Series on John:
(0), (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11),
(12), (13), (14),(15), (16), (17), (18), (19), (20), (21), (final)
The Good Shepherd and His Sheep
10 “Very truly I tell you Pharisees, anyone who does not enter the sheep pen by the gate, but climbs in by some other way, is a thief and a robber. 2 The one who enters by the gate is the shepherd of the sheep. 3 The gatekeeper opens the gate for him, and the sheep listen to his voice. He calls his own sheep by name and leads them out. 4 When he has brought out all his own, he goes on ahead of them, and his sheep follow him because they know his voice. 5 But they will never follow a stranger; in fact, they will run away from him because they do not recognize a stranger’s voice.” 6 Jesus used this figure of speech, but the Pharisees did not understand what he was telling them.
In the ancient Near East, as well as in some places today, it is not unusual for multiple flocks of sheep to graze together in the same field or share a communal pen. Despite the mingling, when it comes time to separate them, each flock responds only to the voice of its own shepherd.
Shepherds often develop a unique call, whistle, or even use certain words that their sheep learn to recognize. The sheep, through familiarity and trust, follow their shepherd while ignoring the calls of others. This behavior is rooted in the bond and trust built between the shepherd and the sheep over time.
This imagery of sheep and shepherds in the Bible serves as a metaphor for the relationship between Jesus and his followers. Just as sheep recognize the voice of their shepherd and follow him, Jesus describes his followers as those who know is voice and trust him as their guide.
7 Therefore Jesus said again, “Very truly I tell you, I am the gate for the sheep. 8 All who have come before me are thieves and robbers, but the sheep have not listened to them. 9 I am the gate; whoever enters through me will be saved.[a] They will come in and go out, and find pasture. 10 The thief comes only to steal and kill and destroy; I have come that they may have life, and have it to the full.
Jesus is not only the sheperd but also is the gate of the sheep pen through which his sheep may enter and be safe.
Jesus is not only taking care of us as the Father as told him, but Jesus also is the gate through him we come to the Father.
11 “I am the good shepherd. The good shepherd lays down his life for the sheep. 12 The hired hand is not the shepherd and does not own the sheep. So when he sees the wolf coming, he abandons the sheep and runs away. Then the wolf attacks the flock and scatters it. 13 The man runs away because he is a hired hand and cares nothing for the sheep.
“I am the good shepherd. The good shepherd lays down his life for the sheep.” Jesus did lay down his life on the crucifix for us.
14 “I am the good shepherd; I know my sheep and my sheep know me— 15 just as the Father knows me and I know the Father—and I lay down my life for the sheep. 16 I have other sheep that are not of this sheep pen. I must bring them also. They too will listen to my voice, and there shall be one flock and one shepherd. 17 The reason my Father loves me is that I lay down my life—only to take it up again. 18 No one takes it from me, but I lay it down of my own accord. I have authority to lay it down and authority to take it up again. This command I received from my Father.”
“The reason my Father loves me is that I lay down my life—only to take it up again.” Jesus was talking about how he would die for us, and woud be raised againt from the dead (in three days).
“I have other sheep that are not of this sheep pen. I must bring them also. They too will listen to my voice, and there shall be one flock and one shepherd.” In Jesus time, the Jews generally don’t comingle with non-Jews. Jesus wanted to break down that barrier – bringing everyone, both Jews and non-Jews, into knowing God.
19 The Jews who heard these words were again divided. 20 Many of them said, “He is demon-possessed and raving mad. Why listen to him?”
21 But others said, “These are not the sayings of a man possessed by a demon. Can a demon open the eyes of the blind?”
Further Conflict Over Jesus’ Claims
22 Then came the Festival of Dedication[b] at Jerusalem. It was winter, 23 and Jesus was in the temple courts walking in Solomon’s Colonnade. 24 The Jews who were there gathered around him, saying, “How long will you keep us in suspense? If you are the Messiah, tell us plainly.”
The Festival of Dedication, also known as Hanukkah, is an eight-day Jewish celebration commemorating the rededication of the Second Temple in Jerusalem during the second century BCE. The event is rooted in the time when the Maccabees, a Jewish group, revolted against the Seleucid Empire and reclaimed the temple.
(The Seleucid Empire was a major Hellenistic state that emerged after the death of Alexander the Great in 323 BCE. It was founded by Seleucus I Nicator, one of Alexander’s generals, in 312 BCE. The empire spanned a vast territory, including parts of modern-day Turkey, Syria, Iraq, Iran, and Afghanistan, and at its height, it stretched from the Mediterranean Sea to the borders of India. By 63 BCE, the Seleucid Empire was annexed by Rome, marking its end. The Jewish state was under the control of the Seleucid Empire. The Jewish Maccabee uprising againt the empire happened in 167 BCE, lasting till 160 BCE).
