào năm 2006 và được nhiều người yêu thích trước khi nó ra mắt. “I’m Yours” đã được đề cử cho giải Grammy cho bài hát của năm và giọng pop Nam trình diễn xuất sắc nhất tại Giải Grammy thứ 51. Bài hát hiện là ca khúc xếp thứ hai đứng nhiều tuần nhất trong bảng xếp hạng Hot 100 với 66 tuần, sau “How Do I Live” của LeAnn Rimes phát hành năm 1997 đứng suốt 69 tuần.
Đây là đĩa đơn thành công nhất của Mraz trên toàn cầu đến ngày nay, đạt đến vị trí quán quân tại Thụy Điển và Na Uy, và top 10 tại Canada, Hoa Kỳ, Áo, Úc, Đức, Thụy Sĩ, Ý. Bài hát đã được phát hành ở Liên hiệp Anh vào tháng 6 năm 2008, dần dần leo lên những bảng xếp hạng và trở nên nổi tiếng do được sử dụng trong một quảng cáo truyền hình về mùa hè và được phát thanh nhiều lần trên radio, đạt đến vị thứ 11 trên UK Singles Chart vào tháng 1 năm 2009.
Sau đây là video clip bài hát “I’m yours” của Jason Mraz. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui! 🙂 🙂
Loan Subaru
Lời nhạc
I’m yours
Well you done done me and you bet I felt it
I tried to be chill but you’re so hot that I melted
I fell right through the cracks
Now I’m trying to get back
Before the cool done run out
I’ll be giving it my bestest
And nothing’s going to stop me but divine intervention
I reckon it’s again my turn to win some or learn some
I won’t hesitate no more, no more
It cannot wait, I’m yours
Well open up your mind and see like me
Open up your plans and damn you’re free
Look into your heart and you’ll find love love love love
Listen to the music of the moment babay sing with me
I love peace for melody
And It’s our God-forsaken right to be loved love loved love loved
So I won’t hesitate no more, no more
It cannot wait I’m sure
There’s no need to complicate
Our time is short
This is our fate, I’m yours
Scooch on over closer dear
And i will nibble your ear
I’ve been spending way too long checking my tongue in the mirror
And bending over backwards just to try to see it clearer
But my breath fogged up the glass
And so I drew a new face and laughed
I guess what I’m be saying is there ain’t no better reason
To rid yourself of vanity and just go with the seasons
It’s what we aim to do
Our name is our virtue
But I won’t hesitate no more, no more
It cannot wait I’m sure
Well open up your mind and see like me
Open up your plans and damn you’re free
Look into your heart and you’ll find that the sky is yours
Please don’t, please don’t, please don’t
There’s no need to complicate
Cause our time is short
This oh this this is out fate, I’m yours!
Tháng trước đã có một bạn trẻ đề nghị Nhạc Xanh giới thiệu Richard Clayderman. Hôm nay, để thay đổi không khí chúng ta sẽ nghe nhạc sĩ Richard Clayderman với ngón đàn piano được rất nhiều fan của ông khen là tài hoa. Richard Clayderman tên khai sinh là Philippe Pagès, sinh ngày 28 tháng 12 năm 1953 tại Paris, Pháp. Ông là một nghệ sĩ dương cầm nổi tiến, đã phát hành rất nhiều album nhạc, trong đó có các nhạc phẩm của Beethoven, Liszt, Chopin và Mozart. Richard Clayderman cũng được biết đến bởi khả năng diễn xuất tuyệt vời những bản nhạc pop được nhiều người ưa chuộng như Yesterday, The Sound of Silence và Memory.
Từ khi còn rất bé, Clayderman đã theo học đàn piano với cha vốn là một giáo viên dạy đàn piano. Năm 12 tuổi, Clayderman được nhận vào trường Âm nhạc Paris, tại đây ông trở thành nổi tiếng vào những năm trưởng thành.Gặp nhiều khó khăn về tài chính, ít nhất cũng bị thúc bách từ bệnh tật của người cha và cản trở sự nghiệp đầy hứa hẹn của một nghệ sĩ piano cổ điển.. Vì thế để kiếm sống , Clayderman vừa làm nhân viên ngân hàng vừa làm người đệm đàn trong các ban nhạc đương thời. Ông đệm đàn cho các ca sĩ nhạc Pop nổi tiếng của Pháp là Johnny Hallyday, Thierry Leluron, và Michael Sardou.
Năm 1976, ông được Olivier Toussaint, một nhà sản xuất đĩa ghi âm người Pháp và đối tác là Paul de Senneville đề nghi thu âm một bản ballad chơi với piano thật êm dịu, để tặng cho cô con gái sơ sinh tên là Adeleine của Senneville. Và khi chơi thử cùng 20 chàng nghệ sĩ piano khác, chàng trai trẻ Clayderman 23 tuổi được chọn vì “ trông rất đẹp trai, một nghệ sĩ có tài bấm phím thật nhẹ nhàng với kỹ thuật cao”, theo lời của Toussaint. Bản Ballad Pour Adeline bán được 22 triệu bản ở 38 nước. Ông đổi sang tên Richard Claydeman, họ của bà cố để tránh phát âm sai tên ông ở ngoài Pháp.
Ông sống ở Normandy với vợ Christine, con trai Peter, và con gái Maud.
Mặc dù được đào tạo để trở thành nghệ sĩ piano cổ điển, song hầu hết các đĩa nhạc của ông tập trung vào âm nhạc phổ thông với những tình khúc đương thời.
Tuy Clayderman rất nổi tiếng ở các nước thế giới thứ ba, nhiều nhà phê bình cho rằng nhạc của ông là “nhạc thang máy”, bởi vì các tác phẩm của ông được chơi ở những nơi không gian rộng rãi, chuyển tiếp như thang máy, khu buôn bán… Ngoài ra những người yêu đàn piano đặc biệt là cổ điển cho rằng ông có kỹ thuật không cao, biểu diễn nhạc mang tính thương mại vì chơi các bản nhạc cổ điển ở dạng cách điệu
Clayderman đã ghi âm được hơn 1.200 giai điệu và đã tạo ra một phong cách lãng mạn mới qua việc kết hợp kỹ thuật biểu diễn riêng điêu luyện của ông giữa classic và nhạc Pop tiêu chuẩn. Ông đã dành phần lớn thời gian tổ chức hòa nhạc và làm hài lòng các fan như việc biểu diễn 200 sô trong 250 ngày. Đến nay ông đã đạt đến kỉ lục về doanh số bán được gần 90 triệu, và kỉ lục 267 đĩa Vàng và 70 đĩa Bạch kim. Ông rất thành công và nổi tiếng ở Châu Á.
Sách Guiiness về Kỹ Lục Thế Giới xem ông là Nghệ Sĩ piano Thành Công Nhất Thế Giới.
Nhạc Xanh mời các bạn nghe 6 bản nhạc piano gồm cả hòa tấu classic và pop trong số được ưa chuộng nhất của Clayderman sau đây:
1. Moonlight Sonata (Ludwig van Beethoven)
.
2. Jardin Secret (Paul De Senneville)
.
3. Balada para Adelina (1998) (Ballade pour Adeline, của Paul De Senneville)
.
4. Fur Elise (Ludwig van Beethoven)
.
5. Memory (Nhạc Andrew Lloyd Webber, lời T.S. Eliot, Trevor Nunn, nhạc kịch CATS)
Sẽ là một thiếu sót lớn trong chuyên mục âm nhạc đại chúng (pop ) của Nhạc Xanh nếu chưa giới thiệu cùng các bạn một nhân vật được xem là tượng đài, huyền thoại và biểu tượng văn hóa ảnh hưởng lớn đến nền âm nhạc đại chúng không chỉ của nước Mỹ trong 5 thập kỷ qua. Ấy là Bob Dylan.
Bob Dylan có tên khai sinh là Robert Allen Zimmerman, sinh ngày 24 tháng 5, 1941 tại Minesota, Mỹ. Các phương tiện truyền thông báo chí, các kênh truyền hình, và đài phát thanh đã dành không biết bao nhiêu bài báo, chương trình về nhân vật được mệnh danh là chàng hát rong huyền thoại. Với phong cách đặc biệt, ông đã vượt xa các tác giả cùng thời và xứng đáng được tôn vinh là nghệ sỹ xuất sắc thứ 2 mọi thời đại, một trong 100 nhân vật có ảnh hưởng nhất trong thế kỉ X X.
Ông là một ca sĩ, tác giả, nhà soạn nhạc, nhà thơ và gần đây nhất là một DJ. Rất nhiều thành quả lao động của Dylan được thừa nhận từ thập niên 1960 đã gây nhiều xôn xao trong dư luận Mỹ. Các bài hát của ông như “Blowin’ in the Wind” và “The Times They Are a-Changin” trở thành những bài ca chống chiến tranh và ủng hộ phong trào nhân quyền.
