Tân Nhạc VN – Thơ Phổ Nhạc – “Đi Chơi Chùa Hương” – Nguyễn Nhược Pháp & Trần Văn Khê

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thi khúc “Đi Chơi Chùa Hương” của Thi sĩ Nguyễn Nhược PhápGiáo sư/Nhạc sĩ Trần Văn Khê.

Giáo sư/Nhạc sĩ Trần Văn Khê (24 tháng 7, 1921 – 24 tháng 6, năm 2015) là một nhà nghiên cứu văn hóa, âm nhạc cổ truyền Việt Nam nổi tiếng trên thế giới. Ông là Tiến Sĩ ngành âm nhạc học người Việt Nam đầu tiên tại Pháp và từng là giáo sư tại Đại học Sorbonne, Pháp, thành viên danh dự Hội Đồng Âm Nhạc Quốc Tế, UNESCO. Ông là người có bề dày trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, có công trong quảng bá âm nhạc Việt Nam nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung trên thế giới.

Tên khai sinh của ông là Trần Quang Khê – sinh ngày 24 tháng 7 năm 1921 tại làng Đông Hòa, tổng Thuận Bình, tỉnh Mỹ Tho (nay là huyện Châu Thành, Tiền Giang) trong một gia đình có bốn đời làm nhạc sĩ, nên từ nhỏ ông đã làm quen với nhạc cổ truyền. Năm lên 6 tuổi ông đã được cô (Ba Viện) và cậu (Năm Khương) dạy đàn kìm,đàn cò, đàn tranh, biết đàn những bản dễ như “Lưu Thuỷ”, “Bình Bán vắn”, “Kim Tiền”, “Long Hổ Hội”.

Ông nội ông là Trần Quang Diệm (Năm Diệm), cha ông là Trần Quang Chiêu (Bảy Triều), cô là Trần Ngọc Viện (tức Ba Viện, người đã sáng lập gánh cải lương Đồng Nữ ban), đều là những nghệ nhân âm nhạc cổ truyền nổi tiếng. Cụ cố ngoại ông là tướng quân Nguyễn Tri Phương. Ông ngoại ông là Nguyễn Tri Túc, cũng say mê âm nhạc, có ba người con đều theo nghiệp đờn ca.

Một trong số đó Nguyễn Tri Khương, thầy dạy nhạc và nhà soạn tuồng cải lương nổi tiếng.

Mồ côi từ rất sớm, mẹ mất năm 9 tuổi, cha mất năm 10 tuổi, nên ông cùng với hai em là Trần Văn Trạch (về sau là một ca sĩ nổi tiếng, có biệt danh Quái kiệt), Trần Ngọc Sương được cô Ba Viện nuôi nấng. Cô Ba Viện rất thương, cho anh em ông đi học võ, học đàn kìm.

GS/NS Trần Văn Khê.
GS/NS Trần Văn Khê.

Năm 10 tuổi, Trần Văn Khê đậu tiểu học, sang Tam Bình, Vĩnh Long nhờ người cô thứ năm nuôi. Đến đây Trần Văn Khê được học chữ Hán với nhà thơ Thượng Tân Thị. Trong kỳ sơ học năm 1934 tại Vĩnh Long được đậu sơ học có phần Hán Văn. Cả tỉnh chỉ có Trần Văn Khê và Nguyễn Trọng Danh được đậu bằng chữ Hán.

Ông sang Pháp du học từ năm 1949. Hè năm 1951, ông thi đậu vào trường Chính trị Khoa giao dịch quốc tế. Cho đến năm 1958, ông theo học khoa nhạc học và chuẩn bị luận án tiến sĩ dưới sự chỉ đạo của các Giáo sư Jacques Chailley, Emile Gaspardone và André Schaeffner. Tháng 6 năm 1958, ông đậu Tiến sĩ Văn khoa (môn Nhạc học) của Đại học Sorbonne. Luận văn của ông có tên: “LaMusique vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam).

Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc Học Paris (Institut de Musicologie de Paris). Ông là thành viên của Viện Khoa Học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn Lâm châu Âu về Khoa Học, Văn Chương và Nghệ Thuật cũng như nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế khác; là Chủ Tịch Hội Đồng Khoa Học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu của Đức (International Institute for Comparative Music Studies).

Ông đã đi 67 nước trên khắp thế giới để nói chuyện, giảng dạy về âm nhạc dân tộc Việt Nam.

Sau 50 năm nghiên cứu và giảng dạy ở Pháp, năm 2006, ông chính thức trở về sinh sống và tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy âm nhạc dân tộc tại Việt Nam. Ông cũng là người đã hiến tặng cho Thành phố Sài Gòn 420 kiện hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.

Sau một thời gian bị bệnh, ông qua đời vào khoảng hai giờ sáng ngày 24 tháng 6 năm 2015 tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Sài Gòn.

Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp.
Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp.

Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp, sinh ngày 12 tháng 12 năm 1914, mất ngày 19 tháng 11 năm 1938, tại Hà Nội. Ông là con của nhà văn, nhà báo, dịch giả, học giả Nguyễn Văn Vĩnh với bà vợ thứ hai Phan Thị Lựu, là người Lạng Sơn. Do năm 1914, quân Pháp yếu vì bị thua quân Đức trong nhiều trận thê thảm nên ông Vĩnh đã theo đó mà đặt tên cho con trai.

Năm 1913 ông Vĩnh có khách sạn Trung Bắc ở nhà 50 phố Hàng Trống, gần hồ Gươm, Hà Nội. Bà Lựu giao du rất rộng, nói thạo tiếng Pháp, nguyên là con gái của một thổ ty giàu có ngoài Lạng Sơn. Mỗi khi về Hà Nội bà thường ở trọ khách sạn Trung Bắc nên quen biết ông Vĩnh và chung sống như vợ chồng. Bà Phan Thị Lựu ở tầng hai còn ông Vĩnh đi làm, đến trưa thì nghỉ lại khách sạn với bà, tối mới về phố Mã Mây với vợ cả và các con.

Năm 1916, Nguyễn Nhược Pháp mồ côi mẹ. Khi biết tin ông Vĩnh có thêm một người phụ nữ khác thì bà Phan Thị Lựu không làm chủ được tình cảm của mình. Bà đã tìm cái chết để giải thoát.

Từ 2 tuổi ông sống với bà mẹ cả ở Mã Mây rồi đi học vỡ lòng. Trong 6 năm tiếp theo học phổ thông trường Trí Tri (phố Hàng Đàn và Trung Bắc học hiệu – phố Lý Quốc Sư). Năm 14 tuổi thi đỗ lớp 6 Trường Trung Học Albert Sarraut.

Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp - năm 1923.
Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp – năm 1923.

Trong số 7 anh em, ông là con bà hai, được coi là anh, mặc dù sinh sau Nguyễn Dương (con mẹ cả) mấy tháng. Thời xưa xã hội coi những người con vợ bé, chỉ là con thêm vợ nhặt. Nhưng nhà ông Vĩnh không hành xử theo lối ấy. Theo lời kể lại, Nguyễn Nhược Pháp thông minh, đẹp trai, học giỏi có đầu óc tổ chức, nhiều sáng kiến, làm đầu tầu cho các em trong các hoạt động, sinh hoạt thể thao, vui chơi một cách trí thức.

Năm 20 tuổi ông đỗ Tú Tài phần I, 1935 ông đỗ Tú Tài phần II và vào Đại Học Luật.

Năm 1923, gia đình ông Nguyễn Văn Vĩnh đã chuyển từ phố Mã Mây về phố Thụy Khuê, trước trường Bưởi (trường Chu Văn An bây giờ) gần hồ Tây. Đây là một trong những tài sản lớn của ông F.H Schneider – một người Pháp, vốn là đồng nghiệp làm nhà in, xuất bản báo, vì yêu mến ông Vĩnh đã chuyển nhượng cho trước khi ông này về hưu ở cố quốc.

Nhà ông Vĩnh đông người, nhiều con, lại thêm bạn các con ở tỉnh lẻ về ở nhờ để tiện bề ăn học… vậy mà vẫn rất thoải mái. Gia sản đất đai của Schneider là một khu đất rộng hơn ba nghìn mét vuông. Trong này có biệt thự hai tầng, có xưởng máy giấy mái vòm, bê tông cốt thép, không cột. Ông Vĩnh sửa lại thành nhà thờ và nhiều phòng để ở. Có mười gian nhà ngang, có bếp, nhà để xe, các phòng cho người nhà sinh hoạt…

nguyennhuocphap_Tập thơ Ngày Xưa1

Từ năm 1930 trở đi, kinh tế gia đình ông Nguyễn Văn Vĩnh bắt đầu khó khăn trầm trọng. Nguyễn Nhược Pháp vừa đi học để thi Tú Tài, thi Đại Học Luật, vừa làm ở tòa báo An Nam mới, viết thơ… để có tiền nhuận bút, giảm bớt chi tiêu của gia đình cho mình…

Ông làm thơ từ sớm và đã từng viết cho các báo Annam Nouveau, Hà Nội Báo, Tinh hoa, Đông Dương Tạp chí.

