-
Đại hội Nhà văn VN nhận được sự quan tâm của đông đảo bạn yêu văn học. Trân trọng giới thiệu với các bạn tham luận tại đại hội của nhà thơ Văn Thảnh.
Linh Nga
( Đài PT-TH Đăk lăk) Nhập cư lên Tây Nguyên từ hơn 30 năm nay, nhà thơ Văn Thảnh có nhiều điều trăn trở không chỉ riêng của bản thân mà của đông đảo những người cầm bút ở Đăk lak và Tây Nguyên.
Điều trước nhất ( và là điều cơ bản, chi phối, liên quan đến các điều phía sau) đó là nhìn một cách tổng quát sự phát triển của văn học Tây Nguyên ( kể cả từ truyền khẩu, khuyết danh cho đến văiệt nam viết bằng chữ quốc ngữ, đến chữ viết riêng của mỗi tộc người bản địa…), tôi càng thấy nỗi lo lắng và quan ngại rằng :
Kho tàng văn học truyền miệng đồ sộ, to lớn nhất thế giới và lâu đời hơn cả các trường ca – sử thi của Hy Lạp, Ấn Độ…thậm chí vượt xa cả từ độ dài, chất trí tuệ, tính nhân văn , còn ngôn ngữ văn chương thì đậm đặc bản sắc văn hoá dân tộc…cho đến thời ta – cụ thể là hiện nay – không chỉ là sự mai một mà là sự đứt gãy dẫn đến sự đứt hẳn cái mạch trường ca độc đáo có một không hai này. Sự “đứt hẳn” này nằm trong tình hình rất thuận mà kết quả lại nghịch; như chúng ta đã biết qua sử thi Dam San của người Êđê. Đó là sản phẩm văn chương tập trung trí tuệ của rất đông những nghệ nhân tài giỏi, đại diện tinh hoa cho cả một dân tộc, với chiều dài hàng chục thế kỷ, truyền miệng đến hôm nay.
Người Tây Nguyên gốc hôm nay đã rất đông, phần lớn là được học hành , biết tiếng Kinh, tiếng Anh ngày càng nhiều , tri thức mới của lớp trẻ trong mỗi buôn làng vượt trội so với các nghệ nhân kể khan tài giỏi một thời – vốn là đồng tác giả nhiều thế hệ của các trường ca – sử thi Tây Nguyên nổi tiếng. Và thế là các nghệ nhân điêu luyện, tài ba ấy trăm tuổi, lần lượt về với ôgn bà, còn lớp trẻ thì mải mê với rock, rap, hip hop, quay lưng lại với khan, với ching chêng…
Còn các nhà văn là người dân tộc bản địa thì sao? Vốn đã ít ỏi, thì trong đại hội VIII này,chỉ nói riêng đến người Êđê thôi, có vẻ như nhiều hơn cả, nhưng cũng chỉ là hai người .Nhìn họ sáng tác và nhìn tới một vài hạt giống văn chương trong gần 20 vạn thanh thiếu niên người Êđê hiện nay, thì thấy cái người có thể nối mạch, nối nhịp trường ca cổ bằng hơi thở, giọng điệu văn chương đương đại, e rằng chúng ta đã “ đốt đuốc đi vào rừng đêm” mà thôi.
Với một số nhà văn nhà thơ từ đồng bằng Bắc Bộ vào, từ duyên hải miền Trung lên Tây Nguyên thì theo tôi, tạm phân họ là hai lớp, ở hai độ tuổi : Lớp thứ nhất lên Tây Nguyên từ thời mới có cách mạng. Họ thực sự xứng đáng là những người , dù tạm cư đôi ba năm, nhưng đã nối mạch văn chương cổ Tây Nguyên và chuyển hoá từ hình thức klei khan ( trường ca) truyền khẩu sang văn viết bằng chữ quốc ngữ, thành công tới mức để lại những “ đỉnh” văn chương viết về Tây Nguyên, viết từ Tây Nguyên và viết cho ( trước hết) Tây Nguyên mà cho đến nay , sau 40-50 năm chưa thấy có thêm một “ đỉnh núi văn chương Tây Nguyên” nào trồi lên trên các “ đỉnh núi” ấy. Có thể kể sơ sơ những Ngọc Anh, Nguyên Ngọc, Thu Bồn, Chí Trung, Trung Trung Đỉnh…
Lớp thứ hai đông đảo, nhộn nhịp hơn, song le, toàn là những “ đỉnh đồi”, chưa có “đỉnh núi văn chương Tây Nguyên” nào thời đổi mới và phát triển. Tôi ngờ ngợ rằng mình đã võ đoán, song nhìn qua 5 tiểu thuyết và 9-10 trường ca của các tỉnh Tây Nguyên ( trừ Lâm Đồng đã phân vùng địa lý khác đi và Đăk Nông chưa có hai thể loại văn học trên), thì mừng vì “ đồi đã nhấp nhô”, nhưng lo vì “ nguyên liệu đất đá đại ngàn” huy động chứ đủ để đắp nên núi? Mặc dù lớp này có sức khoẻ, có tri thức, có nhiệt tình và tình yêu “ bốn cùng” chứ khôgn phải chỉ “ ba cùng” với đồng bào, đồng chí Tây Nguyên từ những namư chống Mỹ đến nay.