Album Studio gần đây nhất của ông “Modern Times”, phát hành ngày 28 tháng 8, 2006, đã dành vị trí số 1 tại các bảng xếp hạng của Mỹ, giúp ông, ở tuổi 65, trở thành ca sĩ cao tuổi nhất còn sống dành vị trí cao nhất trong các bảng xếp hạng. Sau đó, album đã được tạp chí Rolling Stone bầu chọn là “Album của năm”.
Khi còn nhỏ, ông học chơi guitar và harmonica. Lên trung học, ông cùng bạn thành lập một ban nhạc rock & roll mang tên The Golden Chords. Tốt nghiệp đại học năm 1959, ông tiếp tục theo học nghệ thuật tại đại học Minnesota, Minneapolis. Tại đây, ông bắt đầu chơi nhạc folk ở các quán cà phê dưới tên Bob Dylan (lấy tên của nhà thơ Dylan Thomas ghép với biệt danh của ông là Bob). Ấn tượng với phong cách của Hank Williams và Woody Guthrie, Dylan tập nghe nhạc blues và kết hợp thể loại nhạc này vào trong các tác phẩm của mình.
Tháng 1/1961, Dylan đến New York và ngay lập tức tạo được ấn tượng với cộng đồng chơi nhạc folk ở Greenwich Village. Nhưng Dylan không từ bỏ việc chơi đàn ở các quán cà phê và sự mến mộ công chúng tại đây đã giúp đỡ ông rất nhiều trong những bước đi quan trọng sau này. Năm 1961, ông chơi trong một buổi hoà nhạc và được Robert Shelton (tờ New York Times) đánh giá rất cao. Cũng nhờ đánh giá này mà nhà sản xuất John Hammond (hãng đĩa Columbia Records) để ý và ký hợp đồng với ông. Tháng 3/1962, Bob Dylan cho ra mắt album đầu tay là tuyển tập những bản folk và blues chuẩn mực. Sau khoá học nhạc một năm, Dylan bắt đầu viết một lượng lớn các ca khúc (có cả những bài ca phản chiến nằm trong album thứ 2 – “The Free Wheelin’ Bob Dylan”) tiêu biểu là “Blowin’ the wind”, “A hard rain’ a – gonna fall”…Đến cuối năm 1965, Dylan đã tự khám phá cho mình một phong cách riêng và hoàn toàn mới lạ: đó là folk – rock.
Thời gian từ 1964 – 1966 là thời gian thành công nhất của Dylan trong cả vai trò nhạc sĩ và ca sĩ. “Highway 61 Revisited”, album đậm chất rock đầu tiên, nằm trong bảng xếp hạng của Top Ten (1965).
Những lời trong các bài hát đầu tiên của Dylan là sự kết hợp sâu sắc ảnh hưởng của chính trị, bình luận xã hội, triết học và văn chương, thách thức dòng nhạc Pop đương thời và tạo sức hút rộng rãi văn hóa đối lập thời đó. Trong khi tiếp tục phát triển và cá nhân hóa các phong cách âm nhạc, ông đã thể hiện sự tâm huyết với nhiều dòng nhạc truyền thống của Mỹ từ folk và country/blues đến rock and roll và rockabilly, tới nhạc folk Anh, Scotland, Ireland, thậm chí là jazz, swing, Broadway, rock nặng và gospel.
Dylan thường biểu diễn với guitar, keyboard and harmonica. Được sự giúp đỡ của nhiều nhà soạn nhạc, ông đã thực hiện các tour diễn đều đặn từ cuối thập niên 1980, chính vì vậy mà sau đó họ gọi đó là “Never Ending Tour” (tour diễn không bao giờ kết thúc). Dylan đã biểu diễn cùng nhiều danh ca lớn như The Band, Tom Petty, Joan Baez, George Harrison, The Grateful Dead, Johnny Cash, Willie Nelson, Paul Simon, Eric Clapton, Patti Smith, Emmylou Harris, Bruce Springsteen, U2, The Rolling Stones, Joni Mitchell, Jack White, Merle Haggard, Neil Young, Van Morrison, Ringo Starr và Stevie Nicks. Dù những thành quả với tư cách là ca sĩ và nghệ sĩ thu âm là dấu ấn lớn trung tâm trong sự nghiệp Dylan, nhưng việc sáng tác ca khúc được ghi nhận là đóng góp lớn nhất của ông cho âm nhạc đương đại.
Album Modern Times.năm 1976 là album cuối mà Bob Dylan được xếp hạng nhất trong năm tuần.
Gần đây năm 2006 lần đầu tiên sau 30 năm ca –nhạc sĩ huyền thoại này Bob có album bán chạy nhất ở Mỹ, nhờ đĩa Desire.
Ông đứng đầu bảng xếp hạng Top 200 album Billboard với “Modern Times”. Hãng đĩa Columbia đã bán hơn 192.000 bản đĩa này tại Mỹ trong tuần đầu tiên.
Together Through Life là album studio thứ 33 của Bob Dylan phát hành ngày 28-4-2009 Album này đã giúp huyền thoại âm nhạc này trở lại vị trí số 1 sau gần 40 năm, kể từ năm 1970 với album New Morning. Đây cũng là lần thứ bảy Bob Dylan leo lên vị trí số 1 trong bảng xếp hạng album tại Anh. Album đầu tiên mang về cho Bob Dylan vị trí số 1 tại bảng xếp hạng album ở Anh chính là Freewheelin’ Bob Dylan vào năm 1964. (theo Official Charts Company).
Gennaro Castaldo – phát ngôn viên của nhà bán lẻ khổng lồ ngành công nghiệp âm nhạc Anh – HMV đã ca ngợi về Bob Dylan: “Ông được xem là biểu tượng văn hóa của chúng ta, âm nhạc và ca từ của ông cho dù cách đây năm thập kỷ hay đến tận ngày hôm nay vẫn còn nguyên sức mạnh”
Những bản thu âm đã giúp ông dành giải Grammy, Quả Cầu Vàng và nhiều giải thưởng của viện Hàn Lâm. Ông cũng đã vài lần được đề cử giải Nobel văn học. Ông đã được ghi danh tại đại sảnh danh vọng về dòng nhạc Rock&Roll, đại sảnh danh vọng cho các nhà soạn nhạc tại Nashville, và đại sảnh danh vọng dành cho các nhà soạn nhạc. Dylan được tạp chí Time bầu là một trong những nhân vật có tầm ảnh hưởng nhất thế kỷ 20.
Tháng 1 năm 1990, ông được trao huân chương nghệ thuật và văn học (Commandeur des Arts et des Lettres) bởi Bộ trưởng văn hóa Pháp Jack Lang. Năm 2000, ông được trao giải Polar Music bởi viện âm nhạc hoàng gia Thụy Điển. Năm 2004, Bob Dylan được xếp ở vị trí thứ 2 bên cạnh The Beatles trong danh sách 100 nghệ sĩ xuất sắc nhất mọi thời đại của tạp chí Rolling Stone. Năm 2004, người nghệ sĩ lớn này được trường đại học tổng hợp St Andrews trao tặng bằng Tiến sĩ âm nhạc danh dự.
Và năm 2007, Dylan được trao giải Prince of Asturias- được xem như giải Nobel của Tây Ban Nha trong lĩnh vực nghệ thuật. Dylan được Hội đồng giám khảo đánh giá như “một huyền thoại sống của lịch sử âm nhạc đại chúng, là ngọn đèn soi đường của một thế hệ muốn thay đổi thế giới” và “một trong những gương mặt lớn của âm nhạc đã kết hợp một cách mẫu mực vẻ đẹp của thi ca, và đạo đức”. Tháng 4-2008, người nhạc sĩ phản chiến này đoạt được giải thưởng Pulitzer.
Dylan được tôn vinh như tượng đài văn hóa “đã tác động sâu sắc đến nền âm nhạc và văn hóa Hoa Kỳ do những sáng tác giàu sức sống mãnh liệt với ca từ là lời thơ khác thường.” Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn của Việt Nam được cho là cùng chia sẻ tư tưởng phản chiến với Bob Dylan.
Nhạc Xanh mời các bạn thưỡng thức 5 bản nhạc sau đây của nhạc sĩ Bob Dylan : Blowing In The Wind, Forever Young, Knockin’ on Heaven’s Door, Tryin’ To Get To Heaven, Don’t Think Twice, It’s Alright, và bài Yesterday (nhạc và lời của The Beatles)
BLOWING IN THE WIND : một ca khúc phản chiến của Bob Dylan. Bài hát này đã vang lên ở Mỹ trong suốt những năm 1960 để phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam. ( cũng là bài hát ưa thích nhất của mình )
Phải bao nhiêu lằn tên mũi đạn trước khi vũ khí bị cấm đời đời?
Phải bao nhiêu tháng năm hiện hữu trước khi được làm người tự do?
Biết bao nhiêu lần ta ngoảnh mặt, giả vờ như là điếc là đui?
1. BLOWING IN THE WIND – BOB DYLAN (Madison Square Garden NY 1971)
How many roads must a man walk down
Before you call him a man?
Yes, n how many seas must a white dove sail
Before she sleeps in the sand?
Yes, n how many times must the cannon balls fly
Before they’re forever banned?