Từ sau khi chị gái là Nguyễn Thị Nội đang đi học Luật năm thứ ba mắc bệnh mất (1933), rồi cha mất (1936), chị Vân mất (1938), và tin anh trai Nguyễn Hải mất trong Nam… Nguyễn Nhược Pháp đau buồn rồi mắc bệnh lao hạch.

Ngày 19 tháng 11 năm 1938, ông trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viện Đồn Thủy, hưởng dương 24 tuổi. Ban đầu, thi hài Nhược Pháp được mai táng ở nghĩa trang Hợp Thiện, Quỳnh Lôi, Mai Động, Hà Nội, sau được bốc mộ về làng Phượng Dực, quê cha.

Ông để lại ba bức thư, một bức viết bằng chữ Pháp, cám ơn các thầy thuốc đã hết lòng cứu chữa. Một bức thư vĩnh biệt mẹ cả và gia đình (khi ấy ông Vĩnh mất được hai năm). Một bức gửi cho người anh là nhà thơ Nguyễn Giang, với tâm nguyện hãy chăm sóc mẹ cả và các em nhỏ tốt hơn nữa.

Hoài Thanh và Hoài Chân đã viết: “Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp…. Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười. Nhưng cái cười của Nguyễn Nhược Pháp khác xa những lối bông lơn, khó chịu của các ông tú, từ Tú Suất, Tú Xương, đến Tú Mỡ. Nó hiền lành và thanh tao. Nội chừng ấy có lẽ cũng đủ cho nó có một địa vị trên thi đàn. Nhưng còn có điều này nữa mới thật quý: với Nguyễn Nhược Pháp nụ cười trên miệng bao giờ cũng kèm theo một ít cảm động trong lòng.”

nguyennhuocphap_Đi Chùa Hương

Thi khúc “Đi Chơi Chùa Hương” (“Chùa Hương”) – (Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp & Nhạc sĩ Trần Văn Khê)

(Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa – Nguyễn Nhược Pháp)

Hôm nay đi chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương
Khăn nhỏ, đuôi gà cao
Lưng đeo dải yếm đào
Quần lĩnh, áo the mới
Tay cầm nón quai thao
Mẹ cười: “Thầy nó trông
Chưn đi đôi dép cong
Con tôi xinh xinh quá
Bao giờ cô lấy chồng ?”
— Em tuy mới mười lăm
Mà đã lắm người thăm
Nhờ mối mai đưa tiếng
Khen tươi như trăng rằm
Nhưng em chưa lấy ai
Vì thầy bảo người mai
Rằng em còn bé lắm
Ý đợi người tài trai
Em đi cùng với mẹ
Me em ngồi cáng trẹ
Thầy theo sau cưỡi ngựa
Thắt lưng dài đỏ hoe
Thầy me ra đi đò
Thuyền mấp mênh bên bờ
Em nhìn sông nước chảy
Đưa cánh buồm lô nhô
Mơ xa lại nghĩ gần
Đời mấy kẻ tri âm
Thuyền nan vừa lẹ bước
Em thấy một văn nhân…
Người đâu thanh lạ thường
Tướng mạo trông phi thường
Lưng cao dài, trán rộng
Hỏi ai nhìn không thương
Chàng ngồi bên me em
Me hỏi chuyện làm quen:
“Thưa thầy đi chùa ạ
Thuyền đông giời ôi chen!”
Chàng thưa vâng thuyền đông
Rồi ngắm giời mênh mông
Xa xa mờ núi biếc
Phơn phớt áng mây hồng
Giòng sông nước đục lờ
Ngâm nga chàng đọc thơ
Thầy khen hay, hay quá
Em nghe ngồi ngẩn ngơ
Thuyền đi, bến Đục qua
Mỗi lúc gặp người ra
Thẹn thùng em không nói
“Nam vô A Di Đà!”
Réo rắt suối đưa quanh
Ven bờ, ngọn núi xanh
Nhịp cầu xa nho nhỏ
Cảnh đẹp gần như tranh
Sau núi Oản, Gà, Xôi
Bao nhiêu là khỉ ngồi
Tới núi con voi phục
Có đủ cả đầu đuôi
Chùa lấp sau rừng cây
(Thuyền ta đi một ngày)
Lên cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày
Em đi, chàng theo sau
Em không dám đi mau
Ngại chàng chê hấp tấp
Số gian nan không giàu
Thầy me đến điện thờ
Trầm hương khói toả mờ
Hương như là sao lạc
Lớp sóng người lô nhô
Chen vào thật lắm công
Thầy me em lễ xong
Quay về nhà ngang bảo:
“Mai mới vào chùa trong”
Chàng hai má đỏ hồng
Kêu với thằng tiểu đồng
Mang túi thơ bầu rượu:
“Mai ta vào chùa trong”
Đêm hôm ấy em mừng
Mùi trầm hương bay lừng
Em nằm nghe tiếng mõ
Rồi chim kêu trong rừng
Em mơ, em yêu đời
Mơ nhiều… Viết thế thôi
Kẻo ai mà xem thấy
Nhìn em đến nực cườị
Em chưa tỉnh giấc nồng
Mây núi đã pha hồng
Thầy me em sắp sửa
Vàng hương vào chùa trong
Đường mây đá cheo veo
Hoa đỏ, tím, vàng leo
Vì thương me quá mệt
Săn sóc chàng đi theọ
Mẹ bảo: “Đường còn lâu
Cứ vừa đi ta cầu
Quan Thế Âm Bồ tát
Là tha hồ đi maụ”

Em ư? Em không cầu
Đường vẫn thấy đi maụ
Chàng cũng cho như thế
(Ra ta hợp tâm đầu)
Khi qua chùa Giải Oan
Trông thấy bức tường ngang
Chàng đưa tay lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn
Tấm tắc thầy khen hay
Chữ đẹp như rồng bay
(Bài thơ này em nhớ
Nên chả chép vào đây)
Ôi! Chùa trong đây rồi!
Động thẳm bóng xanh ngời
Gấm thêu trần thạch nhũ
Ngọc nhuốm hương trầm rơị
Mẹ vui mừng hả hê:
“Tặc! con đường mà ghê!”
Thầy kêu mau lên nhé
Chiều hôm nay ta về
Em nghe bỗng rụng rời
Nhìn ai luống nghẹn lời
Giờ vui đời có vậy
Thoáng ngày vui qua rồi
Làn gió thổi hây hây
Em nghe tà áo bay
Em tìm hơi chàng thở
Chàng ôi, chàng có hay
Đường đây kia lên giời
Ta bước tựa vai cười
Yêu nhau, yêu nhau mãi
Đi, ta đi, chàng ôi
Ngun ngút khói hương vàng
Say trong giấc mơ màng
Em cầu xin Giời Phật
Sao cho em lấy chàng
(6-1934)

(Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người lấy nhau, vì không lấy được nhau thì cô bé còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện. Nguyễn Nhược Pháp)

Dưới đây mình có các bài:

– Đi Chùa Hương Của Trần Văn Khê
– Mối duyên giữa nghệ sỹ tài danh và “Cô gái chùa Hương”
– Nguyễn Nhược Pháp – Cô Gái Chùa Hương Sống Mãi Tuổi 15

Cùng với 3 clips tổng hợp thi khúc “Đi Chơi Chùa Hương” do các ca sĩ xưa và nay diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

GS/NS Trần Văn Khê.
GS/NS Trần Văn Khê.

Đi Chùa Hương Của Trần Văn Khê

(Nhật Hoa Khanh phỏng vấn)

Suốt gần 60 năm nay, bài thơ Chùa Hương (tác giả Nguyễn Nhược Pháp) sau khi được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc toàn bài, ngày càng nổi lên trên văn đàn và trên sân khấu. Bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp được Trần Văn Khê phổ nhạc toàn bài và lấy tên là Đi Chùa Hương.

NHK: Thưa GS nhạc sĩ, ông đã từng gặp nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp lần nào chưa?

GS TVKTôi chưa bao giờ gặp nhà thơ nổi tiếng Nguyễn Nhược Pháp mà chỉ đọc những bài thơ của ông trong cuốn Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh, Hoài Chân mà thôi.

NHK: Vì sao ông lại phổ nhạc toàn bộ bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp?

GS TVKĐó là năm 1946, khi đang lánh nạn ở Lộc Ninh, ban đầu tôi chưa hề có ý định, nhưng vì rất thích nên tôi đã đọc bài thơ đó nhiều lần. Tôi thường hay ngâm thơ nên ban đầu có ý ngâm bài thơ, nhưng vì là thể thơ ngũ ngôn, có rất nhiều đoạn khó. Vì thế tôi thấy rằng làm như vậy không hấp dẫn bằng có nhiều đoạn mình ngâm “theo kiểu mới”. Một hôm, khi chuyển qua ngâm thơ theo điệu mới, một vài nét nhạc thoáng qua đầu, trong 10 ngày, tôi ghi lại những đoạn tâm đắc, lúc đó mới nghĩ đến việc ký âm lại cho dễ nhớ và từ đó bắt đầu phổ nhạc.

