All posts by loanptd

Vui nhộn “Vũ khúc Hungari số 5”

JohannesBrahmsChào các bạn,

Trong chuyên mục Nhạc Xanh ngày hôm nay, mình xin được giới thiệu với các bạn một giai điệu rất quen thuộc. Mình tin chắc rằng các bạn đã nghe nhạc phẩm này đâu đó rất nhiều lần nhưng không để ý. Ngoài ra, bản nhạc này cũng được sử dụng cho bộ phim hài “The Great dictator” với sự diễn xuất hết sức vui nhộn của danh hài Charlie Chaplin. Đó là nhạc phẩm “Vũ khúc Hungari số 5” của nhà soạn nhạc người Đức Johannes Brahms.

 * Tiểu sử (theo Wikipedia): Johannes Brahms (7/5/1833 – 3/4/1897) là một nhà soạn nhạc, chơi đàn piano và chỉ huy dàn nhạc người Đức. Các tác phẩm của ông được xếp vào chủ nghĩa lãng mạn. Trên bầu trời nghệ thuật thế giới nửa sau thế kỷ 19, âm nhạc của Johannes Brahms, với vẻ đẹp hình thức hoàn hảo và sự dung di sâu sắc của tâm hồn, như một chòm sao rực ráng. Ông là người tiếp nối các truyền thống hiện thực cổ điển và “làm giàu” chúng bằng những thành tựu của chủ nghĩa lãng mạn Đức. Âm nhạc của Johannes Brahms vừa đầy chất triết học trữ tình đặc trưng của Bach vừa mang những hình tượng âm nhạc hoành tráng và bạo liệt theo tinh thần Beethoven, nhưng cũng đậm nỗi lo âu về số phận của con người hiện đại.

Hungarian dance No5Brahms sinh ngày 7/5/1833 tại thành phố cảng Hamburg, miền Bắc nước Đức, là con thứ trong gia đình một nhạc sĩ nghèo, dòng dõi thị dân, thổi flute, kèn cor, chơi contrebasse trong các nhà hàng hạng hai và hộp đêm của Hamburg. Năm 1862, đau lòng vì không tìm được một mái nhà nghệ thuật vững chắc cho riêng mình ở thành phố quê hương Hamburg, Brahms rời bỏ Tổ quốc sang sống ở Vienna (khi ấy được coi là thủ đô âm nhạc của thế giới).

10 năm ở Vienna là thời kỳ sáng tạo của Brahms đạt tới đỉnh cao huy hoàng. Trừ opera và âm nhạc theo chương trình, ông đã viết đến 380 tác phẩm thanh nhạc, 3 sonata, 5 biến tấu, 5 ballad, 3 rhapsody … cho piano, 3 sonata cho violin, 2 sonata cho cello và nhiều tác phẩm Tam tấu, Tứ tấu, Ngũ tấu … trong đó có nhiều tuyệt tác như Biến tấu theo chủ đề của Paganini (A-moll), Quintet cho piano (F-moll), Sonata số 3 cho violin, Concerto số 2 cho piano (B-dur) – một “giao hưởng” 4 chương độc đáo có phần solo của piano. Đặc biệt với các tác phẩm giao hưởng, Brahms trở thành một trong những nhân vật lỗi lạc nhất của lịch sử âm nhạc thế giới thế kỷ 19. Vinh quang dồn dập đến với Brahms. Ông được tặng huân chương Leopold của hoàng đế nước Áo, viện sĩ Viện hàn lâm Nghệ thuật Berlin, học vị tiến sĩ của Đại học Cambridge, Đại học Breslau, công dân danh dự của thành phố Hamburg … Ông cũng đã yêu vài người đàn bà, kể cả Clara Schumann, nhưng chưa bao giờ lấy vợ. Cuối đời Brahms sống cô độc, tránh xa đám đông. Chuyện rằng, chủ nhân một cuộc tiếp khách trọng thể muốn lấy lòng ông, đưa trước Brahms danh sách khách mời và đề nghị ông gạch tên bất cứ ai ông không thích, Brahms đã lấy bút gạch … tên mình ! Brahms mất ngày 3/4/1897 tại Vienna vì ung thư gan.

* Vũ khúc Hungari số 5:

Brahms viết tổng cộng đến 22 bản Vũ Khúc Hungari cho piano và violon. Đây là những biến tấu dựa trên các làn điệu dân gian Hungari. Trong 22 bản trên, bản vũ khúc số 5 nổi tiếng nhất và được xem như một kiệt tác. Vũ khúc số 5 được người nghe yêu thích nhất vì tiêt tấu của nó nổi trội hơn hẳn những bản còn lại, và nó thường được chơi trong những buổi hội hè, khi những người bạn, người thân trong gia đình tụ tập vui chơi với nhau.

Sau đây là 3 video clip: 1) Video clip do dàn nhạc giao hưởng Yorba Linda biểu diễn, 2) Video clip trong phim “The Great dictator” và 3) Video clip do ban nhạc nữ Bond biểu diễn. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!

Loan Subaru

Cavatina – Nhạc chủ đề phim “The Deer Hunter”

Cavatina1Chào các bạn,

Trong chuyên mục Nhạc Xanh hôm nay, để thay đổi không khí, mình xin được giới thiệu với các bạn một giai điệu tuyệt đẹp, có tên gọi là “Cavatina” – nhạc chủ đề cho bộ phim “The Deer Hunter” (The Deer Hunter” là một bộ phim tâm lý, chiến tranh, lấy cảm hứng từ cuốn tiểu thuyết năm 1937 của Đức, “Three Comrades”. Tác giả của cuốn sách là một cựu quân nhân đã tham gia vào Thế chiến thứ II). 