The answer, my friend, is blowin in the wind,
The answer is blowin in the wind.
How many times must a man look up
Before he can see the sky?
Yes, n how many ears must one man have
Before he can hear people cry?
Yes, n how many deaths will it take till he knows
That too many people have died?
The answer, my friend, is blowin in the wind,
The answer is blowin in the wind.
How many years can a mountain exist
Before it’s washed to the sea?
Yes, n how many years can some people exist
Before they’re allowed to be free?
Yes, n how many times can a man turn his head,
Pretending he just doesn’t see?
The answer, my friend, is blowin in the wind,
The answer is blowin in the wind.
2. FOREVER YOUNG (live)
May God bless and keep you always,
May your wishes all come true,
May you always do for others
And let others do for you.
May you build a ladder to the stars
And climb on every rung,
May you stay forever young,
Forever young, forever young,
May you stay forever young.
May you grow up to be righteous,
May you grow up to be true,
May you always know the truth
And see the lights surrounding you.
May you always be courageous,
Stand upright and be strong,
May you stay forever young,
Forever young, forever young,
May you stay forever young.
May your hands always be busy,
May your feet always be swift,
May you have a strong foundation
When the winds of changes shift.
May your heart always be joyful,
May your song always be sung,
May you stay forever young,
Forever young, forever young,
May you stay forever young.
3. KNOCKIN’ ON HEAVEN’S DOOR
“Mama, take this badge off of me
I can’t use it anymore.
It’s gettin’ dark, too dark for me to see
I feel like I’m knockin’ on heaven’s door.
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Mama, put my guns in the ground
I can’t shoot them anymore.
That long black cloud is comin’ down
I feel like I’m knockin’ on heaven’s door.
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door
Knock, knock, knockin’ on heaven’s door”
4. TRYIN’ TO GET TO HEAVEN
The air is getting hotter
There’s a rumbling in the skies
I’ve been wading through the high muddy water
With the heat rising in my eyes
Every day your memory grows dimmer
It doesn’t haunt me like it did before
I’ve been walking through the middle of nowhere
Trying to get to heaven before they close the door
When I was in Missouri
They would not let me be
I had to leave there in a hurry
I only saw what they let me see
You broke a heart that loved you
Now you can seal up the book and not write anymore
I’ve been walking that lonesome valley
Trying to get to heaven before they close the door
People on the platforms
Waiting for the trains
I can hear their hearts a-beatin’
Like pendulums swinging on chains
When you think that you lost everything
You find out you can always lose a little more
I’m just going down the road feeling bad
Trying to get to heaven before they close the door
I’m going down the river
Down to New Orleans
They tell me everything is gonna be all right
But I don’t know what “all right” even means
I was riding in a buggy with Miss Mary-Jane
Miss Mary-Jane got a house in Baltimore
I been all around the world, boys
Now I’m trying to get to heaven before they close the door
Gonna sleep down in the parlor
And relive my dreams
I’ll close my eyes and I wonder
If everything is as hollow as it seems
Some trains don’t pull no gamblers
No midnight ramblers, like they did before
I been to Sugar Town, I shook the sugar down
Now I’m trying to get to heaven before they close the door
4. SOMETHING’S BURNING
Something is burning, baby, are you aware?
Something is the matter, baby, there’s smoke in your hair
Are you still my friend, baby, show me a sign
Is the love in your heart for me turning blind?
You’ve been avoiding the main streets for a long, long while
The truth that I’m seeking is in your missing file
What’s your position, baby, what’s going on?
Why is the light in your eyes nearly gone?
I know everything about this place, or so it seems
Am I no longer a part of your plans or your dreams?
Well, it is so obvious that something has changed
What’s happening, baby, to make you act so strange?
Something is burning, baby, here’s what I say
Even the bloodhounds of London couldn’t find you today
I see the shadow of a man, baby, makin’ you blue
Who is he, baby, and what’s he to you?
Something is burning, baby, are you aware?
Something is the matter, baby, there’s smoke in your hair
Are you still my friend, baby, show me a sign
Is the love in your heart for me turning blind?
You’ve been avoiding the main streets for a long, long while
The truth that I’m seeking is in your missing file
What’s your position, baby, what’s going on?
Why is the light in your eyes nearly gone?
I know everything about this place, or so it seems
Am I no longer a part of your plans or your dreams?
Well, it is so obvious that something has changed
What’s happening, baby, to make you act so strange?
Something is burning, baby, here’s what I say
Even the bloodhounds of London couldn’t find you today
I see the shadow of a man, baby, makin’ you blue
Who is he, baby, and what’s he to you?
We’ve reached the edge of the road, baby, where the pasture begins
Where charity is supposed to cover up a multitude of sins
But where do you live, baby, and where is the light?
Why are your eyes just staring off in the night?
I can feel it in the night when I think of you
I can feel it in the light and it’s got to be true
You can’t live by bread alone, you won’t be satisfied
You can’t roll away the stone if your hands are tied
Got to start someplace, baby, can you explain?
Please don’t fade away on me, baby, like the midnight train
Answer me, baby, a casual look will do
Just what in the world has come over you?
I can feel it in the wind and it’s upside down
I can feel it in the dust as I get off the bus on the outskirts of town
I’ve had the Mexico City blues since the last hairpin curve
I don’t wanna see you bleed, I know what you need but it ain’t what you deserve
Something is burning, baby, something’s in flames
There’s a man going ’round calling names
Ring down when you’re ready, baby, I’m waiting for you
I believe in the impossible, you know that I do
5. DON’T THINK TWICE, IT’S ALRIGHT – Bob Dylan & Eric Clapton
It ain’t no use to sit and wonder why, babe
If’in you don’t know by now
An’ it ain’t no use to sit and wonder why, babe
It’ll never do some how.
When your rooster crows at the break of dawn
Look out your window and I’ll be gone
You’re the reason I’m trav’lin’ on
Don’t think twice, it’s all right
It ain’t no use in turnin’ on your light, babe
That light I never knowed
An’ it ain’t no use in turnin’ on your light, babe
I’m on the dark side of the road
but I wish there was somethin’ you would do or say
To try and make me change my mind and stay
We never did too much talkin’ anyway
So don’t think twice, it’s all right
It ain’t no use in callin’ out my name, gal
Like you never done before
It ain’t no use in callin’ out my name, gal
I can’t hear you any more
I’m a-thinkin’ and a-wond’rin’ walkin’ down the road
I once loved a woman, a child I’m told
I give her my heart but she wanted my soul
But don’t think twice, it’s all right
So long, Honey Babe
Where I’m bound, I can’t tell
But Goodbye’s too good a word, babe
So I’ll just say fare thee well
I ain’t sayin’ you treated me unkind
You could have done better but I don’t mind
You just kinda wasted my precious time
But don’t think twice, it’s all right
6. YESTERDAY – Bob Dylan with George Harrison – ( nhạc và lời của Paul McCartney)
Yesterday, all my troubles seemed so far away
Now it looks as though they’re here to stay
Oh, I believe in yesterday.
Suddenly, I’m not half the man I used to be,
There’s a shadow hanging over me.
Oh, yesterday came suddenly.
Why she had to go I don’t know she wouldn’t say.
I said something wrong, now I long for yesterday.
Yesterday, love was such an easy game to play.
Now I need a place to hide away.
Oh, I believe in yesterday.
Mm mm mm mm mm.
Thân ái chúc các bạn những ngày cuối tuần tươi vui và hạnh phúc. 🙂
Có bao giờ nhỉ, các bạn nhớ thật tha thiết người thân xa nhà lâu ngày? Mong chờ người thân hoàn thành xong giai đoạn cải tạo trong tù? Trong trại cai nghiện? Đi công tác xa nhà lâu ngày? Đi du học nước ngoài?
Tình cảm gia đình và người thân đau đáu, nhưng thời gian đằng đẵng trôi và bao nỗi lo lắng thực tế chen ngang vào suy tư hàng ngày của cả người thân và gia đình.
Thật kinh khủng trong một tình yêu thật sâu.
“Tie a Yellow Ribbon Round the Ole Oak Tree” hát về tình cảm xa cách người yêu dấu kinh khủng đó. Được thu âm bởi nhóm Tony Orlando and Dawn vào tháng 4 năm 1973, bài hát ngay lập tức chạm sâu vào tình cảm của người Mỹ trong cuộc chiến Việt Mỹ, và đứng đầu các bảng xếp hạng của Mỹ và Anh nhiều tuần liên tiếp.
Bài hát dựa trên một câu chuyện có thật.