NHK: Xin GS kể chi tiết một số đoạn xử lý với bài thơ độc đáo này?

GS TVKTôi không phải là nhạc sĩ sáng tác, nhưng lúc đàn piano phụ họa theo tiếng ngâm của mình, tôi bắt đầu bằng gam Pha trưởng, rồi nhiều đoạn chuyển sang gam Rê thứ, chỉ có lúc cuối cùng, do tình cảm nhớ thương da diết nên tôi chuyển sang ngâm theo phong cách Sa mạc, nhưng cũng dựa theo gam Rê thứ. Lúc đó, tôi cũng định ghi nhạc để hát chơi cho các bạn nghe chớ không định phổ nhạc một bài thơ.

NHK: Hành trình tiếp theo của cuộc đời bài hát, thưa GS?

GS TVKNgười đầu tiên tôi đưa bài phổ nhạc là nhạc sĩ Lê Thương, bạn rất thích. Khi tôi chuẩn bị sang Pháp thì Lê Thương gởi thư nói rằng nến không giới thiệu với công chúng thì rất uổng. Lê Thương đã nhờ ca sĩ Mộc Lan học thuộc lời và giới thiệu trong một buổi hoà nhạc có nhiều bạn bè của ông, lúc đó tôi đang ở Pháp.

Sau đó, NXB Tinh Hoa, qua giới thiệu của Lê Thương, đã viết thư yêu cầu tôi cho phép xuất bản bài Đi Chùa Hương. Lúc đó tôi đang bịnh, đang nhập viện nên rất cần tiền. NXB bằng lòng trả tiền tác giả để in lần đầu khoảng 2000 bản và không lâu sau, báo tin đã bán hết và xin tái bản lần hai, đồng thời gửi đầy đủ tiền tác quyền sang Pháp cho tôi. Lúc đó, 1 đồng VN bằng 17 franc cũ. Nhờ tiền tác quyền, tôi sống bình yên 4 tháng trời tại Paris!

Lê Thương còn cho biết, Mộc Lan cũng trình bày bài đó trên Đài phát thanh Pháp á. Rồi bên nhà báo sang là Thái Thanh cũng hát. Nhưng tôi không nhận được bản ghi âm nào. Sau này, tôi biết bên Mỹ cũng có vài ca sĩ giới thiệu bài Đi Chùa Hương, trong đó có ý Lan – con gái Thái Thanh – đã thu được nhiều kết quả. Khi về nước làm việc, tôi được Thanh Lan tặng một cuốn băng video ghi lại bản nhạc Đi Chùa Hương rất đầy đủ. Trong các nghệ sĩ hát bài này, có Hồng Vân là thuộc hết bản nhưng chỉ thường giới thiệu trích đoạn chứ không hát cả bài.

NHK: Những năm 50, 60 ở VN, những năm 90 ở hải ngoại, nhiều nữ danh ca đã thể hiện Đi Chùa Hương với những giọng truyền cảm sâu sắc. GS thích nhất giọng nào?

GS TVKTiếc rằng tôi không được diễm phúc nghe tận tai tất cả các ca sĩ hát bài này. Đến nay tôi chỉ còn nhớ giọng của ý Lan mà tôi được một người bạn bên Mỹ cho nghe qua điện thoại. Giọng của Thanh Lan, tôi cũng còn nhớ rõ vì có cuộn băng. Hồng Vân thì đã rất nhiều lần hát tặng tôi ở những buổi họp mà tôi có mặt…

NHK: Nhạc sĩ Lê Thương, năm 199, tại TpHCM, đã nói với tôi: Chùa Hương là bai thơ dài thấm đẫm hồn dân tộc trong thể thơ và nội dung, trong lời thơ. Nhạc sĩ Trần Văn Khê đã phổ nhạc thành công bài thơ dài và độc đáo đó. GS suy nghĩ thế nào về nhận định này?

GS TVKBạn tôi vì quá ưu ái mà có lời khen tặng như vậy. Về mặt nhạc học, lẽ tất nhiên là Lê Thương rất sành sỏi nên lời nhận xét đó không xa với thực tế. Nhưng tôi vẫn không dám nhận tất cả những lời khen của bạn, vì tôi không phải là nhạc sĩ sáng tác chuyên môn để có được những quan điểm sâu sắc về cách phổ nhạc.

NHK: GS có nhớ lần đầu tiên ra Hà Nội và lần đầu tiên thăm chùa Hương?

GS TVKTôi đi chùa Hương lần đầu lúc đang học trường Y tại Hà Nội năm 1942. Về sau được đọc bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp thì bao nhiêu cảnh đẹp chùa Hương mà tôi đã được thấy, như hiện rõ trong câu thơ và nhờ đó mà bản phổ nhạc được nhiều bạn yêu thích.

Năm 1976, nhạc sĩ Đỗ Nhuận tổ chức cho tôi đi viếng chùa Hương cùng GS Nguyễn Hoán và phu nhân, Võ Thị Tri Túc, và con trai của hai bạn là cháu Cảnh. Tôi thật bồi hồi! Không gian cũ hiện lên, cùng với những cảm xúc vẫn nguyên vẹn trong lòng, tất cả như còn tươi mới!

NHK: Chân thành cảm ơn GS nhạc sĩ Trần Văn Khê!

nguyennhuocphap_ĐB

Mối duyên giữa nghệ sỹ tài danh và “Cô gái chùa Hương”

(Lã Xưa – ghi theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo ‘giađình.net’)

Xuất xứ câu chuyện “Em đi Chùa Hương” của nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp đã từng được kể. Nhưng chuyện nhạc sĩ Đoàn Chuẩn lại mê ca sĩ hát bài này (bản do Trần Văn Khê phổ) thì chưa mấy ai biết. Dường như đó là một mối “lương duyên” kỳ lạ giữa ba con người tài danh.

Lai lịch cô gái “Em đi chùa Hương”

Bài thơ “Chùa Hương”, nguyên bản của bài hát “Hôm qua em đi chùa Hương” có một lai lịch khá kỳ thú. Mùa xuân năm ấy, Nguyễn Nhược Pháp cùng Nguyễn Vỹ và hai cô bạn đi hội Chùa Hương. Trèo lên đến rừng Mơ thì họ gặp một cô bé rất xinh đi cùng mẹ lên chùa. Hai mẹ con đang vừa đi vừa chắp tay niệm Phật, thấy hai chàng bước bên cạnh, cô bé bỗng nhìn họ trân trối rồi bẽn lẽn không niệm Phật nữa. Nguyễn Nhược Pháp và Nguyễn Vỹ liền hỏi tại sao cô bé không niệm Phật nữa thì cô bé liền đỏ bừng đôi má, tỏ vẻ bối rối muốn khóc. Nguyễn Nhược Pháp thấy vậy thích lắm liền cố bắt chuyện để an ủi cô bé. Và câu chuyện vẩn vơ đã diễn ra cùng họ cho đến chùa Ngoài. Mải chuyện với người đẹp, Nguyễn Nhược Pháp và Nguyễn Vỹ bị hai cô bạn gái đi cùng bỏ rơi lúc nào không hay.

Không tìm được hai cô bạn trong đám đông trẩy hội, đêm ấy hai chàng liền ngủ lại trong chùa Hương cùng hai mẹ con cô bé quê. Sáng hôm sau gặp lại hai cô bạn, Nguyễn Vỹ phải xin lỗi mãi, còn Nguyễn Nhược Pháp chỉ tủm tỉm cười. Về đến Hà Nội được mấy hôm, Nguyễn Nhược Pháp sáng tác nên bài thơ “Chùa Hương” (Theo Nguyễn Vỹ thì trong bản chép tay đầu tiên, bài thơ có tên là “Cô gái Chùa Hương”). Bài thơ dài 34 khổ 144 dòng, lấy cuộc gặp gỡ lý thú của tác giả với cô gái quê ở Chùa Hương làm đề tài và tưởng tượng thêm. Điều đặc biệt là dưới tên bài thơ, Nguyễn Nhược Pháp mở ngoặc đơn dòng chữ “Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa”. Cuối bài thơ còn ghi thêm: “Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người sẽ lấy nhau, vì không lấy được nhau thì cô gái còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện”.

