All posts by Trần Đình Hoành

I am an attorney in the Washington DC area, with a Doctor of Law in the US, attended the master program at the National School of Administration of Việt Nam, and graduated from Sài Gòn University Law School. I aso studied philosophy at the School of Letters in Sài Gòn. . I have worked as an anti-trust attorney for Federal Trade Commission and a litigator for a fortune-100 telecom company in Washington DC. I have taught law courses for legal professionals in Việt Nam and still counsel VN government agencies on legal matters. I have founded and managed businesses for me and my family, both law and non-law. I have published many articles on national newspapers and radio stations in Việt Nam. In 1989 I was one of the founding members of US-VN Trade Council, working to re-establish US-VN relationship. Since the early 90's, I have established and managed VNFORUM and VNBIZ forum on VN-related matters; these forums are the subject of a PhD thesis by Dr. Caroline Valverde at UC-Berkeley and her book Transnationalizing Viet Nam. I translate poetry and my translation of "A Request at Đồng Lộc Cemetery" is now engraved on a stone memorial at Đồng Lộc National Shrine in VN. I study and teach the Bible and Buddhism. In 2009 I founded and still manage dotchuoinon.com on positive thinking and two other blogs on Buddhism. In 2015 a group of friends and I founded website CVD - Conversations on Vietnam Development (cvdvn.net). I study the art of leadership with many friends who are religious, business and government leaders from many countries. I have written these books, published by Phu Nu Publishing House in Hanoi: "Positive Thinking to Change Your Life", in Vietnamese (TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống) (Oct. 2011) "10 Core Values for Success" (10 Giá trị cốt lõi của thành công) (Dec. 2013) "Live a Life Worth Living" (Sống Một Cuộc Đời Đáng Sống) (Oct. 2023) I practice Jiu Jitsu and Tai Chi for health, and play guitar as a hobby, usually accompanying my wife Trần Lê Túy Phượng, aka singer Linh Phượng.

Lord of the Dance – Cry of the Celts

Chào các bạn,

“Lord of the Dance” là một chương trình ca vũ nhạc Ai-len (Ireland) do một vũ sư Michael Flatley người Mỹ gốc Ireland sáng tạo và là vũ công chính. Nhạc của chương trình này do nhạc sĩ Ronan Hardiman viết.

Michael Flatley nổi tiếng nhờ vũ đoàn Riverdance, một vũ đoàn về vũ Ai-len, nhưng bất đồng ý kiến với ban giám đốc về nghệ thuật trình diễn–Michael muốn trình diễn trong những sân rộng thay vì hạn hẹp trong các hí viện cổ điển–cho nên Machael rời Riverdance và thành lập Lord of the Dance. Cả Riverdance và Lord of the Dance đều nổi tiếng quốc tế về vũ Ai-len.

Bài vũ sau đây có tên là Cry of the Celts (Tiếng Thét Của Người Celts, tổ tiên người Ai-len ngày nay) do Michael Flatley và toàn ban trình bày.

Chúc các bạn một ngày nhiều nhịp chân 🙂

Hoành
.

Lord Of the Dance – Cry of the Celts [Michael Flatley]

Mỗi ngày một việc thiện

Chào các bạn,

Tất cả mọi vị thầy của tất cả mọi môn học trên thế giới đều xác nhận với bạn là muốn nhuần nhuyễn môn học của họ, bạn phải luyện tập hàng ngày. “Thường xuyên” là yếu tố quan trọng nhất cho tinh tấn, dù đó là toán, hội họa, khiêu vũ, võ thuật, tư duy tích cực, thiền…

Một trong những cách giản dị và dễ nhất để luyện tập tư duy tích cực, thiền tâm, và tâm nhân ái là “Mỗi ngày một việc thiện.”

Thực ra chúng ta đã thường làm mỗi ngày hơn một việc thiện rồi. Ta chỉ không nghĩ đến mà thôi. “Mỗi ngày một việc thiện”, hoặc cho chính mình hoặc cho người khác, chẳng làm ta nặng gánh thêm tí nào, ngoại trừ nó nhắc ta ‎ý thức đến điều ta làm mỗi ngày mà thôi.

Có rất nhiều việc thiện lớn nhỏ ta có thể làm mỗi ngày trong cuộc sống thường nhật:

1. Việc thiện cho mình:

• Nhịn hút một điếu thuốc lúc đang lên cơn thèm.
• Đang muốn nằm nướng, nhưng đứng dậy đi bơi.
• Đang lừ nhừ, làm một ly cà phê, mở của đứng uống cà phê nhìn mặt trời lên trên ngọn cây.
• Đi bộ một quãng sau khi ăn tối.
• Đang tức giận việc gì đó, mở nhạc nhẹ nghe và ngủ một giấc cho quên giận.

2. Việc thiện cho người khác:

• Nhường chỗ cho một phụ nữ trên xe bus.
• Đưa một cụ già qua đường.
• Cho một người ăn xin một tí tiền.
• Cho người hàng xóm mượn một đồ vật cần dùng.
• Tính mắng ai đó một câu, nhưng nuốt nước bọt rồi mỉm cười.
• Tính làm gì đó để đì ai đó cho hả giận, nhưng niệm (phật hay chúa) một câu rồi quyết định không làm.
• Nhặt một mảnh rác và bỏ vào thùng rác gần đó.
• Ai đó sửa soạn đánh nhau, nói vài lời can ngăn.

Đại loại là như thế. Việc thiện đầy dẫy quanh ta, chỉ cần mở mắt một tí thì thấy bao nhiêu là cơ hội để làm, mà lại chẳng tốn tí công sức gì của ta cả.

“Mỗi ngày một việc thiện” có ảnh hưởng rất lớn đối với chính ta và xã hội của ta. Việc thiện của ta có ảnh hưởng trực tiếp đến 3 nhóm người:

1. Người được ta giúp: Hoặc là họ nhận một điều thiện từ ta, hoặc là không nhận một điều ác từ ta, đó đều là điều tốt cho họ. Và họ sẽ nghĩ: “Ờ, thế giới này vẫn còn người tử tế.” Suy nghĩ như vậy là một năng lượng tích cực trong tâm của một người. Có cơ hội nó sẽ được nhân lên thành nhiều người.

2. Chính ta: Ý thức và hành động của “Mỗi ngày một việc thiện” là cách luyện tư duy tích cực và thiền rất hiệu quả. Có lẽ là ít có gì hiệu quả bằng, vì đây là luyện tập bằng hành động sống.

3. Những người nghe/thấy được việc thiện của ta: Như những người qua đường, nhìn thấy ta giúp một lão bà, họ sẽ nghĩ: “Ờ, thế giới này vẫn còn người tử tế”. Và năng lượng tích cực này trong họ sẽ được nhân lên khi có cơ hội.

Các bạn có thể thấy được sức mạnh của năng lượng tích cực này trên thế giới của ta nếu bạn chỉ làm một việc thiện một ngày, và cứ như thế cả đời không?

Mong các bạn nồng nhiệt tham dự vào “dự án cá nhân” này cho chính bạn, đồng thời chuyển message này đến bạn bè, mời gọi mọi người tham dự vào “dự án cá nhân” cho riêng họ; và như thế các “dự án cá nhân” của chúng ta đã là một “dự án xã hội”, cho thành phố, quốc gia, và thế giới chúng ta đang sống.

Chẳng có gì lớn lao. Nhưng ta chẳng nên quên là “Tiếng động của một cái khảy móng tay có thể rung động đến vô lượng thế giới.”

Các bạn thỉnh thoảng hãy đến ghi vào phản hồi của bài này một việc thiện nhỏ bạn đã làm, để chia sẻ ‎ý tưởng với các bạn khác. Đây là sống. Đây không phải là phong trào kéo dài một vài tháng. Đây là dự án sống cả đời. Và bạn đã thường làm rồi, chẳng có gì mới, chỉ là suy nghĩ có hệ thống hơn. Thế thôi.

Chúc các bạn một ngày vui. Đừng quên chuyển message này đi. Chúng ta đã có một link thường trực trên ĐCN về “Mỗi Ngày Một Việc Thiện”.

Mến,

Hoành

Viết bài cho Đọt Chuối Non

Chào các bạn,

Cám ơn cả nhà đã kiên nhẫn trong thời gian xáo trộn vừa qua.

Vì lý do bảo vệ an ninh cho ĐCN và cũng để tập trung năng lượng của chúng ta, sau đây là một vài điểm chính về chính sách mới về bài vở của Đọt Chuối Non.

1. Tất cả mọi bài đều phải nằm trong slogan của ĐCN–“Tư duy tích cực mỗi ngày”.

Các bài thơ và văn mà chúng ta thường đăng trên ĐCN, dù là hay nhưng thường không nằm trong mục đích tư duy tích cực mỗi ngày. Các bài này sẽ bị ảnh hưởng dưới chính sách mới.

Đa số các thiền thi và thánh thi được xem như đủ tiêu chuẩn tư duy tích cực.

Đa số các bài về văn hóa và lịch sử Việt Nam, được xem như đủ tiêu chuẩn tư duy tích cực.