Trên một chuyến xe bus đi về phía Nam tới Miami. Một trong những hành khách giải thích cho anh tài là anh mới xong hạn tù, đã ở tù 3 năm xong. Trong một bức thư gửi cho vợ, anh đã viết là cô ấy không phải đợi anh đâu; nhưng, nếu cô ấy còn quan tâm, cô có thể cho anh biết bằng cách buộc một dải băng vàng quanh cây sồi duy nhất ở quảng trường thành phố. Khi chuyến xe bus lăn bánh qua quốc lộ U.S 17 gần tới quê nhà của anh ở White Oak, Georgia, anh tài được yêu cầu lái chậm lại để tất cả mọi người có thể nhìn xem dải băng vàng có ở chỗ đó không. Đem đến cho người đàn ông sự giải thoát trong hàng nước mắt, dải băng vàng ở đó! Anh tài tạt xe vào lề, dừng lại, gọi điện về tồng đài để báo tin, và tin tức cảm động đó được phát khắp nước Mỹ. Nhà viết nhạc Irwin Levine và L. Russell Brown đọc tin đó trên báo và viết nên bản tình ca bất hủ này.
Tony Orlando và ban hợp ca Dawn do anh thành lập, gọi tắt là Tony & Dawn, ghi băng bản này năm 1973. Cũng trong thời kỳ đó, Tony & Dawn cũng rất thành công với bản Knock Three Times mà có lẽ là người Việt nào cũng biết. Dưới đây là video “Tie a Yellow Ribbon Round the Ole Oak Tree.” Theo sau đó là lời của bản nhạc này.
.
“Tie a Yellow Ribbon Round the Ole Oak Tree”
Tony Orlando & Dawn
I’m comin’ home, I’ve done my time
Now I’ve got to know what is and isn’t mine
If you received my letter telling you I’d soon be free
Then you’ll know just what to do
If you still want me
If you still want me
Whoa, tie a yellow ribbon ’round the old oak tree
It’s been three long years
Do ya still want me?
If I don’t see a ribbon round the old oak tree
I’ll stay on the bus
Forget about us
Put the blame on me
If I don’t see a yellow ribbon round the old oak tree
Bus driver, please look for me
’cause I couldn’t bear to see what I might see
I’m really still in prison
And my love, she holds the key
A simple yellow ribbon’s what I need to set me free
I wrote and told her please
Whoa, tie a yellow ribbon round the old oak tree
It’s been three long years
Do ya still want me?
If I don’t see a ribbon round the old oak tree
I’ll stay on the bus
Forget about us
Put the blame on me
If I don’t see a yellow ribbon round the old oak tree
Now the whole damned bus is cheerin’
And I can’t believe I see
A hundred yellow ribbons round the old oak tree
I’m comin’ home
.
“Tie a Yellow Ribbon Round the Ole Oak Tree” cũng là bản “quốc ca” trông mong sự chở về của người yêu dấu của người Mỹ, từ chiến trường Việt Nam, Iraq và Afghanistan.
Dải băng vàng cũng là biểu tượng trông mong sự chở về của người yêu dấu của người dân Mỹ.
Năm 1980, mọi người đặt dải băng trên cây để đón chào sự chở lại của những con tin người Mỹ trong vụ bắt cóc con tin ở Iran.
Ở Singapore, một sáng kiến có cảm hứng từ bài hát này là “Dự án dải băng vàng”, tạo ra sự chấp nhận và đón chào của xã hội với những người từng phạm tội.
Năm 1990, một nhóm xã hội tên là Visual AIDS thuyết phục những người tham dự Tony Awards mang một dải băng đỏ nhỏ, gây ý thức cộng đồng đối với bệnh AIDS.
Một sự khởi đầu mới, một dải băng vàng. Việt Nam, bạn có thể làm được gì để đón chào và đem đến sự khởi đầu mới cho những người trở lại xã hội từ nhà tù, trại cai nghiện nhỉ? Điều này phụ thuộc vào tình yêu và ý thức của những người công dân bình thường như mỗi chúng ta. Bạn sẽ làm gì tiếp sau đây?
Hôm nay mình kể với các bạn một câu chuyện về sức mạnh của những bài hát từ …vỉa hè nhé 🙂 Sau đây, mình giới thiệu với các bạn một số nghệ sĩ đường phố 🙂
1. Anh Roger Ridley ở Santa Monica, California, anh hát đang hát bài “Stand by me” – Hãy đứng bên em!
Thông điệp của anh là “Dù bạn là ai và đang đi ở đâu trên đường đời, sẽ có một thời điểm nào đó trong cuộc đời, bạn sẽ cần một người để đứng bên cạnh bạn. Không cần biết bạn có bao nhiêu tiền, bạn sẽ cần ai đó, ai đó, để đứng bên bạn”
.
2. Chị Tal Ben Ari, với tên thân mật là “Tula”, chị là người nguyên gốc ở Tel Aviv, Israel, chị đang hát bài hát “Chanda Mama” trên đường phố Barcelona, Tây Ban Nha.
.
.
3. Anh Louis Mhlanga người Zimbabwe, anh đang hát một bài hát rumba về hòa bình và tình yêu ở quê hương anh, bằng tiếng mẹ đẻ.
.
.
Các anh chị vui vẻ hát và tạo không khí hứng khởi tuyệt vời trên các đường phố, nóc nhà cao tầng, ga tầu điện ngầm của quê hương họ, cùng bao anh chị khác trên các nẻo đường của Nepal, Việt Nam, Lào, Mexico, Nam Phi, Palestine, Úc, New Zealand.
Một số anh chị thu nhạc của mình để trên youtube, mở blog như myspace, wordpress và vô vàn cơ hội khác từ Internet để giúp thông điệp của họ quảng bá rộng rãi. Như nhóm Fabulous Lemon Drops từ Brisbane, Úc sau đây, ủng hộ phong trào “Go Green”:
Tháng 5 năm 2005, nhà sản xuất âm nhạc Mark Johnson đi dạo trên đường và nghe anh Roger Ridley hát bài Stand by me từ xa. Anh chạy đến xem và nhận ra ngay rằng giọng hát, linh hồn và âm nhạc của anh Rogerphải được chia sẻ với thể giới.
Vốn là nhà sản xuất âm nhạc và yêu cảm hứng mê hồn từ âm nhạc để thay đổi thế giới bằng hòa bình và tình yêu, anh Mark Johnson… đưa anh Roger Ridley và các nghệ sĩ đường phố lên Internet. Anh Mark tạo ra một phong trào truyền thông đa phương tiện để thay đổi thế giới – “Chơi để thay đổi” – Playing for Change.
Anh dùng mọi thứ từ dùng ô tô để làm studio, xe đẩy chạy bằng pin và dần dần bằng máy tính laptop để thu những bài hát, thay đổi cùng kỹ thuật máy tính theo thời gian. Nhưng một điều không thay đổi, đó là cam kết tạo ra môi trường để giúp những nghệ sĩ đưa giọng ca tiếng hát của họ qua khỏi các khu phố, qua khỏi các biên giới, tới được Úc, Nam Phi, Việt Nam.
Mark Johnson và người bạn quayMark Johnson đứng giữa
.
Sau hơn 5 năm hoạt động tới giờ, “Playing for Change” đã liên kết được với nghệ sĩ từ nhiều bang của Mỹ, Châu Âu, Châu Á, Châu Phi.
.
.
Sau đây là bản nhạc “Don’t Worry” (Đừng lo lắng) do Pierre Minetti viết và nhiều nghệ sĩ đường phố trên thế giới hát với nhiều ngôn ngữ khác nhau, và Playing for Change thu hình.
.
.
Bây giờ, một nghệ sĩ Việt Nam có thể thu âm bài hát và gửi đến Playing for Change 🙂
Hay một ngày kia, Playing for Change sẽ đến Việt Nam và thu phim bài hát của bạn, nếu bạn đang hát trên vỉa hè 🙂
Mình thấy câu chuyên Playing for Change thật là hay và kinh khủng 🙂
Câu chuyện về Chơi để Thay đổi, Ôm miễn phí (Free Hugs), câu lạc bộ 3 R’s (Reduce, Reuse, Recycle) đều từ những điều rất bình thường của cuộc sống, nhưng điều gì đã khiến nó thành một phong trào rộng khắp thế giới?
Làm sao để một ý tưởng tốt đẹp có thể tỏa sáng khắp thế giới?
Các bạn hãy trả lời cùng mình nhé 🙂
1. Theo mình, trước tiên những nghệ sĩ đó biểu diễn đầy tình yêu. Đơn giản vậy thôi. Họ chơi. Hay họ nhóm lại để chơi một cái gì đó vui vui. Họ hát lên một bài hát 🙂
Những bài hát tình yêu đó rung động trái tim những người khác.
2. Mọi người chia sẻ và “hát” tiếp “bài hát” đó. Những người khác tạo ra môi trường để cho những bài hát đó được ngân xa. 🙂
“There are two ways of being creative. One can sing and dance. Or one can create an environment in which singers and dancers flourish.” (Warren G. Bennis)
Có hai cách sáng tạo. Một người có thể hát và nhảy múa. Hoặc một người có thể tạo ra một môi trường để ca sĩ và vũ công phát triển.
3. Đặc biệt ngày nay, yếu tố môi trường nuôi dưỡng bài hát và ý tưởng dễ dàng hơn hơn nhiều bởi sự giúp sức của kỹ thuật máy tính và Internet website.