Trước năm 1945, bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Văn Khê phổ nhạc thành bài hát “Đi chơi Chùa Hương”, bài hát này khá dài, chỉ có ca sĩ Mộc Lan ở Huế hát tthành công nhất, được nhiều người hâm mộ nhất. Giữa những năm 1980, ca sĩ Trung Đức phỏng theo mấy đoạn thơ phổ thành bài hát “Em đi Chùa Hương” và được phổ biến rộng rãi hơn vì nó mộc mạc chân thành, đậm chất dân ca xứ Nghệ, dễ hát và dễ nhớ. Nhưng nếu Nguyễn Nhược Pháp sống lại để nghe bài hát này, chắc ông sẽ lại tủm tỉm cười khi thấy câu thơ “Chân đi đôi dép cong” của ông đã bị đổi thành “Chân em đi đôi guốc cao cao” bởi vì đi Chùa Hương phải leo dốc, xuống hang rất ghập ghềnh, đi guốc cao thì làm sao mà đi nổi.

Nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp là một trí thức con nhà dòng dõi. Cha ông là nhà văn, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh, từng dịch tập thơ “Ngụ ngôn” của La Fontaine ra tiếng Việt rất đặc sắc. Nguyễn Nhược Pháp sinh năm 1914 tại Hà Nội, đỗ bằng Tú tài Tây, làm thơ từ năm 16 tuổi. Ngoài ra, ông còn sáng tác kịch, truyện ngắn và viết báo. Ông viết báo tiếng Pháp khá nhiều, năm 1935 xuất bản tập thơ “Ngày xưa”, trong đó có bài thơ “Chùa Hương” rất nổi tiếng. Nhưng tiếc thay, thi sĩ tài danh Nguyễn Nhược Pháp mất đột ngột khi mới 24 tuổi, vào năm 1938.

Đoàn Chuẩn “ẩn danh” tặng hoa người đẹp

Có người từng nói rằng cố nhạc sĩ Đoàn Chuẩn là ông vua slow của Việt Nam, nhạc của ông trữ tình, lãng mạn đến nao lòng. Người ta cho rằng nếu không bằng tình yêu một người đẹp nào đó chắc ông sẽ không thể viết ra những ca khúc hay như vậy. Không biết thực hư những mối tình lãng mạn của Đoàn Chuẩn ảnh hưởng đến ca khúc của ông đến đâu nhưng ông từng nói rằng, ông có một kỷ niệm sâu sắc với một nữ ca sĩ Huế từ hồi những năm 1950. Đó chính là ca sĩ Mộc Lan.

Đoàn Chuẩn chỉ sau một lần nghe Mộc Lan hát bài “Đi chơi Chùa Hương” của Trần Văn Khê phổ thơ Nguyễn Nhược Pháp ở Nhà hát lớn Hà Nội, đã đem lòng thầm yêu trộm nhớ. Sau cuộc diễn ở Hà Nội, Mộc Lan trở lại Sài Gòn. Đoàn Chuẩn không đừng được và đã đáp máy bay vào chơi Sài Gòn, hy vọng làm quen với Mộc Lan vì biết cô đã chia tay với người chồng nhạc sĩ. Khi ấy, Đoàn Chuẩn vốn là ông chủ hãng nước mắm Vạn Vân, là một tỉ phú của Hải Phòng, từng có xe hơi riêng hiệu Buick Hoa Kỳ mà cả miền Bắc chỉ có hai chiếc.

NS Đoàn Chuẩn thời trẻ.
NS Đoàn Chuẩn thời trẻ.

Theo nhạc sĩ Lê Hoàng Long, bạn của Đoàn Chuẩn tiết lộ thì sau khi tới Sài Gòn, họ Đoàn đã tìm được địa chỉ của Mộc Lan trên đường Espagne (nay là đường Lý Chính Thắng, Tân Định) nhưng không trực tiếp “yết kiến” mà chỉ nhờ chủ một tiệm bán hoa tươi mang hoa đến tặng Mộc Lan mỗi sáng sớm, và không tiết lộ tung tích người gửi hoa. Đoàn Chuẩn đặt trước tiền hoa và tiền công cả tháng cho chủ hàng hoa tươi rồi trở lại Hải Phòng, không quên để lại địa chỉ liên lạc của mình.

Sau 3 tuần nhận được hoa đều đặn, ca sĩ hoa khôi Mộc Lan không cầm lòng được đã đề nghị người đưa hoa cho biết tên người tặng. Được sự đồng ý của Đoàn Chuẩn, chủ hàng hoa đã thông báo cho Mộc Lan biết người gửi tặng hoa cho nàng chính là nhạc sĩ Đoàn Chuẩn cùng với địa chỉ kèm theo. Sau đó, nhạc sĩ họ Đoàn nhận được lá thư của người đẹp với lời cảm ơn và hy vọng có ngày được hội ngộ. Thế là Đoàn Chuẩn lại gửi tiền để chủ hàng hoa tiếp tục tặng hoa cho người đẹp liền 2 tháng nữa.

Mấy tuần sau đó, Đoàn Chuẩn rất xúc động khi nhận được lá thư tiếp theo của Mộc Lan và ông đã biến tình cảm dâng trào của mình thành bản nhạc “Gửi gió cho mây ngàn bay” với lời đề tặng M.L: “Gửi gió cho mây ngàn bay/ Gửi bướm đa tình về hoa/ Gửi thêm ánh trăng, màu xanh lá thư về đây với thu trần gian”. Và dường như trong sự xa cách, Đoàn Chuẩn cũng nhận ra một mối tình vô vọng chỉ có trong tâm tưởng mà thôi. Vì thế mà âm nhạc và lời ca càng trở nên buồn da diết: “Nhưng thôi tiếc mà chi/ Chim rồi bay – anh rồi đi/ Đường trần quên lối cũ/ Người đời xa cách mãi/ Tình trần không hàn gắn thương lòng”. Bài hát được gửi tới Mộc Lan. Rồi một ngày, Đoàn Chuẩn đích thân lên tận sân bay Gia Lâm để đón người đẹp du Bắc Hà. Ông thuê phòng cho Mộc Lan ở Metropole, khách sạn sang trọng bậc nhất Hà Nội lúc bấy giờ.

Gặp gỡ và chia tay… Nhiều mối tình đã đi qua tâm hồn người nhạc sĩ lãng mạn. Lúc còn sống, ông từng thú nhận rằng đời ông chỉ viết tình khúc, bởi ông trọng nhất là tình yêu. Những năm cuối đời ông bị tai biến mạch máu não, nằm liệt trên giường. Người bạn đời của ông vẫn còn lưu lại vẻ đẹp của một thời hoàng kim xa lắc luôn có mặt bên cạnh. Lúc ấy, khi nhắc lại chuyện xưa, cả hai ông bà đều cười rất tươi.

Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp.
Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp.

Nguyễn Nhược Pháp – Cô Gái Chùa Hương Sống Mãi Tuổi 15

(Đỗ Ngọc Thạch)

Nhà thơ lớn người Avar xứ Daghestan Rasul Gamzatov (*) có viết : “Mặt đất tối sầm nếu không có thơ ca”. Đó là chân lý vĩnh cửu.

Song, ta hãy hình dung, nếu như Thi đàn Việt Nam vào đầu TK20 chỉ có những câu thơ quay cuồng say đảo: “Say đi em! Say đi em! /Say cho lơi lả ánh đèn, /Cho cung bậc ngả nghiêng. Điên rồ xác thịt, /Rượu, rượu nữa, và quên, quên hết!” của Vũ Hoàng Chương (1); hoặc chỉ có những câu thơ “sống gấp” “thà một phút huy hoàng rồi chợt tối” của Xuân Diệu (2): “…Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, /Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, /Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều /…Cho no nê thanh sắc của thời tươi: / – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”; hoặc chỉ có những câu thơ buồn đau tuyệt vọng của Chế Lan Viên (3): “Tôi có chờ đâu, có đợi đâu: /Đem chi xuân lại gợi thêm sâu? /-Với tôi tất cả như vô nghĩa, /Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!”,v.v… Nếu tình hình đó có thể xảy ra thì… giống nòi Việt đã bị tiệt chủng từ lâu! Song, nó đã không xảy ra bởi vì đã có những Thi nhân xuất hiện và cứu giống nòi thoát khỏi hiểm họa tiệt chủng đó! Đó là những Thi nhân của Hồn Việt trường sinh bất tử, mà một trong số đó là Nguyễn Nhược Pháp (**) – Thi sĩ “Sống mãi tuổi mười lăm” cùng Cô gái Chùa Hương!…

Tôi bỗng nhận ra rằng, bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp sở dĩ trẻ mãi không già mà sống mãi đến ngày hôm nay với chúng ta vì trong bài thơ có nhân vật trữ tình là cô gái mười lăm tuổi đi trẩy hội Chùa Hương. Và tôi cứ nghĩ, hãy trả bài thơ về với tên gọi lúc mới chào đời của nó là Cô gái Chùa Hương, bởi cảm xúc ban đầu bao giờ cũng tràn đầy thi hứng!…

*

Mồ côi mẹ từ năm lên hai tuổi, nhưng chưa có ai biết họ tên thật cũng như xuất xứ quê quán của thân mẫu nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp! Chỉ biết khi ấy bà là một người đẹp có danh phận, là con gái yêu của một thổ ty giàu có ở mạn ngược vùng Lạng Sơn? Tuy nhiên, cậu bé Nguyễn Nhược Pháp may mắn được nằm trong vòng tay thân ái của bà vợ cả cụ Nguyễn Văn Vĩnh.

