All posts by vanhac

Cây lộc vừng trổ hoa

Chú tôi mất. Đấy là tổn thất vô cùng to lớn của gia đình. Chỉ có điều rất lạ là cây lộc vừng chú tôi yêu quí và gắn bó từ lâu cũng tự nhiên héo úa.

Chú tôi là công nhân lâm nghiệp, cả cuộc đời gắn bó với rừng. Có thể nói rừng là một phần không thể thiếu trong cuộc đời chú. Bàn chân chú đã từng in dấu trên nhiều cánh rừng của Tổ Quốc. Ở đâu khó khăn hoặc cần là chú có mặt.

Continue reading Cây lộc vừng trổ hoa

Tâm tình của tác giả giao hưởng Lệ Chi Viên

Trần Mạnh Hùng, tác giả giao hưởng Lệ Chi Viên
“Ngay từ khi còn đi học, vụ án Lệ Chi Viên dẫn đến thảm án Nguyễn Trãi cùng ba họ bị tru di, Lễ nghi học sỹ Nguyễn Thị Lộ bị rơi đầu và oan khuất đã ám ảnh tôi mãi. Năm 2008 tôi được đọc rất nhiều thông tin quí giá và bổ ích về Hai Cụ, đặc biệt cuốn: “Lễ Nghi Học sỹ Nguyễn Thị Lộ với thảm án Lệ Chi Viên” – Nhà xuất bản văn hóa Thông tin, năm 2004 do nhà giáo Hoàng Đạo Chúc, hội chủ “Hội những người yêu kính Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ” làm chủ biên. Khi nhận được đặt hàng từ Đài truyền hình “Làn sóng Đức” (Deutsche Well thì ý định sáng tác bản nhạc về Lệ Chi Viên trong tôi đã chín, tôi quyết định lựa chọn lối thể hiện Giao hưởng thơ (Poem symphony), viết cho violin và dàn nhạc, với chất liệu âm nhạc dân tộc VN đặc trưng bay bổng trên nền nhạc cổ điển châu Âu”. Đấy là lời thổ lộ chân thành của nhạc sỹ Trần Mạnh Hùng trong buổi lễ đón bằng di tích cấp tỉnh, thành phố tại khu di tích Lệ Chi Viên sáng ngày 15.9.2010 tại thôn Đại Lai, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

Continue reading Tâm tình của tác giả giao hưởng Lệ Chi Viên

Vị tướng yêu văn hóa dân tộc

Thượng tướng Phan Trung Kiên cùng phu nhân dâng hương
Chiều ngày 16.10.2010, thượng tướng Phan Trung Kiên, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, thứ trưởng Bộ Quốc phòng, anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, cùng phu nhân đã về thăm khu di tích lịch sử văn hóa Lệ Chi Viên, nơi cách đây gần 600 năm đã xẩy ra vụ án đen tối cả đất trời Việt Nam. Nguyễn Trãi cùng ba họ và Nguyễn Thị Lộ rơi đầu vì “lưỡi dao oan nghiệt của cái triều đình hèn hạ và ngu muội do chính Nguyễn Trãi đã chiến đấu hơn mười năm gian khổ để góp phần xây dựng nên”.

Thượng tướng Phan Trung Kiên không chỉ là vị tướng tài ba, trung kiên, nhân hậu mà còn rất quan tâm đến văn hóa dân tộc, đặc biệt ông thường xuyên tham gia các hoạt động từ thiện.

Sau lễ dâng hương, thượng tướng cùng phu nhân đi thăm khu di tích và nghe nhà giáo Hoàng Đạo Chúc, hội chủ “Hội những người yêu kính Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ”, trưởng ban xây dựng ba ngôi đền thờ Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ ở Tân Lễ, Hưng Hà, Thái Bình; Khuyến Lương, Trần Phú, Hà Nội và Lệ Chi Viên, Gia Bình, Bắc Ninh báo cáo, thượng tướng đã xúc động nói:

Continue reading Vị tướng yêu văn hóa dân tộc

Có một sắc cờ và trời thu Hà Nội trong thơ Nguyễn Sĩ Đại

Dưới sắc cờ và trời thu Hà Nội” là tập thơ mới của Nguyễn Sĩ Đại ( Nhà xuất bản Hà Nội-2010)  ra mắt đúng vào dịp Đại lễ nghìn năm Thăng Long – Hà Nội. Cái tên của tập thơ đã nói lên cái cốt lõi của tập thơ và đó chính là nguồn cảm hứng sáng tạo khơi gợi những cảm xúc, thể hiện những cảm nhận tinh tế, đa chiều về Hà Nội nghìn năm lịch sử.

