
Mọi điều tôi cần
Tôi cầu xin sức mạnh và
Chúa đã ban tôi khó khăn để giúp tôi mạnh mẽ.
Tôi cầu xin khôn ngoan và
Chúa đã ban tôi những vấn đề để giải quyết.
Tôi cầu xin thịnh vượng và
Chúa đã ban tôi sức mạnh và khối óc để làm việc.
Tôi cầu xin can đảm và
Chúa đã ban tôi hiểm nguy để vượt qua.
Tôi cầu xin kiên nhẫn và
Chúa đã đặt tôi vào tình huống buộc tôi phải chờ đợi.
Tôi cầu xin tình yêu và
Chúa đã ban tôi những người hoạn nạn để giúp đỡ.
Tôi cầu xin ân huệ và
Chúa đã ban tôi các cơ hội.
Tôi chẳng nhận được gì tôi muốn
Tôi nhận được mọi điều tôi cần.
Mọi nguyện cầu của tôi đều được đáp trả.
Loan Subaru dịch
.

Everything I Needed
I asked for strength and
God gave me difficulties to make me strong.
I asked for wisdom and
God gave me problems to solve.
I asked for prosperity and
God gave me brawn and brains to work.
I asked for courage and
God gave me dangers to overcome.
I asked for patience and
God placed me in situations where I was forced to wait.
I asked for love and
God gave me troubled people to help.
I asked for favors and
God gave me opportunities.
I received nothing I wanted
I received everything I needed.
My prayers have all been answered.
Anonymous


Koto là một loại đàn Tam thập lục. Nó đã từng được dùng như một nhạc khí chính trong dàn nhạc thính phòng, chơi theo lối nhạc cổ truyền Nhật Bản. Chiều dài của Koto vào khoảng 180cm. Một cậy đàn Koto truyền thống có 13 dây, được căng ngang qua 13 thanh ngựa đàn có thể dịch chuyển được ở suốt dọc chiều dài đàn. Người chơi điều chỉnh âm cơ bản của đàn bằng cách di chuyển 13 ngựa đàn này trước khi chơi.
Các sử gia cho rằng Koto ra đời vào khoảng thế kỉ XV – XIII trước Công nguyên ở Trung Quốc. Ban đầu đàn chỉ có 5 dây, sao đó tăng lên 12, và cuối cùng là 13 dây. Đó là đàn Koto 13 dây được du nhập vào Nhật trong thời Nara (710-794). Thời gian đầu, loại đàn này chỉ được chơi trong cung đình, sau đó nó được chơi chủ yếu bởi những nhạc công mù (hầu hết những dòng nhạc Nhật tiền cận đại đều được những nhạc công mù, thầy tu và người trong hoàng cung chơi).
Ban đầu, Koto thường được chơi cùng với các nhạc khí bộ dây và bộ khí khác, nhưng sau này, người ta đã dùng nó để độc tấu. Nó cũng thường được chơi với shamisen và shakuhachi (một loại sáo làm từ tre) hoặc để đệm hát.
Tranh giấy cắt được làm hoàn toàn bằng thủ công, chỉ cần một chiếc kéo, một tờ giấy màu là bạn đã có ngay những bức tranh bằng giấy với những hình ảnh thiên nhiên sống động. Tranh cắt giấy thể hiện tập quán, thẩm mỹ và thị hiếu khác nhau của các vùng miền trên khắp đất nước Trung Quốc
Do tập quán, thẩm mỹ và thị hiếu của nhân dân các địa phương Trung Quốc khác nhau, phong cách tranh giấy cắt của các địa phương mang bản sắc riêng của mình. Tranh giấy cắt miền Bắc phóng khoáng, mạnh mẽ, mang nhiều đề tài quy mô, tranh giấy cắt miền Nam xinh xắn, thường có cảnh non nước. Người xưa thường dùng giấy màu đỏ để cắt, bởi họ tin rằng màu đỏ sẽ đem lại cho họ sự may mắn và hạnh phúc trong cuộc sống. Song bất kể là mang đề tài gì, tranh cắt giấy đều đòi hỏi phải truyền thần như thật.
Với những người nghệ nhân tài hoa, để tạo ra một bức tranh giấy hoàn hảo, họ cần có đầy đủ dao kéo kích cỡ khác nhau để cắt. Tranh giấy cắt có thể cắt từng tờ một, cũng có thể một lần cắt nhiều tờ. Với những hình ảnh đơn giản có thể cắt trực tiếp, với những hình phức tạp thì thường phải thiết kế bản mẫu trước, rồi in lên mặt giấy, sau đó dùng mười mấy con dao khắc đường nét hình ảnh lên đó. Tranh giấy cắt đòi hỏi sự tỉ mẩn và kiên nhẫn đến từng chi tiết.