Cậu bé được cha mẹ coi sóc cẩn thận cho học hành tử tế. Bằng cớ là Nguyễn Nhược Pháp sau khi đậu tú tài rồi vào trường Cao đẳng Luật Đông Dương. Như là muốn nối chí hay có gien người cha, Nguyễn Nhược Pháp không sung vào bất kỳ ngạch quan lại lẫn công chức nào mà đi làm văn làm báo…và làm thơ. Chính vì thế chúng ta mới có nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp

Ngoài Chùa Hương, Nguyễn Nhược Pháp còn có bài thơ đặc sắc Tay Ngà và bài thơ dài Sơn Tinh Thủy Tinh.

Tay ngà đã làm sống lại cảnh tượng “Vinh quy bái tổ” của các Quan Trạng ngày xưa – cái hình ảnh mà bất cứ chàng thư sinh nào cũng mơ ước:

Ta ngồi bên tảng đá
Mơ lều chiếu ngày xưa,
Mơ quan Nghè, quan Thám
Đi có cờ lọng đưa.

Và đây mới là hình ảnh tươi tắn chỉ thấy ở thơ Nguyễn Nhược Pháp:

Trên lầu mấy thị nữ
Cùng nhau rúc rích cười:
“Thưa cô đừng thẹn nữa
Quan Nghè trông lên rồi”.

Cúi đầu nàng tha thướt,
Yêu kiều như mây qua.
Mắt xanh nhìn man mác,
Mỉm cười vê cành hoa.

Hoài Thanh nói Nguyễn Nhược Pháp lòng trong trắng như hồi còn thơ thì quả là không còn cách nói nào đúng hơn và hay hơn! Ta hãy đọc lại nguyên văn bài Tay ngà:

TAY NGÀ

Đêm nay chờ trăng mọc,
Ngồi thẩn thơ trong vườn,
Quanh hoa lá róc rách
Như đua bắt làn hương.

Ta ngồi bên tảng đá
Mơ lều chiếu ngày xưa,
Mơ quan Nghè, quan Thám
Đi có cờ lọng đưa.

Rồi bao nàng yểu điệu.
Ngấp nghé bay trên lầu;
Vừa leng keng tiếng ngựa,
Lẹ gót tiên gieo cầu.

Tay vơ cầu ngũ sắc,
Má quan Nghè hây hây.
Quân hầu reo chuyển đất,
Tung cán lọng vừa quay.

Trên lầu mấy thị nữ
Cùng nhau rúc rích cười:
“Thưa cô đừng thẹn nữa
Quan Nghè trông lên rồi”.

Cúi đầu nàng tha thướt,
Yêu kiều như mây qua.
Mắt xanh nhìn man mác,
Mỉm cười vê cành hoa.

Ta còn đang luyến mộng,
Yêu bóng người vẩn vơ;
Tay ngà ai phủ trán ?
– Hiu hắt ánh trăng mờ…

(Ngày xưa)

*

Đối với những kiệt tác thi ca, người ta thường muốn truy tìm xuất xứ của nó. Đó là một nhu cầu chính đáng. Và nhà thơ Nguyễn Vỹ đã cho chúng ta biết xuất xứ của Chùa Hương trong cuốn Văn sĩ Thi sĩ Tiền chiến.

Hội Chùa Hương năm 1934, Nguyễn Nhược Pháp cùng nhà thơ Nguyễn Vỹ và hai người bạn nữ sinh Hà thành đi trẩy hội. Đến rừng mơ, hai Thi nhân gặp một bà mẹ cùng cô gái độ tuổi trăng tròn vừa bước lên những bậc đá vừa niệm Phật “Nam Mô Cứu Khổ Cứu Nạn Đại Từ Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát”.

Vẻ đẹp chân quê và khuôn mặt thánh thiện của cô gái đã hớp hồn hai chàng thi sĩ khiến họ say mê ngắm nhìn mà quên đi hai cô bạn gái cùng đi. Nguyễn Nhược Pháp lại gần hỏi: “Tại sao trông thấy chúng tôi cô lại không niệm phật nữa?”. Cô gái bối rối, thẹn thùng … Hai người bạn gái gọi hai chàng thi sĩ để đi tiếp nhưng họ đâu còn nghe thấy gì ngoài tiếng niệm Phật của cô gái còn vương vất đâu đây! Hai người bạn gái giận dỗi, bỏ đi. Lúc bừng tỉnh, hai chàng thi sĩ không thấy các cô đâu, vội len lách đuổi theo qua dòng người đang trẩy hội nhưng tìm đâu thấy? Mệt và ngán ngẩm, hai thi sĩ quay lại tìm cô gái chân quê thì cả hai mẹ con cũng đâu còn chỗ cũ? Họ đã lẫn vào dòng người nhộn nhịp kia, sao mà tìm?

Đêm đó, Nguyễn Nhược Pháp trằn trọc không nguôi. Hình ảnh cô gái chân quê đi chùa Hương khiến chàng trai xúc động viết lên những vần thơ có sắc màu rực rỡ, hình ảnh tươi vui, tất cả cảnh tượng sống động của mùa trẩy hội chùa Hương ngày xưa hiện lên trên từng câu, từng chữ:

Hôm nay đi chùa Hương,
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy,
Em vấn đầu soi gương.

Khăn nhỏ, đuôi gà cao;
Em đeo dải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới;
Tay cầm nón quai thao…

Cô gái chùa Hương khi in vào tập Ngày Xưa thì hai chữ Cô gái bị bỏ đi, chỉ còn Chùa Hương. Trước đây nhạc sĩ Trần Văn Khê đã phổ nhạc bài thơ song dường như chưa bắt trúng nhạc điệu của Chùa Hương. Phải đợi đến nghệ sĩ Trung Đức , gần 60 năm sau, qua lần đi Hương Sơn đã cộng cảm với Thi sĩ Nguyễn Nhược Pháp mà phổ nhạc bài thơ, thêm bớt lời, để thành bài hát Em đi chùa Hương. Ngay từ lần phát sóng đầu tiên, Em đi chùa Hương đã được đông đảo thính giả ưa thích và nhanh chóng được phổ biến rộng rãi:

Hôm nay em đi chùa Hương
Hoa cỏ còn mờ hơi sương
Cùng thầy me em vấn đầu soi gương
Khăn nhỏ, đuôi gà cao
Em đeo giải yếm đào
Quần lãnh, áo the mới
Tay em cầm chiếc nón quai thao
Chân em di đôi guốc cao cao

Đường đi qua bến Đục
Moi người ngắm nhìn em
Thẹn thùng em không nói
Em bây giờ mới tuổi mười lăm
Em hãy còn bé lắm (chứ) mấy anh ơi

Đường đi qua Đồng Vọng
Mọi người ngắm nhìn em
Thẹn thùng em không nói
Nam mô A Di Đà
Nam mô A Di Đà

Đến nay, bài thơ Chùa Hương đã 76 tuổi, Nguyễn Nhược Pháp đã qua đời được 72 năm, song Chùa Hương cùng tên tuổi nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp vẫn sống mãi với Chùa Hương, với thời gian, ở độ tuổi mười lăm!

CHÙA HƯƠNG

(Thiên ký sự của một cô bé ngày xưa)

Hôm nay đi chùa Hương,
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy,
Em vấn đầu soi gương.

Khăn nhỏ, đuôi gà cao;
Em đeo dải yếm đào;
Quần lĩnh, áo the mới;
Tay cầm nón quai thao.

Me cười: “Thầy nó trông !
Chân đi đôi dép cong,
Con tôi xinh xinh quá !
Bao giờ cô lấy chồng ?”

– Em tuy mới mười lăm
Mà đã lắm người thăm,
Nhờ mối mai đưa tiếng,
Khen tươi như trăng rằm.

Nhưng em chưa lấy ai,
Vì thầy bảo người mai
Rằng em còn bé lắm.
Ý đợi người tài trai.

Em đi cùng với me.
Me em ngồi cáng tre.
Thầy theo sau cưỡi ngựa,
Thắt lưng dài đỏ hoe.

Thầy me ra đi đò.
Thuyền mấp mênh bên bờ.
Em nhìn sông nước chảy,
Đưa cánh buồm lô nhô.

Mơ xa lại nghĩ gần.
Đời mấy kẻ tri âm ?
Thuyền nan vừa lẹ bước,
Em thấy một văn nhân.

Người đâu thanh lạ nhường !
Tướng mạo trông phi thường.
Lưng cao dài, trán rộng.
Hỏi ai nhìn không thương ?

Chàng ngồi bên me em,
Me hỏi chuyện làm quen:
“Thưa thầy đi chùa ạ ?
Thuyền đông trời ôi chen !”