Tập thơ 51 bài nhưng có tới  gần 20 bài viết về Hà Nội. Còn hình ảnh Hà Nội thấp thoáng, lung linh  trong mỗi bài như bóng Tháp Rùa ẩn hiện trong sóng biếc Hồ Gươm thì nhiều lắm. Thế mới biết tình yêu Hà Nội trong Nguyễn Sĩ Đại sâu sắc đến nhường nào. Dẫu rằng như anh tâm sự: “Hà Nội không phải là nơi tôi sinh ra. Không phải ai cũng có may mắn đó. Nhưng Hà Nội là nơi tôi có những năm tháng tuổi thơ học tập sơ tán ở trường Xuân La bên Hồ Tây mênh mông sương khói; Hà Nội là nơi tôi bước chân vào Đại học; nơi tôi có được tình yêu; nơi tôi “Giã trang sách trước mùa hoa phượng cháy” để lên đường vào Nam đánh giặc; nơi tôi về bên Hồ Gươm làm báo suốt cả cuộc đời ở báo Nhân dân”.

Continue reading Có một sắc cờ và trời thu Hà Nội trong thơ Nguyễn Sĩ Đại

Thông báo xuất bản sách chữ Việt cổ

Hôm nay, ngày 4.9.2010, cuốn: “Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình khoa đẩu” của giáo sư Lê Trọng Khánh – nhà xuất bản Từ điển bách khoa, tổng phát hành: Trung tâm văn hóa Tràng An được phát hành rộng rãi trong và ngoài nước. Đây là công trình khoa học, chặt chẽ, nhất quán, có tính thuyết phục cao, là sự phát hiện trọng đại với lịch sử và văn hóa Việt.

Lần đầu tiên một công trình nghiên cứu chữ Việt cổ được xuất bản ở nước ta. Lần đầu tiên chữ viết từng phát triển từ thời các Vua Hùng được khẳng định và làm sáng tỏ bằng những cứ liệu khoa học đầy sức thuyết phục. Lần đầu tiên những bí ẩn của chữ khắc trên đá cổ Sa Pa được giải mã.

Continue reading Thông báo xuất bản sách chữ Việt cổ

Chè “Hai không”, “Năm cực” Suối Giàng

Anh Tùng đang khảo sát chè
Ai đã từng có dịp lên thăm xã Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, đều không khỏi ngỡ ngàng trước bạt ngàn những cây chè cổ thụ. Ngay từ những năm 60, đã có cuộc thống kê có tới gần 40.000 cây chè Shan cổ thụ có từ 200 tuổi, đến 300 tuổi, còn những cây hàng trăm tuổi trở xuống thì nhiều không kể xiết. Chè cổ thụ nhiều đến nỗi viện sĩ K. M. Djemmukhatze thuộc viện sinh hóa A. Ba Cu, Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, khi đến Suối Giàng nghiên cứu vào những năm 60 của thế kỷ 20 này phải thốt lên: “Tôi đã đi qua 120 nước có chè trên thế giới, nhưng chưa thấy ở đâu có cây chè lâu năm như ở Suối Giàng, phải chăng đây là Tổ Quốc của cây chè? Chè ở đây độc đáo, trong bát nước chè xanh có đủ 18 vị đầu đẳng của chè trên thế giới” (lời ghi trong sổ lưu niệm của xã Suối Giàng).

Continue reading Chè “Hai không”, “Năm cực” Suối Giàng

Phẩm chất của người lính

“Anh luôn giữ được phẩm chất của người lính”. Đấy là lời khen tặng của bạn bè, nhân dân xã Xuân Lai, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái mỗi khi nói về người cựu chiến binh Hoàng Tương Lai. Bởi dù khi còn trong quân ngũ, hay đương nhiệm là bí thư Đảng ủy xã, hay trải lòng trong những trang văn, thơ, anh đều khắc phục khó khăn, đạt được những thành công khiến mọi người ngưỡng mộ và khâm phục.