According to tradition, when the temple was rededicated, there was only enough oil to keep the menorah (a sacred lamp) lit for one day, but it miraculously burned for eight days. This is why Hanukkah is often called the Festival of Lights, and lighting the menorah is a central ritual of the celebration.
Although Hanukkah is not mentioned in the Old Testament, it is briefly referenced in the New Testament in John 10:22-23, where it is called the Festival of Dedication, and Jesus is described as being in the temple courts during this time.
25 Jesus answered, “I did tell you, but you do not believe. The works I do in my Father’s name testify about me, 26 but you do not believe because you are not my sheep. 27 My sheep listen to my voice; I know them, and they follow me. 28 I give them eternal life, and they shall never perish; no one will snatch them out of my hand. 29 My Father, who has given them to me, is greater than all[c]; no one can snatch them out of my Father’s hand. 30 I and the Father are one.”
31 Again his Jewish opponents picked up stones to stone him, 32 but Jesus said to them, “I have shown you many good works from the Father. For which of these do you stone me?”
33 “We are not stoning you for any good work,” they replied, “but for blasphemy, because you, a mere man, claim to be God.”
34 Jesus answered them, “Is it not written in your Law, ‘I have said you are “gods”’[d]? 35 If he called them ‘gods,’ to whom the word of God came—and Scripture cannot be set aside— 36 what about the one whom the Father set apart as his very own and sent into the world? Why then do you accuse me of blasphemy because I said, ‘I am God’s Son’? 37 Do not believe me unless I do the works of my Father. 38 But if I do them, even though you do not believe me, believe the works, that you may know and understand that the Father is in me, and I in the Father.” 39 Again they tried to seize him, but he escaped their grasp.
40 Then Jesus went back across the Jordan to the place where John had been baptizing in the early days. There he stayed, 41 and many people came to him. They said, “Though John never performed a sign, all that John said about this man was true.” 42 And in that place many believed in Jesus.
Footnotes
- John 10:9 Or kept safe
- John 10:22 That is, Hanukkah
- John 10:29 Many early manuscripts What my Father has given me is greater than all
- John 10:34 Psalm 82:6
o0o
John 10
Series on John:
(0), (1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11),
(12), (13), (14),(15), (16), (17), (18), (19), (20), (21), (final)
Người chăn chiên nhân lành và bầy chiên
10 “Quả thật, quả thật, tôi bảo các bạn Pharisees, ai không vào chuồng chiên (chuồng cừu/trừu) bằng cửa, mà trèo vào bằng lối khác, thì người ấy là kẻ trộm cướp. 2 Ai vào chuồng bằng cửa, thì người ấy là người chăn chiên. 3 Người giữ cửa mở cửa cho người ấy, và chiên (cừu) nghe tiếng người ấy. Người ấy gọi tên từng con chiên của mình và dẫn chúng ra. 4 Khi đã dẫn hết chiên ra, người ấy đi trước chúng, và chiên theo sau, vì chúng quen tiếng người ấy. 5 Nhưng chúng sẽ không theo người lạ; thực ra, chúng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận ra tiếng người lạ.” 6 Chúa Giêsu đã dùng ẩn dụ này, nhưng người Pharisees không hiểu Ngài đang nói gì với họ.
Ở Cận Đông thời xưa, cũng như ở một số nơi ngày nay, không có gì lạ khi nhiều đàn chiên (cừu) cùng gặm cỏ trên một cánh đồng hoặc cùng chia sẻ một chuồng chung. Mặc dù có sự pha trộn, nhưng khi đến lúc phải tách chúng ra, mỗi đàn chỉ phản ứng với tiếng nói của người chăn chiên của riêng mình.
Người chăn chiên thường phát triển một tiếng gọi, tiếng còi hoặc thậm chí sử dụng một số từ nhất định mà chiên của họ học cách nhận ra. Những con chiên, thông qua sự quen thuộc và tin tưởng, đi theo người chăn chiên của mình trong khi bỏ qua tiếng gọi của những người khác. Hành vi này bắt nguồn từ mối liên kết và lòng tin được xây dựng giữa người chăn chiên và đàn chiên theo thời gian.
Hình ảnh về chiên và người chăn chiên trong Kinh thánh đóng vai trò như một ẩn dụ cho mối quan hệ giữa Chúa Giêsu và những người theo Ngài. Cũng giống như những con chiên nhận ra tiếng nói của người chăn chiên và đi theo, Chúa Giêsu mô tả những người theo Ngài là những người biết tiếng nói của Ngài và tin tưởng Ngài là người dẫn đường của họ.
