Tập thơ “Trôi” của Lê Thanh My (NXB Văn nghệ TPHCM năm 2007) – hội viên Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh An Giang có 43 bài, trong đó lục bát chưa đến chục bài, vậy mà người đọc cứ phải suy tư, trăn trở, bởi không chỉ là sự mượt mà trong niêm luật của thể thơ truyền thống, mà còn do những biện pháp tu từ được sử dụng nhuần nhuyễn, ý nhị đầy chất nghệ thuật, chuyển tải một cách nhẹ nhàng, sâu sắc những suy ngẫm, chiêm nghiệm về con người, về cuộc đời và cả những nỗi niềm sâu lắng trong tâm hồn.
bài thơ “Lời ru với anh” của nữ sĩ Lý Phương Liên)
LỜI RU VỚI ANH
Chim bằng ngoan của em ơi
Đêm nay ngon ngủ sáng mai lên đường
Em ngồi nhìn ngắm yêu thương
Cho no mắt nhớ ngày thường chim bay
Em muốn anh như bàn tay
Xòe ra là gặp
Chim bằng trời biếc
Chim bằng con trai
Ngủ ngoan anh nhé sáng mai lên đường
Ở nhà bên cạnh người thương
Để chim nghỉ cánh dặm trường đời xa
Lồng son phòng hẹp đôi ta
Chim bằng chẳng thể quanh ra quẩn vào
Xa anh nói nhớ làm sao
Chân đứng tổ kiến lòng chao gió cành
Lẽ nào em buộc cánh anh
Buộc cánh anh
Buộc cánh anh cũng chẳng thành tình yêu
Trời lộng chim reo
Mắt em mai sớm dõi theo chim bằng
Nỗi nhớ trong lòng
Cho chim cánh gió
Cho ngày nắng nỏ
Chim bay
Ngủ ngoan anh nhé đêm nay
Để mai xa suốt tháng ngày có em…
Năm 2011, hai tác giả Cà Văn Chung và Trần Vân Hạc đã giúp một sinh viên của Đại học Văn hóa làm khóa luận tốt nghiệp: “Một số làn điệu “khắp” phổ biến của người Thái đen ở huyện Mường La” – Sơn La. Khóa luận này đã đạt 9,9 điểm. Hai tác giả Cà Văn Chung và Trần Vân Hạc trích giới thiệu một phần nói về những đặc trưng cơ bản của thơ Thái, với mong muốn giúp bạn đọc hiểu thêm về thơ Thái và nên dịch sang ngôn ngữ phổ thông như thế nào để gần với nguyên tác nhất cả về nội dung và nghệ thuật:
Kho tàng truyện thơ Thái, Việt Nam vô cùng phong phú cả về nội dung và nghệ thuật. Nhiều tác phẩm đã được dịch ra ngôn ngữ phổ thông và được giảng dạy trong nhà trường, đặc biệt thiên truyện thơ: “Xống chụ xon xao” – Tiễn dặn người yêu. Thơ Thái rất phong phú về cả nội dung và nghệ thuật, song khi dịch sang ngôn ngữ phổ thông, mỗi dịch giả lại thể hiện với những hình thức khác nhau: văn xuôi, thơ tự do, thơ song thất lục bát… Vậy thơ Thái có những đặc trưng cơ bản như thế nào và nên dịch như thế nào để đảm bảo được nội dung và nghệ thuật đặc trưng của thơ Thái?
Sau những ngày bôn ba du ngoạn Tây Bắc và dự trại sáng tác ở Mộc Châu về. Hà Nội oi nồng nắng nóng nên đành giam mình trong nhà làm bạn với cái máy tính không bao giờ biết kêu ca đòi hỏi, thì bất ngờ nhận được lời bình của nhà thơ Hoàng Xuân Họa về tập thơ: “Mục xó xỉnh cười” của Du Nguyên, XNB Hội Nhà văn-2011.Thơ Du Nguyên đã mới, đã “điêu ngoa”, đã lạ lại được “chàng trai” Hoàng Xuân Họa, sinh năm 1939 với hai lần “Trót một thời yêu” và viết cuốn dạy cách làm thơ bình thì còn gì bằng nữa. Một người “điêu ngoa” trẻ trung gặp một người “điêu toa” thâm trầm, uyên bác. Đúng là một cặp bài trùng trời sinh giữa biển thơ thời mở cửa!Những cái Du Nguyên viết có phải là thơ không nhỉ? Mới đọc vài dòng thì thật không thể nhịn cười rồi lặng đi trong suy ngẫm. Cấu tứ lạ, ngôn từ lạ, tràn ngập âm thanh và hình ảnh lạ, cách thể hiện lạ nhưng đằng sau những con chữ “điêu ngoa” lạ kia là cảm quan của người viết trước bộn bề cuộc sống, trước lòng người và nhân tình thế thái một cách tinh tế và sâu sắc. Cái cách thể hiện độc đáo, đôi khi mang âm hưởng dân gian tạo một ấn tượng khó phai đến mức ám ảnh khi đã hiểu và cảm. Ô! Thế là thơ chứ còn gì nữa, thơ đích thực ấy chứ, mà cái thú là thơ Du Nguyên không hề giống ai, không như bây giờ đọc thơ cứ phải nhấc mũ chào liên tục, hoặc “mới” và ” “hiện đại” đến mức người đọc không hiểu họ viết cái gì!
