All posts by tanai

teacher - poet

Cho

Xin là chốn bình yên
Lần đầu tiên người con trai là bến
Để qua những phút giây ngông cuồng đạp phăng những gì chân bước đến
Em lại về ngu ngốc với tình anh.ladyblue_couple_5484

Xin là nụ mầm xanh
Lần đầu tiên người con trai là lá
Để qua những phút giây bạo tàn thét gào trên bể cả
Gió lại về e ấp với vườn cây.

Xin là nước là mây
Lần đầu tiên người con trai chịu làm mây nước
Để qua những bước chân rong chơi bùn lầy xương gai cào xước
Bé lại về tắm gội hết đời dơ.

Xin là những vần thơ
Cho người con gái đôi mươi hận tình đem đốt
Rồi qua những phút giây chán chường kiêu căng khinh đời dại dột
Chìm trong giấc ngủ vùi em đòi những lời ru.

tinh_yeuXin là tình thiên thu
Đứng đợi em tự ngàn xưa, ngàn sau cửa tình để ngỏ
Rồi qua những phút giây chán chường đam mê giựt giành rời bỏ
Em về, lại gặp mình, chẳng mất mát hư hao!

Nguyễn Tấn Ái

Em Đã Về Chưa

Nắng đã cuối ngày em về chưa?
Mưa đã cuối mùa em về chưa ?
Cuối cuộc đường trần rồi em về đâu?
Cuối cuộc trăm năm hỏi em có còn nguyên vẹn nụ cười?
aodai

Em một đời nhan sắc, em một đời thiên tính hiền lành mà tuổi thanh xuân chừng quá ngắn, được bao ngày yêu thương, được bao ngày chiều chuộng, đóa hoa trên cành ấy anh mang về vụng về chưng cất hóa thành cầm tù trong cõi hạn hẹp chồng con.

Ngày xưa, ngày xưa yêu em như mây trắng, yêu em như hoàng hôn, yêu như một lãng du, yêu như một giã biệt…Em thấm thía nỗi niềm sau trước, sợ mất người, sợ mất mình, dư vị cay nồng của thuở hoa niên.

Rồi cũng đến cuộc chung thân. Thế rồi ta vẹn lời thề, thế rồi mẹ đón em về làm dâu, thế rồi mộng chẳng đến đâu, quẳng cái thanh xuân em âm thầm làm vợ tần tảo kiếm tìm hạnh phúc một nụ cười lấm mấy giọt mồ hôi.

Anh thì một đời không thực, một đời mộng ảo, một khát làm người, một khát làm vĩ nhân tỉnh lẻ, em thì thầm lặng như Chức Nữ dệt tấm gia đình con tằm rút ruột nhả đường tơ.

Thôi thì anh biết tạ ơn người, biết xin lỗi người, yêu em ta được nhiều mà như mất, li rượu cuộc đời chưa thôi say đắm, ruổi một cành hông, ruổi một câu thơ, có biết sau lưng thầm một tiếng thở dài.

Thôi thì biết tạ ơn người, ta xem cuộc đời như thơ mà em thì quí cuộc đời như thực. Ta ruổi theo niềm vui bè bạn tội nghiệp em mừng cho con từng con điểm chín mười.

Thôi thì lấy nhẫn nại làm vui, yêu ta em mất nhiều mà như được. Nợ em một đời nhan sắc chưa hoàn trả, nợ em một hẹn thề, nợ em một ngày mộng ảo… Ta liều lĩnh mà em cả tin, ta thế chấp mà không gia tài, em phá sản mà tưởng mình chủ nợ.

Mà thôi, lấy tình yêu và trách nhiệm làm vui. Giờ yêu người mới biết mình vô dụng, trăm câu kinh chưa làm được một câu tử tế, ta “ nhất sinh từ phú tri vô ích”, em nôm na giản dị mà hạnh phúc bình thường lại đến từ em.cò

Anh cảm ơn sách vở nào đã dạy cho em biết giản đơn xếp lại ngày thiếu nữ, biết làm con cò lặn lội bờ sông, biết thuận theo lẽ chồng là đầu của vợ, biết canh cánh bên lòng lời xưa mẹ dặn về nhà người chăm dậy sớm thức khuya.

Bao nhiêu năm rồi làm mẹ các con anh, tấm áo miếng cơm đã đành là nỗi niềm canh cánh. Có cơn mưa chiều nao cho đường quê lầy lội, cho người mẹ trẻ thắt lòng nghĩ nẻo về con nhỏ đường xa.

Có ngày hè nắng nôi, nhẫn nại bàn tay đưa gió mát, có đêm con trẻ ấm mình khó ngủ, anh người chồng tính đoản, nỗi khuya chăm ẳm chỉ vợ thôi.

Bao nhiêu năm rồi làm mẹ của các con anh để yên lòng người chồng cao đàm khoác luận. Thôi thì một chiều xếp bút nghiên sách vở, giản dị một điều: Anh biết cảm ơn em!

Thôi lấy an lạc làm vui, đất nước mình rồi giàu rồi mạnh, rồi văn minh âu hóa. Anh rất lạc quan tin rồi sẽ không còn những người vợ khổ, như tin vào lẽ công bằng dân chủ văn minh.

Riêng có một điều mong rằng đừng bao giờ thay đổi: Rằng vợ cứ ngoan cứ hiền, cứ cúc cung thầm lặng, cứ một đời phụ nữ Á đông, giữa thăng trầm cuộc đời với anh em cứ là bến đỗ bình yên. MeRuCon

Giờ thì đã cuối ngày rồi đó, nắng đã tắt và mưa núi sắp về giăng mắc, cánh cò của anh còn lặn lội nơi nào. Về đi thôi, về đi!

NGUYỄN TẤN ÁI.

Người Xa Lạ

“Người xa lạ” vốn là của Albert Camus nổi tiếng.
Còn người xa lạ này thì xoàng thôi, sử dụng những chiêu thức xoàng xĩnh, ai cũng gặp được, nhưng chẳng ai chịu nhận người quen, hóa thành người xa lạ.

lovers
Có hai người yêu nhau, hoặc quá yêu, hoặc chẳng còn yêu, mà cha mẹ lại cấm đoán, họ rủ nhau đi tự tử.
Địa điểm chung kết đời khốn nổi lại là nơi quá đỗi thơ mộng: Một chiếc cầu với những nhịp cong cong vắt ngang đôi bờ hoang dại.
Họ dắt nhau từ một bờ hoang dại đến đúng giữa cầu.
Họ hôn nhau lần cuối, lần này đúng là lần cuối thật, nụ hôn lành lạnh mùi thần chết.
Họ định ôm nhau và cứ thế lao xuống dòng sâu, quyết định này thì quá ư dại dột. Và thiếu kinh nghiệm.
Ôm nhau thì không nhảy xuống cầu được. Ôm nhau thì bận bịu lắm, làm sao mà chết được.
Mà phải chết. Họ chia tay. Mỗi người về một bờ sông. Mỗi người sẽ làm việc của mình.

Họ để lại giữa cầu một đôi giày và một đôi dép. Hàng xịn, vừa mua từ siêu thị, nơi đôi tình nhân đưa nhau đi ăn bữa trần gian cuối cùng. Có mặc cả hẳn hoi.
Họ để làm tin. Người nào nhìn thấy sẽ biết họ từ giã cõi đời từ dòng sông này.
Về thế giới của mình, chàng trai nghĩ: Dại ngộ, thiếu gì con gái, tội gì mà chết.
Và cũng là suy nghĩ của bờ bên kia.
Chàng quẳng xuống sông một táng đá lớn làm vật thế thân. Bùm.
Bùm, có tiếng từ bờ bên kia đáp lại.
Chàng nghĩ: Quay trở lại lấy đôi giày.
Và đó cũng là suy nghĩ của bờ bên kia.
Họ gặp nhau giữa cầu! cầu
Câu chuyện đến đó là hết.

Và hết như vậy thì chẳng có hậu bao giờ. Mời mọi người viết thêm lời kết.
Ví dụ như:
Họ chào người kia: Chào người xa lạ, cô từ thế giới nào đi đến?
Tôi từ sông hồ, tên tôi là Thủy Khấu.
Chào người xa lạ, anh từ thế giới nào đi đến?
Tôi từ núi rừng, tên tôi là Lâm Tặc.
Một con bói cá đậu trên thành cầu vọng lời góp chuyện:
– Các vị đến từ thế giới loài người, tên là Dối Trá!