7 Vì vậy, Chúa Giêsu lại nói, “Quả thật, ta bảo các ngươi, ta là cửa cho chiên. 8 Tất cả những kẻ đến trước ta đều là kẻ trộm và kẻ cướp, nhưng chiên không nghe chúng. 9 Ta là cửa; bất kỳ ai vào qua ta sẽ được cứu.[a] Họ sẽ ra vào và tìm thấy đồng cỏ. 10 Kẻ trộm chỉ đến để ăn cắp, giết hại và hủy diệt; ta đã đến để chiên được sống và sống sung mãn.
Chúa Giêsu không chỉ là người chăn chiên mà còn là cổng chuồng chiên, qua đó chiên của Ngài có thể vào và được an toàn.
Chúa Giêsu không chỉ chăm sóc chúng ta như Chúa Cha đã bảo Ngài, mà Chúa Giêsu cũng là cổng mà qua Ngài, chúng ta đến với Chúa Cha.
11 “Tôi là người chăn chiên nhân lành. Người chăn chiên nhân lành hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. 12 Người làm thuê không phải là người chăn chiên và không sở hữu chiên. Vì vậy, khi thấy sói đến, anh ta bỏ chiên và chạy trốn. Sau đó, sói tấn công đàn chiên và làm tan tác đàn. 13 Anh ta chạy trốn vì anh ta là người làm thuê và không quan tâm gì đến chiên.
“Tôi là người chăn chiên nhân lành. Người chăn chiên nhân lành hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên.” Chúa Giêsu đã hy sinh mạng sống mình trên cây thánh giá vì chúng ta.
14 “Tôi là người chăn chiên nhân lành; tôi biết chiên tôi và chiên tôi biết tôi—15 cũng như Cha biết tôi và tôi biết Cha—và tôi hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. 16 Tôi còn những chiên khác không thuộc về chuồng chiên này. Tôi cũng phải dẫn chúng về. Chúng cũng sẽ nghe tiếng tôi, và sẽ chỉ có một bầy và một người chăn. 17 Lý do Cha tôi yêu tôi là tôi hy sinh mạng sống mình—chỉ để lấy lại cuộc sống. 18 Không ai cất mạng sống của tôi đi, nhưng chính tôi tự nguyện hy sinh. Tôi có thẩm quyền hy sinh và thẩm quyền lấy lại. Tôi đã nhận được lệnh truyền này từ Cha tôi.”
“Lý do Cha tôi yêu tôi là tôi hy sinh mạng sống mình—chỉ để lấy lại cuộc sống.” Chúa Giêsu đang nói Ngài sẽ chết vì chúng ta và sẽ sống lại (trong 3 ngày).
“Tôi còn những chiên khác không thuộc về chuồng chiên này. Tôi cũng phải dẫn chúng về. Chúng cũng sẽ nghe tiếng tôi, và sẽ chỉ có một bầy và một người chăn.” Vào thời Chúa Giêsu, người Do Thái thường không hòa nhập với người không phải Do Thái. Chúa Giêsu muốn phá vỡ rào cản đó – đưa mọi người, cả người Do Thái và người không phải Do Thái, đến với hiểu biết Chúa.
19 Người Do Thái nghe những lời này lại chia rẽ. 20 Nhiều người trong số họ nói, “Ông ta bị quỷ ám và điên cuồng. Sao lại nghe ông ta?”
21 Nhưng những người khác nói, “Đây không phải là lời nói của một người bị quỷ ám. Quỷ có thể mở mắt người mù được sao?”
Xung đột tiếp theo về những tuyên bố của Chúa Giêsu
22 Sau đó, đến Lễ Cung hiến[b] tại Jerusalem. Lúc đó là mùa đông, 23 và Chúa Giêsu đang ở trong sân đền thờ, đi bộ trên Hành lang Salomon. 24 Những người Do Thái có mặt ở đó tụ tập xung quanh Ngài và nói, “Ông để chúng tôi hồi hộp đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Messiah, hãy nói rõ cho chúng tôi biết.”
Lễ hội Cung hiến (Festival of Dedication), còn được gọi là Hanukkah, là lễ kỷ niệm kéo dài tám ngày của người Do Thái để kỷ niệm việc tái cung hiến Đền thờ thứ hai ở Jerusalem vào thế kỷ thứ hai trước Công nguyên. Sự kiện này bắt nguồn từ thời điểm Maccabees, một nhóm người Do Thái, nổi dậy chống lại Đế chế Seleucid và giành lại ngôi đền.
