All posts by hlinhnie

Những điều trông thấy mà…

Tôi vưà có hai chuyến điền dã tìm hiểu văn hoá cổ truyền của người Mnông ở tỉnh Đak Nông và người K’Ho ở tỉnh Lâm Đồng. Đây vốn là hai tộc người cùng chung ngữ hệ Môn – Khơmer, có rất nhiều điểm tương đồng về nghệ thuật diễn xướng goong – ching (bài bản ching, làn điệu dân ca, dân nhạc) và phong tục tập quán ( kiến trúc nhà, sản xuất nương rẫy, tang ma, cưới hỏi…). Điểm khác nhau cơ bản là: nếu trong chương trình sưu tầm sử thi đã thực hiện ở Tây Nguyên, các nhà khoa học “nhặt” được từ người Mnông hàng trăm tác phẩm trường ca – sử thi (ot, n’trong) đồ sộ, thì hình thức văn học truyền miệng độc đáo này (Yang yao) ở vùng người K’Ho chỉ còn là những trường đoạn đứt gãy. Thậm chí văn hoá truyền thống K’Ho hầu như chỉ lờ mờ trong ký ức người già (từ 70 mùa rẫy trở lên), lớp trung niên (từ 60 tuổi trở xuống) gần như chẳng còn nhớ gì nhiều .Tuối càng thấp thì sự hiểu biết về văn hoá tộc người của chính mình càng ít.

Giáo sư – Tiến sỹ khoa học Tô Ngọc Thanh , Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian VN đã từng có lần xót xa nhận xét “cái nghèo khiến các dân tộc còn giữ được văn hoá truyền thống”. (Điều này dưòng như mẫu thuẫn với một câu ngạn ngữ của người Việt, rằng “phú quý sinh lễ nghĩa” chăng? Bởi các tỉnh, huyện, xã miền xuôi khắp cả nước, chẳng đang đua nhau khôi phục các lễ hội truyền thống đó sao?).

Tuy nhiên, điều tôi muốn đề cập trước hết trong câu chuyện này, chưa phải về văn hoá cổ truyền, mà là về đời sống của hai tộc người tương đối gần gũi về phong tục tập quán, ở hai địa bàn khác nhau vừa nói đến ở trên.

Nói theo kiểu người Tây Nguyên chúng tôi phải tận mắt nhìn, phải tự tai nghe mới tin, thì :

– Đa số gia đình người Mnông ở các huyện Đăk Rlâp, Quảng Khê, Krông Nô, Đăk Song, thị xã Gia Nghĩa…thuộc tỉnh Đăk Nông mà chúng tôi đến, đều chưa thoát khỏi đói nghèo, do sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún, thiếu đất. Tuy hầu hết đã chuyển từ nhà tranh sang nhà ván, nhà gạch,mái tôn, nhưng chỉ là những căn nhà cấp 4, diện tích hẹp. Có rất ít thanh niên người Mnông học tới trình độ cao đẳng và đại học.

Trò chuyện cùng chúng tôi, người dân đều có nguyện vọng được có đất để làm rẫy, may ra mới khỏi đói. Thậm chí có vùng còn đề nghị được chuyển cư đi tìm đất. Bà con cũng lý giải việc khó khôi phục lại văn hoá truyền thống, vì mọi lễ nghi, lễ hội đều liên quan tới lương thực, thực phẩm, mà điều đó hiện nay không thể giải quyết được.

– Người K’Ho ở tất cả những nơi chúng tôi đến (Lâm Hà, Lạc Dương, Đức Trọng, Di Linh,Dam Rông) đều có cuộc sống khá hơn hẳn, đặc biệt những nhà làm cà phê, hoặc chuyên canh rau & hoa (những vùng làm lúa tuy không giàu có bằng, nhưng cũng không bị đói). Rất nhiều gia đình xây nhà dạng biệt thự khang trang, đầy đủ tiện nghi (ti vi, bếp ga, máy giặt, tủ lạnh…). Người K’Ho là một trong những dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên có đông trí thức nhất.

Trao đổi điều này với những người nông dân K’Ho mà chúng tôi gặp, bà con đều cho rằng: mặc dù kỹ thuật chưa cao, nhưng do có đất sản xuất, nên thu nhập đủ sống, đủ nuôi con ăn học. Nhưng khi chúng tôi hỏi “con cháu mình biết gì về văn hoá tộc người mình?”, hầu hết đều trả lời “ không biết gì ngoài tiếng nói”. Họ cũng bày tỏ nguyện vọng muốn khôi phục lại văn hoá truyền thống, nhưng hầu hết không hiểu nên giữ lại cái gì, bỏ đi cái gì (bởi đa số là tín đồ đạo Thiên Chúa & Tin lành), nhất là khi không mấy ai còn biết truyền thống văn hoá của mình có những gì, ngoài gong ching vừa được quốc tế công nhận là di sản văn hoá nhân loại, thì ở nhiều vùng đã im tiếng từ vài chục năm nay.

Vậy là hai tộc người thiểu số Tây Nguyên, hai hiện trạng cuộc sống giàu nghèo khác nhau, nhưng đều đứng trước nguy cơ mất hẳn kho tàng văn hoá đã từng rất đồ sộ và có giá trị vô cùng quý báu của mình, mất “di sản văn hoá phi vật thể truyền khẩu của nhân loại”

Trước hết là việc đời sống kinh tế chênh lệch rõ rệt ở hai vùng. Người Mnông nghèo và vẫn bị đói là do thiếu đất sản xuất. Thật khó tin, nhưng đó là sự thật. Chuyện xa hơn một chút, tù trưởng N’Trang Gưh đã từng dẫn 600 người Bih, người Mnông bỏ bon lan lùi sâu vào rừng chống Pháp. Những năm 60 của thế kỷ XX, khi lập vùng căn cứ kháng chiến chống Mỹ, tỉnh Đăk Lak phải động viên một số hộ người Êđê từ Krông Ana bỏ buôn làng quê hương chuyển cư sang, để có thêm dân, vì cơ số người Mnông ở Krông nô quá ít. Cách mạng mà không có dân, không có chỗ dựa , làm sao thành công? Ấy vậy mà ngày nay “số ít” những chủ nhân đích thực ấy, lại không có đủ đất canh tác để đảm bảo đời sống, chỉ no đủ thôi, chưa dám mơ tới giàu có, là sao?

Sau nữa là biện pháp bảo tồn một trong những “vùng văn hoá cồng chiêng” Tây Nguyên thì thế nào nhỉ? Thể theo ý nguyện của bà con, ấy là cần lắm những cán bộ văn hoá là người chính dân tộc mình, để cùng nhau bàn bạc, lựa chọn cái gì phù hợp mà bảo vệ lấy “ nó” cho khỏi mất đi. Đấy, cứ ngoái lại mà xem, nếu là người bản địa tham gia vào chương trình, thì đâu đến nỗi đêm khai mạc cồng chiêng quốc tế ở Gia lai bị đông đảo khán giả chê bai vì sự thiếu tôn trọng chính chủ thể cồng chiêng đến thế? Mà có phải thiếu người đâu? Có tới hai Nghệ sỹ nhân dân chuyên ngành đạo diễn múa là người Bâhnar và Hrê ở đó đấy chứ. Nhưng họ có được nhúng tay vào đâu? Phải mời hẳn một công ty ở Hà Nội vào thực hiện, mới thành công chứ.

Thêm một câu chuyện nho nhỏ : có người tự cho là tâm huyết, có ý thức trách nhiệm, đã đến tận xã Nhân Cơ, nơi đang triển khai dự án Bôxit ở tỉnh Đăk Nông xem tận mắt, rồi về lớn tiếng “mọi người nói sao chứ dự án chỉ lấy có rẫy của 3 hộ Mnông, đã đền bù thoả đáng rồi”. Vâng, nhưng có ai quan tâm đến một cái hồ có tên gọi “cá trê”, nơi mà mỗi năm một lần, các bon Mnông quanh vùng mang theo rượu cần, goong –ching, tụ tập cùng tát cá và ăn uống, múa hát chung ở đó, nay đã bị biến mất không? Xì ! Cái hồ là việc nhỏ.Số tiền đền bù ấy có thể mua được xe máy, xây nhà …tốt quá rồi còn gì? Cái đói nếu có đến là tại bà con không biết mua đất ở đâu mà sản xuất đấy, chứ có phải tại “ ông Boxit ” đâu ???

Buổi sáng đầu tiên chúng tôi ở trang trại Trung Nguyên tại M’Drăk,để bàn về việc chuẩn bị cho Festival cà phê quốc tế tại Đăk lăk năm 2010, một nhóm các nhà kinh tế trẻ, gồm toàn các Tiến sỹ vừa từ Hà Lan, Mỹ, Đài Loan về, đã thẳng thừng nhận xét “Soi lại lịch sử thì người Kinh chỉ giỏi đánh nhau, xâm chiếm đất đai, áp đặt lối sống của mình, chứ không hiểu và không biết cách bảo hộ văn hoá, không tôn trọng văn hoá ngay cả của chính mình lẫn của các dân tộc thiểu số khác ”.

Xin dành sự bình luận cho các bạn ghé qua “nhà” tôi nhé.

Linh Nga Niê Kdăm

Vui, buồn từ Festival cồng chiêng quốc tế Tây Nguyên

Tôi háo hức đi Plei ku. Cồng chiêng Tây Nguyên thì xem mãi rồi , nhưng có dịp thưởng thức & thêm chút hiểu biết về cồng chiêng Đông Nam Á thì hay biết mấy.

19h ngày 12-11-09. Người ơi là người. Chen chúc đến ngộp thở, giơ thật cao tấm phù hiệu khách mời màu vàng, vào được đến quảng trường 17-3 thì mọi hàng ghế đã chật. Chẳng phân biệt được ai là dân, ai là khách; thôi thì ai ngồi cũng được, vì sao lại nỡ trách những người muốn được một lần tham dự một lễ hội quốc tế lớn như thế này chứ ? Chỉ tiếc rằng, mặc dù ban tổ chức đã đổ ba bậc đất cao hơn phía sau khán đài, nhưng mọi khán giả đứng sau các hàng ghế đại biểu chỉ có thể nhìn tới bốn tầng sân khấu xa tít tắp, chứ không thể thấy được lòng sân rộng của quảng trường.Khán giả bên ngoài lại càng ít hy vọng được xem, bởi hàng rào người đã chắn ở cả hai đầu đường dẫn vào sân khấu.

Tranh thủ lúc chờ khai mạc, tôi len lỏi khắp sân chào các nghệ nhân quen mặt, quen tên, nào các amí người Bih, ama Êđê Đăk Lăk phục sức vô cùng trang trọng; nào là già làng K’Bét nụ cười rung cả chòm râu bạc đứng giữa nhóm tộc người K’Ho Lâm Đồng ; anh bạn Kpă Na Nao người Jrai ở Gia Lai với chiếc trống luôn gắn trên vai, vòng hai chừng lớn hơn lần gặp năm ngoái ở Đà Lạt, trong Liên hoan hát dân ca; Điểu Mai và nhóm Mnông Đăk Song của cô ấy súng sính trong bộ váy áo thổ cẩm màu xanh lá cây; các chị em người Thái che dù duyên dáng đứng đợi bên Khua luống; Nhóm Ca Tu thị trấn Đông Giang khoe nửa bộ ngực trần ấm cả mắt; mấy chị em người Cor Quảng Nam áo trắng, váy đen, những chuỗi hạt cườm vàng đỏ thật lộng lẫy. Cô gái Hrê, chàng trai Bâhnar, già làng Vân Kiều, bà mẹ S’Tiêng kề bên nhóm Ta Ôi, Châu Ro…

Chật kín sân nghệ nhân của 45 đội cồng chiêng thuộc 25 tỉnh thành, từ bộ cồng núm 5 chiếc của người Thái đen ( mà cô gái nào cũng da trắng muôn muốt như hoa ban) tận Điện Biên địa đầu phía bắc; tới dàn cồng 16 chiếc và các nhạc cụ ngũ âm của các nghệ nhân Khơmer đạo mạo, đệm cho những chú khỉ Hanuman nghịch ngợm nhảy nhót, đến từ miền đồng bằng chín Rồng, bên cạnh những con rối lá, rối dây ngộ nghĩnh cười cợt……Hòa vào không khí náo nức đó là tâm trạng vui vẻ của các nghệ nhân Lào, Căm Pu Chia và Maiamy, Philipin cho dẫu kẻ đóng khố, người trong trang phục kín đáo (đoàn Indonesia hôm sau mới tới được). Không chỉ là nhịp điệu thanh thoát của những dàn ching chêng, mà còn cả tiếng kèn saranai réo rắt, tiếng trống sazam bập bùng hòa điệu …Người già, người trẻ, nữ, nam…chao ôi là tiếng cười, giọng nói ríu rít làm quen hay mừng gặp lại.Cả những tiếng nói to hơn thường ngày qua điện thoại di động, đua nhau kể với ở nhà ( vùng xa vùng sâu nào đó) không khí náo nức chờ đến giờ khai mạc ngày hội.…

Cái được nhất của Liên hoan có lẽ chính là sự gặp gỡ, không khí hồ hởi và thân mật này ( Ngoài việc biểu diễn ở bốn sân khấu lớn trong nội và ngoại thành Plei Ku, các nghệ nhân 6 nước còn có cuộc giao lưu với nhau tại khu du lịch Đồng xanh vào tối ngày 14/11 ).Sau nữa là sự xuất hiện của đa số các “ nghệ nhân” trẻ, thế hệ kế tục để bảo tồn “ di sản”, không chỉ múa mà còn diễn tấu ching. Không kể các bé em còn nằm trên lưng mẹ, thì nhỏ nhất có lẽ là hai thành viên Ksor Sia 6 tuổi & Siu Khái 8 tuổi của đội Jrai huyện Chư Sê, điêu luyện trong những bước nhảy theo nhịp ching, làm tốn không biết bao nhiêu phim của các nghệ sỹ nhiếp ảnh.

Đến với Festival cồng chiêng quốc tế lần đầu tiên này, có thể nhận thấy rất nhiều nét tương đồng và khác biệt giữa các dàn cồng chiêng của Việt Nam & các nước Đông Nam Á.

Ví dụ như dàn ngũ âm & trang phục của hai đội cồng chiêng Khơmer đến từ Bạc Liêu & Sóc Trăng không khác mấy so với cách trình diễn và cơ cấu dàn ngũ âm của Đoàn nghệ nhân CamPuChia : từ hàng chục chiếc cồng nhỏ xếp thành từng hai dàn một trên một chiếc giá đỡ hình vòng cung, cho đến bộ trống Sazam, trang phục xaroong của các nghệ nhân nam.

Hay đoàn nghệ nhân đến từ Philipin cũng cởi trần đóng khố, đep chuỗi vòng răng thú và xử dụng 7 chiếc chiêng không có núm, như một số tộc người Tây Nguyên thuộc nhóm ngôn ngữ Môn –Khơmer, nhưng lại dùng dùi cứng ( trong khi hầu hết các nhóm Tây Nguyên đều dùng dùi mềm). Hoặc nhóm nghệ nhân tộc người Prao của đoàn Lào, lại sử dụng 7 chiếc ching có núm, khác với nhóm Brâo ( một nhánh khác ở Kon Tum) chỉ có hai chiếc chiêng không có núm…

Hoặc cùng nhóm ngữ hệ Môn – Khơmer nhưng tộc người Châu Ro đến từ Đồng Nai, lại diễn tấu 8 chiếc chiêng có núm, không có chiêng bằng, như người anh em S’Tiêng, K’Ho cận kề…

Cho dù dưới hình thức diễn tấu nào, thì âm thanh và giai điệu của mọi dàn ching đều có sức lan toả,lôi cuốn bởi tính độc đáo riêng biệt của âm nhạc dân gian mỗi tộc người. Đối với những người nghiên cứu cồng chiêng, đây thật là một dịp thú vị để tìm hiểu.

Cũng không thể không nói tới tình cảm mến khách tuyệt vời của người dân Plei Ku, bởi tôi và nhiều bạn bè đã được hướng dẫn tận tình khi gặp bất cứ trở ngại gì trên đường phố.

Vui là thế, buồn là gì bạn biết không? Xin hãy cùng tôi quay trở lại với đêm 12-11. Sau màn khai mạc dài dòng, hơn 50.000 người ngồi kín quảng trường 17-3 ở thành phố Plei Ku, lẫn triệu triệu khán giả màn ảnh nhỏ chờ đợi, tiếng ching chêng đã vang lên rộn rã. 3.000 diễn viên & nghệ nhân trên quảng trường cùng rùng rùng chuyển động.

Có thể nói Tổng đạo diễn phần âm nhạc : nhạc sỹ Nguyễn Cường đã thành công khi chọn lọc và sắp xếp hài hoà giữa âm nhạc cồng chiêng, dân ca các dân tộc Tây Nguyên và phần nhạc – hát mới (dẫu phần âm nhạc Êđê được dùng làm âm hưởng chủ đạo trong cả hai đêm khai mạc lẫn bế mạc và có tới vài ca khúc của tác giả). Và trên bốn tầng sân khấu là các tiết mục múa Tây Nguyên, do các sinh viên Trường Đại học VHNT Quân đội trình bày tạo được vẻ đẹp của hình thể trong những động tác múa Tây Nguyên.

Nhưng chiếm trọn vẹn quảng trường và thời lượng đến hơn 60’/90’ của chương trình là các nam nữ thanh niên người mang hoa, kẻ mang khiêl, trống, lần lượt xuất hiện hết màn trình diễn này đến màn trình diễn khác, không có chút gì là Tây Nguyên, trong cả động tác múa lẫn trang phục với đặc trưng là vài trăm bộ váy đầm kiểu dạ hội. (May mà Camera của Đài Truyền hình Việt Nam chỉ hướng cố định lên sân khấu, nên khán giả màn ảnh nhỏ không phải “ thưởng thức” màn trình diễn này), còn những khán giả tại chỗ chỉ thấy ngợp vì ấn tượng ở số người quá đông chính diện ngay trước mắt mà thôi.

May nữa là bày voi 11 con từ Đăk Lăk sang, chỉ có một “ chú” không quen với ánh sáng, tiếng động dữ dội ở nơi đông người, nên một mình quay lưng lại khi cả đàn quỳ xuống chào khán giả và không gây nên sự hỗn loạn đáng tiếc nào ( bởi voi chỉ cách người ngồi bên lề chừng 3m). May nữa là trong những phút cuối của chương trình, với tài nghệ và sự hồn nhiên của mình, giọng hát của ca sỹ Siu Black đã lôi cuốn được người xem khi xuất hiện trên chiếc xe ngựa và trên sân khấu với ca khúc “ Đôi mắt Plei Ku” sôi động, kéo theo hàng ngàn bạn trẻ vào vũ điệu xoang kết thúc.

Vậy nên sau đêm khai mạc, đông đảo khán giả tại chỗ vừa giải tán, vừa than phiền vì thiếu sự ra mắt cụ thể một cách trang trọng theo đúng thông lệ, của cả 40 dàn chiêng trong nước và 5 dàn chiêng ngoài nước ( chắc các đạo diễn định thử tài tiên đoán của khán giả qua trang phục và cờ tổ quốc chạy như đuổi bắt trên sân khấu). Cũng như suốt 90’ của chương trình không hề thấy được sự tôn vinh xứng đáng các “di sản của nhân loại” , khi đạo diễn chỉ cho các đoàn diễn tấu ching và múa hai bên lề quảng trường, sau đó cuối chương trình chạy qua sân khấu chính được một vòng rồi xuống ngay. (Điều này Ban Tổ chức “để dành” vào đêm bế mạc: tất cả các đoàn đều diễu hành qua khán đài để chào quan khách, tuy nhiên không phải bằng chính âm nhạc ching chêng của họ, mà trên nền nhạc chung của lễ hội).

Chúng tôi tiếc hùi hụi vì đã không được xem trình diễn tại lễ khai mạc; lịch biểu diễn xoay vòng lại chỉ có mỗi ngày một buổi, tại những địa điểm cách nhau đến cả chục cây số, nên dẫu muốn lắm cũng không có dịp xem được các đoàn nước ngoài khác như Inđonesia, CamPuChia hay Maiamy… biểu diễn.

Chưa hết, Lễ đâm trâu mừng chiến thắng của các nghệ nhân Bâhnar huyện K’Bang, chỉ là nhảy nhót tượng trưng, vì Bộ trưởng cho rằng “khách nước ngoài phản đối việc sát sinh trâu”. Trong khi đó lại chấp nhận việc giới thiệu công khai “tác giả kịch bản, đạo diễn” Lễ đâm trâu là những cán bộ người Kinh của Sở Văn hoá.

Yang ơi, du khách đâu đến nỗi không hiểu rằng đó là nghi lễ truyền thống trong tín ngưỡng “Vạn vật hữu linh” của Tây Nguyên. Đồng thời họ cũng hiểu như các nghệ nhân rằng “giả dối với các vị thần linh nào phải chuyện đùa”. Cảm ơn các vị viết lời dịch tiếng Bâhnar từng công đoạn, từng câu khấn cho du khách hiểu, nhưng cho dẫu có trân trọng việc đã công tác ở Tây Nguyên hàng chục năm, nhờ văn hoá Tây Nguyên mà có học vị Thạc sỹ hay Tiến sỹ đi nữa, thì làm sao các vị “đạo diễn” lễ cổ truyền của “người ta” được?

Dẫu vui buồn lẫn lộn vậy, cũng phải công nhận rằng: hơn 1.500 nghệ nhân cồng chiêng từ khắp đất nước Việt Nam và năm nước anh em Đông Nam Á, đã hoàn thành sứ mệnh gửi tới nhân loại thông điệp của hòa bình và sự đoàn kết các dân tộc, bằng những âm thanh tuyệt vời của một trong những “ Di sản văn hoá phi vật thể truyền khẩu”. Và những hoạt động khác như Hội chợ hàng Việt Nam chất lượng cao, Hội chợ Làng nghề thủ công truyền thống, Làng ẩm thực, Triển lãm tranh – ảnh nghệ thuật và ảnh về Anh hùng Núp, Trưng bày sinh vật cảnh, Trưng bày văn hoá truyền thống Tây Nguyên, trình diễn chỉnh chiêng, tác tượng, phục dựng một vài lễ hội cổ truyền…đã thật sự góp phần làm nên thành công của Festival Cồng chiêng Quốc tế 2009 này.

Mong những Festival sau sẽ được tổ chức đúng nghĩa hơn và cồng chiêng Tây Nguyên được tôn vinh một cách xứng đáng hơn.

Linh Nga Niê Kdăm

Hồi Ký của Y Ngông Niê Kdăm

Thấy quyển hồi ký của ba chị Linh Nga, bác Y Ngông Niê Kdăm, rất hữu ích cho chúng ta để hiểu biết thêm về đồng bào Tây Nguyên trong chiến tranh và cách mạng, đồng thời biết thêm về một chiến sĩ cách mạng và biết thêm về bạn quý Linh Nga của chúng ta, mình xin phép chị Linh Nga post lên Đọt Chuối Non. Ảnh trong hồi ký là ảnh minh họa của mình. Hy vọng mai mốt chị Linh Nga có thể cho chúng ta các bức ảnh liên hệ đến bác để chúng ta thay thế ảnh minh họa.

Cám ơn chị Linh Nga rất nhiều !

Hoành

.

    Ba tôi có hai lần viết hồi ký . Cuốn ” Khát vọng Tây Nguyên” do nữ nhà báo Diệu Ân ghi, Nhà xuất bản VHDT phát hành năm 1994, không được ông ưng ý lắm. nên Mẹ tôi, bà Bùi Thị Tân đã một lần nữa ghi lại. Đó chính là bản này , chân thật hơn.

      (Linh Nga Niê Kdăm)

.

Nguyên bản của Y NGÔNG NIÊ KDĂM

    “ Bạn ơi lắng nghe, nghe tiếng núi rừng
    Dòng suối xanh trong đất nước anh hùng
    Bền vững như non cao như dòng sông Ba”

Đó là câu mở đầu của một bài hát về Tây nguyên do nhạc sĩ Trần Quý sáng tác, nó có vẻ hư cấu, nhưng là một bài hát nổi tiếng ca ngợi quê hương Tây Nguyên tươi đẹp. Với những người Tây Nguyên như chúng tôi, khi nghe lời ca đó đều có một tình cảm rạo rực, xúc động trong lòng.Tôi rất thích và thường hay cất lên lời ca này, mỗi khi nhớ về Tây Nguyên.
BMT6
Tây nguyên bao la hồi xưa với rừng già còn lút mắt, thú rừng chim đẹp, nhiều vô kể. Ngay ven những con đường là rừng cây to hằng mấy người ôm. Rừng cây đã nuôi sống, che chở và bảo vệ cho các tộc người sống rải rác trên cao nguyên đất đỏ bazan mênh mông.

Thực dân Pháp sau khi bình định các tỉnh miền xuôi đã len lỏi tới rừng núi cao nguyên này. Chúng đã bị một số tù trưởng người dân tộc, như Săm Brăm, N’Trang Lơng, N’Trang Gưh, Ama Djao….liên kết chống trả ác liệt.Dù với đủ chính sách, cả cứng rắn, mềm dẻo đều có, nhưng hầu như chúng không thể nào khuất phục nổi lòng người Tây nguyên.

Mặc dầu họ rất nghèo vì còn hoàn toàn phụ thuộc vào đời sống tự nhiên, kỹ thuật canh tác quá thô sơ, hàng năm phải vài tháng đào củ rừng bổ xung cho bữa ăn, nhưng người Tây Nguyên vẫn sống rất thoải mái giữa núi rừng bao la hùng vĩ, đất rộng người thưa.

Mẹ đã sinh ra tôi trong bối cảnh đó, vào lúc gà gáy sáng ban mai ngày 13 – 08 – 1922 tại buôn Ea Sup, xã Kma Rang Prong – nay thuộc thị trấn Ea Pok, huyện Cư Mgar, tỉnh Đăk lăk. Thật ra người Êđê chỉ biết tính tuổi theo mùa rẫy, nhưng sau này đi học theo trường Pháp, họ gọi bố mẹ hỏi cặn kẽ, rồi tính ngược lại để lập giấy khai sinh cho chúng tôi.

Người Êđê chúng tôi ở Đăk lăk có 2 dòng họ lớn Niê và Mlô.Từ 2 dòng tộc chính này toả ra 24 nhánh họ. Niê kdăm đứng đầu dòng họ Niê, Mlô Duôn Du đứng đầu dòng họ Mlô. Mẹ tôi thuộc dòng họ Niê kdăm, một dòng họ từ xa xưa có nhiều tù trưởng giàu có, hùng mạnh( vì theo truyền thuyết thì khi lên khỏi mặt đất, các dòng tộc khác đã chia chác, lựa chọn hết những vật có sẵn, người trưởng họ Niê kdam giận dỗi đạp mạnh chân lên mặt đất, nói “ tất cả đất này là của Niê kdam”). Nhưng tới thời thuộc Pháp người Êđê nghèo dần. Sau Cách mạng Tháng 8, chế độ tù trưởng cũng đã không còn nữa. Tôi mang họ Niê kdăm của mẹ theo đúng luật tục mẫu hệ Êđê.

Mẹ đã sinh tôi trong cảnh đói nghèo, chỉ có 2 anh em trai: tôi và Y Wung . Bố đẻ tôi đã ốm chết ở buôn Dhăh sau chuyến đi phu ở đồn điền cafe Cư H”lâm của chủ Tây. Lúc đó tôi chưa biết gì. Sau này mẹ tôi đi bước nữa, sinh thêm được 4 em nhưng chết 2, chỉ còn 2 cô em gái là H’Reo và H’Droh ( hiện đang ở buôn Ea Sut, thị trấn Ea Pok, huyện Cư M”gar, tỉnh ĐL).Bố dượng tôi rất tốt, ông đã nuôi và dạy dỗ chúng tôi như người cha đẻ. Những năm hai anh em tôi đi học ở trường tiểu học Pháp- Đê , ngày nghỉ, dượng thường lên đón chúng tôi về buôn Sut.Y Wung nhỏ tuổi hơn, luôn được dượng cõng trên lưng.Còn tôi ỷ mình lớn, tự hào được chạy theo chân cha suốt dọc đường gần 20km từ trường về buôn. Có cả cha và em luôn bên cạnh, tôi đâu có sợ.

Gia đình tôi thường xuyên đói, năm nào cũng ăn củ rừng thay cơm. Có một lần khi mới 5 tuổi, mẹ đã cho tôi đi theo cùng với em trai địu sau lưng, vào rừng đào củ mài. Rễ củ ăn quá sâu, mẹ cứ đào mãi, đào mãi, mồ hôi vã ra như tắm. Vừa mệt vừa đói, mẹ tôi ngã chúi xuống hố.Hai anh em tôi cùng kêu khóc gọi mãi nhưng chẳng thấy mẹ nói gì. Tôi vô cùng sợ hãi, sức nhỏ yếu không kéo được mẹ lên, chỉ biết ôm chân mẹ mà khóc. Mãi sau có dân làng cũng đi rừng về nghe tiếng khóc mới chạy đến dìu mẹ lên và dắt chúng tôi về.

Những năm tháng đó thật khủng khiếp (1927), bọn Pháp vây ráp, dân đói khát, bệnh tật, không gạo, không muối, không có quần áo. Vì tù trưởng Ama Djao bất hợp tác với Pháp, nên bọn chúng chặn luôn cả đường buôn bán từ miền xuôi lên, nên càng thiếu muối ăn. Nhiều người già, trẻ em chết gục ngoài rừng. Tình hình Tây nguyên hết sức rối ren, cảnh đói cơm lạt muối, chết chóc thảm thương càng khắc sâu mối thù của người Tây nguyên với giặc Pháp.