Tác phẩm guitar cổ điển này được soạn vào năm 1970, bởi nhà làm phim người Anh Stanley Myers. Tác phẩm này ban đầu được viết cho piano, nhưng sau đó, theo yêu cầu của nghệ sĩ guitar cổ điển John Williams, Myers đã viết lại cho guitar cổ điển.

Cavatina2Cavatina lần đầu tiên được sử dụng cho bộ phim “The Walking Stick” (1970), nhưng sau đó, đến năm 1978, nó được sử dụng làm nhạc chủ đề cho bộ phim “The Deer Hunter” (1978) của đạo diễn Michael Cimono, và Myers cũng đã giành được giải thưởng Ivor Novello cho tác phẩm âm nhạc này. Ngoài ra, còn có version khác có lời dựa trên giai điệu này, gọi là “He was Beautiful” của Cleo Laine và Iris Williams. Điều này làm cho giai điệu “Cavatina” càng trở nên nổi tiếng và được yêu thích. Năm 2007, người chiến thắng trong cuộc thi “Britain’s Got Talent” – Paul Potts cũng đã thu âm bài này trong album đầu tiên của anh – có tên gọi là “Once Chance”.

Sau đây là 3 video clip: 1) Video clip do nghệ sĩ guitar cổ điển Per-Olov Kindgren biểu diễn, 2) Video clip bài hát “He was beautiful” do nữ ca sĩ Lesley Garrett biểu diễn và 3) Video clip do Paul Potts người chiến thắng trong cuộc thi “Britain’s Got Talent 2007” biểu diễn.

Mời các bạn thưởng thức giai điệu mượt mà, trữ tình của Cavatina và chúc các bạn một ngày làm việc hiệu quả!

Loan Subaru

 


.

Click vào đây để xem trực tiếp nếu video không xem được


.

Bản giao hưởng “Định mệnh” – Beethoven

Beethoven1Chào các bạn,

Rất vui được gặp lại các bạn trong chuyên mục Nhạc Xanh sau một thời gian mình “ở ẩn”! 🙂 Hôm nay, mình xin được giới thiệu với các bạn đôi nét về nhà soạn nhạc người Đức Beethoven và một trong hai bản giao hưởng nổi tiếng nhất của ông: bản giao hưởng số 5 hay còn được gọi là bản giao hưởng “Định Mệnh”.

* Tiểu sử của Beethoven (theo wikipedia): Ludwig van Beethoven (17/12/1770 – 26/3/1827) là một nhà soạn cổ điển người Đức. Ông có thể được coi là người dọn đường cho thời kỳ âm nhạc lãng mạn, được khắp nơi công nhận là một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại và ảnh hưởng tới rất nhiều những nhà soạn nhạc, nhạc sĩ, và khán giả về sau.

Beethoven sinh ra trong một gia đình nhạc sĩ. Cha của ông vốn rất ngưỡng mộ Mozart (người chỉ mới 6 tuổi đã là một nhà soạn nhạc). Thấy Beethoven còn nhỏ thích bấm lên phím piano của ông nội để lại, cha ông muốn ông trở thành một thiên tài âm nhạc như Mozart để gia đình sung sướng và danh giá nên ông được tập đàn clavio lúc ba tuổi, tiếp đó là những bài luyện đàn violon, piano, organ… Tuy nhiên, kỷ luật nghiêm ngặt của ông bố lại làm ngăn trở sự phát triển của cậu con trai. Ông bị cha mình bắt đánh đàn suốt ngày đến nỗi ngón tay bị tê dại, sưng lên. Cha ông cũng không bằng lòng và thường xuyên mắng chửi ông, có khi còn đánh đập tàn nhẫn. Cha ông thường dựng Beethoven dậy vào lúc nửa đêm để tập chơi dương cầm. Vì thế, Beethoven thường rất mệt mỏi và không tập trung được khi đến trường. Khi Beethoven được 11 tuổi, theo quyết định của cha, Beethoven phải nghỉ học để tập trung vào âm nhạc.

Cuộc sống của Beethoven cũng có rất nhiều khó khăn. Cha ông là một người nghiện rượu và thô lỗ, mẹ ông lại hay đau ốm. Vào khoảng 5 tuổi ông bị chứng viêm tai giữa nhưng bố mẹ ông không biết. Vì thế, ông đã không được điều trị hoặc điều trị không đúng cách. Có lẽ đây là nguyên nhân làm ông bị điếc về sau này.

Trong cuộc đời của mình, Beethoven đã phải chịu đựng sự hành hạ đau đớn về mặt thể xác. Vào khoảng 30 tuổi, Beethoven bắt đầu biểu lộ những triệu chứng đầu tiên của bệnh xơ hóa thính giác và triệu chứng này ngày càng tồi tệ hơn, không có cách gì cứu vãn. Đến 1818, Beethoben điếc hẳn cả hai tai.

Vào lúc 6 giờ tối ngày 20/3/1827, nhạc sĩ danh tiếng nhất thế kỉ 19 trút hơi thở cuối cùng. Đám tang của ông có hàng ngàn người đưa tiễn và ngày sau đó toàn bộ tài sản Beethoven để lại, kể cả bản thảo, đều bị đem bán đấu giá.