Continue reading Phẩm chất của người lính

Trái tim của biển

Đúng 8g30 sáng ngày 03.06.2010, con tàu 996 chở đoàn công tác số 10 của Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban TW Phật giáo Việt Nam, doanh nghiệp Xuân Trường, Tổng cục thuế, các văn nghệ sỹ và quân chủng hải quân trên đường ra thăm và làm việc tại huyện đảo Trường Sa, chạy qua vùng biển của các đảo Cô Lin, Len Đao, Gạc Ma. Các cao tăng, ban chỉ huy tàu cùng toàn bộ thuyền viên và đoàn công tác long trọng tổ chức lễ tưởng niệm các cán bộ, chiến sỹ hải quân của chúng ta đã anh dũng hy sinh trước sự tấn công trắng trợn và phi lý của lực lượng hải quân nước ngoài để bảo vệ vững chắc sự toàn vẹn lãnh thổ chủ quyền biển đảo thân yêu của Tổ quốc cách đây 22 năm – ngày 14.03.1988.

Continue reading Trái tim của biển

Những ngôi chùa trên huyện đảo Trường Sa

Chùa Song Tử Tây
Tham gia chuyến ra thăm huyện đảo Trường Sa cùng đoàn công tác số 10, tôi may mắn được thăm và dự đại lễ cầu siêu tại ba ngôi chùa trên đảo Trường Sa lớn, đảo Sinh Tồn và đảo Song Tử Tây. Những ngôi chùa khang trang, sừng sững trước phong ba sóng gió như những cột mốc chủ quyền về tâm linh của người Việt, thêm một điểm tựa tinh thần cho cán bộ, chiến sỹ và nhân dân nơi tiền tiêu của Tổ quốc.

Continue reading Những ngôi chùa trên huyện đảo Trường Sa

Nhớ…

Thương nhớ Trịnh Công Sơn

Anh đi ngày “Cá tháng tư”
Có ai nói dối tạ từ người thân?
Cuộc đời thật – dối – giả – chân
Cung đàn ngân lắng muôn phần tin yêu

Hoa thơm sớm nở tàn chiều
Nhân gian day dứt bao điều trở trăn
Muôn đời ấy Quả lòng Nhân
Hạt bụi nào lẫn muôn phần cỏ cây
Đường tên Anh tận trời Tây
Mấy ai đến được cõi này nhân gian
Dẫu rồi vàng đá nát tan
Thì muôn năm có lẫn vàng với thau ?

Ngày nói dối, xót xa đau
Nén hương lòng sáng một mầu tri ân
Trời cao xanh có thấu chăng
Nắng cuộc đời vẫn thắm hồng tin yêu

1.4.2010
Trần Vân Hạc

Người phụ nữ Thái hết lòng vì văn hóa dân tộc

Khi tôi hỏi thạc sỹ khoa học Lò Mai Cương “Điều tâm huyết nhất của mình trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy văn hóa Thái là gì?” chị tươi cười, trong đôi mắt của chị như có hai đốm lửa:

– Đó là việc bảo tồn và phát triển chữ Thái, đưa chữ Thái vào giảng dạy trong nhà trường và cho người dân.

Vợ chồng chị Lò Mai Cương

Còn giám đốc Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Sơn La thạc sỹ văn học Hoàng Kim Ngọc, thủ trưởng trực tiếp của chị vui vẻ:

– Đó là một người tài năng và tâm huyết!

Gặp chị, ai cũng bị cuốn hút bởi tình yêu nghề dạy học, tình yêu và nỗi trăn trở với việc bảo tồn và phát huy vốn văn hóa dân tộc. Là người con của dân tộc Thái, sinh ra và lớn lên trong một gia đình có truyền thống văn hóa, giáo dục. Bố chị là ông Lò Văn Mười, cố trưởng ty giáo dục khu tự trị Thái Mèo, chính ông đã từng khởi xướng và bước đầu thành công trong việc cải tiến chữ Thái. Chị không bao giờ quên được những con chữ đầu tiên do người cha thân yêu dạy. Còn mẹ chị, Cầm Thị Minh là người rất giỏi những điệu “khắp” cổ và sáng tác những tác bài hát mới của dân tộc Thái. Tự bao giờ, những lời ca mượt mà đằm lắng cùng những thiên truyện thơ bất hủ của dân tộc đã thấm vào chị, như mạch nước nguồn trong mát của quê hương không bao giờ vơi cạn.

Do nhiều yếu tố khách quan, người Thái ở Việt Nam có đến 8 hệ chữ khác nhau, bởi vậy việc tìm hiểu kho tàng văn hóa vô giá của tổ tiên để lại gặp nhiều khó khăn. Số người biết chữ ngày một ít đi. Kho tri thức quí báu ấy ngày có nguy cơ mai một. Chưa nói rằng, trước sự phát triển nhanh chóng về mọi mặt của xã hội. Một vấn đề lớn đặt ra là phải có một bộ chữ thống nhất được đưa vào giảng dạy, nhất là phải được số hóa, tạo điều kiện cho lớp trẻ và cộng đồng quốc tế dễ dàng tìm kiếm bằng các công cụ hiện đại của Internet.