Cũng xin nói thêm là việc phân chia “ lớp lang” như trên không phải lấy độ tuổi hoặc hoàn cảnh lịch sử, giai đoạn phát triển văn học mỗi vùng miền làm cơ sở, mà là còn nhiều vấn đề khác với nhiều mảng chỗ đậm, chỗ nhạt của bức tranh văn học Tây Nguyên vừa qua, để làm mẫu số chung. Đơn cử, có nhà văn đã không phân lớp như vậy mà xoáy vào cái thế mạnh/nhược điểm, cái khó/ dễ, cái được/ mất , thành/bại của hai nhóm khác nhau : nhóm các nhà văn “ nguyên” là người dân tộc thiểu số bản địa Tây Nguyên ( nói chữ bản địa, bởi Tây Nguyên hiện nay đã có những tác giả là người dân tộc thiểu số ở các vùng khác lên lập nghiệp và định cư). Và nhóm thứ hai là các nhà văn chủ yếu từ đồng bằng và duyên hải lên nhập cư. Tuy nhiên, theo nhà văn trên thì số nhà văn ấy cũng được ông chia thành hai lớp : Lớp các nhà văn thực sự lấy Tây Nguyên làm quê hương, sống ăn đời ở kiếp và viết về Tây Nguyên. Lớp thứ hai là sống ở Tây Nguyên những viết về vùng khác, đề tài khác, không liên quan gì đến Tây Nguyên cả.
Hoặc khi bàn đến thực trạng văn học Tây Nguyên từ khi có cách mạng đến nay, thì có người lại phân ra theo giai đoạn, dấu mốc lịch sử khác nhau. Ví dụ có người nghiên cứu chỉ xoáy vào một giai đoạn ngắn từ sau ngày 10-3-1975 đến bắt đầu đổi mới 1986. Cá nhân tôi cho rằng có đủ tiêu chí để đưa vào giữa hai lớp ( đã phân ra ở đầu bài viết này ). Đấy là lớp những nhà văn gạo cội đã từng làm nên các “ đỉnh núi văn học Tây Nguyên” và các nhà văn đương đại với vô số các “ đỉnh đồi ” nhấp nhô rất Tây Nguyên . Các lớp ở giữa đó, theo tôi không đông lắm, tác phẩm cũng không nhiều và xin cứ mạnh dạn nói, các tác phẩm ấy chưa nói được gì nhiều về một Tây Nguyên ra khỏi chiến tranh, giải phóng Buôn Ma Thuột, hoặc cuộc tháo chạy của nguỵ quân Sài Gòn ở đường 7 lịch sử…để đến một Tây Nguyên mày mò lao lực tranh đấu, thoát ra khỏi các khố, cái váy ngàn đời, mặc vào người bộ đồ công nhân nông, lâm trường; tìm cách bứt ra khỏi cái nghèo, cái tập quán phát đốt, chọc tỉa, để vươn lên làm một người công nhân dưới chế độ mới. Tôi cho rằng, trong bối cảnh cả nước là một đại công trường thì với Tây Nguyên đó là một cuộc lột xác, cuộc vượt thoát vĩ đại có một không hai của Tây Nguyên , tính từ thời ra khỏi hang “ ăn lông ở lỗ”. Tiếc rằng, vấn đề trên vẫn đang còn là món nợ lớn đối với đồng bào các dân tộc Tây Nguyên, mà các nhà văn phải tìm cách trả. Những “ một mùa mưa”, hay “ Tây Nguyên mùa cày ” , thậm chí cả tiểu thuyết H’ Giang của bác Y Điêng cũng chưa nói được cái cần nói, cái cơ bản của giai đoạn đầy bi hài ấy. Bên cạnh đó là cuộc đại di cư của hàng triêụ hộ nông dân cả đồng bằng lẫn trung du và các tỉnh miền núi cao