Cứ thế nhé Plin !

Những năm 90 ở thế kỷ XX, không chỉ khi biên tập chương trình ca nhạc phát trên sóng phát thanh các thứ tiếng dân tộc Tây Nguyên, mà cả trong những hội diễn khu vực &  những cuộc thi hát lớn của Đài Truyền hình Việt Nam được mời làm giám khảo; tôi bắt gặp nhiều ca sỹ Tây Nguyên thường chọn trình bày không chỉ những sáng tác của Y Sơn Niê, Nguyễn Cường, Y Phôn Ksor, Linh Nga Niê Kdam, mà còn có một cái tên khác liên tục xuất hiện : K’Ra Zan Plin, với những ca khúc khi thì êm ả như những dòng suối  mùa khô “ thổn thức đêm nay nỗi buồn ngàn thu…mong sao tìm lại bóng dáng xanh nguồn cội”; lúc lại cháy bỏng như những đêm lửa hội mùa ăn năm uống tháng “ Rung cồng chiêng anh và em vòng xoang đêm nay, hãy thắp sang buôn làng, hãy thắp sáng cho đời ”…( ca sỹ Boner Trinh người dân tộc Chil ở Lâm Đồng, đã từng giành giải nhất Liên hoan ca hát thành phố Hồ Chí Minh với bài “ Giữ ấm bếp hồng” của Plin ) .

Số phận cho chị em chúng tôi gặp nhau trong những lần nhạc sỹ K’Ra Zan Đích đưa tôi về xã Lát sưu tầm, thu thanh âm nhạc dân gian K’Ho. Lúc ấy, vì sinh kế, K’Ra Zan Plin đã làm chủ một ban nhạc điện tử chơi toàn nhạc mới, không chỉ phục vụ cho khách du lịch đến xứ sở huyền thoại về chuyện tình chàng Lang và nàng Bian của anh, mà còn tung hoành với mọi đám cưới khắp vùng.

Nhưng cũng chính từ nhu cầu phục vụ du khách trong và ngoài nước ưng khám phá bao điều bí ẩn và cảnh đẹp đến mê hồn của miền đất mù sương quê anh, mà Plin bất chợt ngộ ra rằng “ văn hoá dân gian mới chính là lẽ sống”, không chỉ của ban nhạc , mà cả của đời mình. Từ những chiếc giỏ cá, gùi tre, mõ trâu, cây đàn goong kla, kèn mbuôt, bộ chưng K’Ho… đến chiếc trống da voi Êđê  chất đầy căn nhà sàn nhỏ bé, cho tới những bài cúng, điệu dân ca đêh lơn, đeh kô, yang yao, lẫn tấm khăn choàng trong các vũ điệu hoang dã của nam nữ bon làn…cứ thế mà đi dần vào tâm hồn chàng trai vóc dáng xù xì như gấu rừng đại ngàn, để rồi ban nhạc “ Những người bạn lang Bian” của anh cháy lên thành ngọn lửa bừng bừng ấm lòng du khách những đêm cao nguyên sương lạnh, bởi điệu chưng và câu hát đại ngàn.

