Category Archives: Giáo dục

Giáo viên trồng rau cho bữa ăn bán trú

VNE – Thứ năm, 10/10/2019, 16:28 (GMT+7)

Hết giờ học, giáo viên Trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học Trà Tập (Nam Trà My, Quảng Nam) lại cầm cuốc xới đất, xách nước tưới cho vườn rau.

Học sinh tốp thì nhổ cỏ, tốp hái những cây rau xanh tốt đưa vào nhà bếp nấu ăn. Thầy trò vừa làm, vừa nói chuyện rôm rả. Hoạt động này diễn ra hàng ngày ở ngôi trường miền núi, cách trung tâm tỉnh lỵ Quảng Nam hơn 100 km.

Vườn rau hơn 200 m2 được giáo viên trường tiểu học Trà Tập xây dựng. Ảnh: Trần Tú.
Cô và trò trường tiểu học Trà Tập chăm sóc giàn bí. Ảnh: Trần Tú.

Hiệu trưởng Lê Huy Phương kể, khu tập thể giáo viên mới được san lấp mặt bằng, chưa có kinh phí làm sân bê tông. Sân đất thường lầy lội khi mưa xuống nên nhà trường cải tạo thành vườn trồng rau. Cách này vừa không tốn tiền đổ bê tông, vừa đem lại nguồn rau sạch cho học sinh.

Continue reading Giáo viên trồng rau cho bữa ăn bán trú

Chuẩn bị lễ trao học bổng Đọt Chuối Non lần thứ 15

Suất học bổng  Đọt Chuối Non đầu tiên được trao cho em Nguyễn Dũng Hiếu

Cảm ơn những anh chị em mua sách, giúp mình xây dựng quỹ từ ngày đầu.

Cảm ơn các nhà tài trợ, bạn bè đồng hành bền bỉ cùng mình gần 10 năm qua, nuôi Chương trình Học bổng lớn mãi tới bây giờ. Dự kiến Lễ trao học bổng Đọt Chuối Non lần thứ 15 sẽ diễn ra vào đầu năm 2022.

Logo học bổng Đọt Chuối Non

Trong hơn 100 suất học bổng tôn vinh những tấm gương vượt khó, hiếu học, hiếu thảo ở hai tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Chương trình lần này có những suất học bổng đặc biệt trao tặng con em những cán bộ nhân viên y tế quên mình chống dịch, bảo vệ tính mạng nhân dân; Và những suất học bổng hỗ trợ các trò nghèo mồ côi tiếp tục cắp sách đến trường, do cha mẹ qua đời vì Covid19.

Continue reading Chuẩn bị lễ trao học bổng Đọt Chuối Non lần thứ 15

Replica history complex inspires young students

VNN –  November, 28/2021 – 09:17|

A corner of the complex in theTrần Mai Ninh Secondary School. VNA Photos Khiếu Tư

By Nguyễn Bình

Newly built replicas of relic sites and landscapes at the Trần Mai Ninh Secondary School are making history and geography classes more vivid for junior students in the central province of Thanh Hoá.

 Autumn sunlight is spread out over the replica complex in the schoolyard inspiring students to learn a new subject — location education. 

Continue reading Replica history complex inspires young students

Vườn rau sạch của học sinh bán trú

VNE – Chủ nhật, 24/1/2021, 02:00 (GMT+7)

THANH HÓA – Các lớp học ở Trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Trung Lý, huyện Mường Lát, đều được chia đất trồng rau, cung cấp cho bếp ăn bán trú.

Sau giờ học buổi sáng, Giàng Thị Dợ, học sinh lớp 9B, trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Trung Lý, cất vội chiếc cặp vào phòng rồi cùng nhóm bạn đến vườn rau trước sân trường. Nữ sinh mặc chiếc váy trang phục truyền thống của người Mông, thoăn thoắt hái những đọt rau xanh xếp ngay ngắn vào rổ.

Đám học trò vừa hái rau vừa cười nói rôm rả. Chừng mươi phút, rổ rau đã đầy ắp. Bên cạnh, một nhóm khác đang cuốc đất, tay chân lấm lem…

Nữ sinh ở trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Trung Lý thu hoạch luống rau xanh mướt. Ảnh: Lê Hoàng.
Nữ sinh ở trường Phổ thông dân tộc bán trú THCS Trung Lý thu hoạch luống rau xanh mướt. Ảnh: Lê Hoàng.

