Rác thải công nghệ tại Việt Nam đang tăng rất nhanh, đặc biệt là rác điện tử (điện thoại, laptop, thiết bị gia dụng) và rác thải mới như tấm pin năng lượng mặt trời. Các loại rác này chứa nhiều kim loại nặng và hóa chất độc hại, gây nguy cơ lớn cho môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Mặc dù Việt Nam đã có quy định như Luật Bảo vệ môi trường 2020 và cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), việc thực hiện vẫn còn nhiều hạn chế do hạ tầng thu gom – tái chế chưa đồng bộ, công nghệ xử lý còn lạc hậu và doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm túc. Trong tương lai, lượng rác thải công nghệ và tấm pin mặt trời sẽ tăng mạnh (dự báo hàng trăm nghìn tấn), vì vậy cần hoàn thiện chính sách, tăng đầu tư công nghệ tái chế hiện đại, xây dựng hệ thống thu gom hiệu quả và nâng cao ý thức người dân, doanh nghiệp.
Nguyễn Bảo Ngọc
- Rác điện tử và khoảng trống trong chính sách EPR tại Việt Nam
- Thách thức xử lý rác thải công nghệ và các tấm pin năng lượng mặt trời
***
Rác điện tử và khoảng trống trong chính sách EPR tại Việt Nam
Phạm Thu Trang (*) – 10:00 21/10/2025
(KTSG Online) – Rác điện tử tại Việt Nam đang gia tăng nhanh chóng, từ các thiết bị gia dụng cũ đến smartphone, laptop hay các thiết bị điện tử nhỏ hằng ngày. Sự phát triển nhanh của thị trường điện tử, đi kèm với tuổi thọ sản phẩm ngày càng ngắn, khiến lượng rác thải này trở thành một thách thức nghiêm trọng đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Trong bối cảnh đó, cơ chế trách nhiệm mở rộng nhà sản xuất (EPR – Extended Producer Responsibility) được kỳ vọng là giải pháp quản lý hiệu quả, nhưng hiện tại vẫn chưa phát huy hết vai trò, để lại những khoảng trống đáng chú ý trong quản lý rác điện tử tại Việt Nam.
Rác điện tử tại Việt Nam – xu hướng và thách thức
Theo Bộ Tài nguyên & Môi trường, mỗi năm Việt Nam phát sinh khoảng 100.000 tấn rác điện tử, bao gồm chủ yếu thiết bị gia dụng cũ, điện thoại, laptop và các thiết bị điện tử nhỏ. Con số này được dự báo sẽ tiếp tục tăng khi nhu cầu tiêu dùng điện tử gia tăng, trong khi tuổi thọ sản phẩm ngày càng ngắn.

Rác điện tử chứa nhiều kim loại nặng và hóa chất độc hại như chì, cadmium và thủy ngân, nếu không được xử lý đúng cách có thể gây ô nhiễm đất, nước và không khí. Hậu quả này không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn gây nguy cơ sức khỏe cho cộng đồng, đặc biệt là những người tham gia thu gom và tái chế rác điện tử phi chính thức, tức những cá nhân hoặc nhóm thu gom, phân loại và xử lý rác mà chưa được cấp phép, không theo quy trình kỹ thuật và an toàn môi trường. Các nghiên cứu tại một số bãi rác điện tử ở Hà Nội và TP.HCM đã ghi nhận tình trạng các bệnh da liễu, hô hấp và các triệu chứng sức khỏe khác liên quan đến việc tiếp xúc trực tiếp với rác thải điện tử.
Hệ thống thu gom và tái chế rác điện tử tại Việt Nam vẫn manh mún và thiếu đồng bộ. Nhiều cơ sở sử dụng công nghệ lạc hậu, chi phí cao và chưa đạt chuẩn, dẫn đến thất thoát tài nguyên và nguy cơ ô nhiễm môi trường gia tăng. Thực trạng này đặt ra câu hỏi về hiệu quả triển khai EPR, vốn được kỳ vọng là công cụ then chốt để quản lý rác điện tử, nhưng hiện vẫn còn nhiều hạn chế trong thực tiễn.