Không chịu ngồi im để nhìn đồng bào chết dần chết mòn, một số tù trưởng đã tổ chức nhân dân nổi dậy chống lại chế độ hà khắc của giặc Pháp. Bọn Pháp truy quét gắt gao các tù trưởng để ngăn chặn làn sóng đấu tranh của nhân dân. Có thể nói năm 1929 là năm đói nhất. Thực dân Pháp càng tổ chức bắt bớ, nhân dân càng thấy rõ bộ mặt dã man của chúng, lại càng căm thù và cương quyết không chịu theo. Pháp đến, dân bỏ đi, chỉ cần trên vai có cái gùi, con dao và ít muối. Đối lại, thực dân Pháp dùng chính sách vừa đàn áp, vừa dụ dỗ. Để phô trương chính sách khai hoá văn minh của nhà nước bảo hộ, chúng mở ra tại Buôn Ma Thuột một trường nội trú dân tộc với tên là : “Groupe Scolaire Franco – Rhadé” – Trường tiểu học Pháp – Đê, do Legale làm hiệu trưởng. Học sinh do lính đi càn ở các buôn làng bắt về.

Khi đó tôi mới 7 tuổi, hôm ấy đang say sưa nô đùa với các bạn trong làng vào ngày lễ cúng Yang bến nước. Bên bờ suối mọi người đang đánh chiêng, uống rượu cần thì một trung đội lính khố xanh người dân tộc thiểu số do một tên Pháp dẫn đầu kéo tới. Chúng bảo chủ làng : Theo lệnh quan công sứ phải bắt trẻ con từ 6 – 7 tuổi về Buôn Ma Thuột đi học.

Nghe thấy vậy chúng tôi chạy toán loạn vào rừng, trèo lên các cây to, cây nhỏ trốn. Tôi và một số bạn trèo lên một cây cam to. Bọn lính ngồi uống rượu, bắt chủ làng khai tên bọn trẻ con 7 tuổi trong buôn và doạ :

– Ai không gọi con về thì cha mẹ sẽ bị bắt, khi nào nộp con mới được về.

Qua một đêm một ngày. Bọn lính lùng sục không tìm được ai, nhưng chúng tôi đói quá phải rủ nhau về nên bị bắt một loạt. Bố mẹ chúng tôi phải mang quần áo đưa con về Buôn Ma Thuột.Tôi và em trai Y Wung cũng ở trong số này.Suốt một năm đầu bố dượng tôi phải theo lên khu nội trú dắt chúng tôi đi học, vì chúng tôi bé quá, đi ăn cơm cũng chưa biết chỗ.Những năm sau tôi học được loại khá, nhưng do nhớ nhà nên hay trốn về. Chính quyền tỉnh bắt gíam dượng tôi 3 tháng, sau đó anh em tôi thương dượng quá mà không dám trốn về nữa. Học được mấy năm, lên lớp 4, 5 tôi luôn là học sinh giỏi.Vào các ngày chủ nhật được ra phố chơi, chúng tôi thường gặp các đoàn tù ở nhà đày Buôn Ma Thuột đi lao động quét đường, cắt cỏ. Họ mặc áo xanh có số đeo sau lưng, có lính khố xanh canh gác. Bọn chúng tôi thắc mắc lắm, về trường hỏi thầy giáo :

– Thầy ơi ! Các ông kia quét đường lại có lính gác, họ có tội gì đấy ?

Thầy giáo nói nhỏ :

– Đó là Cộng sản bị Pháp bắt tù đấy

– Vì sao họ bị tù ?

– Đó là những người yêu dân, yêu nước, chống lại bọn Pháp. Vì chúng nó bắt dân ta làm nô lệ, bắt đi xâu, làm cu li đồn điền trồng cao su, cafe cho chúng.

Tôi nghĩ trong đầu : “Bố mình cũng phải đi phu đồn điền, không mang gì về cho gia đình mà mẹ còn phải tiếp tế cho bố. Nó chơi ác cả với bố mình và gia đình mình rồi”

Dần dần thầy giáo bí mật giảng giải cho chúng tôi biết như thế nào là yêu nước. Tôi còn nhớ đó là các thầy Đào Tử Chí, thầy Phú…Năm tôi 15 tuổi, cả trường có chừng 600 học sinh, chúng cho học thì ít, bắt lao động thì nhiều. Sáng học, chiều nuôi bò, nuôi heo, chủ nhật đi vào rừng lấy củi. Thấy cuộc sống gò bó, căng thẳng, có một số học sinh rủ nhau trốn học nhưng bị bắt lại. Tôi rủ một số bạn học sinh lớn tuổi lên gặp thầy hiệu trưởng Legale xin ông cho giảm giờ lao động, tăng giờ học. Hiệu trưởng đồng ý, nhưng từ đó tôi bị nhà trường theo dõi.
BMT7
Khi học hết cấp I, tôi tốt nghiệp loại giỏi và được chọn đi học nội trú cấp II ở trường trung học Quy Nhơn cùng một số anh em khác như Y Nuê (sau này là giáo sư bác sỹ Ái Phương ), Y Tlam (sau này cũng là giáo sư y khoa ), Nay Phin ( sau là đại biểu quốc hội tỉnh Gia Lai ).Từ năm 1937 – 1940 tôi học ở đây cùng các bạn Tây nguyên và người Kinh. Vì còn ít tuổi lại cùng ở xa nhà nên chúng tôi rất dễ quen nhau, thương nhau không kể người Kinh, người dân tộc. Bạn thân của tôi lúc đó là anh Võ Đông Giang, người Kinh, ngồi cùng bàn ( sau này anh giữ chức bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong chính phủ ). Bọn Pháp không cho chúng tôi nói tiếng Kinh, không được mặc trang phục và học cách giao tiếp của người Kinh, không được yêu người Kinh. Không được học lịch sử dân tộc Việt Nam, chỉ được học lịch sử nước mẹ mẫu quốc. Tôi rất thắc mắc, tôi thấy người Kinh có nhiều cái hay cần phải học hỏi. Sao lại phải cấm ? Bọn học sinh chúng tôi vẫn bí mật học nói, học viết tiếng Kinh.

Lúc đó trong trường có một số thầy giáo và học sinh có tinh thần yêu nước. Các thầy thường giảng giải cho chúng tôi về lòng yêu nước, yêu đồng bào, yêu quê hương, căm thù bọn Phâp cướp nước. Nhờ đó tôi đã dần dần hiểu và biết mình chỉ là người dân nô lệ bị khinh miệt mà thôi. Tôi thấy thương đồng bào mình hơn. Nhưng cũng vì sự hiểu biết này mà tôi đã bị liệt vào loại học sinh bị theo dõi. Do đó tôi không được thi tốt nghiệp.Công sứ Pháp đã nói với tôi, giọng đe doạ :

– Mày học đòi người Kinh và tham gia chính trị, không được học nữa.

Continue reading Hồi Ký của Y Ngông Niê Kdăm

Liệu có thành công, một Làng bảo tồn văn hóa Tây Nguyên?

Công ty cao su Đăk lăk vừa tổ chức hội thảo khoa học về việc xây dựng Làng bảo tồn văn hóa các dân tộc Tây Nguyên. Đây là một trong những đơn vị Nhà nước ở khu vực, mà lãnh đạo thực sự có quan tâm tới vấn đề phát triển kinh tế và bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc bản địa, một cách thật sự có tâm huyết. Nói “ có Tâm” , bởi không hiếm những người, những cơ quan đóng chân trên mảnh đất đầy huyền thoại này, thích nói mà không phải thích làm, thậm chí trong thâm tâm còn định kiến về sự “ lạc hậu” của đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên nữa ( tôi đã từng nghe một vị lãnh đạo ở một địa phương Tây Nguyên kể về một cuộc hội ý bàn việc tổ chức chương trình văn hóa gì để đón khách, khi nghe đề xuất chương trình cồng chiêng, vị có quyền cao nhất đã gạt phắt đi, với lý do “ chán lắm ” (?), rồi sau đó họ chiêu đãi và mời một vài ca sỹ đến hát ngay trong bữa ăn).
vanhoataynguyen
Để nói về việc thấu hiểu sự khác nhau giữa hai nền văn minh lúa rẫy và lúa nước thì còn là câu chuyện dài dài. Nhưng xin quay lại đề xuất của DaRuCo về việc xây dựng làng văn hóa dân tộc Tây Nguyên, mà dự kiến sẽ có từ 6 tộc người trở lên ( trước tiên là Êđê, Mnông, Jrai, Sê Đăng, Bâhnar và Ca Tu) , cùng về đây sinh sống và bảo tồn văn hóa truyền thống một cách thật sự.

Đã từng là đơn vị độc lập đứng ra tổ chức Fétival cồng chiêng Tây Nguyên ( 2007), nên đây không phải là lần đầu tiên Công ty cao su đề cập đến vấn đề bảo tồn văn hóa các dân tộc bản địa. Ngay từ khi được nhận bàn giao rừng ở Buôn Đôn để xây dựng Khu du lịch, ông Tổng Giám đốc Công ty đã trao vào tay các cộng sự của mình nhiệm vụ chính thức, thông qua tên gọi là “ Du lịch Văn hóa sinh thái ”. Và tôi cũng đã vinh dự được mời tư vấn đầu tiên về những vấn đề cụ thể về văn hóa dân tộc trong mục tiêu xây dựng khu du lịch cũng như làng văn hóa thanh niên dự kiến thành lập ở đây ( đó là tiêu chí của năm 2006). Hồi đó, tôi đã mạnh dạn đặt tên cho ngôi làng trong tương lai này là “ Buôn Dhông Êman – Buôn Thung lũng Voi ” .

Gần như không một nơi nào, đơn vị nào có được lợi thế như Công ty Cao su Đăk lăk. Đặc biệt là về cảnh quan và lịch sử văn hóa. 1.200 ha rừng là một diện tích lý tưởng, đủ để có không gian tự nhiên, cho dù là tái hiện, một vùng Tây Nguyên ( mà nhà văn Nguyên Ngọc đã tóm tắt trong bốn loại rừng : rừng ở, rừng làm rẫy, rừng săn bắn hái lượm và rừng tang ma). Sau nữa, Khu du lịch này nằm trong một miền đất có bề dày lịch sử và văn hóa. Nơi đây là lãnh địa của nữ tù trưởng Êđê Yă Wam, mà với sự hào phóng của bà, Vua Voi Y Thu KhunZuNốp đã vinh danh nghề săn bắt và thuần dưỡng voi độc nhất ở Việt Nam. Nơi giao thoa nhưng không biến dạng bốn bản sắc văn hóa tộc người : tiếng ching knăh vang xa mạnh mẽ của Êđê, vòng xoang Arap Jrai rạo rực và cuốn hút, những bản trường ca Mnông Ot n’trong có thể kể “ suốt ngày dài và đêm thâu ”, điệu Lăm thôn và câu hát “ Hoa Chăm pa” quyến rũ của các cô gái Lào; người dân ở đây giao tiếp với nhau bằng cả bốn ngôn ngữ ấy lẫn tiếng Kinh, tiếng Tày…
lehoicotu
May mắn được từng qua những khu du lịch của hầu hết các vùng trên mảnh đất hình chữ S và một vài nước trong khu vực, tôi có thể khẳng định thế mạnh ấy của Daruco. Kể ngay như : vườn văn hóa Noong Nút ở Thái Lan, nếu chính phủ cấp thêm, mới có được 200 ha đất. Vườn thú của hãng bia Tiger tại Thái cũng vậy, núi non, đá, suối…đều đa phần phải xây, đắp, thậm chí bằng xi măng…Ngay cả thác Prem, thác Dam Bri…ở Lâm Đồng, cũng là do con người tạo dựng…

Hội thảo khoa học lần này, với sự đồng thuận của rất nhiều nhà khoa học các ngành văn hóa, du lịch, môi trường, thổ nhưỡng… chỉ là bước đi khởi động chính thức đầu tiên của DaRuCo. Bởi sẽ còn phải có những trình tự tiếp theo về việc quy hoạch đất đai, lập dự toán kinh phí, xây dựng các công trình hạ tầng song song với khảo sát , lựa chọn các nhóm tộc người theo tiêu chí, vận động quần chúng, xây dựng “ kịch bản” lối sống, sinh hoạt tại Làng …Nói nôm na là nhiều việc, nhiều thời gian và chắc chắn là nhiều vô kể kinh phí. Liệu rồi có thất bại như với khu bảo tồn tồn Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô ( chỉ gồm toàn khách sạn, sân gôn..) không? Đó chính là nỗi lo của hầu hết các nhà khoa học hồ hởi tham gia Hội thảo này.

Tôi, cũng chung nỗi phấp phỏng ấy, khi nhỡn tiền là Công ty đã phải thay tới ba đời giám đốc phụ trách khu du lịch ( kể cả người nước ngoài), công trình vườn chơi thiếu nhi đang rỉ sét và khu Spa mái tranh đã mục nát mà kiến thiết vẫn dở dang, tiêu tốn bộn tiền không mang lại hiệu quả kinh tế; kết cục 4 năm rồi vẫn chưa đi tới được mục tiêu mong muốn.Và liệu tâm huyết của Tổng Giám đốc sẽ được thực thi đến đâu, khi ông bàn giao cho người kế nhiệm? Bởi đâu phải ai cũng hiểu, cũng nặng lòng với văn hóa Tây Nguyên như ông? Cần lắm, một người trực tiếp điều hành vừa có tâm vừa có hiểu biết về văn hóa bản địa , đó là còn chưa kể tới nghiệp vụ du lịch & kinh doanh. Vậy nên có ý kiến đề xuất trong hội thảo rằng “ phải có những chuyên gia tư vấn về lĩnh vực văn hóa, du lịch…trong hội đồng xây dựng dự án này. Không chỉ là ràng buộc trách nhiệm, mà còn để đảm bảo mục tiêu không bị chệch hướng”. Điều ấy là chưa có tiền lệ với các đơn vị kinh doanh.

Sau nữa, tôi buồn, sao lại phải “ vận động” nhỉ, người Tây Nguyên mình ơi ? Ta có bao nhiêu điều quý giá ông bà để lại, sao cứ phải có người giúp mới gìn giữ được thế? Các trí thức Tây Nguyên nghĩ gì về việc này?

Chẳng phải một bài báo, như một tâm sự mong được sẻ chia vậy thôi. Không biết có ai là người đồng cảm?

Linh Nga Niê Kdăm

Bảo tồn di sản văn hóa – Thổ cẩm tây nguyên

Trang phục thổ cẩm là nét đẹp văn hóa vật thể ở mỗi vùng, mỗi dân tộc. Trong cộng đồng các dân tộc Việt nam thổ cẩm không chỉ có mặt trong đời sống hàng ngày, trong sản xuất, làm vật mua bán đổi chác của phương thức sản xuất tự cung, tự cấp, mà bao giờ cũng có mặt trong các lễ cưới hỏi, lễ hội.
ThocamTN1
Không chỉ làm đẹp, mà còn chứng tỏ bàn tay tài hoa, chăm chỉ của những người phụ nữ. Thổ cẩm phía Bắc rực rỡ sắc màu, tạo nên sự ấm áp trong cái lạnh khắc nghiệt của vùng núi cao. Thổ cẩm Tây Nguyên lấy màu nền đen, chàm, trắng làm chủ đạo nhưng dựng mảng hoa văn nhàn nhạt hơn, có lẽ để cho phù hợp với cái nắng gay gắt của cao nguyên miền Tây Trường Sơn chăng?

Lâu nay xem trên phim ảnh, truyện tranh chúng ta thường thấy bà con các dân tộc phía Bắc cho đến nay vẫn giữ được bộ trang phục thổ cẩm trong cuộc sống hàng ngày. Điều này khiến tôi khâm phục lắm, và rất muốn tìm hiểu xem làm sao họ làm được điều ấy. Tôi quyết tâm đi Sa Pa xem chợ tình, cũng để mong giải đáp được điều mình thắc mắc bấy lâu nay. Rồi thì cũng hiểu, cũng biết, nhưng sự nhận ra này không khỏi mang chút ngậm ngùi. Nét độc đáo của thổ cẩm phía Bắc xin không nói nữa, mà chỉ để cập tới việc vì sao nó vẫn tồn tại được trong cộng đồng mà thôi.

Tôi có hỏi chuyện những người phụ nữ HMông Lềnh bàn tay đậm màu chàm thoăn thoắt không thôi se những sợi lanh, hỏi các bà mẹ vắt trên tay những bộ váy áo, mũ thổ cẩm chào mời bán cho khách du lịch. Hỏi những người đàn ông Dao gùi chiếc quẩy tấu to gần bằng người, cõng hơn 10kg gạo nếp, đi một ngày đường xuống chợ bán, chỉ để mua một nửa gùi muối, rẻ hơn ở trên bản chừng 3.000đ. Cũng đã lân la trò chuyện cùng các chàng trai ôm catssett tìm bạn trong đêm chợ tình, cả những cô gái Xá Phó đi chợ chỉ để xem người ta hát karaoke…vv… và ngộ ra rằng : Việc mặc trang phục dân tộc, ngoài thói quen của cả cộng đồng, còn chỉ là vì nghèo quá đấy thôi.

Vâng, đó là sự thật mà! Bởi tôi đã đứng khá lâu xem một chàng trai Mông mặc cả chiếc áo vải kate khá mỏng, chỉ 25.000 đ, mà nhấc lên, hạ xuống mãi không dám mua. Đồng tiền kiếm ra đâu có dễ ở một vùng cạn kiệt cả tài nguyên lẫn tiềm năng của đất ấy. Trong Khi trang phục thổ cẩm không phải mất tiền mua, chỉ nhờ vào sự cần cù, khéo léo quanh năm suốt tháng của bàn tay những người phụ nữ mà thôi.

Xin trở lại với thổ cẩm Tây Nguyên.Tuy không rực rỡ sắc màu như hoa văn thổ cẩm của các dân tộc phía Bắc, nhưng thổ cẩm Tây Nguyên cũng gây ấn tượng không kém. Với những đường nét hoa văn đan cài rất cũng đa dạng. Ở nhiều vùng sâu, vùng xa như tại các huyện miền núi của tỉnh Bình Định, nhiều vùng ở Kon Tum… phụ nữ vẫn mặc chiếc váy làm từ bông tự trồng, tự se và dệt. Tôi còn gặp các em gái Sê đăng ở huyện Ngọc Hồi, Kon Tum, mặc váy vải kate dệt theo kiểu hoa văn Tây Nguyên, rất mỏng mát, rất đẹp.
thocamTN2
Nhưng thực chất thổ cẩm truyền thống Tây Nguyên đang mất dần chỗ đứng trong chính cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên. May ra chỉ còn trong các dịp lễ hội (mà cũng rất ít được tổ chức ở chính buôn làng), hoặc còn chăng nữa là tấm vải cõng con của những người phụ nữ mà thôi. Mà tấm vải này cũng chẳng còn dạng hoa văn nào nữa, chỉ còn là những đường chỉ dọc màu khác mà thôi. Nguyên nhân? Dệt một tấm vải bằng khung cổ truyền chỉ tạo ra được vải khổ nhỏ (0,80cm), đủ may thành váy áo rất công phu và mất rất nhiều thời gian, mà vải nội địa ở phía Nam lại rất rẻ, mỏng và mát. Trong khi khí hậu ngày một nóng hơn, trang phục dân tộc, dù bằng bông tự se hay bằng chỉ mua ở chợ về, thì cũng rất dày, không còn phù hợpvới điều kiện lao động sản xuất và sinh hoạt hiện tại. Thổ cẩm trong đời thường lại còn phải phù hợp với thị hiếu và túi tiền của người dân… vv…và… vv… Còn hàng ngàn lý do rất chính đáng để bóng dáng những tấm vải mang hoa văn hình mặt trời, cánh chim…lùi dần vào cổ tích.

Việc truyền dạy nghề dệt cho thế hệ trẻ Tây Nguyên là điều cần thiết, bởi nó không chỉ làm sống lại một trong những nghề thủ công truyền thống phổ biến trên khắp khu vực, mà còn góp phần bảo tồn một trong những di sản văn hoá vật thể độc đáo của cộng đồng các dân tộc thiểu số vùng Trường Sơn – Tây Nguyên, một nét đặc trưng không thể thiếu của không gian văn hoá cồng chiêng, nay đã trở nên “ di sản văn hoá của nhân loại”. Nhưng để nghề dệt thủ công thực sự tồn tại và phát triển, lại là điều cần bàn. Nếu không chúng ta sẽ chỉ tốn kém kinh phí dạy, mà vẫn không duy trì được sự sống thật sự của nghề.

Muốn duy trì và phát triển nghề dệt truyền thống, nên chăng không chỉ chú trọng việc dạy nghề bằng phương pháp thủ công, mà còn phải kết hợp song song giữa thủ công và công nghiệp, chú trọng tới việc tìm ra nguồn nguyên liệu mới, cải tiến mẫu mã, cải tiến khung dệt thủ công cho khổ vải rộng hơn, tốc độ dệt nhanh hơn, xử dụng chỉ nguyên liệu mỏng, cho thành phẩm mềm, mịn hơn… thì mới mong thổ cẩm trở lại được với đời sống buôn làng… Việc kết hợp nghề dệt truyền thống với nghề may sẽ tạo ra những mặt hàng mỹ nghệ, vật lưu niệm dùng chất liệu thổ cẩm cũng quan trọng không kém, sẽ có thể trở thành hàng hoá, tham gia vào thị trường, đặc biệt là thị trường du lịch đang ngày một mở rộng ở Tây Nguyên…

Để thổ cẩm Tây Nguyên thực sự trở lại được đời sống buôn làng, trước tiên, như đã nói ở trên, giá cả cần phải phù hợp với túi tiền của bà con người dân tộc có thể có. Nguyên liệu cũng phải thay đổi để tạo độ mềm, mỏng, phù hợp với cuộc sống đời thường. Chúng ta thử tìm hiểu qua một số “ hiện tượng” tương tự :

Gần nhất :
thocamTN3
– Hiện ở một số buôn làng, bà con còn lưu giữ được một số bộ trang phục cổ truyền, dệt từ thời Pháp, bằng chỉ tốt, có độ mỏng, mềm và mặt vải rất mịn

– Trong một số cuộc thi Hoa hậu, Người đẹp Tây Nguyên mấy năm gần đây,nhiều cô gái đã lọt được vào vòng trong bởi rất đẹp trong cả trang phục nguyên gốc lẫn cải tiến trên chất liệu vải thổ cẩm, đặc biệt là những bộ cải tiến, mẫu mã rất đa dạng, phù hợp với thời trang hiện đại.

– Xa hơn một chút :

Thổ cẩm Chăm với cả khung dệt thủ công và công nghiệp, bằng các nguyên liệu chỉ cao cấp, đã có tới 36 mặt hàng bán đi khắp thế giới và trong nước. Giới trẻ các thành phố lớn cũng rất ưa chuộng một số vật dụng từ thổ cẩm ( balô, ví cầm tay, móc chìa khóa, áo…).

Tháng 10/09, tôi có một cuộc “ dạo chơi ” với văn hóa K’Ho, để có thêm chuyện kể với các bạn . Rằng nghề dệt truyền thống của người Chil, người K’Ho ở đây, vẫn có bốn buôn ở xã Đạ Đờn (Huyện Lâm hà, tỉnh Lâm Đồng) “ túc tắc” giữ nghề, bởi đến mùa cưới, người K’Ho cả tỉnh đổ về đây mua thổ cẩm (mỗi đám cưới nhà gái phải nộp cho nhà trai từ 20-30 tấm thổ cẩm). Tuyệt thật đấy! Đó còn là hai địa chỉ sản xuất và kinh doanh nghề dệt huyện Lâm Hà và huyện Lăk (Đăk Lăk).

Công ty Vân Nguyễn ở xã Đạ Đờn (Lâm Hà , Lâm Đồng) có một cách làm “không giống ai” : các chị em người Chil, K’Ho được học lại nghề dệt truyền thống, rồi trên nền những tấm thổ cẩm được cải tiến nhiều sắc màu ấy, chị Vy Vân đã bổ sung thành những bức tranh sơn mài, tranh thêu, đồng hồ treo tường mang tính nghệ thuật cao. Tôi rất thích những bức tranh thổ cẩm ở cơ sở Vân Nguyễn, nhưng chắc chắn sẽ không bao giờ dám mua vì toàn tranh lớn và quá đắt. Tất nhiên, nghệ thuật “ thứ thiệt” thì phải vậy thôi.

Làng dệt thổ cẩm ở xã Krông Nô, huyện Lăk là một cơ sở rất bề thế, có nhà trưng bày và bán sản phẩm, có xưởng chết tác, có khu nội trú cho nữ công nhân người Mnông, chủ là một doanh nhân Việt Kiều Mỹ. Chắc chắn thổ cẩm làm ra không chỉ bán ở đây, ở cái nơi tận cùng của tỉnh Đăk lakk này, vì giữa rừng núi, cận kề các bon làng, người ta không dại gì đầu tư mà không có lãi. Điều khiến tôi băn khoăn là ở chỗ khác : các thiếu nữ Mnông tại đây, đã được đưa sang tận Di Linh học nghề dệt. Nhưng là học nghề dệt truyền thống của…người Chăm. Sản phẩm thổ cẩm Chăm hàng ngày các em làm ra rất đẹp, kể cả chất liệu vải lẫn màu sắc. Nhưng sản phẩm thổ cẩm truyền thống Mnông thì dẫu hoa văn có rất độc đáo và khác lạ, nhưng nguyên liệu lẫn màu sắc sản phẩm thì không “ bắt mắt ” chút nào. Du khách nếu có ghé lại, chắc chắn sẽ mua các sản phẩm từ thổ cẩm Chăm chứ không phải thổ cẩm Mnông.
thocamTN4
– Xa hơn nữa :

Công nghiệp dệt của Ấn độ đã góp phần duy trì bộ Sari truyền thống của phụ nữ, bởi chất lượng, các màu sắc đa dạng của loại vải dùng cho loại trang phục này. Ở Lào và Thái Lan cũng vậy.Chính ngành dệt may công nghiệp đã góp phần gìn giữ đặc trưng văn hoá mặc ở các nước này.( Bà con các dân tộc Tây Nguyên lâu nay vẫn rất thích sắm cho con gái chiếc váy Thái Lan hoặc vát Lào. Bản thân tôi thuở nhỏ cũng có được nhận một chiếc váy Lào, là vật kỷ niệm của bà nội dành cho đứa cháu gái đầu tiên ).

Như thế có nghĩa là : nếu muốn duy trì và phát triển nghề dệt thủ công truyền thống, thì không nên chỉ chú trọng đến việc dạy nghề bằng phương pháp dệt thủ công, mà phải kết hợp song song giữa thủ công với công nghiệp, chú trọng tới việc tìm và tạo ra những nguồn nguyên liệu mới, cải tiến mẫu mã… Việc tạo ra những mặt hàng từ nguyên liệu thổ cẩm cũng quan trọng không kém, để có thể trở thành những mặt hàng có giá trị kinh tế cao, tham gia vào thị trường, đặc biệt là thị trường du lịch đang mỗi ngày một đa dạng hơn, như cách làm của Vân Nguyễn.

Thổ cẩm nguyên gốc chỉ kén khách du lịch ưa tìm của lạ, không còn hợp với điều kiện lao động sản xuất và sinh hoạt hiện tại, lại còn rất cần vừa với tuí tiền và thị hiếu của lớp trẻ trong cộng đồng dân cư. Điều cuối cùng là nghề dệt phaỉ đi đôi với nghề may, nếu không cũng lại tốn tiền vô ích.

Sao cho những tấm váy, áo thổ cẩm rực rỡ sắc màu lễ hội, còn đó trong hiện tại, góp phần không nhỏ cho việc gìn giữ bản sắc văn hóa vật thể và không gian văn hoá cồng chiêng của đồng bào các dân tộc Tây nguyên.

Nhìn từ trang phục trong các liên hoan nghệ thuật dân gian

Đã từ lâu, thổ cẩm và trang phục các dân tộc thiểu số miền núi là một trong những nét đặc trưng của văn hoá của mỗi tộc người. Đến chợ Sa Pa, hay chợ Bắc Hà ở phía Bắc, người ta dễ nhận ra những cô gái Dao với chiếc mũ đỏ chói làm hồng thêm gương mặt, bước chân xúng sính của những thiếu nữ H’Mông trong chiếc váy xếp hàng mấy chục nếp gấp.Chị em người Thái óng ả trong tấm áo chẽn, hàng cúc bạc & chiếc váy đen kín gót. Bàn tay khéo léo của các nàng Xá Phó thêu hàng trăm ngôi sao trắng trên tấm váy áo đen xen chỉ đỏ… Đi về phương Nam các cô gái Chăm, Khơ mer lại phô vẻ duyên dáng qua đủ kiểu những tấm khăn choàng vai mềm mại.

