All posts by vanhac

Mùa xuân Tây Bắc trong tôi

Thế là đã ba cái tết tôi xa Tây Bắc, cũng là ba cái tết ở Thủ Đô phồn hoa và náo nhiệt, nhưng trong tôi vẫn không hề nguôi ngoai cái cảm giác hẫng hụt, như thiếu một cái gì vô cùng thân thiết, đã ăn sâu vào tiềm thức, vào máu thịt.

Dõi mắt về phương xa. Tôi cứ mường tượng đến những dải mây vắt ngang đỉnh Hoàng Liên cao vút, mỗi bình minh lại hồng rực, long lanh muôn sắc như chiếc khăn piêu trên “tằng cẩu” của người con gái Thái. Và đâu đây tiếng cười trong vắt lấp lánh, bay bổng, phấp phới cùng những dải tua mầu như tia nắng của quả còn hội xuân. Những nhịp xòe nồng say rộn ràng ánh lửa, những tấm lưng thon thả dịu dàng, những khuôn ngực thanh tân, những cần rượu thơm lừng mời gọi. Đâu đây mượt mà giai điệu bài “Tình ca Tây Bắc”: “Rừng xanh cây lá muôn đóa hoa mai chào đón xuân về”. Tôi như kẻ bị bỏ bùa mê, bị bao vây trong những bộn bề cảm xúc.

Ôi cái sắc hoa đào, hoa ban cùng muôn loài hoa rừng khoe sắc đua hương, thơm đến từng lá cây ngọn cỏ đã hóa thân trong mỗi nụ cười duyên, mỗi làn da trắng hồng, mỗi búp tay thon như búp măng rừng, mỗi đường nét tuyệt mỹ trên tấm thân ngà ngọc của người sơn nữ. Để rồi người bạn tôi – nhà văn Thế Sinh đã từng không cầm lòng được phải thốt lên: “Kinh côm nôm tẳng” – tiếng Thái là eo thon ngực nở, mà anh từng thả hồn trong cái ký nổi tiếng: “Miền gái xinh”. Còn tôi như say men rượu cần, trước vẻ đẹp nhuần nhị tuyệt mỹ của những cô sơn nữ như ánh bình minh mai sớm: “Nả ấc nọi nôm túm nàm tong” – tiếng Thái là ngực nhỏ nhọn như gai vông đồng, huyền ảo trong tản văn: “Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc”!

Mỗi con đèo, mỗi cánh rừng, mỗi dòng suối, những thửa ruộng bậc thang đều như những kiệt tác của tạo hóa ẩn chứa bao huyền thoại cùng khát vọng được sống, được yêu.
Con đường 6 mới được tôn tạo, lên cổng trời hun hút dãy Pha Đin, trong bạt ngàn hoa ban và lau trắng. Mỗi bông hoa ban như lời thơ trong câu chuyện tình bất hủ “Sống chụ son sao” – “Tiễn dặn người yêu” và những bông hoa lau dập dờn trong gió như đang chụm đầu thì thầm lời hẹn những mùa yêu. Đây Thuận Châu, đây Tuần Giáo… Con đèo quanh co gấp khúc hiểm trở xứng với tên gọi: “Pha Đin” – nơi đất gặp trời. Người già kể cho tôi, xưa các thế lực chúa đất bao đời tranh giành nhau đều lấy dãy núi hiểm trở này làm chỗ dựa, vì thế còn có tên gọi khác: Pú Chinh (núi chiến tranh).

Tôi nhớ mãi lần cùng đoàn giáo viên thế hệ năm 1959 lên thăm Sơn La, Thạc sỹ Lò Mai Cương của trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Sơn La, người đầu tiên của Việt Nam số hóa thành công chữ Thái, cùng phó giám đốc sở Khoa học công nghệ Sơn La – Cà Văn Chung, người số hóa lịch Thái được áp dụng trong nông lịch và bộ lịch Thái tổng hợp 200 năm, cùng các bạn người Thái đón tôi như đón người nhà. Các anh chị khoe những thành tựu của Sơn La và của “Mạng lưới bảo tồn tri thức bản địa dân tộc Thái”. Tôi chia vui cùng các bạn mà lòng không khỏi xao xuyến bồi hồi. Mới ngày nào Sơn La, Tây Bắc còn là vùng đất xa xôi, nghèo nàn và lạc hậu, thì nay đã là những điểm sáng trên bản đồ đất nước.
Tôi miên man đi trong ký ức những Điện Biên, Lai Châu, những con suối “Nậm Na”, “Nậm Rốm”, những tên đất đã trở thành tên lịch sử: “Mường Thanh” – Điện Biên, “Mường Than” – Than Uyên, “Mường Tấc” – Phù Yên, rồi vượt đèo “Khau Phạ” – sừng trời về Mường Lò, Yên Bái, nơi tôi đã từng sống và công tác 30 năm trời. Để rồi trong lòng chợt ngân lên câu ca dao thơm hương nếp mới: “Mường Lò gạo trắng nước trong/ Ai đi đến đó lòng không muốn về”.

Vâng Mường Lò không chỉ là đất tổ của người Thái đen Tây Bắc, là cánh đồng rộng thứ hai Tây Bắc. Con suối “Nậm Xia” – suối nước mắt, tên gọi cũ của suối “Nậm Thia” vắt ngang cánh đồng Mường Lò trong nắng xuân ngời muôn ánh bạc. Mỗi con đường mới mở, mỗi cánh rừng, mỗi mầm xuân và trong từng câu “khắp”, điệu “xòe”, ánh mắt giao duyên đều ngời sáng cất lên những cồn cào day dứt và ước mơ của bao thế hệ: “Ngày xưa, có một đôi trai tài gái sắc yêu nhau tha thiết. Cô gái đẹp như trăng rằm, mái tóc đen dài mềm mại. Mỗi khi nàng ngồi bên khung cửi, chim muông, hoa lá như múa vờn trong mỗi đường thêu. Chàng trai khỏe mạnh, giỏi làm nương, săn bắt thú. Mỗi khi tiếng khèn của chàng cất lên, chim rừng ngừng tiếng hót hồi hộp lắng nghe. Nhưng tên chúa đất quyết bắt cô gái về làm người hầu. Hai người rủ nhau chạy lên núi cao để bảo vệ tình yêu đôi lứa. Tên chúa đất cho người đuổi theo. Chàng trai và cô gái kiệt sức gục xuống trên đỉnh núi nọ. Cô gái không cầm lòng được, chỉ biết khóc than cho mối tình tuyệt vọng. Nước mắt của cô chảy mãi hóa thành dòng suối, mái tóc dài thơm hóa thành làn rêu xanh mướt như vẫy gọi. Chàng trai đau đớn nhảy xuống dòng suối, thân thể chàng vừa chạm mặt nước bỗng vỡ tan, hóa thành muôn tảng đá cho làn rêu quấn quýt bám quanh”. Tôi đã bao lần được nhâm nhi chén rượu thơm cất từ những hạt gạo Mường Lò, thấm đẫm huyền thoại kia với món rêu đá thơm, cay, dịu mát, với những chú cá sỉnh mình thon, chắc lẳn, vậy mà xuân này sao nhớ lạ lùng. Những sóng vàng ngày xuân của con suối Thia ấy như muôn bàn tay vẫy gọi.

