Chào các bạn,
Trong chuyên mục Nhạc Xanh ngày hôm nay, mình xin được giới thiệu với các bạn một giai điệu rất quen thuộc. Mình tin chắc rằng các bạn đã nghe nhạc phẩm này đâu đó rất nhiều lần nhưng không để ý. Ngoài ra, bản nhạc này cũng được sử dụng cho bộ phim hài “The Great dictator” với sự diễn xuất hết sức vui nhộn của danh hài Charlie Chaplin. Đó là nhạc phẩm “Vũ khúc Hungari số 5” của nhà soạn nhạc người Đức Johannes Brahms.
* Tiểu sử (theo Wikipedia): Johannes Brahms (7/5/1833 – 3/4/1897) là một nhà soạn nhạc, chơi đàn piano và chỉ huy dàn nhạc người Đức. Các tác phẩm của ông được xếp vào chủ nghĩa lãng mạn. Trên bầu trời nghệ thuật thế giới nửa sau thế kỷ 19, âm nhạc của Johannes Brahms, với vẻ đẹp hình thức hoàn hảo và sự dung di sâu sắc của tâm hồn, như một chòm sao rực ráng. Ông là người tiếp nối các truyền thống hiện thực cổ điển và “làm giàu” chúng bằng những thành tựu của chủ nghĩa lãng mạn Đức. Âm nhạc của Johannes Brahms vừa đầy chất triết học trữ tình đặc trưng của Bach vừa mang những hình tượng âm nhạc hoành tráng và bạo liệt theo tinh thần Beethoven, nhưng cũng đậm nỗi lo âu về số phận của con người hiện đại.
Brahms sinh ngày 7/5/1833 tại thành phố cảng Hamburg, miền Bắc nước Đức, là con thứ trong gia đình một nhạc sĩ nghèo, dòng dõi thị dân, thổi flute, kèn cor, chơi contrebasse trong các nhà hàng hạng hai và hộp đêm của Hamburg. Năm 1862, đau lòng vì không tìm được một mái nhà nghệ thuật vững chắc cho riêng mình ở thành phố quê hương Hamburg, Brahms rời bỏ Tổ quốc sang sống ở Vienna (khi ấy được coi là thủ đô âm nhạc của thế giới).
10 năm ở Vienna là thời kỳ sáng tạo của Brahms đạt tới đỉnh cao huy hoàng. Trừ opera và âm nhạc theo chương trình, ông đã viết đến 380 tác phẩm thanh nhạc, 3 sonata, 5 biến tấu, 5 ballad, 3 rhapsody … cho piano, 3 sonata cho violin, 2 sonata cho cello và nhiều tác phẩm Tam tấu, Tứ tấu, Ngũ tấu … trong đó có nhiều tuyệt tác như Biến tấu theo chủ đề của Paganini (A-moll), Quintet cho piano (F-moll), Sonata số 3 cho violin, Concerto số 2 cho piano (B-dur) – một “giao hưởng” 4 chương độc đáo có phần solo của piano. Đặc biệt với các tác phẩm giao hưởng, Brahms trở thành một trong những nhân vật lỗi lạc nhất của lịch sử âm nhạc thế giới thế kỷ 19. Vinh quang dồn dập đến với Brahms. Ông được tặng huân chương Leopold của hoàng đế nước Áo, viện sĩ Viện hàn lâm Nghệ thuật Berlin, học vị tiến sĩ của Đại học Cambridge, Đại học Breslau, công dân danh dự của thành phố Hamburg … Ông cũng đã yêu vài người đàn bà, kể cả Clara Schumann, nhưng chưa bao giờ lấy vợ. Cuối đời Brahms sống cô độc, tránh xa đám đông. Chuyện rằng, chủ nhân một cuộc tiếp khách trọng thể muốn lấy lòng ông, đưa trước Brahms danh sách khách mời và đề nghị ông gạch tên bất cứ ai ông không thích, Brahms đã lấy bút gạch … tên mình ! Brahms mất ngày 3/4/1897 tại Vienna vì ung thư gan.
