Bài cùng chuỗi Tiểu luận về BNTK:
(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.
IV. Năng lực của Bát Nhã đem đến Giác ngộ
Trong câu mở đầu, chúng ta có Bồ tát Quán Tự Tại vượt qua mọi khổ ách nhờ thực hành Bát Nhã. Bây giờ trong phần kết thúc, chúng ta trở lại với năng lực của Bát Nhã đem đến giác ngộ.
Dĩ vô sở đắc cố, Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố tâm vô quái-ngại; vô quái-ngại cố vô hữu khủng-bố; viễn ly điên-đảo mộng tưởng; cứu cánh Niết-bàn.
(Bởi chẳng có gì để đạt, Bồ tát nương tựa Bát nhã ba la mật đa, nên tâm không vướng mắc; vì không vướng mắc nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, rốt ráo niết bàn).
(Because nothing is attained, the Bodhisattva, through reliance on prajna paramita, is unimpeded in his mind. Because there is no impediment, he is not afraid, and he leaves distorted dream-thinking far behind. Ultimately Nirvana!)
Bồ tát, với trí tuệ Bát Nhã, nhìn thấy rằng Không là bản thể chân thật của mọi sự vật, mọi thứ chỉ là một biểu hiện nhất thời của Không, và trong Không chẳng có gì cả–chẳng có niết bàn, chẳng có đạt đến niết bàn. Vì thế, Bồ tát không nghĩ về đạt đến niết bàn và, vì thế, không còn dính mắc trong tâm ngài. (Nếu Bồ tát vẫn giữ mục tiêu đạt đến niết bàn, thì Bồ tát sẽ không bao giờ đạt đến niết bàn, bởi sự dính mắc vào mục tiêu còn đó trong tâm ngài).
Từ khi tâm không còn dính mắc vào bất cứ thứ gì, Bồ tát không còn sợ hãi bất cứ điều gì. Ở đây, chúng ta cần lưu ý rằng sự không sợ hãi (vô úy) là một đặc tính rất quan trọng của con đường Bồ tát (Bồ tát đạo). Trong lục độ ba-la-mật (sáu đức tính giác ngộ của Bồ tát), bố thí (giving) đi đầu. (Năm đức tính còn lại là trì giới—keeping rules and precepts, nhẫn nhục–patient and humble, tinh tấn–effort, thiền định—meditation, and trí huệ—wisdom).
Có ba dạng bố thí: Tài thí (bố thí tiền bạc), pháp thí (bố thí Pháp, giảng giải Phật pháp), vô úy thí (mang lại sự không sợ hãi, trấn an). “Bố thí” ở đây không có nghĩa là chỉ đem cho những gì dư thừa mà mình không cần; nó có thể là cống hiến chính đời sống của mình vì những người khác. Trong ba dạng bố thí trên, tài thí là thấp nhất và vô úy thí là cao nhất.
Vì thế, chúng ta có thể thấy vai trò quan trọng của sự không sợ hãi trong Bồ tát đạo. Nhưng không sợ điều gì? Không sợ đau và khổ; không sợ mất đi bất cứ thứ gì, ngay cả chính mạng sống của mình; không sợ không đạt được điều gì, ngay cả không đạt được giác ngộ; không sợ đi theo và giảng dạy con đường nhân chủ hướng đến giải thoát, trong đó con người- chứ không phải ai khác, không phải thần thánh – chịu trách nhiệm cho những hành động của mình.
Không dính mắc, không sợ hãi, Bồ tát buông bỏ tất cả mọi điên đảo mộng tưởng (crazy upside-down dream-thoughts), tất cả những quan niệm sai lệch về cuộc đời, và tất cả những dính mắc từ những quan niệm sai lệch đó. Vì thế, Bồ tát đạt tới niết bàn.
(Xin xem thêm về Bồ tát đạo: “Lục độ ba-la-mật” của Thích Thông Huệ và Khuyến Phát Bồ Đề Tâm của Đại Sư Thật Hiền).