Tôi chợt nhớ tới hình ảnh nghệ nhân Lò Văn Biến ôm đàn tính thả hồn trong những điệu “khắp”. Ông như pho sử sống của người Thái Mường Lò, đã từng sưu tầm và dịch nhiều tác phẩm của dân tộc Thái, ông đã cùng tôi biên soạn “Bộ tài liệu dạy tiếng và chữ Thái cổ Mường Lò” và dịch tác phẩm thơ: “Cầm Hánh đánh giặc cờ vàng”… Trước tết, khi nhà văn Trần Nhương đưa nhà văn Nguyễn Tiến Lộc từ Canada về, lên Yên Bái và vào thăm Mường Lò, ông nhờ nhà văn Trần Nhương gọi cho tôi dặn đi dặn lại: “Tết về chơi, nhớ lắm đấy!”. Rồi cô gái trẻ Cầm Thị Nghiệp, sinh viên trường Cao đẳng văn hoá nghệ thuật Yên Bái, từng là học sinh xuất sắc lớp chữ Thái cổ do nghệ nhân Lò Văn Biến mở cũng gọi: “Bác ơi, tết về chơi bác nhé, năm nay vui lắm”. Trong tôi cồn lên một nỗi nhớ thật khó gọi tên, con tim cứ nhẩy lên như nhịp trống hội xòe. Những kỷ niệm về những mùa xuân Tây Bắc ùa về lâng lâng trong ký ức, thân thuộc, nhung nhớ đến nao lòng. Và luôn tin rằng Mường Lò, Yên Bái nói riêng và Tây Bắc nói chung, với những người con ưu tú như nghệ nhân Lò Văn Biến, thạc sỹ Lò Mai Cương, phó giám đốc Cà Văn Chung cùng cô sinh viên Cầm Thị Nghiệp… mỗi mùa xuân sẽ thay da đổi thịt rất nhiều. Còn với cô sinh viên Thanh Nga của trường đại học Văn hóa – khoa Dân tộc học, một lần ngẫu nhiên đọc bài viết của tôi về “nét đẹp bài hát mừng dâu mới của người Thái Mường Lò” đã bị chinh phục bởi vẻ đẹp nguyên sơ của phong tục tập quán và các làn điệu dân ca Thái, cô đã quyết định làm đề tài nghiên cứu khoa học về vấn đề này. Thanh Nga cho biết, có một số sinh viên cũng làm đề tài về văn hóa Thái và cô quyết tâm mùa xuân này nhất định sẽ lên Tây Bắc, để hiểu thêm về văn hóa Thái và được mùa xuân Tây Bắc chắp cánh. Thế mới biết sức hút của văn hóa Thái Tây Bắc lớn lao biết chừng nào.

Tôi miên man trong suy tư. Nếu không có mấy chục năm trời gắn bó cùng những mùa xuân Tây Bắc, để rồi cái hơi cái hồn Tây Bắc thấm trong tôi từ lúc nào, thì tôi đâu có được vốn sống phong phú làm nên những trang văn thơ như hôm nay. Những tên đất, con người lịch sử và huyền thoại của Tây Bắc, cùng bao thiên truyện tôi được nghe các nghệ nhân kể bên bếp lửa, bao hội “xòe” cùng những điệu “khắp” Thái, những lễ hội dân gian của các dân tộc cùng hương rượu cần ngọt lịm, là mạch nguồn sáng tạo trong tôi. Nếu thiếu đi hơi ấm của mùa xuân Tây Bắc, chắc cuộc đời tôi sẽ nghèo đi nhiều lắm. “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở. Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” là đây chăng, để rồi xuân này giữa Thủ Đô đang hối hả nhịp sống mới hướng tới lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, tôi chợt nhận ra Tây Bắc mùa xuân với một vẻ đẹp mới, trong sáng vô ngần.

Hà Nội xuân 2010
Trần Vân Hạc

Xin em đừng để ngày mai

Chúng mình là bạn nghe anh !
Sao em nỡ nói đoạn đành thế ư ?
Đời ngang trái. Tình thiên thu
Khi ngay gang tấc, khi mù xa khơi
Bỏ qua một ánh mắt cười
Để bay theo gió một lời tri âm
Lỡ quên trên dậu tầm xuân
Vần thơ xanh phút tần ngần gửi trao
Cần chi một trận mưa rào
Cần chi giông tố thét gào đã tan
Tim rạn vỡ – ta gắn hàn
Tuy đâu lành vẫn cung đàn ngân rung
Rồi em đôi má lại hồng
Lệ rơi biếc lá, trái nồng hương say…

Đợi chi mai, hãy hôm nay
Nâng niu đón mối tình này trung trinh

Trần Vân Hạc

Xao nọong ơi em đẹp như cầu vồng

Ai đã từng lên Tây Bắc đều không khỏi trầm trồ thán phục, rung động trước vẻ đẹp trẻ trung, thanh tân, duyên dáng của các cô gái Thái. Chiếc váy đen lấp lánh vòng xà tích bạc, thắt lưng xanh, áo cỏm dịu dàng đôi hàng cúc bạc như cánh bướm và khăn piêu vời vợi trên đầu. Sự đồng nhất hài hòa kỳ diệu ấy tạo cho người ta một cảm giác thanh thản trước bộn bề dòng chảy của cuộc sống.

Khăn piêu

Trang phục của con gái Thái vừa đơn giản, vừa cầu kỳ; vừa kín đáo, vừa phô trương đường nét; vừa rực rỡ trang nhã và không kém phần trang trọng.

Váy Thái bao giờ cũng là mầu đen, thường bằng vải mộc tự dệt nhuộm chàm, lanh hoặc nhung the, mặt trong gấu váy bao giờ cũng táp bằng vải đỏ hoặc vải hoa sặc sỡ, mỗi bước đi chân váy uốn lượn thấp thoáng sắc mầu, kiểu làm dáng này kín đáo mà duyên. Điểm xuyết bên hông là bộ xà tích bằng bạc buông lơi tạo một điểm nhấn rất bắt mắt. Tiếp nối giữa váy và áo là chiếc thắt lưng xanh. Từ khi còn nhỏ, các bé gái đã được các bà, các mẹ dậy cách thắt “Xài yêu” – thắt lưng bằng vải, để lớn lên có thân hình theo tiêu chí: “Eo kíu manh po” – thắt đáy lưng như con tò vò. Tiêu chí về vẻ đẹp của người con gái Thái cũng giống như các thiếu nữ Kinh là phải “thắt đáy lưng ong” thì mới có thể được như mong ước tự bao đời: “Khuôn ẹt tẹt dú lai non lai/ Khuôn liệng ngúa bấu tai, liệng quái bấu sẩu/ Khuôn cót nảu phua mình non song…” – có nghĩa là: Vía đi vía không chờ/ Vía nuôi bò không chết, nuôi trâu không gầy còm/ Vía ôm chồng nằm kề/ Lứa đôi dây tình bện chặt…”, giống như câu ca của miền xuôi: “Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con”.

Áo của con gái Thái gọi là “xửa cỏm”, một kiểu áo dài tay may bó sát người, vừa tạo dáng, vừ vun đầy bộ ngực thanh xuân, thường có hai kiểu cổ: Cổ chữ V của người Thái trắng và cổ đứng của người Thái đen. Trước ngực là hai hàng cúc bạc hình ve sầu, nhưng thường là hình bướm, một bên là hàng bướm đực với đầu hình tam giác cùng đôi râu vểnh lên kiêu hãnh; một bên là hàng bướm cái đầu tròn, có lỗ hình thoi. Khi gài cúc (luồn đầu bướm đực vào lỗ trên đầu bướm cái) hai vạt áo khép lại kín đáo, hai hàng bướm chụm đầu vào nhau như trong vũ điệu giao duyên. Con gái chưa chồng, cổ áo cao kín đáo, hàng cúc mang số lẻ như còn chờ đợi cặp đôi. Con gái có chồng cổ áo thấp hơn, hàng cúc áo mang số chẵn như ước mong hạnh phúc vẹn tròn.