* Vũ khúc Hungari số 5:
Brahms viết tổng cộng đến 22 bản Vũ Khúc Hungari cho piano và violon. Đây là những biến tấu dựa trên các làn điệu dân gian Hungari. Trong 22 bản trên, bản vũ khúc số 5 nổi tiếng nhất và được xem như một kiệt tác. Vũ khúc số 5 được người nghe yêu thích nhất vì tiêt tấu của nó nổi trội hơn hẳn những bản còn lại, và nó thường được chơi trong những buổi hội hè, khi những người bạn, người thân trong gia đình tụ tập vui chơi với nhau.
Sau đây là 3 video clip: 1) Video clip do dàn nhạc giao hưởng Yorba Linda biểu diễn, 2) Video clip trong phim “The Great dictator” và 3) Video clip do ban nhạc nữ Bond biểu diễn. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!
Loan Subaru
Chào các bạn,
Cavatina lần đầu tiên được sử dụng cho bộ phim “The Walking Stick” (1970), nhưng sau đó, đến năm 1978, nó được sử dụng làm nhạc chủ đề cho bộ phim “The Deer Hunter” (1978) của đạo diễn Michael Cimono, và Myers cũng đã giành được giải thưởng Ivor Novello cho tác phẩm âm nhạc này. Ngoài ra, còn có version khác có lời dựa trên giai điệu này, gọi là “He was Beautiful” của Cleo Laine và Iris Williams. Điều này làm cho giai điệu “Cavatina” càng trở nên nổi tiếng và được yêu thích. Năm 2007, người chiến thắng trong cuộc thi “Britain’s Got Talent” – Paul Potts cũng đã thu âm bài này trong album đầu tiên của anh – có tên gọi là “Once Chance”.
Chào các bạn,
Trong số những tác phẩm lớn của ông phải kể đến các bản giao hưởng như Giao hưởng Anh hùng ca, Giao hưởng định mệnh, Giao hưởng Số 9, Giao hưởng đồng quê, các tác phẩm cho dương cầm như như Fur Elise, các sonata như Pathétique, Moonlight…
Chào các bạn,
Năm 1840, Schumann kết hôn với nghệ sĩ piano Clara Wieck, một nhân vật có tiếng trong thời kỳ âm nhạc lãng mạn của dòng piano. Trong hai năm cuối cuộc đời, sau một vụ tự sát bất thành, Schumann bị đưa vào một viện tâm thần trong những năm cuối cuộc đời.
Cuộc đời và sự nghiệp của Schumann cũng đã được dựng thành phim – “Song of Love” vào năm 1947, với diễn xuất của nữ diễn viên nổi tiếng Katharine Hepburn.
Trong chuyên mục Nhạc Xanh lần trước, mình đã giới thiệu với các bạn một số nhạc phẩm được chơi bằng piano, violon, violoncell…Hôm nay, mình xin được tiếp tục giới thiệu với các bạn nhà soạn nhạc nổi tiếng cho đàn guitar Francisco Tarrega và nhạc phẩm lừng danh của ông – “Recuedos de la Alhambra” (Hoài niệm về thành Alhambra). Mình chắc rằng, những bạn nào chơi guitar cổ điển đều biết bài này vì nó rất nổi tiếng với kỹ thuật reo dây.
2) Thành Alhambra và “Recuedos de la Alhambra”
Cung điện Alhambra được xây dựng để nhằm mục đích quảng bá nền văn hóa, sở thích và chấn chỉnh nền văn minh của Hồi giáo. Sự khẳng định đặc điểm này liên kết mật thiết với nền nhận thức yếu kém của riêng mình trên vương quốc Granada và có lẽ vì lí do này, cung điện Alhambra đã bị bao trùm một tâm trạng luyến tiếc quá khứ, không tưởng và thi vị. Chủ đề hồi tưởng quá khứ cũng có thể nhìn thấy rõ ràng trong kết cấu kiến trúc của cung điện, ngoài sự ám chỉ đặc biệt về đạo hồi, cung điện còn mang tư tưởng và nền văn hóa của Hy Lạp, La mã cổ đại, vì thế cung điện Alhambra còn mang chứa những kiến thức cực kỳ uyên bác về Hy-La cổ điển.