Lấy nền đen, bằng tất cả những nguyên vật liệu của rừng đại ngàn Trường Sơn, phụ nữ Tây nguyên cũng tạo nên cho mình những bộ trang phục mang vẻ đẹp rất riêng của núi rừng. Hình tượng cuộc sống và môi trường xung quanh được dệt hết lên những tấm váy áo. Đơn sơ như trang phục nữ Jrai, lại khoe tài trên mảnh hoa văn nơi cặp mông đánh đưa uyển chuyển trong mỗi bước đi hay dáng múa. Những cô gái Bâhnar thả cho hai tay áo hững hỡ đính trên vai để khoe bắp tay trần tròn lẳn. Hay bộ váy ngắn ngang bắp chân, áo cộc tay khoẻ khoắn của những thiếu nữ Mnông, Bih chẳng khác gì thời trang hiện đại. Phụ nữ Êđê dường như kín đáo hơn trong áo cổ thuyền dài tay,váy trùm kín gót chân nhưng lại chỉ khép hờ nơi vạt trước, khiến mỗi bước đi rất cần khép nép. Tấm váy chỉ đủ cao che ngang bầu ngực của các thiếu nữ Ca Tu thật quyến rũ. Đặc biệt chiếc áo nam của tù trưởng Êđê với hai màu đỏ đen và những chiếc nút vàng thật rực rõ và oai vệ… Chỉ những bộ váy áo nguyên gốc đó thôi, cũng đủ là những mẫu thời trang lạ và không kém phần độc đáo, tôn vẻ khoẻ đẹp và duyên dáng của người miền núi.
thocamTN7
Chợt nhớ :

– Một vài năm sau ngày đất nước thống nhất, phụ nữ các dân tộc thiểu số Tây nguyên vẫn giữ cách mặc váy đen dài cùng với áo thường phục các loại (kể cả nơi công sở & trường học). Phụ nữ Thái- H’Mông vẫn mặc thường ngày những bộ váy áo của dân tộc mình

– Trong “Liên hoan Văn hoá cồng chiêng & đua voi Tây Nguyên lần thứ I-1993” tại Buôn Ma Thuột Ban tổ chức quy định : các dân tộc phải mặc đúng trang phục truyền thống nguyên gốc của mình. Đa số nghệ nhân các tỉnh đều thực hiện nghiêm túc.Chỉ có hai đoàn phải có lời “trần tình”, đó là đoàn các nghệ nhân tộc người Rak glây (Khánh Hoà), vì cho đến cả những người già nhất của các làng, cũng không nhớ nổi trang phục nguyên gốc của mình là gì? Và đoàn nghệ nhân dân tộc Brâu ( Kon Tum), trang phục là những chiếc bao tải đựng gạo loại 50kg, khoét cổ & hai tay cộc, bởi trước khi lên đường “lửa ăn” hết cả buôn.

– Liên hoan cồng chiêng tỉnh Gia Lai năm 1996, hơn 500 nghệ nhân là hơn 500 bộ trang phục gần như nguyên gốc (kể cả những dân tộc phía Bắc có mặt trong liên hoan). Như một rừng hoa đẹp sáng bừng phố núi Plei ku.

Vậy mà tiếc thay, vài năm gần đây, mặc dù nghề dệt thổ cẩm ở Tây nguyên chưa bị mất hẳn, thậm chí ở một số vùng còn có thể phát triển (đặc biệt là thổ cẩm Chăm) qua những HTX dệt thổ cẩm, nhưng càng ngày những bộ trang phục nguyên gốc càng bị biến dạng và mất dần vẻ đẹp độc đáo của chính “ nó”. Như:
thocamTN6
– Trong liên hoan “Dân ca –Dân vũ lần thứ II- 2004,Buôn ma Thuột”, đoàn nghệ nhân Đăk Nông hầu như không còn bộ trang phục nguyên gốc nào. Đoàn Đăk lăk cũng chỉ đạt tỷ lệ một nửa .

– Trong “Liên hoan Văn hoá cồng chiêng các dân tộc Trường Sơn – Tây nguyên” ở Lâm Đồng 7- 2002 và Đăk Lăk 12-2004, tỷ lệ các trang phục nguyên gốc cũng chỉ chiếm 30%. Thậm chí đoàn nghệ nhân của huyện Lâm Hà ( Lâm Đồng) xử dụng hoà toàn trang phục “ cải biên” như diễn viên đoàn ca múa chuyên nghiệp.

– Liên hoan nghệ thuật dân tộc & dệt thổ cẩm tỉnh Đak lăk, giao lưu các thôn buôn văn hoá thành phố BMT (trong khuôn khổ những hoạt động mừng kỷ niệm BMT 100 năm hình thành – phát triển & 30 năm ngày giải phóng), tình hình trang phục dân tộc “ cải tiến” cũng chiếm đa số.

Điều này thật làm buồn lòng không chỉ các ama, ami cao tuổi của buôn làng, mà còn cả trong tâm trạng những người yêu quý & thực tâm mong muốn gìn giữ văn hoá truyền thống của Tây nguyên.

Có ba trạng thái biến dạng của trang phục cổ truyền các dân tộc Tây nguyên :

– Một là: may đại trà (nhất là cho học sinh các trường nội trú dân tộc) theo kiểu trang phục của các đoàn nghệ thuật – Nghĩa là vải đen và một số đường kẻ ngang, phổ biến là vàng & đỏ. Váy áo cho nữ và áo ghile cho nam. Một số các đội văn nghệ quần chúng ở các buôn làng cũng may theo hình thức này, có khác chăng là đính thêm những hạt kim sa tạo sự lóng lánh cho trang phục biểu diễn. (Thậm chí chiếc áo dài đen của các cô gái Tày cũng viền kim sa quanh kín vạt).

– Hai là : váy thổ cẩm nhưng mặc áo thường. Nam thì ngược lại, áo thổ cẩm nhưng quần âu phục (đây hình như là cách mặc phổ biến nhất trong những ngày lễ hội)

– Ba là : vẫn là tấm vải thổ cẩm dệt từ tay các phụ nữ của buôn làng, hoặc thổ cẩm dệt máy công nghiệp, nhưng không còn hoa văn chỉ có những đường kẻ ngang và được may theo thời trang hiện đại ( cúp, đầm dây, xường sám, ghile…) váy áo nữ đính kèm đủ kiểu những đăng ten, ren các màu. Đây cũng chính là trang phục của đa số các nghệ nhân từ già đến trẻ tham dự những liên hoan nghệ thuật dân gian Tây nguyên gần đây.

thocamTN8 Chúng tôi không có ý định phản đối lớp trẻ hiện nay cải tiến trang phục thổ cẩm. Nếu xử dụng trong sinh hoạt ngày thường, hoặc một ngày lễ chung nào đó, thì thổ cẩm được may theo thời trang mới sẽ là một hình ảnh rất đẹp. Cải tiến để có thể mặc được, mặc đẹp trong đời thường bằng thổ cẩm, càng là việc nên làm. Ví dụ như Á hậu Người đẹp Tây nguyên 2004 H’Wion Knul đã xuất hiện rất ấn tượng ở Tuần Châu trong vòng chung kết Hoa hậu Việt nam, với chiếc đầm dây may từ vải thổ cẩm do chính cô tự thiết kế. Hay vẻ đẹp trong trang phục thổ cẩm của cô gái Êđê Á hậu cuộc thi “Người đẹp dân tộc” ở Đà Lạt 2006. Hoặc kiểu áo ghile dành cho nam giới, rất tiện và lịch sự. Chỉ tiếc rằng chưa có ai quan tâm thật sự đến việc này, để các chị em tự cải biên một cách rất thiếu thẩm mỹ . Đã chẳng “ mốt” hơn ,lại còn dường như làm mất đi vẻ đẹp vốn có của trang phục truyền thống đích thực.

Trang phục truyền thống là vẻ đẹp riêng của mỗi một tộc người, không nên để bị mai một, hoặc bị cải biên một cách sai lệch, mà chẳng hề làm cho nó đẹp lên hơn. Cách bảo tồn và phát triển nghề dệt truyền thống tốt nhất là làm sao để nó tồn tại thực sự trong chính cộng đồng của mình. Làm sao để từ những chiếc khăn cõng con, tấm chăn đắp hàng ngày, nhất là bộ trang phục nguyên gốc, mỗi thành viên trong một gia đình đều nên có. Chỉ cần tìm kiếm một loại chỉ làm cho mặt vải mỏng hơn, may cách nào cho dễ mặc hơn. Sau nữa mới là những bộ cải tiến cho dễ mặc và hợp thời trang hơn của giới trẻ.

Với công tác văn hoá ở các vùng dân tộc, nên chăng cần có các quy định rõ ràng trong các cuộc liên hoan nghệ thuật dân gian, về trang phục nguyên gốc. Nếu có cải tiến chỉ xuất hiện trong những liên hoan nghệ thuật quần chúng & thi trang phục, có phần trình diễn trang phục tự chọn & cải tiến . Cũng nên có giải thưởng đặc biệt cho những bộ trang phục đẹp, hợp thời trang, cải tiến từ chất liệu thổ cẩm Tây nguyên.

Mong sao cho như tà áo dài của phụ nữ Việt Nam, cải tiến theo Đông, Tây thế nào, cũng vẫn giữ được dáng vẻ thuần Việt. Trang phục dân tộc nguyên gốc chắc chắn là những bông hoa làm đẹp thêm cho vườn văn hóa Việt nói chung và Tây Nguyên nói riêng.

Linh Nga Niê Kdăm

Con đường đã chọn

Cha mẹ Y Blum vốn là nô lệ của tù trưởng Âe Thuột, bị bệnh khó chữa nên sớm theo nhau đi về bến nước ông bà .Sống nhờ những người nô lệ khác, ai kêu làm việc gì thì làm,đương nhiên Y Blum thuộc quyền sở hữu của Ama Thuột, vì ăn cơm trong nhà người buôn ông , ở trong đất của buôn ông chứ sao nữa.Y Blum Không giống với một số bạn như Y Ngôn, Y Za, Y Wu,Y Tla …bị ngưòi Pháp cưõng bức, bắt đi học tập trung ở trưòng tiểu học Pháp – Đê từ năm mới bảy tuổi.Mấy người đó đã có vài lần trốn về,bị Pháp bắt nhốt cha mẹ , nên phải trở lại học tiếp.Tù trưởng Ama Thuột thấy mặt mũi sáng sủa, lanh lẹn, nên gửi luôn cả Y Blum, cùng với mấy đứa nhỏ khác cháu ông, cùng ở trong buôn, tới trường Pháp – Đê để học chữ.
bmt1
Lớn hơn một chút so với bạn bè đồng niên,biết thân phận mình chỉ là đứa không cha mẹ, học ké, nên những ngày theo học trong trường, Y Blum tuy vẫn thèm thuồng,lặng lẽ theo dõi những cuộc chơi của các bạn, nhưng ít khi nào dám hoà chung.Ngày nghỉ, mấy trò không có gia đình ở thị xã kéo nhau về chơi với đám con cháu nhà Ama Thuột, trèo hái cam trong rừng , tát cá, bẫy chim,tắm suối Ea Siăr…cũng có kêu cùng đi, nhưng trong đầu YBlum vẫn hiểu rất rõ mình chỉ là đứa trẻ mồ côi mồ cút, như con chồn non lạc mẹ thôi. Thày giáo Y Jút có nhắc lắm, mới dám tham gia một vài cuộc chơi ở trường, nhưng cũng không nói năng gì.Một lần cả lớp đi dã ngoại, thấy có rất nhiều những người đầu cạo trọc, mặc áo quần sọc như nhau,đang quét đường.Về tới trường, Y Blum nghe Y Ngôn và các bạn xúm lại nhao nhao hỏi thày Y Yut :

– Họ là ai vậy thầy giáo ?

Thày Y Jút nói :

– Đó là những người cộng sản, bị Pháp nhốt tù ở nhà đày Buôn Ma Thuột.

– Vì sao họ lại bị tù hả thày giáo ?

– Vì họ chống lại người Pháp, đòi người Pháp trả lại nước An nam cho người An nam. Người Pháp không muốn vậy, nên đày họ từ miền xuôi lên đây.

– Sao gọi họ là cộng sản ?

– Vì trên thế giới cũng đang có những người cộng sản đấu tranh đòi quyền lọi cho người nghèo giống như họ, nên người Pháp gọi họ như vậy.

– Vậy họ đòi quyền cho người Joăn thôi à? Có đòi cái gì cho người Êđê mình không ?

– Bây giờ thì chưa biết,nhưng nếu chúng ta đi theo họ, chắc chắn họ cũng sẽ đấu tranh với người Pháp đòi quyền lợi cho người Êđê chúng ta chứ .

Y Blum nghe thày giáo nói thì biết vậy, nhưng cũng không dám hùa theo các bạn để hỏi thêm chuyện của thày Y Jút.

Rồi bữa thày Y Jút vận động cả hàng trăm người dân thị xã Buôn Ma Thuột tập trung ở toà nhà công sứ , đưa kiến nghị đòi đổi công sứ Sa-Ba-Chie vì ông này ác quá , Y Blum cũng không chạy theo các bạn đi xem. Anh rất sợ bị người Pháp đuổi ra khỏi trường, sợ ông Ama Thuột bực mình vì chuyện gì đó mà không cho đi học nữa.

Năm tốt nghiệp tiểu học Pháp – Đê , các bạn khác cùng lớp xin đi học trường y sỹ Đông Dương, hoặc sư phạm hết. Riêng Y Blum đăng lính khố xanh. Có chút văn hoá, biết tiếng Pháp nên có vẻ nhanh nhẹn hơn ,Y Blum nổi bật lên trong đám lính người Êđê cùng đi một lần,lại là người do tù trưởng Ama Thuột đỡ đầu, nên được cử ngay giữ chức cai đội.Ama Thuột hài lòng lắm. Một hôm ông gọi Y Blum về buôn, hỏi thăm nhiều chuyện không có đầu có đuôi, rồi nói :

-Tui rất mừng thấy mày được người ta tin cậy. Tui muốn mày lấy vợ cho có người dệt áo, nấu cơm, gùi củi , cho thành cái nhà có nóc, có cây cột cái. Mày có ưng không ?

Nãy giờ từ lúc vô nhà vẫn ngồi khoanh chân, hai tay đặt trên đùi yên lặng lắng nghe Ama Thuột nói, bây giờ Y Blum mới mở lời :

– Tui từ nhỏ sống trong buôn của khua (*), ăn cơm nhà khua, uống nước bến khua làm chủ . Được khua thương cho đi học biết cái chữ, nay lại muốn cho có mái nhà trên đầu, có người đàn bà của mình mỗi đêm trên chiếu. Ý tốt của khua sao tui không nghe được kia chớ.
bmt2
Vậy là lễ cưới của Y Blum và H’Nuai ,con gái một người nô lệ khác của Ama Thuột đã được chuẩn bị nhanh chóng.Người mối mang vòng đến gặp gia đình H’Nuai hỏi :

– Nếu theo tục lệ , H’Nuai cưới chồng kpi ung mố đều do nhà gái đứng ra chi phí,phải lần lượt qua bốn lễ . Đầu tiên là lễ hỏi, tiếp theo sẽ là lễ thoả thuận đồ dẫn cưới, nhà trai có quyền được đòi hỏi. Sau đó là lễ gọi chồng iêo ung và rước rể về nhà gái. Cuối cùng là lễ trở lại nhà trai để mẹ chồng trao một số vật dụng cần thiết như dao, cuốc và chén bát cho chú rể mang về nhà vợ. Thế nhưng Y Blum mồ côi cả cha lẫn mẹ, cũng không có cậu em mẹ dăm dei làm trụ ,mà do Ama Thuột đứng ra lo , nên sẽ bỏ hết các lễ đó, chỉ còn rước rể và gọi chồng thôi. Vậy nhà H’Nuai có ưng chịu không ?

– Chúng tôi ưng , vì đã có ông chủ bến nước khua pin ea chịu lo cho Y Blum.

– Nếu ưng thì cầm vô vòng đồng này để tui về nói lại với khua buôn.

Thấy Ama, Ami H’Nuai đã cầm vòng ưng chịu, ông mối bàn tiếp việc để cho Y Blum sẽ ở tạm nhà người bà con xa, đợi nhà H’Nuai tới rước theo đúng tục lệ. Việc này cũng được nhà gái bằng lòng và hẹn ngày đem đồ lễ đến .Dù là mồ côi, không có đánh chiêng, cột nhiều rượu ghè,nhưng được sự chăm sóc của chủ bến nước, nên phần lễ vẫn diễn ra chu đáo, theo đúng lệ của buôn sang.Sáng sớm, đoàn rước rể đã rời nhà,mang theo một ghè rượu , một con gà và hai chiếc vòng đồng.Ông mối trịnh trọng trong bộ áo khố mới, bước vô nhà người bà con của Y BlumTừ lâu, H’Nuai đã dệt xong tấm váy, áo đẹp cho mình, bộ áo knuky và khố kpin cho người sẽ làm chồng,nghĩa là chỉ còn chờ đợi đến đám cưới này. Bây giờ Ama,Amí cô chỉ cần lo heo gà, gạo …đãi khách, chứ nhà Y Blum không còn ai, nên đâu phải đền trâu, bò cho cha mẹ, không cần nhiều vòng đồng mua đường đi của bọn trẻ con.Còn những người họ xa của anh, làm gì dám đòi hỏi nhà chủ bến nước mà họ vốn là nô lệ chứ ?

Con trai Êđê ở nhà mình chỉ là ở tạm, khi có người con gái nào chịu bắt về, nhà vợ mới là nơi là nơi ở vĩnh viễn. Ngày đầu tiên , Y Blum thấy lạ lẫm làm sao với cảm giác đây chính thức là nhà của mình.Từ ngày ama,ami đi về “ đất nước ông bà ”, anh chưa bao giờ dám ước mong mình có lúc được có một gia đình như thế này.Bởi chẳng ai dại gì mang của cải đi cưới một người mồ côi. Không có gốc cội, cái rễ cây biết bám vô đâu mà lớn lên, đẻ nhánh,mọc cành?

Đám cưới xong đã lâu. Ai ở nhà nào đã về nhà đó hết.Nãy giờ ngồi miết nơi bếp lửa ngòai gian khách đing gar cho đến khi mọi người trong nhà đã chìm trong giấc ngủ, Y Blum mới dám khe khẽ nhẹ chân bước vô phía đinh ok bên trong ngăn nhà dài, mới được nối thêm cho cô con gái vừa bắt chồng. H’Nuai trùm lên người anh tấm apăn còn thơm mùi nước vỏ cây nhuộm chỉ, sợi vải ram ráp cọ trên những tấm thân trần. Cả người cô quấn tròn trong tấm váy m’yêng không dắt chặt một đầu.Y Blum nắm góc váy,từ từ gỡ ra, cho đến lúc siết chặt trong vòng tay tấm thân trần nóng hôi hổi của người vợ trẻ, hít hửi mùi da thịt con gái trinh nguyên vừa lạ lẫm vừa gần gũi, thèm khát vục đầu trên gò ngực vun đầy nâu bóng của H’Nuai,chòng chành như đang cưỡi trên ngọn sóng con sông Sê Rê pôk.Thân hình H’Nuai cong như con sâu đo, rướn sát vào Y Blum.Nhấn sâu sự run rẩy ham mê của mình vô niềm sung sướng nóng bỏng của vợ, anh thấy sao mình được các yang yêu chiều quá nhiều.Một lần, hai lần, ba lần…Mồ hôi hết ướt lại khô.Sàn nhà thì thầm kẽo kẹt. Đêm sao ngắn quá.

Chứ sao nữa, nhà Ama Thuột bỗng dưng chẳng mất gì mà có người thân làm tới cai đội trong chính quyền, gia đình ama H’Nuai bỗng chốc trở thành thân cận với chủ bến nước – khua pin ea. Còn Y Blum, đi làm về không còn phải thui thủi một mình giữa căn chòi vắng ngoaì bìa rẫy. Ngày đầu tiên trong bữa ăn, chỉ nghe tiếng mắng bọn trẻ con của Aduôn, nhìn ami H’Nuai đi qua đi lại coi sóc, chia bôi từng bầu nước, tô cơm canh, anh đã sững sờ vì một cảm giác ấm áp rất lạ dâng lên đến cay xè trong mắt.
bmt3
H’Nuai tuy không phải là cô gái xinh đẹp, nhưng khoẻ mạnh, có duyên ngầm,lại biết đảm đang việc nhà và tính tình dịu dàng, đêm đến rất nồng nàn say đắm trong việc làm chồng vợ, sẵn sàng đáp trả cũng mạnh mẽ không kém .Y Blum còn muốn gì hơn?

Anh biết ơn Ama Thuột lắm lắm và nguyện không bao giờ có ý định phản lại ông.Anh biết ,ông không xấu bụng như người ta nghĩ. Hồi còn nhỏ,trong những lúc lặng lẽ phục vụ trầu thuốc, đổ nước rượu cần cho các tù trưởng quanh vùng sình sịch ghé voi lên sàn,vô nhà, anh đã nghe ông tranh cãi với họ rất nhiều. Hồi Pháp mới đóng đồn ở Buôn Đon, các tù trưởng như ông Ama Jao tóc bạc, bà Yă Wam vừa cao lớn vừa xinh đẹp… đã nhiều lần ghé voi lên hiên nhà dài của Ama Thuột, bàn cách ngăn không cho họ lấn ra ngoài này, ngăn mấy lão già mặc tấm choàng apăn đen len lỏi đi các buôn sang tuyên truyền đạo gì gì đó, còn cố tình lần lữa không chịu giúp lão cha cố xây nhà sàn giống nhà dài Êđê. Có người cho rằng Ama Thuột đem con rắn về cắn con gà trong chuồng mình, khi đồng ý cho người Pháp chuyển trung tâm đại lý hành chính Đăk lăk từ Buôn Đon về đây. Nhưng khi ông hỏi, ai biết cách gì ngăn không cho Pháp thực hiện ý muốn chuyển tỉnh lỵ ra ngoài này thì cho biết,thậm chí nghe hay, ổng còn đãi heo cho ăn nữa, vậy mà có ai nói được phải làm thế nào đâu ? Người Pháp có xe bay, súng nhỏ, súng to…không làm theo ý họ, liệu cả Ama Thuột lẫn buôn sang có được yên ?Huống chi Pháp còn bằng lòng vẫn để cho thị xã mang tên Ama Thuột,lại còn miễn cho người buôn ông khỏi phải đi xâu làm đường hai mùa rẫy . * *

Tháng 5-1954. Không hiểu vì sao hồi này không khí trong thị xã Ban Mê và cả cao nguyên Trung phần sôi lên sùng sục, cứ như có một cơn sóng ngầm nào đó đang trỗi dậy trong mỗi góc phố. Ngay cả ở mấy buôn người Êđê như Păn Lâm, Lê A, Kó Siêr quanh đây lẫn ngoài vườn rẫy, trên phố, thường có nhiều người tụ tập , thì thào bàn tán.

Đội lính khố xanh của Y Blum không còn giây phút nghỉ ngơi nào, lần lượt thay nhau lùng sục khắp nơi. Y Blum cắt cử và kiểm tra một vòng các điểm gác xong, đã quá chín giờ tối.Anh vừa tắm rửa ngoài bến nước dành cho đàn ông về, còn đang vừa bước lên sàn vừa lau tóc, thì nghe có tiếng ai đó gọi :

– Ơ Y Blum ! Wit ka ? ( Về chưa ?)

– Ơh ! Kâo wit leh. Hlei iêo ? ( Tui về rồi, ai đó?)

– Kâo ! Y Ngun !

Rồi thấy Y Ngun bước theo lên sàn vô nhà.Anh bạn hồi trước học cùng lớp dáng người thấp đậm, nhanh nhẹn, nước da sáng hơn thanh niên cùng buôn sang . Lâu nay đi học trường y sỹ Đông Dương ở Sài Gòn, nên trông ăn mặc, đi đứng không khác gì mấy người ngoài phố.

Vợ Y Blum miệng cười nở như hoa tăng pi,vội vã trải chiếc chiếu trắng mời bạn ngồi, mang chiếc bình nước với mấy cái ly cho chồng tiếp khách theo kiểu người Kinh,rồi nhẹ nhàng lui vô trong gian chủ đinh ok.Trao đổi mấy câu thăm hỏi xã giao xong, Y Blum nhìn thẳng mặt Y Ngun hỏi

– Anh tìm tui có việc gì không ?

– Ơ ơh ! Đi học xa lâu ngày , về thăm bạn bè chơi thôi. Cũng muốn biết các chuyện ở Ban Mê của mình có gì khác không ? Chắc anh làm cai đội sẽ có nhiều tin mới.

Y Blum kể cho Y Ngun nghe việc các tù nhân đấu tranh chống lại chế độ hà khắc của nhà đày Buôn ama Thuột, chuyện y tá Y Som Ê Ban bị quản ngục khiển trách vì cấp thêm thuốc cho tù chính trị. Sau chuyện ông Mết và đội du kích cứu thoát ông Tố gì đó thoát khỏi nhà ngục Đăk glây, quản ngục bắt tăng cường kiểm tra ghê lắm. Mấy đêm nay ở thị xã không khí rất căng thẳng, không biết có chuyện gì sắp xảy ra ?

Y Ngun lại hỏi Y Blum về nhận xét của anh đối với người Pháp, người Kinh cai trị ở Buôn Ama Thuột. Thấy bạn hỏi, như được dịp trút bớt nỗi bực dọc lâu nay đè nén trong người, Y Blum xổ ra hàng tràng.Nào là chuyện lính khố xanh người Êđê bị chỉ huy bớt xén tiền lương, nào hạ lệnh cho lính Êđê đánh thanh niên Êđê trong buôn không chịu đi lính.Ngay cả bản thân Y Blum cũng đã từng bị xỉ nhục , bị chửi bới, văng tục ngay trước mặt cấp dưới của mình.

– Thế anh đành chịu nhục như vậy mãi hay sao ?

– Không chịu thì làm thế nào được Y Ngun ?

– Ơ, thì mình phải tìm cách nào mà chống lại những kẻ xấu xa,độc ác đó chớ?

– Cách gì ? Nếu ai có cách gì bày, tui theo liền.
bmt4
Y Ngun cũng kể với Y Blum chuyện ama anh bị Pháp bắt đi phu ở đồn điền Cư H’Lâm. Khi còn lao động được thì phải làm những công việc nặng như gánh đất đá, đắp đường. Vì ở nhà không có lương thực cho mang theo, nên ăn đói, bệnh sốt rét nhập vô người chẳng có thuốc chữa.Đến lúc thấy ổng yếu quá, chúng lại đuổi về. Rồi ama anh chết vì sốt rét ở buôn. Nhiều người khác không chỉ ở buôn Ea Siêr của Y Blum, buôn Sut của Y Ngun, đều bị khốn khổ như thế.Hai người nói chuyện lâu lắm.Hàng đêm nọ qua hàng đêm kế tiếp, Y Ngun lại đến nhà Y Blum . Rủ rỉ với nhau những gì không ai biết, nhưng thấy Y Blum vui lắm. Anh ta lại còn hăng hái hơn trong công việc hàng ngày ở đội khố xanh. Lúc nào cũng nghe thấy tiếng sang sảng nhắc nhở quân lính đi tuor đều đặn, chặt chẽ.

Một hôm cũng sau giờ làm việc, Y Bin ,một người bạn ở đội lính khố đỏ rủ Y Blum đi thăm Y Som Ê Ban ở trong nhà đày, trước khi anh ấy bị trục xuất sang Thái lan, vì đã bị Pháp bắt quả tang giúp đỡ thuốc bệnh và chuyển giấy tờ cho tù chính trị. Nhưng đến nơi thì không phải là đi chơi thăm hỏi, mà là một cuộc gặp mặt.Người đó tự xưng tên là Hoà, nhưng Y Blum biết đó cũng chỉ là tên giả của anh ta thôi.Anh Hoà cho Y Blum coi tấm hình của một người đàn ông có chòm râu dài, trán cao và đôi mắt sáng đến lạ lùng cứ như luôn nhìn vô mắt mình rất thương mến và bảo :

– Đây là ông Hồ Chí Minh, người kêu gọi các dân tộc Việt nam đoàn kết để giành lại độc lập cho đất nước, tự do cho chính mình.

Y Blum có nghe Y Ngun và Y Bin kể mấy lần về ông Nguyễn Ái Quốc, cũng là người đứng đầu của cách mạng Việt nam, nay lại nghe về ông Hồ Chí Minh. Vậy nước mình có nhiều người tài giỏi quá hè !

– Không phải đâu. Cụ Hồ với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ là một người thôi.Đi làm cách mạng phải có nhiều tên giả vờ, để Pháp không biết rõ ai là ai.

Y Ngun giải thích thế. Không hiểu sao mới nghe đó mà tự nhiên trong đầu Y Blum thấy thích, thấy tin ngay chuyện anh Hoà kể về Cụ Hồ. Có lẽ vì Cụ cũng đấu tranh cho người Êđê mình bớt khổ chăng ?Anh Hoà còn nói với Y Blum:

– Mấy ngày nữa Tôn Thất Hối sẽ tổ chức mit tinh ở sân vận động. Anh hãy chọn lấy những người thân nhất, đáng tin cậy nhất trong đội lính khố xanh của anh . Tiếng là bảo vệ cho bọn chúng hành lễ, nhưng khi cần sẽ có hiệu lệnh cho anh bắt trói chúng . Có làm được không ?

– Được chớ. Anh cứ tin tui! Nhiều anh em lính trong đội cũng thấy nhục, thấy khổ vì tụi nó lắm rồi.

* *

Cả đêm trước ngày mit tin, Y Ngôn, Y Tlan, Y Wan lo dịch chương trình Việt Minh sang tiếng Êđê, in thành hàng trăm bản chữ to để 6 giờ sáng dán ở các ngả đường, bản nhỏ phát cho dân. Còn Y Blum điều đội lính khố xanh của mình dàn hàng ngang bảo vệ cổng sân vận động và trước lễ đài.Hàng đoàn người váy khố đẹp từ các buôn quanh thị xã rồng rắn kéo nhau vô sân vận động.Chị em tiểu thương mấy phường nội thị trong trang phục áo dài cũng đã xếp hàng từ lúc nào giữa sân.Người mỗi lúc một đông.Như có ngọn lửa nào chạy qua những hàng người đứng ngồi trên sân, khiến không khí nóng dần lên. Loa trên khán đài thỉnh thoảng lại rột rẹt. Tôn Thất Hối và mấy người đại diện của chính quyền thị xã đã có mặt đầy đủ trên khán đài, ông ta vừa bước tới trước micro định cất lời khai mạc, thì một người đàn ông cao lớn, mặc bộ đồ vải xita bỗng từ đâu xuất hiện, đẩy Tôn Thất Hối ra và chiếm lấy micro dõng dạc tuyên bố Việt Minh đã giành được chính quyền và đang kiểm soát tình hình trong toàn tỉnh.Cờ đỏ sao vàng, hoa và biểu ngữ ở đâu bỗng xuất hiện đỏ rực trong những đoàn người tụ họp trên sân .Ô ! anh em mình chuẩn bị sao hay vậy hè ? Y Blum thấy vui trong đầu, sướng trong bụng quá, như có con chim nhông nào hót líu lo trong đó. Nhất là khi thấy lũ người chính quyền cũ mới đó còn nghênh nghênh, bây giờ cụp mặt xuống run rẩy sợ cách mạng giết, lại còn được trực tiếp áp giải Tôn Thất Hối về trụ sở của chính quyền cách mạng nữa.Y Ngun, Y Wan, Y Buông …được bầu vô chính quyền mới, còn Y Blum chỉ huy đội quân được gọi là lính vũ trang của Việt Minh.Quyền vẫn thế, người vẫn thế mà sao con mắt nhìn nhau thân thiện hơn, đi ào ào, nói cười ào ào…đất của mình rồi, người của mình rồi, ơn Việt Minh cho người Radeh làm chủ buôn sang mình.