Bhutan đã trở thành một chế độ quân chủ từ năm 1907. Vua Jigme Singye Wangchuck, người từng có một số động thái hướng tới một chính phủ lập hiến, đã thông báo vào tháng 12 năm 2005 rằng ông sẽ thoái vị năm 2008 nhường chỗ cho người con trai lớn. Ngày 14 tháng 10 năm 2006, ông thông báo sẽ thoái vị ngay lập tức, và con trai ông – Jigme Khesar Namgyal Wangchuck, lên kế ngôi. Ngày 22 tháng 4 năm 2007, theo quyết định của hoàng gia, cuộc bầu cử nghị viện lần đầu tiên trong lịch sử đất nước được dự định tổ chức vào năm 2008.


Kailash là đỉnh núi cao nhất trong dãy núi Gangdise to lớn, với độ cao 6,600m so với mực nước biển. Núi này nằm gần hai hồ thiêng: Manasarowa và Rakshastal. Với đặc điểm riêng, Kailash là địa điểm linh thiêng được tôn sùng nhất thế giới nhưng hiếm người thăm viếng, một siêu thánh địa của cả bốn nền tôn giáo: Đạo Phật, Đạo Hindu,
Tuy thế, hàng năm không có hơn một nghìn người hành hương Kailash. Sự kỳ lạ này được lý giải vì ngọn núi nằm ở phía tây hẻo lánh của Tây tạng nên di chuyển rất khó khăn và đây thường là những chuyến đi đầy nguy hiểm. Thời tiết ở đây quanh năm buốt giá, có thể thay đổi đột ngột nên những người hành hương buộc phải mang theo rất nhiều đồ dự trữ cần thiết cho suốt cuộc hành trình.
Hầu hết những người hành hương đến Kailash đều nhúng mình xuống Hồ Manosaravar gần đó, một nơi cực kỳ linh thiêng và dĩ nhiên cũng vô cùng lạnh giá. Từ “manas” có nghĩa là trí tuệ hoặc tỉnh thức. Manasaravar có nghĩa là Hồ tỉnh thức và khai sáng. Kế bên Manasaravar là Rakshastal, hay còn gọi là Rakshas: Hồ ma quỷ. Cuộc hành hương đến ngọn núi thiêng và 2 hồ thần kỳ này là một trải nghiệm thay đổi cuộc sống và là một cơ hội để nhìn một số kỳ quan trên toàn bộ hành tinh.
Yosakoi – là một loại hình nghệ thuật hiện đại đặc trưng của Nhật Bản được khai sinh từ tỉnh Kochi vào năm 1954, xuất phát từ một điệu múa truyền thống về mùa hè của Nhật. ‘Yosakoi’ là phương ngữ của Kochi, nghĩa là ‘Đêm nay mời bạn đến’. Điệu múa này là sự kết hợp giữa các động tác múa truyền thống, nền nhạc hiện đại cùng với dụng cụ múa đặc sắc Naruko tạo nên một Yosakoi rất sôi động và mạnh mẽ. Các điệu múa thường được dàn dựng cho những đội múa đông người. Ai cũng có thể tham gia múa Yosakoi, bất kể tuổi tác hay giới tính. Đây cũng là sự kiện nổi bật trong các kỳ lễ hội ở Nhật. Điệu múa đi kèm với các bài dân ca của Kochi với cái tên Yosakoi-Buchi.
Trang phục mặc khi biểu diễn Yosakoi rất phong phú, trong đó loại áo khoác truyền thống happi và áo yukata phối màu rực rỡ là hai thứ thường được sử dụng nhất. Các đội múa cũng thường tự thiết kế trang phục dựa trên các sự kiện lịch sử, theo xu thế thời trang thịnh hành hay theo y phục dân tộc.


Theo luận thuyết Natya Sashtra, điệu múa Odissi đã có từ thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên. Odissi hiện nay là kết quả của một quá trình dài, tổng hợp và biên tập lại từ những điệu múa truyền thống của bang Orissa như Mahari, Gotipua và Bhandanritya. (Mahari là vũ nữ đền đài, bản sao của vũ nữ Devadasi ở phía Nam. Gotipua là nam giới trong trang phục nữ và múa giống vũ nữ Mahari. Theo qui định, sau 18 tuổi, những vũ nữ, vũ nam này không được phép vào đền thờ).