Nổi bật trong bộ trang phục của người con gái Thái là chiếc khăn piêu, piêu là một trong những thước đo sự khéo tay của cô gái. Người con gái khi dệt vải, thêu piêu đã gửi cả tâm tình vào đường kim mũi chỉ:

Em làm chiếc khăn piêu
Trao anh cả tấm tình
(Tình ca Thái)


Khăn piêu dài độ một sải rưỡi bằng vải bông nhuộm chàm, hai đầu khăn được thêu cầu kỳ những hoa văn, họa tiết hình mặt trời, hoa lá, dây leo, búp cây guột… với các mầu chủ đạo là đỏ, hồng, vàng, xanh. Các góc và rìa khăn viền vải đỏ và trang trí những “cút piêu” – nút thắt bằng vải, hoặc hạt cườm bọc vải và “xài peng” – tua vải mầu. Truyện cổ dân tộc Thái kể rằng: “Xưa có một mường toàn đàn bà con gái, những người khác giới không được vào, nếu cố tình vào sẽ bị sát hại. Một hôm có chàng trai đi săn “vô tình” “lạc” vào mường mẹ, được một cô gái xinh đẹp che chở và đem lòng yêu. Hai người quyết chí cùng chung bếp lửa.

Chàng trai trốn về thưa chuyện với mường bố. Mường bố cho đó là duyên trời định và đem người sang “thưa chuyện” với mường mẹ. Mường mẹ yếu thế lại đuối lý phải gả cô gái cho chàng trai và bỏ lệ cũ, trai gái từ đó được tự do yêu nhau. Mường bố yêu cầu mường mẹ làm chiếc khăn rồi điểm chỉ vào đó “cút piêu” và làm những tua vải hẹn ước “sài peng”.

Câu chuyện về tình yêu bất tử vượt lên những định kiến và hủ tục lạc hậu ấy sống mãi trong lòng các thế hệ người Thái Tây Bắc, để rồi hôm nay, mỗi khi chàng trai đón nhận chiếc khăn piêu hẹn ước là lồng ngực trẻ trung lại rộn ràng khúc nhạc về tình yêu, trân trọng nâng niu ước mơ cao đẹp về một cuộc sống gia đình hạnh phúc.

Váy áo tôn khăn piêu, khăn piêu tôn váy áo. Khăn piêu không chỉ để đội đầu, mà còn gắn liền với nhiều sinh hoạt cộng đồng: Trong hội xòe piêu là đạo cụ không thể thiếu, piêu lóng lánh như núi rừng Tây Bắc đang độ xuân thì; piêu bay lên như áng cầu vồng trong điệu xòe tung khăn tuyệt đẹp; hội tung còn, piêu là phần thưởng quí giá cho bên trai khi thắng cuộc; trong tình yêu piêu là tín vật; khi đông về giá lạnh piêu giữ ấm cổ, ngực ai…

Khi piêu phối hợp với chiếc áo cỏm trắng tinh, với chiếc thắt lưng xanh như lá rừng, với chiếc váy đen như màn đêm huyền hoặc đã tạo nên một vẻ đẹp thật khó mà đặt tên, cứ dư ba thổn thức trong lòng người mỗi khi nhớ về Tây Bắc. Đặc biệt ở đây còn có sự phối hợp tinh tế giữa văn hóa vải vóc: Bông, lanh, nhung, lụa mềm ấm như làn nước suối xuân với văn hóa kim loại quí: Bạc trắng tinh khôi ẩn chứa đầy bất ngờ như núi rừng mùa đông. Trang phục ấy đâu chỉ che thân, trang phục ấy còn là cốt cách, là văn hóa của người Thái Tây Bắc nói chung và của các cô gái Thái nói riêng.

Trong ký ức của tôi bỗng hiện lên một đêm xòe nồng say ở Mường Thanh mừng ngày chiến thắng Điện Biên, hay vòng đại xòe náo nức trong tuần văn hóa du lịch ở Yên Bái. Các “xao nọong” – em gái trong trang phục truyền thống lướt đi trong điệu dân vũ. Tiếng trống, tiếng khèn, pí pặp, pí thiu… rộn ràng tha thiết, rừng núi âm vang rộn rã. Tôi như được đắm mình trong tiếng vọng của ngàn xưa huyền thoại về đôi vợ chồng “Ải Lạc Cậc” – Bố khổng lồ, thần thoại dân tộc Thái đã khai thiên lập địa nên xứ Tây Bắc thuở nào.

Bộ trang phục này sinh ra cho các “xao nọong” thêm xinh đẹp và chính các em đã làm cho trang phục tuyệt vời kia sống động cái hơi cái hồn của dân tộc mình giữa Tây Bắc ngàn năm vẫn trẻ!


Trần Vân Hạc

Lời Xuân

Trang giấy phập phồng hồi hộp
Đợi dòng thơ xuân
Ngòi bút ngập ngừng phân vân
Xuân trong mắt em xanh lạ
Ngoài kia êm đềm lời gió
Thì thầm lời cỏ
Hạt mưa bừng cơn ngái ngủ
Bồi hồi cầm xuân trên tay
Vạt sương dăng nhẹ thơ ngây
Sao ta thấy mình rất lạ
Chẳng dám chạm vào mộng mơ
Xuân ấm trong từng ngõ nhỏ

Trần Vân Hạc
Hà Nội 15.2.2010

Khai bút đầu xuân

.

Xuân về thỏa nỗi khát mong
Xuân xanh xuân chín xuân hồng xuân hoa
Niềm vui bỗng chợt vỡ òa
Mùa xuân nâng tiếng chim ca xuân lòng
Nỗi buồn gửi lại mùa đông
Trâu qua hổ đến nối vòng nhân gian
Mềm môi xuân chén đầy tràn
Trời xanh xanh đến muôn vàn xuân sau!

Trần Vân Hạc
Hà Nội  14.2.2010 (Mồng một Tết, Canh Dần)

Gửi người đón Tết xa quê

Tết nguyên đán nơi trời xa lạc lõng
Bè bạn tha hương quây quần
Toàn người dưng bỗng thành gia đình
Nấu nồi bánh cho vơi nỗi nhớ
(Cũng có gạo nếp, hành, thịt, đỗ)
Chiếc bánh chưng nấu nồi áp xuất
Sao không mang hương vị tết ?
Thiếu mầu lá dong gói niềm thương nhớ
Thiếu ngọn lửa hồng mẹ nhóm ấp iu
Chờ bánh chín bà kể câu chuyện cổ
Chuyện kể rồi mãi không bao giờ cũ
Xuân xa quê
Không có mưa xuân
Nẩy lộc trên cây nêu đầu ngõ
Không nắng dịu dàng
Trên má hồng thiếu nữ
Không lửa nồng nàn
Trong mắt người thương
Ăn miếng bánh chưng
Mà lòng rưng rưng
Hồn quê day dứt trong máu thịt
Nâng ly rượu tây
Thêm cồn cào da diết
Nhớ góc vườn
Ấp ủ nhúm nhau

Trần Vân Hạc

Nồng say xòe Thái Tây Bắc

Nói đến nền văn hóa của dân tộc Thái Tây Bắc là phải nói đến xòe. Xòe là các điệu múa dân gian bắt nguồn từ thực tế cuộc sống, được những người Thái – những nghệ sỹ dân gian thổi vào hơi thở của tình yêu, khát vọng vươn tới tự do, hạnh phúc, làm cho các điệu xòe lung linh, sống động và trường tồn.