Cứ thế, Y Blum đi theo Việt Minh đánh Pháp rồi đánh Mỹ một lèo 30 năm sau mới quay lại Buôn Ma Thuột.

* *
bmt5
Đại tá Y Blum nôn nóng đi ra đi vô, nét mặt hầm hầm tức giận. Hai bàn tay ông, hết chắp sau lưng ,lại đến nắm chặt thành nắm đấm vỗ vỗ vào nhau.Ngoài khung cửa nhà dài, gió quất tả tơi những hàng cây, bốc bụi đỏ vung vãi khắp nơi. Cao nguyên đang giữa mùa gió. Gió như lũ ngựa hoang không biết tự kiềm chế, tung vó phi nước đại trên vòm trời cao nguyên, giận dữ giống cái bụng ông đang như nồi nước sôi trên bếp lửa.

Chung sống với nhau có hai đứa con,vợ ông rất rành tính chồng, nên lảng xuống bếp tránh cơn thịnh nộ có thể nổ ra bất cứ lúc nào.Bà Ami Sang là vợ thứ hai của đại tá Y Blum.Hồi đó, tổ chức đứng ra thay mặt gia đình làm lễ cưới cho hai người ở căn cứ Nâm Nung, sau một năm vợ ông, bà H’Nuai và đứa con trai lớn, bị giặc bỏ đói đến chết trong tù, trả thù những trận đánh do ông chỉ huy, làm chúng thua chạy liểng xiểng, thiệt hại không ít cả người, lẫn xe cộ, súng ống.Ông có với bà H’Nuai hai đứa con. Đứa lớn chết trong tù, còn cô con gái thứ hai, đang là nguyên nhân nỗi bực tức của ông kia.

– Tức muốn nổ con mắt ra được.Nó lại đi với thằng đó rồi nên mới về muộn thế này chớ! Bộ hết người rồi sao, Thiếu gì con cán bộ cách mạng mà đòi lấy cái thằng con nhà địa chủ đó .

H’Thai vừa về đến cửa, đã gặp ngay bộ mặt sẵn sàng gây chiến của ama. Trong bụng thầm hiểu vì nguyên nhân gì, nhưng cô vờ làm như không biết, tươi cười lên tiếng chào ông :

– Ama ! Con mới về !

– Mới về, mới về cái gì ! Mày đi đâu mà Ama, Amí không nhìn thấy cái mặt suốt từ lúc mặt trời thức dậy tới mặt trời đi ngủ vậy ?

– Ủa, con tưởng Ama biết, đang chiến dịch vận động kế hoạch hoá gia đình. Là cộng tác viên dân số, con phải đi tới mấy nhà đông con tuyên truyền cho họ chớ ! Bữa nay giao chỉ tiêu hết rồi đó Ama. Ai không hoàn thành là cắt thi đua luôn.

– Được rồi chuyện đó ama biết !Chứ không phải con gái mày đi sang buôn Hruê sao ?

– Ama ! Nếu con đi sang buôn Hruê thật thì cũng đâu có sao ? Con nói rồi.Đi sang đó thì cũng làm việc vận động kế hoạch hoá gia đình của con.Còn việc tụi con thương nhau đã từ hồi còn học chung trong trường Cao đẳng sư phạm, tới giờ cũng bốn năm hơn chứ có ít đâu.Ama không đi hỏi cưới,định để con chết già làm bà cô không chồng sao ?

– Tầm bậy nào ! Nhà mình là cộng sản nòi, Ama chỉ không muốn con lấy người gia đình không theo cách mạng thôi. Ông già đó cha biết chớ ! Hồi chín năm ổng không có tham gia gì cho Việt Minh đâu.

– Nhưng hồi Mỹ-Diệm, gia đình ảnh cũng đâu có tham gia hay ủng hộ gì chính quyền ngụy?Thậm chí cả không dính dáng gì tới Phullro nữa. Ama cũng biết điều đó mà .

– Nhưng ổng ham làm giàu quá .

– Làm giàu là xấu sao ? Ama vẫn thường nói mục đích của cách mạng là đấu tranh giành chính quyền, làm sao cho người Tây Nguyên mình không bị làm nô lệ,cũng ăn no mặc ấm, giàu có bằng nhau với người miền xuôi đó sao ?Bây giờ thống nhất đất nước rồi,dân không giàu thì làm gì cho nước mạnh hả ba ?

– Bữa nay con gái dạy khôn cha đó hả ? Mày phải nhớ là tao đi làm cách mạng từ khi mày chưa là cái trứng trong bụng ami đó nghe.

-Nhưng anh Y Lăn có gì ba không ưng nào ? Mấy năm liền ảnh là giáo viên dạy giỏi. Bây giờ được tín nhiệm bầu làm chủ tịch công đoàn ở nông trường cà phê nữa.Vậy có phải người xấu không ?

– Nhưng ama nó ! ổng là người đầu tiên từ bỏ tín ngưỡng ông bà xưa ở vùng đất này đó.Nhũng người như thế đều chối bỏ cả phong tục văn hoá của ông bà, không uống rượu cần, không đánh chiêng. Con cũng biết chớ !

– Con biết ! Điều đó là sai rồi.Từ từ mình thuyết phục ! Đảng Nhà nước chủ trương tự do tín ngưỡng, nhưng cái gì hay cái gì đẹp của ông bà,vận động người Êđê mình giữ lấy.Cồng chiêng là tiếng nói tâm hồn của người Tây nguyên, sao bỏ được. Nhưng đâu phải một lúc mà ai cũng làm ngay theo ý mình muốn chớ ? Ba rành điều đó hơn con mà. Ba cũng biết là ngành văn hoá có bao nhiêu hoạt động chỉ để cùng bà con khôi phục lại văn hoá truyền thống đó chớ ?

– Ông ta có vườn cà phê riêng, như thế là tư hữu, không theo chủ trương làm ăn tập thể của Đảng Nhà nước, con hiểu không ?

– Ama nói công nhân lãnh đạo cách mạng, bây giờ anh Y Lăn đang là công nhân nông trường cà phê, có nghĩa là anh ấy thuộc giai cấp lãnh đạo rồi Ama nhé.Con cưới công nhân mà Ama.

– Mày……

Amí Sang nãy giờ ở dưới bếp vừa nấu cơm vừa nghe ngóng, thấy hai cha con to tiếng kéo dài ,vội chạy lên can ngăn

– Thôi thôi nào ! Con gái nó nói đúng đó ông à !Mấy chuyện đó có liên can gì tới việc cưới chồng của nó đâu.Miễn chúng nó thương yêu nhau là được chớ ! Nhưng hai cha con đi ăn cơm không có nguội hết rồi.
bmt10
– Bà này sao vậy ? Tui với bà nằm rừng ngủ suối là để đấu tranh cho dân tộc mình hết làm nô lệ. Vậy sao tui lại đi làm sui gia với người ưng làm nô lệ cho ngoại bang ,quay lưng lại cội nguồn dân tộc chứ ?

– Tui không nói cái lý được với ông, nhưng con cái chúng nó lớn rồi, huống gì cả luật hôn nhân gia đình lẫn luật tục klei bhian kđi Êđê có điều nào chúng nó vi phạm đâu ? Ông làm sao cản ?

– Nhưng tui không ưng làm sui gia với nhà đó.Nhất là gia đình còn có mấy chị em theo chồng đi Mỹ nữa. Sao thông gia được chớ.

– Vậy ông cản được con gái không yêu thằng đó thì ông làm đi. Tui thua rồi.

Đại tá Y Blum im lặng không trả lời được vợ, nhưng cục tức vẫn găm đầy trong lồng ngực, bất giác cái tay ông nhấc quơ được đám giấy tờ trên mặt bàn ném tung xuống đất, cổ họng è è mà không thoát ra được câu mắng.

* *

Cuối cùng thì chức vị làm cha lẫn chiếc lon đại tá cũng không “ trừng phạt ” được cô con gái quen sống tự lập trong những năm cha đi chiến đấu xa, sau này lại được cha và mẹ kế hết sức chiều chuộng. Đám cưới của H’Thai và Y Lăn vẫn diễn ra,do Công đoàn nông trường của Y Lăn và trường cấp II nơi H’Thai giảng dạy đứng ra phối hợp cùng tổ chức, trước sự chứng kiến – cho dù chẳng vui vẻ gì- của hai gia đình ( bởi thực ra, ngay cả chính Ama Mlan cũng không muốn kết sui gia với một ông đại tá quân đội, lúc nào cũng chỉ quen với việc ra lệnh, lúc nào cũng ra miệng chê bai ông chối bỏ phong tục tổ tiên, ít biết cảm thông như thế ) .Nhưng đám cưới công nhân đầu tiên ở nông trường thiệt là vui. Ban Giám đốc, công đoàn, thanh niên lo cho hết mọi thứ.Cô dâu đầu cài hoa rừng, váy áo Êđê xúng xính trông rất xinh. Chú rể cũng mặc áo knuky, ngực có vầng nút đỏ rực, trông như một tù trưởng oai vệ.Không có chén đũa ăn uống gì, chỉ nhiều bánh kẹo, nhiều rượu cần, nhiều người và rất nhiều tiếng hát. Ai cũng muốn lên giúp vui một bài, chúc mừng đôi uyên ương đầu tiên cưới nhau của nông trường, chúc mừng niềm vui của ông bà đại tá.

Cặp vợ chồng mới cưới dọn ngay đến khu tập thể của nông trường để đi làm cho gần.H’Thai thôi làm giáo viên, nhận công tác là cán bộ phụ nữ xã Ea Sin. Y Lăn còn kiêm thêm chức đội trưởng một đội sản xuất.Một thời gian sau, họ nhận khoán hơn 2 ha cà phê theo chủ trương liên kết với đồng bào dân tộc của tỉnh uỷ, Y Lăn học cách nghĩ của cha, làm việc gì cũng tính toán kỹ càng, nên việc nông trường, việc gia đình đều xuôi chèo, mát mái. Vườn cà và ruộng lúa nước của nhà vợ chồng anh cho năng suất cao nhất buôn, đời sống gia đình dần dần ổn định,mua được mảnh đất làm nhà riêng, không còn phải ở tập thể nữa. Anh cũng bàn với vợ, không làm nhà xây, mà dựng căn nhà dài to, cho các con có chỗ nhớ về cội nguồn dân tộc.

Không ưa con rể, nhưng đại tá Y Blum không có điều gì trách móc được anh ta. Hơn nữa, H’Thai con gái ông,cứ thăng tiến liên tiếp, từ hoạt động có hiệu quả của công tác vận động kế hoạch hóa gia đình, mà được bầu làm cán bộ mặt trận xã, rồi tiếp tới Hội đồng nhân dân. Bây giờ là Chủ tịch xã.Nó giống tính ông, làm việc gì cũng làm trước, nói sau. Có hồi trong các buôn rộ lên rất nhanh phong trào bán đất mua xe cày, xe gắn máy.Chính quyền xã không chỉ đề ra ngay những chủ trương thiết thực ngăn chặn mấy người lén lút đến mua đất, mà còn lập một đoàn do H’Thai dẫn đầu, đi khắp các thôn buôn, hết phân tích lại trình bày cái hại của việc thiếu đất sản xuất, động viên bà con yên tâm gắn bó với đồng ruộng.H’Thai vẫn còn nhớ như in, có lần mấy người già trong buôn Sin tụ tập nhau đến nhà chị chất vấn :

– Hồi nào giờ người mình chỉ quen làm lúa trên đồi, cái lưng ngửa. Nay ih – cô vận động dân làm ruộng nước,suốt ngày úp mặt xuống đất, lưng mỏi lắm mà hạt lúa có to bằng hồi xưa – klei đưm không ?

– Người mình ít chữ, ít kỹ thuật, liên kết nhận đất của nông trường trồng cà phê, người ta đòi bao nhiêu ký,mình không làm được tới đó, lấy gì trả ? Bị

“ nó” đòi đất lại à?

– Ih luôn nói phải theo truyền thống ông bà, có ai biết Yang cà phê, Yang lúa nước mặt mũi dài ngắn ra sao mà cúng? Ổng không cho ăn cái hạt đó đâu.
bmt8
Cứ như thế mà nói qua nói lại, hai vợ chồng thay nhau giải thích . Hết ba ghè rượu, gần sáng đêm mới thông. Vậy đó, nếu không làm cho mấy già làng hiểu ra và ủng hộ, thì khó mà thuyết phục được dân. Ngay như hồi H’Thai mới nhận chức Chủ tịch xã cũng vậy, người ta toàn dè bửu “ cáo mượn oai hùm” nhờ tên ông già, chứ có ai nghĩ là phụ nữ dân tộc như H’Thai làm lãnh đạo được đâu? Nhưng rồi sự chân thành học hỏi của chị, cái tính tay làm miệng nói, biết rõ chất lượng từng vườn cà, năng suất của từng thửa ruộng của mỗi gia đình…khiến mọi người ai cũng thương, cũng quý, cũng nể, rồi nhất nhất ủng hộ chị.

Kinh nghiệm làm cà phê học từ người Pháp của cha chồng, kỹ thuật sản xuất theo khoa học của nông trường mà chồng chị làm đội trưởng, đã giúp cho H’Thai cùng các thành viên trong Uỷ ban điều hành tốt hoạt động sản xuất của địa phương.Kinh tế xã mỗi ngày một phát triển, những con đường nhựa thẳng tắp thay cho đường cấp phối chạy ngang dọc khắp xã, tôn thay thế mái tranh, số hộ nghèo trong xã giảm dần.Được sự quan tâm của Uỷ ban xã, các già làng còn tổ chức truyền dạy đánh ching cho đám trẻ con trong buôn. Thành phố Buôn Ma Thuột, luôn lấy thành tích của xã Ea Sin làm gương điển hình cho các buôn khác học tập.

Ama Mlan hết bụng thương quý cô con dâu giỏi giang.Đại tá Y Blum cũng bằng lòng con gái lắm.Ông tự hào vì đó cũng chính là con đường mà hơn 30 năm trước chàng trai Y Blum đã lựa chọn .

Linh Nga

Tục uống rượu cần của người Tây Nguyên

Rượu cần ở Tây nguyên là sản vật- nghi vật – lễ vật, nó có mặt ở mọi lúc, mọi nơi trong đời sống sinh hoạt xã hội, trong tinh cảm, tâm linh của mọi gia đinh hay cộng đồng.Không có rượu cần thì không có lễ lạt, cưới xin, ma chay, bè bạn… ruoucan1 Rượu cần giữ vai trò là lễ vật khi kinh dâng lên các Thần linh, giao tiếp với các đấng siêu linh. Với bạn bè, là phương tiện chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, hẹn hò, nhắn nhủ công việc, giao kết tình duyên đôi lứa… Trưóc khi thực hiện giao lưu tình cảm, rượu cần làm nghĩa vụ: thông báo, dâng mời, cầu xin các Thần linh chứng giám hoặc ban phước. Dù xử dụng trong thời gian nào, không gian nào, tục uống rượu cần cũng vẫn là một nét văn hóa đẹp trong đời sống của đồng bào các dân tộc Tây nguyên.

Rượu cần được làm thường xuyên, liên tục bất cứ vào tháng năm nào.Nhưng chủ yếu dùng vào những ngày “ có việc “ của buôn làng hay gia đình.Như: cúng Yàng, mừng thọ người già, lễ cưới, đám ma, làm nhà, có khách xa đến chơi.Đặc biệt là trong những lễ nghi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, những lễ hội của cả buôn làng.

Gia đình hay buôn làng nào “có việc” như vậy, liền được sự đóng góp của cả họ hàng, cả buôn. Mọi gia đình đều chuẩn bị ghè rượu to nhất, ngon nhất của mình để đem tới góp chung. Vừa xẻ chia, giúp đỡ, vừa tạo nên tình cảm gắn bó, thân tình đầm ấm trong cộng đồng.

Để có được ché rượu, phải tiến hành nhiều công đoạn, từ chuẩn bị nguyên liệu đến cách thức chế biến, tính toán thời gian phù hợp, sao cho vừa kịp xử dụng… để ghè rượu đạt chất lượng cao nhất.Gia đình Tây nguyên nào cũng biết làm rượu cần, nhưng tỷ lệ lại là bí quyết riêng chỉ được phép truyền trong mỗi nhà.Do đó rượu được tạo ra bởi những hương vị khác nhau theo sở thích của từng gia đình. Tuy nhiên có một điều ai cũng phải tuân theo là : trong thời gian làm men rượu, kể cả làm rượu, phải giữ cho thân thể được sạch sẽ, nhất là vợ chồng không được quan hệ sinh lý với nhau. Đồng bào cho rằng như thế sẽ ảnh hưởng đến chất lượng, hương vị cuả men rượu.
ruoucan
1) Cách thức làm rượu cần

Rượu có thể làm quanh năm, nhưng men để làm rượu không phải lúc nào cũng làm được.

* Người Xê Đăng ở Kon tum chỉ làm men rượu một lần, vào một ngày duy nhất trong năm, gọi là “ hăl pro plao “ (ngày làm men).

Sau khi đã thu hoạch xong mùa màng (khoảng tháng 11, 12 dương lịch), người ta chọn ngày tốt và làm lễ cúng với một con gà, một ché rượu nhỏ để vào rừng tìm cây, củ làm men rượu. Các thứ cây, lá, củ dùng làm men đều phải được lấy trong buổi sáng sớm. Gồm:

– Vỏ cây hjam
– Hăng (ớt rừng)
-Lá cây `H`la xang (có vị đắng)
– Củ rơja
– Cuối cùng là bột nếp

Những thứ này được trộn vào nhau theo một tỷ lệ nhất định, để được một thứ bột sền sệt, màu nâu đen, gọi là plô (men). Plô được nắm thành từng nắm bằng trái cam to, đem phơi nắng cho khô, cất đi để dùng trong cả năm. Mỗi nắõm men đủ cho một ché rượu. Đến mùa sang năm sau lại đi kiếm vào đúng ngày quy định đó.

* Người Hrê ở Quảng Ngãi dùng vỏ và củ cây kxi blo sao khô, giã nhỏ cùng với gừng, trộn chung với bột gạo, vắt trong thành từng nắm bằng quả trứng. Phơi khô ở trên gác bếp, có thể dùng liền hoặc để dành khi nào cần.

* Người Êđê dùng hoa, lá, rễ cây dong (có nhiều lọai dong: dong gak, dong kra nê, dong se…thứ nào cũng dùng được), rửa sạch, phơi khô, tán nhỏ.trộn thêm bột củ riềng hoặc gừng. Có nơi còn trộn thêm một ít ớt.
Khi cần để dành dùng lâu đông bào trộn thêm với bột gạo.Tất cả trộn đều, nắm thành nắm phơi khô.

Sau khi đã có men, người ta tiền hành làm rượu. Quy trình và cách thức làm tương đối giống nhau. Nguyên liệu chính và ngon nhất cũng vẫn là gạo nếp. Gạo tẻ hoặc bắp, củ mỳ… tùy theo khả năng kinh tế của từng gia đình.

Cách thức như sau: gạo hoặc bắp, mỳ nấu chín, trải ra nong phơi cho nguội bớt, chỉ còn âm ấm. Men giã nhỏ trộn đều với cơm hoặc bắp… Người xê Đăng ủ kín trong gùi chừng 4 ngày, khi đã dậy mùi mới đổ cơm rượu ấy vào ché. Người Êđê thì sau khi trộn men là bỏ ngay vào trong ché. Đáy ché có lót một lớp trấu. Sau khi đổ đầy cơm rượu, cũng lại phủ lên một lớp trấu. Trấu này có tác dụng ngăn cho bã rượu không chạy vào trong cần khi hút.

Đến đây việc làm rượu đã xong, người ta lấy lá chuối bịt miệng ché lại để khỏi bay mất mùi thơm của rượu. Các ghè rượu sau khi đã buộc kín miệng được xếp một dãy dài theo thứ tự lớn nhỏ, để ở góc nhà phía Đông. Rượu gạo có thể để lâu. Nếu đem chôn xuống đất, càng lâu càng ngấm, uống càng ngon hơn. Tuy nhiên rượu bắp, mỳ không thể để quá 10 ngày, lâu hơn sẽ bị chua. Nhưng nếu uống sớm (trước 10 ngày) rượu chưa ngấm có vị đắng ít ngon. Do đó mà phải tính toán thời gian cho phù hợp.Rượu đủ ngấm là sử dụng ngay, như thế mới ngon.
ruoucan2
2) Uống rượu cần

Rượu cần uống ngay trong ché, không phải chưng cất hay chắt lọc gì nữa. Muốn uống rượu cần phải có sự chuẩn bị: Người ta dựng những cây cột dùng để buộc rượu thành vòng tròn hay hàng ngang, tùy theo tính chất của buổi uống rượu. Những cột này là cây tre cao khoảng chừng 2-3m, đưọc trang trí thêm những tua chỉ ngũ sắc, hoa, hay những thanh gỗ nhỏ đẽo gọt các hình con thú… cho rực rỡ và thêm đẹp. Các ghè rượu được buộc chặt vào từng cột. Rượu không đổ ngã, mà còn mang ý nghĩa : đường để các Yàng xuống uống rượu chung vui.

Hái những lá rừng không có nhựa và không độc nhét chặt vào trong ché, dùng những thanh nứa hoặc tre nhỏ găm chặt lớp lá phía dưới cổ ghè rượu, có nơi dùng cách xoắn lá thành một vòng tròn. Việc lót lá nhằm mục đích để khi đổ nước vào, bã rượu không bị trào ra ngoài, đồng thời tạo nên một khoảng trống từ cổ đến miệngché. Khoảng trống này là cữ cho người uống. Mối cữ khoảng 1/4 lít nước. Uống hết một cữ là phải tiếp thêm nước.

Sau đó đến việc chuẩn bị cần uống rượu. (Từ “rượu cần “ có lẽ bắt nguồn từ việc dùng cần để hút rượu uống này). Cần rượu được làm bằng cây trúc hoặc cành tre nhỏ, dài từ 1, 2 – 1, 5m, soi thông ruột. Đầu cần là mấu đã được khóet thành khe và đục 3-4 lỗ nhỏ, đủ để rượu thấm mà không mang theo bã hoặc trấu. Người Banar, Hrê dùng nhiều cần cắm chung trong một ché. Người Êđê, Xê Đăng chỉ dùng một cần, khi nào đám cưới mới sử dụng hai cần. Cắm vào ché sao cho vừa tầm của người ngồi uồng và cần không bị tắc, đó cũng là cái khéo của người cắm cần.

Sau khi gài lá là đổ nước vào cho đầy đến miệng ché. Nước uống rượu phải là nước suối tinh khiết lấy vào buổi sáng sớm. Đổ trước khi uống từ 5-7 tiếng để rượu đủ ngấm. Nước đã đổ, cần rượu đã cắm. Nhưng vẫn còn một nghi thức cuối cùng:

* Người Xê Đăng: bẻ một thanh nứa nhỏ đặt ngang lên miệng ché, ở giữa thanh nứa lại bẻ một cọng nhỏ gập xuống mặt nước khoảng chừng 2-3 đốt ngón tay làm cữ, gọi là “ keang drô”. Uống hết một keang là được tiếp thêm nước. Trước khi vào cuộc, chủ nhà hoặc chủ lễ đặt những miếng gan gà sống lên những tai ghè (tuôn võ) và đọc lời khấn xin phép các Yàng để mọi người được uống rượu. Già làng hoặc chủ lễ uống keang rượu đầu tiên, sau đó lần lượt theo thứ tự già trẻ, lớn bé, nam nữ. Phụ nữ chủ yếu phục vụ chế nước là chính. Nếu có khách, người đó được mời cầm cần đầu tiên. Khách là người hiểu biết sẽ mời lại già làng và chủ lễ uống trước, sau đó mới đến mình.
ruoucan3
* Người HRê: Mọi người đã ngồi quanh những ché rượu, chủ nhà đứng dậy rút một cọng tranh trên mái nhận vào ché, tượng trưng cho việc mời các Yàng và tổ tiên uống trước. Sau đó ông ta đổ thêm nước cho đầy ché. Nếu nước đổ đầy tận miệng ghè là chủ nhà hết sức tôn trọng, coi là khách quý. Nếu nước chỉ đổ lưng chừng, chưa đầy đến miệng, tức đó chỉ là những khách bình thường. Sau khi đổ nước, chủ lễ cắm các cần rượu, mỗi người khách một cần. Vị khách nào đáng trọng nhất, được đưa mời trước bằng tay trái. Khách tiếp nhận bằng tay phải, chủ nhà lần lượt mời tiếp những người khác. Cuối cùng mới đến ông ta. Trong khi đang cầm cần, khách nào vô ý vơ luôn cả cần của chủ nhà, bị coi như đó là sự khiêu khích, khinh rẻ gia chủ, có khi còn xảy ra xô xát giữa người khách đó với chủ.

Mọi người đều đã cầm cần, vợ chồng nhà chủ đặt tay lên miệng ché nói hai lần “rượu này mang đến cho người anh em nhiều sức lực và gặp nhiều điềù may mắn”. Rồi hai vợ chồng hút qua cần của mình một ngụm, nhổ đi. lại lần lượt làm như thế với các cần của khách. Đó là chứng tỏ thiện ý cuả gia đình ché rượu tốt, không độc.

Những người khách đáp lễ, cùng hút một ngụm, nhổ đi. Cuộc uống rượu chính thức bắt đầu.

Trong lúc uống, nếu chủ nhà muốn mời người khách nào uống nhiều hơn, ông sẽ xin phép đổi cần rượu của mình cho khách, và đổ thêm nước vào ché. Đổ thêm bao nhiêu, khách phải uống riêng cho hết phần đó, mới là quý nhau.Những người uống rượu muốn mời bạn mình uống thêm cúng làm như vậy. Khi rượu đã loãng sẽ thay ché khác, chủ nhà cũng lặp lại những nghi thức ban đầu.

* Người Êđê: Bất cứ một cuộc rượu cần nào cũng cử ra một người điều hành, gọi là “gai pe”.đây không phải là thày cúng, chủ lễ, mà là một người có hiểu biết, lịch thiệp. Gai pe có nhiệm vụ mời ai uống trước, uống sau theo thứ tự già trẻ, nữ nam. Sau nữ chủ nhân là người khách quan trọng nhất có mặt ở buổi lễ. Cần rượu được gai pe uống một ngụm rồi nhổ đi, sau đó đưa mời. Trong suốt cuộc uống rượu, chiếc cần chỉ được truyền từ tay này sang tay khác, mà không được để rời ra. Nếu không uống thì dùng ngón tay cái bịt đầu cần.

Người lịch sự là người được mời sẽ uống một vài hơi rồi hút ra các ống nứa hoặc ly, đưa mời những người cao tuổi hoặc phụ nữ có mặt trong cuộc rượu.

* Người Mnông : Trước khi chính thức uống rượu, tất cả mọi người có măt đều lần lượt uống thử một ngụm trước, sau đó mới mời theo thứ bậc chủ khách, già trẻ, nam nữ. ..

Uống rượu cần là một nét văn hóa đẹp của đời sống Tây nguyên. Ngoài nghĩa vụ với các thần linh, nó còn biểu hiện đầy đủ tính tập thể của cộng đồng, lòng mến khách của gia chủ. Trong khi uống rượu, nam nữ có thể múa hát, các nghệ nhân già kể chuyện cổ tích, trường ca, nói thơ về luật lệ của dân tộc mình. Men rượu cần nhẹ, nhưng cũng tạo nên cảm giác say la đà, rất dễ kích thích tâm trạng con người vui vẻ, cởi mở, hòa đồng với nhau. Sự góp rượu của các gia đình có việc là điều phổ biến trong mọi cộng đồng. Càng nhiều rượu cần, lễ càng vui.

Rượu cần có thể được coi là một trong những nét đặc trưng nghệ thuật ẩm thực (uống) rất riêng và độc đáo của các tộc người Tây Nguyên.