Các bản nhạc thường nằm trong chuyên mục “Văn Hóa”, giúp ta hiểu biết thêm về văn hóa, cho nên nếu không tiêu cực và ủy mi, thì có thể chấp nhận được.

Tập trung ý hướng bài vở như thế này có thể làm giảm lượng bài vở rất nhiều, cho nên ĐCN sẽ phải chậm lại. Không sao, chúng ta cần quan tâm đến phẩm chứ không cần lượng.

2. Tạm thời, vừa để duy trì an ninh vừa để định hình cho đường hướng bài vở mới, mình sẽ là admin duy nhất. Xin các bạn gởi bài trực tiếp đến mình tại tdhoanh@gmail.com.

Tùy theo điều gì sẽ xảy ra, chúng ta sẽ tiếp tục thay đổi để quản lý ĐCN với các biện pháp tối ưu. Cho nên chính sách gì ta nói hôm nay chỉ có hiệu lực cho đến khi có thay đổi. Chẳng có gì vĩnh viễn. Planning on the move. 🙂

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Đừng lo, anh yêu

Ờ nó dồn ứ trong tôi
Ô tôi chẳng biết đã bao lâu
Tôi chẳng biết sao nhưng tôi cứ nghĩ là
Chuyện gì đó sẽ hỏng

Nhưng nàng nhìn vào mắt tôi
Và làm tôi hiểu ra
Khi nàng nói “Đừng lo, anh yêu”
Đừng lo, anh yêu
Mọi sự sẽ tốt đẹp

Đừng lo, anh yêu
Đừng lo, anh yêu

Tôi nghĩ lẽ ra tôi đã nên ngậm miệng
Khi tôi bắt đầu khoác lác về chiếc xe của tôi
Nhưng tôi không thể ngưng được rồi
Vì tôi đã đẩy những chàng khác quá xa

Nàng làm tôi sống lại
Và làm tôi muốn lái
Khi nàng nói “Đừng lo, anh yêu”
Đừng lo, anh yêu
Đừng lo, anh yêu
Mọi sự sẽ tốt đẹp

Đừng lo, anh yêu
Đừng lo, anh yêu
Đừng lo, anh yêu

Nàng nói, “Anh yêu, khi anh đua hôm nay
Mang theo tình yêu của em với anh
Và nếu anh biết em yêu anh nhiều đến thế nào
Anh yêu, chẳng chuyện gì có thể hỏng được với anh”

Ôi nàng làm gì với tôi
Khi nàng yêu tôi
Và nàng nói “Đừng lo, anh yêu”
Đừng lo, anh yêu
Đừng lo, anh yêu
Mọi sự sẽ tốt đẹp

Đừng lo, anh yêu
Đừng lo, anh yêu
Đừng lo, anh yêu

(TĐH dịch)

Don’t Worry Baby – the Beach Boys – 1964

Don’t Worry Baby Lyrics

Artist(Band):Beach Boys

Well its been building up inside of me
For oh I don’t know how long
I don’t know why but I keep thinking
Something’s bound to go wrong

But she looks in my eyes
And makes me realize
When she says “Don’t worry baby”
Don’t worry baby
Everything will turn out alright

Don’t worry baby
Don’t worry baby
Don’t worry baby

I guess I should’ve kept my mouth shut
When I start to brag about my car
But I can’t back down now because
I pushed the other guys too far

She makes me come alive
and makes me want to drive
When she says “Don’t worry baby”
Don’t worry baby
Don’t worry baby
Everything will turn out alright

Don’t worry baby
Don’t worry baby
Don’t worry baby

She told me “Baby, when you race today
Just take along my love with you
And if you knew how much I loved you
Baby nothing could go wrong with you”

Oh what she does to me
When she makes love to me
And she says “Don’t worry baby”
Don’t worry baby
Don’t worry baby
Everything will turn out alright

Don’t worry baby
Don’t worry baby
Don’t worry baby

Lễ hội toàn quốc trong tháng 5 dương lịch

Nguồn:  Vietnamtourism.com

(Các links dưới đây không hoạt động trên ĐCN, chỉ hoạt động trên vietnamtourism.com

Lễ hội tháng 5  2010

Toàn quốc:

Rằm tháng 4 âm lịch (Thứ sáu, 28/5/2010 Đại lễ Phật Đản 2553 – 2010 dương lịch)

.

Hòa Bình
Lễ hội cầu mưa của người Mường

Thời gian: Tháng 4 âm lịch.
Địa điểm: Bãi Tếch Lìm, xã Mỹ Hòa, huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.
Đặc điểm: Lễ cầu mưa được tổ chức ở bãi Tếch Lìm, chủ xóm dọn mâm lễ. Xóm Đon và Chuông bày binh diễn trận giả và khấn cầu vua nước làm mưa.    (Chi tiết)

Lễ hội cầu mưa của người Thái

Thời gian: Tháng 4 âm lịch.
Địa điểm: Huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.
Đặc điểm: Hội cầu mưa của người Thái ở Mai Châu được mở vào những đêm trăng quầng đỏ của tháng 3, tháng 4 âm lịch. Mọi người đi hát cầu mưa ở khắp các nhà trong bản, rồi rước đuốc vòng quanh bản.    (Chi tiết)

Bắc Giang
Hội đền Suối Mỡ

Thời gian: 1/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Đối tượng suy tôn: Tam tòa Thánh Mẫu.
Đặc điểm: Lễ cầu cho dân khang, vật thịnh, mùa màng tươi tốt, hát giao duyên.    (Chi tiết)

Bắc Ninh
Hội Đậu

Thời gian: 18/3 âm lịch.
Địa điểm: Xã Mộ Đạo, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Ông Bính, một vị tướng thời Hùng Vương thứ 18.
Đặc điểm: Rước lớn, thi thả diều, bơi chải.    (Chi tiết)

Hội chùa Bút Tháp

Thời gian: 23-24/3 âm lịch
Địa điểm: Xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Đức Phật
Đặc điểm: Lễ cúng Phật; lễ dâng hương; lễ cúng đàn trần tế cầu phúc; lễ cúng Tổ; hát quan họ trên thuyền; hội thi thả chim bồ câu.    (Chi tiết)

Hội chùa Dâu

Thời gian: 8/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Phật Mẫu Man Nương và bốn con gái bà là Pháp Vân (Mây – Bà Dâu – thờ ở chùa Dâu), Pháp Vũ (Mưa – Bà Đậu – thờ ở chùa Thành Đạo), Pháp Lôi (Sấm, Sét – Bà Tương – thờ ở chùa Phi Tương), Pháp Điện (Chớp – Bà Dàn – thờ ở chùa Phương Quan).
Đặc điểm: Lễ rước lớn, múa rồng.    (Chi tiết)

Hội Khám

Thời gian: 7/4 âm lịch.
Địa điểm: Làng Ngọc Khám, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Đối tượng suy tôn: Ba thành hoàng: Lạc Long Quân, Tri Sơn (Sơn thần), Tri Thủy (Thủy thần).
Đặc điểm: Lễ rước Lạc Long Quân về đình, hội đồng Thành hoàng, tế lễ cầu mùa, đón trận mưa đầu mùa.    (Chi tiết)

Hội thả chim bồ câu

Thời gian: 27/3 âm lịch.
Địa điểm: Huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
Đặc điểm: Thi từng đàn 10 con (5 đôi đực cái) vào cuối xuân, trời trong không mây, ít gió, mùa vắng bóng chim cắt, diều hâu (hay đánh chim bồ câu). Các vùng chơi nổi tiếng: Hoàng Mai, Đông Anh (Hà Nội), sông Đuống, Vùng Dâu (Bắc Ninh).    (Chi tiết)

Lạng Sơn
Hội chùa Tà Và

Thời gian: 12 – 15/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Chi Lăng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.
Đối tượng suy tôn: Đức Phật, Thần Nông, Quan Công và Lưu Bị.
Đặc điểm: Lễ cầu mùa, cúng lễ, chơi cờ người.    (Chi tiết)

Thành phố Hải Phòng
Lễ hội Cát Bà – Hội đua thuyền rồng

Thời gian: 1/4 dương lịch.
Địa điểm: Thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải, Tp. Hải Phòng.
Đối tượng suy tôn:Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đến nghề cá.
Đặc điểm: Đua thuyền kỷ niệm ngày Bác Hồ về thăm làng cá Cát Bà năm 1959 và cũng là ngày truyền thống của ngành thủy sản.    (Chi tiết)

Hưng Yên
Hội chùa Tứ Pháp

Thời gian: 8/4 âm lịch.

Địa điểm: Huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Đối tượng suy tôn: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện.

Đặc điểm: Ngày hội giao hiếu cầu hòa ở một số làng tổ chức rước lễ giữa các làng thờ Bà, nhưng chỉ rước 3 Bà Vân, Vũ, Lôi đến với Bà Điện. Vì tục kiêng đưa Bà Điện ra khỏi chùa, làng sẽ bị cháy.