Người Thái Tây Bắc sống giữa thiên nhiên hùng vỹ, cần cù sáng tạo trong công cuộc chính phục thiên nhiên, anh dũng quật cường chống lại kẻ thù hai chân và bốn chân. Mỗi khi hoàn thành một công việc trọng đại, mọi người lại nắm tay nhau quanh đống lửa nhẩy múa ăn mừng. Những điệu xòe hình thành, phát triển và hoàn thiện, mô phỏng những bước đi của cha ông khai phá đất đai, phát rẫy, trồng lúa, lấy nước, tung khăn, mời rượu… thực tế cuộc sống và những ước mơ, khát vọng được diễn tả sinh động và tinh thế.

Nói tới xòe Thái là phải nói tới các điệu xòe cổ:

Điệu “Khắm khen”: Quanh đống lửa, mọi người nắm tay nhau nhẩy múa. Đây là điệu múa mang tính sơ khai, biểu lộ sự gắn kết cộng đồng, mong ước một cuộc sống ấm no, hạnh phúc vẹn tròn.

Điệu “Khắm khăn mơi lẩu” – Nâng khăn mời rượu. Đây là điệu múa đầy chất trữ tình và ấm áp tình người, thể hiện lòng hiếu khách.

Điệu “Phá xí” – Bổ bốn, diễn tả tình đoàn kết của cộng đồng, hướng về tổ tiên, quê hương của mỗi thành viên.

Điệu “Đổi hôn” – múa tiến lùi, như muốn khẳng định dù đất trời có đổi thay, cuộc sống có như thế nào thì tình người vẫn luôn sắt son bền chặt.

Điệu “Nhuôm khăn” – tung khăn, là điệu xòe tưng bừng nhất, hay dùng khi mùa vụ bội thu, đám cưới, lên nhà mới…

Dần dần, từ các điệu xòe cổ, các nghệ nhân dân gian xây dựng được tới 32 điệu xòe mang bóng dáng các sinh hoạt thường ngày: “Xe cúp” – múa nón, xe tẳng chai” – múa chai, “Xe kếp phắc” – hái rau, “Xe cáp” – múa sạp…

Các điệu xòe nhịp nhàng sôi động trong tiếng trống, chiêng, khèn, pí, đàn tính, đôi khi có cả lời hát phụ họa cho thêm phần sinh động.

Các điệu xòe vòng sôi nổi bao nhiêu, thì các bài xòe điệu lại tinh tế duyên dáng bấy nhiêu. Triết lý âm dương, đất – trời, lửa – nước và ý nghĩa nhân sinh cao cả ẩn chứa trong các điệu xòe.

Người Thái có câu ca:

“Không xòe không tốt lúa
Không xòe thóc cạn bồ”

Qua mỗi bước xòe, người ta như được gột rửa tinh thần, gần gũi chan hòa với nhau hơn, yêu người, yêu đời để bước vào cuộc sống lao động với một niềm tin sáng trong phơi phới.

Sức hấp dẫn của xòe chính là sự sôi nổi, gần gũi mà đậm tình như hơi thở của cuộc sống. Xòe vòng luôn thu hút được tất cả mọi người, không phân biệt người già hay trẻ, lạ hay quen. Mọi người nắm tay nhau thân ái cùng bước xoay tròn quanh đống lửa theo chiều kim đồng hồ như sự phát triển của cuộc sống. Vì vậy xòe vòng luôn thu hút được cả với khách du lịch trong và ngoài nước. Xòe vòng có thể có số lượng lớn người tham gia. Đã từng có những vòng đại xòe với số lượng đông tới hàng ngàn người ở Yên Bái, Điện Biên vô cùng sôi động.

Trong chế độ thực dân, phong kiến, các điệu xòe và kiếp gái xòe chỉ là trò mua vui cho bọn quan lại thống trị. Ngọn lửa hội xòe bao lần run rẩy tưởng trừng bị tắt lụi, nhưng ngọn lửa trong trái tim những người Thái Tây Bắc vẫn nồng nàn tỏa sáng. Trong các làng bản, các nghệ nhân vẫn âm thầm truyền dạy cho các thế hệ con cháu những tinh hoa văn hóa của dân tộc mình.

Dưới ánh sáng cách mạng, ngọn lửa hội xòe hồi sinh. Lửa rực hồng mỗi đêm xòe ngày hội, lửa nhảy nhót trong những bước đi bay nhẩy, lửa rạo rực trong trái tim mỗi người dân Tây Bắc, những con người chịu thương chịu khó, cần cù anh dũng và làm chủ tương lai.

Ngày nay ở khắp miền Tây Bắc, mỗi làng bản, xã, phường đều có các đội văn nghệ, các đội xòe phục vụ cho đời sống cộng đồng, cho các đợt liên hoan văn nghệ, phục vụ du lịch. Cuộc sống mới chắp cánh cho bước xòe bay bổng.

Nếu có dịp hành hương lên Tây Bắc, có ai không trầm trồ thán phục trước những điệu xòe sôi nổi và tinh tế. Những cô gái, các mẹ, các chị hàng ngày đảm đang trong việc làm nương rẫy, quay ra dệt vải… giờ đây tươi trẻ hồn nhiên trong điệu dân vũ. Rồi khi các cô gái nâng chén rượu thơm, cất tiếng hát chân tình mà say đắm:

Đừng sợ say
Đây tay ngà
Chén đã dâng đầy
Ngọn lửa hội xòe được thắp lên, tiếng trống, tiếng khèn gọi mời tha thiết.
Vào đây anh
Tay cầm tay múa xòe cùng em…
Kìa hội vui
Vào đi anh!
Đừng để em cô đơn một mình…
Đôi tay ngà đón chờ người ơi!

Có ai cầm lòng được, để rồi trái tim thôi thúc bước vào vòng xòe huyền thoại rạng ngời ánh lửa và lòng người cứ phơi phới, rạo rực đắm say.

Trần Vân Hạc

Giá như

Giá như thì nói làm chi
Nhưng rồi vẫn nói chỉ vì thương em
Tưởng rằng rượu đã nhạt men
Ai ngờ say tỉnh liêng biêng thế này
Giá như trái đất ngừng quay
Em cùng tôi sống những ngày mộng mơ
Giá như thơ chỉ là thơ
Vầng trăng đâu phải ngẩn ngơ đi tìm
Giá như em tuổi hoa niên
Anh xin dâng lễ dẫu tiền chồng cao
Sợ gì sông rộng sóng gào
Bắc cầu dải yếm ta vào bến mơ
Già còn chưa trọn kiếp tu
Kiếp sau đốt cháy vần thơ… giá mà !

Trần Vân Hạc

Vàng son huyết lệ


Những ngày đầu năm 2010 đáng nhớ này, cuốn hồi ký độc đáo: “Vàng son huyết lệ” của Minh Phụng (1922 – 1989) do nhà xuất bản Phụ Nữ in ấn, Trung tâm văn hóa Tràng An – một địa chỉ tin cậy về phát hành sách văn học và giáo dục của Thủ Đô tổng phát hành, là món quà quí cho bạn đọc nói chung, bạn đọc trẻ và giới nữ nói riêng.

Nhà văn Tam Lang từng nói: “Đời của Minh Phụng là một cuộc đời giang hồ nhưng là đời giang hồ số một của nước Việt Nam!”. Đời của Minh Phụng mở đầu bằng một thiên tình sử để khép lại bằng một thiên tình hận – Hồ Dzếnh – Báo Thần Chung số 19)…

Cuốn hồi ký của một nhân vật sống cách đây hơn nửa thế kỷ với những ước mơ, khát vọng cháy bỏng mong có cuộc sống “vàng son” không có điểm dừng, để rồi ngậm ngùi trong “huyết lệ”, luôn mới trong thời đại hiện nay.