Beethoven-Symphony 5Trong số những tác phẩm lớn của ông phải kể đến các bản giao hưởng như Giao hưởng Anh hùng ca, Giao hưởng định mệnh, Giao hưởng Số 9, Giao hưởng đồng quê, các tác phẩm cho dương cầm như như Fur Elise, các sonata như Pathétique, Moonlight…

 * Bản giao hưởng số 5:

Beethoven sáng tác bản Giao hưởng số 5 vào năm 1808 khi ông 37 tuổi khi cuộc sống riêng tư bị rắc rối bởi chứng điếc ngày càng tăng. Bản giao hưởng số 5 mang âm hưởng chủ đạo là ngợi ca tình yêu cuộc sống, cuộc chiến của con người chống lại định mệnh đang gõ cửa. Bản giao hưởng gồm bốn chương (chương 1: Allegro, chương 2: Andante, chương 3: Scherzo. Allegro và chương 4: Allegro), trong đó chương 1 được xem là hay nhất và quen thuộc nhất. Toàn bộ bản giao hưởng sẽ đưa chúng ta qua 4 giai đoạn: sợ hãi, tuyệt vọng, sau cùng, thắng lợi, ngợi ca tình yêu cuộc sống.

Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!

Loan Subaru 

 

Lãng mạn giai điệu “Widmung”

SchuhmannChào các bạn,

Trong chuyên mục Nhạc Xanh hôm nay, mình xin được tiếp tục giới thiệu với các bạn đôi nét về nhà soạn nhạc Robert Schumann và một trong những nhạc phẩm đẹp nhất và lãng mạn nhất của ông – “Widmung” (dịch sang tiếng Anh là “Dedication”)

1) Tiểu sử (theo wikipedia): Robert Schumann, hay Robert Alexander Schumann (8/6/1810 – 29/7/1856) là một nhà soạn nhạc và phê bình âm nhạc nổi tiếng của Đức. Ông là một trong những nhà soạn nhạc lãng mạn lừng danh nhất thế kỷ 19. Đầu đời, Schumann theo đuổi ước mơ trở thành một nghệ sĩ violon và mong muốn này bắt nguồn từ sự động viên của thầy giáo ông là Friedrich Wieck, người đã khuyên Schumann rằng ông có thể trở thành nghệ sĩ violon bậc nhất châu Âu. Tuy nhiên, một chấn thương tay đã cản trở ước muốn này của Schumann và ông đã quyết định dồn sức lực cho việc soạn nhạc. Ông soạn nhạc cho piano và dàn nhạc, sáng tác các tác phẩm lieder, giao hưởng, opera, thánh ca và thính phòng.

WidmungNăm 1840, Schumann kết hôn với nghệ sĩ piano Clara Wieck, một nhân vật có tiếng trong thời kỳ âm nhạc lãng mạn của dòng piano. Trong hai năm cuối cuộc đời, sau một vụ tự sát bất thành, Schumann bị đưa vào một viện tâm thần trong những năm cuối cuộc đời.

2) Widmung: (dịch sang tiếng Anh là “Dedication”) là một trong những nhạc phẩm bất hủ của R. Schumann. Ông đã sáng tác bài này để làm quà cưới cho người vợ của mình, nàng Clara Wieck. Ông đã thể hiện được một cách sâu sắc cảm xúc, tình cảm nồng nàn và dâng hiến, sợ hãi và mong chờ, thất vọng và cam chịu, những hy vọng và ước mơ trong cuộc sống hôn nhân của mình trong tác phẩm này. Ông soạn bài nhạc này vào những ngày đầu năm 1840 và hoàn tất vào tháng 4/1840. Đến năm 1849, Franz Liszt – nhạc sĩ chơi piano kiêm nhà soạn nhạc người Hungari đã soạn lại bài này cho độc tấu piano.

SongofloveCuộc đời và sự nghiệp của Schumann cũng đã được dựng thành phim – “Song of Love” vào năm 1947, với diễn xuất của nữ diễn viên nổi tiếng Katharine Hepburn.

Sau đây là 2 video clip: 1) Video clip do nghệ sĩ piano Van Cliburn biểu diễn và 2) Video clip trích đoạn trong bộ phim “Song of Love”. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!

Loan Subaru

 

 

 

“Hoài niệm về thành Alhambra” — Francisco Tarrega

Chào các bạn,

Francisco_Tarrega_001Trong chuyên mục Nhạc Xanh lần trước, mình đã giới thiệu với các bạn một số nhạc phẩm được chơi bằng piano, violon, violoncell…Hôm nay, mình xin được tiếp tục giới thiệu với các bạn nhà soạn nhạc nổi tiếng cho đàn guitar Francisco Tarrega và nhạc phẩm lừng danh của ông – “Recuedos de la Alhambra” (Hoài niệm về thành Alhambra). Mình chắc rằng, những bạn nào chơi guitar cổ điển đều biết bài này vì nó rất nổi tiếng với kỹ thuật reo dây.

1) Tiểu sử (theo wikipedia):

Francisco de Asís Tárrega y Eixea, thường gọi tắt là Francisco Tárrega (18/11/1852 – 15/12/1909) là một nhà soạn nhạc nổi tiếng cho đàn guita người Tây Ban Nha. Ông được xem như là người đặt nền móng cho vị trí của cây đàn guitar là nhạc cụ dành cho độc tấu. Ngoài các bản nhạc do ông sáng tác cho đàn guitar, ông còn chuyển soạn một số tác phẩm của các nhà soạn nhạc khác sang trình tấu với đàn guitar. Francisco Tárrega đã đặt nền móng cho guitar cổ điển thế kỷ 20, đã đưa vào guitar cổ điển các kỹ thuật trước đây chưa từng có và vẫn được dùng đến ngày nay, chẳng hạn ông sử dụng cả ngón đeo nhẫn để gảy đàn trong khi trước đó người ta chỉ dùng ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Kỹ thuật reo dây (tremolo) dành cho guitar cổ điển là phát minh của ông: dùng các ngón trỏ, giữa, đeo nhẫn gảy liên tục vào cùng một dây tạo nên cảm giác tiếng đàn ngân nga không dứt, một ví dụ điển hình cho kĩ thuật này chính là “Recuedos de la Alhambra” lừng danh.

alhambra2) Thành Alhambra và “Recuedos de la Alhambra”

Thành Alhambra (1238 – 1527) ở Tây Ban Nha là một di sản văn hoá thế giới, đã bị bỏ hoang cho tới cuối thế kỷ thứ 19. Trải qua bao biến động của lịch sử, cung điện Alhambra phần lớn vẫn giữ nguyên diện mạo thế kỷ 14 của mình, không có sự thay đổi nào đáng kể.