Chàng thưa vâng thuyền đông,
Rồi ngắm trời mênh mông,
Xa xa mờ núi biếc,
Phơn phớt áng mây hồng.

Dòng sông nước đục lờ.
Ngâm nga chàng đọc thơ.
Thầy khen hay, hay quá !
Em nghe rồi ngẩn ngơ.

Thuyền đi, bến Đục qua.
Mỗi lúc gặp người ra,
Thẹn thùng em không nói :
“Nam Mô A Di Đà !”

Réo rắt suối đưa quanh,
Ven bờ, ngọn núi xanh,
Nhịp cầu xa nho nhỏ:
Cảnh đẹp gần như tranh.

Sau núi Oán, Gà, Xôi,
Bao nhiêu là khỉ ngồi,
Tới núi con Voi phục,
Có đủ cả đầu đuôi.

Chùa lấp sau rừng cây.
(Thuyền ta đi một ngày)
Lên cửa chùa em thấy
Hơn một trăm ăn mày.

Em đi, chàng theo sau.
Em không dám đi mau,
Ngại chàng chê hấp tấp,
Số gian nan không giàu.

Thầy me đến điện thờ,
Trầm hương khói tỏa mờ.
Hương như là sao lạc,
Lớp sóng người lô nhô.

Chen vào thật lắm công.
Thầy me em lễ xong,
Quay về nhà ngang bảo :
“Mai mới vào chùa trong.”

Chàng hai má đỏ hồng
Kêu với thằng tiểu đồng
Mang túi thơ bầu rượu :
“Mai ta vào chùa trong !”

Đêm hôm ấy em mừng !
Mùi trầm hương bay lừng.
Em nằm nghe tiếng mõ,
Rồi chim kêu trong rừng.

Em mơ, em yêu đời,
Mơ nhiều… Viết thế thôi,
Kẻo ai mà xem thấy,
Nhìn em đến nực cười.

Em chưa tỉnh giấc nồng,
Mây núi đã pha hồng.
Thầy me em sắp sửa
Vàng hương vào chùa trong.

Đường mây đá cheo leo,
Hoa đỏ, tím, vàng leo.
Vì thương me quá mệt,
Săn sóc chàng đi theo.

Me bảo: “Đường có lâu,
Cứ vừa đi ta cầu
Quan Thế Âm Bồ Tát
Là tha hồ đi mau”

Em ư ? Em không cầu,
Đường vẫn thấy đi mau.
Chàng cũng cho như thế.
(Ra ta hợp tâm đầu)

Khi qua chùa Giải oan,
Trông thấy bức tường ngang,
Chàng đưa tay, lẹ bút
Thảo bài thơ liên hoàn.

Tấm tắc thầy khen hay,
Chữ đẹp như rồng bay.
(Bài thơ này em nhớ
Nên chả chép vào đây).

Ô ! Chùa trong đây rồi !
Động thắm bóng xanh ngời.
Gấm thêu trần thạch nhũ,
Ngọc nhuốm hương trầm rơi.

Me vui mừng hả hê:
“Tặc ! Con đường dài ghê !”
Thầy kêu mau lên nhé,
Chiều hôm nay ta về.

Em nghe bỗng rụng rời !
Nhìn ai luống nghẹn lời !
Giờ vui đời có vậy,
Thoảng ngày vui qua rồi !

Làn gió thổi hây hây,
Em nghe tà áo bay,
Em tìm hơi chàng thở !
Chàng ơi, chàng có hay ?

Đường dây kia lên trời,
Ta bước tựa vai cười,
Yêu nhau, yêu nhau mãi !
Đi, ta đi, chàng ơi !

Ngun ngút khói hương vàng,
Say trong giấc mơ màng,
Em cầu xin Trời Phật
Sao cho em lấy chàng.

(Thiên ký sự đến đây là hết. Tôi tin rồi hai người lấy nhau, vì không lấy được nhau thì cô bé còn viết nhiều. Lấy nhau rồi là hết chuyện). (Nguyễn Nhược Pháp).

*

Những lời bình thơ Nguyễn Nhược Pháp của Hoài Thanh trong cuốn Thi Nhân Việt Nam dường như thoải mái, sảng khoái nhất bởi dường như là thơ Nguyễn Nhược Pháp hợp với “gu thẩm mỹ” của nhà phê bình. Ở thơ Nguyễn Nhược Pháp, nhà phê bình không phải cân nhắc đắn đo, không phải rào trước đón sau, cũng không phải “vòng vo Tam quốc” mà thoải mái mở đầu rằng : “Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp”, và bùi ngùi hạ bút câu kết rằng : “Người mất năm hai mươi bốn tuổi, lòng trong trắng như hồi còn thơ”. Tưởng không còn có lời khen tặng nào hơn! Vì thế, để cảm nhận hết vẻ đẹp của thơ Nguyễn Nhược Pháp, không gì bằng đọc lại lời bình của nhà Phê bình có “Con Mắt Xanh” Hoài Thanh và đọc thêm vài bài trong tập Ngày xưa của Thi sĩ sống mãi tuổi mười lăm này:

“…Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp.

Không mến sao được? Với đôi ba nét đơn sơ, Nguyễn Nhược Pháp đã làm sống lại cả một thời xưa. Không phải cái thời xưa nặng nề của nhà sử học, cũng không phải cái thời xưa tráng lệ hay mơ màng của Huy Thông (4), mà là một thời xưa gồm những màu sắc tươi vui, những hình dáng ngộ nghĩnh. Thời xưa ở đây đã mất hết cái vẻ rầu rĩ cố hữu và đã biết cười, cái cười của những “thắt lưng dài đỏ hoe”, những đôi “dép cong” nho nhỏ. Những cảnh ấy vốn có thực. Nhưng dầu sự thực không có thì nhà thơ sẽ tạo ra, khó gì. Mặc cho những nhà khảo cổ cặm cụi tìm nguyên do câu chuyện hai vị thần dành nhau một nàng công chúa, thi nhân cứ cho là có thực và người thấy khi Thủy Tinh đã bắt quyết gọi mưa để khoe tài, thì Sơn Tinh chẳng chịu thua, liền:

Vung tay niệm chú: Núi từng dải,
Nhà lớn, đồi con lổm cổm bò
Chạy mưa.

Sáng hôm sau, Thủy Tinh cưỡi rồng vàng đến xin cưới:

Theo sau cua đỏ và tôm cá,
Chia đội năm mươi hòm ngọc trai,
Khập khiễng bò lê trên đất lạ,
Trước thành tấp tểnh đi hàng hai.

Nhưng chậm mất rồi. Sơn Tinh đã đến trước. Tức quá, Thủy Tinh liền ra lệnh cho bọn đồ đệ dương oai:

Cá voi quác mồm to muốn đớp,
Cá mập quẫy đuôi cuồng nhe răng.
Càng cua lởm chởm giơ như mác;
Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao.

Ai xem những cảnh ấy mà không buồn cười. Thi nhân cũng chỉ muốn thế: kiếm chuyện cười chơi.

Cũng có khi người cười những nhân vật chính người tạo ra, như cái cô bé đi Chùa Hương trong thiên ký sự chép những câu thật thà:

Em đi, chàng theo sau.
Em không dám đi mau,
Ngại chàng chê hấp tấp,
Số gian nan không giầu.

Có khi chẳng còn biết người muốn cười ai. Sau khi tả cái đẹp của Mỵ Nương, người thêm một câu:

Mê nàng, bao nhiêu người làm thơ,

Người vờ ngơ ngẩn để kiếm cớ diễu mình chơi, hay người muốn diễu những kẻ đứng trước gái đẹp bỗng thấy hồn thơ lai láng?

Lại có khi không diễu mình không diễu người, thi nhân cũng cười: cười vì một cảnh ngộ. Như khi Sơn Tinh và Thủy Tinh cùng đến hỏi Mỵ Nương, Hùng Vương sung sướng nhìn con:

Nhưng có một nàng mà hai rể,
Vua cho rằng cũng hơi nhiều.

Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười. Nhưng cái cười của Nguyễn Nhược Pháp khác xa những lối bông lơn, khó chịu của các ông tú, từ Tú Suất (5), Tú Xương (6), đến Tú Mỡ (7). Nó hiền lành và thanh tao. Nội chừng ấy có lẽ cũng đủ cho nó có một địa vị trên thi đàn. Nhưng còn có điều này nữa mới thật quý: với Nguyễn Nhược Pháp nụ cười trên miệng bao giờ cũng kèm theo một ít cảm động trong lòng. Những cảnh, những người đã khiến thi nhân cười cũng là những cảnh, những người thi nhân mến. Người mến cô bé đi Chùa Hương và cùng cô bé san sẻ nỗi ước mơ, sung sướng, buồn rầu. Người mến nàng Mỵ Nương. Lúc Mỵ Nương từ biệt cha đi theo chồng, người thấy:

Lầu son nàng ngoái trông lần-nữa,
Mi xanh lệ ngọc mờ hơi sương.

rồi:

Nhìn quanh khói tỏa buồn man mác,
Nàng kêu: “Phụ Vương ôi! Phong-châu!