Trước đây người Tây nguyên không ăn Tết Nguyên đán, chỉ một vài dân tộc có lễ cúng Yàng cuối năm hoặc đầu năm. Nhưng ngày nay, do sự giao lưu văn hóa với cộng đồng các dân cư từ nhiều nơi khác đến, nên nhiều vùng, nhất là những thị trấn, thị xã, thành phố… đều đã có ăn Tết. Tất nhiên không thể vắng bóng những ché rượu cần cổ truyền. Mời các bạn làm một chuyến du lịch Tây nguyên, thưởng thức hương vị rượu cần và cùng múa Xoang với trai gái quê tôi. Đảm bảo bạn không dễ quên

Linh Nga Niê Kdăm

Vực Tông Á (Nước soi bóng ai)

Khác với mọi năm, mùa mưa năm nay sao kéo dài quá. Chắc các yang khôgn ưng điều gì, nên đã quá hai lần trăng mọc trăng lu rồi, mà vẫn không chịu nhường bầu trời cho gió về.Đất rừng cứ âm u, âm u một màu tro bếp, với nhnững cơn mưa tưởng chừng như không bao giờ cạn nước. Mọi năm, chừng này là gió đã nổi, xua hết mây đen và mưa.Rừng chỉ còn toàn một màu vàng của nắng và lúa. Vậy mà bây giời mưa vân xhàng hàng, xen cheo chéo phủ đầy rừng cây, con sông, rẫy lúa. Mưa làm mọi con đường về plơi bùn ngập lúy bàn chân, mỗi khi nhậc chân bước đi, đất lại kêu lên uồm uộp, uồm uộp.Nhà nào có voi chở lúa còn đỡ, chớ cõng gùi về, không bấm sâu mấy ngón chân, chắc đổ hết lúa xuống bùn.

rivercliff1

Bếp lửa nào trong plơi cũng phải hối thúc con chau nhanh tay gặt hái. Vụ năm nay trúng mùa quá, lúa to bằng nhau hàng trăm hột, trĩu nặng đầu bông muốn chạm tới sát gốc. bắp, cây nào cũng mang trên mình hai trái bự. Những mưa hoài thế này, suốt không kịp là rụng hết lúa, còn bắp sẽ mọc mầm ngay trong áo lá. Các gia đình phải kéo từng nhà tới giúp nhau, sao cho nhanh chóng giành giật với ông trời, đem cho hết lúa bắp về nhà. Lũ gái trai, trẻ nít chẳng còn lúc nào mà tụ tập nhau chơi bời nữa.Thế nên Nay Chuốt cũng không được gặp Nay H’Á. Anh nhớ Á đến nóng cả bụng lẫn trong đầu.Chỉ mong sao ami H’Á kêu con cháu trong dòng họ găp djuê sang giúp suốt lúa, bẻ bắp. Rồi đến lượt chị em Á qua giúp nhà anh để hai đứa có dịp gặp nói chuyện, cho cái nhớ nó theo con mắt ngó nhau mà ra ngoài. Cho lời thương bớt đầy, tràn theo cái miệng trao qua gửi lại. Nhưng ami Á lại kêu anh em nhà Nay Siêng, Nay Hiêng tới làm giúp. Còn nhà Chuốt, tòan con trai sức đứa nào cũng ngang con beo gấm, ami, ama đâu có phải nhờ ai làm giúp.Chuốt vỗ vỗ lên mình voi H’Nha, ghé sát tai kể lể hết nỗi nhớ thương H’Á chất chứa đầy trong bụng cho nó nghe. Con voi gật gật cái đầu, mắt nó trong veo nhìn Chuốt ra về ra vẻ thông hiểu bụng anh lắm.

Rồi cũng tới lúc ông trời phải ngưng, hết nước để tuôn đổ xuống đất. Gió ào ạt kéo về. Mùa mang đã suốt, bẻ xong xuôi.Mọi atung đều đầy ắp lúa, bắp ngủ kín trên xà ngang, xà dọc.Mùa lễ “ ăn năm uống tháng” bắt đầu.Ching Arap ngân nga bay qua dòng sông Ayun, luồn trong từng thân cây rừng già, quẩn quanh theo khói bếp thơm nồng trên mọi nóc nhà sàn. Nghe tiếng ching đã thấy chân ngứa ngáy, muốn được tay cầm tay bước vô vòng xoang. Suốt dọc đôi bờ sông Ayun, những vạt hoa pnga k’ang vàng chóe chạy dài, nhảy nhót theo nhịp ching trong nắng vàng và gió ngàn.

Từ hai ba lần mặt trời dậy ngủ, khoa plơi đã cắt cử bọn con gái mạnh chân, khỏe tay trong làng, vô rừng tìm chặt cây chuẩn bị làm lễ ăn trâu. Cây plang hoa trắng làm cột Goong drai năm trước, cao chín mười cùi tay, trồng trước sân nhà Rông, nay đã nảy những chiếc lá non xanh mướt.Các già làng đều nói đó là plơi mình “ hên” lắm. yang cho năm vừa qua mưa thuận gió hòa, nay được mùa to.Vậy nên nhất định phải cúng con trâu một em, làm lễ tạ ơn.

Việc của bọn con trai là trồng chéo xung quanh cột goong drai tám cái cọc khác, cao chừng bảy, tám cùi tay, buộc nối nhau cho chắc chắn. Mỗi cột đều có một sợi dây rừng buộc từ ngọn thả xuống tận đất. Trên mỗi sợi dây lại treo những mảnh gỗ nhỏ vẽ nhiều màu sắc, để chào đón tổ tiên, ông bà về dự hội. Lễ năm nay cúng dâng cho các Yang bốn con trâu, nên xung quanh các cột goong còn có bốn cột khác để buộc trâu nữa.Ai khéo tay nhất sẽ làm một chiếc đàn nhỏ gác lên trên đỉnh cột goong. Phải làm cẩn thận lắm, vì đó là nơi để hồn tổ tiên, ông bà, cha mẹ nghỉ ngơi khi về cùng con cháu.Chung quanh đàn phải cắm nhiều lưỡi dao nhọn bằng gỗ và một mảnh hình trăng lưỡi liềm, tượng trưng cho quyền tối cao của các yang atâo. Sau đó quét dọn nhà Rông, bãi cỏ trước sân, phát sạch sẽ đường xuống bến nước, chuẩn bị cho ngày lễ chính.Đàn bà, con gái thì lo giã lúa, tẽ bắp, gọt củ mì làm rượu cần. Khung dệt nào chưa xong phải gấp rút kéo chỉ. Không có người phụ nữ Jrai nào lại muốn trong ngày hội, mà những đàn ông, trai tráng của nhà mình, phải mặc áo, khố cũ.

Cả plơi đã tụ tập về sân trước Rông. Bọn con nít là chộn rộn nhất, có mặt từ sớm, cứ như đếm qua chúng nó ngủ không nhắm hai con mắt.Ai cũng mặc những bộ đồ đẹp nhất mà mình có. Màu đỏ đen của những tấm váy, áo, khố, tấm choàng rực lên trong cái lạnh se se của đầu mùa khô.Vòng cổ, vòng tay, vòng chân sáng lóe lên, kêu leng keng theo mỗi bước đi. Bộ ching Arap pha đồng đen rất quý của khoa plơi – chủ làng có tiếng ngân rất vang, rất xa, cũng đã được đem tới, cùng với trống hgor lớn. Bốn con trâu đực có những bộ sừng đen bóng, cong vòng sắp chạm nhau được dắt tới cột vô bốn cây nêu nhỏ. Bên cạnh đó đặt một chiếc nia có bày các lễ vật khác như cơm, bầu rượu, bắp, các loại đâu, cả những trái bí bầu…vừa mới hái trên rẫy về. Thấy đã đông đủ, khoa plơi và mấy cụ già làng cùng đi tới nhà thày cúng Po ieo tơ pai , mời ông ra làm lễ. Những thanh niên giỏi việc săn bắn nhất, đã được cắt cử để chuẩn bị lễ đâm trâu.Mỗi con hai ba người, chờ sẵn ngay bên cột buộc trâu đó.

Khoa Plơi, các già làng cùng thày cúng từ nhà đi tới trong tiếng ching vang lừng. Pô ieo tơ pai đi giữa, đầu quấn khăn đen, mặc áo đen, vai mang tấm choàng hoa đỏ rực rỡ của thày cúng. Ông đi tới trước cột goong thì dừng lại, cả đám đông bỗng lặng im phăng phắc. Nghe rõ cả tiếng thở, tiếng đập đuôi của những con trâu.Tiếng Pô ieo tơ pai ngân nga vang khắp sân Rông, tạ ơn các yang vì việc làm ăn tốt đẹp trong năm; cầu xin mùa màng năm tới cũng lớn bông, nhiều trái; trâu bò, heo gà sinh sôi, người vật không ốm đau , bệnh tật. Rồi ông cất tiếng hát khóc con trâu :

– Bơi hơi….bơi hơi tpao! Lâu nay trâu bạn với ta trong nhà như anh em. Nay đem trâu thay người lễ tạ các yang, cho buôn sang bụng no, người ấm. Tui thương trâu lắm nhé. Bơi hơi…bơi hơi…tpao ơi..

thac

Giọng ông lúc bay bổng lên tận ngọn goong, lúc trầm xuống sầm sập như nước nơi đáy thác.Lúc như khóc, lúc như cười, hàng mấy trăm con người lớn nhở nín thở lắng nghe. Bọn nhỏ lít nhít nắm chặt tay ama, ami hay anh chị. Mấy con trâu gục gặc đầu, mắt chớp chớp như đồng ý.Ching trống lại nổi lên bing bong. Vòng xoang đã bắt đầu tự lúc nào. Hai con trai khiêng trống đi trước, mỗi người một ching , gân fhai chục chiếc lớn nhỏ, nối bước nhau.Những bước chân tiến lên, lùi xuống xoay xung quanh cột goong. Lâu lâu lại một tiếng hú sáng khoái kéo dài, hàng trăm người cùng hòa theo đáp lời. Tiếng hú âm vang lan lan trên mặt sông vàng đẫm ánh trăng. Pô ieo tpai ra hiệu, vòng múa nữ lùi dần ra cho những chàng trai đâm trâu bước tới.Tám thanh niên ngực nâu trần vạm vỡ, bóng láng, vung tròn vũ khí trong tay, dẫn đầu đoàn ching trống đi vòng quanh những con trâu và cột nêu. Lựa được khoảng cách tốt nhất, họ phải đâm một nhát lao hay kiếm, cho trúng ngay tim con vật.Sau đó chém tiếp vô khuỷu chân trái phía sau, rồi khuỷu chân phải, cho trâu khuỵu xuống. Vừa múa vòng tròn,vừa tiếp tục đâm, chém, cho đên skhi con vật tắt thở. Như vậy mới được coi là năm tới may mắn.Lỡ ra trong khi vùng vẫy, con trâu nào đứt dây chạy, đó là điểm không may mắn cho mùa sau, người đâm phải được thay ngay.Tiếng hò reo cổ vũ những chàng trai tài giỏi, đem may mắn tới cho cả plơi, rộn rã khắp sân Rông. Ching trống càng thêm dồ dập. Vòng xoang mỗi lúc một rộng ra, bởi có thêm nhiều những bàn tay quen lạ nối tay.

Pô ieo tơ pai mang nồi đồng tới hứng huyết trâu hòa với rượu, để bôi lên thẻ bói xem việc mùa năm tới thế nào. Ông cũng cắt lấy đuôi, tai, mũi khoét mắt trâu đặt thêm lên mâm cũng.Việc tế lễ xong xuôi, các già làng, khoa plơi và thày cúng lên nhà Rông để coi bói và bàn việc mùa sau.Ai đã được phân công xẻ thịt, nấu nướng, cột thêm rượu thì cứ thế mà làm, hoặc về nhà nấu cơm canh, mang rượu ghè tới góp.Ai không có việc cứ vui múa. Rượu buộc hàng dãy dài trên nhà Rông, dưới sân, quanh cột goong…Sau lần khấn vái cuối cùng của thày cúng, mọi người thỏa sức ăn uống. Rượu chảy tràn trề như nước sông Ayun. Gió đẫm mùi thịt nướng thơm phức. Ching cứ bing boong, bing boong ngân xa và những bước chân trong vòng xoang vẫn cứ rầm rập, rầm rập.

Nay Chuốt đã ngấm men rượu lừ đừ. Mọi khi anh đâu có uống nhiều như thế. Những bữa nay Chuốt vui trong đầu, trong ngực lắm. Là người đầu tiên đâm trúng tim cho con trâu quỵ xuống, Chuốt được sự hò la cổ vũ nồng nhiệt của mọi người.Nhưng cái chính là H’Á đang ở giữa vòng xoang kia. Trong mắt Chuốt, con gái khắp hai ba plơi này, không có ai xinh đẹp, không có ai múa dẻo bằng Á. Cứ nhìn là thấy ngay : H’Á đang di chuyển nhịp nhàng, chân phải bước lên, chân trái theo sau. Nhún một cái yểu điệu, cặp mông tròn tròn đẩy nhẹ, nghiêng nghiêng cái eo lưng thon như bụng con ong xây.Đôi tay nâu hồng mịn màng đưa đẩy lên xuống. cả người Chuốt bỗng nóng ran như có kiến cắn. Anh nhảy ba bước, tách hai ngón tay út của H’Á và cô gái bên cạnh đang míc vô nhau ra, ngoéo ngón út của mình thay thế. Binh boong, binh boong….vai cọ vai và hông chạm hông. Ánh lửa bập bùng. Trái tim thùng thùng.Khố váy rung rinh, rung rinh. Những bước chân thậm thịch, thậm thịch…suốt đêm, suốt đêm.

Chuốt kéo tay Á rời khỏi vòng xoang đám hội, chạy nhanh trên bờ sông. Tiếng Á cười trong vắt át cả tiếng nước chảy.Bất chợt Chuốt dừng phắt, khiến Á xô vô giữa ngực anh. Chuốt vòng tay ôm chặt Á, cả hai cùng thở hổn hển. Mùi mồ hôi và da thịt con trai lạ lẫm khiến Á run bắn cả chân tay. Cô tựa đầu lên tấm ngực trần căng vồng của Chuốt, khẽ nhắm mắt lại.Hơi thở thơm mùi mật ong của Á làm Chuốt ngây ngất như người lên cơn sốt nóng. Thân hình họ bốc cháy ngùn ngụt, áp sát vô nhau đến nghẹt thở.Vẫn còn run rẩy, Chuốt ghé sát tai Á thì thầm :

– Á bắt mình về làm chồng nghe.

Á hốt hoảng vùng khỏi tay Chuốt lắp bắp nói không thành lời :

– Không được đâu Chuốt ơi!

– Sao vậy? Á không thương mình nữa à ?

– Thương chớ sao không. Nhưng mình là cậu cháu mà. Cưới nhau đâu được.

– Cậu cháu xa mấy đời rồi Á.

– Không được Chuốt ở. Plơi phạt bà con mà cưới nhau, nhà Chuốt lấy trâu ở đâu nhiều mà đền cho làng?

– Đền mấy trâu cũng cưới.Nếu Á sợ, hai đứa mình đi ở Plơi khác được không? Hay lên rừng, núi ?

– Càng không được nữa. Ở nhà còn có ami, ama. Ra ngoài Plơi còn có dòng họ, bạn bè. Lên rừng chỉ có hai đứa buồn lắm. Không có tiếng chiêng, không có tiếng nói cười. Lỡ trốn đâu mà người ta tìm bắt được, còn phạt nặng hơn thì sao?

– Một ngày không nhìn thấy Á, đầu Chuốt nóng như cái nồi khô đặt trên bếp lửa, người Chuốt héo úa như cái cây bị chặt gốc rồi đó Á ơi.

– Bụng Á cũng thương Chuốt nhiều như nước sông Ayun kia. Nhưng làm sao ami, ama dám đi hỏi Chuốt về làm chồng cho Á được?

– Á không cưới, Chuốt nhảy xuống sông Ayun chết đi cho rồi. Sống mà không có Á, hay nhìn thấy Á uống chung bầu nước với người khác, mình không chịu nổi đâu.

Nói rồi Chuốt xăm xăm chạy ra bờ sông. Á cuống cuồng nắm vạt khố níu lại :

Yang ơi! Chuốt không thương Á thực bụng rồi. Chuốt chết, làm sao nhà bên đó để cho Á ở yên? Luật tục cũng phạt bắt người đền người đó. Chuốt không nhớ sao?

– Vậy Á cưới Chuốt đi.

H’Á buồn rầu, hết nhìn lên trời lại ngó xuống đất. Bụng cô rối như búi chỉ tìm không thấy mối, chẳng biết nói thế nào.Thương Chuốt cũng nhiều mà phần sợ luật tục còn nặng hơn. Nước sống Ayun vỗ bờ oàm oạp như giận dữ. Bóng Á và Chuốt in trên mặt sông trở thành méo mó kỳ lạ. Mắt Á chợt sáng lên :

– Ơ cậu! Nếu yang ưng cho hai cậu cháu mình lấy nhau, thì Chuốt phải làm sao làm sao cho hai bờ sông Ayun này gần lại, nước phía dưới kia dâng cao lên. Lúc đó Á chịu cưới Chuốt. Còn nếu Chuốt không làm được, tức là Yang không cho hai đứa làm vợ chồng, mình đành xa nhau thôi Chuốt.

Nãy giờ ngây ra nhìn Á, cả người Chuốt đông cứng như hóa đá bỗng sống lại :

– Được rồi ! Chuốt sẽ làm việc này. Yang sẽ thương hai đứa mình. Chắc chắn mà.

* *

*

rivercliff

Chuốt chở trên lưng voi H’Nha một ghè rượu, một con gà, ra bờ sông.Nhảy xuống sông tắm rửa sạch sẽ, xếp lại tấm khố cho ngay ngắn, anh nắm hai bàn tay lại khấn :

– Ơ Yang ! hãy về uống rượu này, ăn thịt gà đây, để nghe Chuốt nói. Nếu các yang cho Chuốt với Á cậu cháu mà được thương nhau, sẽ để cho Chuốt làm hai bờ sông Ayun xích lại như theo lời Á. Việc xong, Chuốt lễ các Yang một con trâu trắng. Bớ yang.

Hút rượu trong ghè ra ống nứa, Chuốt đem đổ xuống mặt sông ba lẫn. Một con sóng lớn bất ngờ vươn dậy uống rượu, bổ nhào lên người Chuốt ướt lướt thướt. Ăn hết con gà. Uống hết ché rượu. Chuốt lên voi về nhà ngủ.

Từ hôm sau, khi lũ gà trong plơi chưa kịp gọi mặt trời thức, cho tới lúc chiếc xe bánh lửa chở ông vụt lặn xuống bên kia rừng, Chuốt và voi H’Nha hì hục kéo đất, đổ đá xuống hai bờ sông Ayun. Một lần, hai lần, ba lượt, trăng cứ vơi rồi đầy. Chuốt quên cả ăn uống. Đêm vừa đặt mình xuống sàn, đã muốn vùng dậy cưỡi voi ra sông. Người Chuốt xẹp xuống như con cá amí phơi khô trên gác bếp. Ama la, Chuốt không nghe. Amí khóc, Chuốt không hỏi. Trong đầu Chuốt chỉ có tiếng cười trong như nước đổ của H’Á. Trong mắt Chuốt chỉ thấy dáng người xinh đẹp dịu dàng của Á giữa vòng xoang. Đôi bờ sông Ayun mỗi ngày một gần lại.Nghĩ tới lúc được làm đám cưới với Á, Chuốt quên cả mệt, quên đói khát.

Cả plơi xôn xao khi thấy nước sống Ayun trên nơi Chuốt đang ngày đêm đổ đất đá, cứ ngày một phình to, nước phía dưới mỗi lúc một dâng cao.Lũ con nít cởi truồng tồng ngồng kéo nhau hàng đàn chạy từ nhà ra bến nước léo nhéo tranh cãi, lỗ tai Chuốt như điếc. Trai gái trong plơi túm tụm bàn tán xì xào, Chuốt không hay. Các già làng chống gậy còng lưng lụ khụ ra hỏi han, Chuốt cũng lặng im.

Tiếng ong tiếng ve đầy cả lỗ tai, H’Á quyết định ra sông coi thử.từ sau ngày cúng Yang ăn cơm mới đó, Á né mặt, chưa gặp lại Chuốt.Cô nghĩ anh không thể nào làm được một việc khó khăn như thế.Yang không khi nào ừng cho hai cậu cháu cùng một họ Nay mà được lấy nhau.

Ra tới bờ sông, Á sững sờ : nơi hai đứa đứng soi bóng nước bữa đó, nay như có phép yang, đã mọc lên hai vách núi, ép chặt dòng sống tới chỗ này phải nhỏ lại.Chỉ cách chừng hai ba cây đòn khiêng nữa là hai bờ gặp nhau.Cuối vách đá là một cái vực sâu, nước xanh ngăn ngắt. Đầu Á rối tung, không biết nghĩ tới, nghĩ lui làm sao nữa.Chuyện Chuốt, Á thương nhau, trong nhà chưa ai biết, ngoài plơi chưa ai rõ. Nhưng từ hối nào tới giờ , Á đâu có thấy người trong họ được lấy nhau. Nhất là lại cùng một họ mẹ như Á với Chuốt nữa.Ai lỡ thương, làng phạt, bắt mổ mấy trâu, mấy bò cúng yang xin xá tội, đãi cả làng anw uống xì xụp mấy ngày. Nếu mà lỡ ngă mit, có em bé trong bụng, hai người cùng phải bò lết tới cái máng heo đặt ngoài bến nước, vục đầu xuống, lấy miệng mà ăn cơm canh người ta đỏ trong đó như cách con heo ăn.Các già làng luôn căn dặn” Anh chị em trong họ mà lấy nhau là phạm tội lớn. các Yang giận sẽ cho mưa lớn, gió to kéo dài, hư hỏng hết mùa màng. Có khi còn cho thú rừng về phá hết lúa bắp. Mất mùa, đói sẽ làm chết cả làng. Nặng hơn, yang gieo cái bệnh lạ xuống mọi bếp lửa… Chết người, rồi còn phải dời đất cũ đi tìm bến nước khác nữa” Tội đó nặng lắm ! Sao Chuốt không nghĩ xa cho Á vậy? Phải làm sao để các yang đừng trị tội cả Plơi đây?

Á chậm rãi bước tới bên bờ vực, lặng lẽ nghiêng mình soi xuống nước. Chuốt hớn hở chạy lại. Mặt nước lặng im như không chảy, xanh thăm thẳm, bóng hai người lung linh. Có ai đẹp đôi như họ? Ngươic nhìn Chuốt, nước mắt ròng ròng, Á nhún chân như muốn bắt theo nhịp ching Arap vô vòng xoang, thả rơi mình xuống vực. Nước mở cánh tay ôm Á vô lòng rồi khép lại.Vẫn một màu xanh thăm thẳm. Chuốt sững sờ. Anh chưa kịp khoe với Á kết quả việc làm vì tình yêu của mình.Như thế là Yang ưng để hai đứa thành đôi, nên mới giúp sức cho Chuốt làm hai bờ sông gần lại. Nhưng Á đâu rồi ?

Gió bỗng nổi lên gầm gào dữ dội. Cây cối ngả nghiêng, vặn xoắn lại, kêu la răng rắc.Mặt nước sông cuộn sóng, như có một con vật khổng lồ nào đang quẫy đùng đùng trong lòng nước vậy. Trời đang trong xanh bỗng tối sầm. Lòng Chuốt đau như ai đem dao cắt đi từng miếng. Chuốt còn ở đây làm gì khi không có H’Á. Á ơi !

Sóng chợt yên, gió bỗng lặng. Không ai tìm thấy Chuốt đi đâu nữa. vực sông Ayun nơi này càng xanh đến lạ, như ngừng chảy, không bao giờ còn nổi sóng. Nước trong lòng vực lúc nào cũng mát mẻ, êm đềm như có tiếng ai hát ru. Người già trong plơi gọi tên “ Vực Tông Á”.

Chiều, nắng trên vực Tông Á có màu tím. Sáng, nắng chuyển sang màu hồng. Con gái tắm nước Tông Á da trắng, tóc dài. Con trai bơi trong Tông Á bắp thịt săn chắc như thân cây cate. Mặt nước như gương bạc. Ai soi xuống cũng thấy mình đáng yêu hơn. Gái trai Ayun Pa đẹp vì thế ?

Linh Nga Niê Kdăm

Lễ hội Ka Doong của người Jẻ – Kon Tum

Khi những cơn gió rừng ào ạt đổ về cợt ghẹo đung đưa những vạt cúc quỳ vàng rực màu nắng, ấy là khi việc thu hoạch mùa màng của người Tây Nguyên đã hoàn tất. Mọi nhà, mọi buôn, bon, kon, plei đều chuẩn bị cho mùa nghỉ ngơi.Một vòng đời của người Tây Nguyên có biết bao nhiêu lễ hội. Mỗi dân tộc lại có riêng những lễ thức của mình.Bắt đầu từ lễ thổi tai cho đứa trẻ mới ra đời. Rồi lễ cắt việc khi con trai tới tuổi thành niên, trao vòng đính hôn cho nữhng gái trai yêu nhau, bó củi dành cho đám cưới….Nhiều hơn cả là những lễ hội diễn ra theo nông lịch. Như cầu mưa, dọn cỏ, phát rẫy,xuống giống, lúa lên chòi, ăn trâu mừng lúa mới….lễ hội ka Doong của hai nhóm tộc người Jẻ và Triêng ở Kon Tum cũng nằm trong hệ thống những lễ hội đó. lễ thường bắt đầu từ cuối tháng 6, đầu tháng 7 âm lịch, khi mà lúa trên rẫy đã làm xong cỏ đượt đầu.
ruoucan
Ka Doong là lễ lớn nhất trong năm của người Jẻ, Triêng.Tiếng Jẻ Ka Doong có nghĩa là ăn hết. Sau khi đã hoàn tất việc trỉa hạt xuống tòan bộ đất rẫy, cây lúa, cây bắp đã bén rễ lên xanh, người ta tổ chức ăn hết những hạt giống cũ còn lại , không để thừa.Theo quan niệm của người Jẻ, Triêng, nếu không “ ăn hết” mà để thừa lại hạt giốnglà lãng phí, là không tôn trọng của cải , có thể sẽ bị các Yang giận mà bắt phạt, không cho mùa tới no đủ nữa.Chính vì thế mà nhà nhà đua nhau mang tất cả những hạt giống không gieo trồng hết ra mời mọc bà con ăn cho bằng, no cho hết sạch. Thế mới trọn vẹn tình nghĩa buôn làng, mới mong có được một vụ mùa khác tươi tốt, no đủ.Nếu lễ “ ăn hết” được tổ chức vui vẻ, hết một tuÇn hay nhiều ngày hơn, cũng đồng nghĩa năm đó được mùa, nên giống má còn lại nhiều, nên gieo trồng không hết. Còn nếu lễ hội chỉ kéo dài có vài ba ngày, cũng có nghĩa là năm đó mất mùa, không có của ăn của để dành.

Người Jẻ, TRiêng chuẩn bị cho lễ hội Ka Doong từ vài ba tháng trước đó. từ việc khẩn trương gieo trỉa cho kịp mùa vụ, đến làm rượu cần, dệt mau cho xong tấm váy kalay, khố Sơlaisúk, hay tấm dồ kalelai đẹp để chồng con và bản thân có trang phục mới tham gia ngày hội. Cả việc lựa chọn sẵn những cây đẹp, có trái ngon chuẩn bị mang đi trồng.Đến ngày đã định, già làng sai đánh chiêng tụ tập bà con về nhà Rông . Buổi sáng đầu tiên của lễ hội Ka Doong, sau khi làm lễ khấn khứa các vị thần linh, già làng đại diện cho toàn thể các thành viên trong làng trồng một cây gì đó thuộc loại cây ăn trái ( như cam, chuối, đu đủ…), với ý nghĩa giữ gìn và gây dựng một môi trường sống xanh tươi, sinh sôi, phát triển.Sau đó, tất cả mọi gia đình đều cử người đại diện của nhà mình trồng một cây gì đó mà mình thích, đã chuẩn bị sẵn.
le_hoi_cong_chieng
Công việc trồng cây đã xong, già làng phân công việc tiến hành lễ hội. đàn ông tụ tập nhau đi săn kiếm con thịt. Đàn bà giã gạo nấu cơm canh, bằng lương thực và hoa màu của vụ trước còn lại sau khi gieo hạt.Trong lễ hội này, các con vật dùng cho việc hiến sinh phải được săn bắt từ trong rừng đưa về. Không được giết gia súc nuôi trong nhà. Luật lệ này mang ý nghĩa sâu xa rằng : con người phải tự tạo, tự kiếm tìm lấy miếng ăn, không được lãng phí.Đồng thời phải bảo vệ môi trường xanh mà các yang đã ban cho.

Buổi tối ngày lễ, đống lửa trước nhà Rông được đốt lên, những ghè rượu ngọt nhất được mang tới cột xung quanh. Những con thịt săn về, sau khi làm lễ dâng cho các yang , phần chia cho các bếp , phần nướng chung cùng ăn tập thể tại nhà Rông.Mùi thịt nướng thơm phức lan khắp làng trong gió đêm. Trong tiếng chiêng trầm bổng ngân nga như mời gọi trẻ già, trai gái với những bộ váy áo thổ cẩm đẹp nhất, nắm tay nhau bước vào vòng múa xoang. Nữ váy ống dài đến đến gót chân, nam đóng khố, choàng tấm dồ chéo ngang qua ngực. Không chỉ múa, người ta còn hát đố , hát đối đáp nam nữ. Những người già thổi đinh tút đi vòng quanh đống lửa, tiếng thủ thỉ như kể lể câu chuyện ngàn xưa. Trai gái ưng nhau rồi thì rủ bạn ra bờ suối hay lên chòi rẫy nhà mình tình tự.Bao nhiêu ché rượu hết vơi lại đầy, cho đến khi nhạt đi lại được thay ché khác. Cứ thế cho đến khi nào những hạt giống gìn giữ từ mùa trước trong gùi,từ sau khi gieo trỉa, được đem ra ăn hết, các ché rượu đã cạn, hội mới tan.
cau treo-konklor
Ka Doong là một lễ hội độc đáo, mang đầy tính nhân văn, tính cộng đồng một cách sâu sắc. Hội đã được duy trì từ hàng trăm năm nay trong bà con người Jẻ, Triêng, cho đến ngày nay vẫn không lạc hậu so với tinh thần của cuộc sống hiện tại.

Linh Nga Niê Kdăm

Dòng sông Tóc

Anh có cho phép em tới thắp nén nhang viếng ngoại?

