Chào các bạn,
Đây là bài hát dân ca Hà Nhì, được nhạc sĩ Ngô Hồng Quang hòa âm, đặt lời và hát.
Chị Phượng có một bài giới thiệu dài về Dân ca Hà Nhì ở đây, bao gồm nhạc cụ, trang phục, nhà cửa, lễ hội… Mình trích đoạn ngắn ở bên dưới.
Bào Nhân dân có một bài giới thiệu về nhạc sĩ Ngô Hồng Quang dưới đây.
Mời các bạn cùng thưởng thức một mảnh văn hóa Hà Nhì nhé.
Chúc các bạn ngày vui.
PTH
***
Người Hà Nhì (tên tự gọi: Haqniq, tiếng Hán: 哈尼族 Hānízú, Cáp Nê tộc), tên gọi khác: U Ní, Xá U Ní là một trong 54 dân tộc sống trên đất nước Việt Nam.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hà Nhì ở Việt Nam có dân số 21.725 người, cư trú tại 32 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Hà Nhì cư trú tập trung tại các tỉnh: Lai Châu (13.752 người, chiếm 63,3% tổng số người Hà Nhì tại Việt Nam), Lào Cai (4.026 người), Điện Biên (3.786 người), gồm 3 nhóm địa phương: Cồ Chồ, Là Mi và Hà Nhì Đen.
Chưa ai biết rõ nguồn gốc của người Hà Nhì, tuy tổ tiên họ, tộc người Khương, đã di cư từ vùng cao nguyên Thanh Tạng xuống phía nam từ trước thế kỷ thứ ba.
Theo lời truyền miệng của người Hà Nhì thì họ có nguồn gốc từ người Di (Yi), tách khỏi nhau thành bộ tộc riêng biệt 50 đời về trước.
Ngôn ngữ Hà Nhì là thuộc nhánh ngôn ngữ Di, ngữ hệ Tạng-Miến. Theo lời truyền miệng thì người Hà Nhì đã từng có một thứ chữ viết, nhưng thứ chữ này đã bị thất lạc khi di cư từ Tứ Xuyên xuống phía nam. Giờ đây họ sử dụng chữ cái Latinh làm chữ viết.
Người Hà Nhì chủ yếu trồng lúa, có nơi làm ruộng, có nơi làm nương rẫy. Hà Nhì là một trong những dân tộc có truyền thống khai khẩn ruộng bậc thang và đào mương đắp đập lấy nước, dùng trâu bò cày kéo và làm vườn cạnh nhà…
Chăn nuôi là một nghề phát triển. Các nghề thủ công như đan lát, dệt vải cũng rất phổ biến. Phần đông người Hà Nhì tự túc được vải mặc.
Người Hà Nhì hiện nay đã định cư, mỗi bản có khi đông tới 60 hộ. Người Hà Nhì có nhiều họ, mỗi họ gồm nhiều chi. Dịp tết hàng năm có tục cả dòng họ tụ tập lại nghe người già kể tộc phả của mình, có dòng họ nhớ được về xưa tới 40 đời. Tên của người Hà Nhì thường đặt theo tập tục là lấy tên người cha, hoặc tên con vật ứng với ngày sinh của người ấy làm tên đệm.
Trai gái Hà Nhì được tìm hiểu nhau trước khi kết hôn. Mỗi cặp vợ chồng, phải trải qua hai lần cưới. Ngay sau lần cưới trước, họ đã thành vợ chồng, cô dâu về nhà chồng và theo phong tục ở Lai Châu cô dâu phải đổi họ theo chồng. Cũng ở Lai Châu, có nơi lại ở rể. Lần cưới thứ hai được tổ chức khi họ làm ăn khấm khá và thường là khi đã có con.
Phong tục ma chay của các vùng không hoàn toàn giống nhau, nhưng có một số điểm chung: khi trong nhà có người chết, phải dỡ bỏ tấm liếp (hay rút một vài nan) của buồng người đó, phá bàn thờ tổ tiên, làm giường đặt tử thi ở bếp, chọn ngày giờ tốt mới chôn. Người Hà Nhì không có nghĩa địa chung của bản, kiêng lấp đất lẫn cỏ tươi xuống huyệt, không rào dậu hay dựng nhà mồ, chỉ xếp đá quanh chân mộ…
Qua việc so sánh đối chiếu những tài liệu về nhà cửa của cá dân tộc này thì thấy rằng chỉ có nhà của người Hà Nhì là có những đặc trưng rõ rệt hơn. Tính thống nhất của các đặc trưng này còn được thể hiện trên những địa bàn khác nhau.