Có lẽ mong muốn của nhà xuất bản Phụ nữ đã gặp gỡ ý tưởng và tiêu chí của Trung tâm văn hóa Tràng An: Xuất bản và phát hành cuốn hồi ký, để thông qua đó, chuyển đến bạn đọc, nhất là bạn đọc trẻ thông điệp và những bài học quí giá từ cuộc sống. Giúp bạn đọc có thêm sự định hướng, phấn đấu vươn lên bằng cái tài, cái tâm của mình một cách chính đáng.

Nếu bạn chưa đọc cuốn hồi ký này, có thể sẽ coi đây là một cuốn sách bình thường. Nhưng nếu bạn may mắn có cuốn sách này trong tay, chắc chắn bạn sẽ đi từ ngạc nhiên này đến sự thích thú khác về cuộc đời đầy sóng gió của một người phụ nữ tài sắc và đa đoan một thời. Với nội dung phong phú, chân thực cùng bút pháp điêu luyện, tình tiết vô cùng hấp dẫn, có sức lôi cuốn người đọc ngay từ những trang đầu tiên của tập hồi ký. Bởi vậy ngay từ khi cuốn hồi ký mới ra mắt đã được đông đảo bạn đọc đón nhận và chuyền tay nhau.

Bạn đọc có thể mua trực tiếp tại Trung tâm văn hóa Tràng An: 54/ 171 Nguyễn An Ninh, Hoàng Mai, Hà  Nội. ĐT: 04 3664 7143 – 3662 1060 Fax: 04 6284 1316 Mobile: 0912 344 084

Để bạn đọc có thêm thông tin về cuốn hồi ký độc đáo này, tôi xin trích đăng dưới đây bài viết của Xuân Ba  trên báo Tiền Phong:

Người đàn bà Nguyễn Tuân vét cạn túi tặng hoa

Xuân Ba

Bây chừ gấp lại cuốn hồi ký mà tôi cho là lạ lẫn truân chuyên này, chợt bừng ra một cái à! Hóa ra giai thoại lâu nay về nhà văn Nguyễn Tuân là có thật! Đấy là có lần ông đã từng vét sạch tiền trong túi mua (và lại còn mua chịu nữa) tất tật số hoa của những quầy hoa ở bờ hồ Hoàn Kiếm đêm ấy để tặng cho một người đẹp.

Người được tặng nhiều hoa nhất không hề khuyết danh và có niên biểu hẳn hoi. Đó là một đêm mùa xuân năm 1938. Người nhận hoa là Minh Phụng, diễn viễn chính thể hiện vở Kiều Loan của thi sĩ Hoàng Cầm.

Minh Phụng lúc 40 tuổi

Minh Phụng là ai? Là một nữ sĩ. Một nữ sĩ không thường của những năm ba bốn mươi thế kỷ trước. Nói như Tam Lang, “Đời của Minh Phụng là một cuộc đời giang hồ nhưng là đời giang hồ số một của nước Việt Nam!”.

Còn thi sĩ Hồ Dzếnh viết: “Đời của Minh Phụng mở đầu bằng một thiên tình sử để khép lại bằng một thiên tình hận” – (Báo Thần Chung số 19). “Phụng là người trí thức, trí thức giang hồ. Sống như Phụng mới là người biết sống” (Lê Văn Trương, năm 1937)…

Một nhà xuất bản lớn ở Hà Nội đang chuẩn bị cho ra mắt cuốn hồi ký độc đáo của nữ sĩ họ Trịnh có tên là Minh Phụng này. Cuốn hồi ký có tên là Vàng son huyết lệ.

Từ gái quê thành sao sân khấu

Cô gái quê mười lăm tuổi ấy có tên là Nụ, Trịnh Thị Nụ sau đổi tên là Hoàng Minh Phụng là út trong gia đình có 7 anh chị em quê ở Tứ Kỳ, Hải Dương. Bố là một nhà nho làm nghề dạy học. Mẹ buôn bán lặt vặt, gia sản cũng chỉ đủ cho việc chi tiêu tùng tiệm. Nhưng được yêu chiều từ nhỏ, Phụng được đi học chữ nghĩa, không biết được mấy hột nhưng thuộc làu những cuốn sách của Tự Lực Văn Đoàn như Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Tố Tâm, Đời mưa gió…

Tâm hồn đa cảm trong một nhan sắc sớm trội nổi, cô gái quê mười lăm tuổi ấy thấy những lũy tre làng như những hàng rào giam hãm. Những ao chuôm như những huyệt mộ chôn vùi tuổi xuân.

Lại nghe phong thanh mình sắp bị gả cho một đám tầm thường, một sáng tinh sương, cô bé Nụ cắp nách hai bộ áo sống, cắp luôn tám trăm đồng bạc mà mẹ cô vừa bán mấy mẫu ruộng để chi dùng vào một việc quan trọng của gia đình, đáp tàu trốn lên Hà Nội, một nơi mà cô chưa từng đặt chân, chưa từng biết! Mới đầu cô bé Nụ tá túc ở nhà một bà bán bánh cuốn.

Làn gió độc xứ cát bụi kinh thành đã cuốn cô đi. Mới đầu là việc đi học nhảy… Rồi các mối quan hệ quen biết chồng chéo khi đã thạo các điệu nhảy (Nụ rất có khiếu trong môn này).

Những vũ trường nổi tiếng ở Hà thành khi đó mỗi đêm đều ngong ngóng cô Nụ, lúc này đã có tên mới là Hoàng Minh Phụng, xinh đẹp nhảy giỏi. Các con quan, các cậu ấm, lại cả những ông Phủ, ông Huyện… thay nhau bao Phụng.

Rồi Phụng thất thân với một công tử bộn bạc xứ Hà thành vào một đêm mưa ở Đồ Sơn. Phụng có khiếu như cô Kiều, hễ đụng vào tay đàn ông nào thì y như rằng đời người đàn ông đó cũng tan nát!

Biết bao đám lăn lóc với Phụng. Từ ăn uống đến mọi khoản chi tiêu xa hoa, họ đều lăn xả vào mà trả (trích hồi ký). Trong số đó, dám lăn xả hay có ông nào chết vì Phụng hay chưa thì không rõ, nhưng do lãng mạn, do liên tài, Phụng chơi thân với hầu hết đám văn nghệ sĩ nổi danh của Hà thành lúc đó, ngoài ba ông mà tôi vừa dẫn trên đây và thêm nhà viết kịch Thế Lữ, thi sĩ Hoàng Cầm đa tình còn có nhà văn Nguyễn Tuân khinh bạc của chúng ta.

Nguyễn Tuân buột ra đi mua hoa sau khi thốt lên với đám bạn trong đó có Thế Lữ về cái tài nghệ dù chỉ là diễn góp vui của Phụng trong vai Kiều Loan như thế này: “Trời ơi, Phụng tài quá! Nó giỏi, nó thông minh. Nó không phải là hoàng hậu mà sao nó giống hệt một bà hoàng?

Nó cau mày, nó cười nhạt, nó nghiến răng, nó ôm hoàng tử trong tay. Nó ghen, nó đau khổ”… (trích hồi ký). Ba đêm liền Phụng thủ vai Kiều Loan ở Nhà hát Lớn như thế. Rồi những đêm nổi danh thủ các vai chính của Lệ Chi Viên, những Đêm Phong ba của Vi Huyền Đắc…

Nhưng Phụng chỉ chơi chơi vậy thôi, không có nhập một đoàn hát nào cả… Năm 1941, Khái Hưng tặng thơ cho Phụng trên một tờ báo: Yêu khách giang hồ yêu tha thiết/ Biết người khuê các biết vu vơ…

Tưởng kiếp giang hồ ấy neo đậu bền bền với đám cưới một cậu ấm thuộc loại danh gia vọng tộc, nhưng trời đã bắt tố chất giang hồ nồng nàn, dào dạt trong huyết quản rồi, Phụng đâu có yên!