(Chi tiết)


Hội làng Bần Yên Nhân

Thời gian: 11/4 âm lịch.
Địa điểm: Thị trấn Bần, xã Yên Nhân, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên.
Đối tượng suy tôn: Tướng quân Đoàn Thượng (Đông Hải đại vương) thuộc triều Lý.
Đặc điểm: Rước, cờ bỏi, chọi gà, hầu đồng, xin quẻ.    (Chi tiết)

Thành phố Hà Nội (mở rộng)
Hội Quất Động

Thời gian: 12 – 16/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Quất Động, huyện Thường Tín, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Lê Công Hành, tổ nghề là trạng nguyên thời Mạc Đăng Dung.
Đặc điểm: Lễ dâng hương, lễ cúng tưởng niệm.    (Chi tiết)

Hội xã Tự Nhiên

Thời gian: 1/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Tự Nhiên, huyện Thường Tín, Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Chử Đồng Tử, Tiên Dung công chúa, Tây Sa công chúa và Đào Thành (tướng của Hai Bà Trưng).
Đặc điểm: Rước nước, cờ bỏi.    (Chi tiết)

Thái Bình
Hội đền Đồng Xâm

Thời gian: 1 – 3/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
Đối tượng suy tôn: Ông Nguyễn Kim Lâu, ông tổ nghề chạm bạc thế kỷ 15.
Đặc điểm: Lễ hội gồm: lễ hạ trải đua, rước thánh sư, đua thuyền, ca trù, hát chèo.    (Chi tiết)

Hội Hậu Trung, Hậu Thượng

Thời gian: 25/3 âm lịch.

Địa điểm: Xã Bạch Đằng, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Đối tượng suy tôn: Lý Bí và Hoàng Hậu.

Đặc điểm: Lễ rước và tế lễ, đấu vật.

(Chi tiết)


Hội La Vân

Thời gian: 20/3 âm lịch.

Địa điểm: Xã Quỳnh Hồng, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Đối tượng suy tôn: Bà chúa bèo dâu, quốc sư Nguyễn Minh Không và thành hoàng làng.

Đặc điểm: Rước nước, rước Thành hoàng, rước Thánh, trình diễn nghề cấy bèo dâu truyền thống, đấu vật, múa lân, cờ tướng.

(Chi tiết)


Hội làng Lộng Khê

Thời gian: 21/3 âm lịch.

Địa điểm: Xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

Đối tượng suy tôn: Quốc sư Dương Không Lộ, Thái úy Lý Thường Kiệt.

Đặc điểm: Rước nước, rước tượng, múa bát dật do 32 cô gái đồng trinh biểu diễn,  múa tứ linh, kéo chữ, cờ tướng, thả diều, bắt vịt, hát trống quân trên hồ nước.

(Chi tiết)


Hội Quang Lang

Thời gian: 14/4 và 14/6 âm lịch. Chính hội 14/4 âm lịch.
Địa điểm: Làng Quang Lang, xã Thụy Hải, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Đối tượng suy tôn: Ông Đùng – Bà Đà, Bà Chúa Muối (Nguyệt Ánh) đệ tam cung phi vua Trần Anh Tông.
Đặc điểm: Giỗ Bà Chúa Muối (14/6 âm lịch) gồm: lễ dâng hương, múa hình nộm đan ông Đùng, bà Đà, múa rối nước, ca hát, cướp hình nộm cắm xuống ruộng muối, thuyền cá. Lễ rước Ông Đùng – Bà Đà (14/4 âm lịch).    (Chi tiết)

Hội Sáo Đền

Thời gian: 24/3 âm lịch.

Địa điểm: Làng An Lão, xã Song An, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.

Đối tượng suy tôn: Dụ vương Ngô Từ và bà Đinh Thị Ngọc Kế, bà Ngô Thị Ngọc Dao (mẹ vua Lê Thánh Tông).

Đặc điểm: Trò thi bắt vịt, bắt chạch, thổi cơm thi, hội vật, thi diều sáo các cỡ, diễn chèo, rước đèn.

(Chi tiết)


Thanh Hóa
Hội chợ Bản

Thời gian: 15/4  âm lịch. Hội 3 năm mở một lần.

Địa điểm: Xã Định Tường và Định Tăng, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

Đối tượng suy tôn: Ông bà La Sát.

Đặc điểm: Hội vui xuân, hội chợ buôn bán trâu bò, nông cụ và sản phẩm nông nghiệp, mua bán lấy may.

(Chi tiết)


Thành phố Hà Nội
Hội đền Đồng Cổ (hội thề Đồng Cổ)

Thời gian: 4/4 âm lịch.
Địa điểm: Phường Bưởi, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Thần Đồng Cổ – Thần Trống Đồng.
Đặc điểm: Lễ hội tưởng nhớ vua Lý Thái Tông cho rước thần Trống Đồng ở Đan Nê (Thanh Hóa) về lập đền thờ ở Thăng Long.    (Chi tiết)

Hội đền Chèm

Thời gian: 14 – 16/4 âm lịch.
Địa điểm:  Xã Thụy Phương, huyện Từ Liêm, TP. Hà Nội.
Lễ hội suy tôn: Lý Ông Trọng và vợ là Bạch Tinh công chúa.
Đặc điểm: Rước nước trên sông, thả chim bồ câu.    (Chi tiết)

Hội Chi Nam (hội Phù Dóng)

Thời gian: 8/4 âm lịch.

Địa điểm: Xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Thánh Dóng, ông Hiển Công, có công đánh giặc Ân.

Đặc điểm: Tế lễ, diễn trận, đấu gậy, trò cướp gậy, cướp dừa.

(Chi tiết)


Hội làng Lệ Mật

Thời gian: ngày 23/3 âm lịch hàng năm.
Địa điểm: Làng Lệ Mật, phường Việt Hưng, quận Long Biên, thành phố Hà Nội
Đối tượng suy tôn: Thành Hoàng làng họ Hoàng.
Đặc điểm:Hội có múa rắn.    (Chi tiết)

Hội làng Thượng Phúc

Thời gian: 16/2 âm lịch, 14/4 và 27/4 âm lịch.

Địa điểm: Làng Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, TP. Hà Nội.

Đối tượng suy tôn: Hoàng tử Lý Thầm, thiền sư Hồ Bà Lam.

Đặc điểm: Thi bơi thuyền trên sông, năm thì bơi thuyền gỗ, năm bơi thuyền thúng. Thổi cơm thi, đôi nam nữ vừa đi vừa thổi cơm, vừa múa. Buổi tối có hát trống quân trên thuyền.

(Chi tiết)


Hội làng Vo

Thời gian: 9/4 âm lịch.
Địa điểm: Thôn Hội Xá, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Dực Hòa Bảo Chính và 2 em gái.
Đặc điểm: Múa hổ.    (Chi tiết)

Hội Lỗ Khê

Thời gian: 5-7/4 và 13-15/11 âm lịch.
Địa điểm: Xã Liên Hà, huyện Đông Anh, TP. Hà Nội.
Đối tượng suy tôn: Vợ chồng ông Đinh Dự và bà Mãn Hoa Đường (dạy nghề hát ả đào).
Đặc điểm: Giỗ tổ nghề ca trù có tế lễ và múa hát.    (Chi tiết)

Thành phố Đà Nẵng
Lễ hội Rước mục đồng

Thời gian: 29-30/3 âm lịch.
Địa điểm: Làng Phong Lệ, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, TP. Đà Nẵng
Đặc điểm: Hội dành riêng cho trẻ chăn trâu, Lễ rước Thần Nông, cầu cho mùa bội thu. Thi tiện các con giống : tứ linh, tứ nghệ, dụng cụ sản xuất nông nghiệp, trình diễn trò chơi dân gian.    (Chi tiết)

Quảng Bình
Hội làng Bảo Ninh

Thời gian: 14 – 16/4  âm lịch.
Địa điểm: Xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Đối tượng suy tôn: Nhân thần (hai cha con người đánh cá) và Cá Ông (cá voi).
Đặc điểm: Lễ rước cốt Ông, diễn “hò khoan, chèo cạn”, múa bông. Hội xuống biển có lễ thả thuyền giấy, cá giấy xuống biển, cầu khấn. Đua thuyền sáu làng.    (Chi tiết)

Lễ hội Cầu Ngư

Thời gian: 14/4 âm lịch.
Địa điểm: Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình.
Đối tượng suy tôn: Cá Ông (cá voi).
Đặc điểm: Rước cốt Ông (cá voi) từ làng về đình.    (Chi tiết)

Khánh Hòa
Lễ hội Tháp Bà – Pô Nagar

Thời gian: 20 – 23/3 âm lịch.
Địa điểm: Phường Vĩnh Phước, TP. Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
Đối tượng suy tôn: Nữ thần Xứ Sở (người Chăm).
Đặc điểm: Các nghi lễ: tắm tượng và thay y, múa dâng Bà, đua ghe và đêm có hát bội.    (Chi tiết)

Đồng Tháp
Hội đình Định Yên

Thời gian: 16/4  âm lịch.
Địa điểm: Xã Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
Đối tượng suy tôn: Ông Phạm  Văn An, người đầu tiên khai hoang lập ấp.
Đặc điểm: Hội đình long trọng với các nghi thức: đội  kỵ mã, đội lân binh, đội học trò lễ… để tưởng nhớ ông Phạm Văn An.    (Chi tiết)