phía Bắc, cho đến Thanh , Nghệ, Tĩnh và duyên hải Trung bộ kéo nhau ồ ạt lên Tây Nguyên phá rừng làm rẫy cà phê, cao su. Cả một Tây Nguyên bao la, hùng vĩ từ ngàn đời nay đã bị đảo lộn, đổi thay các trật tự từ thiên nhiên cho đến con người, xã hội, cả tích cực lẫn tiêu cực, tác động trực tiếp và sâu sắc đến tâm lý, tình cảm, nghĩ suy và hành động của mỗi cuộc đời, số phận từng con người – cái mà lâu nay văn học coi là mục tiêu, là đối tượng phản ảnh quan trọng nhất – Tiếp theo thời gian khó, cam go ấy để bước vào thời kỳ đổi mới phát triển cho tới hôm nay, cả Tây Nguyên đã thực sự trở thành những vùng kinh tế chuyên canh xuất khẩu các loại công nghiệp – thực phẩm, đưa kim ngạch xuất khẩu lên cao, tạo nên một cuộc đổi đời căn bản của hàng triệu nông dân nghèo đói, trong đó, chỉ riêng Đăk Lăk có tới hàng vạn hộ gia đình người Êđê, Mnông đa xtrở thành triệu phú, tỷ phú cà phê, cao su, hoặc các ông chủ trang trại đi thăm vườn bằng xe Mec…
Song hành với các đàn anh đàn chị đó, hạt nhân văn học của Tây Nguyên viết về Tây Nguyên, đặc biệt là người dân tộc thiểu số Tây Nguyên hầu như mới có khoảng 3 em. Nhân đây, xin đề nghị BCH khóa mới nên có kế hoạch và kinh phí đầu tư bồi dưỡng có hiệu quả thực tế nào đó, để văn chương Tây Nguyên sớm thoát khỏi vùng lõm đứt gãy đáng lo như hiện nay.
Tất cả những điều vừa dẫn trên, là một cuộc vật lộn , có cả mồ hôi và máu, kéo dài suốt 35 namư qua. Và tiếc rằng, từ cả số lượng cho đến chất lượng của tác phẩm lẫn đội ngũ các nhà văn ở Tây Nguyên lâu nay “ tay ghi tay nhặt” thế nào đó, mà chỉ đáp ứng bằng vài cái lông trên mình một con voi vĩ đại ! Đã thế , một số nhà văn ở Tây Nguyên lại bỏ công cho sự thương vay khóc mướn những mối tình lãng mạn của các cậu ấm, cô chiêu một thời dư dả tiêu xài đôla khắp Nha Trang – Vũng Tàu. Hoặc có những người lại bỏ công vào phát đốt những lối đi xưa của người Châu Âu với những ngả bí rị, tắc tị rồi tiền hô hậu ủng rằng rất hoành tráng, đầy ngang dọc, rất thời đại , rất đông đệ tử “ xin chết ” trong mạng, cứ gì mà phải nhại giọng krông, ayong, adei ngô ngọng gì cho mệt?!
Cách đây một nhiệm kỳ đại hội, có ông Chủ tịch UBND tỉnh trò chuyện với chúng tôi ở Tây Nguyên. Ông vừa hỏi mà vừa như tự trả lời rằng : “ Thưa các anh các chị nhà văn. Cứ cơ chế này có lẽ cũng còn lâu ở đất ta may ra mới có “ Đất vỡ hoang” hoặc “ Chuyện thường ngày ở huyện” nhỉ?!. Tôi sẵn sàng nuôi, thuê mấy anh ở Hà Nội vào viết Vỡ hoang đất bazan. Các anh chị nghĩ sao? Vòng xoay của cuộc sống bây giờ tốc độ chóng mặt lắm và nó không chờ đợi ai cả đâu, từ nhà văn cho đến Chủ tịch tỉnh.”
Câu đáp thật sự có lẽ thuộc về các nhà văn chúng ta vậy .