Vậy đó các bạn ạ, trong thế giới của chúng ta, xấu nhất không phải là thủy khấu, không phải là lâm tặc, mà là những con người dối trá.
Người dối trá làm đau những người sống quanh mình.
Đến cơ quan, họ làm cho cơ quan thành bè phái.
Về hàng xóm, họ biết cách làm cho hàng xóm thành ganh đua.
truth lie
Vào nơi hội họp, họ làm cho nơi hội họp thành trường cãi lẫy.
Họ làm người, bất chính. Làm quan, bất liêm. Làm dân, tà vạy.
Dĩ nhiên, họ chẳng đồng chí với ai. Giữa họ với họ cũng chẳng là đồng chí.
Và khi hai người dối trá yêu nhau, tình yêu biến thành một trò cười.

Để cho thế giới này lạc quan hơn thì cần dọn dẹp cho sạch sẽ mầm dối trá.
Mà dối trá mọc lên từ đâu, làm thế nào để dọn dẹp sạch mầm dối trá?
Luận đề lại là của một diễn đàn và là một hệ thống mở.
Mời các bạn góp cho một kinh nghiệm, một lời bình, một châm ngôn, để khu vườn này bớt đi những chà chôm gai góc là ta đã chung tay dọn cỏ vườn trần. vuon5

Riêng người kể chuyện vẫn đau đáu về câu chuyện mình đang kể.
Nếu được phép phán quyết thì tôi sẽ tổ chức để đôi tình nhân ấy chết đi, chết thật.
Trong trường hợp này ta cần một bi tình hơn là một chuyện tiếu lâm.

Quế Sơn.
Nguyễn Tấn Ái.

Kể chuyện tôi

Ai cũng bảo xòe bàn tay ra, trong ấy có cả quá khứ vị lai.

Tôi thì không tin rằng chỉ cần ngồi lẩm nhẩm với mình mà đọc được cái gì chưa đến.

Còn quá khứ thì đâu chỉ nằm trong lòng bàn tay.

Tôi vay ngân hàng ba mươi triệu, quá khứ của tôi nằm ở ngân hàng.

Tôi vay của người hàng xóm đôi lời chì chiết. Quá khứ giờ đang nằm ở nhà hàng xóm.

Tôi vay em một thời yêu thương. Chuyện này thì cầu mong quá khứ còn náu mình đâu đó nơi em.

Cánh tay trái của tôi có một vết sẹo dài 2cm, cũng là dấu tích của quá khứ. Mà dễ thương lắm, vết sẹo của tuổi thơ, chứ không phải vết tích buổi lang bạt giang hồ.

giadinh-chuctetThuở nhỏ, đâu trước năm 1975, kí ức thanh bình là vườn nhà với bụi mía mưng. Tôi với cái câu liêm, loay hoay thế nào không biết, chẳng chặt được cái ngọn mía, lại băm vào cánh tay mình. Khóc tóe lên. Mẹ hết hồn. Mẹ nhai nắm ngọn lá sắn với ít muối đắp vào. Vậy mà khỏi. Rồi thành sẹo.

Giờ thì cái sẹo đã qua hai chế độ, nó vẫn cứ là cái sẹo, chẳng nên tích sự gì, mà với tôi đó là tuổi thơ, tinh nghịch và dại ngộ, có buổi trưa nắng, có bụi mía mưng, có mẹ tôi. Một trang kí ức.

Rồi liên tiếp những vết sẹo trong đời.

Ngày chị tôi đi có chồng. Không hiểu sao tiễn chị đi, cả nhà khóc, chị tấm tức, tôi cũng rống lên. Tình cảm hay tục lệ gì đó mà ngày xưa con gái đi có chồng là khóc, (ba tôi giải thích rằng phải khóc vì thương ba mẹ rồi đây không người phụng dưỡng). Thật khác với bây giờ, các cô đi có chồng mặt cứ tươi như hoa, sướng như cầm vi sa đi xuất khẩu lao động.

Vậy là mất chị.

Ngày ba tôi đi. Năm tôi mười hai tuổi. Ông đi vội trong một ngày cận tết, chưa kịp đón xuân. Khi chị tôi nấu xong một nồi cháo gà, đùm túm băng bộ đúng năm cây số đường đồi về vừa đến nhà thì ông vừa đi khuất. Nồi cháo gà tung tóe giữa sân. Một cái tết buồn hiu. Rồi mãi mãi không còn dáng ông khề khà li tiếp bạn, khề khà một câu thơ nghịch nghịch:

Cả năm nuốt sắn có lườn
Để ba ngày tết lo đường lo heo.

Rồi ngày mẹ tôi đi. Bà đi vào trước lễ giáng sinh. Tôi tuổi đã bốn mươi. Nhìn mấy đứa con bịt khăn tang mà lòng tôi dài dại. Ngồi bên mẹ mà nhẩm hoài câu thơ của Đồng Đức Bốn:

Đưa mẹ lần cuối ra đồng
Ba hồn bảy vía con mang vào mồ
Mẹ nằm như thuở còn thơ
Mà con trước mẹ già nua thế này.

Những vết sẹo buồn, mà mỗi lần soi vào tôi lại thấy tôi với ngày, với tháng, với năm…

Gia đình hạnh phúcCũng có những vết sẹo vui vui.

Như cái ngày đểnh đoảng thế nào đi nhậu tôi lại để điện thoại di động ở nhà. Vừa về đến nhà, vợ yêu đã giọt ngắn giọt dài cầm cái điện thoại tế thành văn: Anh ơi là anh…

Mắt vợ nhìn chăm chăm vào danh bạ có dòng mật mã “ người tình trăm năm”.

Tôi hồn vía thăng thiên. Vợ đã bắt tận tay day tận cánh. Có chạy đằng trời. Nàng thì hiền, nhưng những khi đang cảnh vệ tuần tra thì cũng rất ư là cảnh sát.

Tôi định thần nhìn kĩ, hú ba hồn bảy vía, mật mã giành cho vợ! Số ĐT: 0982…

Vỡ chuyện, xác minh đúng số của mình. Nàng cười, rồi không hiểu sao lại khóc, rồi lại cười, lại tíu tít: Anh hà, anh hí…

Tôi thật không phải khi cứ lôi cái tôi của mình mà kể, cà kê dê ngỗng, còn nhiều chuyện lắm, nhưng lịch sự nên dừng lại.

Mà nói thực, không có những chuyện dấm dớ ấy thì chẳng có đời tôi, thì chẳng biết kể gì.

Nói cho nghiêm túc thì mấy ai có cái phúc lớn là vĩ nhân để mỗi ngày mỗi tháng mỗi năm đều là những cột mốc đánh dấu lịch sử nhân loại, dân tộc.

Chờ cho đến cái sự trọng đại e hết một đời, khi lại hờ hững với mình của những ngày qua, khéo lại thành tập hợp rỗng mất.

Một lần nhớ lại mẩu chuyện xưa, tôi lại giật mình, chuyện chàng rể làm văn tế bố vợ.

Nhiệm vụ thì trọng đại, mà nhớ hoài chẳng biết viết gì, cậu rể đâm liều viết sảng:

Ông này bác mẹ sinh ra
Lọt lòng ông khóc oa oa
Sau này ông trở về già
Bây giờ ông hóa ra ma.

Cười mà đau, mà thương một đời người không ngày, không tháng, không năm.

Nhân vật của câu chuyện ấy hẳn không là vĩ nhân, vì sách giáo khoa lịch sử không nhắc đến.

Và nhân vật ấy chắc chắn là tội nhân, chí ít là tội đồ với chính mình bởi quá hờ hững với mình đến độ ngay cả những người thân cũng không biết tí gì về mình cả.

Tôi cũng vừa học được cái lẽ sống chí tình từ một người chưa quen, rằng: Muốn yêu người thì phải biết yêu mình.

