(Sự có mặt của Thượng tọa Thái Hòa tại đất Sài Thành, phía Nam)
Những năm tháng làm học Tăng tại miền đất Sài thành, nơi có nhiều bậc học giả và thấy đạo. Thầy đã được nuôi dưỡng từ chiếc nôi của thập niên 80, với nhiều tôn túc ở Tu viện Quảng Hương Già Lam, Viện Nghiên Cứu Phật Học Vạn Hạnh. Hai vị thầy chuyên về giáo dục đã dẫn dắt Thầy vào con đường đào tạo, đó là Hòa thượng Thích Trí Thủ và Hòa thượng Thích Minh Châu. Hòa Thượng Thích Trí Thủ là vị Giám viện các Phật học viện Trung Phần từ Phật học viện Báo Quốc Huế, đến Tu viện Quảng Hương Già Lam Sài gòn. Và Hòa Thượng Thích Minh Châu là Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh và Viện Cứu Phật Học Vạn Hạnh.
Thầy đã được giáo dục bởi các Ngài, nên luôn ấp ủ riêng cho mình một phương pháp truyền trao khế hợp với thời đại và lối sống chân phương thiền vị cho các thế hệ tiếp nối. Sau nhiều năm, vì những sự biến Già Lam, Vạn Hạnh, thế cuộc đổi thay, nên Thầy dừng lại các chuyến thăm viếng, trao đổi và xây dựng với các thế hệ đồng học của mình tại thành Sàigòn.
Nếu tính cho đến hôm nay, các lớp bạn của Thầy đã có tuổi, và đang hành đạo khắp nơi kể cả trong nước và ngoài nước. Có những pháp hữu đồng học, đồng tu đã trải qua ba mươi năm chưa hề gặp lại và có những pháp hữu đã đi xa hay đã rẽ thành hai lối, có những bậc Thầy của Thầy đã nằm yên bất động, nhưng cũng có những vị ngày nay đang ẩn mình trong viện sách, tàng kinh. Tuy vậy, nhưng Thầy không bao giờ quên dấu chân xưa của những vị ân sư tiền bối và của chính Thầy. Đất Sài Thành không phải Thầy chỉ đến đó một lần để học, mà còn đến đó nhiều lần để học lịch sử, học cách làm lịch sử và để rồi trở thành một trong những nạn nhân và chứng nhân của lịch sử một thời!
(



Có một lần bất chợt tôi gặp Thảo Giang trên chuyến bay Hà Nội – Plei Ku. Ông trở về sau một chuyến lưu diễn nhiều nơi. Những cuộc lưu diễn mà như lời ông “ Chỉ có hai chiếc vé máy bay đi về và đủ tiền mua cho con gái một món quà nho nhỏ ”. Nhưng Thảo Giang vẫn rất phấn khởi vì được đem tiếng ting Ning của mình giới thiệu với bà con khắp nơi.
Nhiều người yêu ca hát những năm 60-70 của thế kỷ XX chắc hẳn còn nhớ tới một giọng hát không dễ lẫn trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam. Giọng hát đặc biệt bởi sự cao vút, trong sáng, mượt mà, có cái gì rất hồn nhiên , dễ thương trong cách phát âm tiếng phổ thông còn chưa rõ. Đó là giọng hát của cô gái Tây Nguyên có tên gọi Kim Nhớ. Dường như cái ngọt ngào của dòng nước sông Hre ( Quảng Ngãi), cái tinh khiết của những giọt sương sớm mai nơi rừng già, sự mềm mại bay bổng của những cánh chim chao liệng trên vòm trời cao nguyên xanh thăm thẳm và cả sự khỏe khoắn của gió đại ngàn, đã chắt lọc, trao cho Kim Nhớ giọng ca đặc biệt ấy. Để chị làm say đắm trái tim của hàng triệu bạn bè trong và ngoài nước khi nghe chị hát.
Tháng 5-2008, chúng tôi ( Kpă Y lăng, Thảo Giang, K’Ra Zan Plin & tôi) những nhạc sỹ người Tây Nguyên tụ tập về trại sáng tác nghệ thuật tại thành phố Plei Ku, bỏ những cuộc đi chán ngắt của Ban tổ chức, cùng nhau vượt đường xa hành hương về làng bác Núp và sau đó là vì thương nhớ bạn bè mà ghé thị trấn huyện Kon Chro thăm người bạn vong niên H’Bênh.
Những năm 90 ở thế kỷ XX, không chỉ khi biên tập chương trình ca nhạc phát trên sóng phát thanh các thứ tiếng dân tộc Tây Nguyên, mà cả trong những hội diễn khu vực & những cuộc thi hát lớn của Đài Truyền hình Việt Nam được mời làm giám khảo; tôi bắt gặp nhiều ca sỹ Tây Nguyên thường chọn trình bày không chỉ những sáng tác của Y Sơn Niê, Nguyễn Cường, Y Phôn Ksor, Linh Nga Niê Kdam, mà còn có một cái tên khác liên tục xuất hiện : K’Ra Zan Plin, với những ca khúc khi thì êm ả như những dòng suối mùa khô “ thổn thức đêm nay nỗi buồn ngàn thu…mong sao tìm lại bóng dáng xanh nguồn cội”; lúc lại cháy bỏng như những đêm lửa hội mùa ăn năm uống tháng “ Rung cồng chiêng anh và em vòng xoang đêm nay, hãy thắp sang buôn làng, hãy thắp sáng cho đời ”…( ca sỹ Boner Trinh người dân tộc Chil ở Lâm Đồng, đã từng giành giải nhất Liên hoan ca hát thành phố Hồ Chí Minh với bài “ Giữ ấm bếp hồng” của Plin ) .