Nếu bạn yêu một ý tưởng, hãy “hát” nó lên theo cách của bạn. Bạn có thể “hát” lên từ giữa ruộng lúa hay từ một blog mới tạo trên Internet, hay giúp những nụ cười tươi của bà con nông dân xuất hiện trên bao bì của sản phẩm công ty bạn 🙂
Đứng trước dàn nhạc, Seiji Ozawa xem giống như là một vũ công đang uốn mình bay bổng lên xuống với dòng nhạc hơn là một nhạc trưởng. Vào thập niên 80’s khi Ozama đang là nhạc trưởng ở dàn hòa tấu Boston Symphony Oschestra và tóc xỏa dài gần đến lưng thì “điệu vũ” của anh trước ban nhạc còn thẩm thấu, nồng nhiệt và bão tố hơn cả ngày nay. Ngắm Ozama vũ với gậy nhạc trưởng làm cho cảm nhận của ta về dòng nhạc mạnh mẽ hơn rất nhiều.
Seiji Ozama có bố mẹ Nhật, sinh ngày September 1, 1935 ở thành phố Shenyang, Trung Quốc, thời kỳ Nhật đang chiếm đóng Trung Quốc. Đến 1944 anh trở về Nhật học piano. Xong trung học, anh bị thương một ngón tay, không chơi piano được. Một người thầy đưa anh đi nghe hòa nhạc; bản Symphony Số 5 (Bản giao hưởng “Định Mệnh”) đã cho anh quyết định học làm nhạc trưởng.
Gần 10 năm sau anh thắng giải Nhạc Trưởng Quốc Tế (International Competition of Orchestra Conductors) ở Besancon, France, nhờ đó được Charles Munch, giám đốc âm nhạc của dàn hòa tấu Boston Symphony Orchestra mời sang học tại Berkshire Music Center (ngày nay là Tanglewood Music Center) tại Boston, Mỹ. Đến năm 1960, anh lại được sang Bá Linh học với nhạc trưởng người Áo nỗi tiếng thế giới , Herbert von Karajan, của dàn hòa tấu Berliner Philharmoniker.
Ozawa bắt đầu trở thành khuôn mặt lớn của làng nhạc cổ điển thế giới khi anh thành nhạc trưởng của Boston Symphony Orchestra năm 1973. Và anh giữ chức vị này liên tục trong 29 năm, phá kỷ lục 25 năm của nhạc trưởng Koussevistzky trước kia. Từ năm 2002 đến nay Ozawa là nhạc trưởng cùa dàn hòa tấu nước Áo (Austria State Orcchestra).
Năm 1976 Ozawa được giải Emmy cho chương trình “Evening at Symphony”, chương trình âm nhạc hàng tuần của Boston Symphony Orchestra. Năm 1994, được thêm một giải Emmy cho “thành tích cá nhân về văn hóa” cho chương trình “Dvorak in Prague, a celebration.” Năm 2008, Ozawa được giải “Order of Music,” giải thưởng cao nhất của nước Nhật. Ông đã có tiến sĩ danh dự từ các đại học Harvard, New England Conservatory, Đại Học Tiểu Bang Massachusette, và Wheaton College. Và dĩ nhiên là vô số các giải thưởng khác.
Năm 1992 ông thành lập dàn hòa tấu Saito Kinen Orchestra, để các nghệ sĩ Nhật có dịp trình diễn với các nghệ sĩ quốc tế. Ngày nay dàn hòa tấu này đã có tên tuổi quốc tế.
Trong thập niên 1980’s Ozawa có nói: Người Nhật coi thường tài năng của người Nhật, chỉ đến khi quốc tế chấp nhận rồi thì người Nhật mới thấy được tài năng.
Sau đây mời các bạn xem vài bản cổ điển quen thuộc, do Ozawa và dàn hòa tấu Berliner Philharmoniker trình diễn:
1. Múa đao (Sabre dance) trong bài vũ Gayaneh, của Aram Khachaturian.
2. Vũ khúc Polovtsian trong nhạc kịch Prince Igor của Alexander Borodin.
3. Overture 1812 của Tchaikovsky (phần 1)
4. Overture 1812 của Tchaikovsky (phần 2)
Xin mời !
Hoành
.
Sabre dance from ballet Gayaneh, by Aram Khachaturian. Berliner Philharmoniker
.
Polovtsian dances from opera Prince Igor by Alexander Borodin. Berliner Philharmoniker.
.
Tchaikovsky – 1812 overture. Berliner Philharmoniker. (Part 1)
.
Tchaikovsky – 1812 overture. Berliner Philharmoniker. (Part 2)
Theo lý thuyết về di dân vẫn đang trong vòng tranh luận, thổ dân da đỏ–những ngựời đầu tiên sống ở Mỹ châu–dến từ Châu Á khoảng 12 ngàn năm trước đây, qua một giải đất gọi là Beringia nối liền Á Châu (Tây Bá Lợi Á) và Mỹ Châu (Alaska), mà ngày nay nằm dưới lòng biển ở Bering Strait. Ta quen gọi họ là da đỏ, nhưng thực ra họ tóc den, da vàng, mũi tẹt, chẳng khác người Việt lắm. Continue reading Âm nhạc thổ dân da đỏ→
Sau thế chiến thứ hai, các chiến binh về nhà, và… sinh con, tạo ra một thế hệ trẻ em gọi là baby boomers. Thế hệ này là phần chính của đời sống nước Mỹ, và có lẽ là của thế giới, từ đó đến nay. Mới ra đời là nhu cầu của baby boomers đã tạo ra những phát minh mới về thực phẩm và vật dụng trẻ em cùng những đại công ty trong ngành, như công ty thực phẩm trẻ em Gerber và kem dánh răng Crest.
Vừa mới qua, hoặc chưa kịp qua tuổi teen, baby boomers đã thành phong trào nỗi loạn văn hóa trên thế giới. Đây là thế hệ hiện sinh của Jean Paul Sartre, Albert Camus… của hippi, Woodstock, the Bealtes, Bob Dylan, Joan Baez… của cần sa… và biểu tình chống chiến tranh tại Việt Nam.
Đến giữa thập niên 1970’s, từ sau chiến tranh Việt Mỹ, và cả thập niên 1980’s, đây là thế hệ của những kẻ “nghiện làm” (workaholic), của “cá tính A” (type A personality), của thành công kinh tế và khởi đầu của cuôc cách mạng thông tin. Đây là thời của Bee Gees, Diana Ross… Nghệ thuật New Age
Đến đầu thập niên 1990’s baby boomers bắt đầu chậm lại, và bắt đầu nghe nhạc nhẹ, âm hưởng dịu dàng tự nhiên (consonant sounds) như âm hưởng nhạc cổ điển, nhưng với các khí cụ điện tử mới, nhất là synthersizer, và những nguồn nhạc từ các nền văn hóa khác—như văn hóa người da đỏ, Á châu, Phi Châu.. cùng những khí cụ cổ truyền của các nền văn hóa này. Đó là nhạc New Age. Cùng lúc, tính khám phá của Baby Boomers chuyển sang khám phá văn hóa tâm linh của các nền văn hóa khác, bên cạnh Thiên chúa giáo—Phật giáo, Ấn độ giáo, tín ngưỡng người da đỏ… Đó là văn hóa New Age đang sống mạnh ngày nay tại Mỹ và Âu châu cũng như ảnh hưởng rộng đến toàn thế giới.
Khoảng đầu thập niên 1990’s trong làng nhạc New Age xuất hiện một thiên tài: YANNI. Yanni, tên thật là Yiannis Hrysomallis, sinh năm 1954 tại thành phố Kalamata, Hy Lạp. Tự học piano, keyboard và soạn nhạc. Anh có cử nhân tâm lý học và chưa bao giờ học nhạc trong một lớp nhạc nào.
Album Dare to Dream năm 1992 và In My Time năm 1993 được dự tranh giải Grammy. Anh bắt đầu nỗi bật 1994 với video Yanni Live at the Acropolis, đây là video bán chạy thứ hai trong lịch sử âm nhạc, sau Michael Jackson’s Thriller 9 triệu đĩa.
Từ đó đến nay anh đã trình diễn trên 20 quốc gia với tổng số trên 2 triệu khán giả. Đạt được 35 đĩa bạch kim và vàng. Yanni là một trong những người thành công nhất trong việc giúp hệ thống TV công ở Mỹ thu đóng góp từ công chúng. Đại Học Minnesota của tiều bang Minnesota (Mỹ) tặng anh bằng tiến sĩ văn chương danh dự.
Yanni thường tìm các ca nhạc sĩ tại nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước nhỏ ít người để ý, cộng tác trình diễn, nên nhạc của anh thường mang âm hưởng lạ, ngôn ngữ lạ và khí cụ lạ. Nhạc có âm hưởng êm ái của các nốt nhạc êm tai và hòa âm tự nhiên (consonant notes, tonal chords), cái buồn sâu lắng của gam thứ, nhưng lại có vận tốc tuôn chảy ồ ạt triền miên của hàng hàng lớp lớp sóng biển cuộn vỗ chập chùng, như người viễn xứ hoài hương đứng trước đại dương.