Hội đình Tân Phú Trung

Thời gian: 16 – 17/4 âm lịch.
Địa điểm: Xã Tân Phú Trung, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.
Đối tượng suy tôn: Thành Hoàng làng.
Đặc điểm: Tưởng niệm những người có công lập làng và cầu cho dân khang vật thịnh.    (Chi tiết)

Thành phố Cần Thơ
Hội đình Bình Thủy (Lễ thượng điền)

Thời gian: 12 – 14/4 âm lịch.
Địa điểm: Phường Bình Thủy, quận Bình Thủy, TP. Cần Thơ.
Đối tượng suy tôn: Thành Hoàng Bổn Cảnh (Thổ Thần).
Đặc điểm:  Lễ Thượng điền (cúng Thổ Thần sau khi thu hoạch), cúng thành hoàng làng, cầu an, cúng tế, rước thần trên xe rồng tán phượng, thỉnh sắc thần bằng bè ghép 3 thuyền trang trí lộng lẫy, hát bội ba đêm liền.    (Chi tiết)

Long An
Lễ Cầu Mưa

Thời gian: 18/4  âm lịch.
Địa điểm: Tỉnh Long An.
Đặc điểm: cúng lễ truyền thống, lễ cầu mưa còn được thể hiện bằng những cuộc đua ghe trên sông rạch (Ghe đua bằng tre thon dài,  chứa được 20 tay bơi).    (Chi tiết)

Bến Tre
Hội đình Phú Lễ

Thời gian: 18 – 19/3  âm lịch (Lễ kỳ yên) và 9 – 10/11 âm lịch (Lễ cầu bông).
Địa điểm: Ấp Phú Khương, xã Phú Lễ, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre.
Đối tượng suy tôn: Thành Hoàng Bổn Cảnh.
Đặc điểm: Lễ kỳ yên cầu mưa thuận gió hòa, lễ cầu bông cầu mùa màng tươi tốt.    (Chi tiết)

Thành phố Hồ Chí Minh

Lễ hội chùa Bà Thiên Hậu (Tp. Hồ Chí Minh)

Thời gian: 23/3 âm lịch.

Địa điểm: 710 Nguyễn Trãi, quận 3, TP. Hồ Chí Minh.

Đối tượng suy tôn: Bà Thiên Hậu.

Đặc điểm: Lễ vía Bà tại chùa Bà Thiên Hậu, một trong những ngôi chùa cổ của người Hoa ở Chợ Lớn có kiến trúc theo lối Trung Hoa. Ngày hội, người Hoa về đây rất đông, họ làm hai hình nộm Ông Thiện, Ông Ác cao 3 thước. Cuối ngày đốt 2 hình nộm để cúng.

(Chi tiết)

Scholarship

UNU-IRA-INAT-ICARDA-CAREERI-ALRC-GM Scholarship

The Joint Master’s Degree (MSc) Programme on Integrated Drylands Management is offered jointly through the partnership between the United Nations University (UNU), Institut des Régions Arides (IRA), Cold and Arid Regions Environmental and Engineering Research Institute (CAREERI), the International Center for Agricultural Research in the Dry Areas (ICARDA), Institut National Agronomique de Tunisie (INAT) Tottori University (TU), and the Global Mechanism (GM) of the United Nations Convention to Combat Desertification (UNCCD).

The MS Programme is designed to enhance the capacity of developing countries to manage their drylands resources. It is intended to provide young professionals and scientists an international perspective on resource management approaches in drylands. Students enrolled in the 2010-2011 programme will attend a 4-week intense course at CAREERI facilities in Lanzhou, China from 13 September – 12 October 2010. Upon completion of the course work and approval of the research proposal, students will carry out their field research which will be hosted by one of the partner organizations. The students are also required to complete a research project in their home country. The MS Programme is jointly offered by the seven partner institutions as an internationally accepted degree.

Readmore: http://cambodiajobs.blogspot.com/2010/04/unu-ira-inat-icarda-careeri-alrc-gm.html

Conservation International Indigenous Leaders Conservation Fellowship

The Indigenous Leaders Conservation Fellowship is sponsored by Conservation International to create opportunities for leaders and scholars from indigenous and traditional peoples communities and organizations to explore solutions to the impacts of climate change and the threats to ecosystems and biodiversity that are affecting their lands, communities and livelihoods.

The program will focus on supporting the fellow’s research and demonstration of the contribution of traditional knowledge in adapting to climate change and maintaining healthy ecosystems, and how that knowledge can work with science and new technologies to influence policy and action.

This year-long fellowship will be offered to four candidates. Two fellowships will be awarded within the topic of Biodiversity, and two within the topic of Climate Change.

Readmore: http://cambodiajobs.blogspot.com/2010/04/conservation-international-indigenous.html

UNEP-WCMC Chevening MPhil Scholarships

The UNEP World Conservation Monitoring Centre, in collaboration with the Foreign & Commonwealth Office, The British Council, and in association with the University of Cambridge in its partnership with the Cambridge Conservation initiative, is very pleased to offer four UNEP-WCMC Chevening MPhil Scholarships in Conservation Leadership beginning in October.

Successful candidates will have the opportunity to spend a year at the Cambridge-based Centre, whilst undertaking the MPhil, and where they will work alongside our experts to build their knowledge base on biodiversity and provide information products and services to decision makers ranging from UNEP, to the international environmental agreements, and the private sector.

Readmore: http://cambodiajobs.blogspot.com/2010/04/unep-wcmc-chevening-mphil-scholarships.html

Thiền của người kể truyện

Encho là người kể truyện rất nổi tiếng. Những truyện tình anh kể làm rung động con tim của người nghe. Khi anh kể truyện chiến tranh, người nghe có cảm tưởng như là họ đang ở trên bãi chiến trường.

Ngày nọ Encho gặp Yamaoka Tesshu, một người thường sắp đạt đỉnh cao của Thiền. “Tôi hiểu,” Yamaoka nói “anh là người kể truyện hay nhất trong nước ta và anh làm người ta khóc hay cười khi anh muốn. Vậy hãy kể cho tôi nghe truyện Cậu Đào mà tôi yêu thích. Hồi còn bé tôi hay nằm ngủ bên cạnh mẹ, và mẹ hay kể cho tôi huyền thoại đó. Vào khoảng giữa truyện tôi hay thiếp ngủ. Hãy kể cho tôi như là mẹ tôi kể.”

Encho không dám thử. Anh xin một tí thời gian để nghiên cứu. Vài tháng sau anh đến gặp Yamaoka và nói: “Cho tôi cơ hội để kể truyện cho anh.”

“Để khi khác đi,” Yamaoka trả lời.

Encho rất thất vọng. Anh nghiên cứu thêm và thử lại lần nữa. Yamaoka từ chối anh nhiều lần. Khi Encho bắt đầu nói Yamaoka liền chận lại và nói: “Anh chưa giống mẹ tôi.”

Encho tốn mất 5 năm để có thể kể cho Yamaoka chuyện huyền thoại như mẹ Yamaoka đã kể cho anh.

Bằng cách này, Yamaoka đã truyền Thiền cho Encho.
.

Bình:

• Yamaoka là kiếm sĩ, sau này thành thiền sư, và là thầy của Thiên hoàng.

• Muốn kể truyện được như mẹ của Yamaoka, Encho phải làm vài chuyện:

1. Làm cho tâm của mình hoàn toàn trống rỗng, không con một tí tư tưởng và cảm xúc gì của mình trong đó.

2. Hiểu được tình cảm và xúc cảm của hai mẹ con Yamaoka đối với nhau.

3. Nói được với Yamaoka với mọi tình cảm và xúc cảm như mẹ Yamaoka, và phải thật đến độ Yamaoka tưởng là mình đang nghe mẹ.

Tức là Encho phải làm được tâm trống rỗng hoàn toàn, hiểu được tâm của người khác rất sâu sắc, và hành động như người khác hành động.

Chỉ cần đạt được bước số một, để tâm trống rỗng hoàn toàn, là đã đạt được Thiền rồi.

* Thiền là sống ở đây lúc này với tâm rỗng lặng. Có nhiều cách để đạt Thiền, không nhất thiết là phải ngồi Thiền và tụng kinh.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Storyteller’s Zen

Encho was a famous storyteller. His tales of love stirred the hearts of his listeners. When he narrated a story of war, it was as if the listeners themselves were in the field of battle.

One day Encho met Yamaoka Tesshu, a layman who had almost embraced masterhood of Zen. “I understand,” said Yamaoka, “you are the best storyteller in our land and that you make people cry or laugh at will. Tell me my favorite story of the Peach Boy. When I was a little tot I used to sleep beside my mother, and she often related this legend. In the middle of the story I would fall asleep. Tell it to me just as my mother did.”

Encho dared not attempt this. He requested time to study. Several months later he went to Yamaoka and said: “Please give me the opportunity to tell you the story.”

“Some other day,” answered Yamaoka.

Encho was keenly disappointed. He studied further and tried again. Yamaoka rejected him many times. When Encho would start to talk Yamaoka would stop him, saying: “You are not yet like my mother.”

It took Encho five years to be able to tell Yamaoka the legend as his mother had told it to him.