Cung điện Alhambra xây dựng trên đỉnh đồi nhìn xuống thành phố Granada. Tên cung điện lấy từ al-Qalat al Hamra, có nghĩa là “lâu đài đỏ”, vì màu gạch và đất lấy từ pháo đài trước kia. Điểm ấn tượng nhất của cung điện Alhambra là công trình trát vữa không xoa láng, trang trí bằng các mô típ thực vật và những câu đề khắc…Cung điện là nơi ở của các vị vua người Maure ở Grenade (thế kỷ XIII-XIV), rộng khoảng 4.000 m2, được tường kiên cố bao quanh với 13 tháp canh liên hoàn khiến nhìn từ bên ngoài vào, lâu đài có dáng dấp một pháo đài. Đây là một tập hợp kiến trúc gồm thành quách, dinh thự và các kiến trúc phụ cho gia nhân cùng nhiều khu vườn tráng lệ, lâu đài được đánh giá là tuyệt tác của đời sống dân sự, quân sự và nghệ thuật của Hồi giáo Bắc Phi. Có thể gọi Alhambra là một pháo đài lẫn dinh thự tiêu khiển. Đây là một cung điện mang quá nhiều sư tráng lệ trên nền mồ hôi nước mắt, sự đói khát và cả tính mạng những người dân Hồi giáo vương quốc Granada.

Recuedos de la AlhambraCung điện Alhambra được xây dựng để nhằm mục đích quảng bá nền văn hóa, sở thích và chấn chỉnh nền văn minh của Hồi giáo. Sự khẳng định đặc điểm này liên kết mật thiết với nền nhận thức yếu kém của riêng mình trên vương quốc Granada và có lẽ vì lí do này, cung điện Alhambra đã bị bao trùm một tâm trạng luyến tiếc quá khứ, không tưởng và thi vị. Chủ đề hồi tưởng quá khứ cũng có thể nhìn thấy rõ ràng trong kết cấu kiến trúc của cung điện, ngoài sự ám chỉ đặc biệt về đạo hồi, cung điện còn mang tư tưởng và nền văn hóa của Hy Lạp, La mã cổ đại, vì thế cung điện Alhambra còn mang chứa những kiến thức cực kỳ uyên bác về Hy-La cổ điển.

“Recuedos de la Alhambra” với tên dịch ra tiếng Việt là “Tưởng nhớ thành Alhambra”, được sáng tác vào năm 1896, ở Granada. Nét tuyệt vời của bài này là giai điệu tremolo, cùng với tiếng bass ban đầu rất trầm ấm, nhưng sau đó lại lên rất cao, bồng bềnh như miền sông núi nước non Alhambra.

Dưới đây là hai video clip: 1) Video clip do nghệ sĩ guitar Enno Voorhorst biểu diễn và 2) Video clip do ca sĩ Nana Mouskouri biểu diễn với những hình ảnh tuyệt đẹp của thành cổ Alhambra. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui!

 Loan Subaru

 

Cung đạo – Nghệ thuật bắn cung Nhật Bản

kyudo-1Cung đạo là nghệ thuật bắn cung của Nhật (kyudo) còn gọi là xạ nghệ. Cung đạo mang một ý nghĩa triết lý sâu xa. Do vậy mục đích chính của người bắn cung không phải là bắn trúng đích mà là nắm vững cái nghệ thuật bắn cung. Khi cung thủ nắm vững đến mức hoàn thiện từng động tác của mình – thoát ra khỏi cái ý muốn thường ám ảnh là muốn tên phải bắn trúng đích – thì mũi tên sẽ tự lao đến đích. Người Nhật không coi Cung đạo là một môn thể thao mà coi nó như là một nghi thức tôn giáo. Do đó “đạo” của Cung đạo chẳng phải nói về thể thao gia tập luyện thân thể mà nói về năng lực phát huy từ việc rèn luyện tâm linh, với mục đích bắn trúng mục tiêu tâm linh. Cho nên, trên căn bản, cung thủ nhắm vào chính mình và thậm chí có thể thành công trong việc bắn trúng chính mình.

kyudo-2Như vậy, Cung đạo là những bài học luyện tập tâm linh, là phương pháp tu tập thiền định, người thực hành không thể thành tựu được điều gì ở bên ngoài bằng cung tên, mà chỉ có thể thành tựu trong nội tâm, với chính bản thân. Cung tên là một loại võ khí của thời xưa, nhưng nay thì nó là một phương pháp không chỉ riêng nhắm đến mục đích vị lợi hoặc thuần túy thỏa mãn óc thẩm mỹ, mà cốt để tu tâm dưỡng tính, hay nói đúng hơn là để tâm hội nhập với chân lý thâm cùng.Tinh tuý của Cung đạo ngày nay là đạt đến chân thiện mỹ, lấy trạng thái tâm linh làm nền tảng .