– Cảm ơn em. Ngoại mất ở quê, vợ anh là con thứ, không lập bàn thờ ở đây

Em ước được chia xẻ đôi chút cùng anh.

Anh ấp nốt bàn tay kia lên tay chị mà anh vẫn giữ lâu hơn cái bắt tay xã giao từ khi nãy. Ánh mắt và bàn tay anh nồng ấm, nói nhiều hơn những gì không thành lời giữa họ. Mắt mờ đi, trái tim nhói đau, chị cố giữ bàn tay thoắt lạnh toát của mình trong tay anh đừng run rẩy.

Thành phố của họ không lớn, vài chục con phố nhỏ rợp bóng cây xanh. Một dãy phố cổ đẫm hương ngọc lan. Một con phố rực màu bằng lăng tím. Một đại lộ mát rượi rải đầy những cánh hoa phượng vàng. Tháng giêng, hai, gió từ rừng đại ngàn chở đầy hương hoa cà phê, len lỏi trong mọi ngõ phố. Tháng tư, hàng vạn cánh bướm vàng, bướm trắng như những vầng mây dập dìu trên đường. Những con phố ngắn dài đều đổ về một bùng binh ken dày những khóm hoa mặt trời vàng rực. Những tia nước từ chiếc hồ tròn lung linh trong ánh nắng mặt trời, tạo nên muôn màu hư ảo giữa trung tâm thành phố.Vậy mà có khi cả năm trời họ không gặp nhau. Thỉnh thoảng trên chiếc xe hơi đời mới bóng loáng, anh nhìn thấy chị với chiếc xe máy cà tàng trên đường. Một nụ cười âu yếm cùng bừng nở trên môi họ. Hai người, như hai con sông chảy cạnh nhau, không có điểm hội tụ. Sông Krông H’Năng chảy chậm hơn Krông Buk.

Anh, với cương vị Tổng giám đốc một công ty lớn nhất miền Trung, ngập đầu trong công việc, trong những cuộc gặp gỡ, tiếp xúc từ bàn làm việc tới bàn nhậu. Các con anh,có khi vài ngày ba không đi công tác xa mà chẳng được thấy mặt. Vốn là một kiến trúc sư yêu thơ, nhưng anh say mê và thực sự có tài trong hoạt động chính trị và kinh tế. Quyền lực và chất xám trong anh biến hoá thành những dòng đola chảy vào ngân quỹ, làm mọc lên như trong huyền thoại Alibaba những toà nhà kính màu lấp lánh, nở bừng những gian hàng sặc sỡ sắc màu, nảy mầm những hàng cây xanh rì rào gọi gió. Với anh, tưởng chừng chỉ có công việc. Nhưng không phải thế, trái tim nhạy cảm của một người yêu thơ trong anh, nhắc mọi điều nhỏ nhặt trong quan hệ với gia đình, xã hội. Và dường như trong một góc sâu thẳm nhất, là hình bóng chị.

Chị, với chiếc máy ghi âm nhỏ xíu, tranh thủ được chuyến xe nào đến vùng đất chị cần là đi liền. Luôn đột xuất và không kỳ hạn, đôi khi chỉ kịp nhắn chồng một câu qua điện thoại, hoặc một mảnh giấy nhỏ đặt trên gối. Chị đam mê những câu hát, những lời nói vần, các chuyện cổ lung linh sắc màu huyền thoại. Vẻ đẹp tìm được trong ký ức của các nghệ nhân già không còn nhớ đã qua bao nhiêu mùa rẫy, dường như tiếp thêm sức lực cho chị.

Đêm đêm, bên một bếp lửa bập bùng mờ tỏ, ở một góc rừng nào xa lắc, chị đắm mình trong những điệu khan, những câu hát và quên hết. Lúc ấy, anh như ẩn hiện bên những Y Rít, Dam Phu, H’Nhi, H’Bia …quanh chị, ngồi xuống bên bếp lửa, kề vai…

*

dongsongtoc

Chàng trai luống cuống rẽ đám cỏ kmrâo. Chiều nào chàng cũng nấp ở đó, ngẩn ngơ ngó trộm hai cô gái lạ từ đâu đến tắm ở bến nước buôn chàng.Yàng ạ ! Con cái nhà ai ? Cha mẹ ăn gì mà sinh con đẹp thế ! Da ngăm ngăm hồng như bình minh mới rạng, hoa nở thua miệng xinh. Con mắt chim k’trâo cũng chỉ sáng đẹp như mắt hai nàng là cùng. Mái tóc thì…úi chao! Trôi trong nước cứ như có thêm một dòng suối xanh, chảy ở giữa làn nước trong vắt vậy. Đó, coi kìa! Chị đang khoát tay bơi sải, em vượt lên trước rồi quay lại tạt nước chị. Thoáng thấy mái đầu chị nhấp nhô, rồi biến mất trong nước. Tiếng cô em vụt ré lên, thân hình chợt sáng loáng trong làn nước trong suốt. Thì ra cô chị đã lặn xuống, túm lấy váy em kéo mạnh. Tiếng cười lanh lảnh như tiếng ching Kur pha bạc ngân khắp mặt sông vắng. Chàng trai cũng đờ đẫn ngẩn ngơ.

Sáng nào thức dậy, lúc mặt trời tươi cười chào đón mặt đất, chàng cũng tự nhủ :

– Hôm nay phải ra bắt quen, tỏ lời với hai nàng mới được.

Nhưng chiều xuống nắng rồi mà chàng lại bối rối, ngần ngừ. Càng ngẩn ngơ lại càng như say trầu, say thuốc. Mải nghĩ, lúc nhìn ra hai chị em đã mặc xong váy áo, đang khoác gùi lên vai. Chàng trai vụt đứng dậy H’Rinh, H’Rao sững sờ. Ơ Yang! Con trai bến nước nào mà đẹp như bắp chuối rừng mới ló vậy nè? Mắt sáng như sao, môi đỏ như con gái ăn trầu. Dải khăn đỏ chàng buộc ngang trán, cho thấy không phải con nhà nghèo khó. Khuôn mặt người trai lạ cứ hồng dần lên dưới mắt nhìn tò mò của hai nàng.

– Ơ hai cô! Cho hỏi thăm đường đi buôn Ea Nai, có được không vậy?

– Ơ này người trai bến nước lạ. Chúng tôi đâu có họ hàng mà anh kêu cô. Nhiều tuổi hơn sao anh không gọi bằng chị? Ít tuổi hơn anh xưng bằng em, thế mới dễ đường nói chuyện này chuyện kia chớ!

H’Rao láu lỉnh trêu chọc. Chàng trai lúng túng, nước da trắng càng đỏ lựng như đã uống mấy cữ rượu ché :

– Thế hai…em ở bến nước nào mà tới tắm ở đây?

– Anh này lạ quá! Rừng nhiều cây, suối nhiều nước. Con chim khôn muốn chọn đậu bến nước nào, làm sao ai cấm được?

Lời cứ tiếp lời, chuyện cứ nối tiếp chuyện. Tới lúc ông mặt trời gom hết ánh sáng, chỉ còn thả lửng lơ vài sợi mây hồng hồng đầu ngọn rừng, ba người mới lưu luyến chia tay.

Ba bốn lần trăng tròn treo đỉnh ngọn cây blang đầu bến nước nghe lóm chuyện của ba người hẹn hò gặp gỡ. Chàng trai đã biết hai nàng là gái đảm, bàn tay vuốt nhẹ trên khung dệt là hoa nở trên áo, trên chăn. Cầm cuốc lên rẫy, trái bắp đầy hạt, ngọn lúa nặng bông, cây bí cây dưa cũng đầy hoa, lớn trái. Vỗ tay vô gùi thóc, gà ríu rít đầy sân, heo bóng mượt ụt ịt đầy vườn. Ngày hồng, đêm đen, tiếng nói cười như chim buổi sớm của Ring Rao khiến amí ấm bụng, ama vui lòng, âe, aduôn (*) yên tuổi già bên bếp lửa.

Hai nàng cũng biết cha chàng là một mtao giàu có và hùng mạnh nhất của một vùng đất con chim bay mỏi cánh chưa ra khỏi. Nhà chàng có hàng trăm bộ ching Kur, ching Lao pha bạc; Ché Tuk, ché Tang đếm không xuể nhiều lần hai bàn tay. Nhưng buôn làng ở chỗ nào hai nàng còn chưa biết. Có sao đâu, họ chỉ cần gặp nhau trò chuyện là đủ rồi. Con mắt người nào cũng lóng lánh sáng rỡ như ngôi sao. Thân thể nào cũng bừng bừng như có lửa đốt bên trong.

*

sôngtâynguyên

Thi thoảng có tình cờ được ngồi bên nhau, câu chuyện của anh, chị vẫn chỉ là công việc.Nhiều nhất là luận bàn về một nền văn hóa đã bị lãng quên nào đó, về nhân cách con người, về những tác phẩm, tác giả họ cùng yêu thích hay vừa được đọc. Chưa bao giờ có một lời, dù là bóng gió, được thốt lên giữa họ. Chỉ có sự cảm nhận của đôi trái tim run rẩy. Nhịp tim họ đổ hồi giải mã những lời lặng câm của ánh mắt :

– Em có nhớ anh không?

– Dạ nhớ.

– Nhiều không?

– Nhiều như…………

Anh, cứ bận rộn với những vòng quay của chính trường và thị trường. Chị, vẫn lang thang dọc bờ những con sông chảy ngược về phía Tây bấm máy, ghi chép, lặng lẽ lắng nghe, ngắm nhìn.

*

Mặt trời hồng tròn xoe nhảy vụt lên đỉnh Cư Pông. Một cột lửa lớn sáng lòa rạng ngời trên mặt nước. Núi rừng, sông suối bừng tỉnh chan hòa trong ánh nắng vàng ấm áp hào phóng của mặt trời. Dân các buôn dọc hai bờ sông đổ ra xem chuyện lạ, xưa nay chưa từng có .

Con sông rộng đen đặc, lúc nhúc đầy những cá. Dẫn đầu là một con thuồng luồng khổng lồ, có chiếc mào đỏ chót. Theo sau là hàng trăm loài cá, mỗi loài bám theo một con đồi mồi lưng to như chiếc nong phơi lúa, cõng một chiếc hòm lớn khảm xà cừ lóng lánh. Cá bé bơi trong, cá lớn hộ tống dọc hai bên ngoài. Hàng ngàn cành san hô đỏ vàng và những nhánh tảo xanh, dương lên che rợp mặt nước. Muôn ngàn sắc màu lộng lẫy được ánh nắng mặt trời nâng niu tỏa thành vầng hào quang suốt dọc con sông lớn. Đàn cá ngược về đầu nguồn sông Srêpôk. Tiếng quẫy đuôi ầm ầm vang động cả rừng đại ngàn. Chim chóc nháo nhác chao cánh rợp trời.

Chiều ấy, Ring Rao chờ hoài nơi bến tắm không thấy người yêu. Hôm sau, rồi hôm sau nữa chàng cũng không đến. Ánh mắt hai nàng không còn long lanh, màu hồng trên má không còn chín đỏ. Đêm đêm họ nằm xuống, ngồi lên không biết mấy lần. Lửa bếp run rẩy sáng rồi lại tắt. Nhện đan áo chăng đầy xa quay, chỉ đứt cuối chiếc kpin (**) đỏ đen rực rỡ đang dệt dở trên khung cửi. Cha không nghe tiếng H’Rao cười. Mẹ chẳng nghe thấy lời H’Ring hát. Căn nhà dài im lặng buồn thiu như có ai mới đi về bến nước ông bà, chỉ có lửa đốt bừng bừng trong ngực và một con vật nào cắn xé trái tim hai người con gái xinh đẹp. Chuyện gì đã xảy đến với chàng vậy?

*

Có lúc chị muốn vứt bỏ tất cả, nhào đến với anh. Tới cơ quan, nhắc máy điện thoại lên quay số, rồi lại ngừng tay, bỏ máy. Chị sợ. Mà sợ cái gì nhỉ? Phá vỡ sự yên ấm của gia đình cả anh lẫn chị ư? Hay vì cái ghế Tổng giám đốc của anh? Không phải! Chị sợ cái ảo ảnh có một tình yêu trong sáng và đích thực tan biến. Mà có thực không chứ, một tình yêu giữa anh và chị? Hay đó chỉ là sự tưởng tượng của tâm hồn quá đa cảm trong chị mà thôi?

Con bạn thân nhất, phóng viên một tờ báo lớn thường trú ở thành phố, lên giọng khuyên bảo chị :

– Những người đàn bà dương nữ như tao với mi, số là tâm hồn phải cô đơn suốt đời.

– Thế nên mi mới định không lấy chồng chứ gì?

– Chứ sao nữa. Đang không đi rước cái của ở đâu xa lạ về hầu hạ, chăm bẵm. Được cái đứa nó giỏi giang, nuôi được mình với con còn đỡ. Vớ phải cái của vưà đụt vừa lười, vừa kiêu ngạo nữa thì hết hơi. Ta cứ tung tẩy đã, lúc nào về già kiếm lấy đứa con nuôi, con ngoài giá thú cũng được. mẹ con hú hí cần đến ai?

– Đừng có nói thánh tướng nhé! Phụ nữ dù có cương nghị, năng nổ đến đâu cũng vẫn có lúc yếu đuổi, cần một bờ vai nương tựa ngả đầu. Mà có người đàn bà nào lại không thích được yêu thương , chiều chuộng chứ?

– Nhưng mi có thấy không? Loại đàn ông èo uột như tàu chuối hơ lửa, hoặc sàm sỡ yêu đương bằng cả mồm mép lẫn chân tay, đâu phải gu tụi mình. Những người đàn ông mình ngưỡng mộ, hy sinh hết mình, thì cũng là những người đam mê công việc, dù chính trị, kinh doanh hay nghệ thuật. Trong đầu họ có chỗ nào dành cho mình không? Khi chỉ cần vẫy tay một cái là có cả chục em nõn nà nhào vô, để xả stree chỉ cần “ ăn bánh trả tiền” là xong? Thần tượng của mày cũng vậy thôi. Típ đàn ông đầy nam tính lẫn quyền lực và tiền tài ấy, có khi lại chỉ ưa loại đàn bà đẹp, dốt dốt một chút nhưng dịu dàng, dễ bảo. Làm sao hợp được với thứ ương ngạnh như mi mà dằn vặt , mơ tưởng.

– Biết thế! Nhưng có một đối tượng để trái tim mình đổi nhịp, vui buồn, hồi hộp…rồi tưởng tượng ai đó cũng nhớ về mình tương tự…có lý lắm chứ, phải không?

– Ôi giời! Ai dám bảo rằng mày đàn ông? Cũng lãng mạn lắm đấy chứ. Nhưng tin tao đi! Tình yêu đích thực chỉ có trong những câu chuyện cổ tích hoang đường mà mi đi sưu tầm đó thôi.

Mẹ chị, suốt đời quanh quẩn với khung dệt, rẫy nương, với chia bôi lương thực cho hàng chục bếp lửa trong căn nhà sàn dài của gia đình. Thương con cứ ngồi lặng khuya hàng đêm bên bếp lửa, ghi ghi, chép chép, mẹ thủ thỉ :

– Con gái ơi! Chim khôn lo giữ tổ cho mình. Nai khôn không lạc bước sang rừng lạ đâu con ạ.

Chị thở dài. Trong ngực như có vật gì lớn lắm, nặng lắm đè trĩu.

*

hoasentrensong

Trời đã tắt nắng từ lâu mà Ring rao vẫn ủ rũ ngồi bên bờ nước.

Chợt một làn gió dữ dội ào qua, mặt sông trào sóng. Một cột nước từ xa dồn tới, cuồn cuộn dâng cao, sầm sập như sắp đổ ập lên bờ. Từ trên đỉnh ngọn sóng cao ngất, người yêu của hai nàng như lướt tới. Con sóng tan, chàng đã đứng trước mặt họ :

– Ring Rao ơi! Mình không giữ vẹn được tiếng thề, không trọn được lời hẹn với hai em rồi. Con gái vua Hải Long ngoài biển nước muối lớn đã sai các loài thủy tộc đem lễ vật xin cưới mình làm chồng. Amí ưng chịu, ama bằng lòng. Anh sắp phải theo xe nước về hải cung xa xôi rồi.

Giọng nghẹn ngào, nắm chặt tay Ring Rao, nước mắt chàng trai như mưa tuôn trời mùa hạ. Ring Rao sững sờ đứng lặng, họ có ngờ đâu người yêu mình lại là con trai thần sông Srê pôk. Sao ông Gỗn chẳng thương trai ngoan gái đảm. Cho họ biết nhau làm gì, rồi bây giờ cắt chia đau đớn thế này. Ring Rao có xinh đẹp nhất vùng cũng chẳng bằng con gái vua biển, huống chi vua Hải Long còn giàu nhất mặt đất, ama, amí Ring rao làm sao so bì nổi. Ba người ôm nhau khóc nức nở. Gió lốc lại một lần nữa nổi lên ầm ầm. Một luồng gió xoáy đen ngòm, từ trên trời cao thăm thẳm thò xuống nhấc bổng con trai thần nước mang đi. Tiếng thét gọi của hai người con gái chìm trong gió gào, sấm nổ.

Trời quang, mây xanh trở lại nhởn nhơ trên bầu trời. Chẳng ai còn nhìn thấy Ring Rao ở đâu. Trên mặt sông từ từ nổi lên hai cây hoa lạ : thân thon dài mảnh mai, đầy những chấm gai nhỏ, nâng trên đầu hai búp hoa màu hồng và màu trắng. Những cánh hoa mỏng mảnh xếp lớp, chở che cho chiếc đài hoa vàng, tròn mịn màng như gương mặt của người con gái đẹp. Đôi ba chiếc lá xanh tròn to xoà ra trên mặt sông, rung rinh những giọt nước hệt như nước mắt. Chẳng đẹp rực rỡ như những loài hoa khác, nhưng hương thơm ấp ủ trong búp hoa, theo gió lan tỏa đi bốn phương, dịu dàng kiếm tìm, nhắn gọi. Buôn làng gọi đó là mnga krih ( hoa sen). Dòng sông từ ngày đó mang tên Krông Buk – sông Tóc. Con sông Tóc xanh đậm hơn thuở trước. Dòng nước màu lá rừng hối hả, bươn bả lao về phía biển, vượt qua bao nhiêu cánh rừng, ngọn núi. Vắng dần những con suối nhỏ. Bóng đại ngàn cứ xa dần, mờ dần rồi mất hẳn. Tiếng hú gọi của gió ngàn cố đuổi theo mãi rồi cũng yếu đi, mơ hồ, mờ nhạt. Bbăng qua những miền hoang vu, khô cằn, trơ đầy sỏi đá, dòng sông mỗi lúc một chạy chậm dần, hẹp lại. Con sông Tóc chỉ còn thoi thóp thở. Mặt trời ái ngại vén mây cúi xuống :

– Không thể giành giật lại những gì đã mất đâu. Về với nguồn thôi các con gái ạ.

– Làm sao mà trở về mặt trời ơi. Không còn rừng, không còn tình yêu chúng con ở với ai?

– Thì về với bầu trời ta vậy.

Ring Rao rùng mình bay lên, hòa cùng với các nàng mây áo trắng, áo xanh, tự do bay lượn trên vòm cao thăm thẳm. Dòng sông chỉ còn là một dải bùn hẹp, đen thẫm, như một mớ tóc dài khô đét, xơ xác. Những cây sen gục xuống chết khô trên vệt bùn nứt nẻ.

*

hoasen

Anh chị không bao giờ đủ cản đảm vứt bỏ tất cả để đến với nhau, dù chỉ một lần. Ngàn sợi dây vô hình ràng buộc, níu kéo họ. Sống trên đời này, làm người tốt cũng khổ lắm thay. Thi thoảng có tình cờ gặp nhau, vẫn chỉ những ánh mắt đằm thắm và những câu chuyện vu vơ. Câu thơ anh đọc chị nghe một lần nào đó, đè trĩu lên trái tim họ :

“ Em là bài thơ không chép được

Mà đành lòng anh phải thuộc từng câu” (***)

*

Những kẻ đang yêu bao giờ cũng mù quáng. Vài năm một lần, nhớ người yêu, con sông Tóc lại ào ạt chở theo bao nhiêu cây cối ầm ầm lao về phía biển. Biển ngạo nghễ nuốt chửng mọi vũ khí của Ring rao, đưa cây về xây những lâu đài nguy nga giam cầm con trai thần sông Srê Pôk. Chưa đủ, để vỗ về an ủi chồng, công chúa Hải Long còn dâng sóng cuốn đi bao nhiêu con người và của cải về đặt dưới chân chàng. Ring Rao lại tan tác, tả tơi, bay lên trở về với núi. Cha Rừng, mẹ Đất đốc kiệt cả tài sản cho những cuộc tranh giành tình yêu giữa sông và biển.

Có bao giờ hết không, những chuyện tình của mọi kiếp người ?

Linh Nga Niê Kdăm

(*) ama, ami, âe, aduôn : cha, mẹ, ông, bà

(**) kpin : khố

(***) : Thơ Chu Hoạch

Luật tục Tây Nguyên với môi trường sinh thái

Người Tây nguyên sống giữa núi rừng, gắn bó chặt chẽ sự tồn tại của con người với núi, rừng, sông suối. Để bảo tồn điều kiện sống của mình, con người rất cần có thái độ ứng xử đúng mực với thiên nhiên.Có một nhà dân tộc học người Nga, trong cuộc chuyện trò với các đồng nghiệp Đăk lăk, đã trả lời câu hỏi “ Bà đi đến những vùng sâu , vùng xa ở Tây nguyên, có thấy sự lạc hậu ?”, rằng : “ Tôi có thể gặp sự đói nghèo, nhưng không hề thấy sự lạc hậu. Đồng bào tự tổ chức lấy cuộc sống của mình một cách rất thông minh, phù hợp với điều kiện thiên nhiên ở mỗi vùng “. Vậy những điều “ thông minh “ ấy đã được thể hiện như thế nào đối với môi trường sống quanh họ ?
taynguyen
Khác với người dân miền núi phía Bắc ( ví dụ như người Tày, người Mông) đã có nghề làm giấy để có văn tự từ lâu đời , các dân tộc thiểu số Tây nguyên mới chỉ có chữ viết từ giữa thế kỷ 20, nhưng các bộ luật bất thành văn, mà ta gọi chung là luật tục ( klei phat kđi, klei bhian đi …), tồn tại theo dạng văn vần truyền miệng, đã từ hàng trăm năm nay, chi phối toàn bộ đời sống tinh thần của mọi cộng đồng, do những người có hiểu biết sâu rộng của buôn làng nắm giữ,để điều hành mọi hoạt động của cộng đồng.Trong đó, ngoài những quy định về mối quan hệ giữa con người với con người, với xã hội, những tập quán canh tác, còn có cả những thái độ ứng xử đối với môi trường công cộng… Vài năm gần đây, các nhà nghiên cứu văn hoá dân gian đã sưu tầm và in thành văn bản hệ thống các luật tục Êđê, MNông, Jrai…

Luật tục chính là biểu hiện cao nhất của di sản văn hoá tộc người ở Tây Nguyên. Bỏ qua đi những điều dị đoan của sự thiếu hiểu biết khoa học nào đó, chúng ta sẽ thấy nó được xây dựng quả là phù hợp với điều kiện sống và tập quán canh tác,sinh hoạt của mỗi vùng, mỗi dân tộc

Với rừng :
taynguyen1
Luật tục Mnông chương VII- Về quan hệ sở hữu quy định : không được bán đất, bán rừng , thậm chí không được bán rẫy , vì như thế :

“ Con cháu sẽ trở thành nghèo khổ/ Cây cối không còn để dùng/ Không có bóng cây che nắng”

Hoặc “ Đốn cây đừng cho ngã ngược/ Chặt cây đừng cho dập cành”

Nghĩa là khi phát rẫy tránh không được làm hư hỏng những cây cối khác mọc chung quanh

Còn luật tục Êđê ở chương IV- Về các vi phạm lợi ích cộng đồng , đối với những kẻ làm cháy rừng bị bắt được :

” Chân sẽ bị trói lại ngay/ Tay sẽ bị xiềng lại ngay/ buộc phải bồi thường nặng”

Cho nên

“Ai có con phải dạy con/Ai có cháu phải bảo cháu/ Kẻo có thể đốt cháy rừng”

Và khuyến cáo không được phát rẫy nơi rừng thiêng, do các vị thần linh cai quản, nếu vi phạm sẽ bị động rừng hoặc gây tai hoạ. Có phải đây chính là ý thức hoang sơ nhất của việc bảo vệ rừng đầu nguồn không ?

” Đừng đốn cây đó/ đừng làm rẫy chỗ này/ linh thiêng lắm”

– Luật tục Jrai ở vùng A Yun Pa quy định phạt kẻ làm cháy rừng, cháy buôn rất nặng , nếu không thể nộp phạt được sẽ phải :

“Nó sẽ bị bắt làm nô lệ/ bị giam giữ suốt đời không được tự do,,

Đối với sản vật rừng, luật tục cũng có những quy định cụ thể :

“ Bắt con ếch phải chừa con mẹ/ Chặt cây tre phải chừa cây con/ Đốt tổ ong phải chừa ong chúa/ Thuốc cá làm cho suối nghèo/ Làm chết sạch cả tôm cả cua/ Tội thuốc cá không ai đền nổi,,

Đấy là gì nếu không phải là những quy định để bảo vệ môi trường sống ?

Đối với cộng đồng :

Những kẻ gây cháy ở nhà mình làm ảnh hưởng đến cộng đồng cũng phải bị xử phạt , vì đó là những kẻ :

“dạy không nghe , bảo không vâng, / người xưa nói đều để ngoài tai,,

Có bằng chứng về việc gây ra hoả hoạn, thì :

“ Nếu đàn ông sẽ bị xử chém/ Nếu đàn bà sẽ bị bán đổi lấy trâu bò, của cải

Luật tục của tộc người nào cũng quy định phải xử phạt cả những kẻ thấy cháy rừng, cháy nhà mà không cứu chữa.Vì quyền lợi của gia đình gắn với cả cộng đồng

“ Nuôi voi nhờ cả bon / lạt muối nhờ bon làng giúp/ Rẫy rộng bon giúp làm,,
taynguyen2
Luật tục Êđê còn quy định xử phạt những kẻ gây ra dịch bệnh cho người, cho gia súc ,hoặc biết có dịch bệnh mà không báo cho chủ làng, không cách ly nguồn bệnh,làm ảnh hưởng đến đời sống cộng đồng “ người ta không còn sinh được con gái, không còn đẻ được con trai, không còn giữ được nòi giống” .Đồng thời cũng xử phạt cả những kẻ, nhất là với dịch bệnh gia súc

cứ thả rông để trâu bò buôn mình lẫn với buôn khác” để cho nó lây lan ,

những kẻ dám thách cả cọp, đòi cao hơn cả Yang” đó sẽ bị xử “ như con heo, con trâu để hiến sinh

Luật tục Mnông có quy định rõ ràng :

“Nuôi heo phải làm chuồng/ Nuôi voi phải có cọc/ Nuôi trâu bò không được thả rông,,

Nếu chăn nuôi mà làm ảnh hưởng đến sản xuất, thì

“ ăn một bụi lúa phải cúng gà/ ăn một vạt phải đền một gùi/ Lúa không chết cũng phải đền,,

Cả việc không được phóng uế ra rẫy của người khác,cũng có trong quy định, tuy không xử phạt lớn, nhưng vẫn “ bị dân làng chê cười, ghét bỏ”. Nếu đem chôn người chết ở rẫy của người khác, làm ô uế đất đai, mùa màng thui chột , khiến cho thần lúa , thần rẫy sợ bỏ đi chỗ khác, người Êđê sẽ phạt

“ Tẩy uế đất bằng trâu trắng/ Hiến sinh cho chủ đất một heo trắng,,

Bến nước cũng là nơi được quy định chặt chẽ xử phạt trong luật tục, đối với những hành vi xâm hại ( làm ô uế hoặc phá hỏng ). Đây cũng chính là ý thức bảo vệ môi trường, không làm ô nhiễm đất đai, nguồn nước.

Với lễ hội :
taynguyen3
Lễ hội ở Tây nguyên cổ xưa diễn ra chủ yếu theo nông lịch và theo vòng đời, thường tập trung vào những tháng sau khi thu hoạch mùa màng, gọi chung là “ Mùa ăn năm uống tháng “. Đây là môi trường phát huy tổng hợp mọi loại hình nghệ thuật dân gian, từ tạo hình, nghề thủ công, cho đến văn học, ẩm thực…đặc biệt cũng có những lễ hội liên quan đến việc bảo vệ môi trường.Điển hình là lễ cúng bến nước , thường được tổ chức vào đầu , hoặc cuối năm.Trong lễ này, để cảm tạ các vị thần linh đã phù hộ cho cộng đồng một năm làm ăn may mắn ( hoặc cũng có thể bị thất bát ), việc đầu tiên cả làng làm là dọn dẹp vệ sinh bến nước và xung quanh nơi cư trú.Sau đó người ta mới ăn mặc đẹp để hưởng lễ.Khuyến khích bà con duy trì một số điều luật và tập quán lễ hội mang tính tích cực, phù hợp với yêu cầu của cuộc sống hiện tại là điều rất nên thực hiện.