In this way, Yamaoka imparted Zen to Encho.

# 93

K‎ý ức – Nhạc kịch CATS

Sáng ngày
Thấy giọt sương trên cánh hướng dương
Và một đóa hồng đang phai
Những đóa hồng đang héo úa
Như hoa hướng dương
Tôi thèm quay mặt về phía hừng đông
Tôi đang đợi ngày đến…

Nửa đêm
Chẳng một âm thanh nào trên mặt đường
Mặt trăng mất k‎ý ức rồi sao?
Nàng đang cười một mình
Trong ánh đèn
Lá khô cuộn vào chân tôi
Và gió bắt đầu rên rỉ

K‎ý ức
Một mình trong ánh trăng
Tôi có thể mỉm cười với những ngày xưa
Thuở đó tôi đẹp
Tôi nhớ thời gian tôi biết hạnh phúc là gì
Hãy để ký‎ ức sống lại lần nữa

Mỗi ngọn đèn đường
Hình như gõ một cảnh báo định mệnh
Ai đó lầu bầu
Và ngọn đèn đường khọt khẹt
Và chút nữa trời sẽ sáng

Sáng ngày
Tôi phải đợi mặt trời lên
Tôi phải nghĩ đến một đời mới
Và tôi không được đầu hàng
Khi hừng đông đến
Tối nay cũng sẽ là một ký ức
Và một ngày sẽ bắt đầu

Đầu cuối cháy đen của những ngày đầy khói
Mùi lạnh tanh của buổi sáng
Đèn đường chết, một đêm nữa đã qua
Một ngày mới đang bình minh

Hãy sờ em
Thật là dễ để bỏ em
Một mình với ký ức
Của những ngày trong ánh nắng
Nếu anh ‎sờ em
Anh sẽ hiểu hạnh phúc là gì

Nhìn kìa
Một ngày mới đã bắt đầu

(TĐH dịch)

.

Elaine Paige- Memory (in the musical Cats)


.

Elaine Paige- Memory (Live performance, London 1998)

Musical “Cats” – Memory

Daylight
See the dew on the sunflower
And a rose that is fading
Roses whither away
Like the sunflower
I yearn to turn my face to the dawn
I am waiting for the day . . .

Midnight
Not a sound from the pavement
Has the moon lost her memory?
She is smiling alone
In the lamplight
The withered leaves collect at my feet
And the wind begins to moan

Memory
All alone in the moonlight
I can smile at the old days
I was beautiful then
I remember the time I knew what happiness was
Let the memory live again

Every streetlamp
Seems to beat a fatalistic warning
Someone mutters
And the streetlamp gutters
And soon it will be morning

Daylight
I must wait for the sunrise
I must think of a new life
And I musn’t give in
When the dawn comes
Tonight will be a memory too
And a new day will begin

Burnt out ends of smoky days
The stale cold smell of morning
The streetlamp dies, another night is over
Another day is dawning

Touch me
It’s so easy to leave me
All alone with the memory
Of my days in the sun
If you touch me
You’ll understand what happiness is

Look
A new day has begun

Chào mừng Ngày Quốc Tế Lao Động 1.5

1.5.1913 (Nguồn: Thư Viện Quốc Hội Mỹ)
1.5.1913 (Nguồn: Thư Viện Quốc Hội Mỹ)

Chào các bạn,

Ngày 1/5 là Ngày Quốc tế Lao Động, còn gọi là “Ngày Tháng Năm” (May Day). Đây là ngày lễ tại nhiều quốc gia trên thế giới, dành để tôn vinh lao động và gây dựng đoàn kết lao động trên thế giới.

Tại Mỹ và Canada, Ngày Lao Động là ngày Thứ hai đầu tiên của tháng 9. Cho năm nay (2009), Ngày Lao Động ở Mỹ và Canada là ngày 7 tháng 9. Ngày Lao Động tháng 9 này có nguồn gốc từ Canada. Ngày 3 tháng 9 năm 1872, một số nghiệp đoàn ở Canada biểu tình chống việc chính phủ bắt một số nhân công tuần hành “đòi tuần làm việc 58 giờ” trong một cuộc biểu tình trước đó vài tháng. Cuộc biểu tình tháng 9 thành công. Ngày 23.7.1894, thủ tướng Canada John Thompson ký sắc lệnh ấn định Ngày Lao Động trong tháng 9.

Tại Mỹ, kể tử ngày 5 tháng 9 năm 1882, nghiệp đoàn cũng đã bắt đầu tuần hành hàng năm vào đầu tháng 9 như ở Canada. Và năm 1894, năm Canada chính thức nhận Ngày Lao Động tháng 9, thống thống Mỹ Grover Celveland cũng chấp nhận Ngày Lao Động tháng 9 như Canada, để cạnh tranh với Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5, là ngày Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đã chọn là Ngày Quốc Tế Lao Động và được cả thế giới đồng ý.

Nhưng, lịch sử có nhiều chuyện buồn cười, và lãnh đạo thế giới đôi khi hành động như trẻ con :-), vì Ngày Quốc Tế Lao Động 1 tháng 5 có nguồn gốc từ Mỹ !!

Truyền đơn kêu gọi biểu tình ở Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Truyền đơn kêu gọi biểu tình ở Quảng trường Haymarket 4.5.1886

Khởi đầu với biến cố Haymarket, ngày Thứ ba, 4.5.1886, tại Quảng trường Haymarket ở Chicago. Ba ngày trước đó, 1.5.1886, hàng chục nghìn nhân công ở Chicago và các thành phố khác đã biểu tình đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Ngày 4/5, cảnh sát đàn áp, một trái nổ không biết ai ném, giết chết một nhân viên cảnh sát. 8 lãnh đạo nghiệp đoàn bị bắt. 7 người bị tuyên án tử hình và 1 người án tù 15 năm, dù là không có bằng chứng gì nối cuộc ném bom với các lãnh đạo nghiệp đoàn, và cho đến ngày nay người ta vẫn không xác minh được là ai đã ném bom. Hai người án tử hình sau đó được thống đốc bang Illinois giảm xuống thành án chung thân. Trước ngày tử hình, một người tự tử trong tù, 4 người bị đưa ra pháp trường.

Quảng trường Haymarket 4.5.1886
Quảng trường Haymarket 4.5.1886

Vụ án này làm giới lao động và báo chí nước Mỹ phẩn nộ, đưa đến nhiều đấu tranh của lao động ở Mỹ cũng như tại các nơi khác trên thế giới. Năm 1888, Hiệp Hội Lao Động Mỹ (AFL — American Federation of Labor) quyết đinh chọn ngày 1.5.1890 (kỷ niệm biến cố Haymarket) để biểu tình tranh đấu đòi “Ngày làm việc 8 tiếng.” Năm 1889, chủ tịch AFL, Samuel Gompers, gửi một lá thư đến hội nghị đầu tiên của Đệ Nhị Quốc Tế Cộng Sản đang họp ở Paris, đề nghi một cuộc đấu tranh quốc tế cho “Ngày làm việc 8 tiếng.” Đệ Nhị Quốc Tế liền quyết định gọi một “cuộc biểu tình quốc tế vĩ đại” cùng một ngày trên khắp thế giới, vào ngày 1 tháng 5.

Bảng Di Tích Lịch Sử tại Haymarket ngày nay
Bảng Di Tích Lịch Sử tại Haymarket ngày nay

Chúng ta có thể đọc bài sau đây trên VietNamNet, viết ngày 1.5.2007.


Lịch sử ngày Quốc tế Lao động 1/5

(VietNamNet) – Hằng năm, người lao động trên toàn thế giới lại cùng nhau kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5. Tại Việt Nam, đây là một ngày mà mọi người dân ai ai cũng được nghỉ ngơi, vui chơi không phải làm việc. Tuy vậy, không phải ai cũng biết được lịch sử cũng như ý nghĩa trọng đại của ngày Quốc tế Lao động, nhất là các bạn trẻ thế hệ 8X, 9X.

Trong cuộc đấu tranh giữa tư bản và lao động, vấn đề thời gian lao động có ý nghĩa quan trọng. Ngay sau khi thành lập Quốc tế I năm 1864, Mác coi việc rút ngắn thời gian lao động là nhiệm vụ đấu tranh của giai cấp vô sản. Tại Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản I họp tại Gieneve (Thụy Sĩ) tháng 9/1866, vấn đề đấu tranh cho ngày làm việc 8 giờ được coi là nhiệm vụ quan trọng. Khẩu hiệu ngày làm 8 giờ sớm xuất hiện trong một số nơi của nước Anh, nước có nền công nghiệp phát triển sớm nhất. Yêu sách này dần lan sang các nước khác.

Chuẩn bị cho 1/5, Senaatintori square, Helsinki, Finland
Chuẩn bị cho 1/5, Senaatintori square, Helsinki, Finland

Do sự kiện giới công nhân viên chức Anh di cư sang Mỹ, phong trào đòi làm việc 8 giờ phát triển mạnh ở nước Mỹ từ năm 1827, đi đôi với nó là sự nảy nở và phát triển phong trào Công đoàn. Năm 1868, giới cầm quyền Mỹ buộc phải thông qua đạo luật ấn định ngày làm 8 giờ trong các cơ quan, xí nghiệp thuộc Chính phủ. Nhưng các xí nghiệp tư nhân vẫn giữ ngày làm việc từ 11 đến 12 giờ.