Nhà ở cổ truyền của người Hà Nhì là nhà đất. Bộ khung nhà khá đơn giản. Vì kèo cơ bản là kiểu vì kèo ba cột. Nhà có hiên rộng, người ta còn làm thêm một cột hiên nên trở thành vì bốn cột. Tường trình rất dày. Nhà không có cửa sổ, của ra vào cũng ít, phổ biến là chỉ có một cửa ra vào mở ở mặt trước nhà và lệch về một bên. Mặt bằng sinh hoạt: nhà thường ba gian, ít nhà bốn gian. Có hiên rộng ở mặt trước nhà. Trong nhà chia theo chiều dọc: nữa nhà phía sau là các phòng nhỏ. Nửa nhà phía trước để trồng, một góc nhà có giường dành cho khách, ở đây còn có bếp phụ. Cũng có trường hợp hiên được che kín như là một hành lang hẹp thì cửa mở ở chính giữa. Những trường hợp như thế này thuộc về gian chính giữa hoặc thêm một gian bên cạnh có sàn cao khoảng 40 cm để dành cho khách, ở đây cũng có bếp phụ.
Phong cách trang phục giống các dân tộc trong cùng nhóm ngôn ngữ, và có phần không điển hình ở phong cách trang trí. Váy đen, chỉ có mũ, khăn hai ống tay và nẹp áo phụ nữ có trang trí. Trang trí ở ống tay giống phong cách Lô lô và Hmông.
Ngày tết truyền thống của người Hà Nhì được gọi là Hồ Sự Chà. Người Hà Nhì ở Mường Tè thường chọn 3 ngày trong tháng con chuột (Hu – Pa – La), khi ấy mùa màng đã thu hoạch xong, tức là khoảng thời gian vào tháng 11 dương lịch để ăn tết. Tết bắt đầu vào ngày rồng, không kể đầu tháng hay cuối tháng, tùy từng bản tổ chức sớm hay muộn. Loại bánh không thể thiếu trong ngày tết Hồ Sự Chà là bánh dầy.
Người Hà Nhì có nhiều truyện cổ, có cả truyện thơ dài. Nam nữ thanh niên có điệu múa riêng, đều theo nhịp tấu, nhạc cụ gõ. Trai gái Hà Nhì tỏ tình thường dùng các loại khèn lá, đàn môi, sáo dọc. Các thiếu nữ thích thổi am-ba, mét-du, tuy-húy hay nát-xi vào ban đêm. Con trai gảy đàn La Khư. Ngày lễ hội còn có trống, thanh la, chập cheng góp vui. Người Hà Nhì có nhiều loại bài hát: các bà mẹ hát ru, thanh niên nam nữ hát đối… Có hát đám cưới, hát đám ma, hát mừng nhà mới, hát tiếp khách quí, hát trong ngày tết… Bài hát đám cưới của người Hà Nhì ở Mường Tè, Lai Châu, Việt Nam dài tới 400 câu.
(Đọc đầy đủ về Hà Nhì ở đây)
***
Trở về nguồn cội để sải cánh bay xa
“Nguồn cội âm nhạc truyền thống đã cấp visa nghệ sĩ toàn cầu, đã giúp tôi có cơ hội sinh sống và làm việc tại môi trường nghệ thuật đỉnh cao tại châu Âu. Và từ đó quay lại thổi hồn đương đại vào những tinh hoa vốn cổ, qua lăng kính của riêng mình” – đây là chia sẻ của Ngô Hồng Quang, người chọn hành trình gian nan đưa tinh hoa âm nhạc cổ truyền Việt Nam ra với bè bạn năm châu.

Ngô Hồng Quang (thứ tư, từ trái sang) trong dự án Xây những nhịp cầu ở Ascona, Thụy Sĩ, năm 2017. Ảnh: NVCC
Những thanh âm và kỹ thuật chơi đàn môi, đàn k’ny, đàn tính, sáo, nhị, khèn H’Mông… những điệu xẩm chợ, chèo, ca Huế… là vốn cổ dân gian mà Ngô Hồng Quang chắt lọc sau năm tháng cần mẫn học hỏi trên nhiều vùng miền, đến với nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số sở hữu bề dày văn hóa đồ sộ. Hòa quyện với world music, tất cả đường hoàng bước lên nhiều sân khấu lớn để chinh phục những đối tượng khán giả quốc tế khó tính nhất. Tất cả đủ sức thuyết phục nhiều nghệ sĩ có tên tuổi quốc tế cùng chung tay trong những dự án với biên độ sáng tạo không giới hạn, mở ra đối thoại âm nhạc Đông-Tây sòng phẳng, độc đáo và ấn tượng.