Continue reading Vườn rau sạch của học sinh bán trú

Trẻ nhập cư ‘khát’ chữ

Phạm Thu Ngân, Song Mai – 10:11 – 04/05/2021

TNLớp học tình thương ‘Chắp cánh ước mơ’ tại khu phố 2, P.Hiệp Bình Phước, TP.Thủ Đức (TP.HCM) mà người dân quen gọi, thực chất nằm trong chốt dân phòng tự quản, là nơi dạy chữ cho trẻ nhập cư nghèo mấy năm nay…

Tâm (áo trắng - hồng, bên phải) đã theo học lớp tình thương 3 năm nay /// Ảnh: Song Mai
Tâm (áo trắng – hồng, bên phải) đã theo học lớp tình thương 3 năm nay – ẢNH: SONG MAI

Continue reading Trẻ nhập cư ‘khát’ chữ

Khi nhà vệ sinh trường học thành nỗi sợ của con trẻ 

vovgiaothong.vn

Hiện nay có khoảng 7,7 triệu học sinh từ bậc học mầm non đến THPT trên cả nước không được tiếp cận với xà phòng và nước sạch ở trường học. Mặc dù, một số trường đã đầu tư, cải tạo các nhà vệ sinh đạt chuẩn, tuy nhiên công tác quản lý, vận hành, bảo quản các nhà vệ sinh còn nhiều bất cập…

Nghe nội dung chi tiết tại đây:

Nhiều công trình nhà vệ sinh vẫn còn tình trạng bẩn, hôi thối, trở thành nỗi ám ảnh của không ít học sinh
Nhiều công trình nhà vệ sinh vẫn còn tình trạng bẩn, hôi thối, trở thành nỗi ám ảnh của không ít học sinh

Khảo sát nhà vệ sinh tại một số trường học công lập trên địa bàn Hà Nội xây dựng cách đây hàng chục năm, phóng viên VOVGT ghi nhận, nhà vệ sinh đã xuống cấp, đường ống nước không đảm bảo nên bốc mùi, tường nứt, thấm dột. Với số lượng học sinh đông, nhà vệ sinh thường xuyên rơi vào tình trạng quá tải.

Continue reading Khi nhà vệ sinh trường học thành nỗi sợ của con trẻ 

Thầy trò Pa Kô, Vân Kiều tự trồng rau nuôi gà, cơm bán trú ngon hơn cơm nhà

 27/07/2020 06:21 Tùng Dương

GDVNKhông những tự trồng rau xanh sạch, học sinh còn dùng tiền bán rau để mua gà, vịt giống…về chăn nuôi cải thiện vào bữa ăn của các em hàng ngày tại trường bán trú.

“Tôi thấy ở địa phương xung quanh khu vực trường học có tình trạng ô nhiễm môi trường do bã cà phê được các hộ dân ở đây đổ ra dọc hai bên đường sau khi xay thu hoạch, số lượng bã khá lớn nên gây mùi hôi thối và còn làm ô nhiễm nguồn nước.

Xuất phát từ suy nghĩ như vậy và thấy trong chương trình phổ thông có hướng dẫn học sinh nghiên cứu khoa học, nên tôi và một số giáo viên của trường đã hướng dẫn các em đưa ra hướng xử lý bã cà phê đó, biến chúng thành những giá thể có ích để trồng rau”, trao đổi với phóng viên Giáo dục Việt Nam, thầy Đinh Anh Công – Hiệu trưởng Trường phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Hướng Phùng, Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, cho biết.

Các em học sinh Trường phổ thông dân tộc bán trú Trung học cơ sở Hướng Phùng, Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị đang chăm sóc những giá thể trồng rau xanh. Ảnh: Thầy Công cung cấp.

Continue reading Thầy trò Pa Kô, Vân Kiều tự trồng rau nuôi gà, cơm bán trú ngon hơn cơm nhà

Tỉ lệ người học đại học Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới

17/06/2019 14:34

TTOMặc dù tổng chỉ tiêu tuyển sinh đại học năm 2019 tăng nhẹ nhưng trên thực tế ở Việt Nam số người trong độ tuổi đi học đại học (từ 18-29 tuổi) tham gia học đại học rất thấp, khoảng 28,3%, thuộc hàng thấp nhất thế giới.

Tỉ lệ người học đại học Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới - Ảnh 1.
Ông Phạm Như Nghệ giải đáp thắc mắc của đại diện các trường tại buổi tập huấn phần mềm tuyển sinh sáng 17-6 – Ảnh: TRẦN HUỲNH

Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học – Bộ GD-ĐT Phạm Như Nghệ – cho biết như vậy trong hội nghị tập huấn tuyển sinh đại học hệ chính quy năm 2019 do Bộ GD-ĐT tổ chức tại TP.HCM hôm nay 17-6.