Chính vì vậy ngay từ khi còn công tác ở trường Cao đẳng Sư phạm tỉnh Sơn La chị luôn trăn trở với việc xây dựng một bộ chữ chung và số hóa được bộ chữ đó. Nhưng khi bắt tay vào công việc, chị mới thấy có quá nhiều trở ngại, mà trước hết bộ chữ ấy phải đáp ứng được yêu cầu dân tộc và hiện đại, được người Thái ở các vùng miền và quốc tế thừa nhận. Thế là chị không quản ngày đêm, thử nghiệm, so sánh, cải tiến đưa 65/72 mẫu kí tự mã hóa vào Unicode. Chị vui lắm, bởi qua bộ font chữ cái do chị cải tiến và số hóa này đã được lựa chọn đại diện cho ngôn ngữ của cộng đồng người Thái ở Việt Nam và được nhóm kỹ thuật Unicode chọn và cấp mã nguồn. Người Thái ở khắp các tỉnh đều điện về và trực tiếp đến xin chị font chữ về sử dụng và đều rất khâm phục vì hiệu quả cao.

Tác giả TVH cùng chị Lò Mai Cương tại Hội thảo về việc dạy và học chữ Thái tại Lạng Sơn ngày 27–28.3.2010

Không thể kể hết được công sức của chị khi bắt tay nghiên cứu công trình này từ đầu những năm 90 và được thông qua từ năm 2005. Song chị không muốn nói về mình, chị thầm lặng cho ra đời nhiều đứa con tinh thần được cộng đồng người Thái và nhân dân các dân tộc nâng niu, đón nhận, đó là những áng văn, thơ, tục ngữ ca dao, những pho sử nổi tiếng của dân tộc Thái: “Tiễn dặn người yêu”, “Tục ngữ, ca dao Thái”… “Tâm tình tiếc thương”, “Tâm tình trêu ghẹo yêu thương… Chương trình dạy chữ Thái của chị cùng nhóm nghiên cứu đã được triển khai dạy trong trường Cao đắng Sư phạm và toàn tỉnh.

Gần đây khi Đảng và Nhà nước có chủ trương đưa ngôn ngữ dân tộc vào giảng dạy trong nhà trường và dạy cho cán bộ, viên chức đang công tác ở vùng miền núi và dân tộc khi và “Mạng lưới bảo tồn tri thức bản địa dân tộc Thái” (VTIK), thuộc Trung tâm vì sự phát triển bền vững miền núi (CSDM) ra đời, chị như được chắp thêm đôi cánh.

Với cương vị là trưởng phòng bồi dưỡng, chị có thêm nhiều điều kiện để phát huy năng lực và ước nguyện của mình. Chị được giao nhiệm vụ phụ trách công việc bồi dưỡng tiếng và chữ Thái cho các trường dân tộc nội trú của 11 huyện thị, học sinh, cán bộ, viên chức, lực lượng vũ trang…

Đặc biệt năm 2010 này chị tham gia nhiều mảng đề tài về chữ viết, phong tục tập quán, trang phục… trong đề tài nghiên cứu cấp tỉnh: “Giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Thái ở Sơn La trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa” do chính ủy viên trung ương Đảng, bí thư tỉnh ủy, chủ tịch Hội đồng Nhân dân, trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La Thào Xuân Sùng là chủ nhiệm đề tài.

Người viết bài này có quá trình sống và làm việc ở Tây Bắc 30 năm, quen biết gia đình chị đã lâu, mỗi lần đến thăm gia đình chị lại càng thêm khâm phục người chồng yêu quí của chị đã vượt lên mọi định kiến hẹp hòi, cổ hủ để quán xuyến việc nhà, chăm sóc con nhỏ cho chị đi học 6 năm trời để có bằng đại học và thạc sỹ suốt từ năm 1989 và dành cho chị thời gian nghiên cứu khoa học.

Chị không dấu nguyện vọng cháy bỏng của mình:

– Anh ạ, chữ Thái được hồi sinh, nhiều người đã đọc thông viết thạo, em vui vô cùng, bởi đó là cánh cửa mở ra để kế thừa và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp của cha ông.