Thưởng thức những sản phẩm âm nhạc đậm đặc cá tính Ngô Hồng Quang, khán giả luôn có cảm giác anh là một “đầu bếp” đặc biệt tài năng. Trụ vững trên cái nền vốn cổ dân gian chắc khỏe, “nhón” chút chất liệu này, “gia giảm” nhạc cụ kia, “nêm nếm” vài ba sắc màu đương đại là có ngay “món đặc sản” chiêu đãi bè bạn năm châu bốn biển. Anh hòa giọng cùng nghệ sĩ Onno Krijn trong bài xẩm chợ Mục hạ vô nhân, song ca với Jean Marie Frederic rồi Leoni Jansen trong hai ca khúc Nếu gặp lại nhau và Tiếng Việt… Anh làm mới những làn điệu quan họ quen thuộc như Ngồi tựa mạn thuyền, Thả lái buông chèo hay Đêm qua nhớ bạn theo phong cách acapella với sự trợ giúp của beatboxer, được ngũ tấu đàn dây đồng hành vì “những kỹ thuật vuốt – rung – nhấn – luyến của nhạc cụ phương Tây hóa ra hoàn toàn phù hợp để kết nối, cộng hưởng với những làn điệu mềm mại uyển chuyển của dạng thức hát đối dân gian trữ tình vùng Kinh Bắc”. Hay thể hiện những sáng tác cho nhạc cụ truyền thống Việt Nam kết hợp cùng đàn santu và bộ gõ do hai nghệ sĩ Iran và Senegan trình tấu… Có thể nói, Ngô Hồng Quang đã nhập tư duy đương đại của thế giới vào vốn cổ Việt Nam, hoặc nói cách khác là đưa chất liệu truyền thống vào không gian đương đại bằng phương thức sáng tác mà anh giản dị định danh là “nhạc của tôi”.
“Khi sáng tác, tôi không dựa trên một trong những hệ thống: ngũ cung (năm âm) của âm nhạc dân tộc, bảy âm hoặc 12 âm của quy chuẩn phương Tây dù đã nghiên cứu, nắm vững tất cả những niêm luật đó. Tôi chọn cách hòa trộn cả ba, đi chệch một chút ra khỏi âm chuẩn, theo kiểu “phi phô bất thành dân tộc” như đưa vào một số nốt thấp hơn vốn đã định hình nét đặc trưng cho âm nhạc truyền thống của ta. Kết hợp với phần hòa âm-phối khí-hòa thanh của riêng tôi, “nhạc của tôi” mang màu sắc riêng biệt, không giống với bất kỳ ai. Tôi áp dụng cách thức đó trong những sáng tác tiêu biểu như Ông Trời, Thuận pháp (Top 10 tác phẩm hay nhất trong Liên hoan sáng tác nhạc đương đại Đông Nam Á được tổ chức tại Bangkok, Thái Lan năm 2013) hay Đêm qua nhớ bạn trong album Nam nhi… Ở nước ngoài, yếu tố duy nhất, độc đáo này được họ tôn vinh, đánh giá rất cao. Qua những sản phẩm của tôi, khán giả nhìn thấy quá khứ-hiện tại đồng hiện. Giờ thì biên độ sáng tạo của tôi là không cùng, khi ngày càng tiệm cận ngưỡng toàn cầu hóa, khi có thể dùng âm nhạc dân tộc “đối thoại” bình đẳng với tinh hoa của mọi nền văn hóa, nếu có ý tưởng hấp dẫn”. “Nhạc của tôi” – qua lời giải thích của Quang có hình hài độc đáo như thế.
Những tháng ngày lưu diễn nước ngoài, rồi khoảng thời gian quý giá tận dụng tối đa hai học bổng toàn phần của Nhạc viện Hoàng gia Hà Lan cho hai khóa học về sáng tác âm nhạc đương đại và hoàn thiện đề tài “sử dụng văn hóa, nhạc tính của người H’Mông vào tác phẩm mới” đã giúp Quang nhận ra con đường mình muốn đi. “Mỗi lần đưa được tác phẩm hoặc chất liệu âm nhạc dân tộc vào một không gian mới như jazz, world music hay nhạc đương đại phương Tây, tôi thấy mình như được hồi sinh bởi tinh hoa vốn cổ lại có thêm một cơ hội được đối thoại, sẻ chia với những nền văn hóa đa dạng khác” – anh tâm sự.
Đi để học hỏi, đi để hòa nhập dòng chảy đương đại toàn cầu. Đi để thấy đất trời cao rộng, để nhìn nhận được chân giá trị kho tàng di sản vô giá mà ông cha để lại cho muôn đời hậu thế. Đi để tự tin trở về, để chọn lựa con đường “đi đến tận cùng cái của ta thì sẽ gặp nhân loại”. Chọn nguồn cội dân tộc làm điểm tựa, Ngô Hồng Quang đã đi được những bước vững chãi, trên hành trình nối nhịp cầu Đông – Tây, như một sứ giả văn hóa đích thực.
Ngô Hồng Quang – Nếu Gặp Lại Nhau