Cung đạo là nghệ thuật bắn cung của Nhật (kyudo) còn gọi là xạ nghệ. Cung đạo mang một ý nghĩa triết lý sâu xa. Do vậy mục đích chính của người bắn cung không phải là bắn trúng đích mà là nắm vững cái nghệ thuật bắn cung. Khi cung thủ nắm vững đến mức hoàn thiện từng động tác của mình – thoát ra khỏi cái ý muốn thường ám ảnh là muốn tên phải bắn trúng đích – thì mũi tên sẽ tự lao đến đích. Người Nhật không coi Cung đạo là một môn thể thao mà coi nó như là một nghi thức tôn giáo. Do đó “đạo” của Cung đạo chẳng phải nói về thể thao gia tập luyện thân thể mà nói về năng lực phát huy từ việc rèn luyện tâm linh, với mục đích bắn trúng mục tiêu tâm linh. Cho nên, trên căn bản, cung thủ nhắm vào chính mình và thậm chí có thể thành công trong việc bắn trúng chính mình.
Như vậy, Cung đạo là những bài học luyện tập tâm linh, là phương pháp tu tập thiền định, người thực hành không thể thành tựu được điều gì ở bên ngoài bằng cung tên, mà chỉ có thể thành tựu trong nội tâm, với chính bản thân. Cung tên là một loại võ khí của thời xưa, nhưng nay thì nó là một phương pháp không chỉ riêng nhắm đến mục đích vị lợi hoặc thuần túy thỏa mãn óc thẩm mỹ, mà cốt để tu tâm dưỡng tính, hay nói đúng hơn là để tâm hội nhập với chân lý thâm cùng.Tinh tuý của Cung đạo ngày nay là đạt đến chân thiện mỹ, lấy trạng thái tâm linh làm nền tảng .
Rèn luyện bắn cung trước tiên là tu tập nội tâm. Cung tên chỉ là phương tiện cho những gì có thể xảy ra mà không cần tới chúng, chúng chỉ là con đường dẫn tới mục tiêu, chứ chẳng phải là chính mục tiêu, chỉ là những hỗ trợ cho bước nhảy vọt tối hậu. Giương cung, ngưng lại, buông tên đều phải tuân thủ theo những giáo huấn đặc biệt. Chỉ cần chú ý rằng thân thể phải thư giãn khi đứng, ngồi, hoặc nằm. Nếu cung thủ tập trung tâm lực vào hơi thở thì lúc ấy chỉ còn nhận biết mình đang thở. Như vậy là sai . Muốn tự tách mình ra khỏi cảm giác và tri thức này, người ta không cần tới một quyết tâm nào, bởi vì hơi thở sẽ tự nó đi chậm lại, trở thành mỗi lúc một tiết kiệm hơi thở hơn trước, cuối cùng biến thành mờ nhạt và hoàn toàn thoát ra khỏi sự chú ý của cung thủ.
Để thay đổi không khí, hôm nay mình xin được giới thiệu với các bạn một bài hát tiếng Nhật nho nhỏ gọi là “Bài hát đếm số”. Bài hát này được phát trong chương trình Minna no Uta (Everybody’s song) của đài NHK – Nhật lần đầu tiên vào ngày 1/10/2008 và được rất nhiều người ưa chuộng. Bài hát này rất đơn giản các bạn à, chỉ cần đếm dần các con số, bắt đầu từ 1 là đã có một bài hát thật dễ thương. Bài hát này do chính nữ ca sĩ khá nổi tiếng Ikeda Ayako sáng tác và biểu diễn.