Năm 1884, tại thành phố công nghiệp lớn Chicago, Đại hội Liên đoàn Lao động Mỹ thông qua nghị quyết nêu rõ: “…Từ ngày 1/5/1886, ngày lao động của tất cả các công nhân sẽ là 8 giờ”. Sở dĩ ngày 1/5 được chọn bởi đây là ngày bắt đầu một năm kế toán tại hầu hết các nhà máy, xí nghiệp ở Mỹ. Vào ngày này, hợp đồng mới giữa thợ và chủ sẽ được ký. Giới chủ tư bản có thể biết trước quyết định của công nhân mà không kiếm cớ chối từ.

1.5.1948 New York City
1.5.1948 New York City

Ngày 1/5/1886, do yêu cầu của công nhân không được đáp ứng một cách đầy đủ, giới công nhân trên toàn nước Mỹ đã tham gia bãi công nhằm gây áp lực buộc giới chủ thực hiện yêu sách của mình. Đầu tiên là cuộc bãi công tại thành phố Chicago. Khoảng 40 nghìn người không đến nhà máy. Họ tổ chức mit-tinh, biểu tình trên thành phố với biểu ngữ “Từ hôm nay không người thợ nào làm việc quá 8 giờ một ngày! Phải thực hiện 8 giờ làm việc, 8 giờ nghỉ ngơi, 8 giờ vui chơi!” Cuộc đấu tranh lôi cuốn ngày càng đông người tham gia. Cũng trong ngày hôm đó, tại các trung tâm công nghiệp khác trên nước Mỹ đã nổ ra 5.000 cuộc bãi công với 340 nghìn công nhân tham gia. Ở Washington, New York, Baltimore, Boston… hơn 125.000 công nhân giành được quyền ngày chỉ làm 8 giờ.

Những cuộc biểu tình tại Chicago diễn ra ngày càng quyết liệt. Giới chủ đuổi những công nhân bãi công, thuê người làm ở các thành phố bên cạnh, thuê bọn khiêu khích và cảnh sát đàn áp, phá hoại cuộc đấu tranh của công nhân. Các xung đột xảy ra dữ dội khiến hàng trăm công nhân chết và bị thương, nhiều thủ lĩnh công đoàn bị bắt… Báo cáo của Liên đoàn Lao động Mỹ xác nhận: “Chưa bao giờ trong lịch sử nước Mỹ lại có một cuộc nổi dậy mạnh mẽ, toàn diện trong quần chúng công nghiệp đến như vậy”.

1.5.2008 New York City
1.5.2008 New York City

Ngày 20/6/1889, ba năm sau “thảm kịch” tại thành phố Chicago, Quốc tế cộng sản lần II nhóm họp tại Paris (Pháp). Dưới sự lãnh đạo của Frederic Engels, Đại hội lần thứ nhất của Quốc tế Cộng sản II đã quyết định lấy ngày 1/5 hàng năm làm ngày biểu dương lực lượng và đấu tranh chung của tầng lớp vô sản các nước.

Từ đó, ngày 1/5 trở thành Ngày Quốc tế Lao động, ngày đấu tranh của giai cấp công nhân, ngày nghỉ ngơi và biểu dương lực lượng, ngày hội của công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới.

Năm 1920, dưới sự phê chuẩn của Lê Nin, Liên Xô (cũ) là nước đầu tiên cho phép người dân được nghỉ làm vào ngày Quốc tế Lao động 1/5. Sáng kiến này dần dần được nhiều nước khác trên thế giới tán thành.

Tại Việt Nam, sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời (1930), giai cấp công nhân Việt Nam đã lấy ngày l/5 hàng năm làm ngày đỉnh cao của phong trào đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập – tự do – dân chủ, giành những quyền lợi kinh tế – xã hội. Trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám, việc kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5 phần nhiều phải tổ chức bí mật bằng hình thức treo cờ, rải truyền đơn. Năm 1936, do thắng lợi của Mặt trận bình dân Pháp và Mặt trận dân chủ Đông Dương, ngày Quốc tế Lao động lần đầu tiên được tổ chức công khai tại Hà Nội, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia. Đặc biệt, ngày 1/5/1938, một cuộc biểu tình lớn gồm hàng chục ngàn người đã diễn ra ở khu Đấu xảo Hà Nội với sự tham gia của 25 ngành, giới: thợ hoả xa, thợ in, nông dân, phụ nữ, người cao tuổi, nhà văn, nhà báo… Đây là cuộc mit-tinh lớn nhất trong thời kỳ vận động dân chủ (1936 – 1939), một cuộc biểu dương sức mạnh đoàn kết của nhân dân lao động do Đảng lãnh đạo. Nó đánh dấu một bước trưởng thành vượt bậc về nghệ thuật tổ chức và lãnh đạo của Đảng ta.

Ngày nay, ngày Quốc tế Lao động đã trở thành ngày hội lớn của hai giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đây cũng là ngày biểu thị tình đoàn kết hữu nghị với giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới, cùng đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội.

L.A (dịch từ Internet)

Chúc các bạn một Ngày Quốc Tế Lao Động vui vẻ thoải mái, không lao động !

Mến,

Hoành

Hãy gởi đến tôi một thiên thần

Hiền nhân nói đi lối này
Về hướng hừng đông của ánh sáng
Gió sẽ tạt vào mặt bạn
Trong khi năm tháng đi ngang bạn
Hãy nghe lời nói sâu thẳm trong bạn
Đó là lời gọi của trái tim
Hãy nhắm mắt và bạn sẽ tìm được
Đường ra khỏi bóng tối

Tôi đây
Hãy gởi đến tôi một thiên thần
Tôi đây
Trong miền đất của sao mai

Hiền nhân nói hãy tìm chỗ của bạn
Trong mắt bão
Tìm hoa hồng dọc đường đi
Coi chừng gai nhọn

Tôi đây
Hãy gởi đến tôi một thiên thần
Tôi đây
Trong miền đất của sao mai

Hiền nhân nói giơ tay lên
Và với lấy lời thần chú
Tìm cửa vào miền đất hứa
Hãy tin vào chính bạn
Hãy nghe lời nói sâu thẳm trong bạn
Đó là lời gọi của trái tim
Nhắm mắt và bạn sẽ tìm thấy
Đường ra khỏi bóng tối

Tôi đây
Hãy gởi đến tôi một thiên thần
Tôi đây
Trong miền đất của sao mai
Tôi đây
Hãy gởi đến tôi một thiên thần
Tôi đây
Trong miền đất của sao mai

(TĐH dịch)

“Send Me an Angle” là bản nhạc của ban nhạc Đức Scorpions, phát hành trong album Crazy World năm 1990, cùng với bản Wind of Change. Send Me an Angle trở thành bản nhạc chính của album, lên hạng 44 trên bảng Billboard Hot 100, hạng 8 trên bảng Mainstream Rock Chart [1], và hạng cao trên nhiều bảng ở Âu Châu. Tại Ba Lan, bản nhạc lên đến hạng 3.

Send Me An Angel

Scorpions

The wise man said just walk this way
To the dawn of the light
The wind will blow into your face
As the years pass you by
Hear this voice from deep inside
It’s the call of your heart
Close your eyes and your will find
The passage out of the dark

Here I am
Will you send me an angel
Here I am
In the land of the morning star

The wise man said just find your place
In the eye of the storm
Seek the roses along the way
Just beware of the thorns

Here I am
Will you send me an angel
Here I am
In the land of the morning star

The wise man said just raise your hand
And reach out for the spell
Find the door to the promised land
Just believe in yourself
Hear this voice from deep inside
It’s the call of your heart
Close your eyes and your will find
The passage out of the dark

Here I am
Will you send me an angel
Here I am
In the land of the morning star
Here I am
Will you send me an angel
Here I am
In the land of the morning star

Thiền khơi lửa

Hakuin thường kể cho các đệ tử chuyện về một lão bà chủ một tiệm trà, ca ngợi sức thông hiểu Thiền của bà. Các đệ tử không tin lời thầy và đến tiệm trà để xem thực hư.

Mỗi khi thấy họ đến, lão bà biết ngay là họ đến để uống trà hay tò mò về hiểu biết Thiền của bà. Nếu đến để uống trà, bà sẽ phục vụ tử tế. Nếu đến vì tò mò, bà sẽ gọi họ ra sau bức bình phong. Ngay lúc họ bước vào, bà sẽ dùng cây khơi lửa đánh họ.

9 phần 10 số đệ tử không thoát khỏi ăn đòn của bà.
.

Bình:

• Điều ta suy nghĩ bên trong, thường bộc lộ ra ngoài, kể cả khi ta muốn che dấu. Đây là thân ngữ (body language). Thân ngữ thường bộc lộ tự nhiên, và người nhậy bén về thân ngữ có thể đọc được y’ ‎ tưởng của người khác qua thân ngữ.