Cây cung dùng trong Cung đạo lớn hơn nhiều so với loại cung thường. Cây cung này cũng không được cân đối. Sợi dây của cây cung không được chạm vào vòng cung. Mũi tên cũng dài hơn thường lệ. Chiều dài của mũi tên cũng như tầm cao của cây cung tương xứng với vóc dáng của cung thủ. Cung thủ thường dùng cái găng tay bằng da để nắm cung. Khoảng cách và vòng tròn của cái bia xa gần, lớn nhỏ tuỳ thuộc vào người tổ chức. Thông thường, một cái bia tiêu chuẩn có 36cm đường kính, đặt cách cung thủ 28m và trên mặt đất 9cm .

kyudo3Rèn luyện bắn cung trước tiên là tu tập nội tâm. Cung tên chỉ là phương tiện cho những gì có thể xảy ra mà không cần tới chúng, chúng chỉ là con đường dẫn tới mục tiêu, chứ chẳng phải là chính mục tiêu, chỉ là những hỗ trợ cho bước nhảy vọt tối hậu. Giương cung, ngưng lại, buông tên đều phải tuân thủ theo những giáo huấn đặc biệt. Chỉ cần chú ý rằng thân thể phải thư giãn khi đứng, ngồi, hoặc nằm. Nếu cung thủ tập trung tâm lực vào hơi thở thì lúc ấy chỉ còn nhận biết mình đang thở. Như vậy là sai . Muốn tự tách mình ra khỏi cảm giác và tri thức này, người ta không cần tới một quyết tâm nào, bởi vì hơi thở sẽ tự nó đi chậm lại, trở thành mỗi lúc một tiết kiệm hơi thở hơn trước, cuối cùng biến thành mờ nhạt và hoàn toàn thoát ra khỏi sự chú ý của cung thủ.

Trong thuật bắn cung, cái bắn trúng và cái bị bắn không còn là hai đối tượng tách biệt nhau, mà hợp thành một thực thể duy nhất. Người bắn không còn ý thức gì về mình khi chăm chú vào tâm điểm trước mặt. Trạng thái không còn ý thức gì về mình hay “vô tâm”, “vô thức”, “phi tư lương” này chỉ có được khi cung thủ – người bắn – hoàn toàn vắng lặng, dứt bỏ cái tôi và nhập một với việc trao dồi để hoàn thiện tài năng kỹ thuật; mặc dù trong việc này có cái gì đó thuộc về một đẳng giới rất khác biệt không thể đạt đến bằng bất cứ sự học tập nghệ thuật theo cách tiệm tiến nào.

Tính toán quá kỹ sẽ sai lầm. Toàn bộ công trình bắn cung như vậy là thất bại. Tâm lăng xăng của cung thủ đã phản bội lại chính mình trong mọi hướng và trong mọi môi trường hoạt động. Để dễ nhập vào tiến trình giương cung và buông tên, cung thủ quì một đầu gối và bắt đầu nhập định, đứng lên, bước về phía tấm bia theo nghi thức nghiêm trang, kính cẩn dâng cung tên lên trước mặt giống như dâng hiến phẩm vật cúng tế, rồi lắp mũi tên, nâng cung lên, giương cung và chờ đợi với thái độ tâm linh vô cùng tỉnh thức. Sau khi mũi tên và sức căng được thả ra nhanh như tia chớp, cung thủ giữ nguyên tư thế đó, đồng thời chậm rãi thở ra hết hơi rồi hít hơi vào. Chỉ tới lúc đó cung thủ mới được buông thõng tay xuống, cúi chào cái bia và – nếu đã bắn hết tên – lặng lẽ lui về phía sau.

 Loan Subaru (Sưu tầm và tổng hợp)

Bài hát đếm số dễ thương

Chào các bạn,

Counting-songĐể thay đổi không khí, hôm nay mình xin được giới thiệu với các bạn một bài hát tiếng Nhật nho nhỏ gọi là “Bài hát đếm số”. Bài hát này được phát trong chương trình Minna no Uta (Everybody’s song) của đài NHK – Nhật lần đầu tiên vào ngày 1/10/2008 và được rất nhiều người ưa chuộng. Bài hát này rất đơn giản các bạn à, chỉ cần đếm dần các con số, bắt đầu từ 1 là đã có một bài hát thật dễ thương. Bài hát này do chính nữ ca sĩ khá nổi tiếng Ikeda Ayako sáng tác và biểu diễn.

Sau đây là đoạn video clip và phần lươc dịch nội dung của bài hát. Mời các bạn thưởng thức và chúc các bạn một ngày thật vui tươi!

Một Hai Ba Bốn Năm Sáu Bảy
Chỉ cần đếm số là thành một bài ca
Một Hai Ba Bốn Năm Sáu Bảy
Giọng hát bạn thành một bài ca

Các con số ở khắp nới trên thế giới 
Nếu cùng hát chung với nhau thì thật hay nhỉ.
Cách đếm số ở đất nước bạn
Nếu hát lên thì, hãy nhìn kia, những gương mặt tươi cười

(Cách đếm số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7 của các quốc gia như Trung Quốc, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ, Châu Phi)

Tràn ngập trên thế giới
Tương lai trong tay ta
Như cầu vòng bảy sắc
Ta vượt qua bảy đại dương 

Bài hát đếm số vang vọng lên bầu trời cao
Trong đêm sao, vào buổi sáng ngập nắng
Như bạn bè và như gia đình
Chúng ta cùng hát, và nắm tay nhau.

Không hề có khoảng cách
Chúng ta gắn kết với nhau trên trái đất này.

Loan Subaru

Charles-Camille Saint-Saëns và giai điệu “Thiên Nga”

Saint-SaënsChào các bạn,

Trong chuyên mục Nhạc xanh ngày hôm nay, mình xin được giới thiệu về nhà soạn nhạc nổi tiếng người Pháp Charles-Camille Saint-Saëns và nhạc phẩm “Thiên Nga”. Điều thú vị là người nhạc sĩ thiên tài này đã từng đến và sống ở Việt Nam.