Tam-thế chư Phật, y Bát-nhã-ba-la mật-đa cố đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.
(Chư Phật ba đời nương tựa Bát-nhã ba-la-mật-đa nên đạt được vô thượng chánh đẳng chánh giác.)
(All Buddhas of the three periods of time attain Anuttarasamyaksambodhi through reliance on prajna paramita.)
A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề là phiên âm từ chữ tiếng Phạn “Anuttarasamyaksambodhi”, là mức giác ngộ trọn vẹn nhất. Anuttara có nghĩa là cao nhất, không có gì cao hơn (vô thượng). Sammyak có nghĩa là mức độ bao hàm toàn diện chính yếu (chánh đẳng). Sambodhi có nghĩa là giác ngộ chính yếu (chánh giác). Nó được dịch sang hán việt thành vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Như chúng ta đã đề cập trước đây, có bốn cấp độ giác ngộ—A la hán (Arhat), Bích Chi Phật (pratyekabuddha), Bồ tát (Bodhisattva), và Phật (Buddha). Tất cả mọi vị Phật từ quá khứ, hiện tại và tương lai đạt được mức cao nhất của giác ngộ—vô thượng chánh đẳng chánh giác—nhờ vào Bát Nhã.
Cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa, thị đại-thần chú, thị đại minh chú, thị vô-thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhứt thiết khổ, chơn thiệt bất hư.
Cố thuyết Bát-nhã-ba-la-mật-đa chú, tức thuyết chú viết: Yết-đế Yết-đế, Ba-la yết-đế, Ba-la-tăng yết-đế, Bồ-đề. Tát bà ha
(Nên biết Bát-nhã ba-la-mật-đa là thần chú lớn, là minh chú lớn, là chú tối cao, là chú không gì sánh bằng, trừ hết mọi khổ ách, chắc thật, không dối.
Nên nói chú Bát-nhã ba-la-mật-đa, tức là nói chú rằng: Yết đế, Yết đế, Ba la Yết đế, Ba la tăng Yết đế, Bồ đề, Tát bà ha. (Qua rồi, qua rồi, qua bờ rồi, qua bờ hết rồi, giác ngộ rồi, vậy đó!))
(Therefore, know that prajna paramita is a great spiritual mantra, a great bright mantra, a supreme mantra, an unequalled mantra. It can remove all suffering; it is genuine and not false. That is why the mantra of prajna paramita was spoken. Recite it like this:
Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha! )
Câu cuối cùng này nói về năng lực của Bát Nhã như là một thần chú (mantra). Bên cạnh là một kiến thức rất vi tế có thể học được bằng ý thức, Bát Nhã cũng vận hành ở mức tiềm thức con người như một thần chú. Thần chú (mantra) là một lời nói được cho là có năng lực siêu nhiên. Về tâm lý học, một mệnh đề, với những kiểu dao động âm thanh đặc biệt của những từ khi đọc lên, ý nghĩa của những từ đó, và sự lặp lại thường xuyên bởi người đọc, tác động như một cách tự thôi miên êm dịu. Ví dụ như, nếu một người nào đó liên tục nhắc đi nhắc lại mỗi ngày “Giàu, giàu, tôi giàu” hàng trăm lần một ngày, thì có lẽ là anh ta sẽ dần dần có đủ động lực làm việc siêng năng để trở nên giàu có một ngày nào đó. Hơn nữa, nhiều người cũng tin rằng thần chú có năng lực siêu nhiên bởi nó khơi dậy những năng lượng bí ẩn từ vũ trụ.
Câu thần chú Bát Nhã là Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha!, có nghĩa là “Qua rồi, qua rồi, qua bờ rồi, qua bờ hết rồi, giác ngộ rồi, vậy đó!” (Gone, gone, gone to the other shore; all gone to the other shore, already enlightened, so be it!)
Thần chú được đọc tụng bằng ngôn ngữ gốc để khơi dậy năng lực của nó. Ở Việt Nam, thần chú Bát Nhã được viết và đọc tụng như phiên âm từ bản gốc bằng tiếng Phạn.