Hướng về phía trời xa, chị trầm ngâm:

– Hiện nay Bảo tàng tỉnh Sơn La có đến 3.000 cuốn sách bằng chữ Thái cổ, nhưng kho tài sản vô giá ấy liệu có bền vững mãi trước sự tác động của thời gian. Em chỉ muốn được lãnh đạo các cấp quan tâm cho phép số hóa kho sách ấy giữ cho muôn đời con cháu.

Tôi thật sự khâm phục tài năng, nghị lực, tâm huyết và thành công của chị. Dẫu biết rằng năm nay chị 48, cái tuổi đang độ chín. Phải chăng ước mơ cháy bỏng của người cha thân yêu năm nào, cùng khát vọng từ bao đời đã tiếp thêm ngọn lửa niềm tin và tình yêu văn hóa Thái đã chắp cánh cho chị, để chị thực hiện được những tâm nguyện, hoài bão đẹp đẽ của mình với quê hương, với dân tộc.

Trần Vân Hạc

Cô đơn

Anh một mình giữa chốn phồn hoa
Ngơ ngác lá xuân về không em nhỏ
Muôn chồi biếc thắp ngời lên ngọn lửa
Đâu mắt em trong nụ biếc xanh xa

Từng đôi. Từng đôi… dạo bước bên hồ
Sao mình anh bơ vơ lạc lõng
Lá vô tư nghiêng cả chiều cô độc
Trút sương lạnh vào lòng anh cô đơn

Nếu cuộc đời mãi mãi không em
Sẽ còn lại những gì trong cuộc đời còn  mất
Em từng bên anh – người thân yêu nhất
Xuân chín rồi đợi mãi vẫn không em ?

Anh hỏi gió, gió khẽ rùng mình
Xao xác lá hơi thở dài vụng dại
Xuân đâu biết trong lòng anh ấm mãi
Phút  tuyệt vời em trao khi chia xa

Có phải trời muốn thử thách đôi ta
Bao cách trở trên dương trần mưa gió
Dẫu cuối trời một vì sao lấp lóa
Bến chờ nào yêu trong mắt yêu

Thành phố đêm nay ngơ ngác chín chiều
Con ngõ nhỏ hun hút dài trống vắng
Tiễn em đi sao lòng không yên lặng
Ánh sao buồn đau nỗi nhớ thương

Anh đợi chờ thao thức hàng đêm
Chỉ một mình thôi đâu cần ai chia sẻ
Bởi yêu em anh độc hành lặng lẽ
Dấu mình vào trong tiếng thở dài đêm

Trần Vân Hạc

Mưa đền cây và em

Thân yêu tặng HN

Những cơn mưa ngọt lành sau mùa quả, hạt ngọc hạt vàng tan trên lá, trên đất cằn khát khao. Mưa đền cây bao tháng ngày ấp ủ chắt chiu, từng tia nắng, từng giọt sương, quặn đau mỗi mùa đông giá. Lặng lẽ dâng hương mật cho đời.

Anh ước hóa giọt xuân tan trên tay em, chung mỗi niềm đau sẻ chia vị ngọt, một nắng hai sương, chung tay chụm ngọn lửa hồng. Thế là hạnh phúc.

Được em yêu – suốt đời anh mơ ước, tan hòa trong mưa xuân em. Không rượu nồng mà ngây ngất men say.

Mùa xuân thắm. Em tôi như lộc biếc !

Nắng chợt hồng, đất mãi mặn mòi dâng hiến, xanh trời xanh lá hồi sinh. Kìa em tiếng chim rừng lảnh lót, trong mắt hiền một giọt nắng lung linh. Em là một nửa và anh… một nửa.

Trần Vân Hạc

Em về

Em về sen trắng mùa thơm nắng
Sương thơm ngơ ngác lá sen tròn
Thuyền ai nhẹ lướt ngời con sóng
Tóc thề thơm hương vương xuân sang

Sen vẫn dịu dàng lời hẹn ước
Ẩn sâu trong mỗi ngó sen tơ
Xuân về gọi xanh lên sóng biếc
Gió xuân ngưng giây lát thẫn thờ

Xuân đẩy thuyền xuân nhẹ lối hoa
Bình minh thơm thoảng sóng mặt hồ
Ô kìa một tiếng chim lảnh lót
Trời mây làm duyên soi mộng mơ

Em về xuân thắm hồng thêm nắng
Dập dờn muôn sóng biếc xanh tơ
Một tiếng chuông chùa lừng lên sóng
Xuân em xuân xanh xuân trang thơ

Xuân 2010
Trần Vân Hạc