Từ năm 1988 đến nay, nhạc của anh được sử dụng trong mỗi kỳ Thế Vận Hội,và dĩ nhiên là trong rất nhiều cuộc tranh tài thể thao khắp nơi.
Trong các video sau đây chúng ta sẽ thưởng thức, bên cạnh các nhạc cụ tân thời, âm nhạc của một số nhạc cụ dân tộc của các nước: DUduk Didgeridoo Nghệ sĩ Didgeridoo Hammered Dulcimer Harp Conga và bongo Didgeridoo: Nhạc cụ của thổ dân miền bắc Australia, bằng gỗ, thường là gỗ bạch đàn (khuynh diệp), dài khoảng 1,3m, thổi bằng miệng và tạo ra âm thanh rền rĩ rất lạ lùng.
Hammered Dulcimer: Theo truyền thuyết, có nguồn gốc từ Iran 2 ngàn năm về trước. Gồm các dây đàn căng ngang thùng đàn, chơi bằng cách dùng hai “búa” nhỏ gõ vào dây đàn.
Harp: Đàn cho nhiều dây căng thẳng góc với thùng đàn. Harp đã thành hình từ thời cổ đại tại nhiều nơi trên thế giới. Người ta đoán là harp thành hình từ âm thanh tạo ra của sợi dây cung căng ngang cái cung. Bên Âu châu, truyền thuyết là harp thành hình từ Ai Cập 4 nghìn năm trước công nguyên và vùng Iran-Iraq 3 ngàn năm trước công nguyên. Sau đó người Moors đưa vào Âu châu thời trung cổ. Đến thế kỷ 18, nữ hoàng Marie Antoinette vợ vua Louis 16 của Pháp, cổ vũ harp như là cây đàn cho phái nữ. (Marie Antoinnette và Louis bị cách mạng dân quyền của Pháp xử tử). Cũng vì vậy mà các nhạc sư từ đó đến nay không soạn nhạc harp, vì chê là đàn của phái nữ 😦
Trống bongo và conga: Bongo và conga đến từ Cuba, do người nô lệ da đen mang từ Phi châu sang khi bị bắt sang Cuba làm nô lệ. Người nô lệ làm trống bằng các thân cây rỗng, nhưng sang Cuba thì trống làm bằng gỗ và một mặt căng da, mặt dưới để rỗng. Bongo và Conga luôn luôn đi cặp đôi, một lớn một nhỏ, và chơi bằng hai bàn tay. Trống ngắn chừng hai tấc là trống Bongo; conga cao khoảng hơn 1m. Bongo và conga khởi đầu được dùng theo nhịp Rumba, sau đó là salsa, changui và son khi các loại nhạc này phát triển ở miền đông Cuba vào thế kỷ 19.
Năm Video đầu tiên dưới đây đều trích từ DVD Yanni Live! The Concert Event và gồm có các nhạc sĩ chính sau đây:
Yanni: Keyboard, synthesizer.
David Hudson [Australia]: Didgeridoo
Samvel Yervinyan [Armenia]: Violin
Sayaka Katsuki [Japan]: Violin
Victor Espinola [Paraguay]: Harp
Ramon Flores [Mexico]: Trumpet
Michelle Amato [USA]: Vocal (giọng hát)
Victor Espinola [Paraguay]: Vocal và harp
Video thứ sáu là một Aria, tức là một đoạn nhạc cho giọng người, dùng như là một khí cụ âm nhạc hơn là hát, tại buổi trình diễn ‘Yanni Live at the Acropolis’ năm 1993 tại Hy Lạp.
Video thứ bảy là Yanni trình tấu piano bản Reflection of Passion (Ảnh hình đam mê)
Mời các bạn thưởng thức
.
1. Yanni – Rainmaker
Didgeridoo: David Hudson [Australia]; Violin: Samvel Yervinyan [Armenia]; Vocal: Michelle Amato [USA]; Vocal/ Harp: Victor Espinola [Paraguay] Yanni Live! The Concert Event
.
2. Yanni – The Storm
Violin: Samvel Yervinyan [Armenia]; Violin: Sayaka Katsuki [Japan]; Harp: Victor Espinola [Paraguay]; Trumpet: Ramon Flores [Mexico] Yanni Live! The Concert Event.
Vocal: Michelle Amato [USA]; Trumpet: Ramon Flores [Mexico]; Flutes: Pedro Eustache [Venezuela]; Hammer Dulcimer: Dan Violin: Samvel Yervinyan [Armenia]; Harp: Victor Espinola [Paraguay], Yanni Live! The Concert Event.
.
5. Yanni — World Dance
From DVD album Yanni Live! The Concert Event performed by Dan Landrum, Pedro Eustache, Samvel Yervinyan, Sayaka Katski, Victor Espinola, Armen Movsessian, Zachary Carrettin, Walter Rodrigues.
Dự định để dành sẽ giới thiệu chàng ca sĩ có cái tên Chó Sói nghe rất “ hoang dã “ vào ngày sinh cuối tháng 7, nhưng vì vừa nghe lại bài How Can I Tell Her khi tối, nên mình đã đổi ý định.
Hôm nay mời các bạn thưởng thức những tình ca được cho là bất tử, những bản soft-rock, dòng nhạc country của thập niên 70, được sáng tác và trình bày bởi Lobo.
Lobo, nghệ danh có nghĩa là Chó Sói theo tiếng Tây Ban Nha, gắn liền với một hình ảnh một chú chó Boo dễ thương trong một ca khúc đã đưa anh lên danh sách ca sĩ hàng đầu được mến mộ với ca khúc đầu tiên được xếp hạng nhất trên Billboard : Me and You and a Dog Named Boo.
Lobo là tên gọi của ca sĩ/nhạc sĩ người Mỹ Roland Kent Lavoie, sinh ngày 31/ 7/ 1943 vang bóng của thập niên 70 liên tiếp xếp trong top hit của Bill Board như
“I’d Love You to Want Me” and “Don’t Expect Me To Be Your Friend.”
Các ca khúc của Lobo vươn đến đỉnh cao thu hút rất nhiều người hâm mộ nhờ nhờ âm điệu ngọt ngào, phối âm độc đáo, và ca từ đẹp đầy cảm xúc và đi vào lòng người thật trữ tình. Chính vì thế Lobo đã lừng danh thế giới khắp các châu lục ngoài châu Mỹ, Châu Âu, Trung Đông, Châu Phi , Ấn Độ và khu vực Đông Nam Á.
Kent LaVoie sinh ngày 31/7/1943 tại Tallahassee, Florida. Anh là một trong bảy người con của gia đình, lớn lên ở thành phố Winter Haven, bang Florida. Mẹ của Lobo là một ca sĩ trong ban nhạc lớn, nhưng anh chưa từng gặp cha đẻ của mình. Về sau, Lobo phát hiện ra cha từng là nhạc công guitar của một ban nhạc lớn. Có thể nói đam mê âm nhạc của Lobo khởi nguồn từ cả cha lẫn mẹ.
Một chiếc guitar là niềm mơ ước, là mục tiêu đầu đời của Kent LaVoie, khi anh được một cậu bé sống lang thang trên phố, dạy những nốt nhạc đầu tiên bằng cây guitar cũ kỹ.
Lavoie bắt đầu sự nghiệp âm nhạc vào năm 1961 với ban nhạc có tên “The Rumors, được cho là ban nhạc rock and roll đầu tiên ở Winter Haven. Năm 1964, trong khi đang theo học Đại học South Florida, Lavoie gia nhập ban The Sugar Beats. Anh gặp nhà sản xuất Phil Gernhard. Nhà sản xuất nhiều ca khúc thành công này ghi âm bản hit đầu tiên của LaVoie mang tên “What Am I Doing Here”
Toàn bộ các hit sau đó của Lobo đều do Gernhard trực tiếp thực hiện cùng với ban nhạc The Sugar Beats.
Trong những năm 1960, Lavoie biểu diễn với nhiều ban nhạc khác.Thời gian ở nhóm nhạc “The Uglies” năm 1966, Lobo phát hành hai single “It’s Gonna Be So Hard” và “Is This Guy Not Supposed To Cry”. Cả hai ca khúc đều do Brooke Chamberlain sáng tác.
Năm 1968, Lavoie gia nhập ban nhạc “Me And The Other Guys”. Đó cũng là lúc anh gặp Billy Aerts. Billy sớm trở thành thành viên trong ban nhạc lưu diễn của Lobo năm 1971-72. Suốt trong hai thập niên 80, 90, anh trở thành một phần quan trọng của âm nhạc Lobo.
LaVoie và Phil Gernhard cùng thu âm nhạc khúc “Happy Days In New York City” năm 1969, cùng với ca khúc “My Friend Is Here”. Đây là solo thu âm đầu tiên của Kent, anh ký hợp đồng với hãng đĩa Laurie và single được phát hành.