(Đế chế Seleucid là một quốc gia Hy Lạp lớn xuất hiện sau cái chết của Đại đế Alexander vào năm 323 TCN. Đế chế này được thành lập bởi Seleucus I Nicator, một trong những vị tướng của Alexander, vào năm 312 TCN. Đế chế này trải dài trên một lãnh thổ rộng lớn, bao gồm một phần của Thổ Nhĩ Kỳ, Syria, Iraq, Iran và Afghanistan ngày nay, và ở thời kỳ đỉnh cao, nó trải dài từ Biển Địa Trung Hải đến biên giới Ấn Độ. Đến năm 63 TCN, Đế chế Seleucid đã bị Rome sáp nhập, đánh dấu sự kết thúc của nó.
Nhà nước Do Thái nằm dưới sự kiểm soát của Đế chế Seleucid. Cuộc nổi dậy của người Do Thái Maccabee chống lại Đế chế xảy ra vào năm 167 TCN, kéo dài đến năm 160 TCN).
Theo truyền thống, khi đền thờ được tái cung hiến, chỉ có đủ dầu để thắp menorah (ngọn đèn thiêng) trong một ngày, nhưng nó đã cháy một cách kỳ diệu trong tám ngày. Đây là lý do tại sao Hanukkah thường được gọi là Lễ hội Ánh sáng và thắp menorah là nghi lễ chính của lễ kỷ niệm.
Mặc dù Hanukkah không được nhắc đến trong Cựu Ước, nhưng nó được nhắc đến một cách ngắn gọn trong Tân Ước trong John 10:22-23, nơi nó được gọi là Lễ Cung Hiến, và Chúa Giêsu được mô tả là đang ở trong sân đền thờ trong thời gian này.
25 Chúa Giêsu trả lời, “Tôi đã bảo các bạn, nhưng các bạn không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha là làm chứng về tôi, 26 nhưng các bạn không tin vì các bạn không phải là chiên của tôi. 27 Chiên tôi nghe tiếng tôi; tôi biết chúng, và chúng theo tôi. 28 Tôi cho chúng sự sống đời đời, chúng sẽ không bao giờ chết mất; không ai có thể cướp chúng khỏi tay tôi. 29 Cha tôi, là Đấng đã trao chúng cho tôi, thì quyền uy hơn hết thảy; không ai có thể cướp chúng khỏi tay Cha tôi. 30 Tôi và Cha là một.”
31 Những người Do Thái chống đối Giêsu lại nhặt đá để ném Ngài, 32 Nhưng Giêsu nói với họ: “Tôi đã cho các bạn thấy nhiều việc tốt lành mà Cha đã giao cho. Vì việc nào trong số những việc này mà các bạn ném đá tôi?”
33 Họ trả lời: “Chúng tôi không ném đá ông vì bất kỳ việc tốt lành nào”, “nhưng vì tội lộng ngôn, vì ông chỉ là người phàm mà lại tự cho mình là Đức Chúa Trời.”
34 Giêsu trả lời: “Trong Luật của các bạn chẳng phải có chép rằng: ‘Ta đã phán rằng các ngươi là thần’ sao? 35 Nếu các bạn gọi họ là ‘thần’, những người mà lời Thiên Chúa đã nhắc đến – và Kinh thánh không thể bị bỏ qua – 36 Còn Đấng mà Cha đã đặt riêng ra làm của riêng mình và sai đến thế gian thì sao? Vậy tại sao các bạn lại cáo buộc tôi lộng ngôn khi tôi nói: ‘Tôi là con Đức Chúa Trời’? 37 Đừng tin tôi, trừ khi tôi làm những việc của Cha tôi. 38 Nhưng nếu tôi làm, thì dù các bạn không tin tôi, hãy tin những việc tôi làm, để các bạn biết và hiểu rằng Cha ở trong tôi và tôi ở trong Cha.” 39 Họ lại tìm cách bắt Ngài, nhưng Ngài thoát khỏi tay họ.
40 Sau đó, Chúa Giêsu trở lại bên kia sông Jordan, đến nơi mà John [the Baptist] đã làm phép rửa vào những ngày đầu. Ngài ở lại đó, 41 và có nhiều người đến với Ngài. Họ nói, “Mặc dù John không làm một dấu lạ nào, nhưng tất cả những gì John nói về người này đều là sự thật.” 42 Và tại nơi đó, có nhiều người tin vào Chúa Giêsu.
Chú thích
- John 10:9 Or kept safe
- John 10:22 That is, Hanukkah
- John 10:29 Many early manuscripts What my Father has given me is greater than all
- John 10:34 Psalm 82:6
o0o
© copyright 2025
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
http://www.dotchuoinon.com