Thực thi EPR: Bước đầu quản lý rác điện tử ở Việt Nam
Trách nhiệm mở rộng nhà sản xuất (Extended Producer Responsibility – EPR) là một cơ chế chính sách trong đó nhà sản xuất chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình trong suốt vòng đời, bao gồm cả giai đoạn sau tiêu dùng. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), EPR được định nghĩa là: ““Một cách tiếp cận chính sách môi trường trong đó trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm được mở rộng đến giai đoạn sau tiêu dùng của vòng đời sản phẩm”.
Mục tiêu của EPR là khuyến khích nhà sản xuất thiết kế sản phẩm dễ tái chế, giảm thiểu chất thải và hỗ trợ đạt được các mục tiêu tái chế công cộng.
Tại Việt Nam, EPR được triển khai thông qua Nghị định 85/2022/NĐ-CP, yêu cầu các nhà sản xuất và nhập khẩu thiết lập cơ chế thu hồi và tái chế rác điện tử. Một số doanh nghiệp lớn đã bắt đầu thực hiện các chương trình thu hồi thiết bị cũ, hợp tác với các cơ sở tái chế đạt chuẩn và tuyên truyền tới người tiêu dùng về trách nhiệm xử lý sản phẩm sau sử dụng.
Tuy nhiên, việc áp dụng EPR tại Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức. Nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm, hạ tầng thu gom và tái chế chưa đồng bộ, và hệ thống giám sát còn hạn chế. Cơ quan quản lý cũng gặp khó khăn trong việc thu thập dữ liệu, kiểm soát tiến độ và đánh giá hiệu quả thực hiện. Những yếu tố này khiến EPR chưa phát huy tối đa vai trò trong việc giảm rác điện tử, đồng thời đặt ra nhu cầu cải thiện chính sách, nâng cao năng lực giám sát và tăng nhận thức của cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng.
Khoảng trống và thách thức trong thực thi EPR
Mặc dù EPR được kỳ vọng là công cụ then chốt để quản lý rác điện tử, thực tế triển khai tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế. Chế tài hiện hành chưa đủ mạnh, dẫn đến một số doanh nghiệp chưa thực hiện nghiêm quy định về thu hồi và tái chế sản phẩm. Việc thiếu các biện pháp xử lý vi phạm hiệu quả khiến cơ chế chưa phát huy được tác dụng răn đe và khuyến khích trách nhiệm từ nhà sản xuất.

Hạ tầng thu gom và tái chế còn hạn chế cũng là một thách thức lớn. Nhiều cơ sở chưa đạt chuẩn, công nghệ lạc hậu và chi phí cao, trong khi phần lớn rác điện tử vẫn được xử lý bởi các cá nhân và nhóm thu gom phi chính thức, tạo ra rủi ro về môi trường và sức khỏe.
Bên cạnh đó, minh bạch thông tin và dữ liệu về lượng rác điện tử thu gom, tái chế còn hạn chế, khiến việc đánh giá hiệu quả thực thi EPR gặp khó khăn.
Các cơ quan quản lý gặp thách thức trong giám sát tiến độ, kiểm soát chi phí và đo lường tác động môi trường.
Cuối cùng, nhận thức của cộng đồng và doanh nghiệp về trách nhiệm môi trường vẫn còn thấp. EPR chưa được coi là chiến lược trọng yếu trong thiết kế sản phẩm và quản lý chất thải, dẫn đến việc thực thi mang tính hình thức. Việc nâng cao hiểu biết, tăng cường truyền thông và giáo dục người tiêu dùng là yếu tố cần thiết để cơ chế này phát huy hiệu quả.
EPR trên thế giới: Bài học cho Việt Nam
Nhiều quốc gia đã triển khai cơ chế trách nhiệm mở rộng nhà sản xuất (EPR) như một công cụ quan trọng để quản lý rác điện tử hiệu quả. Tại Liên minh Châu Âu, Chỉ thị WEEE yêu cầu các nhà sản xuất chịu trách nhiệm thu hồi, tái chế và báo cáo lượng rác điện tử phát sinh. Nhờ giám sát chặt chẽ và chế tài nghiêm, EU đã thu hồi khoảng 5 triệu tấn rác điện tử mỗi năm, tương đương 11,2 kg/người.