Nhatky Tôi nghĩ mọi người cũng thế, cũng có quyền yêu mình bằng một vài dòng nhật kí, là kiểu bắt buộc mình phải có ý nghĩa với mình. Mà đó cũng là quyền dân chủ, cũng nên tận dụng.

Biết chừng đâu rồi một ngày lại nhận ra khi không hờ hững với mình thì cũng đã tích cực lắm với cuộc sống rồi.

Là thực hành cái nguyên lí biết yêu mình.

Thì yêu mình, bạn cứ kể chuyện mình, còn tôi kể chuyện tôi.

Nguyễn Tấn Ái

Giải Mã Ẩn Số “Chữ Người Tử Tù”

Nguyễn Tuân đã chọn cho siêu phẩm của mình cái tựa đề đích đáng. “Chữ người tử tù” là chuyện một viên quan cai ngục bất chấp luật vua phép nước, ngầm thách đố với nhục hình tử tội mà tìm cầu một bức lụa trắng trên đó tung hoành nét chữ vuông tươi tắn của người tù Huấn Cao.
thu phap tam_2
Cái nét chữ của người tử tù tài hoa ấy đã trở thành ẩn số có sức hút mãnh liệt, nó hội tụ mọi chú ý của người đọc khi hồi hộp theo dõi lịch trình tác phẩm. Để tạo được hấp lực ấy Nguyễn đã kì công đến bao nhiêu khi lúc gần, lúc xa; lúc đậm lúc nhạt mà tạo tác ấn tượng về con chữ.

Song kì lạ thay, đến khi ông Huấn “thay bút con đề xong lạc khoản”, người đọc mới bất ngờ nhận ra: Nguyễn Tuân đã không giúp cho người đọc biết nốt ông Huấn đã ban tặng cho người có cái nhã thú cao quí là ngục quan ấy chữ gì. Vậy là đến khi thiên truyện khép lại, chữ- người – tử – tù vẫn còn là một ẩn số. Và, vì kết trong một tư thế rất mở nên chữ người tử tù vẫn không ngừng khơi gợi liên tưởng của người đọc xưa nay.

Tôi cũng thuộc loại người chịu tác động dữ dội của lối kết lấy không gợi có, vẽ mây nẩy trăng rất tài tình kia.Và tập tành theo dấu người xưa, tôi đã quyết tìm thầy xin chữ, may ra gặp duyênngộ được ít nhiều.

Và để tìm một đáp số cho mình, tôi đã lần dò về phép chơi chữ của người xưa.
Các cụ xưa dạy:

Đệ tử tầm sư dị
Sư tầm đệ tử nan.

Trong phép chơi chữ, lời truyền phán ấy càng thể hiện mình ở một chân lí ghê người. Làm sao tìm đúng được người học trò có cái căn cơ cốt cách tìm ẩn năng lực của một đoá kì hoa dị thảo mà lĩnh hội cho bằng hết sở học vĩ đại của người thầy khi mọi uyên áo thâm sâu lại cứ kín đáo ẩn mình sau con chữ? Có thể xem phút giây người thầy cho chữ trò cũng là phút giây mà sư phụ chân truyền tuyệt học, trao luôn y bát cho người đệ tử thành tâm. Một chữ mà ngầm dấu cả một trăm năm công lực. Chính vì vậy mà phải hiểu đến từng công đoạn tu luyện của người thầy.

Trước là nét chữ.

Người xưa thường bảo: Nét chữ nết người. Người giàu nộ khí, nét cương ngạnh cứng cõi, phóng cao mà chọc sâu , như sẵn sàng gãy đổ, như ngàn núi lửa cuộn khí chỉ chực phun trào. Người khoan khoái ung dung, kinh mạch điều hoà, lòng không phiền não, nét chữ mềm mại khoan thai như hành vân lưu thuỷ, coi chỗ sắc mà đoán độ thâm trầm uyên áo, coi đường mềm mà hiểu được hàm dưỡng công phu.

Đọc được nét chữ là khởi đầu có thể chơi chữ.

Sau, chọn người mà cho chữ.

Cái chữ là cái nghĩa , còn hợp với tạng người.

Chữ sâu sắc cho người cạn cợt thì hoa nhài cắm bãi cứt trâu. Chữ vung vít cho người đứng đắn thì ngạo đời khinh mạn. Người nào chữ ấy thì mới hợp lí hợp tình. Chính vì vậy mà tác giả viết về ông Huấn là “tính khoảnh” nên “trừ chỗ tri kỉ ít khi ông chịu cho chữ”. Huấn Cao cũng tự nhận là “đời ta chỉ viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân”. Có phải cùng một lẽ ấy chăng mà đường đường một cụ Tam Nguyên đầy mình chữ nghĩa mà khi cho chữ những người hàng xóm, Nguyễn Khuyến lại chỉ dùng toàn những “xanh”, “đỏ”, ”tím”, “vàng” hay “lầm” , “than”, “rèn”, “cặp” …là những chữ nhặt nhạnh được từ rổ rau luống cày trong cái sở học bình dân.

Và như thế, nét chữ, nghĩa chữ thâu tóm cả hoài bão, ước vọng và quan hệ của người cho kẻ nhận.

Đến đây tôi hoài ngẫm nghĩ: ông Huấn trong cái đêm thiêng đến chưa từng có ấy đã ân cần trao cho thầy Quản chữ gì?

snowy_bambooNhân – nghĩa – lễ – trí – tín chữ giành cho người quân tử trọn tài vẹn đức đạt đạo ở đời, há có thể đặt vào tay thầy Quản ?

Đức lưu phương giành cho người đạo cao đức trọng danh để muôn đời; một viên quan cai ngục có chút lòng thành le lói thiên lương, hẳn ông Huấn cũng không khinh xuất mà tùy tiện ban tặng.

Hòa vi quí giành cho người cao niên lão thực, yêu người và lấy cái yêu người làm căn cốt để trọng mình xem chừng cũng không hợp với thầy Quản.

Chữ gì đây?

Tôi chợt nghĩ một Huấn Cao tài hoa khinh bạc vì cảm động trước tấm lòng thầy Quản mà cho chữ.

Tôi nghĩ một Huấn Cao lòng thành khi ban tặng cho người cai ngục cái chữ thì cũng ban luôn cả một huấn thị thiêng liêng.

Tôi nghĩ đến tấm lòng thành của viên cai ngục.

Trong tôi hài hoà đến hiển nhiên một Huấn Cao- một Cao Chu Thần một thời vang bóng.

Tôi nghĩ mãi lời khuyên “thay đổi chỗ ở”, “tìm về nhà quê” để “giữ thiên lương cho lành vững” mà ông huấn chân thành khuyên thầy Quản. Chao ôi! Phải chăng đó là khát vọng ẩn cư để tịnh cái tâm giữa đời hỗn loạn xô bồ mà danh sĩ họ Cao đã ngầm dấu trong hai chữ Cúc Đường. Phải chăng đêm trước ngày ra pháp trường ông Huấn đã ân cần trao gửi lại cái khát vọng một đời cho người quản ngục? Là ban cho, là trao gửi, là dặn dò…

Ôi, cái chữ người xưa!

Bất giác tôi cũng vái người tù một cái, nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào:

Kẻ mê muội này xin bái lĩnh!

Quế Sơn
Nguyễn Tấn Ái.

Lời Quê Chắp Nhặt Dông Dài Mua Vui

Những trang sách bọc bằng con chữ rồi qua đi, ngôn từ xênh xang rồi qua đi. Rồi chữ rồi câu sẽ thối rữa, sẽ mục ruỗng theo thời gian. Lẽ dĩ nhiên chữ cũng chịu thăng trầm hưng phế.
Mà cũng đúng thôi, cái hiển ngôn hữu hình thì hữu hạn.
Rồi đi mất, rồi đi tuốt.
bencau_resize
Thỉnh thoảng cũng có quay về, bằng vô hình, bằng vô ngôn. Là khi vô ngôn lên tiếng, là khi cái chưa trọn vẹn cựa quậy đòi quyền trọn vẹn
Là khi rùa vàng lập phiên tòa trên các kể tội An Dương Vương chủ quan mà vô trách nhiệm, mà giết oan đứa con gái tội nghiệp Mỵ Châu, và đế vương đứng vào vị trí kẻ nghiệt đồ.
Là khi nàng Vân kể hoài nỗi đau cũng một đời xuân sắc mà chẳng được yêu đển một sân quế hòe để một thân cù mộc cô quả.
Là khi một cuồng sĩ ngang tàng đòi tước hộ khẩu và đuổi tuốt cái hoa sen ra khỏi gia đình ca dao bởi là đồ vong ân bội nghĩa, hắn từ bùn đen mọc lên lại ngoa ngoắc mắng mỏ đồ hôi tanh bùn đất.