Các điều tra viên giỏi thường rất nhậy cảm với thân ngữ. Các thiền sư rất tĩnh lặng thường nhậy cảm về mọi sự, kể cả thân ngữ. Tuy nhiên, giỏi đọc thân ngữ hay không cũng tùy người.

• Đối với thiền sinh, tò mò về sức hiều biết thiền của người khác là một tội, vì nó chẳng giúp được gì cho thiền sinh cả, ngoại trừ làm cho thiền sinh đi lạc đường–so sánh cạnh tranh mình với người khác.

• Thiền không thể thấy, không thể so sánh. Thiền là sống ở đây lúc này, với tâm không vướng mắc. Thế thì làm sao nhìn một người để thấy Thiền của người đó được?

• Ai cũng có thể đạt được Thiền. Lão bà bán trà có thể đạt Thiền, trong khi nhiều thiền sư không thể. Thiền đến từ tâm tĩnh lặng, không vướng mắc. Có gì lạ đâu mà tò mò?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Fire-Poker Zen

Hakuin used to tell his pupils about an old woman who had a teashop, praising her understanding of Zen. The pupils refused to believe what he told them and would go to the teashop to find out for themselves.

Whenever the woman saw them coming she could tell at once whether they had come for tea or to look into her grasp of Zen. In the former case, she would serve them graciously. In the latter, she would beckon the pupils to come behind her screen. The instant they obeyed, she would strike them with a fire-poker.

Nine out of ten of them could not escape her beating.

# 92

Mùi vị của thanh kiếm của Banzo

Matajuro Yagyu là con của một kiếm sĩ nổi tiếng. Cha của Matajuro tin rằng con mình quá tầm thường để có thể thành đại kiếm sĩ, nên từ con.

Vì vậy Matajuro lên núi Mount Furata và tìm gặp kiếm sĩ lừng danh Banzo. Nhưng Banzo xác nhận sự định giá của người cha. “Cậu muốn học kiếm đạo của tôi?” Banzo hỏi. “Cậu không thể làm tròn các yêu cầu được đâu.”

“Nhưng nếu con tập luyện chăm chỉ thì cần bao nhiêu năm để thành cao thủ?” cậu nhỏ kiên trì.

“Cả đời cậu,” Banzo trả lời.

“Con không đợi lâu thế được,” Matajuro giải thích. “Con sẵn sàng chịu đựng mọi cực khổ, nếu thầy bằng lòng dạy con. Nếu con trở thành người đầy tớ trung tín của thầy, thì sẽ tốn bao lâu?”

“Ô, có thể là 10 năm.” Banzo lùi bước.

“Cha của con đã già rồi, và con sẽ phải lo cho cha sớm thôi,” Matajuro tiếp tục. “Nếu con làm việc cực nhọc hơn rất nhiều, thì sẽ tốn bao lâu?”

“Ô, có thể là 30 năm,” Banzo nói.

“Sao vậy?” Matajuro hỏi. “Lúc đầu thầy nói 10 năm và bây giờ lên 30 năm. Con sẽ chịu bất kì cực khổ nào để thuần thục kiếm thuật trong thời gian ngắn nhất!”

“À,” Banzo nói, ‘trong trường hợp đó cậu sẽ phải ở với tôi đến 70 năm. Một người hấp tấp đòi kết quả như cậu ít khi học nhanh được.”

“Vâng được,” cậu nhỏ tuyên bố, cuối cùng cậu cũng hiểu là cậu đang bị mắng vì thiếu kiên nhẫn, “con đồng ý.”

Matajuro được ra lệnh không bao giờ được nhắc đến kiếm thuật và không bao giờ được sờ đến thanh kiếm. Cậu nấu ăn cho sư phụ, rửa chén, dọn giường, dọn dẹp sân, chăm sóc vườn, làm tất cả mà không nói một lời về kiếm thuật.

Ba năm trôi qua. Matajuro vẫn tiếp tục lao động. Nghĩ đến tương lai, cậu buồn. Cậu chưa được ngay cả bắt đầu để tập môn nghệ thuật mà cậu đã hiến dâng cả đời mình.

Nhưng một ngày nọ Banzo lén bò đến sau lưng Matajuro và cho cậu một đập dữ dội với thanh kiếm gỗ.

Ngày hôm sau, khi Matajuro đang nấu cơm, Banzo lại nhảy đến tấn công bất ngờ.

Từ ngày đó, ngày cũng như đêm, Matajuro phải lo chống đỡ các cú tấn công bất ngờ. Chẳng có lúc nào Matajuro lại không nghĩ đến mùi vị của thanh kiếm của Banzo.

Cậu học nhanh đến nỗi cậu mang nụ cười đến trên mặt của sư phụ. Matajuro trở thành kiếm sĩ vĩ đại nhất trong nước Nhật.
.

Bình:

• Tĩnh lặng là căn bản của võ học. Khi tĩnh lặng thì cả ngũ quan lẫn tư tưởng của ta nhạy bén hơn để chiến đấu.

• Kiên nhẫn là căn bản của luyện tập. Tất cả mọi môn học trên thế gian đều cần kiên nhẫn, vì sự tiến hóa cần thời gian, và người ta chỉ có thể tăng tiến từ từ theo thời gian. Không ai có thể đi từ 1 đến 10 trong một bước. Những người thiếu kiên nhẫn thường bỏ học nữa chừng, hoặc thường tìm cách đi đường tắt, là đường dở hơn.

• Các công việc của đầy tớ–nấu ăn, rửa bát, dọn dẹp—là các công việc tốt nhất để tập chúng ta kiên nhẫn và khiêm tốn—càng khiêm tốn ta càng kiên nhẫn và càng tĩnh lặng. Cái tôi lớn thường làm cho tâm ta ồn ào xung động và không kiên nhẫn.

• Trong “cuộc chiến” với đời sống, chúng ta cũng cần tĩnh lặng để chiến thắng, và cần kiên nhẫn để học nghệ thuật chiến thắng.

Và làm các việc đầy tớ hàng ngày là cách huấn luyện ta rất tốt. Các bạn, nhất là các bạn nam, có nấu ăn, rửa bát, quét sân, giặt đồ, chùi toilette thường không?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Taste of Banzo’s Sword

Matajuro Yagyu was the son of a famous swordsman. His father, believing that his son’s work was too mediocre to anticipate mastership, disowned him.

So Matajuro went to Mount Futara and there found the famous swordsman Banzo. But Banzo confirmed the father’s judgment. “You wish to learn swordsmanship under my guidance?” asked Banzo. “You cannot fulfill the requirements.”

“But if I work hard, how many years will it take to become a master?” persisted the youth.

“The rest of your life,” replied Banzo.

“I cannot wait that long,” explained Matajuro. “I am willing to pass through any hardship if only you will teach me. If I become your devoted servant, how long might it be?”

“Oh, maybe ten years,” Banzo relented.

“My father is getting old, and soon I must take care of him,” continued Matajuro. “If I work far more intensively, how long would it take me?”

“Oh, maybe thirty years,” said Banzo.

“Why is that?” asked Matajuro. “First you say ten and now thirty years. I will undergo any hardship to master this art in the shortest time!”

“Well,” said Banzo, “in that case you will have to remain with me for seventy years. A man in such a hurry as you are to get results seldom learns quickly.”

“Very well,” declared the youth, understanding at last that he was being rebuked for impatience, “I agree.”

Matajuro was told never to speak of fencing and never to touch a sword. He cooked for his master, washed the dishes, made his bed, cleaned the yard, cared for the garden, all without a word of swordmanship.

Three years passed. Still Matajuro labored on. Thinking of his future, he was sad. He had not even begun to learn the art to which he had devoted his life.

But one day Banzo crept up behind him and gave him a terrific blow with a wooden sword.

The following day, when Matajuro was cooking rice, Banzo again sprang upon him unexpectedly.

After that, day and night, Matajuro had to defend himself from unexpected thrusts. Not a moment passed in any day that he did not have to think of the taste of Banzo’s sword.

He learned so rapidly he brought smiles to the face of his master. Matajuro became the greatest swordsman in the land.

# 91

Tu luyện tư duy tích cực

Chào các bạn,

Nếu bạn muốn giỏi đàn, giỏi đá bóng, giỏi toán, giỏi văn… giỏi bất kì môn nào trên đời, thì bạn phải làm gì? Bạn có thể đọc sách về các môn đó lâu năm để giỏi được không? Hay là bạn phải bỏ mỗi ngày ít ra là 1 tiếng đồng hồ để tập luyện về môn đó?

Tự duy tích cực cũng vậy. Tư duy tích cực đòi hỏi tu luyện hàng ngày. Chúng ta không thể đọc các bài tư duy tích cực trong một quyển sách nào đó, hay trên Internet, và có thể tư duy tích cực. Rất tiếc là đa số chúng ta sống như thế. Cứ đọc ngấu đọc nghiến điều gì ta thấy hấp dẫn, và tự bảo là như thế là ta biết môn đó, mà không hề bỏ ta công sức để tập tành một phút nào cả.