Tại Hàn Quốc, EPR được áp dụng từ năm 2003, tích hợp chi phí xử lý vào giá thành sản phẩm, đồng thời áp dụng mức phí cao cho các doanh nghiệp không thực hiện thu hồi. Cơ chế này không chỉ nâng tỷ lệ tái chế rác điện tử mà còn khuyến khích thiết kế sản phẩm thân thiện môi trường.
Tại Nhật Bản, các đạo luật về tái chế thiết bị gia dụng, ô tô và bao bì đặt ra trách nhiệm rõ ràng cho doanh nghiệp, đồng thời huy động sự tham gia của chính quyền địa phương và người tiêu dùng trong thu gom, phân loại và tái chế.
Những kinh nghiệm quốc tế này cho thấy rằng để EPR phát huy hiệu quả, cần hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao hạ tầng thu gom – tái chế, minh bạch dữ liệu và nâng nhận thức cộng đồng lẫn doanh nghiệp. Việt Nam có thể tham khảo các mô hình này để xây dựng cơ chế EPR phù hợp, khả thi và thực sự giảm thiểu rác điện tử.
Dựa trên thực trạng và bài học quốc tế, Việt Nam cần sớm hoàn thiện cơ chế EPR để quản lý rác điện tử hiệu quả. Trước hết, chế tài cần đủ mạnh và rõ ràng, đảm bảo các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm thu hồi và tái chế sản phẩm, đồng thời có cơ chế xử phạt nghiêm minh với những trường hợp vi phạm.
Thứ hai, nâng cấp hạ tầng thu gom và tái chế là yêu cầu cấp thiết. Các cơ sở xử lý cần được trang bị công nghệ hiện đại, đạt tiêu chuẩn môi trường, đồng thời tích hợp cả hệ thống thu gom chính thức và phi chính thức theo hướng kiểm soát và an toàn.
Bên cạnh đó, minh bạch dữ liệu và giám sát là yếu tố then chốt. Việc xây dựng hệ thống báo cáo đầy đủ, chính xác sẽ giúp cơ quan quản lý đánh giá hiệu quả thực thi EPR, đồng thời tăng tính khả thi cho các chương trình thu hồi và tái chế.
Cuối cùng, tăng cường nhận thức của cộng đồng và doanh nghiệp là điều không thể thiếu. Giáo dục người tiêu dùng về trách nhiệm môi trường, cùng với việc khuyến khích doanh nghiệp đưa EPR vào chiến lược phát triển bền vững, sẽ giúp cơ chế này thực sự trở thành công cụ then chốt giảm thiểu rác điện tử tại Việt Nam.
Tóm lại, rác điện tử là thách thức nghiêm trọng, nhưng với khung pháp lý hoàn thiện, hạ tầng hiện đại, minh bạch dữ liệu và sự tham gia của cộng đồng, EPR tại Việt Nam có thể trở thành giải pháp hiệu quả, bền vững và khả thi.
(1) OECD (2024) – Extended Producer Responsibility https://www.oecd.org/en/publications/2024/04/extended-producer-responsibility_4274765d.html
(2) EU (2025) – About the EU ETS About the EU ETS – Climate Action – European Commission
(3) EC (2025) – Waste from Electrical and Electronic Equipment https://environment.ec.europa.eu/topics/waste-and-recycling/waste-electrical-and-electronic-equipment-weee_en
(*) Chuyên gia Tài chính & Vận hành, Phát triển và ESG; Nguyên Quản lý Tài chính và Vận hành cao cấp tại Tổ chức Winrock International
***
Thách thức xử lý rác thải công nghệ và các tấm pin năng lượng mặt trời
VNE – Nhĩ Anh – 29/10/2025, 09:44
Lượng lớn thiết bị điện tử, linh kiện và tấm pin mặt trời hết hạn sử dụng sẽ tạo ra các nguồn rác thải đặc thù chứa nhiều kim loại nặng và hóa chất độc hại. Mỗi năm thế giới thải ra hàng chục triệu tấn rác điện tử nhưng chỉ một phần nhỏ được tái chế an toàn. Rác thải công nghệ, tấm pin năng lượng mặt trời đang nổi lên như một thách thức nghiêm trọng với môi trường toàn cầu…

Thực tế này được đại biểu Quốc hội nêu khi thảo luận, cho ý kiến về Báo cáo của Đoàn Giám sát và dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về kết quả giám sát chuyên đề “việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực thi hành”.