Và chàng Thúc Sinh của truyện Kiều chừng cũng hàm oan, và tôi cũng liều mình vì chàng đệ một đơn khiếu kiện. Ấy là quyền dân chủ.
Chàng giàu có đại gia, “ trăm nghìn đổ một trận cười …”
Chàng có thế thăng tiến, rể nhà họ hoạn danh gia.
Tiền ấy, thế ấy bét ra cũng là một tay thầu khoán đủ cơ khuynh loát.
Tiền ấy , thế ấy bét ra cũng nhà hàng khách sạn năm sao ra vào vênh váo như Cao, như Quỳ.
Vậy mà con người ấy đã vứt bỏ tất cả để lặn lội vào chốn lầu xanh cầu lụy chút nhan sắc tàn phai, cầu lụy chút tài tình thi tứ ở Kiều.
Lại còn vì Kiều kêu oan ở chốn công đường nữa.
Ứng xử ấy kể vào hàng nghĩa khí, mà suốt hai thế kỉ qua, dễ chừng mấy thế kỉ Thúc Sinh vẫn còn chịu treo lơ lửng cái án “bỏ của chạy lấy người”.

Ừ thì họ Thúc không dám đặt mình ngang hàng với bậc tài danh Kim Trọng.kieu
Họ Thúc cũng biết điều chẳng dám ngang bằng với đấng anh hùng Từ Hải.
Song ngoại cái đẳng cấp đấng bậc kia, thế nhân dễ thường mấy ai bằng Thúc?
Hai trăm năm sau dễ thường mấy ai bằng Thúc.
Hai trăm bốn mươi năm sau dễ thường thế nhân mấy ai bằng Thúc.
Bằng, ừ thì bằng, mà bằng ngang cái chỗ họ Thúc không lấy làm đắc chí.
Bằng cái tiền, cái thế, cái trăng hoa…
Mà kém lại kém ngay cái chỗ họ Thúc bị danh gia mắng mỏ, kém cái tình si, kém cái thực lòng.
Đành rằng cũng chốn lầu xanh.
Đành rằng cũng phường trăng gió.
Mà phẩm chất cái chữ người thì khác nhau nhiều quá.
Kẻ hèn này may mà không quyền không thế, thôi thì cũng thanh thản mà thẹn cùng họ Thúc:

Kiều của anh ơi, xa rồi anh vẫn nhớ
Vẫn trách mình chẳng đáng mặt Thúc lang.

Ừ, đôi lúc học làm người thanh cao mà cứ thấy mình rơi tự do vào vòng tục lụy, kể cũng ngậm ngùi!
Thôi thì trăm lạy cụ Nguyễn Du!
Hiền như cụ, lành như cụ, kiệm lời như cụ ,đến bậc quân vương Nguyễn Ánh một tay giành giựt cơ đồ oai phong lẫm lẫm mà cụ chẳng chịu phụng lấy nửa lời, mà sao cụ nỡ mắng thế nhân, mà mắng khéo thế.
Thôi thì nghìn lạy cụ Nguyễn Du!
nguyendukieu-01 Kì kinh nghĩa cụ qua rồi.
Kì chế biểu cụ qua rồi.
Kì thi phú cụ cũng qua rồi.
Cụ xứng bậc tam trường.

Mà cái kiểu trọng chữ tình như cụ hẳn không qua nỗi kì văn sách, đánh hỏng cái cử nhân, thôi đành mang vác cái nghiệp võ biền ở sở Thái Nguyên.
Cụ luận thế nào mà để cho chàng Kim cũng nòi thế phiệt ,cũng giống thi thư mà suýt gây ra cuộc mây mưa đánh đổ đá vàng?
Cụ luận thế nào mà để cho đấng anh hùng dọc ngang trời đất là Từ Hải cũng đành hụt hẫng cái ngai vàng cũng bởi lời Kiều thỏ thẻ?
Cụ luận thế nào mà trong danh sách tình nhân của bậc danh kĩ kia có đủ văn thần ,danh tướng cùng kẻ trăng hoa?
Mà xét cho cùng kẻ vật vờ trăng gió lại kín đáo điểm đôi phần nhân cách.
Kể thì cụ nhạo đời cũng quá đáng.
Mà cụ đã không quản áo cơm gia cảnh nuôi cho Kim ăn học nên người, cũng bảng vàng bia đá chứ nào phải kẻ nột nho, hẳn ý đã vì Kiều mà lặn lội mười lăm năm thuê mướn cho được một trạng sư có đủ văn bằng để biện lí cho Kiều qua khỏi tiếu đàm nhân thế:

Như nàng lấy hiếu làm trinh
Bụi nào cho bẩn được mình ấy vay.

Mà cụ liều đáo để trong lời ấy. Chừng non hai trăm năm sau, một bậc túc nho đã nghiêng quá nửa mình sang phần Tây học, ba phần cựu một phần tân, mà cái phần cựu trụ một chân vẫn vững vàng thế tấn trong lời phán quyết: “ Ngạ sử nữ bất tục, thất tiết bất thông”( Phan Khôi ).

Phải chăng giàu lời châu ngọc cho Kim để giấu vào sách vở.
Phải chăng giàu lời tôn tạo cho Từ để cất trong tủ kính.
Cụ nôm na quăng quật họ Thúc giữa đời để Thúc mãi cựa quậy với đời nôm tạp.
Kim dừng bước khi Kiều thôi lưu lạc.
Từ cũng cáo chung khi sự nghiệp tan tành.
Mà họ Thúc thì đa đoan lặn lội đến mai sau để đem tấm thân lấm láp của mình mà cật vấn đời sau, mà căn dặn đời sau đã yêu thì yêu cho thật..

Kẻ hậu sinh lạm nhận mình cũng nòi tình, cũng lụy tình, cũng cái án tình đeo đẳng có dư mười lăm năm ấy nên yêu chàng họ Thúc.
Xét Kiều ba cuộc tình đã phải lận đận đến ba bận chia li.
Kim Trọng biệt Kiều vì tang chú, đã đành. Mà vẫn cười khan Kim khi khật khù treo ấn từ quan thì đã muộn.
Từ Hải giã Kiều ruổi theo cuộc công danh, một lần phụ tình mà chưa một lần tình phụ kể cũng tốt đường tình của khách viễn phương.
Thúc Sinh bịn rịn xa Kiều, muôn dặm xa xôi vì mệnh lệnh tình yêu ủy thác. Một chia li đáng thành thi tứ!
Thế nhân khó có quá hai Kiều.
Mà dễ thường hiếm hoi một Thúc.
Khen không đúng chỗ khéo lại phàm phu, khéo làm cụ giận, rằng: Thúc Sinh mới là cái chí tình của Tố Như!

Kẻ hậu sinh tối nay nhân trời mưa gió, không ngao du bè bạn được, đành cạn khan một chén trà, ngồi buồn ngẫm lại cõi người ta trăm năm, liều lĩnh thưa cùng cụ đôi lời, cũng liều lĩnh mà thiếu đi chữ “lễ”.
Miền trung kì này mưa bão liên miên, lũ lụt cuốn trôi, sách vở thánh hiền thất thoát chẳng còn gì, làng Tiên Điền của cụ hẳn cũng cùng cảnh ngộ miền Trung.
Dám mong cùng cảnh ngộ mà cụ thương cháu xót con, mà cười xòa đánh cho hai chữ “ĐẠI XÁ”.

Quế Sơn .
Nguyễn Tấn Ái.