Chúng tôi chỉ trích dẫn những điều liên quan tới môi trường sinh thái, để có thể nói lên một điều rằng : Từ xa xưa, người Tây nguyên đã tự học cách chung sống hoà hợp với rừng. Vậy tại sao bây giờ chúng ta lại phải vận động lại bà con bảo vệ rừng, gìn giữ môi trường sống ,thậm chí xây dựng buôn văn hoá và những hương ước, lại là điều mà đồng bào đã tự dặn dò nhau “ ai có con dạy con, ai có cháu dạy cháu” từ hàng trăm năm nay ? Chỉ trước năm 1975 , nghĩa là chưa đầy 30 năm trước đây, những luật tục này vẫn còn hoàn toàn là thái độ ứng xử với con người và thiên nhiên trong mỗi tộc người.Phải chăng cách cư xử của chúng ta có gì đó như một sự áp đặt không ? Trong khi có thể thông qua các hội đồng già làng ( khua buôn, kruanh bon …) để khơi gợi lại những điều tốt đẹp đã có trong luật tục, trong cộng đồng, đặc biệt là trong đời sống văn hoá truyền thống của chính họ ?

Tôi không có tham vọng làm sống lại toàn bộ nền văn minh lúa rẫy, bởi sự chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng vật nuôi, sự thay đổi tín ngưỡng, sự giao thoa văn hoá của cư dân nhiều vùng miền tới Tây nguyên, lẫn cơ chế kinh tế thị trường, đã làm lung lay đến tận gốc rễ văn hoá các tộc người thiểu số bản địa.Tuy nhiên, tìm ra một phương thức đúng đắn, để giúp bà con các dân tộc Tây nguyên , không chỉ xoá được đói, giảm được nghèo, mà còn giữ gìn và bảo tồn được những nét đặc sắc của văn hoá truyền thống bản địa, đồng thời với việc ổn định an ninh chính trị và phát triển kinh tế vùng bền vững , há chẳng phải là mục tiêu phấn đấu đó sao ?

Linh Nga Niê Kdăm

Bó củi hứa hôn của cô gái Jẻ

Tiếng chiêng ngân nga vươn mãi lên tận những đám mây trắng trên bầu rời cao nguyên cuối dông xanh leo lẻo.Tiếng chiêng len lỏi trong rừng,theo bươc chân cả plei đang đổ vào rừng tìm Y Đai Kriêng.lễ cưới của người Jẻ ở xop Nghét càng giữ kín chừng nào,đội bạn trẻ càng cảm tháy hạnh phúc chừng đó.Phải tới ngày cưới,khi tiếng chiêng mừng đánh lên,chiêng vui gọi vềì và cả làng đi tìm cô dâu,đã ẩn trốn vào trong rừng từ sáng sớm,người ngoài mới biết được là có đám cưới.Hôm nay Y Đai Kriêng cưới A Đôi E Đuôt

cuihuahon

– Đây rồi !
Mấy chàng trai bạn A Đôi hoan hỉ reo to.Họ vây quanh Y Đai cũng đang cười như nắc nẻ,từ trong một bọng cây ven suối chui ra .Tất cả vui vẻ cùng nhau đi về làng.Dàn chiêng trên nhà Y Đai vẫn rộn ràng ca hát.Cha mẹ cô gái và họ hàng nhà trai kéo về ngồi đợi quanh những ché rượu ,ở giữa đặt chiếc giường tre.Đám thanh niên đưa Y Đai,lúc này đầu tóc đã gọn gàng,áo váy đẹp,ngồi lên giường tre. Đôi mắt cô gái long lanh ,má đỏ hồng ,gương mặt rạng rỡ đầy hạnh phúc.Bạn bè cũng đưa A Đôi đến ngồi đối diện trước mặt cô dâu.Chàng trai hôm nay trông thật đáng mến trong chiếc áo ngắn tay trần,bó chặt lấy thân hình nở nang ,đầu đội khăn cắm hai chiếc lông công xanh biếc ,đang rung rinh theo nỗi bồn chồn hồi hộp của anh chàng.Chiếc khố mới đệt rực rỡ hoa văn vàng đỏ phủ kín đầu gối.
Mâm lễ cúng được bày ra,chỉ có một con gà và một ống rượu.Ông mối đặt tay hai người lên con gà.Tất cả những người đang có mặt đều lần lượt đi vòng quanh chiếc giường tre, chạm vào tay hai người.Ai không chạm,không có quyền được tham dự tiệc cưới.Người ta gấp rút đem con gà đi nấu lẫn với cơm.Trong khi chờ đợi cô dâu chú rể cùng nằm xuống giường,đắp chung một tấm chăn thổ cẩm mỏng .Ông mối nhổ mấy sợi tóc trên đầu Y Đai bỏ sang đầu A Đôi,rồi làm ngược lại như thế với Y Đai
Cơm gà nấu xong đem ra,có hai nắm cơm nhỏ và một miếng gan gà xẻ làm đôi.Mỗi người ăn trước một miếng rồi trao đổi với nhau miếng cơm và gan thứ hai.Bây giờ họ mới cùng ăn hết phần của mình. Sau đó hai người mời nhau uống cạn hết một ống rượu.Ông mối trao cho mỗi người một chiếc vòng đồng,đây là chiếc vòng đính hôn.A Đôi lồng vào tay phải của Y Đai,Y Đai đeo vòng vào tay trái A Đôi.M?i người vui vẻ ca hát,đánh chiêng chúc mừng cho hai bạn trẻ.Thế là xong lễ “ bla ”.Ai lại về nhà nấy.Vòng đã trao đổi,từ nay A Đôi thuộc về Y Đai rồi.

dam-cuoi-tay-nguyen

Họ đã làm bạn với nhau trong sự chứng kiến của cả làng và dòng họ qua hết mùa trỉa bắp . Mặt đã ưng,bụng đã ưa,tối tối họ ngồi bên nhau ở cạnh bếp lửa trên nhà Ưng thầm thì tâm sự luật lệ của bộ tộc nghiêm cấm những chuyện vụng trộm. Ở bên làng Đăk Choong,nhà gái dựng một căn lều nhỏ ngoài rìa làng,cho trai gái đến hẹn hò nhau.Nhưng chỉ được phép tâm sự trong năm đêm thôi.từ ngày thứ sáu trở đi,nếu cảm thấy khôgn hợp nhau,đôi bạn chủ động thôi gặp gỡ.nếu đã ưng nhau,cô gái phải cho người sang báo với nhà trai.Quá năm đêm không thấy nói năng gì,mà hai người vẫn qua lại thăm viếng nhau,cả hai sẽ bị phạt một con heo và mười ché rượu.Cũng có lúc chàng trai chưa ưng ,cô gái có thể nhờ bạn bè “ bắt cóc” anh chàng đưa về nhà mình rồi cho người mang lễ vật sang nộp cho nhà trai.Trong trường hợp này thì Y Đai và A Đôi đã nặng lòng với nhau lắm rồi,nên mọi việc đều diễn ra suôn xẻ.
Để chuẩn bị cho ngày cưới chồng,mẹ đã phải dặn dò  Y Đai phong tục của bộ tộc,từ những ngày cô gái mới hơn mười mùa rẫy bắp đỏ ngọn.Rằng : mỗi ngày đi rừng,ngoài việc kiếm củi,gùi nước dùng cho gia đình hàng ngày,các cô gái như Y Đai phải lựa cho được những cây khô,dễ cháy,cành thẳng đẹp,đượm than,nhẵn nhụi,bó từng bó bằng một người ôm,dài chừng 0,80 m đem về để dưới gầm sàn.Đi trong rừng có thể gặp nhiều bó củi như thế để rải rác.Đó là bó củi hứa hôn ,dùng để nấu nướng trong ngày cưới của một cô gái Jẻ.Ngày làm lễ Loong ( lễ cưới ),phải có 100 bó củi cõng sang nộp cho nhà trai.
Từ bé,mẹ cũng đã dạy các con gái dệt vải,đan chiếu,nặn nồi đất.bé thì dệt dây buôc đầu,dây đeo dao.Đến lớn dệt mền,dệt áo váy,khố…Sao cho sợi chỉ bông Blang sẽ đều ,mượt mà ,sợi cói ken nhau đều tăm tắp.Những chiếc áo khố mịn màng đường hoa văn rực rỡ ,chiếc chiếu dày dặn,không lỗi,những chiếc bình đựng nước,nồi đất tròn trịa …Thể hiện rõ rệt sự khéo tay của người con gái,ngày hỏi chồng mang trao gửi làm đồ sính lễ.
Sau lễ Bla một vài con trăng ,đủ để gia đình Y Đai chăm bẵm cho bầy heo mập mạp.Cô gái sẽ lựa con heo lớn nhất đàn,làm thịt,xẻ đôi,đưa sang nhà A Đôi một nửa.Hai gia đình mời họ hàng,bạn bè tới nhà để thông báo ngày giờ vui của đôi trai gái.cả Plei mang quà cáp ,rượu ghè tới mừng cho đôi trẻ.
Vài ngày sau là lễ Ta lu. Nhà gái sang nhà trai và ngược lại. Mỗi bên đều cột rượu,làm cơm đãi đằng để hai bên gia đình nhận họ,nhận thành viên mới. Và cùng chọn ngày để tiến hành lễ loong, lễ cưới chính thức của Y Đai và A Đôi. Hai bên cùng đồng ý rằng : hết một con trăng tròn nữa là làm lễ loong.
Trước ngày Loong, bạn bè nhà gái phải cõng củi sang xếp ở gầm sàn nhà trai.xong xuôi,thày cúng vẩy rượu lên củi khấn báo các vị thần linh coi sóc trong gia đình ,về trách nhiệm đã hoàn thành của cô gái. Y Đai sẽ trao tăng cho A Đôi những tấm vải dệt,chiếc chiếu mới,đồ gốm do tự tay cô làm ra.A Đôi cũng tình tứ trao tặng người vợ trẻ chiếc gùi mây đan rất khéo, để cô dùng đựng quần áo đẹp,đồ vật quý, hay đi rừng,đi làm rẫy…Tùy theo chiếc gùi to nhỏ và xấu đẹp mà xử dụng. A Đôi cũng tặng vợ một số những đồ đan bằng mây tre khác,để làm vật dụng trong gia đình.Những vật mà khi chuốt từng chiếc nan,anh đã gài cả tình yêu đằm thắm của mình trong đó.Đồ mây tre đan của A Đôi mới đẹp làm sao,những sợi mây tròn trịa bện đan khéo léo và chắc chắn.Anh đã được cha dạy đan lát từ bé,cùng với việc cầm cây ná bắn mũi tên phóng cây lao sao cho trúng con chim trên cành,con thú ăn rừng đêm.
Ngày hôm sau họ cùng ông chủ hôn đi tới nhà ưng. Bạn bè của hai người đã tụ tập ở đây ,chờ làm lễ cheo yêng,cho Y Đai và A Đôi từ biệt cuộc sống độc thân cùng tập thể gái trai trong làng, để về ngủ ở nhà cha mẹ.từ này họ không còn là những gái trai vô lo nữa.,họ phải có nghĩa vụ mới đối với nhau,với con cái. Sao cho gia đình luôn luôn hòa thuận,nuôi nấng cha mẹ già,có đủ cái ăn đặt trên bếp lửa luôn cháy sáng,reo vui.Họ sẽ phải ở bên nhà gái vài ba năm ,lại sang nhà A Đôi ở vài năm.Lần lượt như thế cho đến khi cha mẹ bên nào chết đi,mới ở hẳn bên kia.lễ xong bạn bè sẽ cùng Y Đai – A Đôi ca hát nhảy múa suốt đêm đó.
Sáng hôm sau ông chủ hôn lại dẫn đôi trẻ về nhà. Con heo dùng làm lễ vật hiến sinh cuối cùng,để được các vị thần linh chính thức công nhận hai người là vợ chồng,đã mổ xong,đặt giữa nhà .Hai người cùng đặt tay lên đầu con vật,nghe lời chủ hôn và gia đình dặn dò lần cuối những phép tác từ nay họ phải tuân theo. Trong vòng một năm,vợ chồng chưa được có con,phải làm lụng để trả công bố mẹ nuôi nấng.nếu lỡ có con sớm,hai người phải vô rừng ở,bao giờ nộp môt trâu cúng tạ tội với thần linh,cha mẹ mới được về nhà.Họ sẽ cùng sống bên nhà gái trước.Trong thời gian chung sống,ai phản bội sẽ bị phạt vạ theo luật tục.
Dặn dò hết những điều cần thiết ,người chủ hôn lấy huyết heo bôi lên giường cưới của đôi vợ chồng trẻ,cầu cho họ sinh nhiều con cái và an toàn.
Đấy là xong phần nghi lễ. Củi hứa hôn của cô gái,từ hôm qua đến hôm nay đã được đem ra nấu cơm canh, nướng thịt đãi đằng bà con và bạn bè .Cả plei ăn uống vui vẻ,múa hát ,đánh chiêng mừng hạnh phúc của đôi trẻ.vài năm nữa con cái họ ra đời.bé : nằm trên lưng mẹ ra rẫy. Lớn theo gót chân cha đi rừng ,xuống suối.Đến tuổi thành niên sẽ cưa răng và đến tuổi ngủ tập trung ở nhà Ưng .Con gái lại kiếm cho đủ 100 bó củi hứa hôn ,học dệt vải ,đan chiếu, nắn nồi.Con trai học săn bắn, đan lát… Rừng đại ngàn quanh núi Ngock Linh rụng lá thay lớp áo mới non tơ. Nắng gió xuân gọi nở bừng ngàn đóa hoa rừng. Cuộc sống đang tiếp diễn trên plei Jẻ từ bao đời nay,vẫn thế !
(*) Tục bó củi hứa hôn còn có ở tộc người Sê Đăng, Triêng, Châu…

Linh Nga

Ai là chủ nhân đàn đá ?

Trong lịch sử văn hóa Việt Nam,kể từ tháng 2-1949,lần đầu tiên nhà dân tộc học người Pháp Comdominas tìm thấy 11 thanh đá phát ra âm thanh tại buôn N’Dut Liêng Krăk tỉnh Đăk lăk cho đến nay,đã có 7 lần chúng ta tìm thấy nhiều thanh đá phát ra âm thanh rất hay ( gọi là đá kêu) .Số lượng những thanh đá mỗi lần tìm được không giống nhau : ngắn nhất là hai thanh ở Lộc Ninh ( Sông Bé ,tìm thấy tháng 6-1989).Nhiều nhất là lần tìm được 70 thanh ở Bác Aí ( Thuận Hải,công bố năm 1980).Chính vì không lần nào số lượng các thanh đá tương ứng với bất cứ một loại nhạc cụ nào có trong kho tàng âm nhạc dân gian các dân tộc ít người ,nên những người làm công tác âm nhạc đã mang sắp xếp lại thành những bộ , dàn và gọi đó là “ đàn đá ” 7 âm.
danda

Đàn đá Việt Nam được thế giới coi là loại nhạc cụ cổ xưa nhất. Một số Đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp của nước ta, đã đem đi trình diễn ở nhiều nơi trong và ngoài nước.Nhưng cho đến nay,câu hỏi đâu là nơi đầu tiên đã chế tác ra đàn đá? Ai là chủ nhân đích thực của nhạc cụ cổ nhất này ? Phương thức diễn tấu ra sao ? Vẫn còn là những điều bí ẩn chưa có câu trả lời đối với các nhà nghiên cứu âm nhạc học,khảo cổ học, thạch học…

Từ những năm 1986- 1990,trong quá trình làm địa chí dân gian ở Đăk Lăk,các nhà sưu tầm đã phát hiện thấy dấu vết của việc xử dụng đàn đá và ghi lại theo lời kể của bà con như sau : “Người ta treo những thanh đá lên một sợi dây bắc ngang qua suối. Cạnh mỗi thanh buộc một hòn đá làm vai trò của một chiếc dùi.Sợi dây treo các thanh đá buộc vào một bô phận tương ứng như một chiếc gàu nước,đặt sát mặt suối.Nước chảy đổ đầy gàu,kéo căng sợi dây buộc các thanh đá.Gàu đầy,lật qua một bên đổ hết nước đi,khiến sợi dây buộc các thanh đá chùng lại.Sợi dây và thanh đá dao động liên tục đập vào nhau tạo ra âm thanh. Người Mnông gọi những thanh đá kêu này là gong lú ( ching đá )” *
Trong các bản trường ca – sử thi MNông ( Ôt n’trông ) như “Cây nêu thần , Làm rẫy bon Tiang” … của hai tác giả Điểu Kâu – Tấn Vịnh sưu tầm và biên dịch, ( Sở VH-TT Đăk lăk xuất bản năm 1995) ,cũng có thấy nhắc đến tiếng ching đá – Goong lú

Bộ ching đá thứ 8,được ông Điểu Bang ( Thôn Bu Biar , xã Quảng Tín huyện Đăk RLâp -Đăk Nông ),tìm thấy từ năm 1985.Do quan niệm : “ Goong lú là của các vị thần linh”, nên ông đem cất lại ở chỗ cũ ,ở suối Đăk kar,và chỉ chịu tìm về sau khi có lời đề nghị của cán bộ sưu tầm . Đồng bào Mnông ở quanh vùng cho biết : tổ tiên 8-9 đời của bà con đã có những bộ goong lú 3 thanh, dùng trong các lễ cúng thần Brah rất lớn của Bon Lan.Đã một vài lần bà con tìm được những bộ goong lú 3 chiếc,những do chiến tranh mà bị mất mát,hoặc sợ thần linh nên đã đem cất dấu.

Theo giáo sư Ngô Đức Thịnh ( Viện trưởng Viện VHDG ) và nhạc sỹ Tô Đông Hải thì đã có thể kết luận,rằng : “ Các bộ đàn đá có cấu trúc dựa trên nhóm cơ bản gồm 3 thanh. Đã có hiện tượng phát hiện ra các bộ đàn đá có sự tiếp nối giữa hai nhóm 3 thanh,tạo thành bộ đàn đá có 6 thanh đá. Cấu trúc này hoàn toàn phù hợp với cấu trúc phổ biến của nhiều dàn chiêng các dân tộc ở Tây nguyên: ÊĐê,Jrai,MNông, Mạ, Rakglay…Phải chăng cấu trúc 3 đơn vị trong nhạc gõ đã tồn tại như một hiện tượng phổ biến ở Tây nguyên,ít ra cũng từ 3000 năm trước đây ? ”
danda1
Giáo sư -Tiến sỹ khoa học- Nhạc sỹ Tô Ngọc Thanh đã nhiều lần bày tỏ quan điểm,và chúng tôi cũng cùng chung ý kiến : không tán thành việc tập hợp tất cả những thanh đá được phát hiện cùng một lúc,tại cùng một địa điểm,để gọi đó là “ một bộ đàn” .Nhất là sau khi đã qua bàn tay “ nhào nặn” của các nhà cải tiến nhạc cụ chuyên nghiệp,để cho phù hợp với hệ thống âm nhạc 7 âm phổ thông.Trong quá trình tìm kiếm,việc có nhiều thanh đá thuộc nhiều bộ khác nhau,hoặc thiếu,hoặc lẫn trong những thanh của bộ khác là điều có thể và dễ hiểu.Bằng chứng là trong khi điền dã để xác minh đàn đá Đăk Kar,chúng tôi đã chứng kiến các nghệ nhân người dân tộc Mnông ở hai Bon thuộc xã Quảng Tín (huyện Đăk Rlâp,ĐL) đều đã diễn tấu trên bộ đàn đá 3 thanh rất thuần thục,sau khi trình diễn bằng bộ Chưng đồng 3 chiếc.

Cũng trong buổi công bố khoa học bộ đàn đá Đăk kar,các nghệ nhân Mnông Gar ở huyện Lăk về,và nghệ nhân Mnông Noong ở Đăk Rlâp đã lần lượt thay nhau trình tấu dàn ching đồng ( Goong Per) lẫn ching đá ( Goong lú ) 3 chiếc, không chỉ giống nhau về bài bản, gìai điệu, tiết tấu, mà còn giống nhau cả về phương thức trình tấu.Sau đó các nghệ nhân lại cùng hòa tấu goong lú với bộ đàn đá 7 thanh vừa được nghệ sỹ ưu tú Vũ Lân chế tác. Đây là lần đầu tiên công bố đàn đá có sự tham gia diễn tấu của các nghệ nhân người dân tộc thiểu số Tây nguyên ( Những lần trước đây chỉ do các ngệ sỹ của những đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp trình bày ,qua những bài bản sáng tác của các nhạc sỹ ).Khả năng diễn tấu điêu luyện, và hòa âm chính xác giữa đàn đá nguyên gốc nguyên sơ,với bộ đàn đá chế tác,đã có thể là một chứng minh hùng hồn sự tồn tại và chủ nhân của những bộ đàn đá tìm được ở Đăk lăk,chính là đồng bào dân tộc Mnông.Đây có thể coi là một trong những phát hiện mới của công trình nghiên cứu về đàn đá ở Việt nam từ trước tới nay.

Tại khu vực suối Đăk Kar, các cán bộ sưu tầm còn tìm được dấu vết của một khu vực có thể được coi là cung cấp nguyên liệu và xưởng chế tác đàn đá,vì rất nhiều những mảnh xước có dấu vết ghè đẽo, cùng 12 thanh đá kêu khác.Nghệ sỹ ưu tú Vũ Lân ( Đoàn ca múa các dân tộc Đăk Lăk),đã dùng các thanh đá kêu lấy từ con suối này chế tác thành những bộ đàn đá 7 âm. Các nghệ nhân MNông Noong ,cùng anh chị em nghệ sỹ đoàn ca múa Đăk Lăk hòa tấu đàn đá cổ và đàn chế tác rất ăn ý.

Giáo sư nhạc sỹ Tô Vũ, một chuyên gia hàng đầu về âm nhạc dân gian các dân tộc thiểu số, và nhạc sỹ Kpa Y Lăng – dân tộc Bâhnar – người đã có nhiều công trong việc tìm ra các bộ đàn đá ở Việt Nam gần đây, đã có cùng một nhận xét như sau: “Những bộ 3 thanh đá có tính nhạc ( đá kêu) đã tồn tại trong thực tế.Trừ khi có những chứng cớ ngược lại,còn thì chúng ta có thể xem các thanh đá Đăk kar như một bộ đàn đá hoàn chỉnh.Xét về mặt âm nhạc học,3 thanh đá này là một tổ hợp hoàn chỉnh có thang âm,có điệu thức ba bậc.Trên đó người ta có thể xây dựng nên những giai điệu đơn giản”…

Và cuối cùng Hôị đồng nghiên cứu thẩm định đàn đá Đăk kar đã nhất trí kết luận :

1- Ba thanh đá kêu được do ông Điểu Bang tìm thấy và cất giữ ở suối Đăk Kar, đều có thang âm của âm nhạc thời tiền cổ đại.

2- Nhóm ba thanh đá này đồng bào Mnông cũng gọi tên là Me, Tru, Kon, có thể xử dụng thành thạo và hòa tấu được cùng dàn chiêng đồng ba chiếc (gong per) ủa họ. Đây đích thực là những thanh ching đá ( gong lú ).
danda2
Các nhà khoa học đề nghị tiếp tục nghiên cứu thêm để tìm ra sự tương quan giữa đàn đá Đăk Kar với các bộ đàn đá khác,cũng như với bộ chưng đồng 3 chiếc , 6 chiếc của đồng bào các dân tộc quanh vùng.

Việc đàn đá Đăk kar diễn tấu tương ứng và hòa âm được cùng bộ chiêng đồng mà người Mnông đang xử dụng,cũng như việc các nghệ nhân trình diễn trực tiếp trên đàn đá những bài bản dùng cho chiêng cổ,là một phát hiện mới,thú vị trong việc tìm ra bộ đàn đá thứ 8 của Việt Nam.Vùng tìm thấy các “ bộ đàn đá” đa số thuộc nơi cư trú của các nhóm tộc người thuộc ngữ hệ Môn –Khơmer,như vùng người Mnông ở Đăk Lăk, Đăk Nông;vùng người Bâhnar Chăm ở khánh Sơn; vùng người S’Tiêng ở Lộc Ninh và chỉ có vùng người Rak Glay ( thuộc nhóm Nam đảo) ở Bác Ái. Vậy phải chăng các tộc người thuộc ngữ hệ Môn –Khơmer chính là những chủ nhân đích thực, đã chế tác và sử dụng,cất dấu các bộ ching đá mà chúng ta từng tìm thấy trong nhiều năm qua?

Dù sao, chỉ với việc tìm thấy trên địa bàn, cũng như hòa âm được cùng với chiêng đồng, đồng bào các dân tộc thiểu số Tây nguyên đã có quyền tự hào là những chủ sở hữu của bộ nhạc khí thuộc loại cổ xưa nhất trong lịch sử tiến triển của loài người.

(Theo Linh Nga)

Về bên kia núi

Em mặc yên bằng bàn tay gân guốc của mẹ. Yên cứng và còn thơm mùi hồ. Áo tròng qua cổ, cổ tay em nhỏ và mềm ngọ nguậy dưới lớp áo đen thẫm. Áo mới, em theo chị đi dự lễ tối nay.

Chị Xuân đẹp. Chị mặc yên mặc áo một mình. Cứ xoay trước xoay sau trước mặt bà để bà khen. Bà già rồi, nhưng bà muốn nhìn thấy ngày xưa từ dáng tròn mây mẩy hồn nhiên như lá của cháu gái. Vì vậy mỗi khi mặc yên mới, áo mới. Chị Xuân lại làm bà rơm rớm nước mắt. Nước mắt bà lăn từ những nếp nhăn xếp đều đặn trên mặt. Em thấy thương bà.

Chị Xuân không muốn ở mãi một xó rừng.

taynguyen
Chị nói với em điều đó khi chị em cặm cụi lên rẫy buổi sớm. Con đường mòn gập ghềnh và dốc. Mùa khô gió bốc từng nắm bụi ném vào mặt người. Mặt em lấm lem, mặt chị cũng thế. Chị ném những quả bắp to bằng bắp chân trẻ con của em vào bao bực dọc. Trưa chị không ăn cơm, em ngồi một mình với nắm cơm gạo trắng. Cơm ăn với muối vừng. Chị ngồi mãi ở gốc cây muồng, mông lung nhìn về cuối chân trời. Xung quanh chị hoa vàng rụng kín. Em thấy chị lau nứơc mắt vào chiếc yên cũ kỹ và sờn hết gấu.

Em thấy anh Plin nhìn chị. Aùnh mắt anh sáng lấp lánh như vòng đồng bắt gặp ánh nắng buổi sớm. Anh nhổ củ mì cho em bằng đôi tay rắn như gỗ rừng, củ mì gãy đôi, sữa trắng lấm lem đất. Anh nhặt cây khô nướng củ mì cho em ngay bên bìa rẫy. Em bẻ một nửa cho chị, nhưng chị không ăn. Chị bảo không thích ăn củ mì, chị thích ăn xôi nếp với thịt gà chấm muối ớt xanh. Câu nói của chị làm mắt anh hơi tối lại. Ngày hôm sau anh mang đến rẫy một con gà rừng. Gà bọc trong đất sét, trắng nõn khi anh lôi ra từ đống than hừng hực. Chị nhấm nhấm chiếc đùi gà rồi bỏ xuống xách gùi đi bẻ đọt mây. Chị bảo chị không thích nữa. Em thương anh Plin. Nhìn theo dáng khập khiễng của anh, em thấy chạnh lòng.

Chỉ có em mới biết chị muốn gì.

Chị không nói chuyện với mẹ. Chỉ thì thầm hát với em.

Những hôm trời mưa, em nằm gọn trong lòng chị. Tay vân vê những sợi tóc dài mượt đen bóng vì gội bằng bồ kết rừng. Em nghe chị hát, Giọng chị trong trong và ngọt như nước đầu nguồn tuồn trong ống lồ ô. Chị hay mân mê yên mới trong tay. Em thấy chị dệt túi mới, may áo mới. Mặt chị ngời ngời sáng.

Chị muốn lên phố. Bạn chị lên phố ba năm, quay trở về làng bằng đôi dép cao nghều nghệu, gót nhọn hoắc, chênh vênh như người ta chơi trò cà kheo. Aùo xanh lông két, váy mềm lòe xòe bay bay khi bạn chị leo lên cầu thang.

Em nép sau cửa buồng nhìn chị gói quần áo vào túi xách. Hớn hở. Khi chị xách túi bước xuống cầu thang thì quay lại nhìn em, ngùi ngùi. Chị thơm em thật lâu ở má trái, má phải. Nước mắt chị thấm ướt má em. Vậy mà chị vẫn đi. Chị giúi vào tay em tờ giấy nghệch ngoạc. Em nhỏ quá chẳng biết chị viết gì. Chỉ thấy mí trở về ngã xuống sàn nhà. Từ hôm ấy câm lặng cho đến khi em lớn.

Mí giận em. Nếu chị với em đều là núm ruột của mí có lẽ lại khác. Chị Xuân là con gái mẹ lớn. Mẹ lớn về với ông bà ngay sau khi sinh chị Xuân được hai giờ đồng hồ. Không có người chăm sóc trẻ con, không có người dỗ nó khóc lúc nửa đêm gần sáng, không có người bón nước cháo lúc nó đói. Cha nối dây với mí của em. Rồi cha mất, chị Xuân ở với mí. Mí không xem chị Xuân là con chồng. Nhưng người làng mấy ai hiểu hết lòng mí.

Em lớn và biết mặc váy áo một mình. Em tự dệt váy cho mình. Mền cũng cũng tự em dệt cho mình. Bà không còn ngồi bên khung cửi nữa. Chân bà run và yếu, bà không đủ sức duỗi chân để dệt áo cho bà nữa. Mí đi rẫy suốt và trở về đến nhà vào lúc chiều tối, khi ánh nắng là những vệt mờ xa tít ở chân trời. Mí chẳng bao giờ nói chuyện với em, cũng chẳng nói chuyện với bà. Mí nhìn em bằng cái nhìn sẫm buồn.

Em chẳng có bạn cùng lứa. Bạn em là những đứa trẻ con, tóc vàng hoe và cháy khét. Chẳng đứa nào mang dép. Chúng có những chiếc quần đùi mỏng thếch, áo thun nhàu nhàu mùi đất. Chiều nào em cũng tắm gội cho chúng. Em lôi từng đứa xuống suối, vò đầu vò tóc và kỳ cọ. Chúng bám lấy vai em, hò hét ỏm tỏi. Tắm xong chúng trèo lên trên bờ, lúp xúp trên những tảng đá và hát. Chúng chờ em giặt quần áo cho bà.