Charles-Camille Saint-Saëns (9/10/1835 – 16/12/1921) là một nhà soạn nhạc, nghệ sĩ organ, nghệ sị dương cầm người Pháp rất nổi tiếng với các tác phẩm như “The Carnival of the Animals”, “Danse Macabre”, “Samson and Delilah”, “Havanaise”. Ông còn là nhà du hành lớn, từng đi đến Nga, các nước Châu Âu, Châu Mỹ, Cuba, Myanma, Đông Dương…

Tác phẩm của ông gồm 13 vở Opéra, 10 bản Concerto (trong đó có 5 bản viết cho piano), 3 bản giao hưởng, thánh ca và rất nhiều bài hát, trích đoạn piano. Ông được đánh giá là thần đồng âm nhạc bẩm sinh, có địa vị chói sáng trong nền âm nhạc Pháp và cả châu Âu.

SwanTháng 3 năm 1895, ông đến Côn Đảo – Việt Nam và được Chúa đảo Louis Jacquet dành ngôi biệt thự nằm biệt lập phía bên ngoài nhà Chúa đảo (nay là Bảo tàng Côn Đảo), mặt trông ra biển, đối diện với cầu tàu 914 – một vị trí hết sức thơ mộng…để ông lưu trú trong suốt 1 tháng. Chính trong căn nhà này ông đã hoàn tất 3 chương cuối của vở nhạc kịch bất hủ Brunehilda… Ngày nay, ngôi nhà trở thành Di tích Nhà Công Quán với Phòng Trưng Bày Lưu Niệm Nhạc Sĩ Camille Saint Saens với rất nhiều hình ảnh, tài liệu về người nhạc sĩ tài hoa. Bức tượng bán thân của ông được đặt trang trọng giữa nhà, còn trên vách là dòng chữ trích từ bức thư ông gửi cho Chúa đảo trước khi từ biệt: “Ở đâu cái đẹp được tôn trọng thì ở đó tội ác bị đẩy lùi, ở đó chẳng cần đến luật pháp” (trích thư gửi Chúa đảo Louis Jacquet tháng 4/1895).

The SwanSau đây, xin mời các bạn thưởng thức nhạc phẩm “Thiên Nga”, do nghệ sĩ violoncell Tanja Derwahl biểu diễn. Đây là một nhạc phẩm thuộc chương thứ 13, và nổi tiếng nhất trong tập nhạc 14 chương “The Carnival of The Animals” của ông. Bản nhạc được viết cho độc tấu Violoncell cùng với 2 cây piano. Giai điệu mượt mà, tuyệt đẹp của bản nhạc này được ví như con thiên nga đang lướt nhẹ nhàng và duyên dáng trên mặt hồ.

Loan Subaru

 

Khúc nhạc chiều lãng mạn “Serenata”

Enrico-Toselli

Chào các bạn,

Lại bắt đầu 1 tuần mới rồi nhỉ? Đối với mình, ngày đầu tuần bao giờ cũng là ngày bận rộn với một loạt meeting và khá nhiều việc để xử lý. Không biết các bạn thì thế nào nhỉ? Chắc cũng không phải ngoại lệ? Thôi thì, để tâm trạng ngày đầu tuần sảng khoái, trước khi bắt tay vào công việc, xin được giới thiệu với các bạn bản “Serenata” trữ tình và lãng mạn của nhà soạn nhạc người Ý Erico Toselli! 🙂

Enrico Toselli (13/3/1883 – 15/1/1926) là nghệ sĩ dương cầm, nhà soạn nhạc nổi tiếng người Ý. Ngay từ lúc trẻ, ông đã bắt đầu sự nghiệp sáng chói của mình như là một nghệ sĩ piano cho các buổi hòa nhạc ở Ý, Châu Âu và Bắc Mỹ với danh tiếng lẫy lừng. Ông đã sáng tạc rất nhiều bài hát, cùng với hai vở nhạc kịch nổi tiếng (La cattiva Francesca – 1912 và La principessa bizzarra – 1913). Một trong những bản nhạc nổi tiếng nhất của ông là bản “Serenata” mà mình sẽ giới thiệu trong chuyên mục Nhạc Xanh ngày hôm nay.

Serenata“Serenade” (hay còn gọi là “Serenata”), nghĩa là khúc ban chiều – nhạc theo phong cách lãng mạn. Bản Serenade thường chơi vào buổi chiều tà, ở ngoài trời, và ngay dưới cửa sổ (chắc là dưới cửa sổ nhà người yêu 😀 :-D). Cho đến bây giờ, có hai bài viết theo thể Serenade nổi tiếng nhất mà chưa có bài nào vượt qua được hai bài bất hủ này. Đó là “Serenade” của Schubert và “Serenata” của Enrico Toselli.

Video clip dưới đây là bản Serenata của Enrico Toselli, do nghệ sĩ vĩ cầm kiêm nhạc trưởng nổi tiếng người Hà Lan Andre Rieu trình bày. Mời các bạn thưởng thức giai điệu mượt mà, trữ tình và lãng mạn của nhạc phẩm này. 

Chúc các bạn một tuần làm việc hiệu quả và vui vẻ! 🙂 🙂

Loan Subaru

Dám …

dare

Khi ngày mới bắt đầu,
dám mỉm cười biết ơn.

Khi có bóng đêm,
dám là người đầu tiên thắp sáng.

Khi có bất công,
dám là người đầu tiên lên án.

Khi có khó khăn,
dám làm như thường.

Khi đời đè bạn xuống,
dám chống lại.

Khi dường như chẳng còn hy vọng,
dám tìm kiếm hy vọng.

Khi mệt rã rời,
dám tiếp tục đi.

Khi gặp thời gay go,
dám bất khuất hơn.

Khi tình làm đau đớn,
dám yêu thêm lần nữa.

Khi ai đó bị đớn đau,
dám giúp họ hàn gắn nỗi đau.

Khi ai đó bị lạc lối,
dám giúp họ tìm được lối.