Thời gian sẽ cho tôi không sầu khổ và chỉ còn lại những quên. Cái nhớ nhung khác lạ mới là đời! Có gian nan mới biết mùi nhân thế… (trích hồi ký) .

Giang hồ số một

Phụng theo một cô bạn lên máy bay chuyển vũ khí cùng với một tốp phi công, quân của Tưởng Giới Thạch từ Gia Lâm vù sang Côn Minh. Cái duyên ông Trời se, cái que ông Giời buộc, lớ ngớ thế nào mà ông tướng Tỉnh trưởng Vân Nam vừa ngó thấy Phụng đã lăn lóc.

Cái lăn lóc của thứ đàn ông bộn bạc nhưng chung tình. Ông tướng ấy bay ngay sang Gia Lâm, đến Hà Nội sau chuyến bay của Phụng chỉ một ngày. Và diễn ra cuộc hội ngộ của vị tỉnh trưởng này với Phụng tại một nơi kín đáo.

Trên chuyến bay đặc biệt trở về Côn Minh ngày hôm sau, sánh vai cùng vị tỉnh trưởng đầy quyền lực ấy là Phụng. Dưới cánh bay kia là dòng Hồng Hà ngầu đỏ mênh mông.

Mà trên bờ là Hà thành một biển người trong đó có người chồng khù khờ nhưng chân tình của Phụng lẫn cái danh gia vọng tộc của nhà chồng tha hồ mà ngóng đợi.

Những ngày ở Côn Minh Phụng đã cháy sáng hết mình tài lẫn sắc trong những cuộc tiếp tân tiệc tùng liên miên cùng vị Tỉnh trưởng Vân Nam.

Có một chi tiết phải lấy ra đây trong tập hồi ký cồm cộm chật cứng các chi tiết sinh động ấy là trong buổi tiếp viên lãnh sự Pháp ở Côn Minh, Phụng đã nhõng nhẽo nhưng cương quyết với các quan khách rằng đòi được mặc Quốc phục (áo dài Việt Nam), đòi phải được treo cờ của nước Nam (?) không thì kiên quyết bỏ về không dự tiệc.

Việc xảy ra quá đột ngột, sợ viên Tỉnh trưởng uy quyền mất lòng, viên lãnh sự Pháp ở Côn Minh phải đứng ra dàn xếp đại ý, thưa bà tỉnh trưởng hiện nay bên nước bà đang xảy ra nội chiến(?) chưa rõ bên ông Hồ Chí Minh hay bên Pháp thắng nên chúng tôi tạm thời chưa dám treo cờ của bên nào (!)

Đàn ông mê nàng một nhẽ. Không thiếu quý bà quý cô các mệnh phụ phu nhân cũng mê Phụng mới lạ. Cuộc gặp hay cuộc đối thoại giữa vợ viên Tỉnh trưởng Vân Nam bay từ California (Mỹ) về với Phụng cực giàu kịch tính và rất sinh động. Kết thúc cuộc gặp ấy là nước mắt và tình thân ái.

Cuộc đời nhung lụa bên vị tướng thét ra lửa ấy không buộc được Phụng. Cô tranh thủ đi Nam Kinh, đi Thượng Hải và những thành phố những danh lam thắng cảnh khác của Trung Hoa rồi khẳng khái từ biệt tướng quân tỉnh trưởng…

Phụng lang thang tiếp ở Quảng Đông rồi không may sa vào một toán cướp. Nhưng thân không bại mà danh cũng chẳng liệt và kiếp giang hồ lại chói sáng hơn ở Hồng Kông trong những hộp đêm, thậm chí cô còn đoạt giải nhất trong cuộc thi sắc đẹp ở đó.

Rồi cuộc tiếp kiến với Cựu hoàng Bảo Đại đang lang thang ở đó. Rồi vinh dự được mời cắt băng khánh thành một đại lộ mới xây to nhất Hồng Kông.

Nhất Linh Nguyễn Tường Tam hồi có mặt ở Hồng Kông đã gặp Phụng và tặng thơ: Một đóa hoa danh lạc đất người/ Trăm hoa thua kém sắc xuân tươi/ Hương ngát một trời/ sắc dậy một thời/ Quân vương ngây ngất mộng uyên đôi. Hồng Công ngày 9/6/1950 ( trộm nghĩ, quân vương đây có phải là Cựu hoàng Bảo Đại đa tình không nhỉ?).

Rồi lại tiếp những cuộc tình với những tay có máu mặt lẫn vô danh. Phụng đi Nhật, đi vài nước ở Đông Nam Á do các nhà tài phiệt bao. Phụng đi đánh bạc ở Macao. Rồi suýt chết (Phụng dám tự tử) trong cuộc hôn nhân với một cự phú người Hoa ở Hồng Kông.

Lại suýt chết trong một vụ cướp biển. Nhưng số Phụng chưa đứt bởi đoạn trường của kiếp giang hồ giời còn bắt diễn. Lại cắm chân rất chắc trong những hộp đêm nổi tiếng ở Hồng Kông. Đùa cợt trêu ngươi những gã cự phú ở Trung Hoa lục địa bằng những đám cưới mà Phụng giả vờ gật.

Thế rồi bỏ, bỏ hết thời vàng son. Phụng đáp máy bay về Hà Nội đúng thời điểm chuẩn bị Hiệp định Geneva. Phụng khi đó đã hơn ba mươi nhưng nhan sắc hẳn còn mặn mòi.

Phụng quyết định không xê dịch tiếp chả biết có phải do nghe lời thi sĩ TCHYA Đái Đức Tuấn khi gặp Phụng ở Trùng Khánh năm 1947 không? TCHYA thừa biết Phụng không phải là tên loài chim Phượng như người phương Nam gọi là Phụng mà Phụng đây là phụng sự, là dâng nhưng thi sĩ năm ấy đã tặng người đẹp mấy câu thế này:

Phụng bay bay bốn phương trời/ Phụng về Phụng đậu giữa đời loạn ly/ Phụng thề Lão Bích Ngô Chi/ Phụng ơi Phụng hỡi bay về cố hương. (Trùng Khánh ngày 17/10/1947)

Cuốn hồi ký kết thúc bằng những năm tháng nữ sĩ này sống ở Sài Gòn. Lại có một cuộc hôn nhân nữa, nhưng hình như cũng không bền. Hơi văn cùng con chữ dường như ảm đạm nhọc nhằn hơn bởi việc kinh doanh một nhà hàng luôn trục trặc cũng như căn bệnh hiểm nghèo nhiều năm mà nữ sĩ mắc phải. Bà trút hơi thở cuối cùng vào năm 1989, được 67 tuổi trời.

Hơn bốn trăm trang đánh máy khổ A4. Nếu như dàn hết lên khổ in 13×19 cm như vẫn thường thấy thì phải hơn sáu trăm trang in. Cuốn mà tôi đang cầm đây, sao từ bản đánh máy, các trang đã ngả màu vàng bệch của thời gian.

Có ít nhất 4 người khiến cho cuốn hồi ký về số phận giang hồ này trở nên long đong trục trặc kể từ khi tác giả Vàng son huyết lệ giã biệt cõi đời. Người thứ nhất là Giáo sư Văn Tạo – nguyên Viện trưởng Viện Sử học.