Một ngày nọ đầu thập niên 70, Lavoie đang viết ca khúc và cần chất liệu cho “anh và em”. Anh nhìn thấy một chú ”chó ” nòi Đức tên “Boo” bên ngoài cửa kính, và ca khúc “Me And You And A Dog Named Boo” ra đời ” do hãng Big Tree phát hành tháng 4/1971. Đĩa đơn này lọt vào top 5 ca khúc hay nhất và trở thành hit đầu tiên của Lobo, đĩa vàng đầu tiên của Big Tree. Album “Giới Thiệu Lobo” ra mắt vào tháng 5 và tháng 6 là đĩa đơn thứ hai “She Didn’t Do Magic”. Tháng 9, “California Kid And Reemo” phát hành, vào thời gian này Big Tree Records hợp nhất với Bell Records. Đến năm 1971, chàng ca sĩ đã lấy nghệ danh là Lobo.
“Me And You And A Dog Named Boo” nhanh chóng đem vinh quang tầm quốc tế cho Lobo với số bán gần 20 triệu đĩa. Đầu những năm 70, Lobo liên tiếp có nhiều ca khúc lọt vào top ten như “I’d Iove You To Want Me” ( thứ 2 trên Billboard 1972, thứ 1 ở Đức và thứ 5 ở Anh. “Don’t Expect Me To Be Your Friend“, “Don’t Tell Me Goodnight“, “How Can I Tell Her “ năm 1973 (top 40)
Single thứ hai mà Lobo thực hiện cho Warner/Curb là vào năm 1978 mang tên “You Are All I Ever Need” (tháng 4). Đây cũng là đĩa đơn cuối cùng do Gernhard sản xuất.
Thập niên 1980 mở ra một kỷ nguyên mới với Lobo bao gồm cả những hit hàng đầu anh trực tiếp sản xuất cho các nghệ sĩ nhạc đồng quê Joe Stampley và Christy Lane.
Năm 1981, cùng với Johnny Morris, Lobo thành lập hãng đĩa Lobo Records tại Nashville. Single đầu tiên của anh cho hãng “I Don’t Want To Want You” xuất bản tháng 11 và chiếm thứ hạng cao trong bảng xếp hạng country. Nhưng vì thiếu một nhà phân phối chuyên nghiệp, đĩa đơn không thể vượt quá phạm vi top 30.
Năm 1985, Lobo rút khỏi Lobo Records và hãng này đổi tên là Evergreen Records. Anh phát hành hai đĩa đơn cho Evergreen gồm: “Am I Going Crazy” tháng 3 và “Paint The Town Blue” tháng 6, hát chung với Robin Lee..
Khi tiếng tăm của Lobo bắt đầu lan rộng tại châu Á, WEA đã giới thiệu album “Best Of Lobo” ở dạng CD tại châu lục này vào năm 1987 và “The Best Of Lobo II”, năm 1988.
Năm 1989, album đầu tiên của Lobo sau 10 năm “Am I Going Crazy” do hãng UFO/WEA sản xuất ra mắt tại Đài Loan. Năm 1994, Lobo ký hợp đồng thực hiện nhiều album với PonyCanyon Records tại Singapore. Thu âm phát hành đầu tiên của anh là “Asian Moon”. Năm 1995, album thứ hai Lobo hoàn tất cho PonyCanyon là “Classic Hits” ra đời.
Suốt trong khoảng 1996-97, Lobo liên tiếp phát hành single, album cho các hãng Rhino, PonyCanyon (Asia) và Curb. Tại châu Á, anh ký hợp đồng mới với Springroll Entertainment. You Must Remember This ra mắt vào 1997
Ngày 21/8/1999 CD “Greatest Hits” của Lobo ra đời ở Nhật Bản. Tháng 1/2000, anh ký hợp đồng với một công ty thu âm Đức và bước vào phòng thu, thực hiện album mới. Anh cùng sáng tác chung với Billy Aerts cho ra đời 2 bản nhạc Giáng sinh. Top hits giai đoạn này là “Let It Be Me”, “‘How can I Tell Her” ll Stop The Rain” and “Different Drum
Rất được ưa chuộng ở Châu Á, nên năm 2006 Lobo đi lưu diễn ở Đông Nam Á.
Năm 2008, Out of Time được Lobo phát hành gồm những ca khúc xưa bất tử và những bản mới. Bản nhạc Me and You and a Dog Named Boo được xem là có giá trị văn hóa ở Mỹ, được chọn để chơi trước mỗi trận bóng của Hereford United Football Club kể từ sau khi đội này thắng Newcastle United F.C.trong giải tranh cúp 1971-1972 FA
Chàng nghệ sĩ tài hoa giờ đã 66 tuổi nhưng tên tuổi, các ca khúc soft rock trong kho tàng âm nhạc bất tử của Lobo cho đến hiện tại còn nguyên vẹn sức hấp dẫn bao người yêu nhạc soft rock
Mời các bạn nghe 4 bài hát sau đây của Lobo:
HOW CAN I TELL HER, DON’T EXPECT ME TO BE YOUR FRIEND, I’D LOVE YOU TO WANT ME, VÀ ME AND YOU AND A DOG NAMED BOO
1. HOW CAN I TELL HER
She knows when I’m lonesome.
She cried when I’m sad.
She’s up in the good times.
She’ s down in the bad.
Whenever I’m discouraged.
She knows just what to do.
But girl, she doesn’t know about you.
I can tell her my troubles.
She makes them all seem right.
I can make up excuses.
Not to hold her at night.
We can talk of tomorrow.
I’ll tell her things that I want to do.
But girl, how can I tell her about you?
How can I tell her about you?
Girl, please tell me what to do.
Everything seems right whenever I’m with you.
So girl, won’t you tell me.
How to tell her about you?
How can I tell her I don’t miss her whenever I’m away.
How can I say it’s you and I think of every single night and day.
But when is it easy telling someone we’re through.
Ah girl, help me tell her about you
2. DON’T EXPECT ME TO BE YOUR FRIEND
I stopped sending flowers to your apartment
You said you aren’t home much anymore
I stopped dropping by without an appointment
Cause I’d hear laughter coming through your door.
Sometimes late at night you’ll still call me
Just before you close your eyes to sleep
You make me vow to try and stop by sometime
Baby that’s a promise I can’t keep.
I love you too much to ever start liking you
So lets just let the story kinda end
I love you too much to ever start liking you
So don’t expect me to be your friend.
I don’t walk down through the village or other places
That we used to go to all the time
I’m trying to erase you from my memory
Cause thinking of you jumbles up my mind.
You always act so happy when I see you
You smile that way you take my hand and then
Introduce me to your latest lover
That’s when I feel the walls start crashing in.
3. I’D LOVE YOU TO WANT ME
When I saw you’re standing there
I ’bout fell out ‘f my chair
And when you moved your mouth to speak
I felt the blood go to my feet
Now it took time for me to know
What you tried so not to show
Something in my soul just cries
I see the one in your blue eyes
Baby, I’d love you to want me
The way that I want you, the way that it should be
Baby, I’d love you to want me
The way that I want too. If you’d only let it be
You told yourself years ago
You’d never let your feelings show
The obligation that you made
For the title that they gave
Baby, I’d love you to want me
The way that I want you, the way that it should be
Baby, I’d love you to want me
The way that I want too. If you’d only let it be
Now it took time for me to know
What you tried so not to show
Something in my soul just cries
I see the one in your blue eyes
Baby, I’d love you to want me
The way that I want you, the way that it should be
Baby, I’d love you to want me
The way that I want too. If you’d only let it be
4. ME AND YOU AND A DOG NAMED BOO
I remember to this day
The bright red Georgia clay
And how it stuck to the tires
After the summer rain
Will power made that old car go
A woman’s mind told me that so
Oh how I wish
We were back on the road again
Me and you and a dog named boo
Travellin’ and livin’ off the land
Me and you and a dog named boo
How I love being a free man
I can still recall
The wheat fields of St. Paul
And the morning we got caught
Robbing from an old hen
Old McDonald he made us work
But then he paid us for what it was worth
Another tank of gas
And back on the road again
I’ll never forget the day
We motored stately into big L.A.
The lights of the city put settlin’
Down in my brain
Though it’s only been a month or so
That old car’s buggin’ us to go
We’ve gotta get away and get back on
The road again
Thân ái chúc các bạn những ngày cuối tuần nhiều niềm vui, tiếng cười, với một chủ nhật tươi hồng.
Li Yundi (李云迪) (sinhngày October 7, 1982) tại thành phố Trùng Khánh, Tứ Xuyên, Trung Quốc là một nhạc sĩ piano cổ điển, nổi tiếng nhờ là nhạc sĩ dương cầm trẻ tuổi nhất thắng International Frederick Chopin Piano Competition lúc 18 tuổi vào năm 2000. Hiện nay Yundi Li sống ở Hồng Kông và trình diễn dương cầm cùng dàn đại hòa tấu Hong Kong Philharmonic Orchestra.