    ***

Em nhìn thấy Plin một mình.

Plin ngồi trên tảng đá với con chó nhỏ. Con chó có lông vàng và gầy tong teo. Anh thổi sáo bằng hai tay, bằng cả đôi mắt nhắm nghiền, một chân vung vẩy và mái tóc xoăn xoăn mềm.

Em đứng chôn chân nhìn. Cách Plin khoảng hai chục bước chân. Bỗng thấy trong lòng mình một cảm giác rất lạ lùng. Tiếng sáo kéo em lên lưng chừng không gian. Từ trên đó nhìn xuống dưới mọi thứ thật nhỏ bé và thơm. Mùi cỏ, mùi bùn, mùi hoa lan nép mình dịu dàng trên những thân cây.

Khi em mở mắt thì Plin đang nhìn em. Aùnh mắt anh buồn và mệt mỏi. Từ ngày chị đi, anh cứ ngồi mãi chỗ này mỗi buổi chiều. Anh đợi chị quay về bằng cây sáo 6 lỗ với những âm thanh da diết. Chân anh lấm đất, đầu anh khét mùi nắng nhưng hai tay anh lúc nào cũng ôm cây sáo.

Em mỉm cười rồi quay lưng đi, suýt vấp vào con chó vàng gầy tong teo đang quấn dưới chân.

    ***

Bà đã ngủ một giấc trưa. Và không tỉnh dậy nữa.
nhamo1
Mí khóc vật vờ và dai dẳng. Người ta lôi cái trống lớn nhất, đánh bên phía bịt da con trâu đực. Sầm sầm và buồn. Trống báo tin làng có người mất. Chỉ chốc lát nhà em đã đông nghịt là người, đàn bà trong làng vừa leo lên cầu thang đã khóc, khóc từ cầu thang lếch dần vào nhà. Những tiếng khóc buồn miết vào không gian não nùng.

Em ngồi ở bậc cửa sau, luôn phải nép người sang một bên cho những người phụ nữ lo cơm nước đi lên đi xuống. Em không khóc, em mân mê chiếc yên mới tự tay em dệt mà bà chưa kịp mặc lần nào.

Người ta đưa bà đến nghĩa địa. Đến ở chung với những người đã chết. Người đi đưa đông. Nhưng không có chị. Chị không biết tin nên không về. Không ai biết chị ở đâu để báo tin. Em vùi xuống đất một chiếc ché mới, nắm ba nắm cơm gạo nếp đặt vào đó. Em khóc khi mọi người về hết. Em ngồi một mình cho đến khi không còn nhìn thấy mặt người. Plin đến đưa em về, ngọn đuốc của anh chập chờn ma quái đã mang em khỏi nghĩa địa của bà.

Bà trở về nhà đêm ấy.

Bà đi vào từ nhà trước và ngồi xuống bếp lửa. Bà bảo sao không vùi khoai vào bếp cho nhà có mùi thơm. Không khí trong nhà chết chóc quá. Bà mặc chiếc áo mới, yên mới. Cổ tay đeo đầy vòng đồng. Gót chân bà nứt nẻ và thâm sì. Bà bảo đau chân, đau cả lồng ngực nữa. Bà không thấy cháu gái về nên không đi đâu được. Bà nhớ cháu gái của bà, cháu xinh và người tròn đầy mây mẩy.

Em tỉnh dậy khi mồ hôi ướt đẫm. Bà không có ở đây, chỉ có mí ngồi thờ thẫn bên bếp. Dáng mí còng và tội nghiệp. Gian nhà nhỏ xíu thơm thơm mùi khoai lang nướng. Có lẽ mí cũng nghe lời bà. Bà chẳng bao giờ ăn khoai nướng nhưng thích nghe mùi thơm của nó. Em sờ lên má mình, thấy má ướt. Em đã khóc khi đang vùi trong giấc ngủ chập chờn.

Em không ngủ được vì tiếng giã gạo của mí mỗi đêm. Em nghe cả tiếng hát ư ử buồn buồn phía dưới sàn nhà. Nhà thênh
thang và buồn. Em đi tìm Plin.

    ***

Em nói với Plin rằng muốn đi tìm chị.

Plin nhìn vào mắt em. Không nói. Nhưng em biết Plin đang hỏi em có biết chị ở đâu không mà đi tìm. Em khóc, nước mắt làm khuôn mặt em mờ đi và nóng hổi. “Em không biết, nhưng em phải đi tìm chị về.”

Em chạy về nhà. Em bỏ quần áo vào túi xách. Mí nhìn thấy không hỏi gì. Em đứng tần ngần trước mí, chào nghèn nghẹn. Mí không hỏi em đi đâu, vì sao lại đi. Em chạy xuống cầu thang, vừa chạy vừa khóc. Em hay khóc thế có khi nào em không còn thấy đường trước mặt nữa không.

Em đi một mình trên phố. Em mặc áo vải hoa và quần tây. Em nhớ mùi hồ của yên, cái cấn cấn của tay áo em tự dệt. Nhưng em phải mặc quần áo người Kinh để đi tìm chị cho dễ. Em xuống chợ. Mỗi sáng gùi một gùi măng lấy lại của người cùng làng. Em mong gặp chị vì em chẳng biết chị ở đâu.

Chợ đông và ồn ã. Em không biết rao. Ai dừng lại ở hàng em, em cười và dịu dàng mời mọc. Tiếng em nhỏ. Em hay nhìn sâu vào mặt những người phụ nữ ngồi trên xe, bịt mặt kín mít. Họ mua hàng và luôn miệng kêu đắt. Có khi nào trong số đó có chị của em. Em bị xe đô thị hốt hai lần, cả hai lần em đều níu gùi lại cật lực và khóc. Họ sửng sốt nhìn em. Họ không biết em chẳng tiếc gì những cành măng trong gùi. Em chỉ sợ không gặp được chị khi vắng một buổi chợ.

Nhưng em không gặp chị. Chị không đi chợ và không mua hàng của em.
Em không gặp chị. Có lẽ chị của em đã đi mất rồi.
Em đứng một mình giữa trời nắng. Khóc và thấy trống rỗng.
Em phải về làng. Mí chắc không vui. Nhưng em chẳng biết làm sao.

Em vào sâu trong chợ. Em muốn mua cho mí một cái gì đó. Em cũng sẽ mua cho Plin một cái mũ. Plin vẫn để đầu trần. Tóc xoăn và cháy nắng. Nhìn Plin hoang dã. Em thương cái hoang dã ấy của Plin.

Em nhìn mọi thứ bằng con mắt lạ. Rụt rè và không dám dừng lại ở bất cứ hàng nào. Mọi người nhìn em cũng bằng con mắt lạ. Nhưng họ quên ngay em sau đó và đổ xô đến cuối chợ xem một đám cãi nhau. Tiếng gào thét ầm ĩ. Hình như hai người đàn bà đang túm tóc nhau. Họ hét vào tai nhau những tiếng tục tĩu lanh lảnh. Em nghe như tiếng hét của chị.

Đó là chị của em.

Chị dừng cuộc vật nhau bằng bộ dạng tơi tả. Tóc chị rối tung. Quần áo có nhiều vết toạc. Em nép vào tường. Mép tường nham nhở. Em nhìn chị từ xa xa sau những vết nham nhở ấy. Chị của em. Có lẽ không. Chị em mặc yên mới, áo mới chứ không nhàu nhĩ như thế kia. Tóc chị em không xù và vàng rực như thế kia. Chị em không bao giờ nói với ai nặng lời, nhăn mày với ai quá một ngày.
taynguyen1
Em rời mép tường nham nhở. Rón rén đến gần đám đông bằng bước chân run run. Em sẽ ôm chị và khóc tức tưởi nhé. Em sẽ bảo chị về nhà. Mí không mắng chị vì chị bỏ nhà đi lâu đến thế. Em sẽ nói với chị rằng Plin đang đợi chị.

Mà có khi không phải chị đâu. Em muốn thế. Em run run nghĩ thế.

Lô nhô người. Họ xúm quanh người ngồi bệt dưới đất một cách hiếu kỳ. Nhìn qua vai của những người đang xúm đông ấy, em thấy vết sẹo dài và nhỏ như sợi chỉ vắt ngang trên thái dương bên trái. Dấu vết của lần cành cây rơi xuống khi chị và em đi rẫy về gặp giông.

Chị nhìn em.
Chị có thấy không mà mắt thảng thốt thế kia.
Chị có nhận ra em không mà xoay người phủi đất cát dưới mông mà quay lưng đi thẳng một mạch thế kia.
Chị quên mặt em hay chị không muốn em thấy chị như thế này.

Đám đông tan ngay sau đó. Chỉ có em đứng thẫn thờ giữa lối đi. Có người đi ngang mắng em sao đứng nghênh ngang giữa đường. Chị không xuất hiện để bênh em.
Có lẽ chị đi thật rồi.

    ***

Em trở về làng vào một buổi sáng.
Em đã đi bộ suốt đêm trên con đường nhấp nhô đá. Hai bàn chân em tê buốt. Nhưng không buốt bằng khi em nhớ về chị. Má em nóng rát vì nước mắt.

Mí ôm chầm lấy em. Mí sờ soạng khắp người em như kiểm chứng rằng em có phải bằng xương bằng thịt hay không. Đứng thật gần mí, em mới phát hiện ra mí già đi nhiều quá. Khóe mắt không đếm nổi có bao nhiêu vết chân chim.

Mí không hỏi em có tìm thấy chị hay không? Em cũng không nói rằng em đã gặp chị và không nói được rằng chị nhất quyết không trở về làng. Chị không muốn sống cuộc sống của mí, của em. Chị muốn là người thành phố. Chị bảo có thể sống khốn khó nhục nhã ở đây cũng được. Chị quen rồi.

Em nhìn thấy Plin trên đường ra suối. Plin ôm chầm lấy em, cái ôm của Plin chặt và nóng ấm. Em gục vào ngực Plin và khóc tức tưởi. Nước mắt em thấm ướt một vạt áo. Plin thầm thì “ Em ơi đừng khóc. Em đừng đi tìm chị Xuân nữa. Chị Xuân trở thành người dưng của làng mất rồi. Chị Xuân không trở về nữa đâu.”

“ Chị đi mãi vì làng mình nghèo phải không Plin.”
“ Anh không biết. Nhưng làng hết nghèo thì chị Xuân cũng không trở về nữa đâu em à.”

Em im lặng. Chị không về Plin có đau lòng không. Plin yêu chị.
Em im lặng. Chị không về mí có đau lòng không. Vì mí luôn thấy có lỗi khi chị rời bỏ làng.

Nhưng chị không về, trái tim em nhói buốt. Mí tưởng rằng em không tìm được chị. Mí vẫn đợi cửa chị mỗi khi đi ngủ. Mí chờ chị rời phố phường và về bên kia núi. Em thương mí. Và em thương em.


Niê Thanh Mai

Vẻ đẹp của ching chêng Tây Nguyên

Trước tiên phải nói đôi lời về hai chữ “ cồng chiêng”. Đây thực ra đây chỉ là cách gọi của các nhà nghiên cứu,theo cách gọi của một số dân tộc thiểu số phía Bắc như người Mường, người Thái,hoàn toàn chỉ sử dụng những chiếc cồng có núm (thường gọi là cồng Mường) và dần trở thành thuật ngữ quen thuộc khi nói đến loại nhạc cụ độc đáo này của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. congchieng1Riêng các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên gọi những chiếc chiêng có núm được gọi là ching, chưng, hoặc goong. Những chiếc không có núm có thể được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau, tuỳ theo mỗi tộc người (ví như dàn ching knah của người Êđê, ching Arap của Jrai, chêng của người Bâhnar, Sê đăng, chưng là cách gọi của người Mnông…). Ở đây chúng tôi dùng hai tiếng “ching chêng” như cách gọi của tộc người Bânar để nói về tập đoàn các dàn chiêng Tây Nguyên.

Phác họa “ chân dung” ching chêng Tây Nguyên

Tộc người bản địa nào cư trú trên dãy Trường Sơn – Tây Nguyên cũng có dàn ching chêng . Ching chêng không chỉ là phương tiện giao lưu với các thần linh (Yang), mà còn gắn bó với người Tây Nguyên từ thuở lọt lòng cha mẹ làm lễ thổi tai đặt tên, đến tuổi thành niên, cưới hỏi, sản xuất, giao đãi với bộ tộc, với bạn bè…Cho đến tận khi tiễn đưa linh hồn về với bến nước làng trời.Nói một cách khác, ching chêng chính là tiếng nói tâm linh,tâm hồn của mỗi dân tộc. Trước khi có bộ chiêng đồng, bà con đã có ching đá (goong lú)- một trong những nhạc cụ được coi là cổ xưa nhất của loài người. Sau đó là đến ching gỗ (ching côk, Tlung tlơ..), rồi mới đến ching đồng. Muộn màng hơn là ching tre (ching kram). Âm thanh của tre nứa, gỗ, đá … vang lên không chỉ rộn ràng mà còn da diết giữa núi rừng, sông suối, luôn gắn bó biết bao đối với đời sống tinh thần của con người.
cong_chieng_tay_nguyen
Có một số nhạc cụ dân gian phổ biến trong cộng đồng các sắc dân Tây Nguyên, được mô phỏng theo hệ thống âm thanh của các dàn ching chêng, như : ching goong, ching đinh (của tộc người Êđê, JRai ), Ting ning ( của tộc người Sê Đăng, Bânar), Goong rêng ( của tộc người Mnông), Goong Kla ( của người K’Ho), Cha pi ( của người S’Tiêng)…

Văn hoá ching chêng là một trong những nét đặc trưng nhất trong nền văn minh nương rẫy, của cộng đồng các cư dân thiểu số ở miền núi. Không gian văn hoá ching chêng cùng với các thể loại nghệ thuật dân gian, hệ thống văn chương truyền miệng độc đáo, phương thức sản xuất, tín ngưỡng, các nghề thủ công truyền thống, nghệ thuật ẩm thực….đã tạo nên nét riêng biệt của một nền văn minh nương rẫy, khác biệt hẳn với nền văn minh sông nước của người Việt ở miền đồng bằng.

Tập đoàn các dàn ching chêng Tây Nguyên thường gồm những chiếc có núm và không có núm. Mỗi dân tộc có nhiều loại ching, được gọi tên theo chất liệu chế tác, hoặc xuất xứ (ví dụ như ching Kuôr – chiêng có nguồn gốc từ Cămpuchia, ching Lao – có xuất xứ từ nước Ai Lao, ching Joan – mua của người Kinh ở miền xuôi…) . Cũng có khi bà con gọi theo hình thức và thể loại lễ nghi xử dụng của từng loại chiêng (ching Arap – dùng trong lễ pơthi – bỏ mả của tộc người Jrai; ching xoang sgơr – dùng trong lễ mừng chiến thắng của người Bânar )…Tên chung của các dàn ching chêng, mỗi tộc người một cách gọi khác nhau :
congchieng2
– Người Êđê gọi bộ chiêng của mình là Ching Char (chiêng núm gọi là ching, chiêng bằng gọi là knah)

– Người Jrai gọi Ching tơnah, ching kơ đơ hay ching arap

– Người Bânar & Chăm Hroaih gọi Ching chêng (Ching cho những chiếc có núm và chêng dùng gọi những chiếc không có núm )

– Người Mnông, K’Ho gọi là Chưng goong, hoặc Goong chêng (goong dùng cho những chiếc chiêng có núm & chưng, chêng dùng gọi chiêng không có núm)….

– Người Sê đăng gọi ching goong (ching là những chiếc chiêng không có núm, goong là chiêng có núm)…

Chất liệu chế tác (đồng, gỗ, nứa…) và cơ cấu dàn (gồm chiêng có núm và không có núm) của các dàn chiêng có thể giống nhau, nhưng số lượng trong một bộ nhiều hay ít và phương thức diễn tấu cũng như các bài bản thì mỗi tộc người mỗi khác nhau.

Chưa ở đâu trên đất nước ta, có một tập hợp đông đảo về số lượng trong một dàn và nhiều dàn đến như thế về nghệ thuật diễn tấu ching chêng như ở Tây nguyên. Ít nhất là bộ chiêng Tha có hai chiếc của người Brâu, chêng 3 của người Mnông… Nhiều nhất là 12-14 chiếc trong cơ cấu dàn chiêng Jrai, Bâhnar, Sê đăng. Lên tới 21 chiếc “ching độ” (tăng thêm những chiếc có núm của phần đệm) là bộ chiêng Jrai cải tiến.

Giá trị của ching chêng, được tính theo xuất xứ của chúng, đắt nhất là ching Lao, vì bà con tin là có pha bạc, hoặc tỷ lệ đồng cao hơn, độ tin cậy vào nghề đúc của người Lào cũng cao hơn. Tiếp đến là những bộ ching Kuôr ( chiêng của người Cămpuchia) . Ít giá trị nhất, khi không có đủ trâu bò để đổi lấy ching Lao hay ching Kuôr, người ta mới chấp nhận sử dụng ching Joăn.
congchieng3
Có thể tạm chia ching chêng Tây Nguyên làm ba nhóm :

– Nhóm diễn tấu riêng biệt ching có núm và không có núm , gồm các tộc người Mnông, K’Ho, Mạ, Hrê, Ka Dong, Chu Ru…có cấu tạo, âm thanh và cách đánh tương đối giống nhau.Chỉ khác về hàng âm và bải bản. Thường diễn tấu động vòng quanh bếp lửa hoặc cột nêu. Tiêu biểu là bộ chưng của người Mnông:

Nhóm tộc người Mnông ở Đăk Lak & Đăk Nông thường có hai bộ loại không có núm gọi là chưng ba chiếc và một bộ chưng sáu chiếc ( có vùng vẫn gọi là chêng ). Một số vùng Mnông Nong, Mnông Preh có thêm bộ 3 chiếc chiêng có núm, gọi là goong.

– Nhóm hòa tấu cả các ching núm và không có núm, gồm các tộc người Bâhnar, Sê Đăng, Jrai, Chăm Hroaih… luôn diễn tấu động vòng quanh cột nêu. Tiêu biểu là bộ ching của người Sê Đăng .

– Nhóm diễn tấu tĩnh, là dàn ching char của người Êđê . Khi trình tấu, toàn bộ dàn chiêng gồm một ching có núm lớn ( Mđú) và một ching không có núm lớn ( Char) chịu trách nhiệm phần đệm. 6 ching knah không có núm đối đáp nhau giữ phần giai điệu, nghệ nhân gõ vào mặt lõm bằng dùi cứng. Trống cái H’Gơr đặt đầu ghế kpan có vai trò giữ nhịp và báo chuyển bài bản hoặc ngừng nghỉ của cả dàn
congchieng4
Những chiếc ching có đường kính lớn (theo cách gọi của bà con người Jrai là ching thước chín, nghĩa là khoảng chừng một cùi tay & một nắm tay – tương đương 0,90cm ) thường rất được trân trọng, nâng niu.

Dàn ching buôn Kó Siêr thành phố Buôn Ma Thuột,tỉnh Đăk lăk đã từng thay mặt cho các dàn chiêng Tây Nguyên tham dự Diễn đàn âm nhạc Châu Á- Thái Bình Dương lần thứ 21 tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh, năm 1991 và được chọn bốn bài bản, cùng với một làn điệu dân ca (hát k’ưt) xếp vào kho tàng tinh hoa âm nhạc dân gian của khu vực. Cũng là dàn ching buôn Kó Siêr được mời tham gia Liên hoan âm nhạc dân gian quốc tế tại cộng hoà Sec, Thái Lan, Nhật Bản. Dàn ching Sê Đăng của huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum cũng đã tham gia biểu diễn trong liên hoan âm nhạc dân gian thế giới tại Mỹ năm 2007 . Các dàn ching chêng này luôn được nhiệt liệt hoan nghênh.

Ching chêng trong đời sống cộng đồng

Tiếng ching chêng gắn bó mật thiết với đời sống tâm linh của người Tây Nguyên . Đặc biệt nó gắn liền với mọi lễ nghi liên quan tới sản xuất nông nghiệp, với các lễ nghi vòng đời một con người. Số lượng & chất lượng các dàn ching chêng còn từng là một trong những thước đo giá trị sự giàu có của một gia đình Tây Nguyên.

Tín ngưỡng đa thần và sinh hoạt mang tính cộng đồng cao của một nền văn minh nương rẫy, đã sản sinh ra văn hoá dân gian Tây nguyên.Tính cố kết cộng đồng cũng từ tập quán “ bầy đàn nguyên thuỷ” đó mà bền vững hơn. Bởi ngay từ việc diễn tấu ching chêng, đã chỉ được thực hiện khi có đầy đủ một nhóm nghệ nhân, và chỉ thật sự hứng khởi khi có đông đảo người cùng tham gia.

Thuở xa xưa, ching chêng là phương tiện giao lưu với các thần linh, thông tin giữa bộ lạc này với các bộ tộc khác. Không thể thiếu vắng tiếng ching chêng khi có một việc lớn sẽ diễn ra liên quan đến đời sống con người giữa đại ngàn hoang sơ, như theo những lễ nghi của quy trình canh tác nông lịch trên đất rẫy và theo các lễ vòng đời của một con người, một gia đình hay một bộ tộc. Ngoài việc phải thưa gửi, phải cầu xin và tạ ơn các vị Yang ngự trị nhan nhản khắp nơi về những gì đã, đang và sẽ nhận được; còn phải báo tin buồn vui, chúc thọ người già, mừng người trẻ trưởng thành, nên duyên đôi lứa và cảm ơn bạn bè, dòng họ,gia đình thậm chí cả những nô lệ đã chia xẻ, lao động cật lực cùng gia chủ trong những tháng ngày suốt hai mùa mưa nắng… Mỗi dàn ching chêng là một thông điệp tâm linh, là tâm hồn của một tộc người. Thậm chí là phong cách giao tiếp của một buôn, plei, kon,bon. Ching chêng luôn luôn hiện diện và song hành cùng con người ngay từ lúc mới cất tiếng khóc chào đời,cho đến lúc đi về lại “ bến nước ông bà”.
congchieng5
Diễn tấu ching không chỉ đơn thuần là việc các nghệ nhân tài hoa tập hợp nhau lại để “chơi” những bản nhạc truyền thống, mà xoay quanh chiếc trục âm thanh của các dàn ching chêng là cả một nền văn hoá đa dạng, phong phú và mang vẻ đẹp huyền ảo trong nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, của những kiến trúc, phong tục tập quán, nghệ thuật tạo hình ( cậy nêu, trang phục, tượng mồ…), nghệ thuật diễn xướng ( hát, múa…), văn chương truyền miệng ( kể khan, kể chuyện cổ,lời nói vần, luật tục…), những trò chơi dân gian,ẩm thực… đúng nghĩa là một không gian văn hoá nghệ thuật, mà trong đó ching chêng là yếu tố chủ đạo cấu thành sự độc đáo ấy. Cao hơn, trình tấu ching chêng là một loại hình sinh hoạt nghệ thuật diễn xướng mà toàn thể cộng đồng đều có thể cùng tham gia & cùng hưởng thụ.

Hãy lắng nghe trong gió tiếng ching chêng Bânar trầm hùng như dòng Sê San mạnh mẽ dạt dào tuôn chảy; chiêng A rap Jrai phóng khoáng như đàn ngựa hoang tung vó và rộn ràng khiến chân tay con người muốn lắc lư, động đậy. Những chàng trai Sê đăng dây xa tích bạc đeo ống trầu bên hông leng keng cùng nhịp ching chêng náo nức đưa tâm hồn con người bay lên theo biến tấu diệu kỳ của nhịp điệu bài dân ca “ Chim Jil đi tắm”. Còn mạnh mẽ, ào ạt như những cơn gió rong chơi thổi qua đồng cỏ cao nguyên là tiếng ching char Êđê. Khom xuống mà lắng nghe lời thủ thỉ, bụp xoà, đôi lúc lại lanh lảnh tiếng vòng đồng và các khớp ngón tay gõ lên mặt chưng K’Ho, Mnông, Mạ. Ai đã từng một lần tham gia những lễ hội của người Bânar Chăm Hroaih ở Bình Định, Phú Yên, chắc không thể không nhớ đến nhịp điệu vang vọng hết ngày qua đêm, khi trang trọng, khi sôi nổi rạo rực, lúc trầm tư, của các đội chiêng những làng Xí Thoại, Vân Canh, Hà Giăng…hay cuộc đấu chiêng đôi của người K’Ho (Lâm Đồng), người Cor (Quảng Ngãi). Những cuộc chuyện trò tâm sự, dãi bày biểu cảm,giải quyết mọi hờn giận, hiểu nhầm qua tiếng ching của hai người bạn hay hai gia đình. Lúc quyết liệt, khi tâm tình, có khi lại hồn nhiên tinh nghịch đến bất ngờ…

Ching chêng là thể loại âm nhạc đặc trưng nhất gắn liền với nhiều sinh hoạt văn hoá cộng đồng của người Tây nguyên.Bởi môi trường diễn xướng của ching chêng thường đi đôi với hệ thống các lễ và hội. Ở đó, để phục vụ cho đời sống tinh thần của con người, và là môi trường bộc lộ tài năng của các nghệ nhân chân đất, mọi loại hình nghệ thuật dân gian đều có thể được phô diễn xung quanh nghệ thuật ching chêng, và đó chính là không gian để cồng chiêng tồn tại , thăng hoa.

Trong những đêm lễ hội đường phố, trong khuôn khổ các Lễ hội hoa Đà Lạt, không ít du khách của mọi quốc gia, mọi lứa tuổi đã hồn nhiên nắm tay các chàng trai cô gái K’Ho, Lạch múa say sưa không kém theo nhịp chưng bo.Còn trong một cuộc “ Liên hoan văn hoá cồng chiêng Trường Sơn-Tây nguyên” đã từng tổ chức tại Buôn Ma Thuột, khán giả nồng nhiệt vỗ tay tán thưởng điệu múa solo độc đáo của một nữ nghệ nhân Mnông Nong (huyện Đăk Song tỉnh Đăk Nông ). Hãy nhìn gương mặt đắm đuối đến ngây dại của người nghệ nhân, để hiểu bà đã nhập hồn vào điệu múa, nhịp điệu chưng như thế nào? Cũng không thể không ngẩn ngơ trước dáng uyển chuyển với hai cánh tay giơ ngang đầu của các cô gái Ca Tu vai trần, cặp vú tròn đầy, sánh bên những chàng trai múa khiêl “ngực trần khố có một manh”, mang đến cho người xem vẻ đẹp vừa khoẻ khoắn, lại vừa dịu dàng của điệu múa “Tung tung ya yă ” theo nhịp ching chêng của miền núi Quảng Nam …khắp các lễ hội Tây Nguyên, tràn đầy những hình ảnh khó quên đó.

Để bảo tồn ching chêng Tây Nguyên
congchieng6
Một vài năm gần đây, với chủ trương bảo tồn & phát huy văn hoá các tộc người, sinh hoạt ching chêng Tây Nguyên dần dần được khôi phục. Ngoài một số hoạt động chung, như “ Lễ hội Văn hoá Tây Nguyên” ở Hà Nội & t/p Hồ Chí Minh, các cuộc Liên hoan văn hoá cồng chiêng, Nghệ thuật dân gian Sơn ca, Dân vũ dân ca các dân tộc Trường Sơn – Tây Nguyên ….Đồng thời với ở một số vùng, chính quyền kết hợp với phòng VHTT & các già làng, đã mở nhiều lớp truyền dạy đánh ching,truyền dạy làm và chế tác nhạc cụ truyền thống…

Để không gian văn hóa cồng chiêng được bảo tồn một cách có hiệu quả, thực sự gắn bó với buôn, bon, kon, plei như vốn như thế trong đời sống văn hoá truyền thống, là một việc khó. Quan trọng nhất vẫn là cần khôi phục lại môi trường diễn tấu trong cộng đồng, bằng cách để chính bà con bàn bạc, chọn lọc duy trì một vài lễ – hội truyền thống trong năm, có sự tham mưu của ngành văn hoá, có sự hỗ trợ một phần kinh phí của chính quyền các địa phương để giảm phần lễ, tăng phần hội như : các lễ hội ăn cơm mới, dọn bến nước, đua voi… gắn với việc bảo tồn những di sản văn hóa vật thể đã làm nên sự sống động của ching chiêng, đó là không gian nhà rông, nhà dài, gươn, bến nước…cùng với các vũ điệu, trang phục và các món ăn truyền thống… Nên được tổ chức định kỳ, theo vùng lãnh thổ.Bên cạnh đó cần có một đội ngũ cán bộ hoạt động văn hóa là người dân tộc , đặc biệt là lớp trẻ, nhằm không chỉ khơi dậy lòng tự hào mà còn hiểu và hướng dẫn một cách có hiệu quả, về việc gìn giữ, phát huy truyền thống văn hoá bản địa của chính bà con các dân tộc thiểu số.

Đâu đó trong gió đại ngàn, vẫn còn vang vọng những âm thanh bổng trầm của ching chêng, làm náo nức những vòng xoang và không gian núi rừng. Hãy để cho không chỉ thế giới, mà chính các thế hệ người dân Tây Nguyên, nhất là tuổi trẻ, tự hào và góp phần gìn giữ những giá trị tinh thần quý báu ấy, mãi mãi sống động trong cộng đồng; xứng đáng với địa vị được tôn vinh. Bởi sự tồn tại trong cộng đồng mới chính là cơ sở bền vững nhất để “ di sản văn hoá dân gian truyền khẩu ” độc đáo của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên song hành cùng cuộc sống mới hôm nay và mãi mãi về sau.

Linh Nga Niê Kdăm