Trong khi đó, tỉ lệ này ở Thái Lan, Malaysia là 43% hay 48%, còn tại những nước phát triển thì tỉ lệ này còn cao hơn nữa.

Continue reading Tỉ lệ người học đại học Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới

Những giáo sư bị “bịt miệng” và một nền giáo dục đại học Mỹ đang rung lắc

Xê NHO 4/11/2021 7:10 GMT+7

TTCTTinh thần giáo dục khai phóng, môi trường tự do học thuật, khuyến khích tranh luận có lẽ là những điểm thu hút phụ huynh khi cố gắng cho con đi du học ở Mỹ. Nhưng các vụ việc xảy ra gần đây rất có thể khiến các bậc phụ huynh này phải suy nghĩ lại.

 

Continue reading Những giáo sư bị “bịt miệng” và một nền giáo dục đại học Mỹ đang rung lắc

Giáo dục Nhật Bản: Trẻ mẫu giáo chia cơm, lớp 1 dọn sân bóng rổ

VNN – 01/11/2021    07:00 GMT+7

Phạm Mạnh Hùng – Viện Kinh tế và Chính trị thế giới, nghiên cứu chuyên sâu về nhân lực, nhân tài, lãnh đạo học, chuyển đổi số

Người Nhật được thế giới nể phục không chỉ vì tạo nên những kỳ tích công nghệ và kinh tế mà còn vì những đức tính cao cả, tinh thần tự lập, kỷ luật, tập thể…

Đó là kết quả của nền giáo dục chuẩn mực không chỉ dạy kiến thức mà còn rất chú trọng “dạy người” từ sớm.

Ứng xử lịch thiệp

Nền giáo dục Nhật vận hành theo nguyên lý lấy “đạo đức làm nền tảng”, “mỗi người học sẽ trở thành một cá nhân hoàn thiện đạo đức”. Bởi vậy, ngay từ mẫu giáo, trẻ em đã được rèn luyện, thực hành các quy tắc ứng xử lịch thiệp từ các hoạt động hàng ngày như biết nói lời cám ơn và xin lỗi, biết chia sẻ trách nhiệm trong tập thể, tính tự lập và tinh thần trách nhiệm với công việc…

Giáo dục Nhật Bản: Trẻ mẫu giáo chia cơm, lớp 1 dọn sân bóng rổ
Học sinh tự dọn dẹp lớp học

Continue reading Giáo dục Nhật Bản: Trẻ mẫu giáo chia cơm, lớp 1 dọn sân bóng rổ

Giáo dục tài chính dành cho học sinh THPT

23-01-2021 – 13:17

(NLĐO)- Tài chính cá nhân không đơn giản là kiếm thật nhiều tiền hay để dành được thật nhiều tiền mà là tổng hòa của tất cả các vấn đề như: thu nhập, chi tiêu, tiết kiệm, đầu tư, quản lý rủi ro…

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 tại Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020. Trong chiến lược tài chính toàn diện, Giáo dục tài chính là một mục tiêu quan trọng để thực hiện thành công Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia.

Trên thế giới, việc giáo dục tài chính cá nhân được nhiều nước thực hiện cho người dân từ khi nhỏ tuổi (như ở Israel, Nhật Bản, Hà Lan, và các nước phát triển khác).

 Ở Việt Nam, điều này còn khá mới mẻ và người dân vẫn chưa quen với các khái niệm cơ bản về tài chính và quản lý tài chính: Thu nhập, chi tiêu, tiết kiệm. Việc đào tạo kiến thức về tài chính ngay từ trên ghế nhà trường là bước đi cấp bách và mang tính chiến lược.

Giáo dục tài chính dành cho học sinh THPT - Ảnh 1.

Giáo dục tài chính dành cho học sinh THPT được tổ chức sáng 23-1 tại Trường ĐH Ngân hàng TP HCM

Continue reading Giáo dục tài chính dành cho học sinh THPT

Bỏ ghi hệ đào tạo “chính quy” hay “tại chức” trên bằng đại học từ 1/3/2020

 ĐSPL – Chủ nhật, 01/03/2020 | 04:06

Từ 1/3/2020, hình thức đào tạo là nội dung được ghi trên phụ lục văn bằng chứ không còn được ghi trên văn bằng giáo dục đại học như trước đây.