Vẫn biết cao nguyên Mộc Châu, Sơn La là chiếc nôi của nhiều loài lan quí, bởi đây là cao nguyên rộng nhất ở phía bắc, sơn thủy hữu tình và có nhiệt độ thích hợp với nhiều loại lan quí sinh trưởng và phát triển. Vậy mà khi đến thăm khuôn viên của “Công ty cổ phần hoa cảnh Cao nguyên” tại bản Áng, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu (nơi nằm trong một quần thể du lịch sinh thái lớn của Mộc Châu) những du khách sành lan vẫn không giấu được sự ngạc nhiên, thích thú và khâm phục.
Đúng vào dịp tháng Tám, mùa thu lịch sử cuốn: “Phát hiện hệ thống chữ Việt cổ thuộc loại hình khoa đẩu” của giáo sư Lê Trọng Khánh, nhà xuất bản Từ điển bách khoa, tổng phát hành: Trung tâm văn hóa Tràng An, được phát hành rộng rãi trong và ngoài nước. Đây là công trình khoa học, chặt chẽ, nhất quán, có tính thuyết phục cao, là sự phát hiện trọng đại với lịch sử và văn hóa Việt. Lần đầu tiên chữ viết từng phát triển từ thời các Vua Hùng được khẳng định và làm sáng tỏ bằng những cứ liệu khoa học đầy sức thuyết phục. Lần đầu tiên những bí ẩn của chữ khắc trên đá cổ Sa Pa được giải mã. Công trình của giáo sư Lê Trọng Khánh góp thêm một cứ liệu chắc chắn về nền văn minh phát triển rực rỡ của tổ tiên ta, là tiền đề cho các công trình nghiên cứu chữ Việt cổ tiếp theo. Đặc biệt cuốn sách được xuất bản đúng vào dịp nhà nước ta long trọng kỷ niệm đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội có một ý nghĩa vô cùng to lớn.
Tộc Thái là một trong 54 tộc người, trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, có tiếng nói và chữ viết rất gần với người Việt. Đặc biệt trong ngôn ngữ Thái hiện nay còn giữ được rất nhiều yếu tố của ngôn ngữ Việt cổ. Ngoài do sự giao thoa giữa các nền văn hóa trong quá trình phát triển của những nhóm cư dân Việt Cổ phát triển lên thành người Kinh, thì chủ yếu là do tộc Thái với những yếu tố khách quan, giữ được nhiều tinh hoa của ngôn ngữ Việt cổ, phát triển hoàn thiện như bây giờ.
“Khau cút” là một biểu tượng trang trí trên nóc nhà sàn, nơi hai đầu hồi của nhà người Thái Đen Tây Bắc. “Khau cút” không chỉ làm đẹp cho ngôi nhà, mà còn ẩn chứa những ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Ngôi nhà sàn của người Thái Đen – Tây Bắc bao giờ hai đầu hồi cũng có cấu trúc khum khum như mai rùa – tiếng Thái gọi là tụp cống, vừa tạo dáng, vừa gợi sự liên tưởng tới sự chắc chắn, bền vững. Khau cút gồm hai thanh gỗ bắt chéo nhau hình chữ X, đóng trên hai đầu đòn nóc – tiếng Thái là tiêu bôn. Trên “Khau cút” được trang trí nhiều hoa văn, hoạ tiết như: Búp cây guột – “cút lo ngong, hoa sen – “bók bua, hình trăng khuyết – “bươn hai bín”
Chưa bao giờ bé lại ngắm kỹ một con tò vò đến thế.
Chả là trên bức tường trắng tinh trên phòng khách nhà bé, có một vệt lõm do mẹ quay xe máy quệt vào. Bố đã quét vôi trắng lại như cũ, vậy mà đi học về bé lại thấy chỗ lõm có một cục bùn nhão to bằng ngón tay út của bé, rỗng ở giữa. Thấy bẩn tường, bé cậy vứt đi, nhưng chiều đi học về, bé lại thấy ở đó một cục bùn khác giống hệt hôm trước, bé lại cậy đi.
Đã vào hè, dàn nhạc ve sầu tấu lên khúc ca sôi nổi, hoa phượng thắp lửa ngày đêm trên sân trường, trên đường phố. Những buổi học cuối cùng của năm học dần qua, cánh cổng trường tạm khép lại. Tuổi học trò bước vào những ngày hè lý thú. Tuổi thơ tôi có bao nhiêu mùa hè là bấy nhiêu mùa thả diều say mê, biết bao kỷ niệm ngọt ngào.