V. Kết luận
Bát Nhã Tâm Kinh khá trừu tượng, hàm chứa tầm mức cao của luận lý, và sử dụng ngôn ngữ luận lý phức tạp xa lạ với nhiều người. Vì thế, nó khiến nhiều người lẫn lộn. Nhưng bài kinh không chỉ là một trò chơi ngôn từ của những nhà triết học thừa thời gian. Nó là một triết lý thống nhất về vũ trụ và đời sống con người, và một hệ thống đạo đức rất tốt đẹp hướng dẫn chúng ta hành xử được phát triển dựa trên nền tảng triết học đó. Đạo đức và triết học Phật giáo kết nối cùng nhau trong một cấu trúc rất chặt chẽ.
Ở đây chúng ta cần lưu ý một chút đối với người mới bắt đầu học Bát Nhã: Bởi vì ngôn ngữ Bát Nhã cực kỳ linh động, người ta có thể trích dẫn bất cứ câu nào của Bát Nhã Tâm Kinh để nói bất cứ điều gì điên rồ, ví dụ như “Bạn đang nói với tôi nhưng bạn không đang hiện hữu” hay “Làm như thế cũng được, sai là đúng và đúng là sai.” Bát Nhã là một cách sống bao hàm toàn diện – một triết lý chặt chẽ, một hệ thống thực hành và đạo đức, và một thái độ sống nghiêm túc nhưng không cố chấp. Đùa giỡn với trò chơi ngôn từ bằng những mảnh rời của Bát Nhã Tâm Kinh giống như trẻ con xây nhà bằng những tấm thiệp, nghĩ rằng ngôi nhà là chốn nương thân thực sự cho chúng và gia đình chúng. Vậy là “Đi lạc”. Đừng rơi vào trò chơi như thế.
Như một triết lý sống, Bát Nhã tích cực, chủ động, dấn thân, vị tha, bình an và giải thoát. Bát Nhã là một triết lý rất tốt đẹp để xây dựng nền tảng giáo dục và phát triển xã hội cho bất kỳ xã hội nào. Chúng ta, người Việt Nam, rất may mắn được là người cầm đuốc cho triết lý này. Đó là vinh hạnh và trách nhiệm của chúng ta, làm sao gìn giữ, nuôi dưỡng, làm giàu và chia sẻ triết lý này rộng rãi với tất cả anh chị em, người Việt Nam cũng như người nước ngoài, trên toàn thế giới.
Trần Đình Hoành
Washington DC
Thứ sáu, ngày 17 tháng mười năm 2008
Việt dịch từ Anh Ngữ:
Diệu Tâm & Trần Đình Hoành
Thứ bảy, ngày 25 tháng mười năm 2008
Updated 25/2/2025
o0o
Tiểu luận về Bát Nhã Tâm Kinh – A brief exposition on the Heart Sutra (14)
Series A Brief Exposition on the heart Sutra:
(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), (11), (12), (13), (14). Done.
IV. The Power of Prajna to Bring Enlightenment
In the opening verse, we have Bodhisattva Avalokiteshvara crossing beyond all suffering from practicing prajna. Now in the ending section, we come back to the power of prajna to bring enlightenment.
Because nothing is attained, the Bodhisattva, through reliance on prajna paramita, is unimpeded in his mind. Because there is no impediment, he is not afraid, and he leaves distorted dream-thinking far behind. Ultimately Nirvana!
Bodhisattva, with prajna, sees that emptiness is the true substance of all things, everything is just a fleeting manifestation of emptiness, and in emptiness there is nothing–no nirvana, no attaining nirvana. Therefore, Bodhisattva does not think about attaining nirvana and, thus, has no attachment in his heart. (If Bodhisattva keeps aiming at the goal of attaining nirvana, then Bodhisattva would never reach nirvana, because the attachment to the goal is still there in his heart).