Hạ

Chieu nangvang.
Về ngang An Việt
chiều nghiêng nắng vàng
chừng như nuối tiếc
một thời chân hoang

Bờ tre lộng gió
tơi bời lá khô
em mang niềm nhớ
đi tìm hư vô

Em mang miền nhớ
đi tìm thiên thu
ta thành cơ nhỡ
rượu say khật khù

Nhớ lam chân núi
thương mờ đường quê
chiều ba mươi lẻ
dật dờ chân đi

aodai186
Bạn bè dăm bảy
chừ quên lối về
chén vàng nâng lẻ
cụng vào chân mây

Em mang nhan sắc
bán rao chợ đời
cuối mùa trinh trắng
chẳng còn đôi mươi

Em mang dấu ái
bán rao lọc lừa
ơi người tình lữ
đâu rồi mùa xưa

Ta chừ cô lẻ
mơ mùa xa xưa
nghêu ngao câu hát
cung thiếu cung thừa

Còn chăng ước cũ
còn chăng tuổi vàng
trang đời trống toát
chẳng đành lật sang

Về ngang An Việt
lòng như nắng vàng
ngày như lửa thắp
lênh loang chiều hoang.

Nguyễn Tấn Ái

Tự Khúc Đông

Nghiêng tai lắng tiếng trầm kha của ngày cổ tích
chợt thi thoảng hiện ra em cô Tấm thảo hiền
chợt mọt gỗ khung cửi thề những lời cót kétkhungcui
linh hồn buồn như tượng đá trăm năm

Nghiêng tai lắng tiếng mùa đông của ngày rét buốt
chợt thánh thót thinh không bạch hạc bay về
chợt ngơ ngẩn lối mùa xa hút
nhà ai cúc váng, vàng dáng một người đi

Một người như Kiều gánh cả tình yêu đi tìm dâu bể
đánh đổi mười lăm xuân lấy một trăng rằm
một mãi mê nổi chìm hoạn lộ
cười khan gã Kim Trọng khật khù treo ấn từ quan
wintersoltice
Một khát giọt sương trườn lên đỉnh núi
Cô đơn hoài phương trời
lắng tai nghe tim hát lời sông suối
ngàn sau sao có nhau

Thôi thì trở về vuốt mặt tình nhân
xây giữa nội ngàn nấm mồ cỏ biếc
lắng dáng Thu Bồn ngàn năm li biệt
nào ai tắm hai lần trên một dòng sông

Lắng tiếng người chừ như lắng một mùa đông !

Nguyễn Tấn Ái

Tự Khúc Thu

Hôm nào em đến
tóc tơ rã mềm
hình như kiếp trước
ta là của em

Này ta du tử
rong chơi quê người
này em cố xứ
buồn sao đôi mắt em cười aodai

Giọt sương lóng lánh
nuôi tình thiên thu
hành hương xứ thánh
hồng hoang một cõi sa mù

Cùng ta em nhé
cạn say chén đời
tạ từ chi thế
đôi môi thôi hết gọi mời

Lời ca da diết
riêng mình ta mang
ngày sau ai biết
ngựa ô ai khớp kiệu vàng

Ngày đi như nắng
tình rồi hanh hao
lời cho em đó
mộng vàng ai có xanh xao?

Nguyễn Tấn Ái

Tự Khúc Đời Sông

Bởi tôi người trong cuộc sông ơi!
(Nguyễn Mậu Hùng Kiệt)

Có lang thang giữa trời trung du vào những ngày giữa hạ, khi phía trước là nắng, sau lưng là nắng và trên đầu lồng lộng gió ngàn, dưới kia thăm thẳm dòng xanh mới cảm được thiên nhiên thật hào phóng và khoáng đạt, cái sự hào phóng pha lẫn hoang dại núi rừng và hồn hậu đồng bằng làm nên một lịch lãm trung du.

Lịch lãm trung du chỉ cần tải trong hơn chục ngàn mét tuổi đời mình đã đủ cả oai linh rừng núi, đủ cả màu mỡ phù sa, đủ cả thông thoáng mây trời, đủ cả làng xóm thôn quê, đủ cả hàng quán pha màu chợ búa.

Và tôi cứ ngờ ngợ tưởng rằng chỉ sông nước trung du mới là đại diện đầy đủ và trọn vẹn cho văn hóa trung du.

Lang thang giữa ngày trung du, có lần tôi hỏi vọng:

– Sông ơi, người mãi mãi tóc xanh, có bao giờ người hiểu tuổi đời mình?

Sông nước nghiêng mình, kí ức hiện lên uy nghiêm núi rừng soi bóng. Non cao bao tuổi mà già, mà những chiều tà nghiêng mái đầu phơ bạc? Người bằng hữu ấy của đời sông đã sừng sững triệu năm qua.

Lang thang giữa ngày trung du, có lần tôi hỏi vọng:

-Sông ơi, một đời thầm thỉ trò chuyện với mình, có tủi hờn vì chưa một lần rời bỏ chuyện mình mà đối thoại với nhân gian?

2Sông nước nghiêng mình, kí ức soi mình hiện lên lồng lộng mây trời, ngưòi tình lữ ấy một đời lãng du chung tình với lũ lượt nhân gian, rồi sau những phút giây bạo tàn hiến đời cho bão gió, sau những mỏi mệt đợi chờ những cơn mưa, người tình nổi tiếng phù du ấy lại chung thủy quay về úp mặt vào sông, và nước mắt rửa trôi những nỗi niềm, và sông nước lại lặng thầm lưu giữ chuyện nhân gian.

Tôi hỏi dòng sông:

-Thầm lặng một đời, khiêm nhượng một đời, người có bao giờ khao khát sẻ chia, có bao giờ như nhân gian kiêu ngạo tự hào phù phiếm về lẽ tri âm tri kỉ?

Sông nước kể cho tôi nghe câu chuyện lũ thằng tôi ngày hãy còn ấu thơ. Những ngày cắt cỏ chăn trâu, những hôm mưa dầm gió bấc, lũ nhỏ bằng cái kinh lịch nhà quê đã dầm mình vào sông nước để tìm hơi ấm. Dường như nắng trời đã đem hết cái nhiệt tình của mình mà tải xuống lòng sâu. Sẻ chia hết mình, trao gửi hết mình của người bạn tự trời cao đã đem lại cho đời sông niềm tự hào bảo bọc cho lũ nhỏ những hôm rét buốt trái trời.

Tôi hỏi đời sông:

-Một đời mãi miết mỏi mệt đổ xuôi, một đời làm cuộc chia tay có lẽ cũng một đời hổ thẹn với lòng bội bạc?

Như một nụ cười đôn hậu từ lăn tăn sóng nước. Rằng ra đi là nhường lại. Rằng ra đi là không chiếm giữ. Rằng chia tay là rủ bỏ những bận lòng. Rằng mãi miết chia tay để làm nên trong vắt, làm nên tinh lọc, làm nên sâu thẳm.

Và ấy là một đời sông. Mềm mại. Trao gửi. Thỏa lòng. Không chiếm giữ. Không cố vị.

Rửa lòng quên đi những gì không cần nhớ,không đáng nhớ.

Sông nước kể với tôi về những kỉ niệm buồn.

Nhiều lắm. Đào hào dẫn nước dìm thành, xẻ mình đóng cọc giăng bẫy, những chiến trận kinh hoàng thảm khốc. Nhân gian thành công thần danh tướng, chỉ riêng sông nước nghìn đời lưu giữ kí ức nghẹn ngào.

Sông nước kể với tôi về những tự hào.

Hai ngàn năm trước, bằng cái tên Giô- đanh, thánh Giăng đã dùng tôi làm báp têm cho loài người tội lỗi.

Sông nước kể với tôi về những cống hiến cho đời.

Rằng trên những bờ bãi phù sa đã nghìn năm làng mạc, nghìn năm văn hóa loài người.

Ngay trên dải đất hình dải lụa điều mà tôi đang sống đã bao nhiêu là văn minh nguồn cội: Văn minh sông Hồng, sông Đuống.

Thẳm sâu dòng Hương góp nên lễ nghĩa kinh kì.

Cuồn cuộn thác ghềnh dòng Thu Bồn tính cách Quảng Nam bạo liệt.

Rồi Trà Bồng, Trà Khúc.

Rồi chín con rồng xanh thắm miền Nam.

Bao miền đất bấy sắc màu văn hóa mọc lên từ người mẹ phù sa.