Yundi Li có tiếng đàn rất sống động, nhún nhẩy, nhiều thay đổi cường độ và, do đó, mang theo nhiều cảm xúc. Người ta có thể nghe được cảm xúc tuôn ra từ mỗi nốt đàn. Sở trường của Yundi Li nhạc Chopin, người ta có thể cảm nhận được sự khác biệt khi Yundi trình tấu Chopin, so với trình tấu Prokofiev chẳng hạn.
Sau đây mời các bạn thưởng thức vài vidéo của Yundi Li
1. Chopin’s “Fantasie” Impromptu, C thăng thứ, Op. 66 No. 4
2. Chopin Dạ Khúc (Nocturne Op. 9 No. 2).
3. Ba bản cùng lúc: Verdi’s “Rigoletto” Opera Fantasy, bản nhạc đông phương “Hoa Hướng Dương” (Sun Flower), và “La Campanella” của Liszt.
4. Traumerei của Schumann
6. Và hai ngày liền thi đấu lúc 18 tuổi tại International Frederick Chopin Piano Competition, năm 2000.
Chúc các bạn một ngày tươi hồng !!
Hoành
.
Chopin’s “Fantasie” Impromptu in C-sharp minor, Op. 66 No. 4
.
Yundi Li plays Chopin Nocturne Op. 9 No. 2
.
“La Campanella” in B minor S. 141. Composed 1838, revised 1851. Liszt was 27 when he composed this piece.
.
Pianist Yundi Li plays Liszt’s piano reduction of Verdi’s “Rigoletto” Opera Fantasy, an Oriental piece by composer Wang titled “Sunflower” and finally another Liszt, the 3rd Etude based on a variation of a theme of Paganini, “La Campanella” in B minor S. 141.
.
Traumerei (Shumann)
.
Yundi Li – 14th International Chopin Competition (2000). This is an 18 year old Yundi Li’s performance at the 14th International Chopin Competition in 2000. Uncut, plays straight through two days worth of amazing performances
Dale Breckenridge Carnegie, sinh ngày 24 năm 1888 – 1 tháng 11 năm 1955 là một nhà văn và nhà thuyết trình Mỹ và là người phát triển các lớp tự giáo dục, nghệ thuật bán hàng, huấn luyện đoàn thể, nói trước công chúng và các kỹ năng giao tiếp giữa mọi người. Ra đời trong cảnh nghèo đói tại một trang trại ở Missouri, ông là tác giả cuốn Đắc Nhân Tâm, được xuất bản lần đầu năm 1936, một cuốn sách thuộc hàng bán chạy nhất và được biết đến nhiều nhất cho đến tận ngày nay. Ông cũng viết một cuốn tiểu sử Abraham Lincoln, với tựa đề Lincoln Con Người Chưa Biết, và nhiều cuốn sách khác.
Carnegie là một trong những người đầu tiên đề xuất cái được gọi là đảm đương trách nhiệm, dù nó chỉ được đề cập tỉ mỉ trong tác phẩm viết của ông. Một trong những ý tưởng chủ chốt trong những cuốn sách của ông là có thể thay đổi thái độ của người khác khi thay đổi sự đối xử của ta với họ.
Sau khi để dành được $500, Carnegie bỏ nghề bán hàng năm 1911 để theo đuổi giấc mơ từ lâu là trở thành một nhà thuyết trình Chautauqua. Nhưng cuối cùng ông lại theo học ở Học viện Nghệ thuật Kịch nghệ Mỹ tại New York, nhưng hầu như không có thành công như một diễn viên, dù có tài liệu ghi lại ông đã đảm nhiệm vai Dr. Hartley trong một chuyến biểu diễn lưu động của Gánh xiếc Polly.. Khi công việc chấm dứt, ông quay trở về New York, thất nghiệp, gần phá sản, và sống tại YMCA ở Phố 125. Chính tại đây ông nảy sinh ý tưởng giảng dạy môn nói trước công chúng, và ông đã theo đuổi một vị quản lý “Y” nhằm cho phép ông mở một lớp học và trao cho họ 80% lợi nhuận. Trong khóa học đầu tiên, ông hầu như không có tài liệu để dạy: ứng tác, ông đề nghị các sinh viên nói về “điều đã khiến họ nổi giận”, và phát hiện ra rằng kỹ thuật này khiến diễn giả không cảm thấy sợ khi nói trước đám đông. Từ khởi đầu năm 1912 này, các khóa học của Dale Carnegie bắt đầu phát triển. Carnegie đưa được vào trong mỗi người Mỹ một tham vọng phát triển tự tin hơn, và tới năm 1914, ông đã kiếm được $500 – con số tương đương $10.000 ngày nay – mỗi tuần.
Trong số những tác phẩm ông viết, thành tựu lớn nhất của ông chính là cuốn Đắc Nhân Tâm do Simon & Schuster xuất bản. Cuốn sách trở thành một bestseller từ khi xuất hiện năm 1937, và được tái bản tới lần thứ 17 chỉ trong vài tháng. Khi Carnegie mất, cuốn sách của ông đã được bán tới con số 5 triệu bản bằng 31 ngôn ngữ, và đã có 450.000 người tốt nghiệp các khóa học tại Học viện Dale Carnegie. Cuốn sách nói rằng ông đã nghiên cứu hơn 150.000 bài phát biểu trong phong trào giáo dục cho người lớn ở thời điểm đó
( Theo Wikipedia)
Sau đây mời các bạn xem một phim về 15 câu danh ngôn của tác giả Dale Carnegie
1.
Act as if you were already happy and that will tend to make you happy. Hành động như thể bạn đã hạnh phúc ,điều đó thường sẽ làm bạn hạnh phúc.
2.
Any fool can criticize, condemn, and complain,- and most fools do. Bất cứ gã ngu nào cũng có thể phê bình, chỉ trích, và phàn nàn- và hầu hết những kẻ ngu đều thế.
3.
Are you bored with life? Then throw yourself into some work you believe in with all your heart, live for it, die for it, and you will find happiness that you had thought could never be yours.
Bạn chán đời sao? Thế thì hãy hăng hái bắt đầu một công việc nào đó mà bạn toàn tâm tin tưởng, sống vì nó, chết vì nó, và bạn sẽ tìm thấy hạnh phúc mà bạn không bao giờ tưởng có thể là của mình
4.
Do the thing you fear to do and keep on doing it… that is the quickest and surest way ever get discovered to conquer fear.
Hãy làm điều mà bạn sợ làm và tiếp tục làm… đây là cách nhanh nhất và chắc chắn nhất từng được tìm ra để chiến thắng nỗi sợ
5.
Feeling sorry for yourself, and your present condition, is not only a waste of energy but the worst habit you could possibly have.
Cảm thấy ân hận về bản thân, và hoàn cảnh hiện tại, không chỉ là một sự lãng phí năng lượng mà còn là thói quen tệ nhất của bạn.
6.
If only the people who worry about their habilities would think about the riches they do process, they would stop worrying. Giá mà những người lo lắng về tính cách của họ nghĩ về của cải họ có, họ sẽ ngừng lo
7.
Most of the important things in the world have been accomplished by people who have kept on trying when there seemed to be no hope at all.
Hầu hết những điều quan trọng trên thế giới này đã đuợc họàn thành bởi những người vẫn tiếp tục cố gắng khi dường như không có chút hi vọng nào
8.
Our fatigue is often caused not by work, but by worry, frustration and resentment. Sự mệt mỏi của ta thường không do công việc gây ra, mà là do lo lắng, chán nản, oán giận.
9.
Success is getting what you want. Happiness is wanting what you get. Thành công là đạt cái gì bạn muốn. Hạnh phúc là muốn cái bạn có
10.
The person who seeks all their applause from outside has their happiness in another’s keeping. Người thích tìm kiếm tất cả sự tán thuởng từ bên ngoài thấy hạnh phúc trong sự chăm sóc của người khác.
11.
We all have possibilities we don’t know about. We can do things we don’t even dream we can do.
Tất cả chúng ta có những khả năng mà ta không biết. Chúng ta có thể làm những điều mà thậm chí ta không hề mơ ta có thể.
12.
You can close more business in two months by becoming interested in other people than you can in two years by trying to get people interested in you.
Bạn có thể đóng cửa nhiều doanh nghiệp trong 2 tháng bằng cách chú tâm đến người khác hơn trong hai năm bằng cách cố gắng làm cho người ta quan tâm đến bạn.
13.
Happiness doesn’t depend on any external condition; it’s governed by our mental attitude.
Hạnh phúc không phụ thuộc vào bất cứ điều kiện bên ngoài nào; hạnh phúc bị chi phối bởi thái độ tinh thần của ta
14.
Do the hard jobs first. The easy jobs will take care of themselves.
Làm những việc khó khăn trước. Những việc dễ sẽ tự đâu vào đó.
15.
Instead of worrying about what people say of you, why not spend time trying to accomplish something they will admire.
Thay vì lo lắng về những gì người ta nói về bạn, tại sao không dành thời gian cố gắng hoàn thành một điều gì đó khiến người ta ngưỡng mộ
Chúc các bạn một ngày tươi vui, thấy hạnh phúc trong tinh thần lạc quan của chính mình như lời của Dale Carnegie. 🙂