DỰ KIẾN ĐẾN NĂM 2045 CÓ 128 NGHÌN TẤN TẤM PIN NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI THẢI
Thảo luận vấn đề này chiều ngày 28/10/2025, đại biểu Nguyễn Thị Huế, đoàn Thái Nguyên, cho rằng mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn đã có quy định về thu gom chất thải đặc thù như: pin điện tử, tấm quang năng, gắn với trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất nhưng thực tế hạ tầng thu gom, tái chế cho các loại chất thải này vẫn còn hạn chế.
“Thực tế cho thấy, rác thải công nghệ và pin năng lượng mặt trời đang nổi lên như một thách thức nghiêm trọng đối với môi trường toàn cầu. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ kéo theo lượng lớn thiết bị điện tử, linh kiện và tấm pin mặt trời hết hạn sử dụng, tạo ra các nguồn rác thải chứa nhiều kim loại nặng và hóa chất độc hại như: chì, thủy ngân, cadimi, crom… Những chất này có thể ngấm vào đất, nước gây ô nhiễm nghiêm trọng và ảnh hưởng đến sức khỏe như bị ung thư, rối loạn thần kinh, vô sinh…”, đại biểu Nguyễn Thị Huế nêu ý kiến.

Đáng chú ý, khi bị đốt thủ công, các linh kiện điện tử giải phóng khí dioxin, furan là chất cực độc gây ô nhiễm không khí. Bên cạnh đó, các chất thải này khó tái chế vì cấu tạo phức tạp, nhiều vật liệu dính kết khiến việc tách chiết tốn kém và nguy hiểm, nếu không có công nghệ phù hợp.
Thống kê, mỗi năm thế giới thải ra hàng chục triệu tấn rác điện tử nhưng chỉ một phần nhỏ được tái chế an toàn. Theo Liên Hợp quốc, năm 2022, thế giới tạo ra khoảng 62 triệu tấn rác thải điện tử, nhưng chỉ 17% được tái chế đúng cách.
Tại Việt Nam, phần lớn vẫn được xử lý thủ công hoặc chôn lấp, trong khi hệ thống thu gom, công nghệ tái chế và quy định pháp lý còn thiếu đồng bộ. Hiện nay, ở nước ta có 8 nhà máy sản xuất tấm quang năng, khoảng hơn 130 dự án nhà máy điện mặt trời quy mô lớn đang được vận hành. Theo báo cáo, dự kiến lượng tấm pin mặt Trời thải ra sẽ tăng từ 9000 tấn vào năm 2030 lên 128.000 tấn vào năm 2045.
Đối với chất thải điện tử và pin thải từ các phương tiện giao thông được quy định là chất thải nguy hại. Trong tương lai, khi lượng chất thải này phát sinh nhiều hơn sẽ phát sinh yêu cầu xử lý, tái chế đối với loại chất thải đặc thù này.
Theo báo cáo của đoàn giám sát, các nguy cơ về chất thải đặc thù đã được xem xét và chuẩn bị các phương án ứng phó. Ví dụ như Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có một số quy định về quản lý chất thải đặc thù. Nghị định số 08 năm 2022 đã quy định các loại chất thải đặc thù gồm: chất thải điện tử, pin xe điện, tấm quang năng thải thuộc danh mục sản phẩm bao bì phải được tái chế kèm theo tỉ lệ tái chế và quy cách tái chế bắt buộc.