Ừ thì chính cuộc mưu sinh làm Plin biết yêu, biết trân trọng những giá trị của văn hoá cổ truyền tộc người mình, mà chuyển từ sáng tác nhạc sang sưu tầm, lặn lội khắp các bon làn để tìm cho ra những truyền thuyết về thần N’Du sinh ra người K’Ho giòng dõi con cháu Nữ thần Mặt trời, sự tích núi Đang Brach ở Huyện Đạ Hoai, Sông Đạ Đờn và bãi Cát Tiên, vì sao nước biển mặn, sông Dạ Rnga của người Mạ – Lâm Đồng, Núi Lang Bian, Hă K’ Iôt, Kàng Bồ be, Núi Mbôr, Bich Dup của Người Lạch… Những chuyện cổ tích – yal yao về chàng ngốc K’Tồng, lời nói vần – tơm pla về kinh nghiệm xem sự chuyển biến của đất trời, lẫn thời vụ làm ruộng nước, để rồi tiếc hùi hụi với những mảnh đứt gãy của trường ca – sử thi – mpớt yal yao: Ding kon Bing,K’Têng kon Bing,  Tông Tang, Du Bot, Dung Lang, K’rsai kon Nghe – con thần mặt trời….Cuối cùng trọn vẹn bộ luật tục – Juê Dôih , chi phối toàn bộ cuộc sống bon làn, đã gần như thất truyền của tộc người K’Ho, rằng : “Việc nhỏ thì đền bằng con gà/Việc lớn phải đền bằng con heo/Việc gây chết người phải đền nhiều con trâu/Con thú phá rẫy phải đền theo vụ mùa »..

Trong những chuyến lang thang “ một mình một ngựa” (một xe ôtô) tới khắp miền đất như thế, Plin cay đắng nhận ra rằng “ văn hoá truyền thống tộc người đã phôi pha đến mức gần như không còn gì – ngoài ngôn ngữ – đối với lớp người trẻ ”. Và thế là anh không chỉ sưu tầm, ghi chép, mà còn bằng chính việc làm, lời nói của mình, thuyết phục bà con cùng các bạn trẻ hãy tìm lại, giữ lấy những gì tốt đẹp nhất của bon làn do ông bà để lại. Âm nhạc của Plin, việc làm của Plin lay động sâu xa đến tâm can nhiều thế hệ người K’Ho. Anh trở thành “ già làng” từ lúc nào không biết.

Đấy ! Việc ấy còn có thể hiểu được. Chứ cái chuyện quay phắt sang làm thơ, in hai năm hai tập thơ, thì có Yang biết vì sao? Thơ Plin trĩu nặng tâm tư của người thiểu số về những mất còn của cội nguồn “ tôi hỏi núi ông/núi ông lắc đầu/ tôi hỏi núi bà/ núi bà lặng im”, nhưng cũng lại hóm hỉnh đến bất ngờ “ leo lưng ngựa tôi về buôn/ cưỡi xe máy anh về thành phố/ anh đến trước, tôi đến sau/ đến trước thì ăn trước/ đến sau thì ăn sau/ tối ngủ với vợ ta cũng như nhau”…và tình yêu thì tràn trề như nước những dòng sông, con suối cao nguyên “ ba mươi mùa rẫy anh tìm anh gọi/ có thật em không nghe? Em để anh đói, héo và khô”..…hoặc “ Em có dám bỏ hết đàn trâu để cưới anh về làm chồng/ để dắt anh về làm trâu ở chuồng bên ấy/ anh sẽ cày cho nước tràn bờ cho đất tung lên/ để đêm dài núi rừng ngân tiếng hát ơi mơi ”(*)…nhiều lắm ! Nhạc song ngữ và thơ cũng song ngữ, cứ thế mà chảy.

Ơi K’Ra Zan Plin, cứ thế nhé, người con trai của đại ngàn Lang Bian xanh ngắt! Hãy sống, ca hát, nhảy múa và làm thơ về người quê mình, mảnh đất của ông cha mình. Ngợi ca sao cho những chàng trai,cô gái làu làu tiếng Anh, thành thạo kỹ thuật số, thích hip hôp hơn điệu chưng bo đối đáp, vẫn phải đau đáu trong trái tim, trong tâm hồn,  kiêu hãnh về truyền thống không thể đánh mất của tộc người mang dòng dõi con cháu nữ Thần Mặt Trời.

Rồi vì thế mà ngọn lửa bếp hồng K’Ho, Tây Nguyên vẫn ngàn đời cháy mãi !

(*) Ơi mơi : thể loại hát giao duyên K’Ho

Linh Nga Niê Kdăm

Leave a comment