Một điều lạ là những câu tình tứ như thế ghép vào bên cạnh những câu đến buồn cười mà không chút bỡ ngỡ. Cái duyên của Nguyễn Nhược Pháp là ở đó.

Chắc Nguyễn Nhược Pháp không chịu ảnh hưởng A. France (8), nhưng xem Ngày Xưa tôi cứ nhớ đến cái duyên của tác giả Le livre de mon ami (9). Phải chăng Nguyễn Nhược Pháp cũng hay diễu đời và thương người như A. France? Không, nói diễu đời e không đúng. Nguyễn Nhược Pháp còn hiền lành hơn. Nguyễn Nhược Pháp chỉ muốn tìm những cảnh, những tình có thể mua vui. Dầu sao, tôi thấy Nguyễn Nhược Pháp già lắm, khác hẳn người bạn chí thân của người là Huy Thông. Người nhìn đời như một ông già nhìn đàn trẻ con rất ngộ nghĩnh mà cũng rất dễ yêu, mặc dầu người vẫn còn trẻ lắm. Người mất năm hai mươi bốn tuổi, lòng trong trắng như hồi còn thơ”.

Đi Cống

(**) Lệ cống thì phải chọn nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy toán số và thợ thuyền mỗi hạng ba người, cùng các đồ sản vật như là sừng tê, ngà voi, đồi mồi, châu báu và các vật lạ.

Núi cao, lửa hồng reo chói lọi,
Đổ vàng cây cối um tùm xanh.
Khi lòe nắng lóa, khi thâm tối,
Sườn non con đường mềm uốn quanh.

Hiu hắt cờ bay tua phơ phất,
Binh lính hò reo gầm bốn phương.
Nón đỏ, bao vàng, chân dậm đất,
Một toán đạp rừng um dẫn đường.

Mặc áo bào xanh, ngồi ngựa trắng,
Sứ nghe nhạc lắc vang bên rừng.
Hai bên hai lọng vàng che nắng.
Giời, mây, trông non nước muôn trùng!

Mười xe bịt đồng, trâu mập kéo,
Bánh sắt khi kề lên sườn non,
Đá đổ ầm ầm như sấm réo,
Gầm nhảy xuống vực sâu kêu ròn.

Trên xe nào mâm vàng dát ngọc,
Châu báu, sừng tê và ngà voi;
Hai pho tượng vàng đỏ đòng đọc;
Bào nạm kim-cương, đai đồi-mồi.

Binh lính hò quanh hoa giáo mác
– Võ tướng khua đao to lầm lầm –
Hễ thấy đường chênh kề miệng thác,
Bỏ giáo lên xe xoay bánh, vần.

Thầy nho, thầy thuốc bên thầy bói,
Thợ thêu, thợ chạm cùng thợ nề,
Mỗi người đeo một cái khăn gói
Đỏ, buông cương ngựa theo gần xe.

Lúc ấy giời xanh không u ám,
Đầu non không tờ mờ bóng sương,
Làm sao họ âu sầu thảm đạm?
Buồn thay! người cố phận tha hương.

Xe đi mỗi lúc một thêm khó.
Hang thâu hổ đói rên vang lừng;
Những con trăn xám văng như gió,
Quật đuôi đè gẫy bẹp cây rừng.

Sứ bỗng nhìn quanh buồn ủ rũ:
Xa xa ngọn cờ vàng phất phơ!
Vợ con ở chân trời mây phủ,
Hẳn đang nhìn bóng nhạn mong chờ…

Hỡi ai đi thẩn thơ miền núi!
Nhìn ngọn cây xanh gió thổi ào,
Tưởng lại cờ xưa vàng chói lọi,
Nên yêu người cũ hồn trên cao.

(10-3-1933)

Mỵ

Buồm nhô rẽ sóng, Mỵ mơ màng,
Tay cuốn mền hoa, khóc gọi chàng.
Thân liễu gieo đưa chìm vực biếc,
Lời thương bay lảnh động rừng vang.
Hoa trôi. Thành cũ vườn mây lửa,
Lau gợn. Chùa cao giỏ tiếng vàng.
Ủ lệ, tay ngà ôm ngực huyết,
Mỵ vờn theo sóng dạt bờ hoang.

(5-1933)

Mỵ Châu

(Lẫy thần chàng đổi móng,
Lông ngỗng thiếp đưa đường.
– Nguyễn Khắc Hiếu -)

I

Đêm hôm gió khóc thổi ru cành:
Núi bạc âm thầm, bể uốn xanh.
Hiu hắt Mỵ-Châu nằm, trăng phủ.
Ầm ầm sóng thảm vỗ vờn quanh.

Cát vàng le lói muôn hàng châu:
Long lanh trai tuyết nhìn canh thâu.
Thương ai sao biếc thầm gieo lệ.
Sương mờ bay tỏa bạc ngàn lau.

Chân nàng hoa lả nhuốm màu sương.
Vừng trăng lạnh lẽo, chim kêu buồn.
Thân ngà tóc rủ vờn man mác,
Thiêm thiếp em chờ ai bên đường?

II

Bơ vơ Trọng-Thủy lạc rừng hoang,
Vời theo lông ngỗng rơi bên đàng;
Đau lòng mắt nặng rùng đêm lạnh
Thoảng tiếng trăng thưa chen lá vàng.

Lẫy thần trao móng, chàng đi xa.
Yêu nhau sao nỡ bạc nhau mà?
Chàng đi – cho bao giờ gặp gỡ! –
Phiên-ngung nước cũ, lệ chan hòa.

Nào lúc con thuyền sóng vỗ quanh,
Hiu hiu mây thoảng da trời xanh,
Xiêm bay theo gió, hồn vơ vẩn.
Gương biếc nàng xưa êm tô hình.

Nào lúc chiều hôm vang lửa hồng,
Chim bay tan tác, trời mênh mông.
Lẹ gót hài tiên nàng yểu điệu,
Bên lầu tựa cửa cuốn rèm trông.

Nào lúc đêm thanh mờ bóng trăng,
Nhìn thấy nàng gợi tiếng dương cầm.
Tóc liễu đua bay vờn má ngọc,
Lời ca thánh thót, chàng quên chăng?

Bơ vơ ngày cũ tưởng càng đau,
Tìm trông phương nào, hỡi Mỵ-Châu?
Lông ngỗng cầm tay nhòa ánh lệ,
Chàng đi man mác buồn, đêm thâu.

III

Thiêm thiếp ai bên đường, hỡi ôi!
Chàng ôm khóc nghẹn chẳng ra lời,
– Đầu non mây bạc êm đềm phủ,
Phơn phớt hồn em bay, ngậm cười…

(1-1933)

Mây

Người xưa mơ, nhìn mây
Đen, đỏ, vàng đua bay,
Khi thấy nhiều ma quỷ,
Lời than giời lung lay;

Khi thấy hồn người thân
– Nhìn mây lệ khôn cầm! –
Trên bầy xe tứ mã,
Tiếng bánh lăn âm thầm;

Khi thấy muôn nàng tiên
– Lồng lộng mầu thanh thiên! –
Véo von trầm tiếng địch,
Lửa hồng vờn áo xiêm.

Ngày nay ta nhìn mây,
Mây đen luồng gió lay,
Hồn xưa tìm chẳng thấy
Tóc theo luồng gió bay…
(25-1-1934)

(Đỗ Ngọc Thạch – Sài Gòn, tháng 9-2010)

Chú thích:

(*) Rasul Gamzatov (1923-2003): Một trong những tên tuổi vĩ đại nhất trong nền văn học Nga. Các tác phẩm của Gamzatov được viết bằng tiếng Avar, ngôn ngữ của khoảng 500.000 người ở nước Cộng hoà tự trị Daghestan, vùng Caucasus và ngay lập tức được dịch sang tiếng Nga. Những bài thơ của ông khiến độc giả không chỉ ở Nga say mê bởi chúng giống như những bài ca của người Avar xứ Daghestan. Ông được biết đến bởi nhiều tập thơ (Trái tim tôi ở nơi những ngọn đồi, Đàn sếu, Bánh xe cuộc đời…). Nhiều bài thơ của ông đã được các nhạc sĩ tên tuổi phổ nhạc. Ông cũng nổi tiếng với nhiều tác phẩm văn xuôi và các bài báo. Độc giả Việt Nam đã biết đến Rasul Gamzatov qua tác phẩm Daghestan của tôi do Phan Hồng Giang và Bằng Việt dịch.

(**) Nguyễn Nhược Pháp (1914-1938): sinh tại Hà nội, là con của nhà văn, nhà báo, dịch giả, học giả Nguyễn Văn Vĩnh(**1), quê quán: xã Phượng Dục, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Học tại trường Albert Sarraut và đỗ tú tài. Làm thơ từ sớm và đã từng viết cho các báo Annam Nouveau, Hà Nội Báo, Tinh hoa, Đông Dương Tạp chí.