Theo đó, nhà sản xuất có trách nhiệm thu hồi, xử lý hoặc thực hiện đóng góp cho hoạt động tái chế các loại chất thải, tuy nhiên trong thực tế việc thu gom, xử lý chất thải điện tử, pin năng lượng còn phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở hạ tầng, chế tài xử lý và ý thức trách nhiệm của người dân.
ĐẦU TƯ NGUỒN LỰC XỬ LÝ HIỆU QUẢ TỐI ĐA CÁC LOẠI CHẤT THẢI ĐẶC THÙ, TẤM PIN
Để thực hiện quy định này, đại biểu Nguyễn Thị Huế đề nghị: bên cạnh quy định yêu cầu nhà sản xuất nhập khẩu phải thu hồi và tái chế sản phẩm khi hết vòng đời cần thiết lập tiêu chuẩn quốc gia cho việc thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải công nghệ, pin năng lượng mặt trời. Khuyến khích kinh tế tuần hoàn, tái sử dụng linh kiện vật liệu, giảm khai thác tài nguyên thô.
Cùng với đó, phát triển công nghệ tái chế sạch, tách silicon, bạc, nhôm, thủy tinh từ pin năng lượng mặt trời để tái sử dụng. Xây dựng nhà máy xử lý tập trung áp dụng công nghệ cơ nhiệt hóa học an toàn, thay cho xử lý thủ công. Nghiên cứu pin thế hệ mới; hoặc pin hữu cơ dễ tái chế, ít kim loại nặng.

Đại biểu Huế cũng nhấn mạnh vai trò của công tác tuyên truyền để người dân và doanh nghiệp không vứt rác điện tử, pin điện tử bừa bãi, mà tham gia các chương trình thu hồi; khuyến khích mô hình đổi rác điện tử lấy quà, thu gom tập trung tại siêu thị, trường học hay khu sinh hoạt cộng đồng. Hỗ trợ doanh nghiệp xanh có sáng kiến xử lý, tái chế rác thải công nghệ…
“Với các giải pháp như vậy sẽ góp phần quan trọng vào bảo vệ môi trường, giảm phát thải khí nhà kính và để một Việt Nam xanh hơn, sạch hơn, an toàn hơn và phát triển bền vững hơn”, đại biểu nói.
Cùng quan tâm tới việc xử lý các loại rác thải đặc thù, đại biểu Dương Khắc Mai, đoàn Lâm Đồng đề nghị quan tâm đến việc xử lý, tái chế đối với cánh quạt điện gió. Qua nghiên cứu các tài liệu, đại biểu Dương Khắc Mai cho biết, mặc dù thiết kế có khác nhau giữa các nhà sản xuất, hầu hết các cánh tua bin gió đều có sợi carbon, lõi bên trong bằng gỗ balsa hoặc bọt nở và vỏ sợi thủy tinh.
Một cánh quạt thông thường có niên hạn sử dụng khoảng 20 năm. Việc xử lý và tái chế các loại vật liệu này rất khó khăn và tốn nhiều năng lượng. Theo đại biểu, nguyên nhân chủ yếu do nhựa không dễ bị phân hủy, nên không thể thu hồi được sợi carbon và sợi thủy tinh từ cánh quạt.
Việt Nam đã cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, tham gia Tuyên bố toàn cầu về chuyển đổi điện than sang năng lượng sạch, tham gia Liên minh hành động thích ứng toàn cầu. Mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn đã có quy định về thu gom chất thải đặc thù (như điện tử, pin, tấm quang năng) gắn với trách nhiệm tái chế của nhà sản xuất (EPR) nhưng thực tế hạ tầng thu gom, tái chế cho các loại chất thải này vẫn còn hạn chế.
Vì vậy, ngoài việc tiếp tục rà soát, nghiên cứu, đề xuất các cơ chế khuyến khích đầu tư cho các cơ sở xử lý, tái chế đối với các loại chất thải này, đại biểu Dương Khắc Mai đề nghị cần phải có nguồn lực quan tâm đầu tư, có chính sách hỗ trợ phù hợp cho nghiên cứu làm chủ công nghệ, xử lý hiệu quả tối đa các loại chất thải đặc thù này.