Khi bạn bè vấp ngã,
dám là người đầu tiên dang tay giúp.

Khi tình cờ gặp ai đó,
dám làm họ mỉm cười.

Khi cảm thấy tuyệt vời,
dám giúp ai đó cũng thấy tuyệt như bạn.

Khi một ngày vừa kết thúc,
dám nghĩ rằng bạn đã làm hết sức mình.

Loan Subaru dịch
.
daring

Dare To Be

When a new day begins,
dare to smile gratefully.

When there is darkness,
dare to be the first to shine a light.

When there is injustice,
dare to be the first to condemn it.

When something seems difficult,
dare to do it anyway.

When life seems to beat you down,
dare to fight back.

When there seems to be no hope,
dare to find some.

When you’re feeling tired,
dare to keep going.

When times are tough,
dare to be tougher.

When love hurts you,
dare to love again.

When someone is hurting,
dare to help them heal.

When another is lost,
dare to help them find the way.

When a friend falls,
dare to be the first to extend a hand.

When you cross paths with another,
dare to make them smile.

When you feel great,
dare to help someone else feel great too.

When the day has ended,
dare to feel as you’ve done your best.

Steve Maraboli

Chùa Kyaiktiyo – kỳ quan huyền bí của vùng Đông Nam Á

Golden_Rock
Chùa Kyaiktiyo lúc hoàng hôn

Chùa Kyaiktiyo (còn gọi là Đá Vàng) là một trong 3 nơi hành hương rất nổi tiếng ở Myanma (xếp sau chùa Shwedagon, chùa Mahamuni). Chùa này chỉ cao 5.5m, và tọa lạc trên tảng đá lớn phủ bởi các lá vàng do những người hành hương dán lên khi đến viếng thăm chùa. Cả Chùa và tảng đá này nằm trên đỉnh của ngọn núi Kyaiktiyo. Chùa Kyaiktiyo được xây dựng vào năm 574 trước Công Nguyên và được xem như một trong những kỳ quan của vùng Đông Nam Á.

Theo truyền thuyết, Đức Phật trong một lần xuống hạ giới đã tặng một sợi tóc Golden leafcho vị ẩn sĩ tên Taik Tha. Vị ẩn sĩ này giữ gìn sợi tóc của Phật cẩn thận. Trước khi qua đời, ông trao sợi tóc lại cho người con nuôi là vua Tissa, cai trị Myanma thế kỷ XI, với lời trăn trối: hãy cất giữ xá lợi này trong một hòn đá có hình dáng như đầu của vị ẩn sĩ. Vâng lời cha, vua Tissa, với sự giúp đỡ của các thần linh, đã tìm đến hòn đá nằm trên đỉnh núi Kyaiktiyo, xây một ngôi chùa trên đỉnh để thờ cúng xá lợi Phật. Và người ta tin rằng, chính nhờ có sợi tóc của Đức Phật mà hòn đá này nằm yên trên một vị trí cheo leo hiểm hóc hàng trăm năm nay.

Golden-Rock-seaKhoảng thời gian kỳ ảo nhất trên đỉnh núi là hoàng hôn và bình minh, khi ánh mặt trời rực rỡ chiếu sáng hòn đá và những người hành hương bắt đầu cầu nguyện. Theo tục lệ, chỉ có những người đàn ông có thể lại gần khu vực Đá Vàng để có thể dán những miếng vàng dát mỏng lên, áp đầu vào hòn đá và cầu nguyện. Còn phụ nữ thì không được đi vào khu vực Đá Vàng này, nên họ chỉ có thể lặng lẽ dâng vật cúng lên các bàn thờ rồi quỳ trên nền đất, cầu nguyện hàng giờ trong khói hương mờ ảo.

 

Niềm tin sẽ đến

faith
Bạn nói bạn không có niềm tin ư?
Hãy yêu – và niềm tin sẽ đến.

Bạn nói bạn buồn phiền ư?
Hãy yêu – và niềm vui sẽ đến.

Bạn nói bạn cô đơn ư?
Hãy yêu – và bạn sẽ phá vỡ sự cô độc của mình.

Bạn nói bạn đang ở địa ngục ư?
Hãy yêu – và bạn sẽ thấy mình ở thiên đàng.

Loan Subaru dịch

.

Faith Will Come

You say you have no faith?
Love – and faith will come.
You say you are sad?
Love – and joy will come.
You say you are alone?
Love – and you will break out of your solitude.
You say you are in hell?
Love – and you will find yourself in heaven.

Carlo Carretto

Cái cưa gỗ – một loại nhạc cụ thật độc đáo

Nhạc cưa
Nhạc cưa

Các bạn có biết là cái cưa cũng có thể được sử dụng như một nhạc cụ không? Trên thực tế, người ta không thể tưởng tượng được cái cưa gỗ cũng có thể phát ra âm thanh hay như vậy. Âm thanh phát ra từ nhạc nhạc cưa nhẹ nhàng và cao vút, rất giống với Theremin (một trong những nhạc cụ hoàn toàn bằng điện tử, bao gồm 2 máy dao động tần số radio và 2 antenna kim loại).

Nhạc cưa đã xuất hiện hơn một thế kỷ. Có những cây cưa được làm từ loại thép bình thường cho đến những cây cưa tinh xảo được phủ vàng, trị giá hàng trăm đô-la.

ZingzaagKhi chơi nhạc cưa, thông thường, nhạc công ngồi trên ghế, kẹp cây cưa vào giữa hai chân và điều khiển bằng tay. Việc bẻ cong lưỡi cưa theo hình chữ S và kéo dọc sống lưng của lưỡi cưa, phần hình vòng cung chữ S nhằm tạo ra âm thanh. Có thể điều chỉnh cao độ bằng cách điều chỉnh vùng hình chữ S. Ngoài ra, để tạo âm thanh ngân nga, réo rắt, nhạc công có thể rung chân hoặc lắc cánh tay giữ chóp của lưỡi cưa.