Và trong một linh cảm thi ca hay một đốn ngộ thẳm sâu mà một thi nhân đã hát lời sang trọng;

Ơi những dòng sông bắt nguồn từ đâu
Mà khi về đất nước mình thì bắt lên câu hát
Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vược thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi.
(Nguyễn Khoa Điềm)

Rồi xa hơn, rồi lớn hơn, rồi đầy đặn hơn, rồi cất giấu những chấp nhất thành kiến mà thành kính ngưỡng mộ một văn minh sông Nin, một văn hóa sông Hằng, một văn hóa Hoàng Hà.

Đã có lúc tôi thành kính lễ bái đời sông xin làm môn đệ để một đời lang thang mà không uổng phí, mà không cùng đường để yên cái chí không về lại, không lặp lại mình.

Sông nước nghiêm trang trả tôi về nơi cũ với đĩnh đạc lời răn:

-Hãy trở về trả cho xong nợ nhân gian, trả đủ ba vạn sáu nghìn ngày, rồi trở lại đây. Cuộc thủy táng sẽ đem ngươi vào cuộc du hành vĩnh viễn, rồi sẽ vĩnh viễn một đời sông nước ruổi dong.

Thọ giáo lời sông, tôi lại trở về ngôi nhà nhỏ ven sông, thằng bạn thi nhân đã ngồi đợi tự bao giờ, nheo nheo một nụ cười, nheo nheo một lời thơ:

Nhà tôi vắng đêm thừa tiếng thở
Cha trở mình vẹo nhánh sông sâu
Mẹ thao thức. Bờ sông cả gió
Tôi cạn đêm… chưa hiểu lẽ đời.
Nguyễn Mậu Hùng Kiệt

Quế Sơn mùa hạ
NguyễnTấn Ái.

Ngày Xưa Tiểu Muội

Một tin nhắn từ xa xăm đưa đến: “Anh vẫn là chàng lãng tử của ngày xưa?”

Phải là muội chăng? Bây giờ muội đang làm gì? Đang mải miết với những mơ ước mới, hay đang đáp lời réo gọi của mênh mông sông Hàn? Hay lại cũng như anh đang bần thần với cái ngày xưa không hề ngủ yên?

Năm một ngàn chín trăm…chàng con trai xứ Quảng lần đầu nhập đất Thần kinh. Lớp văn. Những gương mặt nữ sinh mềm mượt như văn. Những gương mặt con trai non choẹt chưa kịp ủ mộng, chưa kịp vỡ mộng giang hồ.

Chỗ ngồi anh chọn thật lí tưởng, ngay trên đầu của căn tin trường đại học, tha hồ nhoài hồn ra cửa sổ ngóng vọng lời ca của Thái Thanh “ người đi qua đời tôi…”
Bước chân tưng tửng của cô bé tóc ngắn đi vào. Hồn nhiên. Cô bé chọn đúng địa chỉ của anh, gõ cửa:
– Đại ca, nhường chỗ cho muội đi, chỗ của muội mà!tocngan2

Muội đã xí phần như thế đó. Không quên tặng lại nụ cười ngoại giao cao cấp:
– Thế đó, biết mà! Xưa nay muội không đòi thì thôi, mà đã đòi thì phải được.
Ngày đầu muội như thế đó, tiểu muội ơi!

Những chiều mưa xứ Huế dai dẳng và buồn. Buồn như lời giảng lạc điệu của những tiến sĩ văn chương. Anh phát hiện ra mảnh “thư tình” muội kín đáo cài lên tóc;
– Đại ca, chuồn thôi.

Bờ sông Hương , gió Thuận An về se sẽ, chỉ đủ để nao lòng, đủ để nép vào nhau.
Lần đầu anh đọc được linh hồn muội:Hue
-Muội không thích dòng Hương , nữ tính quá, lụy tình quá, Hoàng Phủ bảo là “một tiếng vâng không nói ra của tình yêu”. Muội thích Bạch Đằng của các vua Trần.
Và, anh còn đọc trong muội một linh hồn hoang dại khi muội phong anh làm Vô Kị đại ca. Chẳng phải vì cú “tử yến đạp vân” chính hiệu kim cương quyền đã dẹp yên lũ tiểu yêu quấy nhiễu, mà vì muội đã lầm lạc địa chỉ nên đòi ở anh một kích cỡ phi thường.

Rồi đêm, những đêm Thiên An thao thức gió, ngọn gió từ xa xăm thời gian, từ u trầm cổ tích mang về hơi hướng hoàng cung. Những ngọn đèn xóm chài cũng mơ giấc mơ lăng tẩm. Muội nghĩ gì mà nép sát vào anh, mà đôi bờ vai ai trở thành bé nhỏ, mà chênh vênh một nông nỗi tình yêu!
Hay muội lại lạc loài vào giấc mộng hoàng cung?
Anh chẳng bà con gì với người anh hùng áo vải đất Tây Sơn, làm sao gồng gánh nỗi một vương triều.
Anh chẳng là một Chu Thần, làm sao có cái hào khí như kiếm dựng trời xanh.
Thôi đành trong em hụt hẫng một ngai vàng.

Rồi ngày, những ngày Nam Giao lấm tấm nắng vàng.
Nhật kí của muội còn ghi:
“ Ngày…tháng…năm… Đại ca đã nghiêm trang thề thốt sẽ có ngày tấn phong muội làm hoàng hậu, cùng đến nơi đây lễ bái thiên địa, chàng Vô Kị của muội ơi!”
Nhật kí của anh ghi:
“ Đôi tay trắng mộng đời ôm không xuể”

Và anh gọi đó là tình yêu.
Thương những tình yêu thực như đời, bé như giun dế.
Những thằng bạn của anh thường ca cẩm, lời buồn như của Nguyễn Tất Nhiên:cafe

“Tình cũng khó theo thời cơm áo khó
Nên mới yêu nhau mà cư xử rất vợ chồng
Rất thật thà khi chọn quán bình dân
Anh gọi cà fê đen bởi hụt tiền uống cà fê đá”

Anh biết cảm ơn muội đã truyền công lực cho anh. Để tặng muội nụ cười vương giả nên gồng mình mang vác câu tình ca “ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”.

Tình yêu làm cho người ta lớn lên. Tình yêu đem cho người ta quyền mơ ước. Tình yêu thổi vào túi vải bình dân bao nhiêu hào khí. Muội đã không chịu làm nhi nữ thường tình mà buộc anh phải mơ những giấc mơ không thực.
Và anh đã không chịu đớn hèn cho vừa lòng muội, dù đã hai mươi năm rồi gã trai ngang tàng ngày nào vẫn chưa chịu hiển vinh.

*
Và còn bao nhiêu nữa trong miên viễn thời gian sau trước của con người yêu nhau.
Rồi còn bao nhiêu nữa những hóa thân cho tình yêu.
Ta thương Trọng Thủy vì lừa dối lòng mình nên chọn ngôi Thủy vương thay cho ngôi Hoàng đế. Ta thương Thủy Tinh tung cả ngàn suối lệ thành bão tố cuộn trào duổi bắt tình yêu. Thương chàng Kim gom từng sợi tơ chiều đan áo tình mang về bên vườn Thúy…
Và nữa, Từ Thức với đào nguyên, Hàn Hoành và cành liễu…
Tiểu muội, trăm ngàn năm trước như thế đó, người ta đã yêu nhau.
Và rồi một trăm năm sau, một ngàn năm sau?
Náu thân giữa bề bộn đời thường, sẽ có những lúc chợt áy náy một phận người. Không là người bay không có những chân trời, anh không cho rằng mình lớn lao đến vậy, song cũng tiếc nuối vì mình bé nhỏ, cũng hờn trách sách vở hẹp trang không kịp ghi vài dòng vội vã về lũ chúng mình, đành mất dấu với nghìn năm sau.
Song cũng cảm ơn, anh cảm ơn muội đã thắp trong hồn anh ngọn lửa, để anh không chịu bằng lòng, để một lần khao khát cháy hết
flame-slice_11 mình, khao khát sáng lên. Dù rất biết hạn hữu cuộc đời.
Dù chỉ là mơ ước thì cũng đã cho anh ước mơ sang trọng.
Dù là huyễn tưởng thì cũng đã huyễn tưởng hết mình, thì cũng đã không đớn hèn trong những cơn mơ.
Và anh gọi đó là ý nghĩa tình yêu.
Đôi mắt rồi quên đi.
Mái tóc rồi quên đi.
Nụ hôn rồi quên đi.
Riêng còn những mơ xưa thì anh mãi nhớ!