Nhiều người còn có thói quen, dùng tư duy tích cực như một đề tài để nói và viết, đọc ở đâu đó vài bài rồi góp nhặt viết lại thành bài của mình, nghe rất kêu, nhưng chẳng nghĩa lý‎ gì cho chính mình hay cho ai cả, vì chính mình cũng chưa hề tập luyện một giờ nào.

Tư duy tích cực đến từ công phu tu luyện. Nếu bạn không tập võ một ngày nào, đừng tưởng tượng công phu mình đã đến lúc tung mình lên trời đá song phi.

Chuỗi bài tư duy tích cực trên Đọt Chuối Non có hơn 600 bài. Đó là quá quá quá nhiều. Thực ra tất cả tư duy tích cực chỉ nên dưới 100 chữ. Thật ra, dưới 20 chữ là tốt nhất. Người tu tập, thường chẳng cần một chữ nào. Các thiền sư thường vô ngôn. Viết nhiều đọc nhiều là bệnh của chúng ta trong thời Internet, và nó làm cho chúng ta dễ lạc đường, cứ nghĩ rằng viết và đọc là mục tiêu chính.

Tư duy tích cực có hai bước chính:

1. Khi bạn hoàn toàn bi quan và thiếu tự trọng, không xem mình ra gì cả, thì bạn phải tập luyện suy tư và hành động để làm vững chính mình và cái nhìn của mình: Tôi vững mạnh, tôi quyết định vận mệnh của tôi, tôi có thể thành công nếu tôi muốn.

Đó là giai đoạn của nửa ly nước: Nửa ly nước, có thể nói là đầy nửa ly hay cạn nửa ly. Đàng nào cũng đúng. Chỉ là vấn đề lựa chọn của bạn.

Cái nhìn của ta về chính mình, về mọi người chung quanh mình, về thế giới của mình là cái nhìn “đầy nửa ly” hay “cạn của ly” do ta lựa chọn. Và mỗi lựa chọn là một con đường sống khác nhau.

2. Khi cái tôi đã vững, chúng ta phải thoát ra khỏi cái tôi, vì cái tôi là đầu mối của mọi tội lỗi—tự cao, tự kiêu, ngã mạn, vô cảm, thành kiến, hẹp hòi, tham lam, dữ dằn…

Lúc này là lúc ta phải đi vào “không tôi”, vào vô ngã, vào khiêm tốn thật sự, vào “giao phó cuộc đời trong tay chúa” (total submission, total surrender).

Đây là cái học của người đã có bằng tiến sĩ và bắt đầu quên mất là mình có bằng, bắt đầu khám phá những bí quyết của môn học bằng cái nhìn bỡ ngỡ của trẻ thơ, hỏi mọi điều, mần mò mọi điều, khám phá sự thật bí ẩn của mọi điều.

Đây là mức độ của các trường phái tâm linh của con người. Các trường phái suy tư không tâm linh không thể đến được mức này, và chỉ nằm ở mức con người tranh đấu lẫn nhau với những ham muốn, ước vọng và cuồng vọng của mình.

• Nếu là Phật giáo thì ta tự quán mình đến lúc thấm nhuần toàn tâm toàn trí là “ngũ uẩn giai không” (con người ta là không—Bát Nhã Tâm Kinh), lúc đó ta đạt được “vô ngã”, được “không tôi”, ta không còn bị “cái tôi” chi phối trong tư duy và hành động của mình.

• Nếu là dòng tâm linh Moses (Do thái giáo, Thiên chúa giáo—công giáo, chính thống giáo, các nhánh tin lành—và Hồi giáo), thì ta “giao phó” mình hoàn toàn cho Thượng đế–total surrender to God. Suy tư và sống hoàn toàn do thượng đế chi phối và điều khiển. Cái tôi hoàn toàn biến mất vào tay thượng đế, chỉ có thượng đế sống trong tôi. Tôi và ý chí của tôi biến mất, chỉ có thượng đế và ý muốn của thượng đế trong tôi.

Cả hai mức “vô ngã” cùa Phật gia và “hoàn toàn giao phó” của dòng Moses (Môi Sen hay Mai Sen) đều rất khó đạt và phải được tu tập công phu nhiều năm tháng. Có người sẽ không bao giờ đạt dược cả đời.

Ngược lại, vẫn có người đạt được mức này rất nhanh, như Lục tổ Huệ Năng của Thiền tông, Thánh Têrêsa Hài Đồng… Đó là những người có căn cơ, hoặc có lòng yêu thương Thượng đế cực mạnh.

Cho đa số chúng ta, mức này chỉ có thể đạt được bằng tu luyện mỗi ngày, hoặc bằng thiền quán, hoặc bằng kiên tâm cầu nguyện đối thoại với Thượng đế (với Christ), rất nhiều tháng nhiều năm.

Cả hai phương thức, dù có tên khác nhau đều có vài điểm căn bản chung:

(1) Tĩnh lặng,
(2) quán sát tư duy và hành động của chính mình,
(3) để “cái tôi” của mình hoàn toàn không còn ảnh hưởng gì đến tư duy của mình nữa–một tâm hoàn toàn trống rỗng, và
(4) tâm trống rỗng đó

    (a) trong truyền thống Phật gia, tự nó Đi Như Thế Đến Như Thế–tức là “tâm Như Lai”, hay

    (b) trong truyền thống Moses, được chuyển động bởi quyền lực siêu nhiên tối hậu—mà ta gọi là Thượng đế, Chúa, hay Christ.

Dù là trường phái nào đi nữa thì chúng ta cũng không cần thêm lý thuyết và giải bày, mà chỉ cần kiên tâm thực hành, tu luyện—ít nhất là nửa tiếng tĩnh lặng để thiền quán hay cầu nguyện mỗi ngày; lý tưởng nhất là thiền quán hay cầu nguyện mỗi giây trong ngày dù bất kì ta đang làm gì.

Và cứ như thế cả đời mình.

Chúng ta hãy thực tập đi, và đừng nói nhiều.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,
Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Cú đầu lần cuối

Tangen đã học với Sengai từ hồi còn bé. Lúc lên 20 Tangen muốn rời thầy và thăm viếng các thầy khác để học đối chiếu. Nhưng Sengai không cho phép. Mỗi lần tangent nhắc đến chuyện đó, Sengai lại cho Tangen một cái cú đầu.

Cuối cùng Tangen hỏi một sư huynh xin thầy hộ. Sư huỵnh làm được và cho tangent biết: “Xong rồi. Anh đã sắp xếp để em bắt đầu cuộc hành hương ngay lập tức.”

Tangen đến găp Sengai để cám ơn thầy đã cho phép. Sư phụ trả lời Tangen bằng một cái cú đầu.

Khi Tangen kể lại chuyện cho sư huynh, sư huynh nói: “Chuyện gì vậy? Thầy không thể cho phép xong rồi thay đổi ‎ý kiến. Anh sẽ nói với thầy như vậy.” Và sư huynh đến gặp thầy.

“Thầy đâu có hủy phép,” Sengai nói. “Thầy chỉ muốn cho nó cái cú đầu cuối cùng, vì khi nó trở về nó sẽ giác ngộ và thầy không thể la mắng nó nữa.”
.

Bình:

• Bài này tóm tắt triết lý giáo dục thiền tông mà ta đã quen thuộc trong những bài trước. Thầy dùng đủ hình thức giáo dục để giúp học trò tỉnh thức, từ dịu dàng nhẹ nhàng, đến la mắng, đập bàn, gõ nền nhà, đôi khi cho cái tát tai, cái cú đầu, hay một gậy. Nhưng các hình thức “giáo dục nặng” không vì thầy giân dữ, mà chỉ là một phương cách để đánh động tâm trí học trò tỉnh thức.

• Khi học trò đã tỉnh thức, tức là đã đạt ngộ, người học trò trở thành thầy, và mọi hình thức giáo dục cũ chấm dứt. Bây giờ thầy trò đều là thầy cả, đều đã đạt ngộ, không cần và không thể giáo dục nặng nữa. Cùng lắm là bàn với nhau vài ba câu.

• Ngày nay chúng ta cũng có các câu hỏi trong hệ thống giáo dục: Giáo viên có nên sử dụng hình phạt thể chất (physical punishment—quỳ gối, khẻ mông, v.v..) với học sinh? Nếu có thì trong những trường hợp nào, và những hình phạt nào có thể chấp nhận được? Giáo viên có được huấn luyện để biết rằng hình phạt là giáo dục, chứ không phải là cách để làm cho mình hả giận không?

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

The Last Rap

Tangen had studied with Sengai since childhood. When he was twenty he wanted to leave his teacher and visit others for comparative study, but Sengai would not permit this. Every time Tangen suggested it, Sengai would give him a rap on the head.

Finally Tangen asked an elder brother to coax permission from Sengai. This the brother did and then reported to Tangen: “It is arranged. I have fixed it for you to start your pilgrimage at once.”

Tangen went to Sengai to thank him for his permission. The master answered by giving him another rap.

When Tangen related this to his elder brother the other said: “What is the matter? Sengai has no business giving permission and then changing his mind. I will tell him so.” And off he went to see the teacher.

“I did not cancel my permission,” said Sengai. “I just wished to give him one last smack over the head, for when he returns he will be enlightened and I will not be able to reprimand him again.”

# 90