Tháng 5/1977, GS Văn Tạo cùng đoàn cán bộ khoa học xã hội vào công tác ở Sài Gòn khi đó mới giải phóng. Tình cờ GS được gặp nữ sĩ Minh Phụng là người làng. Nữ sĩ khi đó mới ngoại ngũ tuần, như GS cho hay là hẵng còn dễ nhìn lắm…

GS Văn Tạo kém bà 4 tuổi. Trong câu chuyện hàn huyên giữa hai người làng, GS mới biết cụ thể tường tận thêm về quãng đời giang hồ lưu lạc sau này của nữ sĩ họ Trịnh mà trước ông chỉ nghe mang máng cái cô Nụ bỏ làng ra đi rồi biệt tích. Quá vãng bỗng ập về một cách rành rọt.

Thì ra bà đã thay tên đổi họ… Hoàng Minh Phụng tức là Trịnh Thị Nụ, con cụ Lý Đoài tức Trịnh Văn Đoài, gốc từ xứ Thanh ra. Nét văn hóa của gia đình ông Lý Đoài được ghi lại cả ở việc đặt tên cho con bằng vế câu đối Đoài, Trà, Cầm, Mãng, Vinh, Hoa, Nụ để đối với một nhà khác cũng thuộc loại có máu mặt trong làng là Giảng, Đàm, Nghị, Luận, Ái, Hằng, Nga.

Câu chuyện của bà Phụng đã khiến GS thương cảm. Ông gợi ý bà là bây giờ hòa bình thống nhất rồi, mai kia bà nên bố trí thu xếp về thăm lại quê nhà sau bao năm biệt tích. Biết bà thông thạo nhiều ngoại ngữ qua nhiều năm lưu lạc ở xứ người như tiếng Anh, Pháp, Hoa, Quảng Đông (Quan Hỏa), lại có tập thơ mấy trăm bài, tính tình lại cởi mở, mai kia có điều kiện bà nên chép lại câu chuyện của mình như dạng hồi ký kể ra cũng thú vị?

Điều thứ nhất thì sau này bà đã thực hiện tức là về thăm lại quê ở thị trấn Tứ Kỳ. Còn điều thứ hai, cũng chỉ là gợi ý cho vui thôi nhưng bà Minh Phụng đã làm thật. Bốn trăm trang cuốn Vàng son huyết lệ được bà hoàn thành như trang cuối bà ghi là vào tháng 5 năm 1980.

GS Văn Tạo không biết rằng, sau này cuốn hồi ký của bà Phụng đã được ký thác cho một người khác. Người đó là Dã Lan Nguyễn Đức Dụ, bạn thân của học giả Nguyễn Hiến Lê, một học giả nổi tiếng của Sài Gòn trước giải phóng chuyên biên khảo phả trạng mà bây giờ ta gọi là nhà gia phả học.

Công trình biên khảo nghiên cứu gia phả các dòng họ danh tiếng như Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Hoàng, Trịnh Kiểm, Bùi Viện, Phan Thanh Giản, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Hồ Quý Ly, Mạc Đĩnh Chi vv… của Dã Lan Nguyễn Đức Dụ trước năm 1975 và sau này đã được giới gia phả học quốc tế đánh giá rất cao.

Tôi đã nghiên cứu nhiều tài liệu gia phả học của nhiều nhà khoa học. Đây là những tài liệu lỗi lạc – GS Richard C.Beals, nhà phả trạng học Hoa Kỳ đã nhận xét về công trình của Dã Lan Nguyễn Đức Dụ như vậy. Thời điểm bà Phụng gặp và quen thân với nhà phả trạng học này không rõ cụ thể như thế nào và bao lâu, nhưng chắc mối quan hệ giữa hai người khá thân thiết.

Bà đã ghi trong một trang của cuốn hồi ký như thế này: Tin tưởng ký thác anh Dã Lan Nguyễn Đức Dụ cuốn hồi ký độc nhất của tôi. Sau này, anh hoàn toàn sử dụng vào một thời điểm thích hợp để mai sau con cháu chúng ta biết rõ thăng trầm của một người sương phụ đại bất hạnh. Saigon 24-4, năm Tân Dậu, tức là ngày 27-5-1981.

8 giờ sáng, viết trong lúc đang lâm trọng bệnh.

Ông Dã Lan Nguyễn Đức Dụ đã trân trọng đón nhận cuốn hồi ký viết tay và tỷ mẩn đánh máy. Bốn trăm trang hồi ký! Thú thật tôi chưa từng thấy tập bút ký nào như thế, không phải độ dầy mà lạ! Chuyện chép hồi ký thiếu gì các chính khách lừng danh Nixon, Churchill, Charles De Gaule, Hitler…

Có điều các chính khách hay những danh nhân khác thường hay nói tốt cho mình nhiều hơn chớ mấy ai như chị lại đem phô bày hết những cái xấu xa trụy lạc của mình ra. Tôi rất thán phục chị phải can đảm lắm mới viết ra như thế. Minh Phụng quả không hổ thẹn dòng dõi Nho gia.

Chị là một phụ nữ đủ tài sắc. Tuy chị là gái nhảy chả tên tuổi gì, nhưng để lại một tập bút ký như thế với mấy trăm bài thơ là đủ cho đời sau nhắc đến chị rồi (trích bài viết về Minh Phụng của Dã Lan Nguyễn Đức Dụ trên tập san Sóng Toronto– Canada xuất bản tháng 5 năm 1992).

Tìm…

Anh tìm trong ánh mắt em
Lửa hồng khao khát hằng đêm đợi chờ
Tìm trong thổn thức giấc mơ
Ấm êm một cánh tay chờ vòng tay
Tìm trong xuôi ngược bao ngày
Con đò lạc bến tỉnh say dại khờ
Tìm trong mỗi sáng tinh mơ
Mong manh tia nắng khát chờ yêu thương
Tìm trong làn gió mùi hương
Tóc mềm ai xõa vấn vương bên thềm
Tìm trong mỗi ánh sao đêm
Lập lòe hiu hắt một miền tiếc thương
Tìm trong muôn nẻo dặm trường
Dấu chân son giữa bụi đường gió mưa
Tìm trong ngày xửa ngày xưa
Em còn con gái vẫn chưa lấy chồng
Hương cỏ mật ngọt trong lòng
Để hôm nay đắng suốt trong cuộc đời
Anh dõi tìm trong chơi vơi
Lạc trong trống vắng khoảng trời… không em

Trần Vân Hạc
8.7.09

Tiếng Khèn

Vút lên từ con tim
Rộn ràng như vó ngựa
Chuốt chọn từng sợi gió
Thông vi vút non ngàn
Gom muôn ánh trăng rằm
Sóng núi dâng mê mướt
Chắt bình minh chợt thức
Lửa tình đầu tinh khôi
Anh hái cả sao trời
Đợi chờ đêm thao thức
Khèn ngân rung tha thiết
Cháy bỏng lời yêu thương
Anh gửi vào mênh mông
Núi mờ sương đồng vọng
Tiếng đơn côi day dứt
Vấp lẻ loi chơi vơi
Lọc tiếng thác trào sôi
Lựa bão giông chớp giật

Chợt tiếng lòng xanh biếc
Đàn môi em thì thầm
Tiếng khèn chạm má hồng
Vụt nở hoa tươi rói
Nhịp đất trời hôi hổi
Phập phồng lời yêu trao

Trần Vân Hạc

Giấc Mộng

Vườn lan của ông Trần mấy hôm nay không hiểu tại sao lá cứ rũ xuống. Ông lo lắng vô cùng, nhất là gần đến ngày giao hàng cho khách chơi xuân.