Sau đây, xin giới thiệu với các bạn 1 video clip của một nhạc công nhạc cưa Nhật Bản – anh Hajime Sakita. Anh được xem là một trong những nhạc công nhạc cưa hàng đầu ở Nhật bản, từng giành được giải nhất trong liên hoan nhạc cưa Santa Cruz (Mỹ) vào năm 1997, giải nhì vào năm 2005, và lưu diễn khá nhiều nơi trên thế giới như: Cộng Hòa Sec, Hàn Quốc, Ý…Bản nhạc anh chơi trong video clip có tên là “VIOLA”. Mời các bạn thưởng thức giai điệu mượt mà, du dương và bay bổng của nhạc cưa này!

 

Luôn Luôn

sunset
Always Be

Always,
Be understanding to your enemies.
Be loyal to your friends.
Be strong enough to face the world each day.
Be weak enough to know you cannot do everything alone.

Luôn luôn,
Cảm thông với kẻ thù.
Trung thành với bạn bè.
Mạnh đủ để đối diện thế giới mỗi ngày.
Yếu đủ để biết rằng bạn không thể làm mọi việc một mình.

.

Always,
Be generous to those who need your help.
Be frugal with that you need yourself.
Be wise enough to know that you do not know everything.
Be smart enough to continue learning.

Luôn luôn,
Rộng lượng với những ai cần bạn giúp.
Tiết chế với những gì bạn cần cho chính mình.
Khôn ngoan đủ để biết rằng bạn không biết tất cả.
Thông minh đủ để học hỏi không ngừng.

.

Always,
Be willing to share your joys.
Be willing to share the sorrows of others.
Be a leader when you see a path others have missed.
Be a follower when you are shrouded by the mists of uncertainty.

Luôn luôn,
Sẵn lòng sẻ chia niềm vui của bạn.
Sẵn lòng sẻ chia phiền muộn của ai kia.
Là người dẫn dắt khi bạn thấy được lối đi mà người khác không nhìn thấy
Là người theo sau khi bạn bị phủ che bởi sương mù bất an.

.

Always,
Be first to congratulate an opponent who succeeds.
Be last to criticize a colleague who fails.
Be sure where your next step will fall, so that you will not tumble.
Be sure of your final destination, by setting your goals along the way.

Luôn luôn,
Là người đầu tiên chúc mừng đối thủ thành công.
Là người cuối cùng phê bình đồng nghiệp thất bại.
Biết chắc bước đi kế tiếp sẽ đặt xuống chỗ nào, để bạn không vấp.
Biết chắc đích đến cuối cùng của bạn, bằng cách lập ra những mục tiêu trong suốt hành trình.

.

Above all,
always be yourself.

Trên hết là,
Hãy luôn là chính bạn.

.

Anonymous
Loan Subaru dịch

Hùng tráng nhạc chủ đề phim “Người cuối cùng của bộ lạc Mohican”

LastOfTheMohicans(1920)Phim “Người cuối cùng của bộ lạc Mohican” được dàn dựng dựa trên tiểu thuyết cùng tên. Đây là một cuốn tiểu thuyết rất nổi tiếng của nhà văn Jamese Fenimore Cooper (1789 – 1851) – nhà văn viết tiểu thuyết đầu tiên của nền văn học Mỹ đa sắc màu. 

Tiểu thuyết “Người cuối cùng của bộ tộc Mohican”, xuất bản năm 1826, trên khung nền của một cuộc chiến tranh giành đất đai giữa hai đế quốc thực dân Anh và Pháp mà nhân vật chính ủng hộ quân Anh chống lại quân Pháp. Cuốn truyện phác họa khung cảnh thiên nhiên hùng tráng của miền đất mới với những chủ nhân thực sự của nó là những người Mohican da đỏ tính cách dữ dội nhưng chất phác, trung thực và trọng nhân phẩm, hoàn toàn cách biệt với sự sa đọa của xã hội văn minh. Những người Mohican vẫn là biểu tượng cho lòng kiên trì, can đảm chiến đấu. Cho đến con người cuối cùng, giọt máu cuối cùng, họ vẫn chiến đấu để bảo vệ cho bộ tộc của mình.

Có rất nhiều bộ phim được dàn dựng dựa trên tiểu thuyết này, ví dụ: năm 1920 – diễn viên chính Wallace Beery, năm 1932 – diễn viên chính Harry Carey, năm 1936 – diễn viên chính Randolph Scott, năm 1992 – diễn viên chính Daniel Day-Lewis. Tuy nhiên, Thư viện Quốc Hội Mỹ đánh giá bộ phim sản xuất vào năm 1920 là ấn tượng nhất và hiện được bảo quản tại US National Film Registry. 

Indiogenes
Indiogenes

Dưới đây là video clip nhạc chủ đề của phim “Người cuối cùng của bộ lạc Mohican”. Bản nhạc này có tên là “The Gael”, do nhà soạn nhạc nổi tiếng người Scotland – Dougie MacLean sáng tác vào năm 1990, trong album “The Search”. Năm 1992, Trevor Jones đã sử dụng bài này làm nhạc chủ đề của phim “Người cuối cùng của bộ lạc Mohican”.

Cảm nhận đầu tiên của mình là bản nhac này là quá tuyệt vời, thật đẹp và thật hùng tráng. Một sự kết hợp hài hòa giữa âm nhạc hiện đại và âm nhạc huyền bí, cổ xưa của những bộ lạc, thổ dân da đỏ (đặc biệt là những tiếng sáo phát ra từ cây sáo của thổ dân Mỹ). Mời các bạn thưởng thức!