Bây giờ mỗi khi bất chợt nhìn lên bầu trời mùa hè xanh thẳm mây trắng nhởn nhơ bay, tôi thấy như thiếu vắng cái gì đó. À phải rồi, bầu trời tuổi thơ của các em thiếu vắng những cánh diều chao liệng những chiều nổi gió. Tôi sinh ra ở một thị xã miền núi, vậy mà năm, sáu tuổi đã chân đất đầu trần, quần đùi áo may ô chạy theo các anh trong xóm thả diều, vui lắm!
Góp thêm một cách hiểu câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử
Dương Hiền Nga
Trong thời gian qua, đã có rất nhiều bài viết trao đổi về câu thơ “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” trên mặt báo. Để trả lời câu hỏi “mặt chữ điền” là gương mặt của ai? Mặt cô gái hay chàng trai, cho đến này dường như vẫn chưa thật ngã ngũ một cách thỏa đáng.
Theo tôi, nên đặt câu thơ và chỉnh thể nghệ thuật Đây thôn Vĩ Dạ để xem xét sẽ thấy đây là câu thơ tả cảnh thôn Vĩ chứ không phải tả mặt người.
Tượng đài cụ Nguyễn Khắc Nhu tại quê hương Yên Dũng, Bắc GiangÔng sinh năm 1881, tại làng Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Xuất thân trong một gia đình Nho học, thuở nhỏ ông theo học khoa cử, năm 1912 đi thi Hương đứng đầu cả xứ Bắc Kỳ nên đương thời gọi là Đầu Xứ Nhu, gọi tắt là Xứ Nhu. Ông không chỉ là một lãnh tụ của Việt Nam Quốc Dân đảng, với chức vụ trưởng ban lập pháp, người có vai trò quan trọng trong đường lối đấu tranh vũ trang của Việt Nam Quốc Dân đảng, mà còn là một nhà thơ chân chính. Mỗi trang, mỗi dòng như chính cuộc đời bi hùng của ông, chứa chan tinh thần yêu nước, thương nòi.
Là một nhà nho chân chính, hết lòng yêu quê hương đất nước, ông chủ trương đấu tranh vũ trang chống thực dân cướp nước dành chính quyền, vì vậy thơ ông khác hẳn với những nhà nho đương thời: Đó là hơi thở của dân gian, mang cái hồn trí tuệ và tầm cao thời đại. Nơi ông sinh ra là cái nôi của nhiều làn điệu dân ca và văn học dân gian. Ngay từ nhỏ ông đã từng theo một phương chèo đi khắp miền Bắc Giang, Bắc Ninh, Lạng Sơn. Những làn điệu dân ca đầy chất trí tuệ, nhưng không kém phần lạc quan thấm vào ông từ lúc nào. Chí lớn, hoài bão của ông được thể hiện rõ nét trong thơ. Đây là câu đối treo trên tường lớp học, cùng bản đồ thế giới:
Ăn cơm xong, Hà lên phòng mình ở tầng ba định ngủ một giấc rồi dậy ôn bài, mai kiểm tra cuối năm. Mới vào hè mà tiết trời đã nóng hầm hập. Bỗng từ ô cửa sổ nhà bên bỗng vang lên tiếng đàn piano. Tiếng đàn vụng về bập bõm, sai lệch cả cung bậc của bản nhạc… Cứ như vậy tiếng đàn bập bùng suốt trưa làm Hà không sao ngủ được. Hà nghĩ bụng, chắc nhà bên mới mua dương cầm và họ đang thử đàn.
Nhưng mấy buổi trưa hôm sau vẫn vậy, tiếng đàn vụng về cứ vang lên giữa buổi trưa yên tĩnh. Tâm trạng buồn bực, Hà phàn nàn với mẹ trong bữa cơm tối. Mẹ bảo: họ đàn ở nhà họ, có gây ầm ĩ gì nhiều, rồi con sẽ quen thôi.
Dậy đi em
Dậy đi em
Anh hồi hộp nâng khèn
Trăng vàng sóng sánh
Dặt dìu dòng suối âm thanh Nhà sàn đợi chờ thao thức
Đầu khèn
chạm vào hò hẹn
Sao hôm đậu xuống mái nhà
Đêm trở mình da diết nhớ sàn hoa
Đầu khèn
chạm vào đợi chờ
Sao mai lung linh cửa sổ
Hội hái hoa ban nọong ơi
Trái tim chung đôi e ấp lời bầy tỏ
Đầu khèn
chạm vào mong nhớ
Trăng neo khau cút bâng khuâng
Trinh trắng hoa ban
Thắm tình hoa mạ
Cầu thang rạo rực rung rinh
Em như nàng tiên mùa xuân
Bước ra từ câu khắp