Từ 1/3/2020, hình thức đào tạo là nội dung được ghi trên phụ lục văn bằng chứ không còn được ghi trên văn bằng giáo dục đại học. Ảnh minh hoạ.

Từ ngày 1/3, Thông tư 27/2019 của bộ GD&ĐT quy định nội dung chính ghi trên văn bằng và phụ lục văn bằng giáo dục đại học sẽ có hiệu lực.

Điểm thay đổi đáng chú ý của Thông tư này là quy định không ghi thông tin về hình thức đào tạo như chính quy hay tại chức, vừa làm vừa học như trong nội dung chính của văn bằng như quy định cũ.

Continue reading Bỏ ghi hệ đào tạo “chính quy” hay “tại chức” trên bằng đại học từ 1/3/2020

Chiêu trò để trường đại học được xếp hạng quốc tế

TNQuý Hiên – 07:09 – 18/08/2020   

Để có được hạng này, hạng kia ‘đẳng cấp quốc tế’, một số trường đại học Việt Nam đã dùng chiêu mua bán các bài báo khoa học thật nhiều, nhằm ‘khẳng định’… dẫn đầu cả nước về thành tích nghiên cứu.

 /// MINH HỌA: DAD
MINH HỌA: DAD

“Bứt phá” nhờ mua bán bài báo khoa học?

Giai đoạn 10 năm qua, cả nước có sự bứt phá về số lượng bài báo trên các tạp chí khoa học có uy tín (là những tạp chí nằm trong các danh mục ISI, Scopus) của các đơn vị có địa chỉ từ Việt Nam.

Đóng góp chủ yếu vào sự tăng trưởng này gồm nhiều viện, đại học (ĐH) và một số trường ĐH Việt Nam. Riêng Trường ĐH Tôn Đức Thắng không chỉ vượt lên dẫn đầu cả nước về công bố quốc tế mà số lượng công bố còn gấp đôi đơn vị thứ 2 (là Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam, nơi tập trung mật độ cao các nhà khoa học hàng đầu Việt Nam).

Continue reading Chiêu trò để trường đại học được xếp hạng quốc tế

Đại tướng Võ Nguyên Giáp ‘vắng mặt’ trong sách giáo khoa – 2 kỳ

Đại tướng Võ Nguyên Giáp ‘vắng mặt’ trong sách giáo khoa – Kỳ 1: Sách giáo khoa ‘bỏ quên’ Đại tướng!

TN – 08:00 – 21/10/2013   

Sự ra đi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp để lại sự xúc động mạnh mẽ đối với hàng triệu đồng bào. Các học sinh, sinh viên, thanh niên, thiếu nhi đã dành những tình cảm thiêng liêng đối với Đại tướng. Với họ, ông không chỉ là một vị tướng tài mà còn là một tấm gương về lòng yêu nước, sự giản dị và đức hi sinh. Ông chính là những bài học lịch sử gần gũi và sinh động nhất.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp ‘vắng mặt’ trong sách giáo khoa - Kỳ 1: Sách giáo khoa ‘bỏ quên’ Đại tướng! - ảnh 1

Điều đáng ngạc nhiên là nhân vật lịch sử rất đặc biệt này lại không hề có mặt trong các sách giáo khoa (SGK) Lịch sử ở phổ thông. “Lỗ hổng” ấy, xuất phát từ nhiều nguyên nhân lịch sử, cho thấy một lối biên soạn SGK có nhiều khiếm khuyết và đấy chính là một trong những nguyên nhân khiến học sinh không hứng thú với các bài học lịch sử.

Cuộc kháng chiến chống Pháp, với đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, rồi tới kháng chiến chống Mỹ kết thúc bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 đều hiện diện trong SGK. Nhưng tại sao tên tuổi, cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng tư lệnh quân đội đã có những đóng góp quan trọng trong các chuỗi sự kiện lịch sử ấy, lại hoàn toàn vắng bóng?