Chào các bạn,
Tháng 3 năm 1895, ông đến Côn Đảo – Việt Nam và được Chúa đảo Louis Jacquet dành ngôi biệt thự nằm biệt lập phía bên ngoài nhà Chúa đảo (nay là Bảo tàng Côn Đảo), mặt trông ra biển, đối diện với cầu tàu 914 – một vị trí hết sức thơ mộng…để ông lưu trú trong suốt 1 tháng. Chính trong căn nhà này ông đã hoàn tất 3 chương cuối của vở nhạc kịch bất hủ Brunehilda… Ngày nay, ngôi nhà trở thành Di tích Nhà Công Quán với
Sau đây, xin mời các bạn thưởng thức nhạc phẩm “Thiên Nga”, do nghệ sĩ violoncell Tanja Derwahl biểu diễn. Đây là một nhạc phẩm thuộc chương thứ 13, và nổi tiếng nhất trong tập nhạc 14 chương “The Carnival of The Animals” của ông. Bản nhạc được viết cho độc tấu Violoncell cùng với 2 cây piano. Giai điệu mượt mà, tuyệt đẹp của bản nhạc này được ví như con thiên nga đang lướt nhẹ nhàng và duyên dáng trên mặt hồ.
“Serenade” (hay còn gọi là “Serenata”), nghĩa là khúc ban chiều – nhạc theo phong cách lãng mạn. Bản Serenade thường chơi vào buổi chiều tà, ở ngoài trời, và ngay dưới cửa sổ (chắc là dưới cửa sổ nhà người yêu 😀 :-D). Cho đến bây giờ, có hai bài viết theo thể Serenade nổi tiếng nhất mà chưa có bài nào vượt qua được hai bài bất hủ này. Đó là “Serenade” của Schubert và “Serenata” của Enrico Toselli.


cho vị ẩn sĩ tên Taik Tha. Vị ẩn sĩ này giữ gìn sợi tóc của Phật cẩn thận. Trước khi qua đời, ông trao sợi tóc lại cho người con nuôi là vua Tissa, cai trị Myanma thế kỷ XI, với lời trăn trối: hãy cất giữ xá lợi này trong một hòn đá có hình dáng như đầu của vị ẩn sĩ. Vâng lời cha, vua Tissa, với sự giúp đỡ của các thần linh, đã tìm đến hòn đá nằm trên đỉnh núi Kyaiktiyo, xây một ngôi chùa trên đỉnh để thờ cúng xá lợi Phật. Và người ta tin rằng, chính nhờ có sợi tóc của Đức Phật mà hòn đá này nằm yên trên một vị trí cheo leo hiểm hóc hàng trăm năm nay.
Khoảng thời gian kỳ ảo nhất trên đỉnh núi là hoàng hôn và bình minh, khi ánh mặt trời rực rỡ chiếu sáng hòn đá và những người hành hương bắt đầu cầu nguyện. Theo tục lệ, chỉ có những người đàn ông có thể lại gần khu vực Đá Vàng để có thể dán những miếng vàng dát mỏng lên, áp đầu vào hòn đá và cầu nguyện. Còn phụ nữ thì không được đi vào khu vực Đá Vàng này, nên họ chỉ có thể lặng lẽ dâng vật cúng lên các bàn thờ rồi quỳ trên nền đất, cầu nguyện hàng giờ trong khói hương mờ ảo.

Khi chơi nhạc cưa, thông thường, nhạc công ngồi trên ghế, kẹp cây cưa vào giữa hai chân và điều khiển bằng tay. Việc bẻ cong lưỡi cưa theo hình chữ S và kéo dọc sống lưng của lưỡi cưa, phần hình vòng cung chữ S nhằm tạo ra âm thanh. Có thể điều chỉnh cao độ bằng cách điều chỉnh vùng hình chữ S. Ngoài ra, để tạo âm thanh ngân nga, réo rắt, nhạc công có thể rung chân hoặc lắc cánh tay giữ chóp của lưỡi cưa.
Phim “Người cuối cùng của bộ lạc Mohican” được dàn dựng dựa trên tiểu thuyết cùng tên. Đây là một cuốn tiểu thuyết rất nổi tiếng của 