Buồn bực, ông Trần lên phản nằm vắt tay lên trán suy nghĩ rồi thiếp đi lúc nào không biết. Bỗng một làn gió nhẹ thổi tới, hương thơm dịu dàng cùng một thiếu nữ xinh đẹp y phục mầu hồng phấn mỉm cười cúi chào rồi vòng tay thưa:

– Tiểu nữ là sứ giả Phi Điệp, xin chuyển lời chào của Tứ Đại mỹ nhân trong vương quốc Hoa Lan và xin kính mời ông tới hội kiến.

Ông Trần vội vàng sửa sang y phục, vừa mừng, vừa lo, vừa hiếu kỳ theo chân Phi Điệp sứ giả. Nàng dìu ông lướt đi, chẳng mấy chốc đã tới một khu vườn như chốn địa đàng, khắp nơi đủ các loại lan quí khoe sắc đua hương. Chính giữa khu vườn là một đài cao kết bằng muôn vàn các loại hoa thơm cỏ quí. Bốn nàng tiên, mặt hoa da phấn đã chờ ông từ bao giờ. Sứ giả Phi Điệp cúi chào rồi giới thiệu với ông Trần:

– Nàng tiên y phục vàng mơ, quí phái, dáng điệu như vừa từ vũ hội quần tiên bước ra là Hòang Vũ. Nàng tiên xiêm y xanh ngọc kiêu xa là Thanh Lan. Nàng tiên trang phục tím đen, sang trọng thầm kín kia là Mặc Lan. Nàng thứ tư xiêm y vàng đậm, cao sang là Cẩm Tố.
Bốn nàng tiên mời ông Trần ngồi trên đôn cỏ. Sau khi mời ông cạn chén nước thơm vốn là những giọt sương mai đậu trên những cánh hoa lan, nàng Hoàng Vũ nhẹ nhàng nói:

– Từ lâu chị em chúng tôi đã biết tiếng ông Trần là người sành hoa, hoa lan do ông chăm sóc như được thổi hồn, thêm hương, thêm sắc.

Bốn nàng tiên nhìn nhau mỉm cười ý nhị, nàng Thanh Lan tiếp lời:

– Hôm nay chị em chúng tôi mạn phép mời ông tới đây, trước hết để tỏ lòng biết ơn của họ nhà lan và cũng xin được mạo muội giãi bầy đôi điều gan ruột: Hình như lâu nay do mải mê việc kinh doanh hoa lan, nên ông Trần có đôi chút lơi lỏng trong việc chăm chút cho chị em nhà lan dưới đó..?

Ông Trần nhột nhạt cả người, mồ hôi ướt đầm lưng áo. Đúng là lúc đầu bán đi những dò lan ông từng phải bỏ biết bao công sức và cả cái tâm vào đó, ông cứ ngơ ngẩn như đánh mất một kỷ vật vô cùng quí báu. Lâu nay khi thị trường hoa lan mở rộng, nhu cầu của giới chơi lan ngày càng nhiều, ông làm hàng loạt kiếm lời. Càng bán được nhiều, lợi tức càng lắm, ông coi hoa lan như phương tiện làm giàu, chứ không coi như những tác phẩm nghệ thuật như tiêu chí ông đề ra lúc mới vào nghề. Đôi khi ông không giấu được nụ cười mãn nguyện trước chồng tiền ngày một dầy lên. Đặc biệt là lâu nay khi phong trào chơi lan rừng rộ lên, ông tổ chức hẳn một đường dây khai thác. Khi nghe cánh sơn tràng nói đến việc để lấy được một dò lan quí, họ phải chặt hạ cả một cây cổ thụ mấy người ôm. Ông biết một cây cổ thụ đổ xuống đã là một điều xót xa, nhưng đau xót hơn là cả mấy chục cây khác cũng bị gẫy gục. Xong ông chặc lưỡi hít hà nuối tiếc đôi chút rồi lại bị những dò lan tuyệt mỹ và nguồn lợi khổng lồ mê hoặc nên quên đi tất cả…

Tiếng nàng Mặc Lan như gió thoảng:

– Chúng tôi vẫn biết ông Trần là người có tâm, mong ông đối xử với họ nhà Lan chúng tôi bằng cái tài cái tâm của một nghệ nhân chân chính. Mỗi dò lan khi đưa ra thị trường phải như một tác phẩm nghệ thuật làm đẹp cho đời, góp phần hướng con người tới những giá trị đích thực của Chân – Thiện – Mỹ, nâng đỡ con người vượt lên những vướng bụi của cõi tục.

Nàng Cẩm Tố thâm trầm:

– Chị em chúng tôi xin tặng ông Trần cánh lan này, gọi là chút kỷ niệm của lần tri ngộ.
Rồi nàng nhẹ nhàng đặt vào tay ông Trần một cánh hoa lạ, mong manh và trong suốt như pha lê, hương thơm ngào ngạt. Ông Trần vừa đón lấy, cánh hoa chợt tan biến trên tay, bàn tay chợt ấm nóng lên như có dòng điện nhẹ lan tới từng tế bào cơ thể…

Ông Trần giật mình tỉnh giấc, hồ nghi sờ nắn đôi tay, đâu đây vẫn vương mùi hương thoát tục. Ông rảo bước ra vườn. Trăng sáng vằng vặc. Ông Trần nhẹ tay vuốt những chiếc lá lan đã ngả vàng, lạ chưa, những chiếc lá bỗng trở nên xanh biếc.

Ông Trần nghe như có tiếng phập phồng thỏang hơi thở nhẹ, có tiếng lách tách của những chồi non đang khẽ cựa mình, có tiếng thầm thì rạo rực của những nụ lan hé nở… những âm thanh quen thuộc thuở nào đã từng làm xao động trái tim ông.

Ông khoan khoái mỉm cười hít một hơi căng đầy lồng ngực. Cả vườn lan lá động rì rào, những chiếc lá rung rinh sáng ngời ánh bạc, hương thơm nhẹ nhàng tinh khiết lan tỏa khắp khu vườn.

Một mùa xuân mới đã về!


Trần Vân Hạc

Đường thêu mùa xuân

Em thêu tiếng khèn xuân
Thêu niềm vui hò hẹn
Thêu bao điều thầm kín
Thành piêu hồng xốn xang

Đêm hạn khuống bâng khuâng
Lửa hội xòe bay nhảy
Lời trao duyên đêm ấy
Thổi hồn vào đường kim

Em thêu ánh bình minh
Sắc đào, ban đương độ
Thêu tình yêu muôn thuở
Cháy bỏng tự bao đời

Thêu nhà sàn anh ơi
Trăng đậu hoa khau cút
Thêu trái tim thổn thức
Lời yêu chưa tỏ bầy

Tết “sài pheng” bằng mây
Thêu “cút piêu” bằng nắng
Lựa tiếng pí làm kim
Câu khắp xe chỉ biếc

Nắng xuân hồng rón rén
Theo đường kim yêu thương
Thêu tình yêu bản mường
Ngàn năm không vơi cạn

Trần Vân Hạc

Diệu kỳ dải yếm

Bồi hồi anh vịn câu thơ
Qua cầu dải yếm bến bờ tình yêu
Sóng duyềnh thổn thức bao điều
Bồn chồn mỗi bước ánh chiều xôn xao

Hỡi sông. Sao nổi ba đào
Thuyền tình mắc cạn vương vào bến mơ
Yếm đào đôi sợi mành tơ
Thuyền anh nhẹ lướt bến chờ nao nao

Mưa dầm gió lạnh ào ào
Nghìn chăn hơn dải yếm đào người ơi ?
Mái nhà tranh nhỏ giữa trời
Tim hồng ấp ủ một lời sắt son

Cổ ai ba ngấn trắng tròn
Yếm đào đã thắm lại dòn nụ xinh
Người ơi ! Xin chớ vô tình
Tìm câu thơ… lại giật mình đánh rơi

Trần Vân Hạc