Continue reading Đại tướng Võ Nguyên Giáp ‘vắng mặt’ trong sách giáo khoa – 2 kỳ

Ngành Y – Dược: Điểm thi chót vót vẫn không cách nào sánh nổi thế giới

VNN – 16/08/2015    02:00 GMT+7

Nguyễn Công Nghĩa – Tiến sĩ, Bác sĩ, Đại học Waterloo, Ontario, Canada

 Tấm bằng y dược của Việt Nam không được công nhận trên thế giới, ngoài một số quốc gia châu Phi và bán đảo Ả rập trước đây

Nguyễn Công Nghĩa - Điểm thi chót vót vẫn không cách nào sánh nổi thế giới  | Dân Luận
Ước mơ trở thành bác sĩ hay dược sĩ là một mô hình quen thuộc. Ảnh minh họa

Với sự thay đổi bước ngoặt lịch sử của Bộ Giáo dục & Đào tạo, điểm đầu vào xét tuyển ĐH (nguyện vọng 01) năm nay đang tập trung sự thu hút của toàn xã hội. Không ngoài dự đoán đã thành thông lệ từ nhiều năm, điểm đầu vào ngành y dược sẽ vẫn cao chót vót, và năm nay lại có khả năng sẽ cao hơn nữa. Bên cạnh những thí sinh tuyển thẳng, cử tuyển, hoặc được điểm cộng ưu tiên, nhiều tranh cãi là các thí sinh đạt điểm cao nhưng tâm lý vẫn… rối bời. 

Thí sinh đạt điểm 27 xét tuyển ngành Bác sĩ đa khoa, 25 điểm xét tuyển ngành Dược sĩ đều không có gì bảo đảm sẽ đậu ĐH tại các trường như ĐH Y, ĐH Dược (Hà Nội), hay ĐH Y- Dược TP. HCM. Thực tế nào đã khiến các ngành này thu hút các thí sinh điểm cao đến vậy? Và như vậy thì có gì hay cho họ và xã hội? 

Bác sĩ và dược sĩ luôn được coi là những nghề dễ tìm được việc làm (?), có thể sống bằng nghề mà không quá phụ thuộc vào chế độ XH. Những nghề này lại có tuổi nghề cao, có thể tiếp tục làm việc thêm hàng chục năm sau khi đã nghỉ hưu. Nếu ra trường chưa có việc làm trong cơ quan nhà nước thì việc tìm một chỗ trong các đơn vị tư nhân hay công ty kinh doanh dược là điều không quá khó. Gia đình nội ngoại của tôi có truyền thống học y cũng phần nhiều bởi tư duy của ông ngoại: “Bác sĩ (BS) còn gọi là cái bát sắt, đi đâu cũng có cơm ăn”. 

Ngành nghề này cũng được mặc định có thứ hạng khá cao, dễ có thiện cảm và được tôn trọng nhất định trong xã hội Việt nặng tư tưởng Nho giáo, nhất là với tư duy đại ngôn theo kiểu “cống hiến”, “hành nghề giúp đời”. Chữ “giúp” ở đây còn bao hàm cả nghĩa hẹp như là chỗ dựa trong một phạm vi gia đình hay dòng tộc khi có một người theo ngành Y, nhiều khi chỉ đơn giản là cần có một niềm tin. Ước mơ trở thành bác sĩ hay dược sĩ là một mô hình quen thuộc theo kiểu gia truyền, hay “con nhà nghèo học giỏi”. Những ước mơ thực của đứa trẻ có thể đã không được lộ diện bởi sự định hướng nghề nghiệp cảm tính và sơ khai ở các gia đình Việt Nam khi con em họ còn học phổ thông. 

Không có gì bàn cãi rằng các thí sinh điểm cao đến vậy chắc chắn là học giỏi. Tuy vậy các sinh viên y dược tương lai cần phải cân nhắc rất nhiều. Trước hết, đào tạo y dược ở Việt Nam là không tương đồng với thời lượng đào tạo và chất lượng của thế giới. Bằng cấp BS đa khoa hay dược sĩ tại các nước Bắc Mỹ, châu Âu hay Úc là bằng sau ĐH chuyên nghiệp, cực cấp (không cần bằng cấp gì thêm để hành nghề trong đời) đều đòi hỏi tới 10-11 năm trong đó 04 năm đầu dành cho khoa học cơ sở. Đào tạo BS y khoa trong 06 năm, và dược sĩ trong 05 năm ở Việt Nam thực chất chỉ mang những tiêu chuẩn của cử nhân.  

Do vậy ngành Y ở Việt Nam lại có thêm sau này các bằng chuyên khoa định hướng, chuyên khoa 01, chuyên khoa 02, hoặc thạc sĩ, tiến sĩ, mà không thể so sánh cách nào với thế giới. Chính vì thế, tấm bằng y dược của Việt Nam không được công nhận trên thế giới, ngoài một số quốc gia châu Phi và bán đảo Ả rập trước đây. Nó khiến cho triển vọng cọ xát nghề nghiệp với bên ngoài bị thu hẹp và những người hành nghề y dược Việt Nam phần lớn đóng cửa chơi trên sân nhà của riêng mình. 