Giờ thì như những đường thẳng chỉ giao nhau một lần, rồi mãi miết chạy về vô cực. Ước chi những đường thẳng cũng có linh hồn, cũng thi thoảng ngoái lại nhìn nhau.
Và ước gì trong cồng kềnh mang vác hành trang đi về ngày chưa đến, cái miền quá khứ không là con gió lạnh mà luôn là ngọn lửa để những tháng năm đời người không hờ hững vô tình.
Và không là đánh cắp của nhau, không tiêu hoang của mình những ngày xanh trẻ.
Muội ơi! Đời người ngắn lắm. Những nhát dao vô tình quên lãng sẽ còn cắt ngắn đến không ngờ.
Và mong rằng điều đó không là của anh, không là của muội. Không là của những người biết yêu nhau.
Tiểu muội, anh muốn gửi muội một tin nhắn. Mà thôi. Sẽ không đâu. Cứ để thế. Muội hãy cứ là ngày xưa tiểu muội!

Quế Sơn mùa hạ
Nguyễn Tấn Ái.

Bài Thơ Viết Trên Giáo Án

tinhthaytro

    ( Kính tặng thầy
    Trương Vũ Thiên An)

Thầy tôi dạy tôi:

Cổ nhân quí nhau nâng rượu
Cổ nhân thương nhau dạo cờ
Băng tâm ngọc hồ đãi người bằng hữu
Tri kỉ khát tình nghẹn đứt câu thơ.

thaytro

Tôi mang lời thầy tôi trên chuyến thời gian không vé khứ hồi
Đau đáu khát thèm nếp đời trinh bạch
Thắp lửa giữa đêm chờ ngày hiển thánh
Xin được chữ rồi quí chữ bao nhiêu!

Tôi mang lời thầy tôi qua khắp thành thị, miền quê,
qua cuộc rượu, cuộc người,
Ngã độn độn hề nhìn đời tiến hóa
Giáo án ngày xưa thầy trinh bạch quá
Cánh hẩu bây giờ mời nhau ăn sâu!

Người làm thơ là làm chuyện báo đăng
Say rượu còn có đất về, say văn đành lữ thứ
Tìm đâu ra cái sở nguyện chân thành của người xin chữ
Chữ ông Huấn chừ thôi đành niêm phong.

Muốn cược linh hồn vào cuộc đục trong
Chạnh thương mắt học trò trinh bạch
Lại chông chênh qua bao mùa dằn vặt
Giữ gìn trang giáo án tinh khôi.

Lại làm tên lính canh đạo đức của đời
Phấn trắng bảng đen kẻ dòng luân lí
Lại nức khóc khi biết mình đãng trí
Để nhật thực toàn phần lên những câu thơ.
education
Có những lần muốn bỏ cuộc thầy ơi!
Thương lắm nỗi niềm ÂN SƯ tuyệt tự
Lại thắp lửa lên làm người cho chữ
Lời thầy về trên giáo án con nay.

    Quế Sơn mùa thi
    Nguyễn Tấn Ái

Quê Hương

Một lần đêm quê, ngồi chơi cữ rượu độ gần tàn, người hàng xóm khe khẽ ngâm lên:

Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh.

Cả bàn rượu lặng im. Còn tôi, câu thơ thứ nhì cứ treo lơ lửng trong đầu.
Và những lúc chu du trong mơ hồ nhớ, mơ hồ thương ấy, lòng cứ mơ hồ một nỗi niềm quê hương.

Dường như từ thuở mới oe một cái tiếng con người linh hồn người ta đã kết ước với một cuộc tha hương rồi trong mỗi bước dấn thân lại thêm nặng tấc lòng hoài cố xứ.
Một lần gặp hình ảnh đứa trẻ sơ sinh không biết nói cười, buồn chán như kẻ không nhà của Đạo Đức Kinh tôi lại có cái cảm giác vô lí rằng Lão Tử là người đầu tiên mang nỗi tha hương vào cõi âm u triết lí ( như anh nhi chi vị hài, lụy lụy hề nhược vô sở qui ).

Mà cũng chẳng thể lí giải nổi con người đã quán thông cõi đạo đức huyền bí ấy thức nhận được điều gì. Đâu cũng là quê hương hay không đâu là quê hương? quehuong2

Rồi trong những lúc đối thoại với thi ca, nỗi quê, nghĩa quê, cái phần hồn và phần ý ấy trong tôi cứ như cố tình làm một lộ trình ngược chiều nhau đến là bối rối, đến là khổ sở.
Có những lúc trong tha thiết hồn quê, quê hương với tôi gần lắm, cụ thể, hữu hình.
Là dòng sông quê với những bóng tre xanh ôm trùm làng xóm như sợ cuộc li quê nên dùng dằng không chảy, nên lặng im sâu thẳm nỗi niềm.
Là những con đường mòn hun hút chạy mãi từ chiều vào đêm với nhẫn nại những dấu chân, nhẫn nại những đôi vai, nhẫn nại những nụ cười, nhẫn nại những giọt mồ hôi…

Và, em yêu, không đành dối mình mà phải thật cùng em, với tôi quê hương còn là những đêm trăng có em và mái tóc huyễn hoặc hương cau, dịu dàng hương chanh, nồng nàn hương bưởi… Trong sóng sánh tình tôi chân thành tặng em những vần thơ tiền chiến, và em thật chân thành khi ngỏ ý muốn gởi lòng cho những thi nhân. emxua 2
Rất tiếc tôi chẳng thể là thi nhân, lại càng không là thi nhân thời tiền chiến.
Mà cũng thế, em chẳng thể mãi mãi chân thành.

Rồi từ đó mình tôi độc hành vào cõi thi ca mà thảng thốt nhận ra trong những thao thức vĩnh cửu đã có lúc có người quê hương chỉ là huyễn ảo mà không đâu là quê hương.
Này là Giả Đảo.
Dường như thi nhân xưa ấy đã đùa với người ta mà giễu cả lòng mình trong cái bóng quê hương hư hoặc:

Khách xá Tinh Châu dĩ thập sương,
Quy tâm nhật dạ ức Hàm Dương
Vô đoan cánh độ Tang Càn thủy,
Khước vọng Tinh Châu thị cố hương.

Tinh Châu quán khách đã mười năm
Sớm tối Hàm Dương dạ nhớ luôn.
Nay chợt qua dòng Tang Thủy nữa,
Tinh Châu ngoảnh lại ngỡ quê hương.

Nguyễn Khuê dịch

Này là Hạ Tri Chương.
Cái người Hạ Tri Chương ấy đã chẳng phải ngậm ngùi trong cuộc “đại hồi” để lại làm khách giữa quê nhà đó sao?

Thiếu tiểu li gia lão đại hồi,
Hương âm vô cải, mấn mao thôi.
Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,
Tiếu vấn: “ khách tòng hà xứ lai?”
bong_tre

Thuở nhỏ ra đi trở lại già,
Giọng quê chẳng đổi, tóc sương pha.
Trẻ con trông thấy, không quen biết,
Cười hỏi: “ khách người ở chốn xa?”

Nguyễn Khuê dịch

Và thi nhân của xứ Phù Tang có tên Ba Sô ( Basho ) trong cuộc du hành vĩ đại của mười năm cuối đời đã ngộ được một nghĩa quê hương:

Đất khách mười mùa sương
Về thăm quê ngoảnh lại
Ê-đô là cố hương.

Đoàn Lê Giang dịch

Tôi cứ bần thần tự hỏi, có phải đây là những khắc khoải tìm về quê cũ hay cũng chỉ là những lưu luyến cuối cùng để ngộ ra rằng một cõi con người là một cuộc li quê vĩnh viễn để quả quyết đi tìm một nghĩa đích thực của quê hương? Mà cái nghĩa ấy tôi cứ ngờ ngợ rằng triết học và tôn giáo đang chiếm hữu.