Since the heart is not attached to anything, Bodhisattva is not afraid of anything. Here, we need to make a note that fearlessness is a very significant feature of the Bodhisattva way. In six virtues of enlightenment, giving comes first. (The other five are keeping rules and precepts, patient and humble, effort, mediation, and wisdom).
There are 3 kinds of giving: Giving money, giving dharma (giving Buddhist teachings), and giving fearlessness. “Giving” here doesn’t mean just giving the extra things one doesn’t need; it may be giving one’s own life for others.& Among the three givings, giving money is lowest and giving fearlessness is highest.
Thus, we can see the important role of fearlessness in the Bodhisattva way. But, no fear of what? No fear of pain and suffering; no fear of losing anything, including one’s own life; no fear of not gaining anything, including not gaining enlightenment; no fear of following and teaching a human-based way to liberation, in which man—and no one else, neither saints nor gods–is responsible for his actions.
Without attachment, without fear, Bodhisattva drops all “crazy upside-down dream-thoughts,” all distorted notions about life, and all attachments resuling from these distorted notions. Thus, Bodhisattva attains nirvana.
All Buddhas of the three periods of time attain Anuttarasamyaksambodhi through reliance on prajna paramita.
Anuttarasamyaksambodhi is the fullest and highest level of enlightenment–the supreme balanced and right state of truth. As we have mentioned previously, there are four levels of enlightenment—Arhat, Pratyekabuddha, Bodhisattva, and Buddha. All the Buddhas of the past, present, and future attain the highest rank of enlightenment — anuttarasamyaksambodhi –from relying on prajna.
Therefore, know that prajna paramita is great spiritual mantra, a great bright mantra, a supreme mantra, an unequalled mantra. It can remove all suffering; it is genuine and not false. That is why the mantra of prajna paramita was spoken. Recite it like this:
Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha!
This final verse is about the power of prajna as a mantra. In addition to being very sophisticated knowledge that can be learned consciously, prajna also operates at the level of human subsconscious as a mantra. Mantra is a saying that is supposed to have supernatural power. Psychologically, a phrase, with a particular pattern of sound vibration of the words when spoken, the meaning of the words, and the regular repetition by the speaker, operates as a smoothing self-hypnotism. For example, if someone keeps repeating every day “Rich, rich, I be rich,” a hundred times a day, chances are he will find enough motivation to work hard to be very rich some day. In addition, many people also believe that mantra has supernatural power by invoking secret aenergies from the cosmos.
The prajna mantra is Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha! which means “Gone, gone, gone to the other shore; all gone to the other shore, already enlightened, so be it!”
Mantra is recited in the original Snaskrist language to invoke its power.
V. CONCLUSION
The Heart Sutra is highly abstract, contains very high level of logic, and uses very sophisticated logic language unfamiliar to many people. Therefore, it generates great confusion for many. But the sutra is not a game of words by philosophers with too much time on their hand. It is a solid philosophy about the cosmos and the human life. Upon that philosophical foundation grows a very good system of ethics that governs our conduct. Buddhist ethics and philosophy bind together in a very coherent structure.
A word of caution for new students of the Heart Sutra: Since prajna language is extremely versatile, one can quote any little phrase of the Heart Sutra to say anything crazy, such as “You are talking to me but you do not exist” or “It is OK to do that, wrong is right and right is wrong.” Prajna is a comprehensive way of living — a logical philosophy, a system of practices and ethics, and a serious-but-non-attaching attitude on living. Playing word games with bits and pieces of the Heart Sutra is like children building a house of cards, thinking that the house is the real shelter for them and their family. It is“Lost.” Don’t fall into that game.
As a living philosophy, prajna is positive, active, engaging, selfless, peaceful and liberating. It is a very good philosophy, upon which to build education and social development for any society. We are very fortunate to be the torch carrier of this philosophy. It is our honor and duty to preserve, nourish, enrich and share this philosophy widely with all our brothers and sisters, throughout the world.
Trần Đình Hoành
Washington DC
Friday, October 17, 2008
Updated Feb. 25. 2025
o0o
© copyright 2025
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
http://www.dotchuoinon.com