Tiếp theo, đào tạo y dược nói chung có hàm lượng sáng tạo thấp, ở Việt Nam thì lại càng gần như không. Các điểm thi Toán, Hóa ở đỉnh cao của đầu vào, cũng chẳng giúp ích gì nhiều lắm khi các môn học trong trường Y và Dược ở Việt Nam gần như tuyệt đối là học thuộc lòng, và yêu cầu sự kiên nhẫn. Các môn học cơ bản, hay cả các môn học thực hành, thậm chí lâm sàng tại bệnh viện đều vậy.  

Lối tư duy sáng tạo tại các trường Y- Dược gần như không có đất sống. Chương trình đào tạo với nhiều môn không liên quan, giáo trình đào tạo cũ kỹ thậm chí từ những năm 80 thế kỷ trước, máy móc thiết bị cho phòng lab thực hành tiền lâm sàng quá thô sơ và thiếu thốn ngay tại các trường hàng đầu. Câu chuyện của những con mọt thư viện, giảng đường, bóng ma ký túc xá nằm đọc sách đến in hằn vết của đầu, mông hay gót chân trên chiếu sau 06 năm học không hề hiếm.  

Nhưng học cũng là một chuyện khác trong khi thực hành sau khi ra trường lại dựa chính trên các kinh nghiệm theo kiểu truyền dạy. Thực hành Tây y, kể cả phẫu thuật cũng không khác nhiều lắm với tư tưởng “Đông y gia truyền” ngàn đời. 

Tính đào thải trong quá trình học ĐH Y- Dược Việt Nam cũng thấp y như mọi ngành học khác, có nghĩa là gần như vào được trường thì khắc ra trường và có bằng cấp, trong khi tỷ lệ đào thải tích lũy khi học bác sĩ tại các quốc gia phát triển lên tới 50%. Kết quả học tương đối như nhau thôi, nhưng sự phân hóa sau khi ra trường lại là rất lớn. Rất nhiều người sẽ không thực hành y dược mà làm trình dược viên cho các hãng thuốc, hãng sữa, thực phẩm chức năng. Rất nhiều người khác lại lựa chọn công việc bàn giấy tại bộ, các sở, hay các trung tâm với công việc chẳng ăn nhập mấy với những gì đã học.  

Với những người thực hành lâm sàng, các chuyên ngành nóng như Sản, Ngoại, Nhi, Mắt luôn đầy ắp người xếp hàng, nhưng các ngành Tâm thần, Truyền nhiễm, Lao, HIV/AIDS, Giải phẫu bệnh thì tìm người mỏi mắt. Bác sĩ, dược sĩ mới ra trường đổ dồn về các bệnh viện tỉnh và trung ương, nơi thu nhập tương đối và điều kiện thăng tiến về nghề nghiệp, trong khi một số nhận thiệt thòi về tuyến xã hay huyện ở các vùng sâu vùng xa. 

Tất cả sự phân hóa nhìn thấy rõ nét chỉ sau 05 năm sau khi ra trường, mà nguyên nhân không hẳn do năng lực. Và còn muôn vàn các biến đổi khác tạo nên bởi quan hệ, tiền tệ và hậu duệ. 

Các sinh viên tương lai của các trường Y- Dược có lẽ cũng cần hỏi mình có hứng thú và ham thích thực sự với ngành này và cân nhắc mình có đủ sự kiên nhẫn hay không. Cần nhận thức cụ thể hơn để sau này khỏi phải nói câu “biết thế thì…”, có khi chỉ bởi cố gắng sống ước mơ của cha mẹ, họ hàng, bởi không tính đến các đam mê, sở trường, hay năng lực sáng tạo của riêng mình hay bởi “mình điểm cao thì nên vào y dược”. Xã hội có thể có thêm một bác sĩ hay dược sĩ, nhưng cũng có thể mất đi một bộ óc sáng tạo cho những ngành khoa học khác. 

Thực tế tại Mỹ và Canada, nơi tôi sống và làm việc nhiều năm, tư duy cố gắng cho con học Y- Dược vẫn tồn tại trong cộng đồng châu Á, nhất là Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam.  Trong khi với người sở tại, nó chẳng có ‎ nghĩa gì so với ước mơ thực của đứa trẻ. 

Nguyễn Công Nghĩa (TS, BS-  ĐH Waterloo, Ontario, Canada)