Tác phẩm: Ngày xưa (1935); Người học vẽ (1936).

Muốn hình dung ra phần nào hình ảnh Nguyễn Nhược Pháp, cách tốt nhất là đọc trong cuốn Thi nhân Việt Nam, của Hoài Thanh và Hoài Chân: “Thơ in ra rất ít mà được người ta mến rất nhiều, tưởng không ai bằng Nguyễn Nhược Pháp… Với đôi ba nét đơn sơ, Nguyễn Nhược Pháp đã làm sống lại cả một thời xưa…Đọc thơ Nguyễn Nhược Pháp, lúc nào hình như cũng thoáng thấy bóng một người đương khúc khích cười. Nhưng cái cười của Nguyễn Nhược Pháp khác xa những lối bông lơn, khó chịu của các ông tú, từ Tú Suất, Tú Xương, đến Tú Mỡ. Nó hiền lành và thanh tao. Nội chừng ấy có lẽ cũng đủ cho nó có một địa vị trên thi đàn. Nhưng còn có điều này nữa mới thật quý: với Nguyễn Nhược Pháp nụ cười trên miệng bao giờ cũng kèm theo một ít cảm động trong lòng…

Người mất năm hai mươi bốn tuổi, lòng trong trắng như hồi còn thơ”.

(**1) Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936): hiệu: Tân Nam Tử. Quê ở xã Phượng Dực, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông, nay thuộc Hà Nội. Ông học Trường Thông ngôn, lần lượt làm thư ký ở các Tòa Công sứ Lào Cai, Kiến An, Bắc Ninh và Tòa Đốc lý Hà Nội.

Năm 1906, ông được cử đi dự hội chợ ở Marseille, trở về với quyết tâm truyền bá quốc ngữ, ông xin thôi việc, mở nhà in, làm chủ bút nhiều tờ báo: Đại Nam đăng cổ tùng báo, Lục tỉnh tân văn, Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn và một số tờ báo tiếng Pháp Notre Journal (Tờ báo của chúng ta), Notre Revue (Tạp chí của chúng ta), l’Annam nouveau (An Nam mới).

Ông đã đóng góp rất nhiều trong việc phổ quát tiếng Việt qua tờ Đăng Cổ Tùng Báo (1907), tờ báo đầu tiên viết bằng chữ Quốc Ngữ tại miền Bắc. Đáng kể nhất là việc khuyến khích dùng chữ Quốc Ngữ qua tờ Đông dương Tạp chí (1913). Ngoài ra, ông còn nhiều công trình dịch thuật văn học như dịch thơ ngụ ngôn La Fontaine, truyện cổ tích Perrault, kịch Molière từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Bảng dich truyện Kiều sang Pháp văn của ông rất đặc sắc.

(1) Vũ Hoàng Chương (1916-1976): quê Nam Định. Có bằng Tú tài Tây…Đã kinh qua Thanh tra sở hỏa xa miền Băc, dạy học tư… Tác phẩm: Thơ say (1940); Mây (1943); Thơ lửa (cùng Đoàn Văn Cừ, 1948); Rừng phong (1954); Hoa đăng (1959); Tâm sự kẻ sang Tần (1961); Lửa từ bi (1963); Ta đợi em từ 30 năm (1970);Đời vắng em rồi say với ai (1971);Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (1973)…Kịch thơ: Trương Chi (1944); Vân muội (1944); Hồng diệp (1944).

(2) Xuân Diệu (1916 – 1985): quê quán làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh nhưng sinh tại Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Ông nổi tiếng từ phong trào Thơ mới với tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Những bài được yêu thích nhất của Xuân Diệu là Thơ tình làm trong khoảng 1936 – 1944, thể hiện một triết lý bi quan, tuyệt vọng về tình ái nhưng lại có một mạch ngầm thúc giục, nhiều khi hừng hực sức sống. Nhờ đó, ông được mệnh danh là “ông hoàng thơ tình”. Là thành viên của Tự Lực Văn Đoàn (1938-1940)…

(3) Chế Lan Viên (1920-1989): Chế Lan Viên tên thật là Phan Ngọc Hoan. Sinh ở Cam An, huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Tri, lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành chung thì thôi học, đi dạy tư kiếm sống. Năm 17 tuổi, với bút danh Chế Lan Viên, ông xuất bản tập thơ đầu tay nhan đề Điêu tàn, có lời tựa đồng thời là lời tuyên ngôn nghệ thuật của “Trường Thơ Loạn”. Ông cùng với Hàn Mặc Tử, Yến Lan, Quách Tấn được người đương thời gọi là “Bàn thành tứ hữu” của Bình Định.

(4) Phạm Huy Thông (1916-1988): Phạm Huy thông là hậu duệ thế hệ thứ 24 của Phạm Ngũ Lão. Quê gốc ở làng Đào Xá, xã Bãi Sậy, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Ngay từ nhỏ ông đã tỏ ra là một người có trí tuệ uyên bác. Mới 16 tuổi Huy Thông đã nổi tiếng tiên phong của phong trào Thơ mới, điển hình là bài Tiếng địch sông Ô.

Năm 21 tuổi ông đỗ cử nhân Luật. Sau đó ông tiếp tục theo học chương trình đào tạo trên đại học các ngành Sử, Địa, Luật, Kinh tế, Chính trị.Sau khi tốt nghiệp cử nhân Luật tại Viện Đại học Đông Dương, năm 1937 ông sang Pháp du học. Năm 26 tuổi ông lần lượt thi đỗ Tiến sĩ Luật và Thạc sĩ sử địa tại Pháp, năm 31 tuổi ông được phong Giáo sư giữ chức uỷ viên hội đồng giáo dục tối cao của Pháp. Năm 1946 tại Paris, ông được chọn giúp việc Chủ tịch Hồ Chí Minh và phái đoàn chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ở hội nghị Fontainebleau. Chính những ngày được gần gũi Hồ Chí Minh ông đã có tư tưởng độc lập dân tộc.

Ông từng đảm nhiệm các chức vụ: Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1956-1967), Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Xã hội, Viện trưởng Viện khảo cổ học (1968-1988), Tổng biên tập tạp chí Khảo cổ học.

Tác phẩm Thơ: Yêu đương (1933), Anh Nga (1934), Tiếng địch sông Ô (1935); Tần Ngọc (1937).

(5) Ba Giai – Tú Xuất: Xin xem Truyện cười Ba Giai – Tú Xuất (do nhà văn Nguyễn Nam Thông (5*) biên soạn, Tân Dân Thư Quán xuất bản năm 1934) NXB Hội Nhà văn tái bản, 2006.

Nhà văn Nguyễn Nam Thông (1906-1945) tên thật là Nguyễn Xuân Thông, người làng Động Dã, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây. Ông là tác giả: Ba Giai (1931), Tú Xuất (1930), Đàn bà dễ có mấy tay (1930), Thằng ăn mày giàu nhất tham nhất thế giới (1930), Trung – Nhật chiến tranh yếu nhân (1938), Vợ lẽ của tôi (dịch của Từ Trẩm Á – 1933)… Nhà văn Nguyễn Nam Thông từng làm chủ bút tờ Đông Tây tiểu thuyết (1937).

(6) Nhà thơ Tú Xương (1870-1907) tên thật là Trần Tế Xương, tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, Tử Thịnh. Quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định.

Văn học nằm ngoài những định luật của băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết. Thơ văn của Tú Xương là một trường hợp như vậy. Thể xác của Tú Xương đến nay đã hơn 100 năm nát với cỏ cây. Nhưng sự nghiệp văn chương của ông thì vẫn như một chàng trai xinh đẹp, sung sức, bất chấp mọi thử thách thời gian: Kìa ai chín suối xương không nát / Có lẽ ngàn thu tiếng vẫn còn. Người ta vẫn tin hai câu thơ này là của Nguyễn Khuyến viếng Tú Xương.

(7) Tú Mỡ, tên thật: Hồ Trọng Hiếu (1900 – 1976): sinh tại Hà Nội, là một nhà thơ trào phúng xuất sắc. Theo các nhà nghiên cứu văn học, thì với gần nửa thế kỷ cầm bút bền bỉ, ông đã có những đóng góp đáng kể đối với sự phát triển của thơ ca, đặc biệt về mặt thơ trào phúng, thời nào ông cũng là bậc thầy.

(8) Anatole France: tên thật là François-Anatole Thibault (1844 -1924) là nhà văn Pháp, đoạt giải Nobel Văn học năm 1921.

(9) Le livre de mon ami: Sách của bạn tôi – Hồi ký, 1885.

oOo

Đi Chùa Hương – Ca sĩ Thanh Lan:

 

Đi Chùa Hương – Ca sĩ Ý Lan:

 

Đi Chùa Hương – Ca sĩ Phương Anh:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s