Minh à, những lúc mịt mù câu chữ thế này, mình lại nhớ Minh đến lạ!Giờ đây trong những chiều phố thị con người nghiện ngập những con số là Minh ấy có còn tư lự với những câu thơ mà xưa Minh rất thích:

Quê hương tôi quehuong
Núi đá vôi
Và xóm đạo.
Tuổi thơ tôi
Lưng trâu và cây sáo
Chuông nhà thờ rút từng sợi hoàng hôn.

Rồi Điểm, rồi Sơn, rồi Thịnh… Chao ôi! Chí tang bồng và những cuộc viễn du vào chốn phù hoa có bao giờ để lại những dấu chân mỏi mệt phù nề?
Bạn mê viễn xứ ta buồn tri âm!
Xưa à, nhớ thật nhiều những bóng xưa dấu ái với lời ủy thác: Ở lại, và hãy là một cái gì có nghĩa với quê hương, tụi này đi rồi sẽ quay về.
Đâu ngờ hò hẹn cũng là trăm năm.
Đỏ mắt những mùa xuân hoài những bóng người.
Và trong những tấm lòng xưa tôi biết, tiếng chim bắt cô trói cột cứ hoài khắc khoải một cái tình quê.
Để nơi này cũng hoài khắc khoải một cái nghĩa quê.
Và như là quà tặng cố nhân, tôi gửi.
Rằng không chiếm giữ thì không mất. Khắc khoải gì cho thêm bận bịu, đâu cũng là quê hương mà không đâu là quê hương.
Mong người xa bớt nặng lòng!
Ấy là tôi nhủ thế, mà trong lúc này đây câu “ hà xứ thị” cũng cứ còn váng vất nơi lòng.
Là thế đó xưa ơi!

Quế Sơn mùa hạ
Nguyễn Tấn Ái.

Tự Khúc Cho Người

Yêu vô cùng những trưa miền quê nhỏ ạ!
Nắng canh chừng những cánh đồng, những khu vườn, những hàng cây.
Nắng nhốt mọi người trong những căn nhà, sau cánh cửa. Anh thường có ý nghĩ tai quái rằng nắng đốt cháy những bóng người.canh-co

Và khi ấy, cô độc là quà tặng cho mình tận hưởng.

Thời đại cho ta nhịp sống mới, hồ hởi quá, nhiều cảm thông quá, dễ dãi quá! Đến lãnh địa riêng của cá nhân chừng cũng không còn.
Đôi khi muốn khước từ vòng luân vũ cuộc đời với tiết tấu sẻ chia.
Nhìn dòng người cứ ồn ào như chợ, như tiệc, như tết lại thích đến nhói lòng lời ai đó: Điều kì lạ là những dòng sông cứ hăm hở đi tìm biển cả để rồi tự đánh mất mình.

Dường như loài thú không yêu nhau bằng lời nói, chúng chỉ nhìn nhau, và trong sự khiếm khuyết ấy chứa đầy một tình yêu chân thật.
Dường như ngày xưa, xưa như thuở mới yêu nhau, mình có dắt nhau vào công viên, em thì mải mê nghe con vẹt học nói, anh thì chỉ thích chú khỉ lông vàng.
Dường như ngày xưa em rất thích con lật đật, chả thế mà trên bàn học của em có quá nhiều lật đật, anh thì chỉ thấy ở đó trò đùa tai quái của thế nhân.
Dường như ngay trong tình yêu chân thành đã hàm sự cô độc. thônque3

Ngày xưa, cũng những trưa vắng người, anh ngồi nhìn mênh mông nắng vàng trên hun hút đồng quê, em đã đùa anh lời đùa tai ác:

Thích cô độc thì hoặc là dã thú, hoặc là thần linh.

Anh không có cơ may là thần linh,(dù là thần linh thất sủng).
Rất may anh cũng không sẵn lòng làm dã thú.
Anh chỉ là con người bình thường, tin anh đi, đến bệnh viện, khoa thần kinh và khoa tim mạch từ chối anh.
Nhưng rất muốn, rất mong, trong dằng dặc ngày giờ, thỉnh thoảng mình được làm một ẩn số, với xung quanh, và với chính mình.
Anh gọi đó là những dấu lặng. Là chợp mắt trần thế.
emxuaNhư là ngơi nghỉ cần cho hoạt động, sự cô độc cũng cần cho mình sau những ồn ào văn hóa đó em.

Ngày xưa có lần anh nhủ em như thế, và đôi mắt hồ thu của em chớp chớp, nghĩ gì hay không nghĩ gì nhỏ ơi?
Và bây giờ em đã trôi thật xa, thật nhiệt tình vào hun hút dòng đời, anh vẫn nhìn theo, vẫn thì thầm:

– Nhỏ ơi, biết không, những dấu lặng thật cần thiết cho cuộc đời!

Nguyễn Tấn Ái

Tri Thức Thật

Kể với nhau về một truyện cười dân gian.

Một thầy đồ kém chữ mưu sinh bằng chữ. Thầy dạy đến chữ “kê” là “gà”, lại quên béng mặt chữ, cùng đồ sinh đạo tặc, thầy đọc phứa thành chữ “ dủ dỉ ”. Lộ chuyện, thầy chữa cháy bằng một tràng luân lí:
ThayDoCoc
Dủ dỉ là chị con công, con công là ông con gà. Tôi đang dạy đến tam đại con gà!

Mớ tri thức hỗn độn của thầy đồ dốt không mở ra chân trời mới nào, ta thấy nụ cười hóm mà thâm thúy của người nông dân. Và mở ra suy nghĩ…

Tri thức là vô tận, chiếm lĩnh toàn bộ tri thức nhân loại chỉ là giấc mộng của những kẻ điên cuồng. Nhưng vấn đề là nhận thức được mình.
Đứng trước sự nghiêm khắc của người giám sát có tên là “ cái chưa biết”, người trình diện nó thường có hai ứng xử:
Hoặc lừa dối, man khai vốn hiểu biết của mình hòng vượt rào bất chính.
Hoặc nghiêm túc, trung thực, tự kiểm định để định giá mình.

Bạn chọn lối nào?

Dấu dốt dể bảo toàn danh dự?
Bạn sẽ luôn lo lắng bởi một mình phải làm cuộc che dấu cả thiên hạ mà phía nào cũng trống.
Đến một lúc nào đó, bạn cay đắng hổ thẹn nhận ra: Sĩ diện hão là lá bùa vô nghĩa đã trù ẻo danh dự bạn suốt đời. Bạn đã trả một giá quá đắt cho sự giả dối. Rồi sẽ đối diện với lương tâm, một tiếng nói thầm luôn độc thoại làm bạn day dứt: Thập ác của sự dốt nát ta phải liều mình mang vác đến bao giờ?
Tri_thuc_pg

Nhưng nếu bạn trung thực tự kiểm định chất lượng tri thức của mình?
Trước mắt có thể bạn tổn thương. Rồi cay đắng, vỡ nát.
Nhưng, như những ca đại phẫu trí não, vết thương rồi sẽ lành. Đau đớn đối diện với cái chưa biết là để tri thức thật hồi sinh.
Rồi bạn sẽ nhận ra khiêm tốn, trung thực là khoa học cơ bản để đi đến với tri thức thật.

Ở đây nảy ra hai thái độ:
– Chấp nhận để thúc thủ, để tri thức bắt phục. Hay chấp nhận để ngẫm nghĩ, để bắt phục tri thức?
Không ở đâu như ở đây bạn nhận ra sự vô nghĩa của triết lí lớn: “ Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc”.
Tri thức không có lim, không giới hạn, vô cùng.
Vốn tri thức không đi bằng con đường tắt ( dù trong ứng xử chính qui nhân gian vẫn nhiều lối rẽ đường ngang).

V.I. Lê Nin đã từng phát biểu: “ Tôi thà tìm hiểu sự thật suốt đêm còn hơn nghi ngờ nó suốt đời.”
Vâng, đó là thái độ đúng đắn mỗi khi người ta học làm thức giả.
Luận bàn về vấn đề này tôi lại nhớ đến một danh ngôn:
“ Ngủ thì không phải là thức giả”
Và tôi hi vọng rằng mình không chỉ nhớ!

Nguyễn Tấn Ái